Tag Archive | Tin tức

Bác Hồ trước họa “diệt cộng, cầm Hồ”

QĐND – Chính quyền nhân dân non trẻ đang trong cơn nước sôi lửa bỏng phải đối mặt với hai kẻ thù ngoại xâm: Pháp và quân Tưởng Giới Thạch. Một cán bộ hỏi Bác: “Thưa Cụ, trong hai tên giặc ấy, tên nào đáng sợ hơn? Bác hài hước nói: “Sợ nhất các chú!”.

Cuộc chạy đua nước rút

Tại Hội nghị “Chia phần” của phe thắng phát xít ngày 24-7-1945, nhờ tài “đi đêm” Chính phủ của Tưởng Giới Thạch đã được Đồng minh cho phép đưa quân vào miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 để nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật hoàng (phía Nam là quân Anh). Dàn xếp xong trong nội bộ, ngày 9-8, Chính phủ Tưởng tuyên bố cử tướng Lư Hán làm Tư lệnh 20 vạn Hoa quân nhập Việt. Nhận lệnh, Lư Hán triệu ngay đại diện quân Nhật tới Côn Minh yêu cầu: Thả ngay tù binh Đồng minh; Chỉ giao chính quyền ở miền Bắc cho các nhà chức trách Trung Quốc; Quân Nhật phải giữ trật tự chờ đến khi quân Tưởng Giới Thạch đến.

Cùng ngày 27-8, hai cánh quân của Lư Hán và Tiêu Văn tràn sang nước ta kéo theo bọn Việt gian tay sai thuộc hai đảng Việt quốc, Việt cách của Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Hải Thần với chủ mưu “diệt cộng, cầm Hồ” lập Chính phủ thân Tưởng Giới Thạch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường trở về ATK. Ảnh tư liệu

Bác Hồ ở trên chiến khu ốm nặng, phải tối 26-8 mới về tới 48 Hàng Ngang, Hà Nội. Người chỉ thị tổ chức ngay lễ ra mắt Chính phủ lâm thời để tuyên bố trước thế giới: Nước Việt Nam đã có chính quyền mới từ ngày 2-9-1945. Một tuần sau, ngày 9-9, Tiêu Văn mới tới Hà Nội. Hai ngày sau, Lư Hán vội đáp máy bay đến Gia Lâm, lập Đại bản doanh tại Phủ toàn quyền. Quân Tưởng Giới Thạch ngang nhiên coi chúng là chủ của đất nước này.

Chữ “Nhẫn”

Lúc bấy giờ, báo chí nước ngoài mô tả quân Tưởng: “Đội quân chân đất, bụng lép, quyết bám vào cuộc nhập Việt để mưu sống. Chúng vơ vét mọi thứ muốn lấy hay cần lấy dù thứ đó là của người Việt, người Pháp hay của ngoại kiều nào, bất kể giàu hay nghèo. Các tướng tá chỉ huy càng tham tàn, hà hiếp mọi người, ở mọi nơi làm gương cho binh sĩ…”.

Riêng Lư Hán càng hống hách hơn, đòi Hồ Chí Minh phải báo cáo cụ thể tổ chức và quân số các lực lượng vũ trang trong quân đội, công an, dân quân tự vệ, đòi sắp xếp lại bộ máy chính phủ, thậm chí đòi đổi lại giờ Việt Nam theo giờ Trung Quốc… Ngày 28-9, Bộ trưởng Hà Ứng Khâm – đặc phái viên của quân Tưởng bay tới Hà Nội danh nghĩa là chứng kiến lễ tiếp nhận đầu hàng của quân Nhật, mục tiêu chính lại là nhằm: “Diệt cộng, cầm Hồ”. Chúng thúc ép thuộc cấp phải nhanh chóng chớp thời cơ trước khi quân Pháp đánh ra Bắc Bộ – kể cả khiêu khích kiếm cớ can thiệp lật đổ.

Tiêu Văn muốn lập công đầu, gửi thư cho Hồ Chí Minh, nói: “Kính gửi Cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho mượn một cái nồi nấu cơm”.

Đọc thư, mọi người vô cùng phẫn nộ thưa lại với Bác: “Chúng khinh ta quá đáng”!
Bác nhẹ nhàng nói: “Nền độc lập ta mới giành được ví như chiếc bình ngọc quý. Có con kiến bò miệng bình, ta chỉ cần lấy cái que nhỏ bắc cầu cho kiến bò đi, hay lấy gậy đập chết kiến – Chắc gì kiến chết mà bình lại vỡ? Họ mượn cái nồi nấu cơm, ta cho mượn việc gì các chú phải nổi nóng?”.

Ngày 11-11-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán (thực tế là rút vào hoạt động bí mật) để “cứu mạng sống” cho bọn Lư Hán – Tiêu Văn không bị Tưởng Giới Thạch trị tội “bất tuân thượng lệnh”. Tuy nhiên, ngoài nguy cơ lộ liễu từ phía quân Tưởng và lũ tay sai, bọn Phòng nhì Pháp đã bắt đầu tung mạng lưới do thám ra Hà Nội. Ngay lập tức, Bác chỉ đạo, ngoài tổ an ninh đặc biệt do hai ông Nguyễn Lương Bằng và Trần Đăng Ninh phụ trách, phải lập thêm trung đội đặc nhiệm nữa do Đàm Quang Trung phụ trách rải quân ở nhiều nơi để lừa chúng.

Vụ bắt cóc bất thành

Trong khi theo lệnh Tưởng Giới Thạch (do chủ trương của Mỹ muốn để Pháp thay thế Trung Hoa giải giáp quân đội Nhật ở Bắc Đông Dương). Đại bản doanh của Lư Hán – Tiêu Văn, một mặt tiến hành các tổ cảnh giới ở Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu, một mặt khác vẫn tiếp tục mưu kế “cầm Hồ”.

Sáng 25-11-1945, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Hữu Nam nhận được một công văn “Thượng khẩn” của Lư Hán mời Bác tới Bộ tư lệnh đại diện quân Đồng minh có việc. Cả các ông Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Huỳnh đều bàn thưa với Bác không nên đi, mà chỉ cử đặc phái viên Chủ tịch nước đến gặp là đủ. Bác nói: “Lư Hán lúc này lấy danh nghĩa Đồng minh giở giọng “thiên triều” ra chỉ lệnh cho “chư hầu”. Bác không đến gặp, nó tưởng ta sợ nó. Nó được nước, có thể làm điều càn bậy hơn. Miếng võ hiểm phải có “đòn văn” hiểm hơn chứ!”.

Bác nói chuyện qua điện thoại với ngài Patti, đại diện phái bộ Mỹ hẹn gặp vào buổi chiều, và bảo ông Huỳnh ngày hôm đó không được rời phòng làm việc. Xe lên Phủ toàn quyền, viên sĩ quan quân Tưởng lễ phép thưa: “Tướng quân Lư ngài bận”, y dẫn Bác xuống 64 Nguyễn Du gặp tướng quân Tiêu Văn. Bọn họ lại ngang ngược cho Triệu Bách Xương ra cổng xin lỗi Bác và đưa Người tới Quân đoàn 63 gặp Quân trưởng Chu Phúc Thành (địa điểm Bệnh viện 103 bây giờ). Bác nhận ra sự nguy hiểm do chúng đã tách ba anh bảo vệ đi theo. Người đưa mắt nhắc anh em “bình tĩnh”!

