Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Ai là anh hùng?”

– Ngày 17/4/1952, báo “Nhân Dân” đăng bài “Ai là anh hùng?” của Bác (ký bút danh C.B). Thông qua câu chuyện trao đổi giữa một nhóm chiến sĩ về câu hỏi này, bài báo kết luận bằng lời giải thích của chính trị viên, cũng là của tác giả bài viết: “Người anh hùng là những người thật cần kiệm liêm chính, hết lòng hết sức phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, là những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, của giai cấp”.

Bước sang cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tháng 4/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tài liệu “Nội dung chủ nghĩa anh hùng cách mạng” nhằm đưa ra những tiêu chí cho hiện thực phong phú của công cuộc cách mạng và nhu cầu phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong một thời kỳ đầy thử thách ác liệt của đất nước. Tác giả đã khái quát thành 5 điểm chủ yếu:

1. Trung với nước, hiếu với dân, vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, vì chủ nghĩa xã hội, luôn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu hy sinh, lao động quên mình.

HCM xem kế hoạch bắn DKB - A12 chuan bi cho Mau Than 68 - Copy.jpg (19KB)Bác xem kế hoạch bắn DKB – A12 chuẩn bị cho Mậu Thân 68

2. Chấp hành đầy đủ chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống

3. Quyết tâm đi sâu vào khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm, ra sức học tập và vận dụng tốt sáng kiến và kinh nghiệm tiên tiến, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả chiến đấu

4. Nêu cao ý thức làm chủ, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết đồng chí, đoàn kết nhân dân, thực hiện đường lối quần chúng

5. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị, gương mẫu về mọi mặt”.

Cũng vào đầu năm 1966, khi tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ cứu nước, Bác nói: “Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng… Vì vậy các anh hùng phải luôn luôn khiêm tốn…”

X&N
bee.net.vn

“Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc”

– Ngày 16/4/1959, đến thăm Đại hội II Hội Nhà báo Việt Nam, lấy tư cách “một người có nhiều duyên nợ với báo chí” Bác có một bài phát biểu dài phân tích bản chất của báo chí cách mạng, những kinh nghiệm viết báo ở ngoài nước và trong nước cũng như những căn bệnh thường thấy của người làm báo.

Bác nói: “Ưu điểm của các cô các chú không ít, nhưng khuyết điểm thì cũng còn nhiều… Cái bệnh dùng chữ là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái lại, báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên có những chữ ta không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài…

Tóm lại chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi”.

aBác đang xem thông báo về phong trào thi đua diệt dốt trong hai năm 1948-1949 của hai tỉnh Hà Tĩnh và Thái (48KB); BNHCM Ngày 16-4.doc (28KB)Bác đang xem thông báo về phong trào thi đua diệt dốt trong hai năm 1948-1949 của hai tỉnh Hà Tĩnh và Thái Nguyên.

Nói về làm báo cũng là một lao động nặng nhọc, Bác chia sẻ: “…Nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ, phải có ý chí tự cường, tự lập, kém thì phải cố mà học. Chúng ta phải làm thế nào để vượt được khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Người cách mạng gặp khó khăn thì phải đánh thắng khó khăn, chứ không chịu thua khó khăn. “Không có việc gì khó, có chí thì làm nên”. Câu nói đó rất đúng

Bác đã dành nhiều thời gian để nói đến những kỷ niệm cũng là những kinh nghiệm của một người viết báo và làm báo, trong đó có kỷ niệm “Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được.

Tình cờ đọc một truyện ngắn của Tolstoi, thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được… Từ đó mình bắt đầu viết những truyện ngắn. Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe.

Viết xong đưa đến báo Nhân Đạo (L’ Humanité) và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ: “Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm,  chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”.

Cách mấy hôm sau, thấy chuyện của mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là nhà báo trả cho 50 France tiền viết bài. Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết báo. Với 50 France đó mình có thể sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách…”

Phần cuối bài nói, Bác nhấn mạnh: “Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phục vụ ai?… Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động… phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu ..  Tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó. Kinh nghiệm của 40 năm là không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì cố gắng học, mà cố gắng học thì nhất định học được”.

X&N
bee.net.vn

“Tôi cứ phải cố gắng phấn đấu, phấn đấu mạnh…”

– Ngày 14/4/1964, môt lần nữa Bác Hồ lại được nhân dân Thủ đô tín nhiệm mời ra ứng cử đại biểu Quốc hội khoá III tại đơn vị bầu cử thành phố Hà Nội.

Phát biểu với bà con cử tri, Bác bày tỏ quan điểm về Quốc hội và trách nhiệm của người dân đối với Quốc hội.

