Tag Archive | Tin tức

Tới Pác Bó ngẫm tầm vóc tư duy chiến lược của Người

Tác giả: VƯƠNG QUÂN HOÀNG

Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công.

Sáng 28-1-2011 (tức ngày 25 tháng Chạp) chúng tôi tiếp tục hành trình trên mảnh đất Cao Bằng, nơi biên cương tổ quốc để được đến với địa danh Pác Bó, khu di tích lịch sử ghi mốc những ngày đầu lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam, tổ chức và lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.

…Càng đi trên con đường dẫn tới khu di tích Pác Bó, ta có cảm giác núi cao hơn, rừng bao phủ dày đặc hơn. Con đường có vẻ như hẹp lại – mặc dù rõ ràng là không phải như vậy. Tôi có cảm giác như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn để lại ở đây – hoặc tiếp tục trao cho nơi đây – rất nhiều năng lượng của Người, như thể Người chưa bao giờ nằm xuống vậy. Đó là cảm giác rất thực, thực đến mức càng cố gắng sử dụng ngôn ngữ để miêu tả, có lẽ càng làm cho điều ấy ít thực hơn đi.

Phiến đá bên đường ghi lại rằng, vào năm 1961 Hồ Chủ tịch đã trở lại thăm Pác Bó sau khi lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng 8 và Kháng chiến 1946-54 lẫy lừng bốn bể. Cờ hoa dọc hai bên con đường dẫn vào khu di tích – nơi nhiều hộ dân sinh sống làm sáng lên và ấm hơn cho vùng núi non hiểm trở nơi địa đầu tổ quốc.

Từ nơi này vào tới trung tâm của khu di tích không còn bao xa. Phía trong, đường bê tông đã trải tới tận sát những phiến đá đầu tiên dẫn vào lối nơi Người sống và làm việc từ cuối tháng 1 năm 1941, cái nơi mà Người tả rằng “cuộc đời cách mạng thật là sang,” mà đa số học sinh phổ thông đều thuộc, nhưng khó mà mường tượng ra sự sang trọng của “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.”

Hang Pác Bó, nơi Bác Hồ đã từng làm việc.

Và đây cũng là lần đầu tiên tôi được tận mắt ngắm nhìn và sờ tay vào dòng suối Bác Hồ đặt tên Suối Lê Nin, chạy uốn quanh núi đá thấy ngay từ khi bước vào sân khu di tích – Núi Các-Mác (Karl Marx). Nhìn thấy “phong thủy” của sự lựa chọn sáng suốt của Già Thu thời ấy, tôi càng khẳng định đó là sự lựa chọn cho một năng lượng chiến đấu với những thách thức lớn của cả một dân tộc, cầu sự an bình, độc lập, hạnh phúc cho cả 3 miền đất nước. Có lẽ cảm nhận năng lượng ấy không khó.

Tôi có biết một giả thiết – cứ xem như được mật truyền – của nhà khoa học Nga tên là Ernest Muldashev, người được rất nhiều người Việt gần đây biết đến qua bản dịch tiếng Việt các cuốn sách “Chúng ta thoát thai từ đâu,” và “Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân,” và “Trong vòng tay Sambala.” Ông ấy có biện luận cho sự tồn tại và lý giải năng lượng của các ngọn núi lớn nơi Phật giáo Tây tạng phát triển là nhằm tiêu diệt cái ác, đem đến năng lượng thiện, sự cải hóa tâm tính con người… Nếu Muldashev có lý, thì lựa chọn 70 năm trước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đối với vùng núi biên cương này chứa đựng sự thấu hiểu cao độ những nguyên lý năng lượng vũ trụ, sự hòa hợp năng lượng tự nhiên với tâm năng của ý chí Người nuôi dưỡng vượt mọi thách thức thời cuộc… Nói ngắn gọn, chúng ta bắt gặp tiên cảnh ở nơi đây.

Trộm nghĩ, với một tầm vóc tư duy lớn lao, những khao khát theo đuổi sự nghiệp giải phóng cả một dân tộc, thống nhất một đất nước chia cắt làm 3 miền kể từ 1884 bởi những các thế lực chính trị Pháp lần lượt cai trị An Nam, Già Thu không thể câu cá nơi đây để có sự thư thái, ung dung. Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công. Sử sách vẫn còn ghi đó, ngay khi vừa tới Pác Bó, Hồ Chủ tịch đã sớm phác họa con đường chiến lược lấy Cao Bằng với địa hình thuận lợi và phong trào cách mạng có chiều sâu trong nhân dân làm điểm bắt đầu, và huấn thị phải nhanh chóng chuyển biến được thuận lợi ban đầu này thành căn cứ để lan tỏa sức mạnh tới Bắc Kạn, Thái Nguyên, từ đó tiếp cận đồng bằng và triển khai sự liên kết lực lượng các mạng các vùng miền của Việt Nam.

Thẳng thắn mà nói, đời sống vật chất tiện nghi, văn hóa nghe nhìn, bấm nút rầm rộ đã phần nhiều cản trở chúng ta thoát khỏi sự hời hợt của những khái niệm không đầu không cuối. Trong khi đó, để thấu hiểu những phát biểu chiến lược này, cần phải quay ngược lại không thời gian của giai đoạn lịch sử ấy. Một người sâu sắc như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã biết rõ rằng, mỗi một bước đi chiến lược đều liên quan đến sinh mệnh đồng chí, đồng bào, đến sự tồn vong của một lực lượng non trẻ… và phép tính ấy còn phải vượt qua rất nhiều thử thách để đi từ một chốn tiên cảnh nơi hoang sơ trở thành phong trào cách mạng rộng khắp toàn quốc chỉ hơn 4 năm sau đó. Những bất trắc như thời kỳ ngục tù 1943 dưới tay quân Tưởng là một phần của những khó khăn Người đã dự liệu.

Không có cách nào để hiều điều ấy nếu chúng ta không chịu rời chăn ấm và phòng kín điều hòa, những bữa tiệc ngon để biết trong hang đá lạnh lẽo chừng hơn 10 mét vuông ở Hang Cốc Bó, Người và 5 đồng chí thuở ban đầu chỉ có ý chí và ngọn lửa sự nghiệp dân tộc làm hơi ấm tiếp sức. Rõ ràng cháo bẹ, rau măng ấy là những món sang nhất trên đời, một khi đó là nguồn năng lượng đem đến những kỳ tích dân tộc

Nơi nghỉ của lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam cũng chỉ đơn sơ với một tấm phản bằng gỗ như thế này mà thôi. Một nhân cách vĩ đại là thế, một tài năng lỗi lạc là thế, một sự nghiệp lớn lao bao trùm là thế, nhưng nhu cầu vật chất nào có là bao.

Nhũ đá trong hang Cốc Bó được Người đặt tên “tượng Các Mác” như một minh chứng của trí tuệ phong phú, khởi nguồn cho những tư duy chiến lược, viễn kiến quốc gia mãi mãi sau này vẫn là bài học sống động của lịch sử Việt Nam.

Tôi chợt nhớ những vần thơ của Tố Hữu – không phải viết về Hồ Chủ tịch, mà trong bài thơ về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi – nhưng lại hợp lý vô cùng khi suy ngẫm về tầm vóc và sự nghiệp của Người:

Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có con người như chân lý sinh ra

Con người “như chân lý sinh ra” ấy có một cuộc đời giản dị tới mức những người bình thường sống trong xã hội chúng ta ngày hôm nay không sao hình dung được đó là cuộc sống của một lãnh tụ vĩ đại, một cuộc sống được đánh đổi bằng những năm tháng tuổi trẻ bôn ba, và sự đau đáu cả đời, hy sinh mọi thú vui cá nhân… Chỉ để thế này thôi sao?

Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước, Người đã chọn bản Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) làm nơi khởi sự cho công cuộc cách mạng. Vào thời kỳ đó, lương thực có lẽ chỉ là ngô. Cảnh thiếu đói triền miên phổ biến với vùng cao đất nước này. Người về sống trong hang Cốc Bó, trước đó là kho trữ lương thực của ông Lý Quốc Sùng, người ban đầu chăm lo cuộc sống cho Người. Bác sống đạm bạc, với cháo ngô, măng và rau rừng như những người dân quanh đây. Bác sống ở Cốc Bó khoảng 2 tháng. Đến đầu tháng 4-1941, chuyển sang sống ở lán Khuổi Nặm. Chuyện kể rằng, có người cán bộ bẫy được con gà lôi đẹp, muốn giữ nuôi cảnh. Bác bảo: “- Nuôi gà lôi giải trí cũng thích, nhưng hiện nay lương thực rất thiếu thốn, cơm gạo chúng ta còn chưa đủ ăn thì các chú lấy gì để nuôi gà cảnh?”

Anh em có ý kiến rằng sẽ bắt sâu bọ để nuôi gà, Bác đồng ý, nhưng chỉ được vài bữa con gà gầy rộc. Cuối cùng, anh em đành xin phép thịt con gà ấy đi. Khi Bác nhất trí, mọi người nghĩ sẽ được bữa ngon, nhưng sau khi thịt lại chỉ được phép lấy bộ lòng để nấu một bữa tươi. Còn lại thì phải băm nhỏ toàn bộ để trộn muối và rang mặn, cất trữ trong ống tre ăn dần…

Năm 1942, Bác sang Trung Quốc để gặp gỡ với chính quyền Trung ương Tưởng Giới Thạch bàn về mối quan hệ giữa hai nước trong công cuộc chống Nhật. Không may, đi đến phố Túc Vinh, huyện Đức Bảo, Quảng Tây, Trung Quốc, Bác đã bị chính quyền địa phương Tưởng Giới Thạch bắt giữ. Chúng giải Bác đi qua hơn 30 nhà lao của 13 huyện thị Quảng Tây, Trung Quốc. Tháng 10-1943, mới được trả tự do. Tháng 10-1944, Bác quay trở lại Pác Bó. Khi này, sức khỏe đã giảm sút đi nhiều. Tuy vậy, Người vẫn kiên quyết từ chối những chế độ chăm sóc đặc biệt. Trong chữ “đặc biệt” ở đây chỉ là những bữa ăn có thêm chất mà thôi, chứ tuyệt nhiên chẳng có gì để so với những bữa tiệc hoành tráng, lãng phí, trang điểm bằng âm thanh “dzô dzô…” mà dân chớm có tiền của ở đô thị VN hiện đại ngày nay đãi nhau mỗi khi có cớ và cả không cớ.

