Tag Archive | Thời sự

Xã hội vǎn hoá Mỹ (5-11-1951)

XÃ HỘI HÔI THỐI

Thủ đô là nơi tiêu biểu của một nước. ở Hoa Thịnh Đốn, thủ đô Mỹ, lâu đài nguy nga thì có Phủ Tổng thống (gọi là “Nhà trắng” vì làm bằng đá trắng), Quốc hội, Bộ Quốc phòng (gọi là “Lầu 5 góc”). Nhưng không có cửa hàng to, xưởng máy to, nhà cao sáu, bảy mươi tầng như các thành phố khác. Cũng không có nhà hát lớn. Quốc hội và Chính phủ Mỹ ở đó, nhưng quyền chỉ huy thực sự kinh tế và chính trị Mỹ lại ở phố Uôn (Wall Street) tại Nữu Ước, trong tay bọn đại tư bản. Trông qua thì thấy thủ đô Mỹ nhà cửa sạch sẽ, đường sá thẳng thắn, hoa cỏ thơm tươi. Nhưng đó chỉ là bức màn gấm phủ trên đống rác.

Báo Mỹ Bạn của phụ nữ (2-50) viết: “Nếu đi sâu vào thủ đô giữa những phố phường xa hoa kia, ta thấy những chỗ ở bẩn thỉu không thể tả. Ta thấy những nhà thương thiếu thốn đến nỗi thầy thuốc nhìn người ốm mà khóc. Ta thấy ở nhà thương Galinghe, có người vì không có thuốc mà thân thể thối nát dần đến chết… Ta thấy “dân chủ thật sự” ở chỗ người da đen, da vàng không được vào các tiệm ǎn, các nhà ngủ, các rạp hát, các trường học của người da trắng!…”.

Nǎm 1950, sau khi đi thǎm khắp thủ đô, mấy đại biểu Quốc hội Mỹ đã phải thốt ra:

“Hôi thối quá, hôi thối không thể tả… Như thế, sao mà người ta vẫn sống được?… Thật là nhục nhã cho nước ta!…”.

Ở Hoa Thịnh Đốn, cái tệ chia rẽ mầu da rất trắng trợn. Vài thí dụ: một lần, đại sứ Abixini bị đuổi ra khỏi một rạp hát, vì ông ta da đen(!). Một phụ nữ da đen đau đẻ, nhưng nhà hộ sinh gần bên nhất định không nhận. Bà ấy phải đẻ ở bên đường. ở thủ đô, có nghĩa địa riêng cho người da trắng, riêng cho người da đen, và riêng cho chó.

Nếu tính theo số dân thì Hoa Thịnh Đốn là nơi nhiều tội ác nhất nước Mỹ. Theo tạp chí Thủ đô bí mật nǎm 1936, thủ đô có 7.000 án giết người; nǎm 1950, có 13.000 án, tức là cứ 11.000 người là có 1 án.

VĂN HOÁ SUY ĐỒI

Một nhà vǎn hoá nổi tiếng ở Mỹ là ông Phát (Fast) viết trong tạp chí Châu Âu: ” … Chưa bao giờ vǎn nghệ Mỹ thấp kém, bần tiện như bây giờ. Chỉ xem qua “trang Vǎn nghệ của tờ Nữu Ước thời báo thì đã rõ: một nửa là những lời vu khống Liên Xô và cộng sản, một phần là những tiểu thuyết nhạt nhẽo, một phần là tuyên truyền mê tín, còn một phần là vǎn chương dâm đãng. Những tiểu thuyết gọi là khoa học thì ca tụng chiến tranh đế quốc và bom nguyên tử. Phim ảnh, phát thanh, tạp chí cũng đều như vậy”.

Những nhà viết sách, viết sử, những nhạc sĩ, hoạ sĩ, những nhà vǎn hoá giáo dục bị buộc phải nói xấu Liên Xô, ủng hộ chiến tranh, phản đối hoà bình. Nói hay viết đến nhân đạo, dân chủ, hoà bình, là có tội.

Có những tổ chức phát xít kê rõ tên những nhà vǎn hoá tiến bộ, và gửi những “sổ đen” ấy cho Chính phủ và các chủ tư bản. Kết quả: những nhà vǎn hoá ấy nhẹ là thất nghiệp, nặng là ở tù.

Các hiệu sách kiểm soát sách thật kỹ, sợ có chút gì về đạo đức lọt vào trong nội dung những sách đó. Các nhà làm phim chiếu bóng thì cố ý đưa vào trong phim những chuyện tàn ác, dâm đãng, và những chương trình chiến tranh của Chính phủ Mỹ, không thế không yên.

Trước những tội ác như làm án tử hình 7 người da đen vô tội ở Máctanhvin (Martins-ville) và 6 người ở Tơrǎngtông (Trenton), trước sự bạo ngược như bỏ tù những lãnh tụ Đảng cộng sản, một số vǎn hào – như Xincle (Upton Sinclair) ngậm câm, không dám hở môi.

Vǎn hoá Mỹ ngày nay là vǎn hoá của bọn đại tư bản, bọn gây chiến tranh, bọn giết người…

Tuy vậy, vẫn có những nhà vǎn hoá Mỹ quang minh chính đại, thà hy sinh tất cả, chứ không chịu cúi đầu quỳ gối trước cường quyền. Có hơn trǎm giáo sư – như ông Gunlách, giáo sư đại học – chịu ở tù chứ không chịu khuất. Một số vǎn nghệ sĩ tài giỏi như ông Xáctôn (Saxton), ban ngày đi làm công trên xe lửa, ban đêm thì viết sách. Những người tài tử như ông Xinva (Silva) chỉ vào mặt “Ban điều tra tinh thần” (một tổ chức khủng bố của chính phủ Mỹ) và thét lên: “Cút đi!”, rồi khoan thai bước vào nhà tù.

