Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác Hồ và Quốc vương Campuchia

– “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng” – Quốc trưởng Campuchia phát biểu trong lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 27/6/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cảm ơn tới Thái tử Quốc truởng Campuchia Nôrôđôm Xihanuc (N.Sihanouk) bày tỏ “vô cùng cảm động về việc Ngài và nhân dân Khơme đã gửi tặng thuốc với một tấm lòng hào hiệp…

Cử chỉ cao cả đó là biểu hiện sự ủng hộ anh em của nhân dân Khơme đối với nhân dân Việt Nam… Như Ngài đã nói rất đúng: Nhiệm vụ của chúng ta đối với các thế hệ tương lai là phải cùng nhau củng cố cơ sở của sự hợp tác tin cậy và chân thành trong sự tôn trọng nền độc lập của nhau”.

Nôrôđôm Xihanuc vốn là Thái tử kế vị nhà vua Campuchia Nôrôđôm Xunamarit, năm 1960 mới được bầu làm Quốc trưởng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhà nước ta chỉ có quan hệ với Lực lượng kháng chiến của Sơn Ngọc Minh.

aKhi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tranh thủ mối quan hệ hữu nghị với Chính phủ Vương quốc Campuchia. Bác Hồ luôn bày tỏ sự tôn trọng nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ và chính sách trung lập của  Thái tử Quốc trưởng Xihanuc và thường xuyên duy trì mối liên hệ.

Ngày 21/11/1956, lần đầu tiên, Bác gửi điện mừng tới Vua Nôrôđôm Xuramarit và Hoàng hậu Khơme và chúc nhân dân Khơme thu được nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước Khơme, trong việc thực hiện chính sách hoà bình và trung lập, chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme ngày càng phát triển.

Ngày 21/6/1960, Bác gửi điện mừng Thái tử Nôrôđôm Xihanuc nhận chức Quốc trưởng Vương quốc Campuchia, trong đó: “Chúc nhân dân Khơme dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Thái tử Quốc trưởng thu được nhiều thắng lợi mới trong việc thực hiện chính sách hoà bình, trung lập, xây dựng đất nước Campuchia ngày thêm phồn vinh, góp phần vào việc củng cố hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới”.

Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ở miền Nam xâm phạm chủ quyền Campuchia và đánh phá miền Bắc đã khiến Nôrôđôm Xihanuc đứng về phía cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Năm 1965, theo sáng kiến của Xihanuc, Hội nghị Nhân dân Đông Dương được triệu tập. Ngày 6/3/1965 Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Thái tử Xihanuc, Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Đông Dương:“Tôi rất cảm kích được biết qua bức điện của Ngài rằng Thái tử Nôrôdôm Xihanuc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia đã kịch liệt lên án đế quốc Mỹ về hành động khiêu khích mới và hết sức nghiêm trọng của chúng tôi đối với nước VNDCCH và nhấn mạnh sự cần thiết đối với nhân dân các nước Đông Dương phải tăng cường đoàn kết hơn nữa trước nguy cơ mở rộng chiến tranh do đế quốc Mỹ gây nên” và cho rằng thái độ ấy “là bằng chứng tỏ rõ ý chí thống nhất của nhân dân ba nước chúng ta (gồm cả Lào) là kiên quyết đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ và ra sức bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ” .

Sau đó Bác chủ động tạo mối liên hệ để tranh thủ sự ủng hộ của Nôrôđôm Xihanuc. Ngày  23/6/1967  trong điện mừng nhân dịp 2 nước đặt quan hệ ngoại giao cấp đại sứ, Bác đánh giá “Đây là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa VN và Cămpuchia, một nhân tố tích cực trong việc gìn giữ hoà bình ở Đông Duơng và Đông Nam Á”.

Ngày 8/11/1968, chúc mừng nhân kỷ niệm lần thứ 15 Quốc khánh Campuchia, Bác “bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự ửng hộ anh em của Ngài, Chính pủ Vương quốc và nhân dân Khơme.

Chúng tôi khẳng định một lần nữa chính sách trước sau như một của Chính phủ nước VNDCCH là tôn trọng độc lập, chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ Vương quốc Campuchia trong biên giới hiện tại.

Chúng tôi tin tưởng rằng ngày nay cũng như này mai,hai nước chúng ta mãi mãi vãn là những người bạn thân thiết… xây dựng mỗi nước theo con đưòng riêng của mình”.

Ngày 7/2/1969 gửi điện cảm ơn Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanuc “đã ủng hộ hoàn toàn lập trường chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tại Hội nghị bốn bên ở Pari về Việt Nam… Đó là sự cổ vũ to lớn đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của chúng tôi trong giai đoạn hiện nay, là biểu hiện rực rỡ của t ình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước chúng ta. Gửi lời chào anh em rất kính trọng”.

Đó cũng là văn kiện cuối cùng, Bác gửi Quốc trưởng Campuchia. Khi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Tại đây, ông phát biểu: “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng”.

