Tag Archive | Thời sự

Ký ức của những người con Tây Nguyên được gặp Bác Hồ

Lúc sinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm và dành nhiều tình cảm thân thương đối với đồng bào Tây Nguyên. Trong những năm tháng chiến tranh, nhiều người con Tây Nguyên ra miền Bắc học tập, lao động và chiến đấu đã vinh dự được gặp Bác Hồ. Được gặp Bác, được Bác khuyên dạy những điều hay, lẽ phải là niềm vinh dự to lớn và trở thành kí ức gắn bó mãi mãi với cuộc đời của mỗi người con Tây Nguyên…

Vinh dự được gặp Bác Hồ

Ở Tây Nguyên cùng với Anh hùng Núp, trong kí ức của những người con ưu tú ở Tây Nguyên được gặp Bác Hồ hôm nay còn sống, ai ai cũng bồi hồi nhớ Bác. Một trong những người cán bộ cách mạng đầu tiên ở Tây Nguyên hiện đang sống ở Pleiku là ông KSor Ní, năm nay đã bước sang tuổi 87.

Tháng 8/1945 sau khi đón đại diện của Việt Minh về tiếp nhận chính quyền tại Pleiku, ông KSor Ní cùng với bạn bè, những người thanh niên yêu nước về quê tổ chức khởi nghĩa, bao vây huyện lỵ Cheo Reo, buộc chính quyền tay sai thân Nhật phải hạ vũ khí đầu hàng. Trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước ta năm 1946, ông KSor Ní được bầu là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai khoá I.

Tháng 5 năm 1946, ông ra Hà Nội dự Đại hội Thanh niên các dân tộc Việt Nam và lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Nhớ lần ấy, chàng thanh niên Jơ Rai trẻ tuổi KSor Ní đứng giữa phố Hà Nội tình cờ nghe đài Pháp đưa tin không đúng sự thật rằng: “Pháp đã chiếm được Tây Kỳ (Tây Nguyên) và nhân dân Tây Kỳ vui khi thấy quân Pháp trở lại”.

Nghe những lời tuyên truyền sai sự thật ấy, KSor Ní tức giận không sao chịu được và ông đã lập tức viết bài báo bằng tiếng Pháp, phản đối lại những luận điệu xuyên tạc ấy của Pháp và kêu gọi nhân dân Tây Kỳ đoàn kết để đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước Việt Nam. Khi bài báo đăng trên tờ “Le Peuple” (Nhân Dân), Bác Hồ đã đọc và cho người mời KSor Ní cùng Y Ngông Niek Đam (Thường trực Quốc hội khóa I) đến gặp Bác.

Nhận được giấy mời của Bác, cả KSor Ní và Y Ngông vừa mừng nhưng cũng vừa lo vì không biết Bác mời gặp có chuyện gì. KSor Ní kể rằng, khi gặp Bác ở phòng làm việc, Bác thân mật hỏi thăm sức khỏe và tình hình ở Tây Kỳ nên anh em cảm thấy rất gần gũi. Tại buổi gặp gỡ đầu tiên ấy, Bác Hồ đã căn dặn, chúng ta phải đoàn kết đánh Pháp mới bảo vệ được nền độc lập. Bác xoè bàn tay và giải thích: “Một bàn tay hoàn chỉnh phải có năm ngón, thiếu một ngón là một bàn tay không hoàn chỉnh. Một ngón tay đau thì cả bàn tay cũng đau.

Các già làng dâng hoa Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Gia Lai-Kon Tum.

Cũng như cả nước Việt Nam độc lập thì Tây Kỳ phải được độc lập, vì Tây Kỳ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam”. Cuối buổi gặp gỡ, Bác đã căn dặn: “Các cháu phải cố gắng học tập và công tác tốt, đặng góp phần đánh thắng giặc Pháp, để Việt Nam mau giải phóng và được độc lập hoàn toàn”. Sau lần được gặp Bác Hồ, đồng chí KSor Ní trở về kể lại cho anh em đồng đội nghe và động viên đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng đi theo cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Hôm nay đã ở tuổi xế chiều, nhưng niềm hạnh phúc được gặp Bác Hồ vẫn mãi dâng trào với người cán bộ lão thành cách mạng KSor Ní. Ông luôn nhớ Bác, khắc ghi lời Bác dạy và luôn nhắc nhở các thế hệ con cháu: “Tây Nguyên là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của một nước Việt Nam thống nhất”.

Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn

Cùng với nhiều người con ưu tú của Tây Nguyên được gặp Bác Hồ, khắc ghi lời dạy của Bác Hồ, ông Nguyễn Văn Sỹ (Ksor Krơn), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai – Kon Tum, người đã trọn một đời sắt son với Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân đã xúc động mỗi khi nhắc đến những lần được gặp Bác Hồ.

Ông Ksor Krơn kể, cuộc đời mình từng hàng chục năm làm cách mạng nhưng không hề có lương, chỉ toàn là ăn cơm của dân, được nhân dân nuôi và che chở. Ý thức gần dân, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân trong con người Ksor Krơn là một minh chứng sinh động. Ông luôn sống và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại. Ông tâm sự, sau hơn 35 năm đất nước hoàn toàn thống nhất, cấp ủy Đảng và chính quyền ở các tỉnh Tây Nguyên từng ngày thực hiện theo lời dặn của Bác là làm sao cho đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Lời mong ước của Bác Hồ ngày càng đến được hiện thực với nhiều gia đình hơn ở Tây Nguyên. Đó là niềm hạnh phúc mà chúng ta đã thực hiện theo lời dạy của Bác.

Các già làng Tây Nguyên nghe đọc lại thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam.

Ông Ksor Krơn nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác Hồ trong một chuyến công tác thăm đập thủy lợi Bái Thượng (Thanh Hóa). Lúc về Bác dừng chân nói chuyện với nhân dân ở địa phương và có mời các sinh viên đến nghe, trong đó có Ksor Krơn. Bác nêu gương Anh hùng Lao động Trịnh Xuân Bái ở Thanh Hóa cho mọi người noi theo và dặn mọi người muốn làm được việc lớn phải đoàn kết phát huy trí tuệ, sức mạnh tập thể, noi gương sáng, bỏ đi những ý thức cá nhân hẹp hòi ích kỷ…

Lời dạy ấy của Bác là kim chỉ nam đã đi suốt cuộc đời làm cách mạng của ông Ksor Krơn. Hôm nay, luôn tâm huyết với những điều Bác dạy, ông Ksor Krơn nói: “Những người làm cách mạng mà không loại bỏ được sự cá nhân ích kỷ, không phát huy được cái mạnh vì lợi ích chung của nhân dân thì sẽ không tồn tại lâu được”.

Chính vì thế mà mỗi lần có dịp được tâm sự, nói chuyện với thế hệ cán bộ trẻ hôm nay ở Tây Nguyên, ông Ksor Krơn luôn khuyên mọi người phải nhớ và thực hiện theo những lời dạy tốt đẹp của Bác Hồ. Còn với nghệ sĩ nhân dân Y Brơm tham gia cách mạng khi mới tròn 12 tuổi. Chàng thanh niên của núi rừng Tây Nguyên được gặp Bác Hồ khi anh là diễn viên của đoàn văn công Tây Nguyên. Hồi ấy, Y Brơm được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để phục vụ khách quý của Bác.

Một lần vào tháng 5/1967, Y Brơm dựng vở “Múa Trống Tây Nguyên” để biểu diễn cho khách quốc tế xem. Trước khi đi biểu diễn nước ngoài, Bác Hồ đã xem và xúc động đứng dậy tặng hoa cho các nghệ sĩ biểu diễn. Xem xong vở diễn, Bác gọi Y Brơm đến bảo: “Cháu giỏi lắm, sau này về dạy lại cho bà con Tây Nguyên nhé!”. Y Brơm xúc động muốn khóc và khắc ghi mãi lời Bác dạy trong suốt cuộc đời mình. Đối với Y Brơm hình tượng Bác Hồ như một vị thần, mà theo tiếng địa phương gọi là Yàng. Những lời nói, việc làm của Bác đã trở thành động lực mạnh mẽ đối với cá nhân ông cũng như đồng bào Tây Nguyên, giữ vững khối đại đoàn kết, lao động, sáng tạo để xây dựng Tây Nguyên ngày càng giàu đẹp.

Nhớ lời Bác dạy, Nghệ sĩ Nhân dân Y Brơm suy nghĩ: phải học nhiều hơn, sáng tạo nhiều hơn về nghệ thuật gắn với đời sống văn hóa đồng bào Tây Nguyên để góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc ấy. Cũng chính từ sự lao động sáng tạo miệt mài mà Y Brơm là một trong 3 nghệ sĩ múa được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân đầu tiên ở Việt Nam (1984). Trong 140 tác phẩm đặc sắc của Y Brơm, có 40 tác phẩm được Nhà nước công nhận, trong đó có một chùm tác phẩm đạt Giải thưởng Nhà nước.

Sau giải phóng, về công tác ở quê hương, Y Brơm đã dành hết tình cảm, tâm huyết của mình cống hiến cho đồng bào Tây Nguyên yêu thương mà không bao giờ nghĩ đến việc phải được hưởng một chút gì về vật chất. Y Brơm quan niệm, chức quyền, giàu sang cũng chỉ là phù du, nhưng văn hóa đặc trưng của buôn làng Tây Nguyên thì mãi mãi trường tồn với thời gian và ông đã sống hết mình với nghệ thuật

Ngọc Như (Báo CAND Tết 2011)

cand.com.vn

Chuyện Bác Hồ đi bầu cử

Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: “Ai đến trước, bầu trước. Bác đến sau, Bác chờ”.

Chuyện Bác Hồ đi bầu cửNgày 8/5/1960, nhân dân và thanh thiếu niên Thủ đô Hà Nội chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bỏ phiếu bầu Quốc hội Khóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại phòng bỏ phiếu số 1, tại số nhà 67 phố Cửa Bắc, khu phố Ba Đình – Hà Nội. Ảnh: Mai Nam.
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong hoàn cảnh chính quyền non trẻ gặp muôn vàn khó khăn, cùng một lúc phải chống lại thù trong giặc ngoài và giặc đói giặc dốt, Bác Hồ vẫn đề nghị Chính phủ lâm thời tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

Tại cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên (Quốc hội khoá I) năm 1946,Thủ đô Hà Nội là nơi Bác Hồ ra ứng cử. Gần đến ngày bầu cử, có 118 vị là Chủ tịch Ủy ban Hành chính đã công bố một bản đề nghị “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi ủng hộ và suy tôn vĩnh viễn Cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.

Đây cũng là nguyện vọng của đông đảo nhân dân ta. Mặc dù vậy, Bác Hồ đã viết một bức thư ngắn cảm tạ đồng bào và đề nghị đồng bào cho Người thực hiện quyền và nghĩa vụ của người công dân.