Ngày nay, vǎn hoá Mỹ rất suy đồi, nhiều nhà vǎn hoá Mỹ rất truỵ lạc. Song mầm mống vǎn hoá tương lai của Mỹ, vǎn hoá mới và chân chính, đang chớm nở trong giai cấp công nhân và trong dân tộc da đen, và những bạn đồng minh của họ.

Xã hội Mỹ hôi thối như thế, vǎn hoá Mỹ suy đồi như thế, mà đế quốc Mỹ cứ khoe là “vǎn minh” và đi truyền bá “vǎn minh” cho các nước khác. ở ta, trong vùng tạm bị chiếm, Mỹ đã cho sang nhiều báo chí, phim dâm đãng, truỵ lạc để đầu độc thanh niên ta. Chúng ta phải kiên quyết tẩy chay những thứ đó.

C.B.

Báo Nhân dân, số 31, ngày 5-11-1951.
cpv.org.vn

Điện mừng nhân dịp kỷ niệm 34 nǎm cách mạng xã hội chủ nghĩa (7-11-1951)

Gửi: Đại nguyên soái Xtalin,

Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Xã hội chủ nghĩa nǎm thứ 34, tôi kính thay mặt nhân dân và Chính phủ Việt Nam trân trọng và vui vẻ chúc mừng Ngài và Chính phủ cùng nhân dân Liên Xô.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Ngài và Đảng Cộng sản bônsêvích, nhân dân Liên Xô đang tiến mạnh sang chủ nghĩa cộng sản. Sự thành công vẻ vang của Liên Xô tức là một sự khuyến khích và giúp đỡ to lớn cho công cuộc xây dựng của các nước dân chủ mới, công cuộc giải phóng của các dân tộc bị áp bức, và công cuộc giữ gìn hoà bình của nhân dân toàn thế giới.

Noi theo gương anh dũng của nhân dân Liên Xô, nhân dân Việt Nam kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng, để tranh lại thống nhất và độc lập thật sự.

Kính chúc Ngài mạnh khoẻ và sống lâu.

Ngày 7 tháng 11 nǎm 1951
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1944, ngày 7-11-1951.
cpv.org.vn

Báo chí Lào ca ngợi công ơn đạo đức Hồ Chí Minh

Nhân kỷ niệm lần thứ 122 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các báo của Lào đã đăng nhiều bài viết về công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, cách mạng Lào và tấm gương đạo đức cao cả của Người.

Một bài báo ca ngợi BHMột bài báo ca ngợi Bác Hồ. (Ảnh: Hoàng Chương/Vietnam+)

Các báo Pasason, Pathet Lao ngày 18 tháng 5 đã đăng các bài viết ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, một con người chí công vô tư có nếp sống giản dị, khiêm tốn là tấm gương sáng cho tất cả chúng ta noi theo.

Báo Lao Phatthana cũng có bài viết “Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo chí” ôn lại những lời dạy của Người đối với những người làm báo để trở thành những nhà báo trung thực.

Báo VientieneMai viết về đạo đức cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu rõ Người đã dành trọn cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Việt Nam, sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Đông Dương và các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà lý luận vĩ đại, nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc, là Anh hùng của dân tộc Việt Nam, chiến sỹ cách mạng kiệt xuất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Người luôn có niềm tin sâu sắc đối với nhân dân, gần gũi và quan tâm đến nhân dân; là tấm gương sáng về những đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết đấu tranh chống nạn quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí, coi những căn bệnh đó là kẻ thù bên trong.

Đạo đức cách mạng cao quý, tinh thần anh dũng, sự giản dị, và tính nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhân dân Việt Nam, nhân dân Đông Dương và nhân dân tiến bộ trên thế giới tôn kính, quý trọng sâu sắc./.

Theo Vietnam+/VTN
Kim Yến

bqllang.gov.vn

Bác Hồ qua tranh cổ động độc đáo, xúc động

Nhân dịp kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phóng viên Hà Thành, Báo điện tử TS đã thực hiện 9 bức tranh cổ động, nêu lại khái quá trình Người tìm đường cứu nước và trở thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

logo 1
Bức tranh vẽ bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh

 logo 2
Ngày 5/6/1911, chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành, lấy tên là Văn Ba, từ bến Sài Gòn, theo tàu buôn Latouche – Treville vượt biển sang Pháp, bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước. Sau này, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi cuộc ra đi của chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành là “Người đi tìm hình của nước”.

logo 3
Năm 1920, khi đã đổi tên thành Nguyễn Ái Quốc, người đã đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lenin, từ đó, Người đi theo chủ nghĩa Cộng Sản và lấy đó làm kim chỉ nam cho đường lối cách mạng của Người
và dân tộc về sau

logo 4
Ngày 13/8/1942, Người lấy tên là Hồ Chí Minh, sang Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Hoa Dân Quốc. Ngày 29/8/1942, Người bị Trung Hoa Dân Quốc bắt và giam hơn một năm, trải qua 30 nhà tù. Thời gian này,
Người đã viết “Nhật ký trong tù”.

logo 5
Ngày 2/9/1945, Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa.

75288553-m04
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, 
ai cũng được học hành.

75288553-m03
Hồ Chủ tịch, biểu tượng của sự giản dị, đức hy sinh

75288553-m05
Hồ Chủ tịch – Biểu tượng của tình yêu bao la

75288553-m01
Hồ Chủ tịch – Người làm rạng danh nong sông, đất nước Việt Nam. Nước Việt Nam tự hào có tên Người.