4-4-1966 HCM đọc bài báo đăng trên Người Giáo viên Nhân dân ngày 14-4-1966,Người để lại bút tích vàNgày 14/4/1966 HCM đọc bài báo đăng trên Người Giáo viên Nhân dân ngày 14/4/1966 và Người để lại bút tích

Bác nói: “… Tôi được cử làm đại biểu Quốc hội đã gần 20 năm nay. Đáng lẽ tôi nhường chỗ cho lớp người trẻ hơn ra gánh vác công việc nước nhà. Nhưng hiện nay ở miền Nam ruột thịt, từ các cụ già, các bà mẹ, đến các cháu thanh niên và nhi đồng đang anh dũng hy sinh, ra sức chiến đấu chống đế quốc Mỹ cướp nước và bọn Việt gian bán nước, thì tôi không thể: “Thảnh thơi vui thú thanh nhàn/ Sớm khuya tiếng hạc, tiếng đàn tiêu dao”.

Vì vậy, tôi cứ phải cố gắng phấn đấu và phấn đấu mạnh. Phấn đấu cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Phấn đấu ủng hộ đồng bào miền Nam. Phấn đấu cho sự nghiệp hoà bình thống nhất nước nhà. Phấn đấu cho: “Bắc Nam sum họp một nhà/ Cho người thấy mặt thì ta vui lòng”.

Mặt trận giới thiệu 45 vị ra ứng cử. Nhưng khoá này, Thủ đô ta chỉ được cử 36 đại biểu vào Quốc hội. Như vậy là trong các vị ứng cử, có người sẽ được bầu, có người không được bầu. Tuy vậy, tôi nghĩ rằng: người không được bầu cũng như người được bầu đều vinh hạnh, vì đã được đồng bào tin cây và giới thiệu mình. Cho nên được bầu hay không được bầu, chúng ta đều phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, như người đầy tớ trung thành nhất của nhân dân…

Lá phiếu của người cử tri tuy khuôn khổ nó bé nhỏ, nhưng giá trị của nó thì vô cùng to lớn. Nhân dân ta đã trải qua biết bao gian khổ, hy sinh biết bao xương máu trong cuộc cách mạng đánh đổ thực dân và phong kiến mới giành được nó. Nó chứng tỏ chế độ dân chủ và tự do của Nhà nước ta và quyền làm chủ thật sự của mỗi người công dân ta.

Vì vậy, đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri. Phải đi bỏ phiếu để tự mình lựa chọn những người xứng đáng thay mặt cho mình trong Quốc hội… Hôm tuyển cử phải là một ngày rất long trọng và rất vui vẻ của nhân dân ta…”.

Đó chính là mong ước của người đã xác lập thể chế Dân chủ Cộng hoà trong lịch sử hiện đại Việt Nam.

X&N
bee.net.vn

“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”

– Tối 13/4/1946, Bác đến thăm môt lớp học ở phố Hàng Trống (Hà Nội). Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại: “Bàn học là những cánh cửa kê tạm. Giáo viên, một người trẻ tuổi đeo kính trắng đang cầm phấn viết mấy chữ mẫu trên tấm bảng đen. Người học thuộc nhiều lứa tuổi, ăn mặc khác nhau.

Những mái đầu cặm cụi. Mái tóc bạc phơ của một cụ già vận áo dài ở bên bộ tóc đen nháy của một chú bé mặc quần cộc. Bác đứng chống cây gậy tre nhìn quang cảnh này tỏ vẻ rất xúc động. Bác khuyến khích mọi người và nói: “Cả người dạy và người học đều là những chiến sĩ trên mặt trận chống giặc dốt”.

Bác Hồ đến thăm một lớp học ở khu lao động Lương Yên, Hà Nội, năm 1956Bác Hồ đến thăm một lớp học ở khu lao động Lương Yên, Hà Nội, năm 1956

Sau đó, Bác đến thăm một lớp học khác tại khu 21Trịnh Hoài Đức và biểu dương đội ngũ các thầy cô giáo là những người tình nguyện dạy học không lương: “Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ là những người vô danh anh hùng. Anh hùng không tên tuổi, anh hùng không ai biết đến”.

Trước đó, “Nha Bình dân học vụ gửi tới Bác cuốn “Phương pháp và cách thức dạy học vỡ lòng chữ quốc ngữ”. Bác xem rồi tự tay viết vào đầu cuốn sách: “Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ cố gắng đọc kỹ sách này, rồi tận tâm dậy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết. Thế là làm tròn một nhiệm vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc”.

Có thể nói chống giặc dốt là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, chỉ 1 ngày sau khi Tuyên ngôn Độc lập (3/9/1945), Bác đã coi “nhiệm vụ cấp bách thứ hai, chỉ sau giặc đói là ưu tiên hàng đầu.

Bác phát biểu: “Vấn đề thứ hai, nạn dốt. Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ biết đọc, biết viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ”.