Bức thư có đoạn viết: “Tôi là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nên tôi không thể vượt qua thể lệ của cuộc Tổng tuyển cử đã định”.

Trước ngày Tổng tuyển cử một hôm, tại khu Việt Nam học xá (Nay là khu vực Trường Đại học Bách Khoa, Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dự mít tinh của hơn hai vạn đồng bào Hà Nội ủng hộ cuộc bầu cử Quốc hội.

Tại cuộc mít tinh, Người nói: ” Làm việc bây giờ là hy sinh, là phấn đấu quên lợi ích riêng mà nghĩ lợi ích chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu”.

Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I, Người đã trúng cử với số phiếu rất cao. Khi kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khoá I tín nhiệm bầu vào vị trí Chủ tịch Chính phủ kháng chiến, Người phát biểu: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác, thì tôi phải gắng làm, cũng như mọi người lính vâng lệnh Quốc dân ra trước mặt trận”.

Đúng 14 năm sau, sáng 15/4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 12 Quốc hội khoá I. Sau khi nêu lên: “Quốc hội ta là Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam châu Á, cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do”.

Là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Quốc hội khoá I đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ cộng hòa. Do điều kiện đất nước bị chia cắt, nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khoá I kéo dài từ tháng 1/1946 đến tháng 5/1960.

Thông qua 12 kỳ họp, đặc biệt là hoạt động của Ban Thường trực Quốc hội, luôn có mặt bên cạnh Chính phủ để chỉ đạo công tác kháng chiến – kiến quốc; xây dựng Hiến pháp, Luật Cải cách ruộng đất; đàm phán, ký kết và đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ ne vơ; khôi phục kinh tế miền Bắc.

Quốc hội khóa I đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy, giải phóng và đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, chi viện cho công cuộc giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những cống hiến của Quốc hội khoá I suốt 14 năm và khẳng định: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân, vì nước, đã làm tròn một cách vẻ vang nghĩa vụ của người đại biểu của dân”.

Người cảm ơn Quốc hội khóa I và tin chắc rằng Quốc hội khóa II của chúng ta sẽ đưa hết tinh thần và lực lượng để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Cùng năm 1960 ấy, ngày 24/4, phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ra mắt cử tri Thủ đô, sau khi cảm ơn đồng bào đã nhất trí yêu cầu Người và các vị khác ra ứng cử vào Quốc hội khoá II, Người đã nêu lên tính chất dân chủ của Luật Bầu cử, giá trị cao quý của lá phiếu cử tri và tin tưởng rằng những cử tri sáng suốt sẽ bầu ra được một Quốc hội có những đại biểu thật xứng đáng.

Người thay mặt các ứng cử viên hứa với đồng bào: ” Những người được cử vào Quốc hội khoá II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đầy tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội.

“Bác đến sau, Bác chờ”

Sự tôn trọng, dân chủ, nghiêm túc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc làm rất nhỏ của công tác bầu cử. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác Hồ, sau này là Cục trưởng cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ – Bộ Công an) kể lại: Chiều 27/4/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử HĐND cấp huyện và xã. Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, Tiểu khu 1, Khu phố Ba Đình, Hà Nội đặt tại Nhà thuyền (Hồ Tây).

Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: “Ai đến trước, bầu trước; Bác đến sau, Bác chờ”. Sau đó, Người đã gương mẫu chờ đến lượt mình mới lấy lá phiếu và bầu cử. Nghĩa vụ là vậy, còn về “quyền” Bác cũng kiên quyết thực hiện đúng quyền của mình. Bác yêu cầu đưa lý lịch những người ứng cử để Người cân nhắc lựa chọn.

Một nhà báo định chụp ảnh Bác đang bầu cử, Người đã lấy tay che lá phiếu và ngăn lại: “Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải tôn trọng cử tri. Phải tôn trọng tự do và bí mật của công dân!”.

Sau khi bỏ phiếu xong, ra về đến Phủ Chủ tịch, Bác xuống xe quay sang hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng: “Chú có biết vì sao Nguyễn Hải Thần bị nhân dân khinh ghét không?”

Năm 1945, mỗi lần Nguyễn Hải Thần đi đâu bọn lính bảo vệ ông ta ngồi trên xe tay lăm lăm súng lưỡi lê tuốt trần và còn đặt khẩu đại liên diễu võ giương oai, trông rất lố lăng.

Nghe Bác hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng chột dạ và cảm thấy cuộc bảo vệ hôm đó có điều gì sơ suất khiến Bác không hài lòng. Sau này đồng chí bảo vệ tiếp cận ngồi cùng xe Bác nói lại, khi Bác đến nơi bỏ phiếu, nhìn thấy vắng cử tri, Bác không vui. Bác muốn như mọi người dân bình đẳng khi đi thực hiện quyền làm chủ của mình.

Ôn lại những câu chuyện về Bác, chúng ta càng thấy rõ hơn tâm huyết và tầm nhìn xa trông rộng của Bác; Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho một xã hội bình đẳng, dân chủ và dày công vun đắp, xây dựng một Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân.

Theo Nguyễn Đức Quý

Công An Nhân dân

vtc.vn

Đoàn kết, thống nhất trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đoàn kết là một truyền thống quý báo của dân tộc ta. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đã hun đúc nên con người Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn, sống thuỷ chung, nhân ái và sự cố kết cộng đồng sâu sắc thể hiện ở triết lý: “thương người như thể thương thân”; “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, toàn dân góp sức”. Truyền thống văn hoá ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo giáo dục cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an dựa trên giác ngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân.

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đặc biệt tới việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng phải là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, phải hoàn thiện mình để lãnh đạo đất nước. Mỗi khi cách mạng chuyển giai đoạn chiến lược, Người đều nhắc nhở phải chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng xứng đáng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Một trong những vấn đề mà người luôn đặc biệt quan tâm, nhắc nhở cán bộ, đảng viên đó là phải giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người coi việc giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Thật vậy, Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã gắn bó với dân tộc, hòa mình cùng dân tộc, sinh tồn trong dân tộc. Tập hợp trong hàng ngũ Đảng là những người xuất thân từ nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau, chủ yếu là công nhân và nông dân, nhưng đều cùng chung lý tưởng, cùng chung mục tiêu và cùng chung lợi ích. Lý tưởng đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Mục tiêu đó là độc lập dân tộc và CNXH, là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Lợi ích đó là phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, ngoài ra Đảng không có lợi ích riêng tư nào khác. Chính lý tưởng chung, mục tiêu chung và lợi ích chung là cơ sở của sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Và đoàn kết thống nhất thực sự là động lực chủ yếu của sự phát triển của Đảng. Thống nhất là cơ bản, các hình thức đấu tranh nội bộ mang tính chất xây dựng góp phần quan trọng củng cố và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Đoàn kết thống nhất trong Đảng là nguyên tắc cơ bản nhất trong các nguyên tắc xây dựng Đảng. Nguyên tắc đó phản ảnh quy luật vận động và phát triển của Đảng. Đoàn kết trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đoàn kết toàn dân. Bác Hồ nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” là bao gồm cả sự đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, và chỉ có sự đoàn kết cơ bản và rộng rãi như thế mới thật sự là sức mạnh vô địch, cơ sở cho mọi thắng lợi và thành công của cách mạng. Thống nhất trong Đảng là sự thống nhất cao nhất và toàn diện nhất. Từ đó thống nhất về hành động. Có thể nói đoàn kết thống nhất trong Đảng là vấn đề sinh tử của toàn Đảng và từng đảng bộ các cấp.

Tư tưởng của Người về đoàn kết thống nhất trong Đảng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính nguyên tắc tổ chức kỷ luật trong Đảng với tình cảm thương yêu đồng chí đậm đà văn hóa phương Đông; giữa truyền thống dân tộc và tính tiên tiến của giai cấp công nhân thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đoàn kết là sức mạnh. Đảng ta là một Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tất cả cán bộ đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng của giai cấp và của nhân dân lên trên hết, cao hơn hết, tất cả các đảng viên dù ở những cương vị khác nhau cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ của Đảng giao cho. Sinh thời Chủ tịch Hồ Minh không chỉ đề ra những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp để xây dựng, củng cố, giữ gìn, phát huy sức mạnh đại đoàn kết của Đảng, toàn quân, toàn dân mà chính Người đã cảm hoá, cổ vũ động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng tấm lòng “Trung với nước, hiếu với dân”; bằng phẩm chất “cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”. Người là hiện thân của khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Sự thống nhất hài hoà giữa tư tưởng và hành động, đạo đức, nhân cách, sự mẫu mực trong lời nói và việc làm vì lợi ích dân tộc, giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự trở thành động lực, sức mạnh to lớn cảm hoá giáo dục, rèn luyện xây dựng tình đoàn kết giữa cấp trên, cấp dưới, giữa đảng viên với quần chúng, giữa quân và dân, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành.

Muốn xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong các tổ chức của Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tự học tập, rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của người đảng viên cộng sản, tuyên truyền, vận động để mọi đảng viên, quần chúng tự nhận thức được sự cần thiết phải đoàn kết, từ đó tự giác tham gia xây dựng, bảo vệ sự đoàn kết thống nhất trong mọi tổ chức của Đảng; phải có chủ trương chính sách, chế độ chăm lo lợi ích chính đáng của tất cả mọi người. Người căn dặn, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là một tấm gương đoàn kết, mẫu mực từ lời nói đến việc làm vì lợi ích của dân, của nước, thực sự làm hạt nhân đoàn kết trong chi bộ đảng.

Để mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt trong tổ chức đảng được phát huy sức mạnh, cần phải kiên quyết chống bệnh quan liêu, độc đoán chuyên quyền, cá nhân chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức quần chúng trong tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, làm nòng cốt để xây dựng, củng cố giữ gìn mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng là người tổ chức, hướng dẫn, lãnh đạo khối đại đoàn kết, do vậy Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một Đảng trí tuệ, cách mạng, thống nhất, phải luôn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Với Hồ Chí Minh đoàn kết thống nhất trong Đảng không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời mà phải là một chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng. Đoàn kết không đơn thuần là tập hợp lực lượng mà cao hơn nó là bộ phận hữu cơ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam: “Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí, đoàn kết không phải ngoài miệng mà phải đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ”. Do đó, Bác luôn tâm niệm, Đảng ta tuy đông người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người: “Cách mạng nhất định thành công, ta thành công chính vì đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng”.