X&N
bee.net.vn

Hội Liên hiệp các Thuộc địa

 -Ngày 26/6/1921, tại Paris, Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí là người của các thuộc địa Pháp như Algerie, Tunisie, Madagascar… họp bàn việc thành lập Hội Liên hiệp Thuộc địa.

Tháng 7/1921, Hội Liên hiệp Thuộc địa được thành lập với lời kêu gọi: “Nếu câu phương ngôn “Đoàn kết làm ra sức mạnh” không phải là một câu nói suông. Nếu đồng bào muốn giúp đỡ lẫn nhau. Nếu đồng bào muốn bênh vực cho quyền lợi của bản thân mình, cũng như quyền lợi của tất cả đồng bào ở các xứ thuộc địa. Hãy gia nhập Hội Liên hiệp Thuộc địa”.

d Tờ báo Le Paria (Người cùng khổ)

Điều lệ của Hội xác nhận: “Mục đích của Hội là tập hợp và hướng dẫn cho mọi người dân các xứ thuộc địa hiện sống trên đất Pháp để soi sáng cho những người dân thuộc địa về tình hình mọi mặt ở nước Pháp nhằm mục đích đoàn kết họ; thảo luận và nghiên cứu tất cả những vấn đề chính trị và kinh tế thuộc địa…Trong phạm vi tài chính sẵn có, Hội có thể cung cấp cho tất cả hội viên những báo chí và tài liệu có liên quan đến sinh hoạt các thuộc địa, hoặc chuyên lo bênh vực cho các thuộc địa”.

Thành phần tham gia Ban chấp hành ban đầu có Nguyễn Ái Quốc, thợ sửa ảnh (đại diện cho Đông Dương) và đại diện các thuộc địa khác như Dahomey (nay là Bénain), Réunion, Guadeloup, Quần đảo Antilles, Martinique, Guyanne. Địa chỉ của Nguyễn Ái Quốc (9 ngõ Compoint, quận 17, Paris) được dùng là một trong những địa chỉ của Hội.

Hội đã ra tờ báo Le Paria (Nguời cùng khổ) làm cơ quan ngôn luận của Hội với lời kêu gọi: “Trong lịch sử phong trào quần chúng bản xứ ở các thuộc địa của Pháp, chưa bao giờ có một tờ báo được lập ra để nói lên nỗi đau khổ và tình trạng cùng khốn của họ, bất kể là họ thuộc đất nước và giống nòi nào…

Le Paria tố cáo những sự lạm quyền về chính trị, lối cai trị độc đoán, tình trạng bị bóc lột về kinh tế mà nhân dân các vùng lãnh thổ rộng lớn ở hải ngoại đang là nạn nhân. Báo kêu gọi họ đoàn kết lại, đấu tranh cho tiến bộ về vật chất và tinh thần của chính họ. Báo kêu gọi họ, tổ chức họ, nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức khỏi các lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương và bác ái”.

Tờ Le Paria ra số đầu ngày 1/4/1922 với khẩu hiệu “Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa”, đến 1/1924 đổi thành “Diễn dàn của vô sản thuộc địa”. Hội quy tụ được khoảng 200 hội viên.

Như thế, không chỉ trên phương diện lý luận mà ngay trong hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người khởi xướng và tiên phong trong sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa.

X&N
bee.net.vn

“Lời than vãn của Bà Trưng Trắc”

 – Ngày 24/6/1922, tờ “L’Humanité” (Nhân Đạo) của Đảng Cộng sản Pháp đăng bài “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc” ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Dưới hình thức một truyện ngắn, bằng việc hư cấu một giấc mơ của vua Khải Định (lúc này đang “xa giá” đến nước Pháp) và mượn lời của vị nữ anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, tác giả lên án nặng nề chế độ phong kiến Nam triều và chính vua Khải Định đã để mất nước, ươn hèn cam tâm làm tay sai cho ngoại bang.

xNgày 24/6/1959 Bác đón Tổng thống Indonesia Sukarno tại sân bay Gia Lâm

Bài viết cũng đề cập tới môt số quan niệm về lịch sử dân tộc của tác giả:


“… theo tập tục ngàn năm của nước Nam ta xưa cũ thì Hoàng đế là chịu mệnh trời để trị dân, vì thế mà được coi là con của trời, cha mẹ của dân.

Vua muốn xứng với lòng trời và làm tròn nhiệm vụ chí tôn của mình thì phải chịu khổ trước dân và chia sướng sau dân. Vua phải tuân lệnh trời, mà tiếng dân chính là truyền lại ý trời. Bằng không thì ấy là rời đoạn tuyệt, tổ tiên từ bỏ, nhân dân ruồng rẫy.

Giở sử đất nước ra mà xem, sẽ thấy tổ tiên đã treo bao tấm gương đạo đức và dũng cảm, chí khí và tự tôn. Lý Bôn với một nhóm nghĩa sĩ, đã nổi dậy và bẻ gẫy ách đô hộ của Hán tộc. Ngô Quyền (năm 938) đã phá tan đạo quân nước ngoài kéo vào đánh chiếm đất đai Tổ quốc ta.