Chúng giữ Bác đến chiều. Bác bí mật cử người về đánh động cho Mỹ biết. Lập tức, ông Patti đến, ông Vũ Đình Huỳnh kể lại sự việc. Ông bạn Mỹ tỏ rõ sự bất bình, nói:

– Chúng tôi can thiệp ngay việc này.

Hẳn là có tiếng nói của quan thầy, chúng không dám hành động liều lĩnh. Bác Hồ kính yêu của chúng ta an toàn trở về lãnh đạo cuộc kháng chiến…

Bài học của 65 năm trước, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Trịnh Tố Long

qdnd.vn

Bác Hồ và bản sắc văn hóa dân tộc

Ngay từ nhỏ, Bác Hồ đã được dưỡng nuôi trong một môi trường văn hóa gia đình, quê hương xứ Nghệ. Người tắm mình trong bao làn điệu dân ca, điệu vè, hát ví, hát dặm. Những câu Kiều chứa bao thân phận đắng cay, và nhiều câu chuyện cổ tích huyền diệu đã in sâu trong tâm trí Bác. Bác thường có mặt trong những đêm hát ví, hát phường, hát vải, các buổi hội hè với chúng bạn trẻ thơ.

Từ giã quê hương, bôn ba tìm đường cứu nước, Bác không bao giờ quên những kỷ niệm thời thơ ấu ở làng Sen, nếp sống gia đình và vốn văn hóa, phong tục ở quê hương. Càng xa đất nước bao nhiêu, Bác càng da diết nhớ quê hương, nhớ điệu ca dao, dân ca, nhớ kho tàng văn nghệ dân gian bấy nhiêu. Một câu ngâm Kiều, một điệu hát ru con trên đất khách quê người của bà con Việt Kiều đều gợi trong trái tim Người bao nỗi niềm tha hương.

Ảnh:Tư Liệu

Chính trong những năm tháng hoạt động cách mạng ấy, thái độ trân trọng di sản văn hóa dân tộc được hình thành trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người thường dẫn Chinh phụ ngâm, Kiều, những câu hò, lời ca, điệu ví quen thuộc, vốn rất đặc trưng tiêu biểu cho văn nghệ dân tộc như: Ngâm sa mạc, hát tuồng, chèo hát ví, hát dặm để nhắc nhở những người làm công tác văn hóa về thái độ trân trọng vốn văn hóa dân tộc. Người cho rằng, văn hóa dân tộc là vốn quý, là chìa khóa và bệ đỡ cho nền văn hóa một nước. Phải biết nâng niu, quý trọng văn hóa dân tộc mới có khả năng khai thác và phát triển nó lên. Tâm sự với nghệ sĩ trẻ, Bác khuyên: “Thanh niên phải chịu khó học. Âm nhạc của dân tộc ta rất độc đáo. Bác đã đi nhiều nước trên thế giới nhưng Bác vẫn nhớ các câu hát của dân ta. Ta có nhiều câu hát dân ca hay lắm. Bây giờ phải khai thác và phát triển nó lên…”.

Hồ Chí Minh am hiểu nhiều lĩnh vực văn hóa nghệ thuật như: Dân ca, âm nhạc, đến hội họa, thơ ca cổ điển… Người đã từng khuyên chúng ta phải biết kế thừa, phát triển di sản quý báu ấy. Người nói xóa bỏ triệt để những cái cũ phiền phức, phát triển những cái cũ mà tốt, phải triệt để làm những cái mới và hay, phải giữ gìn thuần phong, mĩ tục, phải tẩy sạch những gì mà giáo dục thực dân để lại…”.

Như vậy là tư tưởng của Bác là “gốc của văn hóa mới là dân tộc”. Chuyện cải biên các bộ môn nghệ thuật cổ của dân tộc bây giờ như là nhu cầu tất yếu để nghệ thuật tiếp cận với thời đại đang sống. Thế nhưng cải biên mà vẫn không đánh mất gốc. Có một lần xem biểu diễn chèo, Bác đã vừa khen mà cũng vừa nhắc nhở cho đoàn chèo ấy: “Đã chèo thì cho ra chèo”. Chủ tịch Hồ Chí Minh kết hợp rất nhuần nhuyễn văn hóa với cách mạng. Văn hóa phải đưa nhân dân lên một trình độ cao. Muốn vậy phải có cơ sở của văn hóa dân tộc, cho nên tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh vừa dân tộc, vừa hiện đại nhất.

Trả lời một tờ báo Đảng của Đức, Bác khẳng định: “Nguyễn Du là một nhà thơ cổ điển của chúng tôi. Những người Cộng sản chúng tôi rất quý di sản cổ điển. Có những ngọn suối tiến bộ chảy từ ngọn nguồn cổ điển đó. Càng thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, càng phải coi trọng truyền thống tốt đẹp của cha ông”.

Nguyễn Tấn Tuấn

baogialai.com.vn

Hẹn gặp lại Sài Gòn

Năm 1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh cấp kinh phí đầu tư sản xuất bộ phim truyện nhựa màu đầu tiên về tuổi trẻ của Bác Hồ lấy tựa đề, Hẹn gặp lại Sài Gòn.

Cảnh Nguyễn Tất Thành và bạn Út Huệ viếng mộ mẹ ở núi Bân

Trong bộ phim “Hẹn gặp lại Sài Gòn” (kịch bản Sơn Tùng, đạo diễn Long Vân dàn dựng năm 1990), hình ảnh Bác Hồ thời trẻ gây ấn tượng sâu sắc với diễn xuất của NSƯT Tiến Hợi và NS Thu Hà. Bộ phim kể về những năm tháng Bác Hồ cùng gia đình sống và học tập ở Huế giai đoạn 1895 – 1901 và 1906 – 1909, sau đó Nguyễn Tất Thành vào Phan Thiết dạy học và vào Sài Gòn tìm cách ra nước ngoài để tìm đường cứu nước.

Với nội dung kịch bản Hẹn gặp lại Sài Gòn kể lại câu chuyện về cuộc đời chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành khi 20 tuổi với đầy hoài bão, đầy ước mơ và chất chứa nỗi đau giống nòi, nỗi đau mất nước. Khi đó, một trong những tiêu chí hàng đầu của đạo diễn khi tìm chọn diễn viên là ngoại hình càng giống Bác hồi trẻ càng tốt.

Việc tìm kiếm khá khó khăn, đoàn làm phim mất nhiều tháng trời mà chưa chọn được diễn viên như ý. Sau đó, đạo diễn Long Vân nhận được thông tin, diễn viên Tiến Hợi vừa vào vai Bác Hồ trong vở kịch nói “Đêm trắng” có ngoại hình và tác phong khá giống Bác. Và cuối cùng, diễn viên Tiến Hợi đã thuyết phục được vị đạo diễn khó tính không chỉ bởi ngoại hình, tác phong mà còn bởi tình cảm yêu kính chân thành của người nghệ sỹ dành cho nhân vật và cho vai diễn Bác Hồ.