Và theo Bác, chính sự đoàn kết làm cho mọi người hành động thống nhất, không bị gượng ép, bắt buộc. Vì thế, Bác gọi “Đảng ta là một bà mẹ rất nghiêm ngặt và cũng rất hiền từ”. Bác cũng khuyên các đồng chí trong Đảng phải thương yêu đoàn kết, nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh công thần, địa vị, hẹp hòi cục bộ, kèn cựa… “Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, phải kiên quyết chữa cái bệnh hẹp hòi đó để thực hành chính sách đại đoàn kết. Chính sách thành công thì kháng chiến mới dễ thắng lợi”.

Đã 42 năm kể từ ngày Bác đi xa và 81 năm xây dựng và phát triển của Đảng và của cách mạng nước ta, chúng ta tự hào về đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại. Càng tự hào, chúng ta càng phải quyết tâm làm theo lời căn dặn trước lúc đi xa của Bác: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”./.

K.A (t/h)

soctrang.gov.vn

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bố

(VTC News) – Nhiều hình ảnh về Bác lần đầu tiên được công bố, như Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng Lơcléc…

Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh vừa phối hợp phát hành cuốn sách ảnh “Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh,” nhân kỷ niệm 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011).

Cuốn sách tập hợp nhiều bức ảnh quý ghi lại những khoảnh khắc bình dị, trải theo cuộc đời của Người. Cuốn sách sẽ được phát hành rộng rãi tới đông đảo bạn đọc cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế.

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bốChủ tịch Hồ Chí Minh thăm thắng cảnh hồ Lasuk (Nga), tháng 7/1959.

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bốChủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi thành phố Kiép, tháng 7/1959.

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bốChủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà lưu niệm của đại thi hào Tagor trong chuyến thăm Ấn Độ tháng 2/1958.

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bốChủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm Kim tự tháp Sekherat, Ai Cập trên đường thăm chính thức nước Pháp ngày 9/6 năm 1946.

Những bức ảnh về Bác Hồ lần đầu được công bốChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Thủ đô Vácxava (Ba Lan), tháng 7/1957.

Trong cuốn sách, nhiều hình ảnh về Bác lần đầu tiên được công bố, như Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng Lơcléc – Trưởng phái đoàn quân sự Pháp đến chào Người tại Bắc Bộ Phủ, tháng 3/1946; Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm Kim tự tháp Sekherat, Ai Cập, trên đường sang thăm chính thức nước Pháp, ngày 9/6/1946; Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà lưu niệm của đại thi hào Tagor trong chuyến thăm Ấn Độ, tháng 2/1958…

vtc.vn

Đường Kách Mệnh

Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Lý luận của tác phẩm không sách vở mà vạch ra lý luận cách mạng Việt Nam thiết thực, tri thức lý luận cách mạng Việt Nam đã được hiện diện trong tác phẩm rất mácxít nhưng cũng rất Việt Nam, dễ hiểu, dễ tiếp thu, kết hợp rất tài tình phương pháp lịch sử và lôgích. Dùng lịch sử để nói lý luận, từ Cách mạng Pháp đến Cách mạng Nga và kết luận ở Cách mạng Nga, rồi lấy lý luận soi sáng thực tiễn Việt Nam, và kết luận: Chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng được dân tộc.

I – Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

1. Thế giới 

Chủ nghĩa Mác – Lênin là sự tiếp nối và phát triển những tư tưởng giải phóng con người của nhân loại. Nó đã trở thành vũ khí tư tưởng của giai cấp vô sản đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Được học thuyết khoa học và cách mạng soi đường, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản các nước trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản như: Đảng xã hội – dân chủ Nga được thành lập (1903); Đảng Cộng sản Pháp được thành lập (1920); Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời (1921)…

Năm 1917, Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Cách mạng Tháng Mười Nga là bằng chứng khẳng định giá trị thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời cũng báo hiệu thời kỳ đấu tranh giành thắng lợi của giai cấp vô sản thế giới bắt đầu.

Năm 1919, Quốc tế III – Bộ Tham mưu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế được thành lập. Quốc tế III đã quan tâm đến cách mạng thuộc địa. Bản Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã tác động trực tiếp đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Đối với Nguyễn Ái Quốc, Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin là bước tiến nhảy vọt và dứt khoát trong nhận thức tư tưởng của Người. Người quyết định chọn chủ nghĩa Mác – Lênin làm hệ tư tưởng cứu nước. Như vậy, thời đại đã mở ra điều kiện mới – cả tư tưởng chính trị và cả tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở các nước. Chính thời đại cũng dẫn dắt phong trào cách mạng các dân tộc trên thế giới đi vào quỹ đạo chung của cách mạng vô sản.

2. Việt Nam 

Đặc điểm nổi bật của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội Việt Nam lúc đó có hai mâu thuẫn cơ bản là: giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và giữa giai cấp phong kiến Việt Nam với toàn thể nhân dân (chủ yếu là nông dân). Yêu cầu của lịch sử lúc này là phải giải quyết mâu thuẫn cơ bản đó để đưa dân tộc tiến lên.

Dưới ách thống trị của thực dân – phong kiến, đã có hàng trăm cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng phong kiến và tư tưởng tư sản, nhưng rút cuộc, đều không giải quyết nổi nhiệm vụ mà lịch sử đang đặt ra, nhân dân đang mong đợi là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân phong kiến.

Bước vào những năm 20 của thế kỷ XX, trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều tổ chức yêu nước mang sắc màu chính trị khác nhau, như: Tâm tâm xã ( l923 – 1925), Hội phục Việt (1925), Đảng thanh niên (1926), Thanh niên cao vọng Đảng (1926 – 1929), Tân Việt cách mạng Đảng (1926 – 1930), Việt Nam quốc dân Đảng (1927 – 1980). Song, các tổ chức yêu nước này thiếu đường lối chính trị đúng đắn, thiếu tổ chức chặt chẽ như một đảng cách mạng khoa học, cho nên, họ không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử.

Thực tiễn lịch sử đang đòi hỏi phải có một tổ chức mới, được xây dựng trên cơ sở hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, có đường lối chính trị đúng đắn, có tổ chức chặt chẽ thì mới lãnh đạo cách mạng đi đến thành công.

II- Tư tưởng cơ bản và nội dung của tác phẩm 

1. Tư tưởng cơ bản của tác phẩm

Mục đích tác phẩm được tác giả chỉ rõ: “Muốn sống thì phải cách mệnh”. “Hơn hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa. Phải kêu to, làm chóng để cứu lấy giống nòi”. Thà chết tự đo còn hơn sống nô lệ, quyết chiến đấu cho nền độc lập tự do của dân tộc là tinh thần của tác phẩm. Có thể nói, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là quan điểm bao trùm toàn bộ tác phẩm.

Tác phẩm cũng chỉ rõ kẻ thù nguy hiểm nhất của độc lập tự do và vạch con đường cụ thể để giành thắng lợi.

Tinh thần xuyên suốt toàn bộ tác phẩm là vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, phải giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân ra khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc.

Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là quan điểm tư tưởng chỉ đạo con đường cách mạng Việt Nam. Giải phóng nhân dân phải gắn với sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc phải theo quỹ đạo của cách mạng vô sản, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội, lợi ích của dân tộc với lợi ích của giai cấp vô sản phải gắn bó với nhau. Thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc đều phải giải quyết trên cơ sở quan điểm cách mạng vô sản để đưa cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng giải phóng dân tộc chuẩn bị cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng xã hội chủ nghĩa chi phối cách mạng giải phóng dân tộc.

Cách mạng phải triệt để, tích cực, chủ động và sáng tạo. Tác giả đưa dẫn chứng các cuộc cách mạng trên thế giới để đi đến khẳng định rằng, cách mạng Việt Nam phải giành thắng lợi triệt để: “Muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh; phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Cách mạng phải độc lập và sáng tạo, tự lực, tự cường, không ỷ lại ngồi chờ; phải tích cực tấn công, chủ động tiến công, quyết giành thắng lợi. Biết tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng thế giới, nhưng cũng phải có đóng góp cho cách mạng thế giới, cùng cách mạng thế giới đạp đổ chủ nghĩa đế quốc tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những tư tưởng cơ bản trên đã nâng giá trị của tác phẩm lên tầm cao.

2. Nội dung của tác phẩm 

a) Tư cách một người cách mệnh 

Tư cách một người cách mệnh được đặt lên vị trí hàng đầu của tác phẩm. Nội dung gồm 3 phần:

– Tự mình phải cần kiệm – liêm chính – vị công vong tư. Giữ chủ nghĩa cho vững…

– Đối người phải: với từng người thì khoan thứ. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người.

– Làm việc phải : Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể.

Tác phẩm đã nêu lên những vấn đề cơ bản của đạo đức mới – đạo đức của người cộng sản. Đó là phải có đức và tài, trí và dũng, tư cách và năng lực theo kiểu người cộng sản. Đó là con người một lòng một dạ. Đó là con người có tổ chức, gắn bó với tổ chức, với đoàn thể. Đồng thời biết phát huy năng lực cá nhân. “Tư cách người cách mệnh” khác hẳn với chủ nghĩa anh hùng cá nhân, đặt mình lên trên tổ chức, đề cao cái tôi đạo đức của người đảng viên cộng sản được đề cập trong tác phẩm phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc ta, đáp ứng yêu cầu của cách mạng và cũng rất đúng với nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về đạo đức của người cách mạng. “Tư cách người cách mệnh” đã dễ dàng chinh phục lòng người, tiếp thêm sức mạnh và định hướng phấn đấu cho tất cả những ai yêu nước, thương nòi, muốn giải phóng quê hương xứ sở ra khỏi mọi áp bức bóc lột, xây dựng đất nước theo hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

“Tư cách người cách mệnh” có giá trị khoa học và giáo dục lớn đặt cơ sở cho đạo đức học ở Việt Nam.

b) Con đường cách mệnh 

Tác giả đưa ra khái niệm “cách mệnh”: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”.

Từ đó, tác giả xác định các loại cách mạng:

– Tư bản cách mệnh như cách mệnh Pháp năm 1789, Mỹ cách mệnh độc lập năm 1776; Nhật cách mệnh năm 1864.

– Dân tộc cách mệnh như: Italia đuổi cường quyền Áo năm 1859; Tàu đuổi Mãn Thanh 1911.

– Giai cấp cách mệnh như công nông Nga đuổi tư bản và giành lấy chính quyền 1917.

Tác giả giải thích nguyên nhân sinh ra các loại cách mệnh ấy. Từ phân tích mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp, tác giả xác định tính chất cách mệnh. Dân tộc cách mệnh là dân tộc nô lệ đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi để giành độc lập tự do. Giai cấp cách mệnh là giai cấp bị áp bức cách mệnh để đạp đổ giai cấp đi áp bức mình.