Dân ta sống trong hạnh phúc và thịnh vượng dưới triều nhà Đinh. Năm 980, Lê Đai Hành đã dũng cảm không chịu khuất phục trước yêu sách của láng giềng hùng mạnh hơn mình gấp bội, ông đã đánh thắng địch, giết chết tướng địch. Do đó đã giải thoát được đồng bào khỏi nạn nô dịch.

Quân Mông Cổ đi đến đâu phá sạch đến đấy, đã bị nhà Trần vẻ vang của chúng ta đánh bại (1225). Lê Lợi đã hùng dũng đứng ra lãnh đạo cuộc cách mạng nước Nam, đập tan chế độ tàn bạo và hạch sách mà những lẻ tự xưng là bảo hộ ta bắt ta chịu… Năm 1407, Tầu (phong kiến) đánh nhau với ta; nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, nước Nam đã thắng…

Trong rất nhiều bài viết vận động cách mạng của mình Bác đã khai thác những đề tài lịch sử làm gương khích lệ lòng hăng hái yêu nước của dân ta hòng tạo nên sức mạnh to lớn của truyền thống kết hợp với tinh thần cách mạng của thời đại mới.

X&N

bee.net.vn

Về công cuộc giải phóng thuộc địa

 – Ngày 23/6/1924, đại biểu Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại diễn đàn của phiên họp thứ 8 của Đại hội V Quốc tế Cộng sản.

Người nói: “Tôi đến đây để không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: thuộc địa vẫn đang tồn tại và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa.

Song tôi thấy rằng hình như các đồng chí hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có đựơc, gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”.

Với một tinh thần thẳng thắn, Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ sai lầm là: “Muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc chủ nghĩa tư bản đang tập trung ở thuộc địa hơn là chính quốc…

Tại sao các đồng chí lại xem thường các thuộc địa trong lúc chủ nghĩa tư bản lại dựa vào nó để tự bảo vệ và chống lại các đồng chí?… Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa?… Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý !”.

Vấn đề thuộc địa còn được Nguyễn Ái Quốc kiên trì đề cập tới tại nhiều phiên họp khác và dần tìm được sự quan tâm của Đại hội.

f Nguyễn Ái Quốc cùng với các đồng chí thuộc địa của mình.

Tại phiên họp lần thứ 22 của Đại hội này (1/7/1924), Nguyễn Ái Quốc thẳng thắn phê phán: “… sẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng chừng nào Đảng Pháp và Đảng Anh chúng ta chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa đề cập đến quần chúng các nước thuộc địa thì toàn bộ chương trình rộng lớn của hai đảng đó vẫn không có hiệu quả gì!

Chương trình ấy sẽ không có hiệu quả gì vì nó trái với chủ nghĩa Lênin… Theo Lênin, cách mạng phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc…”.

Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra những kiến nghị cụ thể trong đó có vấn đề tuyên truyền và huấn luyện…và kết luận: “Vì chúng ta coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”.

Và trong bài viết “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa” đăng trên tờ “Đời sống Công nhân” (La Vie Ouvrière) cũng trong năm 1924, lý luận về chủ nghĩa thực dân và phong trào giải phóng thuộc địa của Nguyễn Ái Quốc càng trở nên sắc nét khi viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và môt cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra…” Những luận điểm ấy đã được thể hiện trong nhiều bài báo khác và được trình bày một cách tập trung trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” được viết vào năm 1925.

Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh trở thành người chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa bắt nguồn từ đó.

X&N
bee.net.vn

Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc

– Ngày 22/6/1946, mở đầu chuyến thăm chính thức nước Cộng hoà Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm bày tỏ sự thân thiện giữa 2 quốc gia và tìm giải pháp cho việc xác lập mối quan hệ giữa hai nước bằng một cuộc đàm phán sẽ diễn ra cùng thời gian này tại Fontainebleau.

Từ Biarritz, máy bay của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hạ cánh xuống sân bay Le Bourget của thủ đô Paris nơi diễn ra lễ đón tiếp trọng thể  với những nghi thức  quốc gia.

Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại cùng nhiều thành viên trong Chính phủ, đông đảo nhân dân Pháp và bà con Việt kiều đã nghênh tiếp. Đoàn lưu lại tại Khách sạn Royal Monceau gần Phủ Tổng thống.

Ngay tại sân bay, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước máy ghi âm của Hãng Thông tấn Pháp AFP: “Tôi rất lấy làm bằng lòng được đặt chân lên đất của một nước đã chịu đau khổ nhiều vì lý tưởng và tự do. Cảm ơn Chính phủ và dân chúng Pháp tiếp đãi tôi một cách long trọng. Mong sau này hai dân tộc Pháp và Việt Nam cộng tác một cách bình đẳng, thật thà và thân thiện”.

Cuộc viếng thăm nước Pháp kéo dài tới tận ngày 16/9/1946, Bác mới rời Paris sau khi ký được một bản “Tạm ước” (14/9) với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại nhằm cứu vãn nguy cơ chiến tranh.