Lại nói tới điều kiện, tôi vốn không tin rằng điều kiện vật chất là thứ phải có để cho con người có đủ năng lượng chinh phục khát khao. Giống như khi tôi lấy ví dụ rằng,(*) Louis Pasteur đã phát minh ra những thứ vĩ đại cho y học hiện đại (trong đó có vắc-xin chống bệnh dại) trong điều kiện nửa não đã teo, và nửa kia ngập trong bệnh tật, có nguy cơ dừng làm việc bất cứ lúc nào. Nhưng Pasteur xa quá, còn Hồ Chủ tịch thì ngay nơi đây, trong lịch sử đương đại của chính đất nước này.

Tôi đã thỉnh xin vị Thánh dân tộc để được ngồi thử vào chiếc “bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,” trong bộ dạng trang bị ấm áp của kẻ từ dưới xuôi lên, đã sẵn sàng chống chọi với cái rét vùng cao. Tuy thế, cái lạnh thấu xương vẫn cứ xuyên qua những lớp vải bảo vệ, như ngầm nhắc nhở rằng, ngủ quên trong sự ấm áp, hưởng thụ, có sức công phá và gây xói mòn nhanh chóng nghị lực, ý chí và cả đạo đức con người.

… Nhìn xuống dòng Suối Lê-Nin, vẫn thấy những đàn cá đang bơi trong nước lạnh. Những người ở đây nói, thường là cá chép. Nước suối Cao Bằng thật lạnh, tê buốt tay, và ta có thể mường tượng chỉ có những vĩ nhân với năng lượng mãnh liệt mới vừa chinh phục sự khắc nghiệt thời tiết để tạo dựng những viễn kiến lớn của tương lai một đất nước đang chìm trong kiếp nô lệ. Lại tự hỏi, không biết có bao nhiêu người được gọi là quan đầu tỉnh này, bộ kia… có thể tự mình rời bỏ những nơi ấm áp, để thấu hiểu nỗi khổ của thiên hạ, để chia sẻ nỗi đau của muôn dân, để thoát khỏi sự mụ mị của mâm cao, cỗ đầy, say đắm tửu sắc nơi phồn hoa đô thị (cho dù chỉ là sự phồn hoa giả tạo, cục bộ).

Khi cha tôi còn sống, tôi biết ông nhiều lần đã gặp Cụ Hồ, vì ông cũng là thiếu sinh quân từ khi còn nhỏ ở Liên Xô (chừng 10 tuổi hay hơn chút), mà Cụ Hồ có lịch sử quan hệ rất đặc biệt với Liên Xô, lãnh đạo Quốc tế Cộng sản, cũng như đặc biệt quan tâm đến thiếu nhi. Tôi có hỏi cha tôi về sự kiện Bác mất năm 1969, và hỏi cụ thể rằng: “Thế bố có khóc không?” Câu trả lời rất ngắn gọn: “Người Việt Nam, ai cũng khóc.” Và hàng triệu bạn bè khắp năm châu bốn bể cũng thương nhớ chia sẻ mất mát này. Giờ tôi lại tự hỏi, liệu nay còn được bao nhiêu người ở bậc sang trọng, quyền chức có thể khiến cho hàng chục triệu người Việt, và bạn bè khắp năm châu rơi lệ tiếc thương được nữa?

Trước khi rời khu di tích, chúng tôi tới thắp hương tưởng nhớ Hồ Chủ tịch ở khu tưởng niệm người, cách hang Cốc Bó không xa. Nơi đây, những cây trồng kính dâng người của lớp học trò xuất sắc như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vượt lên trời cao, vững vàng trước nắng mưa, gió rét. Một cây lát hoa đã cao vài chục mét của ông Hồ Tế đã có vòng thân lớn khỏe… Dọc đường chúng tôi mới để ý, vùng này người dân trồng thật nhiều cây lát, dọc cả hai bên quốc lộ.

Hơn bao giờ hết, tôi ý thức được sự bé nhỏ của mình, khi đứng trước tầm vóc lớn lao của một nhân cách vĩ đại, một tư duy chiến lược xuyên không-thời gian mà Hồ Chủ tịch đã mang đến cho đất nước. Chỉ nguyên giao thông thôi, ta cũng nên hiểu rằng ngồi trên những chiếc xe hơi đời mới, tiện nghi không thiếu gì, bánh ngọt nước uống đủ cả, mà chúng ta vượt đèo tới nơi cũng ê ẩm cả người. Hãy nghĩ tới khi Người vượt núi rừng về đây, ở trong hang đá lạnh hơn 10 mét vuông, xung quanh rừng rậm chỉ có chồn sóc, rắn rết… mà nghĩ tới một tương lai độc lập dân tộc, để thấy chúng ta bé nhỏ nhường nào.

Vào lúc này đây, xin được dành phút giây này nhớ đến vị anh hùng dân tộc, Người đã mang lại sự toàn vẹn của tổ quốc Việt Nam hình chữ S thân thương, người cho tôi được nói mình là “người Việt Nam”.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Câu chuyện “Bác Hồ về thăm làng Gốm” giờ mới kể

Sơ lược lịch sử Bát Tràng

Trước năm 1961 xã Bát Tràng là xã Quang Minh gồm 3 thôn Bát Tràng, Giang Cao và Kim Lan. Hiện nay xã Bát Tràng có 2 thôn :Giang Cao và Bát Tràng, thuộc huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội.

Theo cuốn lịch sử cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Bát Tràng (1930 – 2000) thì diện tích toàn bộ xã là 164 ha với 1628 hộ và 6655 nhân khẩu. Về địa lý, xã Bát Tràng nằm bên tả ngạn sông Hồng, phía Bắc giáp xã Đông Dư , phía đông giáp xã Đa Tốn, phía nam giáp xã Xuân Quan (huyện văn giang, tỉnh Hưng Yên) Phía tây là sông Hồng. Xã Bát tràng cách trung tâm thành phố Hà Nội 12km.

Xã Bát tràng có làng nghề gốm sứ cổ truyền là làng Bát Tràng, cũng như mọi làng quê Việt Nam, làng Bát Tràng có nhiều công trình kiến trúc như đình, chùa, đền, miếu, văn chỉ… chứng minh cho một làng quê văn hiến. Làng Bát tràng từ xa xưa đã nổi tiếng là đất học, đất làng nghề có nhiều người đỗ đạt , khoa bảng . Văn Miếu Quốc Tử Giám, Văn miếu Huế và Văn Miếu Bắc Ninh ( trước 1961 làng Bát Tràng thuộc tỉnh Bắc Ninh) đã ghi danh các bậc đại khoa của làng Bát Tràng gồm một trạng nguyên , tám tiến sĩ, mười quận công. Đầu thế kỷ 20, xã Bát tràng có nhà chí sĩ cách mạng Phạm Văn Tráng tham gia Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan Bộ Châu, cùng đồng đội tiêu diệt viên tuần phủ gian tỉnh Thái Bình và đã hi sinh anh dũng. Nhiều người làng Bát Tràng đã tham gia Việt Minh, cùng nhân dân nổi lên cưới chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Làng Bát tràng cũng là nơi in ấn bài hát tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao, sau này là Quốc ca của nước ta. trong kháng chiến chống pháp giữa vòng vây kìm kẹp của kẻ thù, người dân làng Bát Tràng vẫn hướng về Đảng và Bác Hồ kính yêu, không ngại hy sinh gian khổ, tích cực tham gia chiến đấu , phá tề trừ gian, chống giặc càn. trong kháng chiến chống Mỹ, dân quân tự vệ Bát tràng đã đánh trả máy bay Mỹ ném bom vào thôn bát tràng. Thanh niên Bát tràng đã xung phong vào bộ đội và đi khắp mọi miền Đất nước để bảo vệ Tổ quốc. Làng Bát tràng có nhiều Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các thương binh liệt sĩ trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và chống Mỹ cứu nước nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tháng 8 năm 1958, TW Đảng và Chính phủ quyết định đào sông Bắc Hưng Hải nhằm phục vụ tưới tiêu cho 3 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (Bắc Ninh, Hưng yên, Hải Dương). Do việc đào sông, xã Quang Minh được tách thành hai xã: Xã Bát Tràng và xã Kim Lan.

Để phục vụ cho đào sông Bắc Hưng Hải, phải di chuyển một nửa thôn Bát Tràng ra chỗ đất mới. Trong đó, có hơn 200 ngôi nhà cổ, một ngôi chùa, các lò nung đồ gốm sứ và các cơ sở sản xuất lâu đời…

Trong tình hình các hộ dân đã di chuyển ra chỗ ở mới, mới chỉ có một số hộ dân xây dựng được nhà cửa , còn một số hộ đang chuẩn bị xây dựng nơi ăn chốn ở và cơ sỏ sản xuất thì Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng.

Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng

Sáng ngày 20-2-1959, nhân dân xã Quang Minh (Tên xã ở thời điểm đó) vô cùng phấn khởi được đón Bác Hồ về thăm làng Bát Tràng. Cùng đi với Bác có các cán bộ của xã và huyện. Rất đông dân làng nô nức đón Người, vô cùng sung sướng được ngắm nhan dung Bác và đi theo người đến thăm các nơi.

Trên đường vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Bác ghé thăm nhà ông lang Tự (Nguyễn Trọng Đức, đã mất vào năm 1983). Nhà ông Tự đã được di chuyển ra chỗ đất mới và xây dựng xong. Ông lang Tự và con trai đi làm vắng nhà, chỉ có 2 con gái, cô chị là Nguyễn Thị Trâm 13 tuổi., cô em gái Nguyễn Thị Oanh 9 tuổi đang chơi ngoài sân, theo Bác vào Nhà.