Tin tưởng vào lòng yêu nước và ham học của dân,  phong trào xoá nạn mù chữ được phát động huy động nhân lực, vật lực trong dân và kế thừa kinh nghiệm của Phong trào truyền bá quốc ngữ của các tầng lớp trí thức yêu nước chịu ảnh hưởng của Đảng khởi xướng từ thời kỳ Mặt trận Bình dân.

Phong trào xoá nạn mù chữ được tiến hành liên tục, ngay cả trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chuyển dần thành phóng trào “Bình dân học vụ” được duy trì bên cạnh hệ thống giáo dục của nhà nước, đã góp phần to lớn vào việc huy động toàn dân tham gia kháng chiến và kiến quốc. Việc đến thăm để động viên các lớp học bình dân của các tầng lớp dân nghèo luôn được Bác quan tâm.

X&N
bee.net.vn

“Biến thành chính sách của nhân dân”

– Ngày 12/4/1952, Báo “Cứu Quốc” đăng bài “Cụ Hồ và cuốc cỏ bỏ phân”, ký tên Đ.X chính là do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết.

Bài báo cho biết, Chủ tịch nước đã nhận được hàng vạn bức thư của các cụ phụ lão, các cháu thiếu nhi, của bà con nông dân và chiến sĩ, lao động gửi tới thông báo về thành tích tăng gia sản xuất.

Bài báo trích nội dung thư của một chị chiến sĩ nông nghiệp được gặp Cụ Hồ đã hứa: “Sẽ vận động bà con trong làng ra sức cuốc cỏ bỏ phân, làm mùa thật tốt”, tức là thực hiện một hướng dẫn khoa học để lao động của người dân có kết quả  thiết thực.

HCM bên lá cờ tổ quốc,ảnh do một sĩ quan Anh chụp đầu năm 1946,lưu trữ tại Bảo tàng Chiến tranh Ho (63KB)Bác Hồ bên lá cờ tổ quốc, ảnh do một sĩ quan Anh chụp đầu năm 1946, lưu trữ tại Bảo tàng Chiến tranh Hồ Chí Minh.

Kết luận bài báo, tác giả tin tưởng rằng chính sách tăng gia và tiết kiệm của Chính phủ và Đoàn thể nhất định thành công vì chính sách ấy “đã thấm nhuần và đã biến thành chính sách của nhân dân”.

Bài báo này biểu hiện kết quả bước đầu của phong trào thi đua yêu nước do Bác phát động nhằm thu hút toàn dân tham gia vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lúc này đã bước vào một thời kỳ quyết liệt mà thắng lợi của nó, theo quan điểm của Bác, không chỉ ở trên chiến trường.

Trong một bức thư “gửi đồng bào, chiến sĩ và cán bộ toàn quốc” được viết vào thời điểm này (4/1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Kế hoạch tăng gia sản xuất và tiết kiệm do Chính phủ đề ra, đã được Ban thường trực Quốc hội đồng ý, đã được Ban chấp hành trung ương Mặt trận Liên Việt đồng ý; Đã được các đoàn thể nhân dân đồng ý; Đã được các đại biểu chính quyền các khu, các tỉnh và các đại biểu quân đội ta thảo luận kỹ và đồng ý.

Nghĩa là kế hoạch này là một kế hoạch rất dân chủ, rất thiết thực, rất ích nước lợi dân… Thực hiện kế hoạch này chẳng những có ý nghĩa kinh tế to lớn, mà lại có ý nghĩa chính trị to lớn. Nó giáo dục cán bộ và nhân dân về quyền hạn và nhiệm vụ dân chủ…

Vậy tôi yêu cầu cán bộ các ngành, các đơn vị, từ trung ương đến khu, đến xã phải nghiên cứu rất kỹ lưỡng, phải hiểu biết rất rõ ràng kế hoạch này. Tôi yêu cầu các cán bộ thấm nhuần kế hoạch rồi phải giải thích tuyên truyền cho mọi chiến sĩ, mọi người thấm nhuần kế hoạch, để thực hiện kế hoạch cho kỳ được.”

Đó chính là phương thức chỉ đạo thực hiện một đường lối, chính sách mà phong trào quần chúng là thước đo hiệu qủa mà hiệu ứng của nó chính là việc xây dựng nền dân chủ làm cho mọi chính sách của đoàn thể chính trị và nhà nước trở thành “chính sách của nhân dân”.

X&N
bee.net.vn

“Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc”

– Ngày 11/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho điền chủ và nông gia Việt Nam xác định: “Việt Nam ta là một nước sống về nông nghiệp”.

Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã”.