Để có thể vào vai Nguyễn Tất Thành, nghệ sĩ Tiến Hợi không chỉ chờ đợi bàn tay hóa trang, vào sức diễn của một diễn viên, Tiến Hợi còn tìm đọc những tài liệu lịch sử, sách, truyện về cuộc đời Bác. Theo lời kể của nghệ sĩ Tiến Hợi, anh còn tìm nghe những băng ghi âm các bài nói chuyện của Bác, để tập nói theo giọng của Bác… Bằng tất cả tình cảm yêu kính dành cho Bác, bằng sự nỗ lực, tìm tòi của bản thân, với ngoại hình và giọng nói có được, Tiến Hợi đã có được vai diễn ấn tượng, để lại nhiều dấu ấn xúc động cho người xem qua bộ phim Hẹn gặp lại Sài Gòn.

Trân trọng giới thiệu với quý vị và các bạn bộ phim: Hẹn gặp lại Sài Gòn

Nguồn: YouTube

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 10-1947, Bác Hồ viết xong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, mang bút danh X.Y.Z. Bài này giới thiệu tóm tắt bài viết của Bác.

Năm 1947, trong điều kiện toàn quốc kháng chiến, tình hình đất nước lúc này, hơn bao giờ hết đòi hỏi mọi người cán bộ, đảng viên phải gương mẫu nêu cao đạo đức cách mạng, dám chấp nhận hy sinh gian khổ, vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống quan liêu xa rời quần chúng và chống chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức.

Để cán bộ, đảng viên hiểu và thực hiện được yêu cầu đó, tháng 3-1947, Bác gửi thư cho các tổ chức Đảng, đề cập đến căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân và các biện pháp đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra đáng giá thực tế, Bác thấy ở nhiều nơi, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân không được nhắc nhở, việc thực hiện không nghiêm túc.

Tháng 10-1947, Bác Hồ viết xong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, mang bút danh X.Y.Z (Bác có khoảng 160 bút danh, tên gọi khác nhau). Lúc này Trung ương chỉ đạo tổ chức đợt học tập chính trị trong toàn Đảng. Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Bác là tài liệu quý giúp cho cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện, tu dưỡng trên các mặt tư tưởng, đạo đức và phương pháp làm việc.

Trong tác phẩm, Bác khẳng định “Sửa đổi lối làm việc” của Đảng là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng; là nhiệm vụ thường xuyên, vừa lâu dài, vừa cấp bách của một Đảng chân chính. Theo Bác: Sửa ở đây là sửa chữa, khắc phục. Đổi là đổi mới; Lối là phương pháp cách thức; Làm việc là hoạt động của Đảng, lãnh đạo của Đảng. Sửa đổi lối làm việc là để nâng cao sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giúp cho mọi tổ chức và cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình. Nội dung tác phẩm đề cập đến các lĩnh vực về tư tưởng, tổ chức, phương thức, phương pháp lãnh đạo, công tác quần chúng của Đảng trong điều kiện đặc thù của đất nước vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Bác Hồ chỉ ra có 3 loại khuyết điểm mà cán bộ thường gặp, đó là bệnh chủ quan; bệnh hẹp hòi; bệnh ba hoa. Biểu hiện của các loại khuyến điểm đó là: Không đem lý luận thực hành trong cuộc sống; nói, viết dài dòng; tự cao tự đại, coi thường mọi người, dẫn đến chia rẽ, bè phái, đố kỵ; công thần, suy bì, tị nạnh với đồng chí, đồng đội; kể công với Đảng. Nguyên nhân chính dẫn đến các khuyết điểm đó theo Bác là do yếu kém lý luận, khinh lý luận hoặc lý luận suông. Bác cho rằng lý luận chân chính phải xuất phát từ thực tiễn, tổng kết thực tiễn, gắn với cuộc sống, chỉ đạo cuộc sống. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế hàng ngày. Phải biết tổng kết kinh nghiệm ngay trong công việc của mình.

Bác chỉ ra nhiệm vụ của toàn Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên là phải thường xuyên xem xét, sửa đổi lối làm việc; xác định đâu là ưu điểm, đâu là khuyến điểm. Đừng sợ khuyết điểm, không che dấu khuyến điểm, phải tự phê bình, phê bình rộng rãi. Bác cho rằng: Một Đảng mà giấu khuyết điểm là một Đảng hỏng, có gan thừa nhận khuyết điểm, tìm nguyên nhân, quyết tâm sửa chữa khuyết điểm thì Đảng đó là một Đảng tiến bộ.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác rất chú trọng đến vấn đề đạo đức cách mạng. Bác cho rằng, đạo đức cách mạng là cái căn bản, là cái gốc đối với toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, không có đạo đức thì dù giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Theo Bác, đạo đức cách mạng bao gồm 5 tính tốt: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm: Nhân là hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không có việc gì giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dũng là gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa. Cực khổ có gan chịu đựng. Liêm có nghĩa là trong sạch, không tham lam. Bác chỉ rõ “đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, Bác khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Cán bộ tốt phải có đủ đức và tài, trong đó đức là gốc. Vì vậy, phải quan tâm, chú trọng đến tất cả các khâu của công tác cán bộ, từ việc huấn luyện cán bộ; lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ đến việc thực hiện chính sách đối với cán bộ. Bác cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng là lực lượng to lớn của cách mạng, mục đích cách mạng là phục vụ lợi ích của quần chúng. Do đó, muốn cho sự nghiệp cách mạng thành công, Đảng phải có phương thức lãnh đạo đúng đắn và thích hợp; phải biết dựa vào quần chúng, tổ chức cho quần chúng thực hiện mục tiêu của cách mạng. Phải có phương pháp tuyên truyền vận động quần chúng phù hợp. Bác yêu cầu phải học cách nói của quần chúng, dùng lời lẽ dễ hiều, phù hợp với từng đối tượng. Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Bác vừa thể hiện sự kế thừa sâu sắc lý luận Mác – Lênin về xây dựng Đảng, vừa bổ sung, phát triển làm phong phú thêm nhiều vấn đề quan trọng, nhất là vai trò đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đây là tài liệu bổ ích, thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện, hướng dẫn cán bộ, đảng viên phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, giảm bớt những sai lầm khuyết điểm; củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân, huy động được nhiều lực lượng tham gia xây dựng Đảng. Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước, nội dung tác phẩm của Bác vẫn còn nguyên giá trị, giúp cho chúng ta thống nhất về nhận thức và hành động, nhằm đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống; khắc phục các biểu hiện tiêu cực như quan liêu, tham nhũng, lãng phí, độc đoán chuyên quyền, thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật…của một số cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh, trong sạch, gắn bó mật thiết và phục vụ nhân dân được tốt hơn.

Nguồn tin: Người làm báo Ninh Thuận – NT (Đ/máy)

vja.org.vn

“Trung với Đảng, hiếu với dân…”!

Ngày 22.12.1964, nhân dịp kỷ niệm quân đội ta tròn 20 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và khen ngợi “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Người khẳng định: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ hết lòng của nhân dân, quân đội ta hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ trao cho, chiến đấu anh dũng, công tác và lao động tích cực, tiết kiệm, cần cù, khiêm tốn giản dị, đoàn kết nội bộ, đồng cam cộng khổ với nhân dân…

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, mà dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta còn làm tròn chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất, Người nói: “Quân đội ta là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Mới ra đời với gậy tầm vông, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật, đưa cách mạng tháng Tám đến thành công”. Bác còn chỉ rõ là quân đội cách mạng phải biết vượt qua khó khăn thử thách, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. “Bộ đội ta là bộ đội nhân dân, bộ đội cách mạng có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần cù, chất phác, việc khó khăn nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn được giữ vững và phát triển”… – Người nhắc nhở.