Theo Hà Thành vtc.vn
Kim Yến (st)
cpv.org.vn

“Tôi không dám tin Bác biết tên một nông dân như mình”

“Nghe Bác gọi tên, tôi không dám tin Bác biết tên mình. Tôi lúng túng đứng lên, tà áo dài vướng vào mép bàn gỡ mãi không ra. Bác cười dí dỏm: “Cháu là nông dân, cháu mặc áo dài đi cày, nó cuốn vào cày thì cháu làm sao?”.Đó là một trong những kỷ niệm về lần gặp Bác Hồ đầu tiên của bà Nguyễn Thị Kim Dung. Tại ngôi nhà riêng ở thôn Trung Thành, xã Nam Phong, thành phố Nam Định, chúng tôi được nghe những kỷ niệm sâu sắc về quãng đời hoạt động cách mạng của bà. Đặc biệt là niềm tự hào và hạnh phúc hai lần được gặp Bác Hồ.

Toi khong dam tin1Bà Dung bên bức ảnh chụp cùng Bác.

Sinh năm 1938 ở xã Hải Tây (Hải Hậu – Nam Định), năm 1962, với nhiều thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất cũng như các phong trào Đoàn và Hội Phụ nữ của địa phương, bà được kết nạp vào Đảng.

Trong điều kiện đất nước có chiến tranh, chồng công tác xa nhà, các con còn nhỏ, song bà luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Từ các phong trào: “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Mỗi người làm việc bằng hai”… bà đã trở thành tấm gương sáng trong sản xuất và chiến đấu với nhiều thành tích như: “Đảng viên bốn xuất sắc”, “Phụ nữ 5 tốt, 3 đảm đang”…

Năm 1964, bà được Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nam Định giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa III và bà đã trúng cử. Đây cũng chính là lần đầu tiên bà Dung được gặp Bác Hồ.

Người đàn bà với mái tóc đã điểm bạc, bồi hồi xúc động lật dở những kỷ vật được xem như là báu vật của dòng họ nhớ lại: “Lần đầu tiên gặp Bác, chúng tôi không hề được báo trước. Buổi tối của phiên họp Quốc hội đầu tiên, chúng tôi đang nghỉ ngơi ở khách sạn Kim Liên thì đồng chí Phan Điền – Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Nam Định tới nói với tôi, chị Trà và chị Thạc “Sáng mai các đồng chí phải ăn mặc chỉnh tề để đi nhận nhiệm vụ đặc biệt”.

Nghe xong “Chỉ thị” chúng tôi nhìn nhau không biết ngày mai sẽ làm nhiệm vụ đặc biệt gì. Sáng hôm sau mới 8 giờ sáng, xe đã đến đón đưa chúng tôi đi qua Ba Đình, rồi đi vòng tới Phủ Chủ tịch và dừng lại ở cổng sau nhà sàn của Bác.

Một đồng chí cảnh vệ lại mời chúng tôi xuống xe và nói hôm nay Bác sẽ gặp mặt Đoàn Đại biểu Quốc hội trẻ tuổi. Lúc này chúng tôi mới biết sẽ được gặp Bác Hồ. Lúc đó tâm trạng của mọi người rất hồi hộp và phấn chấn. Khu đặt tiệc bày sẵn với những chiếc ghế và dãy bàn được bày biện rất đẹp, bên trên là những đĩa bánh kẹo.

Toi khong dam tin2Bức ảnh Bác chụp cùng Đoàn Đại biểu Quốc hội trẻ tuổi
(Ảnh tư liệu do nhân vật cung cấp).

Toi khong dam tin3Thẻ đại biểu Quốc hội khóa III – kỉ vật được bà Dung giữ lại làm kỉ niệm.

Tất cả mọi người sau khi ổn định chỗ ngồi ai cũng thấp thỏm mong được nhìn thấy Bác. Vừa lúc đó, Bác xuất hiện trong bộ quần áo nâu giản dị, vẫy tay chào mọi người. Chúng tôi quây quần nghe Bác hỏi chuyện từng đại biểu.

“Đến lúc Bác gọi đến tên tôi lần thứ nhất, nhưng lúc đó tôi không nghĩ là Bác gọi đến tên mình, làm sao Bác biết đến một người nông dân như mình nên tôi không dám đứng lên, Bác gọi tới lần thứ 2 tôi vẫn không dám đứng lên, phải đến lần thứ 3 khi các anh, chị ngồi cạnh tôi bảo chị Dung, Bác gọi gì chị kìa, tôi mới dám đứng lên nhưng không may cái áo dài của tôi lại bị vướng vào mép bàn, tôi gỡ mãi không được, phải nhờ tới mấy người xung quanh gỡ giúp mới được. Bác nhìn tôi cười rồi Người hỏi: “Cháu là Kim Dung? Tôi lễ phép trả lời: “Dạ, thưa Bác vâng ạ!”. Bác lại dí dỏm nói: “Cháu là nông dân, cháu mặc áo dài đi cày nó cuốn vào cày thì cháu cày làm sao?”.

Lúc đó tất cả mọi người đều cười làm cho tôi lúng túng xấu hổ không biết trả lời như thế nào thì Bác cười đôn hậu bảo: “Thôi, Bác đùa đấy, thế chi bộ Vạn Phong và Đảng bộ Nam Phong vẫn 4 tốt chứ?”. Lúc đó tôi vừa lúng túng vội trả lời: “Thưa Bác vâng ạ!”.

Nở nụ cười mãn nguyện, bà tiếp câu chuyện: Thực sự lúc đó tôi cũng không biết phải trả lời như thế nào vì được gặp Bác, được nói chuyện với Bác tôi vừa vui mừng, vừa hồi hộp. Sau một hồi nói chuyện, Bác cùng chúng tôi ra trước phủ Chủ tịch để chụp ảnh lưu niệm. Đó là lần đầu tôi được gặp Bác và cũng là lần đầu tiên tôi được Bác cầm tay và căn dặn: “Cháu phải cố gắng học tập để có đủ trình độ năng lực làm người Đảng viên tốt, người đại biểu Quốc hội tốt, nhưng Bác cũng phê bình cháu, cháu ít tuổi có nhiều con, mà nhiều con thì không tiến bộ được đâu cháu ạ. Phải sinh đẻ có kế hoạch thì mới có điều kiện học tập và công tác tiến bộ được.