Từ Paris đi tàu hoả tới thành phố Marseille rồi đi cảng Toulon. Ngày 18/9, Bác xuống tàu “Dumont D’ Urville” cùng với một số trí thức tình nguyện về nước phục vụ, trong đó có bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… Tàu rời cảng, cho tới ngày 20/10/1946 mới về tới Cảng Hải Phòng và ngày hôm sau (21/10) trở về Hà Nội bằng tàu hoả.

d

Một năm sau, hai nước đã ở trong tình trạng chiến tranh, ngày 22/6/1947, tại chiến khu, trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một là Chính phủ Việt Nam gồm rất nhiều đảng phái, hai là chính sách Việt Nam rất rõ rệt: cốt làm cho nước Việt Nam thống nhất và độc lập, làm cho dân được tự do và khỏi khổ, khỏi dốt. Bao giờ nước Việt Nam được thật thà thống nhất và độc lập thì chiến tranh sẽ kết liễu”.

Đề cập tới tới một chương trình kiến thiết, người đứng đầu nhà nước kháng chiến cho biết: “Chương trình kiến thiết của Việt Nam bước đầu tiên là làm cho dân khỏi khổ, khỏi dốt. Muốn như thế thì chúng tôi phải ra sức tăng gia sản xuất, muốn tăng gia sản xuất rộng rãi và chóng có kết quả thì chúng tôi cần có tư bản, trí thức và lao đông. Dân Việt Nam rất siêng năng và chịu khó, cho nên chúng tôi đủ sức lao động. Việt Nam có rất nhiều phụ nguyên, chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước công tác thật thà với chúng tôi”.

Đề cập tới vai trò của trí thức, Bác khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chứng thực một phần quan trọng… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”.

X&N
bee.net.vn

“Phải kính trọng độc lập và tự do của mọi dân tộc”

 – Ngày 19/6/1947, nhân tròn nửa năm Toàn quốc Kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi, trong đó nhấn mạnh: “Đồng bào ta đại đoàn kết. Toàn dân ta chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ. Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước. Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại… Địch muốn dùng cách đánh mau, thắng mau. Nếu chiến tranh kéo dài, hao binh tổn tướng, chúng sẽ thất bại…Thế địch như lửa. Thế ta như nước. Nước nhất định thắng lửa…

Về mặt tinh thần địch đã hoàn toàn thất bại, ta đã hoàn toàn thắng lợi… Chúng ta quyết hy sinh chịu khổ và gắng sức 5 năm, 10 năm để phá tan cái xiềng xích nô lệ 80 năm vừa qua, để tranh lấy quyền thống nhất và độc lập cho muôn đời sắp đến… Chúng ta đã đồng tâm nhất trí. Chúng ta nhất định sẽ thắng lợi”.

Trong lời kêu gọi nhân dân thế giới được viết sau đó (20/6/1947), Bác viết: “Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp có một mục đích chung: cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc.

dChủ tịch Hồ Chí Minh trên chiến khu Việt Bắc.

Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngăn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung và tình nghĩa của hai dân tộc ta”. Lời kêu gọi còn hướng đến các dân tộc châu Á và “các nhân sĩ dân chủ trên thế giới”: “Mong các bạn lên tiếng ủng hộ hoà bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam”.

Ngày 19/6/1948, nhân “kỷ niệm 1000 ngày kháng chiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi một văn kiện đăng trên báo “Vệ Quốc” có nhan đề “Các tướng sĩ yêu mến tiến lên!” trước hết biểu dương danh sách “những bộ đội đã làm cho giặc Pháp thiệt hại nhiều, đã có thành tích vẻ vang” và “Tôi cũng phải nhắc đến những bộ đội du kích phụ lão và phụ nữ cùng các chú liên lạc đã tỏ ra rất oanh liệt, đã làm cho thế giới biết rằng: người già, đàn bà, trẻ con Việt Nam đều là những chiến sĩ yêu nước và dũng cảm tranh đấu hy sinh cho Tổ quốc… Song những tiến bộ và thành tích ấy mới là bước đầu. Trong cuộc thi đua ái quốc tới đây, các bạn phải tiếp tục tiến bộ mau hơn nữa, nhiều hơn nữa. Các bạn phải thi đua nhau đánh những trận to lớn hơn nữa, giết giặc nhiều hơn nữa, cướp nhiều súng hơn nữa…”.

X&N
bee.net.vn

Bản Yêu sách 8 điểm

 – Cách đây 90 năm, ngày 18/6/1919, văn kiện “Những yêu sách của nhân dân An Nam” ký tên Nguyễn Ái Quốc thay mặt Nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, đã được gửi tới Hoà hội Versailles, nơi các nước thắng trận họp để phân chia trật tự thế giới sau Đại chiến lần thứ nhất. Văn kiện này cũng được gửi tới Tổng thống Mỹ Wilson, một số đoàn đại biểu tham dự (trong đó có Nicaragoa) và được đăng tải trên nhiều tờ báo ở Pháp.