Về dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh, tác giả đều lấy ví dụ Việt Nam. Khi kết luận, tác giả cũng nói đến sự cần thiết phải tiến hành dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh ở Việt Nam. Cách mệnh Việt Nam phải tiến hành giải phóng dân tộc để tiến lên giải phóng giai cấp. Việt Nam phải làm cả dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh.

Tác giả phân tích kỹ Cách mạng tư sản Pháp 1789, Cách mạng tư sản Mỹ 1776, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 và chỉ ra kinh nghiệm lịch sử của các cuộc cách mạng này: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”. “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật”. Từ lịch sử và thực tiễn, tác giả đã định hướng cho các mạng Việt Nam là đi theo con đường Cách mạng tháng Mười Nga “theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.

Tác giả cũng xác định rõ bạn và thù của cách mệnh Việt Nam. Đế quốc Pháp đã chà đạp lên nền độc lập của dân tộc, đặt ách áp bức bóc lột đối với nhân dân ta. Do đó, đế quốc Pháp vừa là kẻ thù của dân tộc và cũng là kẻ thù của giai cấp. Tác giả phân biệt rạch ròi giữa đế quốc Pháp và nhân dân Pháp trước hết là công nông Pháp. Từ đó, nêu mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam với giai cấp cách mệnh Pháp nói riêng và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản chính quốc nói chung.

Còn giai cấp phong kiến địa chủ, tác giả có phân loại: điền chủ nhỏ là bầu bạn cách mệnh công nông, những đại địa chủ thì chớ có cho họ vào hội của dân cày. Việc xác định đúng, chính xác kẻ thù cơ bản là chủ nghĩa đế quốc Pháp có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng, trong việc tập hợp lực lượng, phân hóa, cô lập cao độ kẻ thù, nhằm tăng sức mạnh cho cách mạng. Đây là tầm tư duy của thiên tài rất biện chứng, cách mạng và khoa học vượt lên tầm tư duy đương thời của nhiều người cho rằng, đã địa chủ tất nhiên sẽ là kẻ thù của cách mạng, là đối tượng đứng về phía đế quốc.

c)Về lực lượng cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ rõ: Công nông là người chủ cách mệnh “là vì công nông bị áp bức nặng hơn, là vì công nông là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết, là vì công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc”. “Học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”.

Người đã căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước, thái độ của các giai cấp trong xã hội, đối với cách mạng để vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin cho phù hợp, không giáo điều, máy móc. Vì vậy, lực lượng cách mạng vừa đông, vừa mạnh, nhưng vẫn đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.

d) Về đoàn kết quốc tế, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ rằng, cách mạng Việt Nam phải đoàn kết với các lực lượng cách mạng thế giới: “Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa (như Đệ tam quốc tế)”. Người đưa ra những dẫn chứng cụ thể, đầy sức thuyết phục để xác định lực lượng đồng minh quốc tế của cách mạng Việt Nam “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”. Cách mạng Việt Nam cũng phải liên minh với cách mệnh Pháp và có thể thành công trước cách mệnh Pháp. “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ”.

Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới cũng đều là đồng chí của nhân dân Việt Nam. Đã là đồng chí thì sung sướng cực khổ phải có nhau.

Như vậy, về đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh nêu 3 vấn đề lớn:

– Cách mạng Việt Nam phải đứng hẳn về phía phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc thế giới để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa trên thế giới.

– Xác định rõ quan hệ lợi ích dân tộc và cách mạng thế giới, giữa quyền lợi và trách nhiệm, sự thống nhất của quan hệ này.

– Xác định rõ quan hệ cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc là tác động qua lại. Cách mạng thuộc địa không thụ động ngồi chờ cách mạng chính quốc.

Với những luận điểm trên, tác phẩm đã đặt nền tảng đúng đắn cho đường lối quốc tế của đảng, và đặt cơ sở cho sự giúp đỡ của quốc tế trong thời kỳ thành lập Đảng.

đ)Về phương pháp cách mạng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, phương pháp cách mạng giữ vai trò hết sức quan trọng: “Sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm xã hội mới, ấy là rất khó. Nhưng biết cách làm, biết đồng tâm hiệp lực mà làm thì chắc làm được”. Đó là:

– Phải làm cho dân giác ngộ.

– Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.

– Phải hiểu phong trào thế giới, phải bày sách lược cho dân.

– Phải đoàn kết toàn dân “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người”… “Đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều. Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”.

– Phải biết tổ chức dân chúng lại, tác giả nhấn mạnh vai trò của tổ chức: cách mạng phải có tổ chức rất vững bền thì mới thành công. Tác giả đưa ra cách tổ chức quần chúng như công hội, dân cày, hợp tác xã, thanh niên, phụ nữ, quốc tế cứu tế đỏ…

– Phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng của quần chúng, phải biết chọn thời cơ.

Tóm lại, tác phẩm đã nêu lên những quan điểm cơ bản về phương pháp cách mạng Việt Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tổng kết kinh nghiệm cách mạng các nước. Những quan điểm đó là cơ sở cho Đảng xây dựng phương pháp cách mạng của mình.

Về Đảng Cộng sản, Đảng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo cho sự thắng lợi của cách mệnh. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải theo chủ nghĩa Mác – Lênin. “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Nguyễn Ái Quốc luôn có ý thức xây dựng lập trường chính trị, bản chất giai cấp công nhân, tính cách mạng triệt để của Đảng. Những tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam của Người là những phác thảo cho đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người phân tích sâu sắc lịch sử cách mạng Nga để quán triệt bài học kinh nghiệm về xây dựng Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên được Người đề cập gần như xuyên suốt tác phẩm. Toàn bộ tác phẩm đã thể hiện nội dung đó.

Bằng tư tưởng xây dựng Đảng Cộng sản ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng yêu cầu bức bách của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

III- Ý nghĩa của tác phẩm 

1. Tác phẩm Đường cách mệnh có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự thành lập chính Đảng cách mạng ở Việt Nam.

– Về tư tưởng: Tác phẩm có ý nghĩa giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc cho cán bộ và đông đảo quần chúng nhân dân, nhằm xây dựng sự thống nhất trong nhận thức tư tưởng, chuẩn bị thành lập Đảng.

Tác phẩm khắc phục tư tưởng sai lầm, ám sát cá nhân, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa quốc gia; xác lập hệ tư tưởng mới – tư tưởng của giai cấp công nhân.

– Về chính trị: Tác phẩm xây dựng lập trường, quan điểm của giai cấp công nhận cho cán bộ và quần chúng công nông. Vạch ra được đường hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, làm cơ sở cho việc xây dựng Cương lĩnh chính trị của Đảng. 

Tác phẩm Đường cách mệnh ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam; thúc đẩy phong trào yêu nước, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ .

– Về tổ chức: Đào tạo ra một lớp cán bộ cách mạng kiểu mới chuẩn bị cho việc thành lập Đảng. Tác phẩm cũng đưa ra hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức quần chúng như công hội, nông hội, thanh niên, phụ nữ… để Đảng tập hợp quần chúng, chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng.

2. Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Lý luận của tác phẩm không sách vở mà vạch ra lý luận cách mạng Việt Nam thiết thực, tri thức lý luận cách mạng Việt Nam đã được hiện diện trong tác phẩm rất mácxít nhưng cũng rất Việt Nam, dễ hiểu, dễ tiếp thu, kết hợp rất tài tình phương pháp lịch sử và lôgích. Dùng lịch sử để nói lý luận, từ Cách mạng Pháp đến Cách mạng Nga và kết luận ở Cách mạng Nga, rồi lấy lý luận soi sáng thực tiễn Việt Nam, và kết luận: Chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng được dân tộc.

Tác phẩm cũng là một hình mẫu của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam của tác giả. Ví dụ: Lênin cho rằng, cách mạng thuộc địa chỉ có thể giành được thắng lợi khi có sự giúp đỡ của cách mạng chính quốc, khi cách mạng vô sản chính quốc đã giành thắng lợi, nhưng tác phẩm phát hiện thêm rằng, cách mạng thuộc địa có thể thành công trước cách mạng vô sản ở chính quốc và tác động tích cực đối với cách mạng chính quốc.

Chủ nghĩa Mác – Lê nin bàn nhiều về vấn đề giải phóng dân tộc. Tác phẩm chỉ rõ dân tộc và giai cấp kết hợp với nhau, giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản…

Tác phẩm Đường cách mệnh đã thể hiện thiên tài lý luận cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, tác phẩm có giá trị thực tiễn lớn lao, tạo ra sự chuyển biến căn bản, nhanh chóng trong nhận thức và hành động cách mạng của cán bộ và đông đảo quần chúng, chuẩn bị tiền đề cho việc thành lập Đảng.

Như vậy, trước khi Đảng ra đời, ở Việt Nam đã có sự thống nhất về tư tưởng chính trị và tổ chức. Đó là điều kiện trực tiếp giữ vững sự thống nhất trong Đảng ngay từ khi mới thành lập cũng như sau này. Tác phẩm Đường cách mệnh là một kho tàng tri thức lý luận cách mạng Việt Nam, là sự thể hiện tư tưởng cơ bản của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Giá trị của tác phẩm càng được khẳng định khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố rằng, Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

Theo Giới thiệu tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngnghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Nxb CTQG, H, 1999.

(Nguồn : Website Đảng Cộng Sản Việt Nam)

sites.google.com

Hồ Chủ tịch với các kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên

Hơn 200 tư liệu, hình ảnh, hiện vật giới thiệu công lao và sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết tâm thực hiện tổng tuyển cử tự do đầu tiên năm 1946 đang được trưng bày tại thành phố Huế.

Các thành viên Chính phủ lâm thời sau phiên họp đầu tiên ngày 3/9/1945.

Nhân dân lao động thủ đô cổ động cho ngày tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, 6/1/1946.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Quốc hội đầu tiên của Hà Nội ra mắt cử tri, tháng 2/1946.

Giấy chứng nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là đại biểu Quốc hội khóa 1, năm 1946 do Chính phủ lâm thời cấp ngày 1/3/1946.

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 1 (tháng 12/1956), Chủ tịch Hồ Chí Minh xúc động khi nói đến miền Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 11 năm ngày tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (6/1/1946 – 6/1/1957).

Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia bầu cử bổ sung Ban thường vụ Quốc hội và Ban sửa đổi Hiến pháp tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa I.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm khu vực bỏ phiếu số 79 Nhật Tân, Hà Nội, tháng 4/1960.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận phiếu bầu cử Quốc hội khóa 2, Hà Nội 8/5/1960.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 2 tại tiểu khu Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội, ngày 8/5/1960.

Văn Nguyễn (chụp từ ảnh tư liệu)

vnexpress.net

Quán triệt phương châm “Nói đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Nguyên tắc này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam và trở thành phương châm “Nói đi đôi với làm”. “Nói đi đôi với làm” đã trở thành lẽ sống, phương châm làm việc, nguyên tắc hoạt động của Người.