Giây phút được Bác cầm tay ấy bà cảm nhận được sự ấm áp như tình cảm Cha – con và Người đã truyền cho tôi một sức mạnh làm tôi không còn run và sợ như lúc ban đầu nữa. Sau đó tôi cùng 3 người nữa được chụp ảnh riêng cùng Bác”.

“Lần thứ 2 là vào năm 1968. Khi ấy tôi được Đảng bộ tỉnh Nam Định cử đi dự Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng 4 tốt toàn miền Bắc. Sau giờ giải lao mọi người ai cũng háo hức mong được gặp Bác. Tôi đang đứng ở tiền sảnh thì đồng chí Lê Hoành – Chuyên viên Ban tổ chức chạy tới và bảo: “Bác đang hỏi cô, cô vào ngay để gặp Bác. Vừa trông thấy tôi Bác liền hỏi: “Chồng con cháu vẫn khỏe và công tác tốt chứ?. Tôi đáp lại: “Thưa Bác vẫn tốt ạ!”.

Toi khong dam tin4Bà Dung với những phần thưởng cao quy được trao tặng.

Bà cho chúng tôi xem một số kỉ vật, bút tích và hình ảnh trong những lần gặp Bác còn lưu giữ đến nay. Cùng với đó là những phần thưởng cao qúy của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ, ngành Trung ương và tỉnh Nam Định trao tặng bà.

Chỉ vào bức tranh truyền lại từ bức ảnh bà chụp ảnh cùng Bác treo trang trọng trên tường phòng khách: “Đó là bức tranh mà ông nhà tôi đã dùng cả tháng lương để đi truyền lại. Ông nhà tôi bảo, đó là báu vật của cả dòng tộc nhà ta, nó sẽ là gương sáng cho con cháu noi theo, nếu không truyền lại sau này nó mối mọt mất mát đi thì không bao giờ còn lưu giữ lại được nữa”.

Những lời răn dạy và tấm gương đạo đức của Người đã tỏa sáng, giúp bà vượt qua bao khó khăn, gian khổ của chặng đường hoạt động cách mạng. Cho đến khi nghỉ hưu năm 1993, bà vẫn tham gia các hoạt động của địa phương như Bí thư chi bộ thôn Trung Thành, Ban Chấp hành Hội khuyến học của xã trong nhiều năm liền… Hiện nay, bà Dung đã 75 tuổi đời và 50 tuổi Đảng, tuổi đã cao, sức khỏe không tốt nên bà xin nghỉ, sống vui vầy cùng con cháu./.

Theo Trần Huệ – Đức Văn/ Báo Dân trí
Huyền Trang (st)
cpv.org.vn

Thơ Bác Hồ gửi ông bà Phan Anh

Luật sư Phan Anh là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Sau đó, ông đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng các Bộ Kinh tế, Thương nghiệp, Ngoại thương và Phó Chủ tịch Quốc hội. Ông là người được Bác Hồ yêu mến và trọng dụng.

anhtho Bac Ho gui ong ba Phan AnhÔng bà Phan Anh.

Như luật sư Phan Anh từng tâm sự: “Năm 1947, theo Bác Hồ, tôi cùng gia đình rời Hà Nội lên chiến khu. Hai chữ chiến khu đối với người trí thức lúc đó chứa biết bao bí ẩn, lo âu. Việc lên chiến khu là cả một sự thử thách lớn, không kém gì cuộc trường chinh”. Nhưng trong hoàn cảnh biết bao gian khổ, khó khăn, thiếu thốn nhiều bề, ông và gia đình được sống trong tình yêu thương của Bác, của đồng chí, đồng bào. Vợ chồng ông, hai nhà trí thức đã đem hết tâm sức và trí tuệ cống hiến cho cách mạng.

Những ngày ở chiến khu, luật sư Phan Anh là người được Bác Hồ đưa đọc đầu tiên những bài thơ cảm tác về Việt Bắc, về quyết tâm kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Đọc thơ Bác gửi, ông đã có những bài thơ họa lại và dịch một số bài thơ chữ Hán của Bác ra tiếng Việt. Ông và gia đình cũng được Bác tặng thơ – món quà mà gia đình ông trân trọng gìn giữ như bảo vật quý giá.

Thời gian ở chiến khu, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác về thi đua tăng gia sản xuất, tự cung tự cấp, mỗi gia đình cán bộ đều cố gắng trồng trọt và chăn nuôi để cải thiện một phần cuộc sống. Nhân Ngày sinh nhật Bác 19 tháng 5, bà Hồng Chinh, phu nhân của luật sư Phan Anh gửi lên Bác một số sản vật do tự tay mình lao động làm ra để báo cáo về việc chấp hành lời kêu gọi của Bác và khả năng thực hiện tự túc của gia đình. Bác rất cảm động và viết mấy vần thơ cảm ơn:

Cảm ơn thím biếu mấy vòng tơ
Mong chú làm thêm mấy vần thơ
Canh mướp ngon lành nhờ các cháu
Có sao viết vậy, chớ cười nơ.

Tháng 12-1949, bà Phan Anh sinh thêm một con trai. Vui mừng trước tình hình đất nước đang có nhiều tiến triển, ông bà đặt tên con là Phan Tân Hội. Được tin, Bác gửi thơ chúc mừng:

Chú thím thêm một con
Các cháu thêm một em
Bác Hồ thêm một cháu
Nước nhà thêm một công dân
Tương lai thêm một chiến sỹ.

Sau này, Phan Tân Hội đã tự nguyện xung phong vào quân đội, đúng như lời thơ Bác mừng năm xưa.