Nội dung yêu sách gồm 8 điểm: “1.Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị; 2.Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng đuợc quyền đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu, xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam; 3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận; 4. Tự do lập hội và hội họp; 5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; 6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; 7. Thay chế độ các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; 8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ”.

Văn kiện này cũng được đăng tải trên nhiều tờ báo lớn ở Pháp vào thời điểm này.

sNăm 1920 Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Pháp.

Cùng ngày, một bức thư cũng ký tên Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới Tổng thống Mỹ  viết:  “Chúng tôi mạn phép gửi đến Ngài, kèm theo đây là bản ghi các yêu sách của nhân dân An Nam. Tin tưởng ở lòng độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ trước những người có thẩm quyền…”.

Nguyễn Ái Quốc lúc đầu là tên chung của cả nhóm người Viêt Nam yêu nước gồm: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Thế Truyền, sau đó Nguyễn Tất Thành đứng ra chịu trách nhiệm trước chính quyền thực dân về văn bản này và kể từ đó cái tên Nguyễn Ái Quốc trở nên nổi tiếng gắn với một thời kỳ hoạt động sôi nổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhận xét về văn kiện này Bộ Nội vụ Pháp khẳng định: “Qua cuộc điều tra… có thể rút ra kết luận rằng hiện nay linh hồn của phong trào đó chính là Nguyễn Ái Quốc”.

Nội dung bản yêu sách này còn được Nguyễn Ái Quốc “diễn ca” bằng quốc ngữ để truyền bá sâu rộng trong cộng đồng Việt kiều và trong nước, với lời kết luận thống thiết: “Hai mươi triệu quốc hồn Nam Việt/ Thế cuộc này phải biết mà lo/ Đồng bào, bình đẳng, tự do/ Xét mình rồi lại đem so mấy người/ Ngổn ngang lời vắn ý dài/ Anh em đã thấu lòng này cho chưa”.

X&N
bee.net.vn

“Những anh hùng vô danh”

– Ngày 17/6/1956, báo “Nhân Dân” đăng bài “Bình dân học vụ” của Bác (C.B) biểu dương một trong những phong trào quần chúng mang tính xã hội cao được duy trì trong suốt cuộc vận động giải phóng dân tộc.

Bài báo mở đầu bằng ý kiến của một chiến sĩ diệt dốt “Đoàn quân văn hoá của nhân dân trống rung cờ mở, ào ạt tiến lên, quyết chiến quyết thắng” và cho biết, tính đến thời điểm này ở miền Bắc đã có 1.715.000 người tham các lớp học từ “itờ” đến các lớp bổ túc cấp 2.

Tháng 3-1956 HCM thăm một lớp học buổi tối của bà con lao động Lương Yên,HN_.jpg (68KB)Tháng 3/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một lớp học buổi tối của bà con lao động Lương Yên, Hà Nội

Tác giả nhận định: “Có thành tích ấy là vì nhân dân ta hiểu thấu rằng: Bất kỳ làm nghề gì, nếu không biết chữ thì khó tiến bộ, cho nên nhiều nguời cố gắng đi học. Từ thành thị đến thôn quê, ở các đường phố, các nhà máy, các công trưòng, các chợ búa… khắp nơi có lớp học. Già, trẻ, gái,trai, ai chưa biết chữ đều tìm cách vượt khó khăn để đi học. Buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, đến đâu cũng nghe tiếng học. Thật là một phong trào sôi nổi, một cảnh tượng tưng bừng của một dân tộc quyết rời bỏ chỗ tối, bước lên chỗ sáng…”

Sau khi nêu lên một số tấm gương học tập và dạy học cũng như các áng kiến rất phong phú, bài báo khẳng định: “Bình dân học vụ đã trở thành một phong trào quần chúng. Tuy vậy, đó mới chỉ là bước đầu. Hiện nay còn nhiều người mù chữ chưa đi học…

Để hoàn thành nhiệm vụ thanh toán nạn mù chữ trong 3 năm (1956-1958), …cần phải thiết thực phụ trách đẩy mạnh phong trào thanh toán nạn mù chữ một cách có kế hoạch, liên tục và bền bỉ. Các cơ quan văn hoá, giáo dục cần phải có sách và báo rất thông tục, dễ xem, dễ hiểu, cho những người đã biết đọc, biết viết có thể tiếp tục học thêm…”.

Trong bài viết Bác đã đưa ra một quan điểm sáng suốt: “Một dân tộc siêng làm, ham học thì làm việc gì cũng thành công”.

Trước đó, ngày 8/9/1955, kỷ niệm 10 năm Bình dân Học vụ (1945-1955) trên báo Nhân Dân Bác viết:”Dốt thì dại, dại thì hèn. Vì không chịu dại, không chịu hèn, cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những việc cấp bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới… Bình dân học vụ không những dạy đọc, dạy viết, mà còn phải chú trọng dạy đạo đức công dân” và biểu dương: “Những anh chị em giáo viên và cán bộ bình dân học vụ đã xứng đáng là những “Anh hùng vô danh”…”

Ngày 30/3/1956, nói chuyện với lớp học bình dân học vụ ở Khu lao động Lương Yên (Hà Nội), Bác căn dặn: “Đời sống ví như chiếc thuyền. Sản xuất ví như nước. Mực nước lên cao, thì con thuyền càng nổi cao. Mình cố gắng còn là mưu đời sống sung sướng cho con, cho cháu mình nữa”.