Bác hỏi:

– Ba mẹ đi đâu rồi?

– Thưa Bác, thầy cháu và anh cháu đi làm, u cháu đi chợ.

Bác ngắm, đọc bức hoành phi và đôi câu đối ở ngoài hiên nhà thờ. Bác bảo hai cô gái.

– Các cháu nói với ba mẹ là treo câu đối không đúng vị trí, phải đổi câu bên trái sang bên phải.

Bác xuống nhà dưới, mở lồng bàn để xem mâm cơm của gia đình.

Lúc đó chưa đến bữa ăn nên mâm cơm chỉ có bát rau muống luộc. Sau ngày Bác về thăm, ông Lang Tự đã treo lại câu đôi như lời bác dặn.

Bác rời nhà ông lang Tự, vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Thời gian đó HTX này là mô hình sản xuất gốm sứ tiến bộ nhất của làng Bát Tràng, có nội dung và hình thức gần giống như một công ty cổ phần ngày nay. Tiền thân của HTX là tập đoàn sản xuất Minh Châu được thành lâp bởi một số thợ làm thuê tập hợp nhau lại và đóng góp cổ phần. Ban đầu, tập đoàn chỉ có 30 người. Trong vòng 2 năm, tập đoàn này đã phát triển thêm được gần 50 người nữa. Tháng 10 năm 1957, tập đoàn chuyển thành HTX sản xuất Minh Châu. Tháng 8-1959, HTX hợp nhất với các xí nghiệp gốm công ty hợp doanh thành xí nghiệp sứ Bát Tràng. HTX sản xuất Minh Châu chỉ được thông báo vào hôm trước là sẽ có lãnh đạo của TW về thăm. Sáng hôm sau Bác đã về. Tất cả các xã viên đều sản xuất bình thường.

Bác đi qua khu bể lọc đất rồi vào khu sản xuất đứng xem anh Vũ Văn Vinh (sinh năm 1941, hiện nay đã 63 tuổi đã nghỉ hưu) in bát. Vì cảm động quá và còn ít tuổi nên anh Vinh in ra một bát còn hơi méo rồi đặt lên bàn sản phẩm.

Bác hỏi:

– Khi nung chín ra, bát có méo không?

– Thưa Bác, bát cũng méo ạ!

– Thế thì phải làm lại!

Bác quay sang chỗ anh Trần văn Tửu (sinh năm 1940, đã nghỉ hưu) đang tiện tiện bát (một công đoạn sản xuất sau khi in bát và để khô) và hỏi:

– Mỗi ngày cháu tiện được bao nhiêu cái bát?

Anh Tửu hồi hộp quá nên không trả lời được. Một anh cán bộ huyện trả lời.

– Thưa Bác , được 300 cái ạ!

– Như thế có ít không? Có thể gấp hai được không?

Rồi Bác đi ra sân, xem chị Nguyễn Thị Kiểm ( Gọi theo tên chồng là Định, năm nay 74 tuổi đã nghỉ Hưu dấn men phủ Bát . Lúc đó là mùa Xuân nhưng vẫn còn rét, công nhân phải đun nước nóng để pha vào huyễn dịch men sứ cho khỏi giá. Một cán bộ huyện Gia Lâm cầm chậu để đi lấy nước nóng.
– Để các công nhân làm, kẻo chú làm hỏng mất!

Chị Định còn mải ngắm Bác nên Bác nói:

– Cứ làm đi cháu, khéo không đổ vỡ.

Xem xong, bác hỏi chị Định:

– Các cháu làm thế này, thu nhập có cao không? Sản phẩm có chất lượng không?

Mọi người chỉ mải nhìn Bác nên không ai biết trả lời như thế nào.
Cuối cùng, Bác bá vai anh Phùng Ngọc Oanh (hiện 71 tuổi, đã nghỉ hưu) là chủ nhiệm HTX Minh Châu, căn dặn:

– Các cháu cố găng sản xuất hàng hoá sao cho nhiều, nhanh, tốt, rẻ để phục vụ nhân dân!

Bác Hồ rời khỏi HTX trong tiếng hô của mọi người

Hồ chủ tịch muôn năm!

Bác rẽ xuống thăm nhà ông Lang Xương (Lê Văn Xương đã mất) làm nghề Đông dược. Nhà ông lang Xương cũng đã được xây dựng xong ở chỗ đất mới.

Bác thấy trong nhà có mâm cơm, mổ lồng bàn ra xem. bác thấy cơm trắng, đậu rán, rau muống luộc, cà muối. Bác khen nhà có cơm ngon. Rồi Bác ngồi xuống phản gỗ, nói chuyện với ông lang. Bác thấy các lọ và hộp tủ đựng thuốc có dán nhãn tên thuốc bằng chữ Hán, Bác bảo:

– Chú phải dán tên thuốc bằng chữ Quốc ngữ ở dưới chữ Nho để khi chú đi vắng, người nhà bốc thuốc cứu người.

Bác lại hỏi:

– Chú có đắt hàng không?

– Thưa Bác, không được đắt lắm ạ!

Bác nói:

– Thế thì tốt, hàng thuốc mà đắt thì dân có nhiều người bệnh. Bác ngoặt sang một ngôi nhà 2 tầng gần đấy cũng đã được xây dựng xong.
Bác hỏi

– Đây là nhà ai?

Ông Trần Văn Tuý (nguyên Phó chủ tịch xã Bát Tràng đã mất)

– Thưa Bác, nhà ông Phạm Huy Giáp đi bộ đội về ạ!

Bác vào thẳng gian hàng giữa nhà và thấy chăn chiếu trên giường được xếp gọn gàng. bác hỏi bà Trần Thị Vinh (vợ ông Giáp, nay đã 83 tuổi):

– Gia đình ta có mấy người?

– Thưa Bác, có 5 người cháu, 2 vợ chồng và một mẹ già , tổng cộng là 8 người ạ!

Bác nói;

– Thế thì có quá nhiều con.

Ngày 2- 09 – 2002, gia đình ông Phạm Huy Giáp đã lập bia đá gắn và ở tường trước ngôi nhà mà Bác đã đến thăm để kỷ niệm ngày Bác về thăm Gia đình .

Ra khỏi nhà ông Giáp, Bác vào nhà bà Nguyễn Thị Bùi (gọi theo tên chồng là bà Tín, đã mất) chưa xây dựng xong nhà ở tại khu đất mới.

Bác hỏi:

– Sao cô chưa làm nhà?

– Thưa Bác, chưa có vôi ạ!

Thế là hôm sau, bà Tín có vôi làm nhà.

Cuối cùng, Bác trở lại để nói chuyện với dân làng. Trên khu đất có một đường goòng chạy đến cửa sông Bắc Hưng Hải để chở vật liệu và dụng cụ cho việc xây dựng cửa sông này. có một chiếc cầu cao bằng gỗ vượt qua đường gòong để anh chị em công nhân chất đồ xuống xe goòng. Dân làng muốn Bác Hồ đứng trên cầu vượt để nói chuyện với nhân dân.

Bác bảo các cán bộ lãnh đạo huyện và xã:

– Các cô chú cho Bác ra chỗ nào rộng!

Bác ra khoảng đất rộng trước HTX mua bán cho nhân dân trong xã (nay là Trạm Y tế thôn Bát Tràng), Anh Trần Văn Tửu vào một gia đình ở gần đó, mượn một cái bàn gỗ nhỏ , dài chừng 1,2m và cùng mấy người khiêng ra chỗ đất rộng để Bác đứng nói chuyện với dân làng. Mọi người đứng xung quanh Bác, yên lặng và trật tự để nghe Bác nói chuyện.

Bác hỏi thăm dân làng và nói:

– Nhà nước đào sông Bắc Hưng Hải làm mất đi một phần đất của làng Bát Tràng, các cụ và dân làng có vui lòng không hay không đồng ý? Việc di chuyển vừa qua, tình hình xây dựng nơi ăn chốn ở của các gia đình như thế nào? Làng Bát Tràng cũng như xã Quang Minh trong những năm qua hoạt động và công tác có thành tích ra sao?

Ai nghe cũng ngẩn người ra, không biết nói gì vì chỉ ngắm Bác và nghe Bác nói. Cụ Phùng Văn Chạnh (đã mất) thay mặt dân làng báo cáo:

– Dân làng sản xuất rất tốt, thành tích so với năm 1957-1958 gấp rưỡi, không ai bị đói, làng Bát tràng không những giải quyết việc làm cho dân mà còn cho cả bà con ở các nơi khác.
Bác bảo:

– Thế thì tốt, Bác nghe bác cáo dân làng đã chuyển một nửa làng ra khu đất mới. Vậy tất cả bà con đã xây dựng được nhà mới chưa?

– Thưa Bác, đã xây dựng được 80%. bà con phấn khởi, an tâm, không ai thắc mắc gì cả ạ!

– Dân làng đã phải giúp đỡ nhau để ai cũng làm nhanh được nhà mới.
Mọi người đồng thanh nói:

– Vâng ạ!

Bác Hồ căn dặn:

– Bát Tràng là một làng nghề phát triển. Các cô chú phải xây dựng đường sá rộng rãi để xe chở nguyên liệu về làng và chở hàng hoá đi, làng phải có giao thông thuận lợi . Bác căn dặn: “Làng Bát Tràng mới phải làm sao trở thành một làng kiểu mẫu của nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”.

Sau đó Bác chúc sức khoẻ các cụ và dân làng rồi ra xe, rời khỏi làng Bát Tràng. Theo lời Bác dặn, các gia đình ở các đường cái đều lùi vào nhà 1m, còn các gia đình ở đường phụ đều lùi vào 5 m. Một tuần sau đó, thư ký của Bác về hỏi ông Trần Văn Tuý xem nhân dân đã lùi nhà vào chưa? Ông Tuý đưa thư ký của Bác đi xác minh và công nhận dân làng đã làm đúng theo lời Bác!