Năm 1950, bà Phan Anh ốm nặng được ra nước ngoài điều trị. Biết bà bị bệnh hiểm nghèo, muốn chuẩn bị tư tưởng cho ông nếu tình hình xấu xảy ra, Bác đã gửi mấy vần thơ phỏng theo mấy câu trong Chinh phụ ngâm:

Điện thường tới, người chưa thấy tới
Bức rèm thưa từng dõi bóng dương
Bóng dương mấy lúc xuyên ngang
Lời nào mười hẹn chín thường đơn sai.

Đọc thơ Bác, Luật sư Phan Anh cảm động về tấm lòng, sự quan tâm của Bác về bệnh tình đáng ngại của bà, cũng đồng thời là những lời động viên ông. Nhưng thật may mắn, sau một thời gian điều trị, bà Phan Anh đã trở về. Biết tin, Bác đã viết thư cho ông, sửa lại câu thơ cuối cho thích hợp với hoàn cảnh mới:

….Tình càng ấm áp, nghĩa càng sâu xa.

Nhận được thơ Bác, ông Phan Anh đã gửi thư cảm tạ, bức thư đề ngày 4-6-1950:

Một bức thư trao một tấm lòng
Tấm lòng ưu ái thấm non sông
Tin nhà giảm bệnh mừng khôn xiết
Nợ nước ơn sâu biết mấy trùng
Gánh nặng đường xa thêm mạnh sức
Gan bền, chí vững quyết ra công
Bên tình, bên nghĩa đôi đường vẹn
Ghi tạc muôn năm một chữ đồng.

Ông bà Phan Anh đã trân trọng gìn giữ các bài thơ thể hiện tấm lòng thương yêu cán bộ, yêu thương con người, yêu thương gia đình ông của Bác. Luật sư Phan Anh đã đột ngột qua đời ngày 28/6/1990, dù chiều 27/6/1990, ông còn đăng đàn phát biểu và lẩy Kiều tại Kỳ họp thứ 7 (Quốc hội khóa VIII) khiến cả hội trường vỗ tay nhiệt liệt.

Được biết, bà Hồng Chinh đang gấp rút hoàn thành bộ hồi ký nhiều tập, viết về luật sư Phan Anh và những sự kiện lịch sử mà ông đã kể cho bà nghe, cũng như những sự kiện bà biết, trong đó có nhiều câu chuyện về Bác Hồ kính yêu.

Theo HaNoimoi.com.vn
Huyền Trang (st)
cpv.org.vn

Thư gửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ 1951

Gửi anh chị em hoạ sĩ,

Biết tin có cuộc trưng bày, tiếc vì bận quá, không đi xem được. Tôi gửi lời thân ái hỏi thǎm anh chị em. Nhân tiện, tôi nói vài ý kiến của tôi đối với nghệ thuật, để anh chị em tham khảo.

Vǎn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận.

Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy.

Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh.

Để làm trọn nhiệm vụ, chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường vững, tư tưởng đúng. Nói tóm tắt là phải đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Về sáng tác, thì cần hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế, mới bày tỏ được cái tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao tinh thần ấy. Kháng chiến tiến bộ mạnh. Quân và dân ta tiến bộ mạnh. Nghệ thuật cũng cần tiến bộ mạnh, muốn tiến bộ mạnh, tiến bộ mãi, thì anh chị em nghệ thuật cần phải dùng phương pháp tự phê bình và phê bình.

Chắc có người nghĩ: Cụ Hồ đưa nghệ thuật vào chính trị.

Đúng lắm. Vǎn hoá, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.

Tiền đồ dân tộc ta rất vẻ vang, tiền đồ nghệ thuật ta rất rộng rãi. Chúc anh chị em mạnh khoẻ, tiến bộ, thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1986, ngày 5-1-1952.
cpv.org.vn

Lời chúc nǎm mới (1-1952)

Nhân dịp Nguyên đán dương lịch 1952, tôi gửi lời thân ái chúc:

Toàn thể đồng bào và kiều bào,
Toàn thể chiến sĩ,
Các anh chị em cán bộ,
Các cụ phụ lão, các vị thân sĩ,
Các cháu thanh niên, nhi đồng,

Nǎm mới ra sức thi đua ái quốc để thu nhiều thắng lợi hơn nǎm cũ.

HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 39, ngày 3-1-1952.
cpv.org.vn

Thơ chúc tết (1-1952)

Xuân này, Xuân nǎm Thìn
Kháng chiến vừa 6 nǎm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trǎm phần trǎm.
Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tǎng gia
Nǎm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta.
Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân.

Xuân Nhâm Thìn 1952
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 42,
ngày 24-1-1952.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện nhân dịp Tết nǎm Nhâm Thìn (1952) (27-1-1952)

Cùng đồng bào và bộ đội,

Hôm nay nhân ngày Tết, tôi vui mừng nói chuyện với đồng bào và bộ đội.

Trước hết, tôi thay mặt Chính phủ và Đoàn thể, chúc đồng bào trong nước, vùng tự do, vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, và kiều bào ở nước ngoài,

Cán bộ và chiến sĩ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích,

Anh em thương binh, gia đình liệt sĩ, và các bà mẹ chiến sĩ,

Chúc cán bộ đoàn thể, chính quyền và chuyên môn,

Các cụ phụ lão và các vị thân sĩ,

Các chiến sĩ và anh hùng lao động,

Các cháu thanh niên và nhi đồng,

Nǎm mới mạnh khoẻ vui vẻ, và cố gắng thi đua về mọi mặt với tinh thần mới để tranh nhiều thắng lợi mới.

*
* *

Bây giờ, tôi nói tóm tắt tình hình thế giới gần đây cho bà con nghe.