Ngày 17/6/1958, Bác đã ký sắc lệnh tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho nhân dân và cán bộ huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá đã xoá xong nạn mù chữ trước thời hạn quy định và sớm nhất trong các huyện ở miền Bắc.

X&N
bee.net.vn

Lời kêu gọi thi đua ái quốc

– Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” theo tinh  thần của Chỉ thị phát động phong trào thi đua của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (27/3/1948).

Lời kêu gọi nêu rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Cách làm là: dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để: hạnh phúc cho dân…

Vì vậy bổn phận của người Việt Nam là, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì đều cần phải thi đua: Làm cho mau, làm cho tốt, làm cho nhiều.

Ngày 11/6/1946, lễ đón chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh  tại sân bay Le Bourget ở ParisNgày 11/6/1946, lễ đón chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Le Bourget ở Paris


Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hoá. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến, tòan diện kháng chiến

Trong cuộc Thi đua ái quốc, chúng ta : vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Kết quả đầu tiên của Thi đua Ái quốc sẽ là: Toàn dân đủ ăn đủ mặc. Toàn dân biết đọc, biết viết. Toàn bộ đội đầy đủ, lương thực khí giới để diệt ngoại xâm. Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn.

Thế là chúng ta thực hiện: Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc. Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra”.

Lời kêu gọi nhắc đến nhiệm vụ của mọi tầng lớp nhân dân và kết luận: “Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi! Hỡi toàn thể đồng bào, Hỡi toàn thể chiến sĩ, Tiến lên!”.

Tháng 6 năm 1949, trả lời một nhà báo câu hỏi về việc nhân dân kỷ niệm sinh nhật, thì món qùa quý nhất tặng Chủ tịch là gì?, Bác nói: “Món quà quý nhất đối với tôi là những báo cáo thành tích Thi đua ái quốc… Nhưng tôi chắc món quà ấy mới là một phần nhỏ, đồng bào và chiến sĩ ta còn tiếp tục cố gắng, tôi sẽ nhận được món quà to hơn nhiều nữa, món quà đó tên là: Tổng phản công thắng lợi hoàn toàn”.

Cũng trong tháng 6/1949, Bác gửi thư tới “Hội nghị Thi đua ái quốc” phân tích những hạn chế của phong trào và kết luận: “Vậy tôi rất mong Hội nghị tìm cách sửa chữa khuyết điểm ấy và mỗi cán bộ, mỗi đồng bào, mỗi ngành đều ra sức thiết thực thi đua với tinh thần chuẩn bị tổng phản công. Như vậy thì thi đua nhất định thành công”.

X&N
bee.net.vn

Sau 1000 ngày kháng chiến

– Ngày 10/6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi trong dịp 1000 ngày kháng chiến”: “Hỡi đồng bào toàn quốc! Hỡi toàn thể tướng sĩ… tôi thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các tử sĩ và đồng bào đã hy sinh vì nước và gửi lời thân ái hỏi thăm anh em thương binh và gia đình các liệt sĩ.

Tôi gửi lời khen ngợi các tướng sĩ đang oanh liệt giết giặc ngoài mặt trận; Đồng bào đang hăng hái thực hiện thi đua ái quốc ở hậu phương; Đồng bào tại vùng địch tạm chiếm, luôn luôn giữ vững tinh thần yêu nước của người dân Việt Nam; kiều bào hải ngoại luôn luôn giúp đỡ Tổ quốc.

Tôi lại khẩn khoản kêu gọi những người đang lầm đường theo địch, mau mau trở về Tổ quốc. Trong dịp này, lòng tôi và lòng Chính phủ đặc biệt đi đến chiến sĩ và đồng bào Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, vì chiến sĩ và đồng bào ở đó đã tranh đấu trước nhất và hy sinh nhiều nhất”.

Chủ tịch Hồ Chí MinhChủ tịch Hồ Chí Minh

Sau khi điểm lại những thắng lợi mà 1000 ngày kháng chiến đã mang lại, Bác động viên: “Cuộc kháng chiến của ta đã tập trung tất cả cái tinh thần quật cường yêu nước của giống nòi Hồng Lạc lưu truyền từ mấy ngàn năm. Nó tập trung những kinh nghiệm chiến đấu của các vị dân tộc anh hùng Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ, Nguyễn Quang Trung… Chúng ta đủ điều kiện để thắng lợi. Chúng ta chắc thắng lợi.