Nguồn: Giang Thanh sưu tầm

battrangceramics.com.vn

Bác Hồ – một tình yêu bao la

Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân. Cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam…”. Đó là một đoạn trong bài hát rất hay và tràn đầy xúc cảm mà nhạc sĩ Thuận Yến đã viết và kính dâng lên Người.

Có thể nói, trong suốt quãng đời thơ ấu cho đến lúc truởng thành, sự hòa nhập giữa những giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị đạo đức mới, đã đúc kết nên tư tuởng đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho quan niệm và tư tưởng đạo đức của Người luôn gần gũi, dễ hiểu đối với nhân dân. Những người lao động vốn vất vả tìm kế mưu sinh đã đến với Người vì Người đã thấu hiểu được tất cả ước mơ, khát vọng bình dị của họ.

Yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất của Hồ Chí Minh. Bác yêu thương con người không phân biệt miền xuôi hay miền ngược, già hay trẻ, gái hay trai, hễ là người Việt Nam yêu nước đều có chỗ trong trái tim và tấm lòng nhân ái của Người. Nhưng trước hết Bác dành tình yêu cho những người cùng khổ, những người bị áp bức, bóc lột. Bởi lẽ, hơn ai hết, Người đã chịu đựng và chứng kiến những nỗi đau đẫm máu và nước mắt của những người đi phu, những nhà yêu nước bị tàn sát, khủng bố.

Người đã dành trọn cuộc đời mình để đấu tranh cho tự do, hạnh phúc, cho áo ấm, cơm no của mọi người nhưng riêng mình thì sống vô cùng giản dị và thanh đạm, bởi vì lẽ sống của Người là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ.

Người luôn đặt mình trong cùng nỗi đau khổ của nhân loại. Trái tim Người đập cùng nhịp đập với nhân dân. Người mong muốn những gì dân tộc ta mong muốn. Tấm lòng của Người được thể hiện bằng những câu nói chân thành nhất và những hành động cụ thể, thiết thực nhất. Suốt đời Người chỉ có một ham muốn tột bậc, đó là hòa bình, độc lập cho nhân dân, cơm ăn áo mặc cho mọi người.

Năm 1946, khi tham dự cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”, Bác đã cởi ngay chiếc áo len đang mặc để gửi cho các chiến sĩ ngoài mặt trận. Bác dành cả tiền lương tháng, tiền nhuận bút, cả quần áo, khăn mặt để tặng cho các chiến sĩ và gia đình thương binh, liệt sĩ.

Khi biết con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh, Bác đã gửi đến ông bức thư. Trong thư có đoạn: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi mất một đoạn ruột”. Đọc xong thư Bác, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã bàng hoàng xúc động vì không dám nghĩ rằng, giữa lúc Bác Hồ bận trăm nghìn việc quốc gia đại sự, ngay cả họ hàng thân thuộc cũng không có thì giờ thăm hỏi. Thế mà Bác vẫn nghĩ đến ông – một gia đình bé nhỏ đang có tang đau lòng. Bởi lẽ, Bác đã từng nói: mỗi người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng. Gộp cả những nỗi đau khổ ấy lại thì thành nỗi đau khổ của tôi. Tấm lòng của Bác thật quảng đại, bao la!

Ngày nay, theo bước chân Người, trên đất nước ta đâu đâu cũng có những tấm lòng, những hành động thiết thực thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa đối với các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Làm được như vậy, Bác cũng thấy vui lòng.

Năm 1961, khi Bác về thăm lại Pắc Bó – chiến khu xưa, mặc dù đã là Chủ Tịch nước nhưng việc gì Bác cũng tự làm, ai cũng thương, cũng giúp. Bác tắm cho trẻ, chữa ghẻ, chốc cho các cháu. Đứa nào cũng được Bác cho quà và trò chuyện thân mật như ông với cháu. Bọn trẻ đứa nào cũng thích dù đó chỉ là những gói kẹo nhỏ. Hầu như tết Trung thu nào Bác cũng gửi quà và viết thư chúc Tết Trung thu cho các cháu thiếu niên nhi đồng với những tình cảm yêu mến thiết tha:

Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng.

Trong những buổi gặp gỡ với các cháu tại phủ Chủ tịch, Bác luôn muốn bồng bế các cháu nhỏ, ôm hôn tất cả.

Có người chiến sĩ từng bảo vệ Bác, kể lại trong niềm xúc động: có cán bộ cứ nghĩ rằng đạo đức cách mạng chỉ để áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, được gần Bác, thấy ngay cả lúc ăn cơm, Bác cũng dạy ta thế nào là đạo đức cách mạng. Mỗi khi có món gì ngon là Bác chia sẻ cho người này, người kia cùng ăn. Cầm chén cơm, đôi lúc Bác như tư lự về điều gì đó. Bác yên lòng sao được khi miền Nam phải ăn cơm giữa mưa bom, bão đạn, ở đâu đó, các cụ già, em nhỏ đói rách, lang thang, các chiến sĩ dầm mưa chịu đói rét để kịp giờ hành quân.

Ngay cả lúc bệnh tình của Người ngày một xấu đi, Bác vẫn luôn trăn trở, thăm hỏi tình hình chiến sự ở miền Nam, bởi lẽ, miền Nam ruột thịt luôn ở trong trái tim Người.

Tuy nhiên, ở Bác, chỉ có tình yêu thương con người là chưa đủ mà nó phải gắn liền với thái độ tôn trọng con người, biết cách nâng đỡ, giáo dục con người, rộng lượng, khoan dung, đồng thời phải biết nghiêm khắc với bản thân.

Đối với những cán bộ, đảng viên có lỗi, Bao giờ Người cũng mong muốn và tạo điều kiện cho họ sửa chữa lỗi lầm. Người dạy rằng: mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân để đẩy lùi phần ác chứ không phải đập cho tơi bời.

Tấm lòng nhân ái bao la của Bác luôn khoan dung cho tất cả mọi người. Nhờ vậy, Bác đã tập hợp được cả dân tộc, cả những thành phần trước đây đối lập với Người trong cuộc cách mạng giành độc lập tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Với tinh thần đánh kẻ chạy đi không đánh người chạy lại, Bác đã cảm hóa được những người ở bên kia chiến tuyến, những phạm nhân trong lao tù. Năm 1946, Bác tới trại giam Hỏa Lò để thăm hỏi, khuyên bảo những phạm nhân ở đây. Bác ân cần ngồi bên họ, khuyên bảo họ, nghe họ phân trần, và Người đã rưng rưng nước mắt. Trong bức thư gửi cho người Pháp, Bác nói: than ôi, trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau.

Tất cả những điều đó đã thể hiện một nhân cách lớn: nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người. Hồ Chí Minh – Người là vầng thái dương rạng ngời, ấm áp!

Ngày nay, trong thời đại kinh tế thị trường, chúng ta đang từng bước hội nhập với thế giới, có nhiều luồng văn hóa độc hại du nhập vào nước ta. Trong đó, thanh thiếu niên là lớp người chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Mặt khác, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước đang trong tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, xa rời quần chúng nhân dân, cơ hội, tham nhũng, thu vén cho bản thân mình mà quên mất mình là “đày tớ phục vụ nhân dân” như lời Bác đã dạy.

Cuộc vận động tìm hiểu và học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã và đang có một tác động sâu rộng với mọi tầng lớp nhân dân. Đó là một trong những giải pháp nhằm ngăn chặn và từng bước đẩy lùi những thực trạng trên. Song song đó, việc rèn luyện, củng cố và phát triển đạo đức cách mạng của mỗi người phải là việc làm thường xuyên và liên tục.

Riêng bản thân tôi, một người làm việc trong ngành văn hóa thông tin, những câu chuyện viết về Người thật sự là những tài liệu vô cùng quý giá. Chúng tôi là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng, có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến công chúng. Vì thế, hơn ai hết, chúng tôi phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức mà nhất là phải tăng cường học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có như thế, chúng tôi mới đủ bản lĩnh, năng lực, và cảm thấy mình xứng đáng là những tuyên truyền viên, thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước.

Võ Thị Cẩm Hiền (Bảo tàng Cần Thơ)

doandcdcantho.org.vn

Bài nói tại trường Cán bộ tự vệ

Lúc này, chúng ta không cần nói nhiều, mà phải làm cho thật nhiều. Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp. Về quân sự, Pháp có thể đánh vào thành phố ta. Về xã hội, có thể phát sinh ra trộm cướp. Về chính trị, có thể có những kẻ phản động phao đồn những tin nhảm để làm náo động lòng dân.

Các đồng chí đến đây theo lớp huấn luyện là học tập cách trị an về vật chất và tinh thần. Những kẻ mưu sự phá hoại đất nước chúng ta, có thể tuyên truyền, đồn phao để chia rẽ sự đoàn kết. Chúng hủ hoá chúng ta về vật chất, về sinh hoạt, văn hoá, chính trị. Bởi thế các đồng chí phải học tập thành cán bộ để đi trước sự bảo vệ: Bảo vệ nền độc lập tự do của mình. Không những thế, các đồng chí còn chỉ huy những anh em đi sau. Tóm lại, không những phải học cho biết kỹ thuật, mà còn phải học lý luận về đạo đức, tinh thần nữa.

Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

Lãnh đạo về kỹ thuật chưa đủ. Còn phải lãnh đạo về tinh thần. Phải là người tuyên truyền. Phải là những người nói cho dân hiểu. Có phao đồn gì, phải giải thích cho dân. Có mệnh lệnh của Chính phủ, phải giải thích cho dân biết rõ tại sao Chính phủ đã ban bố mệnh lệnh đó.

Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công.

Nói ngày 7-1-1946.
Báo Cứu quốc, số 136, ngày 8-1-1946


Hoàng Nhật Minh

Hơn nửa thế kỉ đam mê sưu tầm tem về Bác

(Dân trí) – “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” – đó là câu giải thích cho niềm đam mê sưu tầm tem về Bác trong hơn 50 năm qua của ông Nguyễn Lương Hốt (82 tuổi) ở 10/38 Lê Thánh Tôn, TP Huế, người có nhiều bộ sưu tập tem về Bác Hồ trong CLB tem Huế.