Thực tiễn đã chứng minh trải qua hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lời khen của Bác đã trở thành lời thề danh dự của quân đội ta đối với Tổ quốc. Điều đó được thể hiện trong bất luận hoàn cảnh nào, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng luôn luôn một lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, luôn giương cao ngọn cờ bách chiến, bách thắng, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của Đảng, của giai cấp, của dân tộc. Quân đội ta đã cùng với toàn dân hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vươn lên chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, bảo vệ thành quả cách mạng, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang của quân đội anh hùng sinh ra từ một dân tộc anh hùng.

Thấm nhuần lời dạy của Bác đối với quân đội, hơn ai hết, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta thấy được vinh dự và tự hào, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Từ đó, luôn trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực, phương pháp, tác phong công tác theo tư tưởng và đạo đức của Người, góp phần xây dựng quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành tin cậy bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, như lời Người dạy.

  • Hoàng Quân

baobinhdinh.com.vn

“Dân là gốc”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần làm chủ của dân là cốt lõi của vấn đề “dân là gốc”. Người thường nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ”.

Biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải tin ở dân, gần gũi dân, biết dựa vào dân. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn biến đường lối chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng, thành sức mạnh cách mạng thì Đảng phải có đường lối đúng đắn; cán bộ đảng viên “phải liên lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”. Cán bộ, đảng viên còn phải học hỏi dân, “nếu không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”, mà “muốn hiểu biết, học hỏi dân thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm”. Người cũng yêu cầu: người làm chủ trước hết phải làm tròn bổn phận công dân, tức là phải tuân theo kỷ luật lao động; giữ gìn trật tự chung; nộp thuế đúng kỳ, bảo vệ tài sản công cộng; bảo vệ Tổ quốc. “Phải chăm lo việc nước như việc nhà”, “phải biết tự mình lo toan gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”; “làm chủ sao cho ra làm chủ, không phải làm chủ là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, làm bao nhiêu thì làm”.

Từ thực tiễn cuộc sống, Hồ Chí Minh lưu ý: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém… Người lãnh đạo phải dụng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do hạng hăng hái đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém lên”. Phải học hỏi dân chúng, nhưng “không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”; phải “tìm ra mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau, xem cái nào đúng, cái nào sai” để vận dụng.

Do đó, thiết thực nhất của việc bồi dưỡng “cái gốc” là phải thường xuyên chăm lo đời sống cho dân, chăm lo lợi ích chính đáng của dân. Người thường nhắc tới những câu của người xưa “có thực mới vực được đạo”, “dân dĩ thực vi thiên”. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Đối với nhân dân không thể lý luận suông”. Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đời sống của dân. Nếu “dân đói”, “dân rét”, “dân dốt”, “ dân ốm” là “Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm dân là gốc là quan điểm khoa học, toàn diện. Đó là sự kế thừa những tinh hoa dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

  • Hòa Thanh

baobinhdinh.com.vn

Đoàn kết là sức mạnh

Nhân ngày Quốc tế lao động 1.5.1946, Bác Hồ viết lời kêu gọi nhân dân: “Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”. Đoàn kết cũng là nội dung được Người đặc biệt quan tâm trong suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng.

Vấn đề cốt lõi của tinh thần đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng một khối đoàn kết mạnh mẽ nhưng có tổ chức, cương lĩnh, nguyên tắc; có phương châm hành động đúng đắn, cụ thể và phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Vấn đề đó đã được đặt ra ngay từ khi có Đảng, với những tổ chức đoàn kết các thành phần lao động như: Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Phụ nữ, Thanh niên… Và ngày 18.11.1930, theo Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, “Hội Phản đế đồng minh Đông Dương” đã được thành lập, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc chống lại thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai bán nước.

Có thể nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, coi sự đoàn kết là sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù cho dù chúng nham hiểm đến đâu. Giải nghĩa vấn đề “Vì sao phải lấy dân làm gốc”. Người nói thật đơn giản: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Hoặc hình ảnh của sức mạnh đoàn kết được Người thể hiện rất cụ thể, sinh động: Trong một bài thơ kêu gọi đoàn kết, Người ví công việc khó khăn như “hòn đá to, hòn đá nặng”, nếu chỉ một người thì “vác chẳng đặng” nhưng có nhiều người “sẽ vác đặng”. Trong tất cả các bài viết, bài nói của Bác hầu như không có bài nào, trang nào Người không nhắc tới từ “đoàn kết”. Và chính bản thân Người, qua cách sống, làm việc, ứng xử… là tấm gương sáng ngời của tinh thần đoàn kết, khoan dung, nhân hậu, vị tha. Tư tưởng đại đoàn kết của Bác đã được Đảng ta quán triệt sâu sắc trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân ta, dân tộc ta đi đến thắng lợi…

Học tập những lời dạy về đại đoàn kết của Bác, chúng ta cùng nhau phấn đấu thực hiện lời Di huấn thiêng liêng của Người trước lúc đi xa: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

  • Tùng Quân

baobinhdinh.com.vn

5 điều Bác dạy cán bộ

Lâu nay chúng ta hay nhắc đến “5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng” và hầu như đều thuộc từ lúc còn học ở bậc tiểu học. Phải nói rằng đó là những lời dạy thật chân tình, giản dị và vô cùng sâu sắc. Nó như một cẩm nang để các cháu thiếu niên nhi đồng làm theo và trở thành con ngoan, trò giỏi và công dân có ích cho đất nước.

Với đội ngũ cán bộ, Bác cũng có 5 điều căn dặn hết sức quý báu mà mỗi khi soi vào là một lần chúng ta có dịp nhìn nhận lại mình, tự răn mình để sống và làm việc tốt hơn. 5 điều này Bác Hồ nêu ra trong một cuộc nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa vào ngày 20.2.1947. Cụ thể như sau:

1. Mình đối với mình. Bác dặn “Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm”.

2. Đối với đồng chí mình. Bác nêu rõ: “Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh rẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…”.

3. Đối với công việc. Theo Bác: “Trước hết phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế phải tránh…”. Bác đặc biệt lưu ý “Mỗi ngày lúc sáng dậy, tự hỏi mình ngày hôm nay làm gì? Tối đi ngủ phải tự hỏi mình ngày hôm nay đã làm gì?”…

4. Đối với nhân dân. Bác nhấn mạnh “Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân”; do đó, người cán bộ phải hiểu dân cả về nguyện vọng, tâm lý, sự cực khổ… Đặc biệt là “Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết”.

5. Đối với Đoàn thể. Bác hết sức lưu ý “Trước lúc mình vào Đoàn thể nào phải hiểu rõ Đoàn thể ấy là gì? Vào làm gì? Đoàn thể phải vì dân vì nước. Khi vào Đoàn thể, tự do cá nhân phải bỏ. Phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của Đoàn thể. Phải tuyệt đối trung thành”. Đặc biệt là phải “Hy sinh tính mạng, lợi quyền, giữ danh giá của Đoàn thể. Muốn giữ danh giá của Đoàn thể phải giữ danh giá mình. Không được báo cáo láo như làm thành một việc thì phóng đại, thất bại thì giấu đi…”.