Hồ Chủ tịch về thăm nhân dân xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc – Anh: TL

“Nói đi đôi với làm” theo tinh thần của Hồ Chí Minh đòi hỏi: Một là, “Nói” phải đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai; Hai là, không được “nói một đằng, làm một nẻo”; Ba là, tránh nói, tránh hứa mà không làm. “Làm” ở đây chính là hành động, là hoạt động thực tiễn, là tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Vì vậy, xét về bản chất, “nói đi đôi với làm” không chỉ là nguyên tắc đạo đức, lẽ sống, phương châm hoạt động mà còn là biểu hiện sinh động cụ thể của việc quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn của Hồ Chí Minh. Vì vậy, với Hồ Chí Minh, từ việc nhỏ tới việc lớn, từ việc riêng tới việc chung, Người bao giờ cũng “miệng nói, tay làm, tai lắng nghe”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã thấm nhuần sâu sắc đặc trưng truyền thống văn hoá phương Đông là “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn thuyết” nên nhiều khi Người đã giải thích lý luận bằng thực tiễn, bằng hành động, bằng việc làm, Người chỉ làm mà không nói. Bởi lẽ, đối với Việt Nam và phương Đông, cũng có khi chẳng cần nói mà chỉ cần làm, thấy làm đúng, làm phải, mọi người khắc làm theo. Đó là “nói” không cần lời, là “vô ngôn” nhưng biểu hiện bằng hành động và có hiệu lực trong thực tiễn. Chẳng hạn, để sâu sát cơ sở, hiểu dân, trong khoảng từ 1955-1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện hơn 700 lượt đi thăm, tiếp xúc với cơ sở địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội… Như vậy, mỗi năm Người có hơn 70 lần xuống cơ sở, mỗi tháng có tới 6 lần gặp gỡ, tiếp xúc với quần chúng. Điều này đủ thấy Hồ Chí Minh gắn bó, sâu sát với quần chúng, với cơ sở, với thực tiễn như thế nào. Có thể nói, cái tinh tuý của truyền thống văn hóa Việt Nam, văn hóa phương Đông đã được Hồ Chí Minh kế thừa, trau dồi, trở thành cái “thần” rất Hồ Chí Minh. Đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã nhận xét: “Mọi lời nói, việc làm của Hồ Chí Minh đều thiết thực và cụ thể ”.1 Nói là làm, thường là làm nhiều hơn nói, có khi làm mà không cần nói, tư tưởng hiện ra trong hành động.

Hồ Chí Minh luôn phê phán những cán bộ chỉ biết nói mà không biết làm dù chỉ là một việc nhỏ thiết thực. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên đã nói thì phải làm, “Nói ít, bắt đầu bằng hành động”; “tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”. Đối với Đảng ta, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra là lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”2.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XI của Đảng thì việc học tập, quán triệt phương châm “Nói đi đôi với làm” của Hồ Chí Minh có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn. Từ nhận thức đúng những tinh thần của Nghị quyết Đại hội XI, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cấp ủy phải tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết trên thực tế. Nghị quyết có phản ánh đúng cuộc sống nhưng không được tổ chức thực hiện tốt trong cuộc sống thì nghị quyết vẫn chỉ là nghị quyết.

Để học tập, quán triệt tốt phương châm “Nói đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cấp ủy và toàn Đảng cần thực hiện tốt những biện pháp sau:

Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, lãnh đạo, quản lý phải thực sự trở thành tấm gương sống cho nhân dân noi theo, phải thực sự đi trước để nhân dân đi theo. Đúng như Hồ Chủ tịch đã từng căn dặn “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ yêu mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”3. Chỉ trên cơ sở này, cán bộ, đảng viên mới thu phục được quần chúng, mới cảm hóa, lôi kéo họ tạo thành phong trào thực tiễn rộng lớn để xây dựng, phát triển đất nước, thực hiện nghị quyết của Đảng. Hiện nay, phần đông cán bộ, đảng viên có phong cách làm việc sâu sát cơ sở, gần dân, thân dân, nói đi đôi với làm. Tuy nhiên, vẫn còn bộ phận không nhỏ cán bộ, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý có chức, có quyền, có những biểu hiện nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng, làm một nẻo, thất hứa với nhân dân. Hiện trạng này đã làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, làm cho dân xa Đảng. Điều này càng đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên từ việc nhỏ đến việc lớn, từ việc riêng đến việc chung, từ trong lối sống đến công tác chuyên môn nghiệp vụ luôn luôn phải nỗ lực thực hiện phương châm “Nói đi đôi với làm”.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trong đó có tấm gương về phong cách làm việc “Nói đi đôi với làm” của Người. Kiên quyết thực hành trong toàn Đảng phong cách nói ít làm nhiều, nói đi đôi với làm; kiên quyết không được để xảy ra tình trạng thất hứa với nhân dân dù là việc nhỏ nhất. Các cán bộ có chức vụ càng cao thì càng phải làm gương thực hiện. Thực hiện nghiêm yêu cầu về rèn luyện phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên mà Đại hội XI của Đảng đã đề ra: “Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất, đạo đức, lối sống. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân”. Mỗi đảng viên phải tự mình phấn đấu thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đảng viên làm bất kỳ việc gì cũng phải gương mẫu”.

Thứ ba, cùng với thực hành phương châm “Nói đi đôi với làm” thì phải đổi mới cơ chế quản lý cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đưa ra khỏi các cương vị lãnh đạo, quản lý những cán bộ nói không đi đôi với làm. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sớm phát hiện những biểu hiện sai lệch của cán bộ, đảng viên trong phong cách làm việc nói chung, trong việc thực hành phương châm “Nói đi đôi với làm” nói riêng.Trong đánh giá, sử dụng cán bộ cán bộ thì “lấy hiệu quả thực tế của công tác và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu”.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ trung ương đến địa phương, cơ sở; đổi mới cách ra nghị quyết, tăng cường tổ chức thực hiện, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết. Tiếp tục “Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong Đảng, khắc phục tình trạng rườm rà, bất hợp lý về thủ tục, giảm bớt giấy tờ, hội họp; sâu sát thực tế, cơ sở; nói đi đôi với làm”.

Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cấp ủy và toàn Đảng nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt những biện pháp trên là góp phần thiết thực thực hành phong cách làm việc Hồ Chí Minh. “Nói đi đôi với làm”; góp phần lấy lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng và trực tiếp góp phần xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.

Nguồn: PGS. TS Trần Văn Phòng/Đại Đoàn Kết
Viện trưởng Viện Triết học – Học viện CT- HC Quốc gia Hồ Chí Minh

1. Phạm Văn Đồng. Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp. NXB Sự thật, Hà Nội, 1990, trang 64 – 65
2. Hồ Chí Minh toàn tập. NXB CTQG, H. 2000, tập 5, tr.250
3. Sđd, tập 5, tr.552

baoangiang.com.vn

Nguyên tắc Phê bình và tự phê bình trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng cả về tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức, cán bộ. Sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử vẻ vang đó vì Đảng luôn luôn được xây dựng, tự đổi mới và tự chỉnh đốn theo tư tưởng Hồ Chí Minh để Đảng thật sự là một Đảng cách mạng chân chính như mong muốn của Người.

Một trong những tư tưởng có tính nguyên tắc trong xây dựng Đảng của Bác là Tự phê bình và phê bình được thể hiện rõ trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”. Theo Hồ Chí Minh đây là vũ khí sắc bén nhất để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh và là quy luật phát triển của Đảng. Người nhận thức sâu sắc rằng, tuy Đảng ta gồm những người có tài, có đức, phần đông là những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất …, nhưng “không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”. Người nói: “Đảng ta không phải ông thánh và cũng không phải từ trên trời rơi xuống, nó ở trong xã hội mà ra”. Từ đó, Người khẳng định: “Người đời ai cũng có khuyết điểm, có làm việc thì có sai lầm”, do vậy trong Đảng phải luôn luôn tự phê bình và phê bình, mà phê bình và tự phê bình “phải ráo riết”, “ triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt”. Cách phê bình cũng phải thành thật, giàu lòng nhân ái, khách quan. Thái độ phê bình phải có văn hoá, mang tính chất xây dựng chứ không phải nói xấu nhau. Những người bị phê bình thì phải vui vẻ nhìn nhận để sửa chữa. Được như vậy thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng.

Bản chất của “tự phê bình và phê bình” là hoạt động đấu tranh trong nội bộ Đảng để khắc phục sửa chữa những mặt, những khuynh hướng, những yếu tố tiêu cực lạc hậu trong tổ chức đảng và đảng viên; tìm ra những ưu điểm, những mặt tích cực để khuyến khích, biểu dương, phát triển. Nếu ví Đảng ta như một cơ thể sống, thì những khuyết nhược điểm là bệnh tật trong người và tự phê bình và phê bình là hoạt động “khám bệnh” và trị bệnh cho con người. Nhưng đấu tranh giải quyết những mâu thuẫn trong Đảng, như C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng chỉ rõ, tuyệt đối không được dùng biện pháp bạo lực thanh trừng lẫn nhau, loại bỏ lẫn nhau, mà phải đấu tranh bằng phê bình và tự phê bình.

Tự phê bình theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là “cá nhân thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa và để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã vi phạm. Phê bình là thấy ai có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ”.

Theo Người, có thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm thì mới phê bình người khác được chân thực và thẳng thắn. Mặt khác, trong thực tế, tự phê bình thường khó khăn hơn phê bình. Cần tự phê bình tốt để có thể phê bình tốt. Vì thế, Người thường đặt tự phê bình trước phê bình. Người nói: “Tự phê bình phải thật thà. Khi tự mình kiểm điểm cũng như khi tự phê bình trước mọi người, có khuyết điểm gì nói hết, không giấu diếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao sai lầm? Sai lầm ấy sẽ thế nào? Dùng cách nào mà sửa chữa? Và phải kiên quyết sửa chữa”. Bác cũng nói: “Tự phê bình và sửa chữa có khi dễ, nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn vì tự ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh. Tự mình không đánh thắng được khuyết điểm của mình mà muốn đánh thắng kẻ địch; tự mình không cải tạo được mình mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý. Vì vậy, người cách mạng nhất định phải thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm tự phê bình và phê bình trong xây dựng Đảng là “luật”, là “quy luật”, là “vũ khí sắc bén” làm cho Đảng trong sạch vững mạnh. Trước hết, tự phê bình và phê bình là “luật” – ở chỗ, đó là một trong những nguyên tắc không thể thiếu trong sinh hoạt Đảng nhằm không ngừng nâng cao tinh thần đoàn kết trong Đảng. Mọi tổ chức Đảng, đảng viên phải thấy đó là trách nhiệm của mình. Tự phê bình và phê bình là “quy luật” tồn tại và phát triển của Đảng; vì thông qua tự phê bình và phê bình, cán bộ, đảng viên mới thấy rõ yếu kém để khắc phục sửa chữa, thấy ưu điểm để phát huy. Tự phê bình và phê bình là “vũ khí sắc bén” vì qua đấu tranh phê phán những việc làm sai trái để làm trong sạch nội bộ Đảng. Mác, Ăngghen cho rằng tự phê bình và phê bình là quy luật bất di bất dịch về sự phát triển của Đảng cách mạng. Lênin tại Đại hội IX Đảng Cộng sản Nga, đã nói: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay đều bị tiêu vong do tự cao tự đại vì không biết cái gì đã tạo nên sức mạnh của mình và vì sợ không dám nói lên nhược điểm của mình. Chúng ta không sợ nói lên nhược điểm của chúng ta; những nhược điểm đó chúng ta sẽ học được cách khắc phục…”.