Phe đế quốc hung hǎng, nhưng nội bộ chúng rất nhiều mâu thuẫn. Thí dụ: vừa rồi, Thủ tướng Anh sang thương thuyết với Tổng thống Mỹ, kết quả chẳng có gì. Đại tướng Gioǎng thay mặt đế quốc Pháp sang xin xỏ Mỹ cũng chẳng được gì.

Vì có mâu thuẫn mà Anh với Pháp phải bàn bạc và cầu cạnh Mỹ. Vì bàn bạc cầu cạnh không được gì, cho nên mâu thuẫn càng sâu sắc thêm. Tuy vậy, để xâm lược nước khác và chuẩn bị chiến tranh thế giới, chúng vẫn hùa theo đế quốc Mỹ.

Vì thất bại ở Triều Tiên mà uy tín Mỹ càng kém sút. Trong Đại hội Liên hợp quốc, đã có nhiều nước trước kia phục tùng Mỹ, mà nay đã tỏ ý không theo Mỹ. Báo chí phản động Mỹ cũng phải nhận rằng chính sách Mỹ đã thất bại. Còn Chính phủ Pháp thì liên tiếp đổ nhào. Nguyên nhân chính là vì cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam đã làm cho Pháp chết rất nhiều người, tốn mất nhiều của. Các thuộc địa Pháp ở châu Phi cũng nổi lên đòi độc lập. Nhân dân Pháp thì hǎng hái chống vũ trang Tây Đức và chống chiến tranh ở Việt Nam. Do đó mà tình hình Pháp ngày càng rắc rối. Nói tóm lại, lực lượng phe đế quốc ngày càng chia rẽ và kém sút.

Lực lượng phe dân chủ do Liên Xô lãnh đạo ngày càng mạnh thêm. Các phái đoàn của ta đi thǎm Trung Quốc và Triều Tiên, đi dự Hội nghị công đoàn, Hội nghị hoà bình thế giới và Đại hội liên hoan thanh niên, lần lượt báo cáo cho đồng bào và bộ đội biết những thành tích to lớn của Liên Xô và các nước dân chủ mới. Đây tôi chỉ nói tóm tắt rằng: báo chí phản động các nước cũng phải nhận kinh tế Liên Xô và các nước dân chủ mới nǎm ngoái đã tiến bộ vượt bậc.

ở Triều Tiên, Quân đội nhân dân Triều Tiên và quân tình nguyện Trung Quốc đã đánh quỵ quân đội 18 nước do Mỹ cầm đầu. Nhân dân Trung Quốc chỉ trong 6 tháng đã do tǎng gia sản xuất và tiết kiệm mà quyên cho Chính phủ hơn 3 nghìn chiếc máy bay.

Các nước ở Cận Đông và Trung Đông cũng nổi lên chống đế quốc chủ nghĩa.

Toàn thế giới đã có 600 triệu chiến sĩ ký tên, quyết tâm giữ gìn hoà bình.

Nói tóm lại, lực lượng dân chủ và hoà bình ngày càng lớn mạnh. Lực lượng dân chủ hoà bình lớn mạnh tức là lực lượng ta lớn mạnh.

*
* *

Tình hình nước ta trong nǎm vừa qua cũng tiến bộ khá.

Về kinh tế, ta đã lập Ngân hàng quốc gia, ta đã thống nhất quản lý kinh tế tài chính, ta đã thi đua tǎng gia sản xuất có kết quả tốt. Ta đã định ra và thi hành thuế nông nghiệp. Nói đến đây, tôi cần nhắc cán bộ và đồng bào phải cố gắng hoàn thành kịp thời thuế nông nghiệp, để kịp thời sắp đặt và thi hành kế hoạch kinh tế nǎm 1952 của ta.

Về quân sự, sau cuộc thắng trận ở Biên giới tháng 10 nǎm 1950, bộ đội ta liên tiếp thắng lợi trong 5 chiến dịch, và đã tiêu diệt hơn 38.000 tên địch. Những thắng lợi đó là do sự dũng cảm của bộ đội ta và do đồng bào ta hết sức ủng hộ bộ đội.

Về các mặt khác, như vǎn hoá xã hội, v.v., chúng ta cũng có tiến bộ. Nhưng chúng ta cần tiến bộ hơn nữa, thắng lợi hơn nữa, để chuẩn bị đầy đủ chuyển sang tổng phản công.

*

* *

Chúng ta cần làm gì để tiến bộ nữa và để thắng lợi nhiều hơn nữa.

Để đạt mục đích ấy, chúng ta phải làm những việc sau này:

1) Chúng ta đã đoàn kết, nay phải đoàn kết chặt chẽ, thật thà và rộng rãi hơn nữa. Đoàn kết toàn dân. Đoàn kết với anh em Miên, Lào. Đoàn kết với các nước bạn. Đoàn kết với các dân tộc đang đấu tranh đòi độc lập tự do và hoà bình.

2) Toàn thể đồng bào phải thi đua tǎng gia sản xuất để đủ ǎn đủ mặc, tức là mọi người, mọi gia đình, mỗi làng, mỗi huyện, mỗi tỉnh cho đến cả nước đủ ǎn đủ mặc, nhân dân và bộ đội đủ ǎn đủ mặc để kháng chiến lâu dài. Tǎng gia sản xuất phải có kế hoạch thiết thực, từ Chính phủ trung ương đến mỗi một gia đình đều phải có kế hoạch. Kế hoạch riêng từng địa phương phải ǎn khớp với kế hoạch chung của toàn quốc. Tôi khuyên đồng bào và cán bộ nghiên cứu kỹ lưỡng kế hoạch của Chính phủ, và đặt kế hoạch địa phương và gia đình cho thiết thực, để làm cho kinh tế tài chính nǎm nay thành công.

Tǎng gia sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm. Phải tiết kiệm sức lao động, phải tiết kiệm thì giờ, phải tiết kiệm tiền của, để tǎng gia. Tiết kiệm giúp cho tǎng gia và tǎng gia giúp cho tiết kiệm, để đi đến kết quả tốt.