Đã hơn 60 năm qua kể từ ngày Bác Hồ dạy cán bộ 5 điều kể trên. Tuy lời nói giản dị, mộc mạc nhưng ý nghĩa thì thật vô cùng sâu sắc. Nó vẫn còn nguyên giá trị đối với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức và tác phong làm việc của người cán bộ, đảng viên trong hoàn cảnh hiện nay. Học tập và nghiền ngẫm những điều Bác dạy, mỗi cán bộ chúng ta càng hiểu mình phải làm gì để tốt hơn.

  • Hà Nhiên

baobinhdinh.com.vn

Sửa đổi lối làm việc với dân

“Sửa đổi lối làm việc” là tác phẩm được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947. Theo nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu “Có thể coi “Sửa đổi lối làm việc” là sự tiếp bước nối dài nhằm hiện thực hóa những mục tiêu, nguyện vọng được đề cập trong “Tuyên ngôn độc lập” ”.

“Sửa đổi lối làm việc” thực chất là sửa đổi lề lối quan hệ với nhân dân. Chính vì vậy, tư tưởng “dân là gốc”, dân làm chủ toát lên từ mọi khía cạnh, mọi nội dung được đề cập trong “Sửa đổi lối làm việc”. Trong tác phẩm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nhân dân là đối tượng trọng tâm của việc sửa đổi lối làm việc. Với năm nội dung chủ yếu như sau:

Cán bộ, đảng viên trước hết phải có lòng tin vào quần chúng nhân dân. Người căn dặn “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”, và phải biết dựa vào ý kiến của dân chúng để chỉnh sửa cán bộ và tổ chức, từ đó không ngừng nâng cao năng lực phục vụ nhân dân.

Cán bộ, đảng viên phải học quần chúng. Người cho rằng, “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng” nên chúng ta phải học, phải hỏi, phải hiểu dân chúng. Người cảnh báo: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng…”

Cán bộ, đảng viên phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với dân. Người nhấn mạnh. “Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình,… còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình”. Có dân chủ, mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến, tạo không khí hăng hái thi đua rộng khắp.

Cán bộ, đảng viên nói và làm gì nội dung cũng phải thiết thực với dân, xuất phát từ lợi ích của dân. Người căn dặn: “Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng… Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”.

Cán bộ, đảng viên đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của quần chúng song tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Người chỉ rõ “Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiên tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu”. Cán bộ, đảng viên lắng nghe ý kiến của quần chúng, song không phải dân nói gì cũng nhắm mắt nghe theo, mà phải biết chọn lựa, vận dụng những ý kiến tích cực, tiến bộ vào công việc, để phục vụ dân tốt hơn.

“Sửa đổi lối làm việc” thực sự là một cuốn cẩm nang quý báu, về phong cách, lối làm việc của toàn bộ hệ thống chính quyền và mỗi cán bộ, đảng viên. Thực hiện thật tốt các lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta sẽ xây dựng được Đảng trong sạch, vững mạnh.

Lê Tùng

baobinhdinh.com.vn

Chăm lo sự nghiệp giải phóng phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Bác Hồ trò chuyện với đại biểu phụ nữ dân tộc thiểu số tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III (1961)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt chăm lo sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Người cho rằng làm cách mạng mà không giải phóng phụ nữ thì mới giải phóng một nửa thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt chăm lo sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Người cho rằng làm cách mạng mà không giải phóng phụ nữ thì mới giải phóng một nửa thế giới và chỉ làm cách mạng giải phóng dân tộc để có độc lập dân tộc thì phụ nữ mới được giải phóng.

Trong các văn kiện thành lập Đảng tháng 2-1930, Bác Hồ đã nêu về phương diện xã hội “thực hiện nam nữ bình quyền”. Đây là một điểm trong 4 điểm Chánh cương đề ra trên phương diện xã hội. Điều đó chứng tỏ, ngay từ khi thành lập Đảng, vấn đề giải phóng phụ nữ được Bác Hồ và Đảng ta hết sức coi trọng trong xây dựng đường lối cách mạng, một nội dung trong đường lối cách mạng, giải phóng dân tộc.

Nét đặc biệt trong tư tưởng giải phóng phụ nữ là Hồ Chí Minh đặt vấn đề giải phóng phụ nữ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Quyền của phụ nữ gắn liền quyền dân tộc độc lập, quyền dân tộc tự quyết. Đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc thì mới thực hiện được quyền bình đẳng của phụ nữ. Trong cách mạng giải phóng dân tộc phải đem toàn bộ sức mạnh dân tộc (nội lực) để tranh đấu, “đem sức ta mà giải phóng cho ta” thì sự nghiệp giải phóng phụ nữ cũng là đem sức mạnh của đoàn kết dân tộc, của khối đoàn kết phụ nữ mà giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, nổi bật và bao trùm lên tất cả là tính nhân văn của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, trong hoàn cảnh bị tù đày hay khi là lãnh tụ tối cao của cách mạng, Bác Hồ đặc biệt quan tâm tới phụ nữ. Người cảm nhận sâu sắc thân phận của người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, nhất là trong xã hội còn chịu ảnh hưởng tàn dư của chế độ phong kiến và đô hộ, áp bức của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo Hồ Chí Minh là cuộc cách mạng giải phóng con người, do đó nếu không giải phóng phụ nữ, một phần nửa xã hội thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội. Và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thật sự đem lại lợi ích, chăm lo lợi ích cho con người, trong đó có phụ nữ được chăm lo, được giải phóng.

Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo sự nghiệp giải phóng phụ nữ khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, bất bình đẳng. Đó cũng là công việc quan trọng trong công cuộc kiến thiết nước nhà, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ là huy động phụ nữ tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo ra nhiều cơ hội cho phụ nữ vươn lên, thật sự bình đẳng với nam giới.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, nổi bật 3 nội dung lớn:
Một là, giải phóng về chính trị. Giải phóng phụ nữ là một bộ phận của giải phóng dân tộc. Bởi vì nước mất, nhà tan, dân là nô lệ, phụ nữ bị đọa đày đau khổ nhất. Giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng phụ nữ. Nước có độc lập thì dân mới có tự do. Dân tộc được giải phóng thì phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong việc ứng cử và bầu cử vào các cơ quan dân cử, hệ thống chính trị theo Hiến pháp, pháp luật.

Hai là, giải phóng về xã hội. Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc tham gia công việc xã hội. Đồng thời bình đẳng trong hôn nhân với chế độ một vợ một chồng. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và Luật Hôn nhân gia đình. Người đã nhiều lần bày tỏ chính kiến trước công luận là phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến và đầu óc gia trưởng, tư tưởng tư sản, trọng nam khinh nữ. Đồng thời phụ nữ phải tự giải phóng, tự vươn lên làm tốt vai trò người phụ nữ trong chế độ mới, chú trọng thiên chức của người phụ nữ trong gia đình.