Về mục đích của “tự phê bình và phê bình”, Bác Hồ viết: “Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ, thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động được đúng đắn. Những người cách mạng cần phải kiên quyết thực hành tự phê bình, không thực hành tự phê bình thì không xứng đáng là người cách mạng. Cách mạng sở dĩ phát triển mãi, càng gặp nhiều gian khổ càng mạnh mẽ thêm là nhờ có phê bình và tự phê bình”. Tự phê bình và phê bình cũng theo Bác Hồ, là cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn; mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày phải kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết, như Bác nói: “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết. Ðoàn kết, phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa”.

Đối tượng của “tự phê bình và phê bình” theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cái cũ, cái tiêu cực, lỗi thời, cái không phù hợp với thời đại, cái sai trái trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ đảng viên.

Về phương pháp của “tự phê bình và phê bình”, Người chỉ rõ: “Tự phê bình là cá nhân cơ quan hoặc đoàn thể thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết để tránh những khuyết điểm mình đã phạm. Yêu cầu các tổ chức Đảng và đảng viên phải nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, cấp trên phải tự phê bình trước cấp dưới và tổ chức tốt phê bình, tự phê bình từ dưới lên. Tự phê bình phải thẳng thắn, thật thà, trung thực trên tình đồng chí thương yêu nhau. Đồng thời cần phải tránh việc lợi dụng phê bình để đả kích, vu cáo gây bè phái hay trù dập người phê bình thẳng thắn. Phê bình là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người, là thực hành dân chủ, do vậy người phê bình phải thành khẩn nghiêm trang đúng mực, phê bình phải đúng với thực tiễn khách quan, không được đem ý chủ quan của mình để áp đặt cho người khác”.

Trước những ý kiến cho rằng, tiến hành tự phê bình và phê bình là vô hình trung vạch rõ khuyết điểm của Đảng, của Chính phủ, của mình cũng như đồng chí mình, và như vậy kẻ địch sẽ lợi dụng để phá hoại Đảng, Hồ Chí Minh lập luận: làm người khó ai tránh khỏi lỗi lầm, thiếu sót. Đảng ta là một tổ chức chính trị tiên phong của giai cấp công nhân, tập hợp những chiến sĩ trung kiên, thông minh, dũng cảm…, nhưng Đảng cũng từ trong xã hội mà ra, không phải “trên trời rơi xuống” nên không tránh khỏi khuyết điểm, thiếu sót. Người chỉ ra nhiều lý do khách quan, chủ quan dẫn tới nhiều thiếu sót, khuyết điểm, thậm chí sai lầm của cán bộ, đảng viên. Điều đó là lẽ bình thường, quan trọng là thái độ của những người cộng sản ra sao trước những lỗi lầm mắc phải. Nếu “sợ mất oai tín và thể diện”, không quyết tâm sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, đó là điều bất bình thường. Người khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Hồ Chí Minh cho rằng: khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình thì giống như uống thuốc. Nếu sợ phê bình thì cũng khác nào là có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Như vậy thì bệnh tình lại càng nặng thêm, không chết “cũng la lết quả dưa ”. Do vậy, đối với đảng viên, cán bộ mà “nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình”.

Đặt vấn đề như vậy, rõ ràng Hồ Chí Minh không “siêu nhân hoá” con người cán bộ, đảng viên mà xét họ trong môi trường sống cụ thể và nêu quan điểm tự phê bình và phê bình chính là thang thuốc “xổ bệnh” rất có hiệu nghiệm để tẩy trừ những khuyết điểm, thiếu sót của cán bộ đảng viên, nhằm làm cho họ sống cao đẹp hơn, phục vụ cho nhân dân được nhiều hơn.

Để phê bình và tự phê bình đạt được kết quả mong muốn, theo Bác điều có ý nghĩa then chốt là phải “phê bình cho đúng”. Phê bình cho đúng chẳng những không làm giảm thể diện, uy tín của người bị phê bình, trái lại, còn làm cho sức mạnh, uy tín của Đảng và cán bộ đảng viên tăng lên. Muốn phê bình cho đúng, trước hết phải xác định đúng mục đích và đối tượng phê bình. Phê bình cốt là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, làm việc cho tốt hơn, tạo ra sự đoàn kết, thống nhất nội bộ. Phê bình mình cũng như phê bình người khác không phải là dịp để công kích lẫn nhau, nói xấu và bôi nhọ danh dự của nhau. Bản thân mình khi phê bình người khác không phải là soi mói, “bới lông tìm vết” của đồng chí mình để tìm cơ hội “hạ bệ” lẫn nhau. Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, cần phải tránh triệt để hiện tượng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí”. Người xác định đối tượng cần phê bình là công việc chứ không phải phê người. Những việc làm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm, khuyết điểm dù đó là của cá nhân hay của tổ chức, dù đó là đảng viên bình thường hay là cán bộ cấp cao đều phải được phê bình một cách kiên quyết và “phải lập tức sửa chữa”. Người nhấn mạnh: Đối với cơ quan lãnh đạo cũng như đảng viên giữ cương vị lãnh đạo trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể phải hết sức gương mẫu trong việc thực hiện tự phê bình và phê bình, tuyệt đối không được “phùng mang trợn mắt” làm thui chột tinh thần của đảng viên, quần chúng nhân dân trong đấu tranh phê bình, tự phê bình.

Theo Bác, có thái độ đúng với những khuyết điểm, thiếu sót và tìm ra phương pháp phê bình thích hợp là điểm có ý nghĩa mấu chốt trong nâng cao hiệu quả của tự phê bình và phê bình trong Đảng. Người cũng nghiêm khắc lên án thái độ, cách xử lý không đúng đắn trước những khuyết điểm, thiếu sót của tổ chức đảng hay cán bộ, đảng viên. Khi có người mắc phải sai lầm, khuyết điểm, thái độ đúng của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng là không “đao to búa lớn”, vội vàng chụp mũ cho họ là “cơ hội chủ nghĩa” rồi đi đến cảnh cáo “khai trừ” một cách áp đặt. Muốn cho họ thành tâm sửa chữa, phải tiến hành giải thích rõ ràng, làm cho họ tự nhận thấy sai sót của mình để vui lòng sửa chữa. Để làm được điều đó, “phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”. Phê bình “khôn khéo” ở đây, theo Hồ Chí Minh, là phải đồng thời vạch rõ ưu điểm và khuyết điểm, tránh dùng những lời mỉa mai, chua cay đâm thọc, không được hữu khuynh “a dua”, “tâng bốc” mà phải phê, tự phê một cách “ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang thêm bớt”.

Sự “khôn khéo” còn thể hiện ở chỗ tiến trình tự phê bình và phê bình phải được đặt trong khuôn khổ của tổ chức, có sự lãnh đạo chặt chẽ. Lãnh đạo, chỉ huy phải khơi dậy được tinh thần dân chủ không chỉ trong Đảng mà cả trong quần chúng nhân dân. Làm như thế mới tránh được hiện tượng đảng viên, cán bộ và quần chúng nhân dân dù có ý kiến cũng không dám nói, không dám đấu tranh phê bình. Hồ Chí Minh cho rằng: Họ không dám nói không phải họ không có ý kiến, nhưng vì họ nghĩ: nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị “trù” là đằng khác. Do không dám nói ra nên họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản, sinh thói không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng, “ trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm” sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác. Người nêu bật kinh nghiệm: “cơ quan nào mà trong lúc khai hội, cấp trên để cho mọi người có gì nói hết, cái đúng thì nghe, cái không đúng thì giải thích, sửa chữa, ở những cơ quan đó mọi người đều hoạt bát mà bệnh “thì thầm thì thào” cũng hết”.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh, phê bình phải được tiến hành một cách thường xuyên liên tục. Làm được như vậy, theo Người: các sai lầm khuyết điểm sẽ được rửa sạch ngay khi nó mới phôi thai. Còn “nếu để sai lầm, khuyết điểm trở nên to tát rồi mới đem ra “chỉnh” một lần, thế là “đập” cán bộ. Cán bộ bị “đập”, mất cả lòng tự tin, người hăng hái cũng hoá thành nản chí, từ nản chí đi đến vô dụng”, như thế là không thực hiện đúng mục đích của tự phê bình, phê bình, không vì sự tiến bộ mà còn mất dần đảng viên, cán bộ.

Những ý kiến về phê bình cho đúng của Hồ Chí Minh vừa nói lên tính Đảng, vừa nói lên tính nhân văn, văn hoá của người phê bình. Muốn sửa chữa sai lầm khuyết điểm đi đến sự tiến bộ thì phải dựa vào lòng tự giác của đảng viên, cán bộ và dùng biện pháp giải thích, thuyết phục. Điều đó là hết sức cần thiết nhưng như thế không có nghĩa là không giải quyết bằng con đường tổ chức. Người chỉ ra lỗi lầm cũng có “việc nhỏ, việc to”, nếu không dùng biện pháp xử phạt thì kỷ luật của Đảng cũng trở nên lỏng lẻo, và điều đó cũng là sự mở đường cho bọn cố ý dễ dàng phá hoại Đảng ta. Do vậy, để tự phê bình và phê bình được tăng thêm hiệu quả thì phải kết hợp chặt chẽ với biện pháp tổ chức, soi xét kỹ lưỡng từng trường hợp để có hình thức xử lý thích hợp.