Giới thiệu về mô hình “hợp tác xã” còn rất mới mẻ, Bác viết: “Hợp tác xã là gì? Nói tóm lại, hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh, thí khó nhọc ít mà ích lợi nhiều. Vì vậy, hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức có lợi cho nhà nông. Nó là một cách tranh đấu kinh tế có hiệu quả nhất, để giúp vào việc xây dựng nước nhà. Hợp tác xã nông nghiệp là một cách làm cho nhà nông đoàn kết, làm cho nhà nông thịnh vượng. Hợp tác xã nông nghiệp giúp cho nhà nông đạt đến mục đích, đã ích quốc lại lợi dân”.

Tháng 4-1965 HCM thăm nhà máy bóng đèn phích nước Rạng Đông,HN.jpg (83KB);Tháng 4/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà máy bóng đèn phích nước Rạng Đông, Hà Nội

Bức thư kêu gọi: “Hỡi đồng bào điền chủ nông gia! Anh em ta ai chẳng mong được đầy đủ, giàu có, ai chẳng mong cho nước thịnh, dân cường. Vậy chúng ta hãy mau mau chung vốn, góp sức, lập nên hợp tác xã nông nghiệp ở khắp nơi; từ làng mạc cho tới tỉnh thành đâu đâu cũng phải có hợp tác xã. Tục ngữ có câu “Một cây làm chẳng lên non, nhiều cây chụm lại nên hòn núi cao”, đồng bào điền chủ nông gia hãy hăng hái cùng nhau làm việc kiến quốc đó”.

Trước đó 20 năm, năm 1925, trong tác phẩm được coi là giáo khoa cho những người cách mạng mang tên “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc dành chương cuối cùng viết về “Hợp tác xã” và đưa ra những quan điểm cơ bản: “Hợp tác xã đâu hết (đầu tiên) sinh ra ở bên Anh, mấy người thợ vải rủ nhau lập ra một cái hội “làm vải cho tốt và bán giá trung bình trong làng xóm”.

Từ đó mà các hình thức hợp tác xã phát triển mạnh ở nhiều ngành và nhiều nước “tuy cách làm có khác nhau ít nhiều nhưng mục đích thì nước nào cũng như… lời tuyên ngôn của hợp tác xã Anh đã nói: ”Cốt làm cho những người vô sản giai cấp hoá ra anh em. Anh em thì làm giùm nhau, nhờ lẫn nhau. Bỏ hết thói tranh cạnh. Làm cho ai trồng cây thì được ăn trái, ai muốn ăn trái thì giùm vào trồng cây…”.

Về lý luận, Bác phân tích: “Tục ngữ An Nam có những câu “Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó” và “Một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao”, lý luận hợp tác xã đều ở trong những điều ấy. Nếu chúng ta đứng riêng thì sức nhỏ, mà làm không nên việc…” và giới thiệu các loại hình hợp tác xã khác nhau như “hợp tác xã tiền bạc” (tín dụng), “hợp tác xã mua bán”, “hợp tác xã sản sinh”…” nói tóm lại hợp tác xã rất có lợi cho nên dân các nước làm nhiều lắm”.

Những tư tưởng về hình thức tổ chức kinh tế được gọi là “hợp tác xã” này hoàn toàn không đồng nhất với phong trào hợp tác hoá được thực hiện trong khuôn khổ “cải tạo xã hội chủ nghĩa” sau này, một hình thức tiến bộ, thích ứng với thời chiến, tuy nó đã có những đóng góp lịch sử nhưng nó cũng sớm bộc lộ những yếu kém, sai lầm trong quản lý như quan liêu, thiếu dân chủ… khiến nó mang lại cho người dân sự thiếu tin tưởng dẫn đến sự giải thể. Tuy vậy, những tư tưởng cơ bản của “hợp tác xã” vẫn giữ nguyên những giá trị trong đời sống tổ chức kinh tế và xã hội hiện đại.

X&N
bee.net.vn

“Chính tâm tu thân”

– Ngày 10/4/1953, đến với Lớp chỉnh Đảng Trung ương khoá III, Bác nói: “Trong khi rỗi, Bác thường đọc sách, sách mới có, sách cũ có. Hôm nay Bác nói một câu chuyện về sách cũ.

Ngày xưa, Khổng tử có câu: “Ôn việc cũ để biết việc mới”. Sau khi phân tích những thay đổi to lớn của thế giới mà xu thế là phe đế quốc ngày càng yếu, phe dân chủ hoà bình mạnh lên cũng như những trưởng thành của cuộc kháng chiến trong nước. Bác phân tích đến những vấn đề thuộc về “cá nhân chúng ta”.

Bác đọc bia Tiến sĩ tại Văn MiếuBác đọc bia Tiến sĩ tại Văn Miếu

Bác nói: “Thiện là gì? Là làm đúng chính sách của Đảng, phục vụ quyền lợi đa số nhân dân (công nông) thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, để lợi ích cách mạng, nhân dân lên trên hết, trước hết; trái lại là cái ác. Hai cái đó luôn đấu nhau.