3) Bộ đội phải thi đua diệt giặc lập công. Phong trào du kích phải được đẩy mạnh lên khắp nơi. Hễ lúc nào giặc hở là ta đánh. Giặc mò ra đâu, ta đánh ở đó. Ta làm cho chúng hao mòn sứt mẻ, ta cộng thắng lợi nhỏ thành thắng lợi to. Ta đánh cho chúng không kịp thở, cho đến lúc ta hoàn toàn tiêu diệt chúng.

Quân đội và nhân dân ta phải tìm đủ cách chống địch bắt lính và vận động những người lầm đường đi lính cho giặc quay về với Tổ quốc. Phải làm cho họ hiểu chính sách khoan hồng của Chính phủ và của nhân dân ta. Đối với đồng bào và thanh niên đang hǎng hái chống giặc bắt lính, chúng ta phải ủng hộ. Đó cũng là một cách đánh phá địch.

4) Toàn thể quân đội và nhân dân ta phải phá tan âm mưu địch “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.

Chúng ta phải làm trọn những nhiệm vụ nói trên. Mà muốn làm trọn nhiệm vụ (nhất là nhiệm vụ kinh tế tài chính) thì chúng ta phải chống những cái gì trở ngại ta.

– Một là chống bệnh quan liêu. Bệnh quan liêu là bệnh giấy tờ, bệnh hình thức, không thực tế, là xa cách quần chúng, không theo đường lối quần chúng, làm không đúng chính sách của Chính phủ và của Đoàn thể.

– Hai là chống nạn tham ô. Tham ô là lấy của công làm của tư. Là gian lận tham lam. Là không tôn trọng của công. Là không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra.

– Ba là chống nạn lãng phí. Tuy không trộm cắp của công như tham ô, nhưng lãng phí cũng làm cho nhân dân và Chính phủ thiệt thòi, hao tổn, kết quả thì lãng phí cũng có tội như tham ô.

Tham ô và lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra. Vì vậy từ nay, toàn thể đồng bào, toàn thể chiến sĩ, toàn thể cán bộ phải xem quan liêu, tham ô, lãng phí là những tội lỗi đối với Tổ quốc, đối với đồng bào. Người phạm tội có tội đã đành; người thấy những tội ấy mà không nêu ra, cũng như có tội. Vì vậy bộ đội, cơ quan, đoàn thể và nhân dân phải tổ chức một phong trào thật thà tự phê bình và phê bình từ cấp trên xuống, từ cấp dưới lên, toàn dân đều hǎng hái tham gia, để giáo dục nhau, để cùng nhau tẩy trừ ba nạn kia, để dọn đường cho những thắng lợi mới.

Những công việc nói trên sẽ có những chỉ thị rõ ràng của Chính phủ và của Đoàn thể, đây tôi chỉ tóm tắt nêu những điểm chính. Khi nhận được những chỉ thị ấy, tôi mong rằng bộ đội, đồng bào và cán bộ nghiên cứu kỹ càng, đặt kế hoạch thiết thực để thực hiện, và hứa với tôi kiên quyết thực hiện cho kỳ được. Như thế thì nǎm Nhâm Thìn, chúng ta nhất định tranh được nhiều thắng lợi to lớn và vẻ vang hơn nữa.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 7 nǎm 1954
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 43, ngày 27-1-1952.
cpv.org.vn

“Dinh tê” (21-2-1952)

Trong cơn gió bão, những cây cứng cáp thì đứng vững, những cây yếu ớt thì gẫy sập. Trèo núi, người gan góc bền bỉ thì lên đến đỉnh, rồi sang bên kia là thấy quê nhà, gặp bà con, vui sướng. Người lừng chừng thì trèo một đoạn, nghe mỏi mệt, không cố gắng nữa, lại trụt xuống.

Trong lúc xã hội thay đổi lớn, người mạnh dạn thì kiên quyết xông pha, vượt qua gian khổ, đi đến thành công. Người non nớt thì cầu an, tiêu cực, rồi thất bại. Kháng chiến ta trường kỳ và gian khổ, không khỏi có những người “dinh tê”. Không phải họ muốn phản bội. Nhưng vì họ kém lòng tin tưởng vào lực lượng tất thắng của dân tộc. Họ thiếu lòng tin vào sức chịu đựng của mình. Họ không trông thấy xa.

Trừ bọn Việt gian, nói chung những người “dinh tê” đều bị lương tâm cắn rứt, như người đã đào ngũ. Họ thấy tương lai của họ mờ ám. Trong lúc toàn dân đang đập vào mặt quân thù, họ cam lòng quỳ gối cúi đầu dưới gót sắt giặc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, họ sẽ “ǎn làm sao, nói làm sao”?

Còn hiện tại của họ? Các báo Việt gian cho biết rằng: những người “dinh tê” có tuổi thì thất nghiệp và đầy cảnh bể dâu; người trẻ thì bị giặc bắt đi làm nguỵ binh. Cho nên nhiều người lại chạy về vùng tự do.

Kháng chiến nhất định thắng lợi, nhưng phải trường kỳ và gian khổ. Mỗi người tin ở sức mạnh của dân tộc, tin ở sức chịu đựng của mình, kiên quyết vượt mọi khó khǎn, thì tương lai mới vẻ vang.

C.B.

Báo Nhân dân, số 46, ngày 21-2-1952.
cpv.org.vn

Thư khen ngợi những thanh niên kiểu mẫu trong dịp tết (21-2-1952)

Nhân dịp Tết, tôi có lời khen ngợi và chúc mừng nǎm mới toàn thể chiến sĩ (Vệ quốc quân, bộ đội địa phương, dân quân du kích) đã thi đua diệt giặc lập công, và toàn thể đồng bào đã thi đua tham gia dân công phục vụ chiến dịch.