Là một chiến sĩ cộng sản đã từng trải, dày dạn kinh nghiệm, với nhãn quan chính trị hết sức nhạy bén, Hồ Chí Minh sớm nhìn thấu được nguy cơ của một đảng cầm quyền là dễ vấp phải những sai lầm, khuyết điểm. Người đã chỉ ra một cách cụ thể và đồng thời bốc trúng thang thuốc “xổ bệnh” có hiệu quả cao là tiến hành phê bình trong Đảng. Phê bình cho đúng được Hồ Chí Minh luận giải trong tất cả các đề mục của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đều toát lên tư tưởng của Người về tình yêu thương con người, vì sự tiến bộ của mỗi đảng viên, cán bộ. Người cỗ vũ và chỉ rõ cho mỗi đảng viên, cán bộ con đường tự giải thoát và giúp nhau giải thoát khỏi mọi chứng bệnh, vượt lên mọi cám dỗ thấp hèn, thực sự là con người mới xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang thực hiện cuộc vận động lớn: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để cuộc vận động đạt được mục tiêu đề ra thì giải pháp hàng đầu là tiến hành phê bình, tự phê bình mà điểm then chốt của nó là phải phê bình cho đúng như Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách đây hơn 60 năm ở trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Phê bình cho đúng cũng chính là một biểu hiện của sự thấm sâu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong mỗi chúng ta.

Trong thực tế hiện nay, một số tổ chức Đảng xuất hiện những biểu hiện lệch lạc trong phương pháp tự phê bình và phê bình, như sau: Tự phê bình thì ít hoặc không chịu tự phê bình nhưng phê bình thì nhiều, làm ra vẻ ta đây hăng hái đấu tranh chống tiêu cực; phê bình vu vơ, phê bình không có địa chỉ rõ ràng; phê bình theo cách đặt điều, theo kiểu lợi dụng phê bình để bôi xấu nhau, để hạ bệ người mình không ưa, nhất là biết người đó sẽ được đề bạt. Trong các đợt sinh hoạt Ðảng tự phê bình và phê bình, thường có thái độ “giữ mình”, ngồi im, nếu thấy đồng chí phê bình mình thì giả vờ thành khẩn nhận cho qua chuyện; giả vờ thành khẩn nhận và hứa sửa chữa khuyết điểm khi được tập thể phê bình, nhưng thực chất nhận và hứa cho qua chuyện. Hiện tượng hữu khuynh, né tránh, kém tính chiến đấu của không ít cán bộ, đảng viên, cá biệt có tình trạng tranh thủ phê bình để tâng bốc, nịnh bợ cấp trên… đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tự phê bình và phê bình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi hiện tượng đó là sự giấu diếm khuyết điểm, giống như người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc, trong khi những người khác biết rõ nhưng cũng làm ngơ. Hữu khuynh né tránh, thực chất là một biến tướng của chủ nghĩa cá nhân và tư tưởng cơ hội trong tình hình mới và là nguyên nhân của hiện tượng độc đoán, chuyên quyền, định kiến, trù dập người phê bình của những cán bộ có chức, có quyền… làm cho cấp dưới và quần chúng “Dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình”. Tự phê bình và phê bình vốn đã mang tính chiến đấu, ngày nay tính chiến đấu đó càng đòi hỏi cao hơn. Không thể dung nạp hiện tượng độc đoán, gia trưởng, hữu khuynh, né tránh của cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình. Người nói: “Cán bộ nào không dám công khai nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”.

Mỗi thời kỳ phát triển của cách mạng đặt ra những nhiệm vụ chính trị cụ thể và cũng đặt ra những yêu cầu mới trong nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu và nhiệm vụ lãnh đạo công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội hiện nay là một sự nghiệp to lớn nhằm củng cố vững chắc độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đảng không thể hoàn thành sự nghiệp lãnh đạo đầy khó khăn đó nếu không chú trọng xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về mọi mặt, nếu Đảng không thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, cùng với những thành công và ưu điểm, Đảng cũng còn bộc bạch những khuyết điểm, yếu kém, những biểu hiện chưa ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng. Vì vậy, đổi mới và chỉnh đốn Đảng là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng và cũng là đòi hỏi tự thân của Đảng. Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, trong đó đặc biệt là coi trọng nguyên tắc Tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ thường xuyên và tất yếu trong công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh./.

AD

soctrang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện nhân cách Đảng viên Cộng sản

Nhân cách Hồ Chí Minh là nhân cách của một vĩ nhân không chỉ ở tầm dân tộc, mà ở tầm thời đại, tầm nhân loại. Chính vì thế, Người đã được thế giới tôn vinh là danh nhân văn hóa. Trong thế giới biến động như hiện nay thì nhân cách trong sáng, thanh tao của Hồ Chí Minh lại càng nổi cao vời vợi.

Những năm 20 của thế kỷ XX (1925 – 1927) khi mở lớp tập huấn cho cán bộ đầu tiên – những hạt giống cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu bằng bài nói về Tư cách một người cách mệnh. Và cả sau này, khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, thì với Người, chủ đề nổi bật trong giáo dục, rèn luyện cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể, quân đội vẫn là vấn đề đạo đức cách mạng. Từ “Thư gửi các UBND các bộ, tỉnh, huyện và làng” (tháng 10/1945), “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10/1947) đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3/2/1969) cho đến Di chúc, Người đã ân cần nghiêm khắc nhắc nhở “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Hồ Chí Minh đã chỉ ra rất sớm nguy cơ tha hóa của người cán bộ, đảng viên khi ở vào vị trí quyền lực. Người thường xuyên nhấn mạnh: Cái tạo nên sức mạnh của Đảng là ở nơi mỗi cán bộ đảng viên biết thực hiện lời nói đi đôi với việc làm, tự mình nêu gương trước từ việc lớn đến việc nhỏ, lúc gian khổ khó khăn cũng như khi thành đạt. Trong lần nói chuyện tại buổi lễ tốt nghiệp khóa thứ 5. Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam, Bác nói:

“…Mình phải làm gương cho đồng bào, phải siêng năng, hăng hái. Tôi lấy thí dụ như trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tì tì thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải. Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo người ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được?”.

Những ai đang dầm mình trong đam mê quyền lực, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, bỏ rơi lý tưởng cách mạng hoặc lý tưởng chỉ còn trên đầu lưỡi, che đậy cho tham vọng thấp hèn, tội lỗi hãy nhớ lại cuộc sống của Bác, lời dạy của Bác về tư cách đạo đức của người cách mạng để suy ngẫm, soi xét mình, tăng thêm nghị lực cho cái thiện chiến thắng cái ác trong mỗi con người.

Tham ô, buôn lậu đã trở thành quốc nạn không chỉ gây nên thiệt hại vô cùng to lớn về kinh tế, mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào chế độ, vào Đảng, Nhà nước. Bác chỉ rõ: “Tham ô là trộm cướp… Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám… Chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như đánh giặc trên mặt trận…

Tham ô, lãng phí, quan liêu là một “thứ giặc ở trong lòng”. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình…

Năm 1962, trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, Bác lại nói: “Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư…

Nếu nhà ai bị mất cắp, mất trộm, thì hô hoán lên và cả xóm, cả làng đuổi bắt kẻ trộm. Khi của công bị mất cắp, mất trộm thì mọi người đều có trách nhiệm vạch mặt kẻ gian và đưa nó ra trước pháp luật, vì mọi người đều có nghĩa vụ giữ gìn của công… Tham ô của công tức là xâm phạm đến lợi ích chung của nhân dân, tức là kẻ địch của nhân dân…”.

Bác chỉ rõ: kẻ địch gồm có ba loại: Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm.

Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to .. Loại thứ ba là chủ nghĩa cá nhân”.

Thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.

Hồ Chí Minh cho rằng, chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lợi ích cá nhân”, nhưng trong chủ nghĩa xã hội thì “mỗi người là một bộ phận của tập thể, giữ một vị trí nhất định và đóng góp một phần công lao trong xã hội. Cho nên lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể…”.

Chúng ta đang nghiên cứu để hiểu sâu hơn di sản Tư tưởng, Đạo đức Hồ Chí Minh nhằm kế thừa, vận dụng và phát triển vào hoàn cảnh hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện đổi mới và mở cửa… Có thế nói, nhiều người trong chúng ta, kể cả một số cán bộ, đảng viên và người có chức, có quyền, đã thực hiện không tốt, thậm chí lãng quên nhiều bài học vỡ lòng cơ bản mà Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ những ngày đầu sau khi cách mạng Tháng Tám thành công và không ngừng nhắc lại cho đến khi Người sắp qua đời. Học lại và nhất là thực hiện cho tốt những bài học ấy là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức của tất cả chúng ta từ các đồng chí Trung ương đến mọi người dân bình thường, để khẩu hiệu “sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” không phải là một câu sáo rỗng.

(Theo tạp chí xây dựng Đảng)

sites.google.com

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – Thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam

Kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Đoàn người biểu tình ngày 19-8-1945 trước cửa Bắc Bộ phủ, Hà Nội

Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng ta đã có chủ trương, đường lối đúng đắn, vạch ra con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam là làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1). Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam giành thắng lợi từng bước trong hai cuộc tổng diễn tập đầu tiên 1930-1931, 1936-1939. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã tạo ra cơ sở, tiền đề vững chắc để nhân dân tin tưởng, đi theo tiếng gọi của Đảng.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi này là kết quả của 15 năm đấu tranh kiên cường, bền bỉ, anh dũng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, trong đó đặc biệt là sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, giành chính quyền về tay nhân dân.

Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng ta đã có chủ trương, đường lối đúng đắn, vạch ra con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam là làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1). Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam giành thắng lợi từng bước trong hai cuộc tổng diễn tập đầu tiên 1930-1931, 1936-1939. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã tạo ra cơ sở, tiền đề vững chắc để nhân dân tin tưởng, đi theo tiếng gọi của Đảng.

Đầu năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ. Theo dõi sát diễn biến của chiến tranh, Đảng ta nhận định: “Nếu cuộc chiến tranh thế giới lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”(2).

Nhận định của Đảng dựa trên cơ sở phân tích khoa học và lý luận cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin một cách biện chứng, khách quan, toàn diện, thể hiện tư duy nhạy bén của Đảng về quy luật vận động tất yếu: Có áp bức, có đấu tranh. Nhận định này chứng minh tầm vóc, tư duy chiến lược của Đảng và Bác Hồ sớm nhận thấy quy luật vận động cách mạng, dự báo thời cơ cách mạng, nhanh chóng triển khai, thực hiện nhiệm vụ để thúc đẩy cách mạng từng bước phát triển. Tức là, không thụ động chờ thời cơ, mà sáng tạo, tích cực, chủ động tiến hành đấu tranh cách mạng, từng bước tạo thế, lực và thời, thúc đẩy thời cơ nhanh chóng chín muồi.

Nắm vững thực tế và yêu cầu đòi hỏi bức thiết của lịch sử, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã liên tiếp họp Hội nghị Trung ương 6 (11-1939), 7 (11-1940), 8 (5-1941). Nội dung của 3 Hội nghị đã đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xác định kẻ thù trước mắt của cách mạng Việt Nam là đế quốc và tay sai. Giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Đặt và giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi mỗi nước Đông Dương. Chuyển đổi hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh từ công khai hợp pháp, nửa hợp pháp sang bí mật bất hợp pháp.