Ông Nguyễn Lương Hốt và bộ sưu tập tem về Bác.

Hơn nửa thế kỷ sưu tầm tem, đến nay ông Hốt đã có những bộ sưu tập đồ sộ, nhiều bộ tem thuộc nhóm quý hiếm như: gần 1 vạn con tem các loại về các chủ đề như: Bác Hồ, Điện Biên Phủ, Cây Tre Việt Nam, chính quyền, thanh niên, lực lượng vũ trang, hoa, bướm, thú … trong đó, bộ tem về Bác Hồ là lớn nhất.

Câu chuyện “bén duyên” với tem được ông cho biết, đó là vào năm 1945, ông tham gia cách mạng với nhiệm vụ bình dân học vụ và xây dựng cơ sở cách mạng tại Hương Trà, TT Huế.

“Hồi đó nhận được thư gia đình, bạn bè là quý lắm, thư trở thành niềm vui chung cho mọi người trong đơn vị. Từ đó, mình luôn trân trọng những cái bì thư có tên những người thân yêu của mình gửi, cũng là lúc tôi yêu những con tem”, ông Hốt nhớ lại.

Năm 1957, ông bị thương phải ra Bắc để điều trị. Khi vết thương lành, ông vào làm việc tại văn phòng Ban thống nhất Trung ương. “Mỗi ngày văn phòng nhận rất nhiều thư của các cơ quan ở miền Nam gửi ra, thư Liên Hiệp Quốc, thư từ nước ngoài, từ đó dễ dàng thực hiện niềm say mê của mình”, ông nói.

Mãi cho đến khi về hưu (năm 1987), ông mới “toàn tâm toàn ý” cho thú chơi tem của mình. “Chơi tem ngoài giải trí, còn rất nhiều cái lợi, vừa văn học nghệ thuật, vừa trí tuệ. Đó là thú chơi tao nhã, lành mạnh. Khi đã say mê rồi thì sẽ từ bỏ được thói hư tật xấu”, ông tâm sự.

Bộ sưu tầm tem kỉ niệm 80 năm sinh nhật Bác Hồ trên tem.

Theo ông, chơi tem ngoài những kiến thức về nội dung in trên tem còn có những cái “ngón nghề” bắt buộc của người chơi tem: đó là sự tỉ mỉ, cẩn thận, cần mẫn, nhờ đó mà cũng tạo nên tính cách thông qua chơi tem.

Ông nói: Tôi học tập được ở Bác nhiều bài học như cần kiệm liêm chính, chí công vô tư qua những hình ảnh Bác đi tát nước, đi đạp nước với nhân dân qua những con tem.

Một bộ sưu tập tem màu về Bác.

Nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác năm nay (19/5/2010), ông sẽ triển lãm bộ sưu tập “Bác Hồ sống mãi với Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam, Nhân loại thế giới” tại Nghệ An, quê Bác, sau đó sẽ dự triển lãm quốc gia tại Hà Nội, kỉ niệm 1000 năm Thăng Long.

Trước đó, ông Hốt cũng đã cho ra mắt độc giả các tỉnh 5 bộ tem quý về Bác Hồ như bộ sưu tập “Thơ ca, ca ngợi Bác Hồ trên tạp chí tem”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tem bưu chính hiện nay”, “Hồ Chí Minh cuộc đời và sự nghiệp”… Trong đó, bộ tem “Hồ Chí Minh cuộc đời và sự nghiệp” đã đoạt giải khuyến khích tại triển lãm các tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên năm 2004. Bộ tem này sau đó mang đi dự triển lãm tranh tại Bảo tàng trung ương và đoạt giải đồng năm 2005.

Trọng Bình

dantri.com.vn

Bài nói tại Đại hội Thanh niên cứu quốc toàn xứ

Về tình hình quốc tế: Các nước chống phát xít trong suốt thời kỳ chiến tranh đã đồng tâm hiệp lực với nhau để đánh tụi phát xít, nay phát xít đã bị thua rồi, thái độ của các nước ấy cũng đổi khác. Thái độ ấy gọi nôm na là ai lo phận nấy, đó là điều thường tình, lần Chiến tranh thế giới thứ nhất chúng ta đã thấy như thế. Tuy nhiên điều đó có ảnh hưởng ít nhiều đến ta. Các nước lo phần các nước ấy, chúng ta phải lo phần chúng ta; chúng ta lo tìm bạn bè, nhưng trước hết chúng ta phải tổ chức lực lượng của chính mình, mà muốn có lực lượng ấy cần nhất là phải biết đoàn kết.

Về tình hình bên trong: Dân ta nhờ có trào lưu thế giới, nhờ có sự đoàn kết của toàn thể dân tộc, nên đã tranh thủ được tự do độc lập. Nhưng nền tự do độc lập ấy còn chưa kiên cố, còn ở bước đầu, còn phải kinh qua nhiều nỗi gay go, khó khăn. Hiện thời, hai nỗi khó khăn là sự kháng chiến ở Nam Bộ và nạn đói kém ở Bắc Bộ.

Trước tình thế này, thanh niên có những nhiệm vụ gì?

1) Chuẩn bị luôn luôn. Một mặt ủng hộ sự kháng chiến của anh em Nam Bộ; một mặt chuẩn bị đợi đến lượt mình phải chiến đấu ở Trung và Bắc Bộ.

2) Cứu nạn đói. Mang gạo từ chỗ có đến chỗ không. Quyên gạo. Khuyến nông, không để thừa một tấc đất hoang nào.

3) Sửa soạn cho cuộc Tổng tuyển cử. Tuyên truyền cho dân chúng hiểu cái bổn phận của mỗi người trong cuộc tổng tuyển cử thế nào.

Vài lời phê bình thanh niên: Trong tổ chức thanh niên vẫn còn giữ một xu hướng chật hẹp, không bao bọc được nhiều giai tầng, không kéo được đại đa số thanh niên. Chẳng hạn như trong tổ chức còn phân ra nam nữ, không giúp đỡ cho các chị em nữ thanh niên phát triển, số phụ nữ cũng ngang bằng số đàn ông, vậy mà gạt các chị em ra ngoài, tổ chức thanh niên có khác gì đi có một chân.

Một điều nữa là thanh niên có hăng hái. Nhưng hăng hái không chưa đủ, phải có kế hoạch, có phương hướng. Trước khi làm một việc gì phải cẩn thận suy xét xem việc đó thành công thì ảnh hưởng thế nào, thất bại thì ảnh hưởng thế nào; có khi việc thì thất bại mà ảnh hưởng lại tốt, và trái lại.

Nhiệm vụ chính của thanh niên là xung phong trong ba việc cần yếu nói trên. Và khẩu hiệu là: làm, phải cho thắng, nhất định không cho bại..

Nói ngày 25-11-1945.
Báo Cứu quốc, số 101, ngày 26-11-1945


Hoàng Nhật Minh

“Chủ tịch Hồ Chí Minh – người Anh hùng dân tộc vĩ đại”

Tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta…”.

>> “Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam

Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm.

Sáng 18/5, tại Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dự lễ kỷ niệm có Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm.

Tới dự có các Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Quốc hội; đại diện các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và thành phố Hà Nội, các lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, đại diện các tầng lớp nhân dân Thủ đô Hà Nội; đại diện các đoàn ngoại giao, tổ chức quốc tế tại Hà Nội.

Đọc diễn văn tại buổi lễ, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã ôn lại những cống hiến to lớn và ý nghĩa thời đại sâu sắc của tư tưởng, tấm gương, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng như cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội ở Việt Nam và thế giới.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nêu rõ, tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Marx-Lenin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại mới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Với những thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, của cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, dân tộc ta không chỉ thi hành “Bản án chế độ thực dân” ở Việt Nam, giành lại độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới vì tự do, hạnh phúc của nhân dân ta, mà còn cùng với các dân tộc thuộc địa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đấu tranh loại bỏ vết nhơ áp bức của chủ nghĩa thực dân, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta. Công lao của Người với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng Việt Nam và dẫn dắt dân tộc ta tiến đến tương lai tươi sáng”.

Bày tỏ niềm tự hào về những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta đã đạt được trong 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Tổng Bí thư chỉ rõ, để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở kiên định lập trường và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn Đảng, toàn dân ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và phổ biến rộng rãi hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới.

Tổng Bí thư khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc ta. Giá trị thực tiễn cao đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, “nói đi đôi với làm.” Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta quyết tâm thực hiện thành công, hiện thực hóa những di huấn của Người trong thực tiễn cuộc sống.

Tổng Bí thư kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sống, chiến đấu, lao động, học tập, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta phát triển mạnh mẽ, bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong không khí trang trọng, chị Nguyễn Thùy An, gương điển hình về học tập và làm theo lời Bác của Tỉnh đoàn Nghệ An, đại diện cho tuổi trẻ cả nước phát biểu bày tỏ những suy nghĩ, tình cảm, niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc đối với Bác Hồ. Tuổi trẻ cả nước nguyện suốt đời trung thành với lý tưởng cách mạng cao đẹp mà Đảng và Bác Hồ đã chọn, tiếp tục cống hiến, nỗ lực học tập, rèn luyện theo gương Bác Hồ, để đóng góp nhiều hơn nữa vào công cuộc đối mới xây dựng đất nước.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam nêu rõ, năm 1987, đại hội đồng UNESCO đã thông qua nghị quyết khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn của Việt Nam nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người.

Bày bỏ tình cảm ngưỡng mộ của mình với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Katherine Muller Marin xúc động nói, hôm nay, nhiều người trên khắp thế giới kỷ niệm ngày sinh của Người vì Hồ Chí Minh được coi là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và nhân dân Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Bà Katherine Muller Marin đã nêu bật những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các lĩnh vực hoạt động của UNESCO như văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa, truyền thông, bình đẳng giới, môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giáo dục, ngoại giao.