Không ít cán bộ, đảng viên phạm tham ô, lãng phí, quan liêu; đó là phe ác nó thắng phe thiện. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên theo đúng chính sách của Đảng, chí công vô tư, thực hành cần, kiệm, liêm, chính – có nhiều cán bộ trực tiếp viết thư cho Bác hứa không có tham ô, thực hiện đúng lời hứa đó, và tự chỉnh huấn, rửa sạch được cái bệnh ấy – phe dân chủ hoà bình trong người các chú thắng lợi. Nếu không phe ác thắng lợi trong con người các chú.

Khổng tử nói: “Mình phải chính tâm tu thân” nghĩa là việc gì cũng phải làm kiểu mẫu, có thế mới “trị quốc bình thiên hạ” được. “Trị quốc bình thiên hạ” đây tức là ta kháng chiến đánh Pháp, xây dựng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình thế giới. Muốn cải tạo xã hội thì lòng mình phải cải tạo. Nếu lòng mình không cải tạo thì dừng nói đến cải tạo xã hội. Lòng mình còn tham ô, lãng phí muốn cải tạo xã hội làm sao được…”.

Quan niệm “chính tâm tu thân” cũng như nhiều nguyên lý của Khổng giáo nhiều lần được Bác Hồ vận dụng trên một tinh thần phù hợp với công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Ngay sau khi dành được độc lập, Bác đã bày tỏ sự trân trọng của mình đối với những di sản tích cực của Khổng giáo khi đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Báo “Cứu Quốc” tường thuật:

“9 giờ sáng ngày 21/10/1945, Hội Tư Văn Thăng Long gồm các bậc cựu văn thân đã tổ chức kỷ thu lễ đức Khổng Tử tại Đền Giám. Hồ Chủ tịch, cố vấn Vĩnh Thuỵ (Bảo Đại), các quan chức Chính phủ và Hà Nội đến dự. Trưởng quan Trung Hoa cũng có mặt.

Trước đỉnh trầm nghi ngút và bàn thờ thắp nến sáng rực, Hồ Chủ tịch đứng chủ lễ, các quan khách dàn thành hàng ngang hai bên. Sau khi hành lễ, các đại biểu phát biểu. Ông Trưởng quan Trung Hoa đọc đáp từ.

Hồ Chủ tịch dịch ra tiếng Việt như sau: Bên Trung Hoa cũng như Việt Nam, hàng năm vẫn làm lễ Khổng Tử để duy trì nền đạo đức, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Vậy mong rằng hai dân tộc cùng nhất trí hành động, đặng kiến thiết nền văn hoá phương Đông theo một tinh thần mới…”.

X&N
bee.net.vn

“Một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay”

– Ngày 9/4/1925, Nguyễn Ái Quốc với bút danh L.T viết thư trả lời ông H. góp ý kiến nhận xét về tập luận văn “Cách mệnh” theo yêu cầu của tác giả. H. chính là Nguyễn Thượng Huyền, con trai của nhà yêu nước Nguyễn Thượng Hiền, lúc này cũng đang hoạt động chính trị ở Trung Quốc.

Bức thư được viết nhân H. gửi 2 tập bản thảo của mình cho Nguyễn Ái Quốc đọc để nhận xét. Trong thư, Nguyễn Ái Quốc đã góp ý cho tác giả và bày tỏ một số quan niệm của mình về công việc cầm bút và phê bình.

Bác Hồ làm việc tại Chiến khu Bác Hồ làm việc tại Chiến khu

Thư viết: “Tôi luôn luôn nhớ rằng phê bình thì dễ, còn sáng tác nghệ thuật thì khó. Dùng điển tích là tốt, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất cao xa, thâm thuý của các điển tích thường cũng bao hàm những ý nghĩa mơ hồ có thể làm cho người ta hiểu lầm…

Một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt… Một lối hành văn giản dị chính xác hơn hẳn cái lối hành văn rườm rà, hoa mỹ…

Nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truyền thì đó phải là một tác phẩm ai đọc cũng hiểu được. Một tác phẩn hành văn hay mà khó hiểu thì chẳng có ích gì”.

Về nội dung chính trị của luận văn bàn về cách mạng, Nguyễn Ái Quốc thẳng thắng góp ý rằng viết về cách mạng mà “Ông không nói 1.Phải làm cái gì trước cách mệnh 2.Phải làm gì trong cách mệnh 3.Phải làm gì sau cách mệnh. Ông chưa bàn đến lực lượng mà người Pháp có thể sử dụng ở nước ta, cũng chưa bàn đến lực lượng của ta”.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc viết: “Tôi đã nói thẳng những ý kiến của tôi về bài viết của ông và cũng nhân cơ hội này nêu lên một số vấn đề để thảo luận, mong rằng có thể rút ra từ đó một cái gì để mở rộng kiến thức của tôi.