Ba là, giải phóng tâm lý tự ti, đầu óc phụ thuộc bởi thân phận người phụ nữ trong chế độ cũ, phát huy phẩm chất truyền thống tốt đẹp phụ nữ Việt Nam trong điều kiện xã hội mới, thật sự giải phóng tư tưởng, giải phóng năng lực của phân nửa xã hội để người phụ nữ vươn lên làm chủ bản thân, gia đình, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội.

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, từ giữa thế kỷ XX, trên khắp đất nước Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” xuất hiện ngày càng nhiều. Trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp và Mỹ, đã có hàng triệu phụ nữ giỏi việc nước, đảm việc nhà. Tiêu biểu nhất là các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, hàng vạn, hàng nghìn anh hùng, liệt sĩ là nữ mà tên tuổi của họ còn ghi mãi trong sử vàng dân tộc, làm lay động lòng người hôm nay và mãi về sau.

Trong công cuộc xây dựng nước nhà, tiến hành đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, phụ nữ Việt Nam tỏ ra không thua kém nam giới, vươn lên khẳng định vị trí người làm chủ xã hội, thiên nhiên và gia đình, bản thân. Trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, đời sống, xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật, giáo dục, y tế xây dựng gia đình văn hóa mới đều có và ngày càng nhiều người phụ nữ tiêu biểu cho phẩm chất, năng lực, đạo đức con người mới.

Vì thế, vai trò người phụ nữ ngày càng nâng cao. Trong gần 20 năm qua liên tục có Phó Chủ tịch nước là nữ. Các nhiệm kỳ Đại hội Đảng luôn có nữ là Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và nhiều ủy viên Trung ương, Bộ trưởng, Thứ trưởng; tỷ lệ nữ trong Quốc hội chiếm 25%… Trong xây dựng kinh tế, lao động nữ chiếm tỷ lệ hơn 50% trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và nữ tham gia nhiều nghề mới mà trước chỉ dành cho nam giới. Ở lĩnh vực khoa học, công nghệ, nữ tham gia tới gần 40% và tỷ lệ các nhà khoa học nữ đạt hơn 6%. Đặc biệt trong giáo dục, đào tạo và y tế, nữ chiếm tỷ lệ cao và có nhiều người có trình độ cao…

Tiếp tục phát huy vai trò người phụ nữ trong thời kỳ mới, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, chính sách của Đảng để nâng cao hơn nữa vị thế người phụ nữ Việt Nam. Cũng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong toàn xã hội về vai trò của người phụ nữ trong tiến trình xây dựng xã hội mới, nhất là xây dựng, giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam cũng như xây dựng gia đình văn hóa thật sự là tế bào của xã hội văn minh.

Chúng ta cũng cần thật sự chăm lo cho tổ chức của phụ nữ là hệ thống Hội Phụ nữ Việt Nam, nhất là từ cơ sở thật sự là người đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của phụ nữ, chăm lo ngày càng nhiều hơn, tốt hơn cuộc sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với giới nữ, thực hiện bình đẳng giới thật sự cho một nửa số dân, tạo điều kiện để phụ nữ vươn lên làm tốt vai trò trong xã hội.

PHẠM VĂN KHÁNH
Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh – đại sứ của Việt Nam trên toàn cầu

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh và 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Năm 1990, vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi UNESCO – Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (LHQ) công bố nghị quyết biểu thị lòng tôn kính đối với một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp tự do độc lập, “anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam… và “là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng nhiều nhất của các dân tộc ở thế kỷ XX”… thì những người nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã tự thấy phải điều chỉnh tầm quan sát của mình để không chỉ thấy công lao của Người đối với dân tộc Việt Nam mà còn phải thấy “Người đã góp phần thay đổi diện mạo hành tinh chúng ta” (tuần báo Time-2000-Hoa Kỳ).

Do nhu cầu tạo ra một phương thức hành động mới để bảo vệ sự hòa hợp xã hội và gìn giữ hòa bình trong một thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng trong mọi khía cạnh cuộc sống con người, Đại hội đồng LHQ đã chọn năm 2010 là năm “Thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau” và chỉ định UNESCO là cơ quan tổ chức hoạt động này. Và người được UNESCO đánh giá có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau chính là Hồ Chí Minh. Tối ngày 14-5-2010, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, tổ chức Lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Hans d’Orville, Phó tổng giám đốc UNESCO đọc bản tham luận ca ngợi công lao, sự nghiệp Hồ Chí Minh đã khẳng định “Hồ Chí Minh là người tiêu biểu cho tinh thần hòa giải giữa các nền văn hóa của LHQ… Cả cuộc hành trình trong cuộc đời đã khiến Hồ Chí Minh trở thành công dân của thế giới, đồng thời là đại sứ của Việt Nam trên khắp toàn cầu… Cuộc đời hoạt động chính trị của Người trước hết là nhằm đấu tranh cho quyền lợi con người và quyền của các dân tộc…”. Nhắc lại câu nói nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh và lời tuyên bố: “Việc thống trị, áp bức và bóc lột các dân tộc thuộc địa chính là sự chối bỏ các quyền cơ bản của con người và đi ngược lại với Hiến chương của LHQ” , bản tham luận cho rằng, công lao to lớn của Hồ Chí Minh là đã “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, ủng hộ Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Ảnh: TL.

Rời Tổ quốc qua nước Pháp để tìm đường cứu nước từ ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành không phải là một người mất nước đơn độc mà đã thực sự đại diện cho một khuynh hướng chính trị tiến bộ nhất trong phong trào đòi giải phóng của nhân dân thuộc địa – xây dựng trên một nền tảng văn hóa rất đa diện: Một nền nho học đủ tiếp nhận mọi giáo lý phương Đông; một vốn ngoại ngữ đủ sức giao tiếp với người Pháp; một khuynh hướng chính trị đã bỏ lại sau hàng loạt cuộc khởi nghĩa mang tính dân tộc của các bậc cha anh do mọi đẳng cấp cầm đầu, từ vua quan tới các sĩ phu yêu nước, thủ lĩnh nông dân, các trào lưu chính trị từ “bất bạo động” kiểu Phan Chu Trinh đến “Đông Du cầu viện” của Phan Bội Châu… (với Nguyễn Tất Thành, tất cả các trào lưu chính trị ấy tuy không thiếu lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, nhưng vẫn chưa hội đủ các yếu tố khả dĩ đương đầu với nền thống trị vừa tinh vi toàn diện vừa rất chuyên nghiệp của thực dân, đế quốc). Theo Người, muốn đánh bại kẻ thù, tất phải nắm trong tay một bí quyết gì lớn mạnh hơn chúng. Đó là cái Nguyễn Tất Thành đã tìm thấy từ Lê-nin.

Cuộc xuất trình “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” trước hội nghị Véc-xây đối với Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một cuộc trinh sát thực địa để thăm dò phản ứng của đối phương và sau khi biết rõ phải tiến hành một cuộc đấu tranh không khoan nhượng thì anh Nguyễn đã tiến hành một cách có hệ thống quá trình vừa sáng tạo lực lượng, vừa tiến công vạch mặt chúng từ nhiều hướng, nhất là thông qua những bài chính luận trên Báo Nhân đạo.