Bà Katherine Muller Marin kết thúc bài phát biểu của mình bằng câu nói nổi tiếng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Câu nói này còn rất có giá trị và tác động mạnh mẽ trong bối cảnh thế giới ngày nay, bà Katherine Muller Marin khẳng định.

Trong không khí tưng bừng, phấn khởi kỷ niệm ngày sinh của Người, chương trình nghệ thuật đặc sắc do các nghệ sỹ, diễn viên biểu diễn tại buổi lễ đã ngợi ca công ơn trời biển của Bác Hồ đối với dân tộc Việt Nam.

Theo Hương Thủy
Vietnam+

dantri.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh công du nước ngoài

(Dân trí) – Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một loạt các chuyến thăm tới các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới. Chuyến thăm đầu tiên của Người năm 1955 đến Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ.

Sau đó vào năm 1957, 1958 là các chuyến thăm tới các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Ấn Độ và Myanma.

Trong di chúc, Người viết: Sau ngày đất nước thống nhất sẽ thay mặt nhân dân ta thăm và cảm ơn các nước anh em xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp 5 châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Nhưng ước muốn của Người đã không thể thành hiện thực…

Dân trí may mắn có cơ hội xem những bức ảnh ghi lại những chuyến thăm nước ngoài chính thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ năm 1955 – 1958.

Những bức ảnh được in trong cuốn sách ảnh bằng tiếng Anh, thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Liên, nguyên Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai và đã được chuyển lại cho nhà sưu tập sách Phạm Chí Thiện ở Kẻ Sặt, Hải Dương.

Mời bạn đọc cùng chiêm ngưỡng:

Lãnh đạo Xô Viết chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm tại sân bay.

Chủ tịch Mao Trạch Đông chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay.

Bác dắt tay một em bé trong chuyến thăm Trung Quốc.

Bác Hồ trong trang phục truyền thống của Mông Cổ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Ulanbator (Mông Cổ).

Chủ tịch Hồ Chí Minh được đón tiếp tại sận bay Pyongyang (Bình Nhưỡng) – CHDCND Triều Tiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một hợp tác nông nghiệp Kochang, ở Kangsu, phía nam Pyongyang.


Chuyến thăm Ấn Độ vào tháng 2 năm 1958 của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác bơi trên con thuyền truyền thống của Myanma

Bác Hồ nhận bằng danh dự tiến sĩ luật tại Myanma

Bác Hồ nhảy điệu nhảy truyền thống của Albania

Em bé Đức tặng hoa cho Người

Người dân Đức tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh hoa hồng.

Hoàng Giang

dantri.com.vn

Những kỷ niệm về Bác Hồ của một cựu giảng viên ĐH

(Dân trí) – Gần 90 tuổi đời và có nửa thế kỷ đứng trên bục giảng, nhà giáo Lê Văn Đàm, nguyên giảng viên Trường đại học Sư phạm Vinh vẫn nhớ như in những kỷ niệm xúc động về Bác Hồ kính yêu.

Lần đầu gặp Bác Hồ

Nhà giáo Lê Văn Đàm sinh năm 1926 tại Trung Lễ, một làng quê nổi tiếng về truyền thống văn hóa của huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Lúc nhỏ, tuy nhà nghèo nhưng Lê Văn Đàm đã quyết noi theo truyền thống gia đình họ tộc, quyết tâm học hành và luôn luôn đứng đầu lớp. Năm 1944, vừa mới bước vào tuổi 18, Lê Văn Đàm đã vinh dự đứng vào hàng ngũ những người làm giáo dục với chức trách là một giáo viên tiểu học.

Sau thời gian học tập ở Trung Quốc 3 năm (1953-1956), Lê Văn Đàm về nước, được bổ nhiệm chức vụ Hiệu trưởng Trường cấp II Trần Phú (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Mùa hè năm đó, Lê Văn Đàm được triệu tập tham gia lớp chỉnh huấn dành cho các cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên cốt cán toàn miền Bắc tại Hà Nội. Lần này, Lê Văn Đàm vinh dự được gặp Bác Hồ.

Nhà giáo Lê Văn Đàm sinh năm 1926 tại Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ đã có 47 năm đứng trên bục giảng từ bậc tiểu học đến đại học, có hơn 20 năm giảng dạy tại Khoa Tâm lí – Giáo dục trường Đại học Sư phạm Vinh và 10 năm là chuyên gia giáo dục ở châu Phi. Là nhà giáo mẫu mực, cụ đã đào tạo hàng nghìn học trò thuộc nhiều thế hệ. Năm 2009, cụ được tỉnh Hà Tĩnh tôn vinh “Nhà giáo lão thành có nhiều cống hiến”.

Cụ Đàm kể: “Lúc ấy lớp chỉnh huấn tập trung ở hội trường trường Chu Văn An vào ban đêm, dù có điện nhưng không được sáng như bây giờ. Bất ngờ cả hội trường ồ lên khi được tin Bác Hồ đến thăm. Tình hình đấu tranh tư tưởng đang căng thẳng, nên được Bác Hồ đến thăm làm mọi người rất phấn khởi. Bác mặc bộ quần áo kaki trắng giản dị, người hơi gầy với chòm râu thưa. Sau khi ổn định tình hình, Bác nhìn quanh hội trường rồi hỏi: “Cán bộ nữ trong lớp chỉnh huấn của chúng ta được mấy “vắt”?

Cả hội trường hết sức bất ngờ vì cách dùng từ dí dỏm của Bác, và nhất là người cán bộ phụ trách chưa nắm được cụ thể có bao nhiêu nữ cán bộ giáo viên có mặt. Thực ra vào giai đoạn này giáo viên nữ, nhất là cán bộ quản lý rất ít. Một cán bộ đáp: “Thưa Bác, nữ được khoảng chục “vắt” ạ!”. Bác nói: “Sao ít thế?”, rồi Người nói về vai trò của phụ nữ, nhắc nhở các cán bộ quản lý giáo dục cần tuyển thêm nhiều giáo viên nữ.

Sau đó, Bác hỏi thăm về mức lương, thu nhập của đội ngũ nhà giáo. Nghe cán bộ báo cáo, Người trầm ngâm một lúc rồi nói: “Việc giáo dục hết sức quan trọng, nhà giáo có vai trò đặc biệt đối với sự nghiệp giáo dục, nhưng mức sống của đa số giáo viên còn thấp. Chính phủ phải có chính sách từng bước nâng cao đời sống cho đội ngũ giáo viên”.

Nhà giáo Lê Văn Đàm nay nghỉ hưu tại Hà Tĩnh.

Thực hiện lời dạy của Bác, ngành giáo dục sau đó đã có những chính sách để thu hút các nữ sinh vào trường sư phạm. Các nhà trường sư phạm cấp học bổng cho sinh viên, tuy không dư dật song cũng đủ ăn tiêu, không phải dựa vào chu cấp của gia đình. Các sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường sư phạm đều được phân công công tác tùy theo nhu cầu giáo dục của từng địa phương.

Lần đầu được gặp Bác, nhà giáo Lê Văn Đàm nhớ mãi phong thái giản dị, gần gũi, hài hước, sự quan tâm sâu sắc của Người đối với các nữ nhà giáo và đời sống giáo viên. Những lời dạy của Người sau đó đã được Chính phủ và ngành giáo dục áp dụng trong thực tiễn.

“Giáo cụ trực quan” là gì?

Nhà giáo Lê Văn Đàm còn có may mắn được gặp Bác Hồ lần nữa. Năm 1959, Bác Hồ đến thăm Trường đại học Sư phạm Hà Nội. Lúc này nhà giáo Lê Văn Đàm đang học Khoa Tâm lí – Giáo dục. Vì Bác có nhã ý thăm lớp cán bộ quản lý được cử đi học, nên Lê Văn Đàm có cơ duyên gặp Người lần nữa.

“Lúc đó, mấy anh em chúng tôi đang lúi húi làm việc thì thấy có tiếng người xôn xao, cửa mở và đã thấy Bác Hồ đến ngay trước mặt. Đúng là như trong giấc mơ. Bác bắt tay từng người rồi hỏi: “Các chú đang làm gì thế?”. Nhà giáo Lê Văn Đàm thưa: “Thưa Bác, chúng cháu đang làm giáo cụ trực quan ạ”. Người hỏi lại: “Thế “giáo cụ trực quan” là gì? Nhà giáo Lê Văn Đàm đáp: “Thưa Bác, “giáo cụ trực quan” là đồ dùng dạy học ạ”. Bác hỏi: “Thế tại sao không nói “đồ dùng dạy học” mà lại nói “giáo cụ trực quan”?. Mọi người im lặng, lúng túng, Bác nói: “Chúng ta giáo dục cho con em nên chú ý việc dùng chữ. Những chữ đã có trong tiếng ta thì cần không vay mượn, cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Hiện nay đang có bệnh sính dùng chữ, cần phải sửa từ những cán bộ giáo dục để làm gương cho học sinh và đồng bào”.

Trong trái tim nhà giáo lão thành, những kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu vẫn vô cùng sâu đậm.

Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng những lời dạy của Bác từ cuộc gặp gỡ đó mãi in sâu trong tâm trí nhà giáo Lê Văn Đàm và trở thành kim chỉ nam trong cuộc đời làm giáo dục của cụ.

Cụ Đàm tâm sự: “Thực ra lúc đó chúng ta dịch giáo trình từ Trung Quốc, Liên Xô nên có vay mượn thuật ngữ. Mặt khác, không ít cán bộ vẫn mắc “bệnh sính chữ”. Lời dạy của Bác không chỉ nói về việc dùng chữ, mà chính là vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ, và các nhà giáo phải làm gương cho xã hội”.

Sau này, trong những năm đi làm chuyên gia giáo dục quốc tế ở châu Phi (cụ Lê Văn Đàm từng làm chuyên gia giáo dục ở Ghi-nê và Ăng-gô-la hàng chục năm), cụ Đàm luôn tìm cách để giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử, văn hóa Việt Nam.