Xin thành thực và nhiệt liệt hoan nghênh tài cao trí lớn của ông. Bất cứ một người lao động nào, dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới không sai lầm. Nhưng làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh tay ngồi không”.

Thư còn dành nhiều dòng để góp ý rất cụ thể liên quan đến những khái niệm, quan điểm trình bày trong bản thảo của H., thể hiện tác giả lá thư rất nghiêm túc, chân tình nhưng cũng thẳng thắn. Chỉ có điều đáng tiếc rằng hành trạng của con trai nhà yêu nước Nguyễn Thượng Hiền cho thấy Nguyễn Thượng Huyền đã bị bộ máy mật thám thức dân lung lạc.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ và nhà triết học Anh Bertrand Russel

– Ngày 7/4/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về tình hình chiến sự trên cả nước và một số vấn đề về ngoại giao.

Bìa sách Hồ chí minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bìa sách Hồ Chí Minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bác lưu ý việc tăng cường công tác vận động ngoai giao nhân dân, cần tuyên truyền về Toà án xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam do Huân tước và triết gia nổi tiếng người Anh (năm đó đã 94 tuổi), một người có cảm tình đặc biệt đối với nhân dân ta, đề xướng để tranh thủ dư luận quốc tế.

Bertrand Russel (1872 – 1970) là một nhà triết học và cũng là một chiến sĩ hoà bình nổi tiếng người Anh. Tháng 7/1964, ông đã dẫn đầu một đoàn đại biểu các tầng lớp nhân dân Anh đến Sứ quan của Mỹ và London phản đối những chính sách xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam và khu vực Đông Dương. Uy tín của ông đã thu hút được nhiều nhân vật tên tuổi tham gia.

Ngay sau khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại, ném bom miền Bắc, Bertrand Russet đã gửi điện đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án hành động chiến tranh của Mỹ.

Ngày 10/8/1964, Bác đã gửi điện cảm ơn, trong đó nêu rõ: “Chúng tôi luôn thiết tha với hoà bình và chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng phương pháp hoà bình. Tôi cảm ơn cụ đã quan tâm đến tình hình nghiêm trọng do Mỹ gây ra trên đất nước chúng tôi và xin gửi cụ lời chào kính trọng”.

Ngày 15/11/1966, theo sáng kiến của Bertran Russel, một Toà án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ, mang tên ông được thành lập và đã tiến hành hai phiên xét xử, lần thứ nhất từ 2 đến 13/5/1967 tại Stockholm (Thuỵ Điển) và lần thứ hai từ 20/11 đến 1/12/1967 tại Copenhaguen (Đan Mạch) gây tiếng vang thu hút ngày càng đông đảo giới tri thức và nhân dân các nước ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Ngày 19/11/1966, Bác đã gửi điện tới Betrand Russel nhấn mạnh “… Toà án sẽ góp phần thức tỉnh lương tri của nhân dân… Kiên quyết đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng vì sự nghiệp chính nghĩa của mình, nhân dân Việt Nam đánh giá cao và hết lòng ủng hộ sáng kiến cao quý của cụ…”.

Sau phiên xét xử đầu tiên, Bác lại gửi điện tới nhà triết học Anh khẳng định: “Sự nghiệp cao cả mà cụ đã đề xướng ra nay bước đầu được thực hiện… Đó là một sự kiện quốc tế rất quan trọng… Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới đều mong đợi sự thành công của Toà án quốc tế”.

Cũng nhân dịp này, Bác còn gửi điện tới Nhà triết học nổi tiếng người Pháp Jean Paul Satre là đồng chủ tịch Toà án này bày tỏ niềm tin tưởng: “… Chắc chắn các dân tộc và tất cả những người yêu chuộng hoà bình và công lý sẽ sát cánh với các vị, nhiệt tình ủng hộ các vị”.

X&N
bee.net.vn

“Chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan”

– Ngày 6/4/1954, báo Nhân Dân đăng bài báo ký tên “C.B” có nhan đề “Nhiệm vụ của chi bộ ở các cơ quan” trong đó Bác đề cập tới vai trò quan trọng của tổ chức chính trị này trong thời điểm cuộc kháng chiến đang ở thời kỳ quyết định, chiến dịch Điện Biên Phủ đang diễn ra quyết liệt nhưng niềm tin chiến thắng đang đòi hỏi tổ chức chi bộ phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng nặng nề của sự nghiệp cách mạng…

Chân dung Hồ Chủ tịch

Chân dung Hồ Chủ Tịch

Bài báo viết: “Chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan. Bởi vậy nhiệm vụ của chi bộ là:

– Làm sao cho toàn thể nhân viên đều cố gắng thực hiện đầy đủ chính sách của Đảng, của Chính phủ và hết lòng phụng sự nhân dân.