Được những tin tức về cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga cổ vũ, qua việc gia nhập đảng Xã hội Pháp vào năm 1919, anh Nguyễn đã tận dụng mọi diễn đàn và mọi mối quan hệ để tranh thủ làm rõ tình hình thuộc địa còn rất xa lạ với mọi người Pháp ở chính quốc; tham gia thành lập “Hội những người Việt Nam yêu nước” và chuẩn bị cẩn thận mọi tư liệu để biên soạn “Bản án chế độ thực dân Pháp”, chủ động tham gia “Ủy ban đấu tranh gia nhập Đệ tam quốc của Đảng Xã hội Pháp”, trở thành đảng viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại đại hội Tua ngày 30-12-1920, rồi chủ trì ra Báo Người cùng khổ vào tháng 4-1922, làm diễn đàn của cư dân thuộc địa ngay trên đất Pháp…

Nhân dịp đại biểu cánh tả của nông dân hơn 20 nước châu Âu và châu Á tới dự triển lãm nông nghiệp toàn Nga và tiến hành Đại hội Quốc tế Nông dân tại Mát-xcơ-va (tháng 10-1923), tại buổi họp thứ hai của Đại hội, anh Nguyễn thay mặt Đông Dương thuộc Pháp chỉ rõ “hai tầng áp bức” mà nông dân các thuộc địa phải chịu: Tầng thứ nhất với tư cách nông dân, tầng thứ hai với tư cách nông dân một nước thuộc địa và ra lời kêu gọi: “Quốc tế của các đồng chí chỉ thực sự trở thành Quốc tế khi mà không những nông dân phương Tây mà cả nông dân phương Đông, nhất là nông dân ở các nước thuộc địa là những người bị bóc lột và áp bức nhiều hơn các đồng chí đều tham gia Quốc tế”. Tại Đại hội này Nguyễn Ái Quốc thay mặt các nước châu Á được bầu vào Chủ tịch đoàn của Quốc tế Nông dân. Phóng viên Tạp chí Ngọn lửa nhỏ đã phỏng vấn Nguyễn Ái Quốc – với tư cách “thành viên Quốc tế Cộng sản đầu tiên người Đông Dương”. Và người phóng viên đã có nhận xét nổi tiếng trong bài phỏng vấn Người: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị… Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”…

Cuộc trường chinh 30 năm của người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước trải qua bao thăng trầm để đến khi trở về Tổ quốc đã “quá tuổi lên lão”. Nhưng đổi lại, con đường giải phóng dân tộc Việt Nam đã mở, tổ chức lãnh đạo đã thực sự hình thành, lực lượng từ trong nước và ngoài nước đang được động viên rộng rãi, người tìm đường đã thực sự trở thành lãnh tụ dẫn đường không chỉ được trong nước suy tôn mà nhiều nhà cách mạng thế giới đều biết tiếng…

Về đến Cao Bằng ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo cuộc chuyển hướng chiến lược từ cách mạng giai cấp sang giải phóng dân tộc, thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, phát triển các đoàn thể cứu quốc, xây dựng các đội vũ trang cách mạng làm nhiệm vụ đội quân công tác… Cuối tháng 8-1942 tìm đường sang Trung Quốc bắt liên lạc với các lực lượng cách mạng, bị bắt và tới tháng 7-1944, Hồ Chí Minh đã kịp trở về uốn nắn cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, phát triển căn cứ địa Việt Bắc thành khu giải phóng, xóa bỏ chính quyền cũ, xây dựng chính quyền dân chủ, thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, quyết định Tổng khởi nghĩa…

Với nhãn quan chiến lược của nhà cách mạng lão thành, có sự cộng tác của một Bộ tham mưu được đào tạo bài bản, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã nổ ra vào lúc kẻ thù cũ (thực dân Pháp) đã bị phát xít hạ gục, kẻ thù mới (Nhật) bị bẻ gãy tới những lực lượng cuối cùng, sự diễn biến khởi nghĩa toàn dân đã đạt tới trình độ nghệ thuật so với các cuộc cách mạng trong thời hiện đại: Chính quyền cả nước trong 58 tỉnh đã giành được trong vòng 10 ngày (từ 19-8 tới 28-8) hầu như không gặp sự phản kháng nào đáng kể của các thế lực đối lập, trong khi quân Nhật ở Đông Dương vẫn còn hơn 10 vạn, chưa được lệnh hạ vũ khí.

Tính chất nhân dân của cuộc Tổng khởi nghĩa đã được nhà nghiên cứu Stein Tonnesson tường thuật tỉ mỉ trong một tác phẩm xuất bản năm 1991 tại Luân Đôn về “Cuộc cách mạng Việt Nam 1945” có đoạn viết: “Trong 58 tỉnh của Việt Nam, không dưới 28 tỉnh chủ yếu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, ở đây người dân nổi dậy đầu tiên trong phạm vi các làng, huyện rồi sau đó là thị xã, ở 7 tỉnh khác, cuộc nổi dậy bắt đầu từ thị xã rồi sau đó mới lan tới các làng, huyện” (1).

So với những cuộc cách mạng trong thời hiện đại ở thế giới, hiếm có cuộc cách mạng nào diễn ra thuận lợi, ít đổ máu như Cách mạng Tháng Tám. Ở đó, tiếng tăm về cuộc đời hoạt động của lãnh tụ đã có sức quy tụ lực lượng, cho đến nhà vua cũng sẵn sàng thoái vị. Cũng do sự chèo chống đầy kinh nghiệm của Hồ Chí Minh mà tất cả các âm mưu xâm lược và tái chiếm Việt Nam của mọi thế lực đế quốc, phản động đều lần lượt thất bại, hoặc bằng ngoại giao mềm dẻo, hoặc bằng kháng chiến kiên cường để nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đứng vững và phát triển.

Và cũng như lời khẳng định của Stein Tonnesson: “… Nước Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945 là giai đoạn đầu tiên mở đầu cho làn sóng xóa bỏ chế độ thuộc địa ở Á châu, tiếp theo là Phi châu” (2), do kích thích dây chuyền của Cách mạng Tháng Tám Việt Nam và In-đô-nê-xi-a (17-8), Nê-pan giành độc lập cuối 1945, Phi-líp-pin vào năm 1946, Mi-an-ma và Ấn Độ vào năm 1947, Triều Tiên, Xri Lan-ca vào năm 1948. Sau khi thực dân Pháp bị thất bại phải rút khỏi Việt Nam vào năm 1954 thì ở châu Á, Pa-ki-xtan giành độc lập năm 1956, Ma-lai-xi-a năm 1957. Ở châu Phi, An-giê-ri tuyên bố độc lập cuối năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi năm 1962, Ma-rốc giành độc lập năm 1956, Tuy-ni-di 1957, Ghi-nê 1958, Gha-na 1959, các nước Ma-li, Ga-bông, Mô-ri-ta-ni, Xê-nê-gan, Ma-đa-ga-xca đều vào năm 1960, U-gan-đa 1962, Kê-ni-a 1963. Các nước còn lại lần lượt đứng dậy cho đến những năm 90 của thế kỷ XX chỉ còn 3 nước chậm nhất là Na-mi-bi-a (1990), Ê-ti-ô-pi-a (1991), Ê-ti-tơ-ri-a (1993).

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh (19-5-1890/19-5-2011) và 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011), chúng ta càng tự hào về sự đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ với cách mạng Việt Nam mà cả với cách mạng thế giới vì sự bình đẳng và tiến bộ của con người.