Dù xa cách ngàn trùng, đất nước và Bác Hồ vẫn rất gần

Từ năm 1965 – 1969, nhà giáo Lê Văn Đàm được Chính phủ cử đi làm chuyên gia giáo dục tại Ghi-nê. Trước khi lên đường, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tổ chức buổi gặp mặt thân mật và dặn dò nhà giáo Đàm. Thủ tướng nhấn mạnh nhiệm vụ giúp bạn phát triển giáo dục cũng quan trọng không kém việc đánh giặc bảo vệ Tổ quốc (lúc này chiến sự đang rất căng thẳng), đồng thời nhắc mỗi người cần giữ gìn tư cách, tác phong của người Việt Nam khi ở nước bạn.

Khí hậu châu Phi khắc nghiệt, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, nhưng với những người đã quen gian khổ như cụ Lê Văn Đàm thì không phải là vấn đề đáng ngại. Chỉ có nỗi nhớ Tổ quốc, nhớ Bác Hồ là luôn canh cánh bên lòng. Lúc đầu, các nhà giáo xa xứ nghe tình hình Việt Nam qua bản tin quốc tế tiếng Pháp của các nước, sau một thời gian mới bắt được sóng của Đài tiếng nói Việt Nam.

Dù bận đến mấy, việc nghe đài Việt Nam luôn được ưu tiên hàng đầu. Những tin tức chiến thắng dồn dập làm cho các nhà giáo phấn khởi vô cùng. Vì các sinh viên Ghi-nê rất muốn nghe về thời sự Việt Nam, nên nhà trường đã tổ chức mời nhà giáo (họ gọi là giáo sư – Professeur) Lê Văn Đàm diễn thuyết trước sinh viên toàn trường về thời sự đánh giặc Mỹ của Việt Nam. Chương trình chỉ có ba tiếng từ 8 giờ đến 11 giờ), nhưng đến 11 giờ, sinh viên yêu cầu nói thêm, chưa ăn cơm cũng được. Thế là giáo sư Lê Văn Đàm phải nói thêm 2 tiếng nữa mới nghỉ. Cả trường lặng phắc lắng nghe, cả ông bảo vệ trường cũng say sưa nghe giáo sư Đàm diễn thuyết. Sau này vì các sinh viên muốn tìm hiểu thêm, nhà giáo Lê Văn Đàm liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam để mượn các bộ phim về chiếu cho sinh viên xem. Làn sóng hâm mộ Việt Nam dâng cao, đến mức đại diện ngoại giao Mỹ tại Ghi-nê phản đối, cho rằng nhà trường “thiên vị” Việt Nam. Nhưng nhà trường nói vì sinh viên yêu thích nên họ không “bắt lí” được.

Sau 5 năm công tác, Lê Văn Đàm về Hà Nội vào đúng ngày 2/9/1969, được người nhà báo tin Bác ốm rất nặng. Sáng ngày 3/9, Lê Văn Đàm và người dân cả nước đau đớn khi được tin Bác Hồ đã từ trần. Lê Văn Đàm vội đến quảng trường Ba Đình để xem tình hình nhưng không vào được, chen chúc trong cả biển người chan hòa nước mắt giữa trời mưa tầm tã. Lê Văn Đàm đã ở lại Hà Nội tham dự lễ tang Bác, 12 ngày sau mới về gặp gia đình ở Hà Tĩnh.

Bài và ảnh: Quang Đại – Văn Dũng

dantri.com.vn

Con người và tấm gương Hồ Chí Minh

(Dân trí) – “Khỏe – Học – Làm – Sống” là 4 nhu cầu cơ bản của con người. Có khoẻ mới có thể học tốt, làm tốt, sống tốt. Có khoẻ, có học hay mới có khả năng làm giỏi, làm sáng tạo, mới có thể sống hạnh phúc, đạo đức, văn minh.

Bác Hồ tập thể dục rèn luyện sức khỏe.

Để trở thành “con người thông thái”

“Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ, tức là cả nước mạnh khoẻ… Dân cường thì quốc thịnh”. (1)

“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu… Phải trở thành dân tộc thông thái”. (2)

“Tấm gương Hồ Chí Minh” là tổng hoà cách giữ gìn sức khoẻ khoa học, cách tự học thiên tài, là cách làm cách mạng sáng tạo với cách sống đạo đức, văn minh, danh nhân văn hoá thế giới, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, cấp bách trước mắt cũng như về cơ bản lâu dài, trong sự nghiệp “trồng người, xây dựng, nâng cao thể lực và trí lực con người Việt Nam chính là “Tấm gương bốn tốt”: “Sức khoẻ tốt, Học tốt, Làm tốt, Sống tốt”, “Sức khoẻ tốt, Tự học hay, Làm sáng tạo, Sống đạo đức, văn minh”.

Con người của một dân tộc đang phấn đấu “trở thành dân tộc thông thái”, “dân cường quốc thịnh”, được xây dựng thông qua vận dụng – phát triển tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh, cùng nhịp bước khẩn trương của thời đại, phải là một con người “thông thái”, cao khoẻ, tự học hay, làm sáng tạo, sống văn minh”, gọi tắt là “con người thông thái bốn tốt”, “con người thông thái”.

Con người thông thái biết tự chăm lo vun đắp cái vốn quý nhất của mỗi con người và của dân tộc, giống nòi là sức khoẻ và trí tuệ: biết cách tự chăm sóc, tự rèn luyện, nâng cao sức khoẻ và tầm vóc nên người cao khoẻ; biết cách tự học hành sáng tạo suốt đời; biết và dám độc lập suy nghĩ, tự do sáng tạo, tự mình đi tìm lấy chân lý, sống và làm việc theo chân lý, tất cả “vì chân lý – vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” (3), sống hạnh phúc, đạo đức, văn minh.

Cách dạy sáng tạo

Vì mục tiêu đào tạo ra những con người thông thái bốn tốt, trường học cần xây dựng đội ngũ nhà giáo bốn tốt có bản lĩnh dạy sáng tạo.

Cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” có thể xem là phong trào đổi mới cách dạy của các “nhà giáo bốn tốt”: Thầy “tự học hay, dạy sáng tạo, đạo đức cao” chủ động tự đổi mới, vận dụng các cách dạy sáng tạo cho trò “tích cực tự học, sáng tạo”.

Tuy vậy, phổ biến hiện nay vẫn là “Thầy truyền đạt – trò thụ động tiếp thu một chiều”, “Thầy giảng – trò nghe, nói theo, làm theo” – một phương pháp lạc hậu tạo ra những con người được nhồi nhét kiến thức để vượt qua các kỳ thi, nặng về phục tùng, thừa hành, rập khuôn. Việc học nặng nề, quá tải đã dẫn đến những con số thống kê ảm đạm các bệnh học đường như cận thị, cong vẹo cột sống, tâm thần, trẻ lùn còi, lùn béo… đáng báo động về sức khoẻ, chiều cao và trí tuệ của con người và giống nòi!

Yêu cầu nhà giáo làm “tấm gương sáng tạo”, nhưng thực tế thi cử khắc nghiệt “thi gì học nấy” buộc nhà giáo phải làm “người luyện thi”!

Vận động nhà giáo “dạy sáng tạo”, nhưng sách giáo khoa – pháp lệnh tối cao trong nhà trường – buộc thầy phải làm “người truyền đạt” kiến thức một chiều đúng theo từng trang sách, trò phải học thuộc từng bài, từng chương để vượt qua các cửa ải thi cử! Sách học của ta lại đang ở dạng lạc hậu là “một ngân hàng kiến thức” áp đặt kiến thức sẵn có cho học sinh học thuộc, trong lúc sách học tiến bộ trên thế giới là “Công cụ khám phá”, “Ngân hàng tình huống” cung cấp một hệ thống tình huống – vấn đề cho người học suy nghĩ, tự mình tìm ra cách xử lý và kiến thức.

Một bộ sách học – ngân hàng tình huống – công cụ khám phá – cùng với một hệ thống đánh giá thi cử thông thoáng (bỏ kỳ thi trung học cơ sở và kỳ thi vào đại học…) mở rộng đường cho nhà giáo đi sâu vào cách “dạy sáng tạo”.

Học sáng tạo

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc

Từ “học thụ động, tiếp thu một chiều, học vẹt, khuôn sáo, giáo điều” khá phổ biến hiện nay trong toàn hệ thống nhà trường và xã hội, đến “tự học hành sáng tạo suốt đời”, “biết cách độc lập suy nghĩ, tự mình chiếm lĩnh lấy tri thức”, là cả một cuộc cách mạng về việc học của toàn xã hội.

Mỗi người học “vừa là chủ thể vừa là mục tiêu vừa là động lực chủ yếu” của cuộc cách mạng đó cần chủ động phấn đấu tự học, từ rèn thành con người thông thái bốn tốt thông qua các cuộc vận động thi đua “Học sinh bốn tốt”, “Sinh viên bốn tốt” với những tiêu chí cụ thể đáp ứng đúng nhu cầu độ tuổi. Hằng năm, cần có tổng kết khoa học nghiêm túc về “cách học hành sáng tạo”, biểu dương khen thưởng những “Học sinh, Sinh viên Bốn tốt”, “Học sinh, Sinh viên Sáng tạo”.

Mỗi người dạy cần phát huy vai trò “tấm gương đạo đức, tự học, sáng tạo”, xoáy sâu vào trọng tâm là dạy sáng tạo: Thầy hướng dẫn cho trò biết cách tự xử lý các tình huống – vấn đề tự tìm ra kiến thức, biết cách tự học, độc lập suy nghĩ, tự do sáng tạo. Cần suy tôn “Nhà giáo Sáng tạo” qua việc tổng kết khoa học hằng năm về “cách dạy sáng tạo”.