Đồng thời, Bác vui lòng nêu các cháu sau đây là thanh niên kiểu mẫu trong bộ đội và trong các đội thanh niên xung phong (nếu có những cháu đáng khen mà chưa có tên ở đây, thì mong các đơn vị báo cáo rõ ràng tên tuổi và thành tích để Bác thêm vào).

Các cháu được khen tuyệt đối chớ kiêu ngạo tự mãn, mà cần phải cố gắng mãi, tiến bộ mãi, để giữ mãi cái danh dự vẻ vang là thanh niên kiểu mẫu.

HỒ CHÍ MINH

Thanh niên bộ đội: Trần Vǎn Vạn 20 tuổi, Nguyễn Vǎn Tài 21 tuổi, Nguyễn Vǎn Chu 27 tuổi, Nguyễn Thế Toán 20 tuổi, Nguyễn Vǎn Rôi 22 tuổi, Nguyễn Vǎn Ngôn 22 tuổi, Lê Thành Kỷ 22 tuổi, Đàm Hùng Bình 23 tuổi, Tô Hữu Vi 23 tuổi, Đàm Vǎn Kháo 24 tuổi, Trần Hoàn 25 tuổi, Hoàng Vǎn Cẩn 26 tuổi, Nguyễn Vǎn Lâm 26 tuổi, Lê Vǎn ái 26 tuổi, Phạm Vǎn Tiễu 28 tuổi, Lương Hoàn Dốc 29 tuổi, Hoàng Vǎn Hạc 29 tuổi, Nguyễn Vǎn Đào 30 tuổi.

Thanh niên dân công: Nguyễn Thị Thanh 17 tuổi, Ngọc Thị Tỷ 19 tuổi, Nguyễn Thị Ngường 20 tuổi, Nguyễn Thị Lơ 20 tuổi, Trần Thị An 20 tuổi, Nguyễn Thị Mùi 21 tuổi, Trần Thị Lý 22 tuổi, Đỗ Thị Khoa 22 tuổi, Vũ Thị Trước 23 tuổi, Đỗ Thị Lan 26 tuổi, Trần Thị Thơ 21 tuổi, Nguyễn Thị Vi, Trần Thị Nội, Nguyễn Thị Châu, Hà Sơn Hải 16 tuổi, Nguyễn Thành Ly 17 tuổi, Nguyễn Vǎn Phúc 18 tuổi, Bùi Đình Hoà 19 tuổi, Nguyễn Vǎn Hồ 23 tuổi, Tạ Vǎn Nghiệp 25 tuổi, Vũ Đình Vệ, Lǎng Quang Minh 26 tuổi, Nguyễn Vǎn Thuỷ 28 tuổi, Nguyễn Tiến Nhân, Đặng Vǎn Diện, Lê Vǎn Bi, Đinh Vǎn Hoàn, Nguyễn Vǎn Bái, Đào Vǎn Đính, Phạm Hữu Vệ, Phạm Vǎn Nghiêm, Kiều Thế Khang, Nguyễn Vǎn Cạn, Lê Vǎn Nhất, Lê Vǎn Hân, Nguyễn Vǎn Hinh, Kiều Thế Ninh, Nguyễn Vǎn Dần.

Thanh niên công xưởng: Nguyễn Thị Giao Tiên 18 tuổi, dược tá làm ống tiêm; Nguyễn Thị Kim Tranh 19 tuổi, dược tá rửa ống tiêm; Nguyễn Thị Thành 22 tuổi, trưởng tổ làm chỉ khâu ruột; Huỳnh Quang Mân 20 tuổi, dược tá làm chỉ khâu vết thương; Hoàng Vǎn Phú 18 tuổi, thợ tiện; Nguyễn Vǎn Bạch 21 tuổi, thợ tiện; Nông Thuật 23 tuổi, thợ tiện; Nguyễn Vǎn Luân 27 tuổi, thợ tiện; Cao Viết Bảo 19 tuổi, thợ rèn; Phạm Vǎn Nho 23 tuổi, thợ rèn; Nguyễn Định 24 tuổi, thợ rèn; Nguyễn Vǎn Tùng 19 tuổi, thợ nguội; Nguyễn Vǎn Thưởng 23 tuổi, thợ máy; Ngô Vǎn Lý 24 tuổi, thợ đúc; Trần Mạnh Phong 17 tuổi, thợ sắp chữ; Đào Vǎn Thǎng 27 tuổi, đốc công; Vương Bích Quát 28 tuổi, đốc công; Vũ Thế Long 27 tuổi, uỷ viên kỹ thuật; Vũ Quý Chức 26 tuổi, chỉ dẫn viên nhà máy quân giới; Nguyễn Vǎn Hội 24 tuổi, thợ hoá chất; Phan Thao 24 tuổi, thợ hoá chất; Đặng Bá Đình 25 tuổi, thợ hoá chất; Trần Đình Chu 28 tuổi, thợ hoá chất; Nguyễn Vǎn ứng 18 tuổi, ban cơ khí.

Thanh niên viên chức và sinh viên : Trần Thị Hoàng Ba 22 tuổi, dược tá; Đặng Ngọc Gần 21 tuổi, nữ cứu thương; Phạm Xuyên 27 tuổi, y tá; Nguyễn Kinh Doanh 25 tuổi, y tá; Chu Tam Thương 23 tuổi, uỷ viên chi sở thuế; Lê Vǎn Vân 27 tuổi, trạm trưởng kho thóc; Nguyễn Vǎn Lai 27 tuổi, quản đốc trại thương binh; Lê Toán 22 tuổi, sinh viên dược khoa phụ trách ban hoá nghiệm.

Báo Nhân dân, số 46, ngày 21-2-1952.
cpv.org.vn