– Làm sao cho mọi người thực hành cần, kiệm, liêm, chính.

– Làm sao để tẩy trừ những bệnh quan liêu, hình thức, tham ô, lãng phí, a dua, dối trá, trái luật lệ của Chính phủ, trái kỷ luật lao động. Vạch rõ các khuyết điểm và đề ra cách sửa chữa, không để khuyết điểm nhỏ chồng chất thành khuyết điểm to …

Mà muốn làm được như vậy thì mỗi đảng viên phải xung phong làm guơng mẫu trong mọi việc, đồng thời phải thật thà đoàn kết và giúp đỡ anh em ngoài đảng. Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan. Phải luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp miệng em” ngăn cản quần chúng phê bình. Một đảng viên ở địa vị càng cao thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ

Cần chú ý, để làm những việc trên đây, chi bô phải dùng cách chính trị, giáo dục, giải thích, khai hội bàn bạc với quần chúng… Chứ tuyệt đối không được lạm quyền, mệnh lệnh. Phải nhớ rằng chi bộ là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chứ không phải là một tổ chức hành chính”.

Những nhiệm vụ này, cho dù thời thế đã thay đổi nhiều nhưng nó vẫn là những nguyên lý mang lại uy tín và năng lực lãnh đạo của một tổ chức cách mạng

X&N
bee.net.vn

Mở mặt trận trên không thắng lợi

 – Ngày 5/4/1965, sau sự kiện Không quân nhân dân Việt Nam lần đầu xuất kích đánh to và thắng lớn không lực Hoa Kỳ trong 2 ngày 3 và 4/4/1965, đặc biệt là trên bầu trời bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá),  Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi:

“Các chú đã chiến đấu dũng cảm, đã tiêu diệt máy bay Mỹ. Các chú đã thực hiện được khẩu hiệu “Đã đánh là thắng”. Như thế là xứng đáng với truyền thống của quân và dân ta. Bác gửi lời khen ngợi các chú và nhắc các chú luôn luôn phải: Nâng cao tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thắng không kiêu, khó không nản. Ra sức rèn luyện để tiến bộ mãi mãi. Đoàn kết chặt chẽ với các đơn vị bạn và với nhân dân.Chúc các chú lập nhiều chiến công hơn nữa”.

Bác Hồ thăm một đơn vị không quânBác Hồ thăm một đơn vị không quân

Cách đó hơn một thập kỷ, ngay sau khi tiếp quản sân bay Gia Lâm (10/1954), Ban Nghiên cứu sân bay được thành lập và đến năm 1959 thì chuyển thành Cục Không quân. Năm 1963 thành lập lực luợng Phòng không-Không quân với 2 trung đoàn vận tải và huấn luyện trong khi đó lực lượng không quân tiêm kích đang được huấn luyện ở nước ngoài.

Ngày 5/8/1964, Mỹ phát động cuộc Chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, thì ngay ngày hôm sau Trung đoàn tiêm kích mang phiên hiệu 921 được trang bị loại máy bay MIG17 đã hạ cánh xuống sân bay quân sự Nội Bài. Ngày 9/11/1964, Bác đến thăm Trung đoàn và căn dặn: “Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, biển như Bạch Đằng, Hàm Tử… trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa. Ngày nay chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi. Trách nhiệm này trước hết là của các chú”.

Và ngày 3/4/1965, biên đội đầu tiên do phi công Phạm Ngọc Lan chỉ huy đã xuất kích, nghênh chiến với máy bay của Không lực Hoa Kỳ trên bầu trời Hàm Rồng (Thanh Hoá) bắn rơi 2 máy bay F8U đầu tiên. Trong trận đánh tiếp theo diễn ra ngày 4/4, biên đội của Trần Hanh xuất kích lại bắn rơi 2 chiếc máy bay F5D hiện đại hơn; 3 phi công Phạm Giấy, Trần Nguyên Năm và Lê Minh Huân hy sinh là những liệt sĩ không chiến đầu tiên của binh chủng.

Cũng trong ngày 5/4/1965, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp nghe Bộ tư lệnh Quân chủng báo cáo và đi đến kết luận: Không quân ta có thể đánh thắng được Không quân Mỹ và Thường vụ Đảng uỷ Quân chúng cũng đưa ra kết luận: Đánh với đối tượng mạnh hơn ta, có số lượng đông, trang bị kỹ thuật hiện đại, người lái được huấn luyện có giờ bay cao, phải có cách đánh độc đáo phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Không quân Việt Nam, luôn tạo thế bất ngờ chủ động tấn công, phải mưu trí linh hoạt sáng tạo trong cách đánh”.

Kể từ đó, ngày 3/4 trở thành Ngày truyền thống của Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng.