Sự nghiệp xây dựng con người thông thái từ thuở thai nhi thật cao cả, mà gia đình thì lắm nạn: nạn nghèo khó, nạn kém hiểu biết về giáo dục và chăm sóc thai nhi, giáo dục và chăm sóc trẻ em, nạn phá thai, nạn ly hôn…

Cần thiết thực trang bị cho gia đình hiểu biết và kỹ năng giáo dục chăm sóc cho thai nhi, trẻ em và người lớn, giúp đỡ các hộ nghèo và cận nghèo có những điều kiện cần thiết cho con em được chăm sóc, học hành.

Cần gắn kết các bộ, ngành, các hội, đoàn thể và tổ chức có liên quan đến sức khoẻ và trí tuệ của con người cùng chung sức “đem tài dân, của dân và sức dân” (4) xây dựng “Gia đình Hiếu học – Khoẻ mạnh – Văn hoá” thành “Gia đình bốn tốt” – Gia đình chăm lo thoả mãn tốt bốn như cầu cơ bản của con người, với những thành viên bốn tốt.

Tấm gương bốn tốt

Sức khoẻ tốt: Biết cách tự chăm sóc, từ rèn luyện, nâng cao sức khoẻ.

Học tốt: Biết cách tự học hành sáng tạo. Có trình độ giáo dục phổ cập theo độ tuổi.

Làm tốt: Biết lao động, có nghề. Lao động giỏi, có sáng kiến, sáng tạo.

Sống tốt: Cần kiệm, lành mạnh, trung thực, nhân nghĩa.

“Gia đình bốn tốt” là hội tụ các phong trào kinh tế – xã hội lớn của đất nước thành nơi con người phát triển toàn diện, tự học hành sáng tạo suốt đời là tế bào của xã hội học tập. Với đại đa số số hộ là gia đình bốn tốt, thì cả nước trở thành một xã hội học tập hiện đại.

Đất nước đổi mới đang đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên, đoàn viên hãy là một con người thông thái “dám nghĩ, dám làm, dám sáng tạo, dám nhận trách nhiệm”!

Mỗi người cán bộ quản lý – lãnh đạo của Đảng và Nhà nước hãy phát huy mạnh mẽ vai trò “Tấm gương bốn tốt”, đặc biệt là bản lĩnh điều hành sáng tạo, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh trong thời đại toàn cầu hoá – tin học hoá cho dân ta thành người thông thái, dân tộc ta thành dân tộc thông thái, nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

(1) (2) (3) (4): Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục, NXB Giáo dục. 1990. Tr. 47.36.151.53.

Vũ Oanh
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị,
Chủ tịch Hội Giáo dục Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Việt Nam

dantri.com.vn

Hồ Chủ tịch với công tác thanh niên

(Congannghean.vn)-Trong suốt cuộc đời của mình, Bác Hồ luôn quan tâm đến các thế hệ người Việt Nam, trong đó, Bác luôn giành nhiều tình cảm yêu thương sâu sắc đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là lực lượng thanh niên

Ngay từ năm 1925, khi Người đang hoạt động ở nước ngoài tìm đường cứu nước, Người đã nhận thấy thanh niên là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong tác phẩm “Bản án chế độ Thực dân Pháp”, Người viết “Hỡi Đông Dương đáng thương hại, Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.

Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên vào tháng 6/1925, để động viên, giác ngộ và tổ chức thanh niên vào công cuộc giải phóng dân tộc.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, công tác thanh niên được Người coi trọng và xem là nhiệm vụ cần thiết. Để huy động lực lượng thanh niên vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, Hội nghị BCHTW Đảng đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 là ngày thành lập Đoàn. Kể từ đó, thanh niên được tập hợp trong tổ chức của mình để đấu tranh và trưởng thành qua các cao trào 1930 – 1931, 1936 – 1939, 1939 – 1945.

Hồ Chủ tịch tại Đại hội Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước (1967)

Đặc biệt, sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy được sức mạnh của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Trong thư gửi Ngành giáo dục nhân ngày khai trường năm 1945, Hồ Chủ tịch đã tin tưởng, gửi gắm niềm tin vào thế hệ trẻ, rằng tương lai của non sông Việt Nam phụ thuộc vào “một phần lớn ở công học tập của các em”.

Vào tháng tám năm 1947, trong thư gửi thanh niên, Người lại khẳng định “thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”, “thanh niên ta rất hăng hái.

Ta biết tập hợp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ”. Chính sự tin tưởng của Người mà các thế hệ thanh niên đã anh dũng chiến đấu lập nên chiến thắng Việt Bắc, Biên giới Thu – Đông và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, miền Bắc nước ta chuyển sang giai đoạn Cách mạng XHCN, nhằm để động viên kịp thời và khuyến khích lực lượng thanh niên tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng quan tâm, giáo dục lực lượng thanh niên. Trong bài nói chuyện tại đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam ngày (24/3/1961), Bác dặn: “Thanh niên ta phải cố gắng học…

Muốn xây dựng CNXH thì nhất định phải có học thức… Thanh niên ta cần hiểu rằng: bất kì công việc gì mà ra sức khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ đều là vẻ vang, đều là anh hùng”. Về phong trào thanh niên, Bác lưu ý: “Cần phải liên tục và có nội dung thiết thực, không nên hình thức mà phải nói được, làm được”.

Thực hiện và làm theo Bác Hồ dạy, tầng tầng, lớp lớp thanh niên không quản ngại khó khăn ra sức xây dựng miền Bắc XHCN và anh dũng chiến đấu ở tiền tuyến lớn miền Nam với tinh thần của người thanh niên Lí Tự Trọng “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường Cách mạng và không thể con đường nào khác”.

Bác luôn coi thanh niên là lực lượng rường cột của nước nhà; là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Vì vậy, trước lúc Người đi xa, trong di chúc Bác đã dùng những lời lẽ tâm huyết đối với lực lượng thanh niên “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ” và Bác cũng căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đào tạo Cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ Cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.

Có thể nói, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác giáo dục thanh niên là tài sản vô cùng quý báu của dân tộc ta. Nhìn lại những lời dạy của Người giúp chúng ta có suy nghĩ và hành động đúng hơn về công tác thanh niên và giáo dục thanh niên trong thời kì mới, đặc biệt là trong năm thanh niên 2011.

Bùi Ngọc Tân

congannghean.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên

Có thể nói rằng, giáo dục lý tưởng và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên là một nội dung cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nói về thanh niên với tấm lòng thương yêu vô hạn của vị cha già dân tộc. Người căn dặn chúng ta “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Ðiểm nổi bật trong quan điểm giáo dục lý tưởng cho thanh niên của Bác Hồ là đưa thanh niên vào các tổ chức chính trị, xã hội do Ðảng lãnh đạo để vừa giác ngộ lý tưởng cách mạng cho họ, vừa đưa họ hoạt động thực tiễn đấu tranh cách mạng của toàn dân tộc. Ðể chuẩn bị cho việc thành lập Ðảng, năm 1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là tiền thân của Ðảng ta sau này. Người trực tiếp lựa chọn và bồi dưỡng, đào tạo những thanh niên yêu nước, có chí khí đấu tranh chống thực dân, phong kiến. Cuốn sách Ðường kách mệnh là tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1925 đến 1927 cho các lớp thanh niên ưu tú về lý tưởng, đạo đức cách mạng. Những thanh niên yêu nước qua huấn luyện, giáo dục, đào tạo được Bác Hồ đưa về nước hoạt động để thâm nhập vào phong trào yêu nước, phong trào công nhân trở thành những cán bộ cách mạng tiên phong trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong đó có nhiều người cộng sản trẻ tuổi xuất sắc như Trần Phú, Nguyễn Lương Bằng, Phạm Văn Ðồng, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu,…

Với quan điểm “đạo đức là gốc của người cách mạng”, Bác Hồ quan tâm giáo dục thanh niên không chỉ có tinh thần làm chủ nước nhà mà phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính; chí công, vô tư. Bác khuyên thanh niên “hăng hái, xung phong”, có chí tiến thủ, không ngại khó khăn, không nề nguy hiểm trong công tác, học tập, chiến đấu. Song, trong cuộc sống, Bác căn dặn thanh niên biết yêu thương gia đình, kính trọng ông bà, cha mẹ, người cao tuổi, nâng đỡ, dìu dắt thiếu nhi, quý trọng và hiếu thảo với nhân dân. Trung với nước, hiếu với dân là nội dung đạo đức mới Bác khuyên nhủ thanh niên cần thực hiện. Người cho rằng, đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Do đó, thanh niên phải ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng, bởi vì “cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Trong công cuộc kiến thiết đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt kỳ vọng vào thanh niên. Nhớ lại năm 1945, khi nước nhà vừa giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu.

Từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, khó khăn lớn nhất là lực lượng sản xuất lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn. Bác Hồ cho rằng, nghèo nàn, lạc hậu là một kẻ địch to, chiến đấu và chiến thắng nghèo nàn lạc hậu còn khó khăn, gian khổ hơn chiến thắng giặc ngoại xâm. Nhất là chúng ta phải xây dựng lại đất nước sau hai cuộc kháng chiến lâu dài, chống chiến tranh xâm lược ác liệt, với sự tàn phá dã man do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Ðây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Ðể giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”. Trong lực lượng vĩ đại của toàn dân, Bác Hồ dành vị trí hết sức quan trọng cho thanh niên. Tháng 5 năm 1968, Người viết trong bản Di chúc lịch sử: “Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Ðảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Ðó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999, tr.32). Người còn căn dặn Ðảng ta phải thường xuyên chăm lo giáo dục thanh niên, bởi vì “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

Nói tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên nổi bật các quan điểm lớn:

– Thanh niên là lực lượng xung kích chủ yếu của cách mạng, là chủ tương lai của nước nhà.

– Ðảng, Nhà nước phải chăm lo bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho thanh niên, giáo dục ý thức làm chủ và đào tạo họ thành người làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề nghiệp. Nghĩa là đào tạo họ trở thành những con người vừa hồng, vừa chuyên.

– Thanh niên phải tự vươn lên, phấn đấu, rèn luyện để thật sự là đội quân chủ lực của cách mạng.

TS: Phạm Văn Khánh

hungvuong.edu.vn