Song chúng ta phải biết rằng, càng gần thắng lợi thì càng gay go. Mà gay go nhiều thì thắng lợi càng to. Vì vậy mỗi quốc dân phải tẩy sạch cái thói: khi thì quá lạc quan, khi thì quá bi quan. Phải tẩy sạch cái chứng cầu yên, gặp sao hay vậy, muốn ăn quả mà biếng trồng cây… Mỗi người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do. Đã đoàn kết, ta phải đoàn kết rộng rãi thêm. Đã cố gắng ta phải hăng hái mà cố gắng mãi…”.

Cũng vào dịp này, ngày 10/6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho một số người trong chính giới Pháp. Với tướng Salan, thư viết: “Vì chúng tôi đã buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta lại trở thành bạn hữu của nhau.

Chúng ta đã từng là bạn… Vì tình thương yêu con người, lòng nhân đạo và nhân danh tình bạn của chúng ta, tôi yêu cầu ngài nghiêm cấm binh lính Pháp sát hại dân lành, hãm hiếp phụ nữ, đốt phá làng mạc và phá huỷ nhà thờ, đền miếu như họ vẫn làm từ trước đến nay. Tôi bảo đảm với ngài rằng binh lính và thường dân Pháp ở chỗ chúng tôi được đối xử rất tử tế…”.

Còn trong thư gửi Chủ tịch Léon Blum, môt người quen cũ trong Đảng Xã hội Pháp, Bác đặt câu hỏi: “Vậy làm thế nào để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này, làm thế nào để lập lại hoà bình?

Tôi cho rằng, chỉ có một chính sách phù hợp là chính sách mà chính ngài đã đề ra trên báo “Dân Chúng” ngày 12/12/1946, một chính sách hữu nghị và tin tưởng lẫn nhau dựa trên sự thống nhất và độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp. Vì lợi ích và tương lai chung của hai dân tộc chúng ta, tôi hy vọng các ngài sẽ cố gắng làm cho chính sách khôn ngoan và lòng hào hiệp đó được thực hiện”.

X&N
bee.net.vn

Ấn tượng về đôi mắt của một con người phi thường

– Cách đây 64 năm, ngày 9/6/1945, từ chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh gửi thư cho Trung uý Charles Fenn thuộc đơn vị Tình báo Chiến lược Mỹ OSS đóng ở Côn Minh (Trung Quốc) báo tin các báo vụ viên của Mỹ được cử làm việc trong bộ đội Việt Minh (Mc Shin và Frank Tan) vẫn “mạnh khoẻ và chúng tôi đã trở nên bạn bè thân thiết như anh em một nhà”.

Người lãnh đạo Mặt trận Việt Minh yêu cầu OSS chuyển thư tới một người Việt Nam để người đó gửi cho mình một “lá cờ của Đồng Minh”. Cũng trong đầu tháng 6/1945, Hồ Chí Minh điện báo cho người đứng đầu OSS ở Côn Minh là A.Patti biết rằng Việt Minh đã chuẩn bị sẵn sàng lực lượng một ngàn chiến sĩ du kích đang được huấn luyện tốt tại Chợ Chu, Định Hoá.

Tháng 8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh kỷ niệm cùng đơn vị OSS tại Hà NộiTháng 8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh kỷ niệm cùng đơn vị OSS tại Hà Nội

Trước đó 1 tháng, (9/5/1945), Hồ Chí Minh cũng viết thư cho Charles Fenn và Bernard bày tỏ hy vọng các chiến sĩ Việt Minh sẽ học được cách sử dụng điện đài do nhân viên OSS đang huấn luyện và “Tôi hy vọng một ngày gần đây nhất sẽ hân hạnh được đón tiếp các ông tại căn cứ của chúng tôi. Nếu được thế thì thật tuyệt”. Ngày 21/7/1945, Bác lại viết thư cho Ch.Fenn nhấn mạnh “Chúng tôi luôn luôn sẵn sàng nồng nhiệt đón ông”.

Vài ngày sau, một đơn vị biệt kích của OSS với bí danh là “Con Nai” (The Deer) đã nhảy dù xuống Tân Trào hợp tác với Việt Minh đánh Nhật. Nhưng trong đơn vị này không có Ch.Fenn. Và sau đó viên sĩ quan tình báo này cũng không bao giờ gặp lại người mà lần đầu ông gặp vào tháng 3/1945 tại Côn Minh. Chính viên trung uý này cũng đã giới thiệu Bác với Tướng Chelnault người đứng đầu quân đội Mỹ và Đồng Minh ở vùng Hoa Nam để thiết lập sự hợp tác chống phát xít Nhật.

Nhưng Ch.Fenn luôn giữ những ấn tượng tốt về Bác. Năm 1973, ông đã viết cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh bằng tiếng Ạnh được xuất bản ở Mỹ và cũng vì thế ông bị trục xuất khỏi đất nước mà ông phụng sự (tuy gốc là người Anh). Ông sang Hong Kong tiếp tục những sáng tác kịch giành cảm tình với Hồ Chí Minh. Tháng 9/1995, ông sang Việt Nam cùng với các cựu binh OSS.