X&N
bee.net.vn

Dàn xếp xích mích giữa đồng bào lương – giáo

– Ngày 4/4/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đặc phái viên Chính phủ tại Thanh Hoá là Vũ Đình Huỳnh giao nhiệm vụ cùng giám mục Lê Hữu Từ “dàn xếp việc xích mích giữa đồng bào lương – giáo để thực hiện đoàn kết kháng chiến. Vì vậy, cần phải khôn khéo và cẩn thận từ lời nói đến việc làm” và bằng mọi cách để giải toả những việc hiểu lầm dẫn đến có hại cho đoàn kết.

Đây là những nỗ lực thể hiện thiện chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một vị giám mục đứng đầu giáo phận Bùi Chu (Ninh Bình), ngay từ sau khi Cách mạng thành công đã được mời làm  thành viên ban cố vấn của Chính phủ (mà cựu hoàng Bảo Đại, tức công dân Vĩnh Thuỵ làm cố vấn tối cao) nhằm tăng cường đoàn kết các tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc.

Bác với các đại biểu theo Đạo Thiên ChúaBác với các đại biểu theo Đạo Thiên Chúa

Giữa tháng 1/1946, Bác về tận Nho Quan, Ninh Bình gặp và nói chuyện với Giám mục Lê Hữu Từ và hơn 100 vị linh mục. Bác gọi “Đức Cha Từ là bạn của tôi” và nói: “Công giáo hay không công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo phải nên nỗ lực tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà. Nhiệm vụ của toàn thể chúng ta là phải giữ vững nền độc lập… Đức Chúa đã hy sinh vì Nhân loại. Người đã vì loài người mà hy sinh phấn đấu, còn chúng ta thì hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc” (Cứu Quốc 14&15/1/1946).

Khi toàn quốc kháng chiến đã bùng nổ, ngày 23/1/1947, Bác viết thư động viên “Xin Đức Cha cầu nguyện cùng Chúa cho Tổ quốc” ; tiếp đó trong thư đề ngày 1/2/1947, Bác lại viết thư trả lời lá thư của Giám mục, trong đó giải thích một số thắc mắc khi xảy ra một số xích mích ở địa phương: “Trong hiến pháp nước ta đã định rõ quyền tự do tín ngưỡng, kẻ nào vi phạm hiến pháp và khiêu khích bà con Công giáo sẽ bị xử lý.

Đức Cha chưa bao giờ tin rằng Việt Minh bách hại tôn giáo, tôi dám tin chắc như vậy, bởi vì Đức Cha biết rằng Mặt trận Việt Minh tìm cách đoàn kết toàn thể đồng bào lo cho nền độc lập của Tổ quốc, chứ không phải chia rẽ hay chống lại tôn giáo.

Về phần tôi, tôi không bao giờ tin rằng đồng bào Công giáo chống lại Việt Minh, đồng bào Công giáo tha thiết với nền độc lập của Tổ quốc và tự do tín ngưỡng thật đầy đủ; và tôi cũng tin rằng mọi người đều tuân theo khẩu hiệu: Phụng sự Thượng đế và Tổ quốc. Những vụ đụng độ nhỏ giữa đồng bào với nhau là điều đáng tiếc, vì đạo đức giáo hoá chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta…”.

Đến 2/3/1947, trong một bức thư dài tiếp tục phân tích và động viên Giám mục góp phần gải quyết những xích mích ở địa phương, vị Chủ tịch nước viết: “Đường lối mục đích của Chính phủ nhằm 3 mục tiêu sau đây: 1. Giải phóng nhân dân khỏi đói, khỏi rét (khổ sở) và khỏi dốt; 2. Đem lại cho nhân dân tự do, tự do sống, tự do tín ngưỡng; 3.Bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Nếu Cộng sản mà thực hiện những việc trên đây, tôi tin chắc rằng mọi người sẽ chấp nhận thứ Cộng sản đó…”

Bác còn chỉ đạo rất cụ thể chính quyền địa phương giải quyết theo một số yêu cầu của Giám mục. Trong lá thư đề ngày 4/4/1947 gửi Vũ Đình Huỳnh, Bác còn yêu cầu người phái viên của mình: “Bất kỳ thế nào, chú phải lập tức đi gặp cụ Từ và giải thích rõ ràng, làm cho hết sự hiểu lầm đó rồi nói với Cụ viết thư cho tôi”…

Đó là những bằng chứng ghi nhận tấm lòng thiện chí cùng sự kiên trì phấn đấu cho đại đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho dù sau đó, đáng tiếc là vị Giám mục Bùi Chu đã từng bước quay sang hàng ngũ thực dân chống lại kháng chiến (cũng như vị Cố vấn tối cao, cựu hoàng Bảo Đại vậy).

 X&N
bee.net.vn