Nghị quyết Trung ương 8 khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(4); nhân dân Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động đứng lên “đem sức ta mà giải phóng cho ta”(5). Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết thành: Cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người với khẩu hiệu: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.

Đầu năm 1945, phát xít Đức đang bên bờ diệt vong, phát xít Nhật lâm vào tình thế khốn quẫn. Đúng như dự báo của Đảng, mâu thuẫn Nhật – Pháp ở Đông Dương đã lên tới đỉnh điểm giống như “cái nhọt bọc sẽ phải vỡ mủ”. Ngay đêm mồng 9-3, khi Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị và đưa ra Văn kiện lịch sử vô cùng quan trọng, đó là Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

Nội dung Chỉ thị xác định: Kẻ thù chính của cách mạng lúc này là phát xít Nhật, Việt gian tay sai và chủ trương thay khẩu hiệu “đánh đuổi Nhật, Pháp” bằng khẩu hiệu“đánh đuổi phát xít Nhật”. Phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước và làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thực hiện khởi nghĩa từng phần ở những địa phương có điều kiện.

Với quyết tâm phải giành cho được độc lập, tự do, Đảng ta chỉ đạo tích cực xây dựng lực lượng cách mạng, chủ động đón thời cơ, nổi dậy giành chính quyền, khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Một cao trào cách mạng phát triển rộng rãi, sôi nổi, phong phú về hình thức và nội dung như: Phong trào phá kho thóc của Nhật cứu đói cho dân, phong trào khởi nghĩa từng phần diễn ra ở nhiều nơi và giải phóng hàng loạt các thị xã, châu, huyện ở các tỉnh phía Bắc… Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị về việc tổ chức Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Tiếp đó, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) ra nhiệm vụ phát triển chiến tranh du kích, thống nhất các lực lượng quân sự thành Việt Nam giải phóng quân. Như vậy, những chủ trương đấu tranh của Đảng trong cao trào kháng Nhật, cứu nước là bước chuẩn bị quan trọng để cả nước sẵn sàng tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi.

Ngày 9-5-1945, Đức đầu hàng đồng minh. Trong nước, phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Thời cơ thắng lợi đã tới! Bác Hồ đã căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Ngày 14-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) nhận định thời cơ đã đến, quyết định tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, giành chính quyền trước khi quân đồng minh vào Đông Dương, đêm 13-8-1945, khi Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 – hiệu triệu toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền,

Ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng đồng minh. Ngày 16 và 17-8-1945, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong thư kêu gọi đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(6).

Không khí Tổng khởi nghĩa diễn ra sôi nổi khắp cả nước. Cả dân tộc muôn người như một, vùng lên. Hành động vùng dậy, lay trời chuyển đất của hàng triệu quần chúng đã tạo nên một ưu thế áp đảo, giáng một đòn quyết định vào các cơ quan đầu não của bọn Việt gian, làm tê liệt mọi sự kháng cự của phát xít Nhật và các thế lực thù địch, giành chính quyền về tay nhân dân. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám giành chính quyền đã thành công rực rỡ trong cả nước vào ngày 28-8-1945.

Như vậy, chỉ trong vòng 15 ngày, cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công. Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình – Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và khẳng định toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh dấu bước ngoặc lịch sử vĩ đại, là thắng lợi vô cùng to lớn trên con đường cứu nước và giải phóng dân tộc mà Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn khi bắt gặp Chủ nghĩa Mác – Lênin. Thắng lợi này đã chứng tỏ nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(7).

Trong quá trình đấu tranh giành lại chủ quyền dân tộc, non sông gấm vóc, Cách mạng Tháng Tám với những bài học quý về nghệ thuật tạo thế và lực, về tập hợp lực lượng, nhất là nghệ thuật chớp thời cơ đã trở thành biểu tượng sáng ngời của ý chí quật cường của dân tộc ta, thôi thúc cả dân tộc đồng lòng, chung sức, anh dũng, bền bỉ đấu tranh, thu non sông về một mối, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mốc son chói lọi ấy đã, đang và luôn luôn tỏa sáng, thôi thúc toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tạo ra thế và lực mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

______

(1). Văn kiện Đảng, toàn tập, NXB CTQG, H.2000, tập 2, tr.2.
(2). Sách đã dẫn, tập 7, tr.100.
(3). Sđd, tập 7, tr.113.
(4). Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2002, tập 1, tr.466.
(5), (6). Sđd, tập 3, tr.554.
(7). Sđd, tập 6, tr.159.

Phạm Thị Nhung, Trần Trung Nhàn
Trường Sỹ quan Lục quân II

xaydungdang.org.vn

Bác Hồ với tuổi trẻ và mùa Xuân

Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa. Ảnh tư liệu

Trong cuộc sống hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn dành những tình cảm tốt đẹp cũng như thời gian, công sức, trí tuệ của mình để giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh niên Việt Nam. Qua từng thời kỳ cách mạng khác nhau, Bác luôn đề ra phương hướng, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng và phát huy sức mạnh của tuổi trẻ cũng như củng cố xây dựng các tổ chức Đoàn, Hội.

Ngay sau khi đất nước độc lập, trong thư gửi học sinh cả nước ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác Hồ đã khẳng định: “… Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu…” và trong cái Tết độc lập đầu tiên, trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc, Bác viết: “Một năm mới khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội…”, ngày 17 tháng 8 năm 1947 trong thư gửi thanh niên, một lần nữa Bác Hồ lại khẳng định: “… Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó…”

Là người sáng lập, theo dõi, tổ chức và rèn luyện thanh niên ngay từ những ngày đầu thành lập, cho đến khi tổ chức Đoàn TNCS trở thành đội hậu bị và cánh tay đắc lực của Đảng, là lực lượng nòng cốt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại hòa bình độc lập cho Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Bác Hồ vô cùng xúc động nói trong lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn thanh niên lao động Việt Nam năm 1960: “Với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy, Bác rất tự hào, sung sướng và thấy như mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang”. Ngày 18-1-1963 trong bài nói chuyện với cán bộ nhân dân Kiến An – Hải Phòng, Bác nhấn mạnh: “Đảng cần phải giúp đỡ Đoàn thanh niên phát triển tốt, đồng thời phải chọn những đồng chí Đoàn viên kinh qua thử thách va đã đủ điều kiện đưa họ vào Đảng”.

Rõ ràng, trong tư tưởng của Bác Hồ, tư tưởng vận động thanh niên là một kho tàng về tư duy chính trị, mà quan điểm lý luận luôn được phát triển phù hợp với thực tế khách quan mà cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, có tác dụng định hướng cho thế hệ trẻ.

Trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, Bác đã để lại lời căn dặn trong bản di chúc: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa “Hồng” vừa “Chuyên”. Bồi dưỡng cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết…”.

Đảng và Bác Hồ kính yêu đã đặt trọn niềm tin vào thế hệ trẻ. Những đóng góp của thanh niên vào thành quả của những năm đổi mới đã khẳng định quyết tâm của thế hệ trẻ Việt Nam là ra sức lao động, học tập, rèn luyện và tuyệt đối trung thành với sự nghiệp đổi mới của Đảng, quyết tâm đưa nước ta trở thành nước giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh như mong muốn của Bác lúc sinh thời.

Bùi Huy – Theo website Tuổi trẻ Đà Nẵng
tinhdoanbg (Theo: tieuhocdanghai.com)

tinhdoanbg.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân

CPV- Bằng đường lối chính trị đúng đắn, bằng mục tiêu chính trị đúng đắn với sự mềm dẻo, linh hoạt trong chỉ đạo, Hồ Chí Minh đã thực hiện thành công việc tập hợp toàn dân vào các hình thức mặt trận, phát huy đến cao độ khả năng của dân trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, trường kỳ để rồi bằng chính sức mạnh của mình giành thắng lợi.

Tư tưởng quốc phòng toàn dân của Hồ Chí Minh được biểu hiện trước hết là việc phát động một cuộc chiến tranh nhân dân, dùng sức mạnh của toàn dân để đánh thắng kẻ thù.

Kế thừa truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của dân tộc, vận dụng quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Dân là chủ, kháng chiến kiến quốc là sự nghiệp của dân; có dân là có tất cả; khởi nghĩa toàn dân để giành lại nền độc lập cho dân tộc, kháng chiến toàn dân để giữ vững nền độc lập ấy. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. Trong quá trình kháng chiến, Người đã nhiều lần khẳng định: 20 triệu đồng bào Việt Nam quyết đánh tan mấy vạn quân thực dân phản động. Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người kêu gọi toàn dân với tinh thần: mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Hai là, xây dựng lực lượng quân sự bao gồm ba thứ quân, kết hợp xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp và chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, sử dụng linh hoạt các phương pháp tiến công.

Ngay khi Đảng ra đời, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng ta đã chú ý xây dựng các hình thức mặt trận. Mặt trận chính là tổ chức nhằm tập hợp đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân. Đây là cơ sở để xây dựng một đội quân chính trị rộng khắp.

Trong xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh hết sức chú ý đến việc giáo dục tư tưởng chính trị và nhiệm vụ chính trị cho họ. Đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ở Hồ Chí Minh, giữa chính trị và quân sự có mối quan hệ mật thiết. Dùng chính trị để phục vụ cho quân sự, dùng quân sự để xây dựng chính trị và kết hợp chính trị với quân sự để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bằng tinh thần và sức mạnh của toàn dân.

Ba là, kết hợp giữa kháng chiến và kiến quốc, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Tư tưởng này được thể hiện rất rõ trong hai cuộc kháng chiến. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chủ trương “Vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, khẩn trương xây dựng chính quyền và Mặt trận Liên Việt, kêu gọi toàn dân thi đua ái quốc “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm”, “hậu phương thi đua với tiền phương”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính, thi hành đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện các chính sách bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Người chủ trương xây dựng miền Bắc làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam và là cơ sở vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Người đã động viên quân và dân miền Bắc ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cả nước có chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đánh bại chiến tranh phá hoại của địch và chi viện cho miền Nam, với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”.

Tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, hiện nay, Đảng ta rất coi trọng việc giáo dục ý thức quốc phòng cho các tầng lớp nhân dân, kêu gọi nhân dân đề cao cảnh giác, chống các âm mưu và thủ đoạn của địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Cùng với chiến lược phát triển kinh tế, Đảng ta đề ra chiến lược về quốc phòng và an ninh quốc gia; kết hợp kinh tế với quốc phòng; kết hợp giữa xây dựng lực lượng vũ trang chính quy với các lực lượng tự vệ ở các địa phương, tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

ĐTH – ĐQ

sites.google.com