———————————-

(1) Stein Tonnesson. Cuộc cách mạng Việt Nam 1945. Ru-dơ-ven, Hồ Chí Minh và Đờ Gôn trong thế giới có chiến tranh. Viện Nghiên cứu Hòa Bình Thế giới Oslo, NXB Sage Luân Đôn 1991, Bản dịch của Viện Lịch sử Đảng, tr 100.

(2) Sđd Tr 113-114.

Thiếu tướng, GS BÙI PHAN KỲ

qdnd.vn

Bác Hồ từng hoạt động cách mạng tại Lào

QĐND – Những năm làm phóng viên thường trú tại Thủ đô Viêng Chăn, tôi có nhiều dịp gặp nhà văn lão thành Lào Xu-văn-thon Bu-pha-nu-vông. Ông kể cho tôi nghe chuyện Bác Hồ đến thăm lớp học chính trị của Lào sơ tán tại Phu La, Tuyên Quang sau sự kiện thành lập Neo Lào Ít-xa-la và Chính phủ kháng chiến của Pa-thét Lào năm 1950. Sau khi hỏi thăm sức khỏe, tình hình học tập của mọi người, Bác Hồ nói: “Tôi biết tiếng Thái và tiếng Lào, nhưng lâu rồi không nói. Tôi cũng đã từng nhiều lần ngủ qua đêm ở chùa In-pông, thủ đô Viêng Chăn…”. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ từng bôn ba đến rất nhiều nước trên thế giới, nhưng trước đó tôi chưa một lần nghe nói Bác đã hoạt động ở Lào.

Tôi trao đổi câu chuyện của nhà văn Xu-văn-thon với ông Xi-xa-nạ Xi-xán, một lão thành cách mạng, tác giả của Quốc ca Lào, người có nhiều năm gần gũi với Chủ tịch Xu-pha-nu-vông và Tổng bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Ông cho biết: Những năm đồng chí Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Thái Lan, Người đã nhiều lần triệu tập các đồng chí Lào ở Viêng Chăn tới Noỏng Khai (Thái Lan) để nghe báo cáo tình hình ở Lào. Người đã chỉ đạo các đồng chí Lào đẩy mạnh tuyên truyền, giác ngộ nhân dân về tinh thần yêu nước và xây dựng cơ sở. Người đã từ Thái Lan sang Pắc Xế, rồi lên Xa-vẳn-na-khệt, đến Xiềng Vang, phía nam thị xã Thà Khẹt, tỉnh Khăm Muộn để trực tiếp tìm hiểu thực tế tình hình đời sống nhân dân Lào.

Bác Hồ và đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Ảnh tư liệu

Đọc hai tác phẩm Cay-xỏn Phôm-vi-hản Tiểu sử và sự nghiệp và Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài của PGS, TS Đức Vượng, nguyên Chánh Văn phòng Hội đồng lý luận Trung ương, hiện là Viện trưởng Viện khoa học nghiên cứu nhân tài, nhân lực, có nhiều chi tiết giúp tôi sáng tỏ điều ấp ủ tìm hiểu trong nhiều năm qua. Ngày 25-4-1928, Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản mới có quyết định cử Nguyễn Ái Quốc trở về Đông Dương hoạt động. Để che mắt bọn mật thám, cuộc hành trình về phương Đông phải qua nhiều nước, mãi tới tháng 7-1928, Người mới tới Băng Cốc. Rời Băng Cốc, Người ngược lên phía bắc tới bản Pa-ma-khạp (tỉnh Phít-xa-nu-lốc), bản Noon-gon (tỉnh U-đon Tha-ni), bản Na-choọc, tỉnh Na-khon Phạ-nôm, sát bờ sông Mê Công…

Trong những ngày hoạt động ở Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc dành nhiều thời gian tuyên truyền, giác ngộ lòng yêu nước cho kiều bào ta, chọn ra những người tiên tiến nhất để đào tạo họ trở thành những cán bộ nòng cốt. Những ngày hoạt động ở Na-khon Phạ-nôm, Người đã đi đò qua sông Mê Công sang tỉnh Khăm Muộn, Lào. Đến bản Xiềng Vang, xã Xiềng Mương, huyện Noỏng Bốc, Người gặp gỡ bà con người Lào và người Việt sinh sống ở đây. Nói chuyện với bà con, Người căn dặn người Lào và người Việt phải đoàn kết giúp đỡ nhau, chung sức chung lòng đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi Lào, ra khỏi Việt Nam, giải phóng hai nước thoát khỏi ách nô lệ. Người phổ biến kinh nghiệm cho bà con về việc tổ chức các đoàn thể yêu nước và đoàn thể cách mạng tại Lào.

Theo báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản, Người ở Thái Lan đến tháng 11-1929, sau đó Người đến Lào hoạt động một thời gian. Tại Lào, Người nhận xét “dân cư rất phân tán, hầu hết theo đạo Phật”. Từ Lào, Người rất muốn về Việt Nam hoạt động nhưng không thể do bọn mật thám của thực dân Pháp hoạt động mạnh. Không về nước được, Người tới Hồng Công (Trung Quốc) để thống nhất ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930. Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp tháng 10-1930 thông qua Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Hòa nhịp với cao trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, từ những năm 1930, những cán bộ ở Lào từng được Nguyễn Ái Quốc đào tạo và những cán bộ giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lê-nin do Người truyền bá, đã lãnh đạo phong trào đấu tranh ở Viêng Chăn, Bò Nèng, Phôn Tịu, Thà Khẹt, Pắc Xế, Xiêng Khoảng. Công nhân làm đường Lạc Xao đấu tranh ủng hộ cao trào Xô-viết Nghệ-Tĩnh năm 1931. Tháng 9-1934, Ban chấp hành Đảng bộ lâm thời Lào, sau thời gian bị địch khủng bố phân tán, được củng cố để lãnh đạo nhân dân tiếp tục đấu tranh. Tháng 2-1935, Xứ ủy lâm thời Lào họp, cử đại biểu đi Ma Cao dự đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 9-1935, Đảng bộ Lào có hai Tỉnh ủy là Viêng Chăn và Xa-vẳn-na-khệt và các tổ chức đảng ở Bò Nèng, Phôn Tịu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tuy bị địch khủng bố gắt gao, phong trào đấu tranh vẫn lan rộng, lực lượng cách mạng phát triển, dẫn tới việc thành lập Đảng Nhân dân Lào, tiền thân là Đảng Cộng sản Đông Dương.

Về câu chuyện Bác Hồ từng hoạt động ở Lào, PGS,TS Đức Vượng còn cho biết, ngày 9-7-2009, trong chuyến đi công tác tại Lào, ông đã đến bản Xiềng Vang, xã Xiềng Mương, huyện Noọng Bốc, tỉnh Khăm Muộn để khảo sát nơi mà Nguyễn Ái Quốc đã đến gây dựng cơ sở cách mạng tại Lào. Nơi đây, Đảng và Nhà nước Lào đang xây dựng Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghĩa cử cao đẹp của Đảng và Nhà nước Lào quyết định xây dựng Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh theo nguyện vọng của cán bộ và nhân dân các bộ tộc Lào, bày tỏ sự biết ơn và ghi nhận những cống hiến to lớn của Người đã khai sáng và dày công vun đắp cho quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt-Lào thủy chung, trong sáng.

Nguyễn Thế Nghiệp

qdnd.vn