Và trước khi qua đời vào độ tuổi ngoài 100 ông còn viết lời tựa cho một cuốn album tranh về Chủ tịch Hồ Chí Minh với những lời đánh giá tốt đẹp: “Lần đầu tôi gặp Hồ Chí Minh ở Trung Quốc vào tháng 3/1945… Tôi nói chuyện với Hồ Chí Minh một người dáng nhỏ, gầy, hơi già trong chiếc áo vải bông sờn cũ.

Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp, bởi vì tôi chưa biết rằng ông còn thạo tiếng Anh, không kể tiếng Nga, Đức, Xiêm, hai phương ngữ Trung Hoa và tất nhiên, tiếng Việt và tiếng của một vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam.  Thoạt đầu ông không gây cho tôi một ấn tượng gì đặc biệt. Nhưng đến khi tôi cảm nhận được ánh sáng đặc biệt của đôi mắt ông, tôi biết tôi đang đứng trước một con người phi thường…

Sau này khi hướng dẫn cho ông nghệ thuật tình báo quân sự phương Tây, tôi mới thấy đôi mắt sáng của ông đã ánh lên thần thái mạnh mẽ thế nào qua việc ông nắm vững rất nhanh môn học đầy phức tạp đó… Nếu chúng ta so sánh Hồ Chí Minh với các lãnh tụ khác của thế kỷ XX, chúng ta không thể không có ấn tượng khi biết rằng trong một thời gian dài Hồ Chí Minh đã đi tới nhiều nơi trên thế giới và đã bắt đầu in dấu ấn của mình lên các biến cố quốc tế trước khi cả Mao Trạch Đông, Gandhi, Nehru, Roosevelt, Churchill hay De Gaulle được biết trên thế giới.

Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chất chồng, đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại, lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ ở Ai Cập

 – Ngày 8/6/1946, trên đường sang thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng lại ở Ai Cập. Máy bay cất cánh từ thành phố Habagna (nay thuộc Pakistan) hạ cánh xuống Le Caire (Cairo) thủ đô Ai Cập từ ngày 7/6/1946.

Ngày hôm sau (8/6) theo phép lịch sự Bác và tướng Salan (người thay mặt Chính phủ Pháp tháp tùng) đến thăm Vua Ai Cập nhưng Ngài đi vắng. Viên quan nội vụ đại thần tiếp, mời cà phê và cùng ngày viên quan này theo phép xã giao lại thăm vị khách từ Việt Nam tới tại nơi nghỉ.

Cũng trong ngày, Bác thăm Viện Khảo cổ Ai Cập và được giáo sư viện trưởng người Pháp Prioton hướng dẫn. Ngày nay Viện đã trở thành một bảo tàng có tiếng trên thế giới, đặc biệt với loại hình hiện vật là xác ướp nên còn được gọi là Bảo tàng Xác ướp. Chiều, Bác và những người cùng đi thăm “thành phố Ma” là khu phụ cận thành phố, nhà mồ của những người đã chết được quy hoạch như một khu phố của người sống.

Sau đó, Bác đi thăm những kim tự tháp nổi tiếng của các pharaon Ai Cập và con Nhân sư khổng lồ với lời nhận xét “Bàn chân nó cao quá đầu người đứng. Đêm trời sáng trăng, trông vào tượng đá, thì thấy có vẻ nghiêm trang và thần bí lắm”. Hôm sau (9/6), Bác lại tiếp tục đi thăm kim tự tháp Sekherat cũng rất nổi tiếng.

Nhớ lại, cách đó 35 năm, tháng 6/1911, Bác đã từng đặt chân lên Cảng Xaít (Port Said) của Ai Cập trên hành trình đầu tiên của tàu Đô đốc Latouche Tréville khởi hành từ Bến Nhà Rồng ngày 5/6. Và 22/9/1946 trên chặng đường trở về nước từ Pháp bằng chiến hạm Dumont d’ Urville, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng mấy Việt kiều theo Bác về nước như bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… lại lên cảng Xait thăm.

Có thể nói, trong đời hoạt động của mình, Bác rất thích thăm thú các danh lam thắng cảnh và khảo sát đời sống của các quốc gia. Bác tham gia các nhóm du lịch đi nhiều nước và thăm nhiều di tích lịch sử. Ngay trước khi đến Ai Cập, lúc dừng chân ở Ấn Độ, Bác cũng thăm Lâu đài Delhi Cate, Lăng tẩm của Hoàng hậu Taj Mahan của thế kỷ XVII.

Ngày 8/6/1946 còn có một sự kiện nghiêm trọng là vào thời điểm này, Bác nhận được tin ở Sài Gòn thực dân lập Chính phủ “Nam Kỳ tự trị”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chất vấn tướng Salan cùng đi: “Tại sao không báo cho tôi biết tin này trước khi lên đường? Thật là một âm mưu phi pháp! Tướng quân này, các vị đừng biến Nam Bộ thành một thứ Alsace-Loren (vùng đất của Pháp bị cắt cho Đức trong Đại chiến I) mới, nếu không chúng ta đi đến cuộc chiến tranh trăm năm đấy !…”.

X&N
bee.net.vn