Tag Archive | Quân sự

Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 4)

Bên cạnh súng phòng không và pháo cao xạ, “én bạc” MiG-21 và “rồng lửa Thăng long” SA-2 là hai loại vũ khí chủ lực đập tan niềm tự hào của không lực Mỹ, làm nên chiến thắng vang dội địa cầu.

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 3)

Tiêm kích đánh chặn MiG-21

MiG-21 là máy bay tiêm kích phản lực siêu âm do Liên Xô thiết kế phát triển vào những năm 1950. Vào thời điểm bấy giờ, MiG-21 là một trong những tiêm kích cơ hiện đại nhất thế giới. Chúng đã tham gia phục vụ ở gần 50 quốc gia trên thế giới, cho tới ngày nay vẫn có nhiều nước tiếp tục sử dụng MiG-21 như Việt Nam, Ấn Độ, Cu ba, Trung Quốc (biến thể J-7 do Trung Quốc tự sản xuất).

Liên Xô viện trợ loại tiêm kích này cho Việt Nam vào năm 1966, khi cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại miền bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ đang ở giai đoạn rất quyết liệt.

Tiêm kích MiG-21 của không quân nhân dân Việt Nam. Ảnh: Tuấn Linh

Tiêm kích MiG-21 thiết kế theo kiểu cánh tam giác, có hình dáng gần giống một mũi tên, được trang bị hệ thống điện tử khá đơn giản bao gồm:

– Thiết bị nhận diện bạn và thù (identification, friend or foe – IFF) dùng để nhận biết các loại máy bay, xe cộ thuộc quân ta hay đối phương. IFF xác định vị trí khoảng cách. MiG-21 hầu hết trang bị IFF SRZO-2 “Khrom-Nikel”.

– Thiết bị thông tin liên lạc RSIU-5, trừ một số phiên bản đời đầu như MiG-21F-13 trang bị R-802.

– Radar cảnh báo trên MiG-21 chủ yếu là SPO-2.

– Kính ngắm cho súng máy ASP-5 (phiên bản đời đầu MiG-21F-13, MiG-12F), PKI cho các bản tiếp sau.

Ngoài ra, một thiết bị không thể thiếu trên máy bay chiến đấu là radar điều khiển hỏa lực. Các máy bay MiG ngoài các mẫu đời đầu, thường được trang bị radar RP-21 “Saphir”. Trên lý thuyết loại radar này phát hiện mục tiêu ở khoảng cách 20km và khóa mục tiêu ở cực ly 10 km. Tuy nhiên, thực tế con số này lần lượt ở mức 13 km và 7 km.

Các phiên bản MiG-21 trang bị vũ khí chủ yếu là hai tên lửa không đối không tầm nhiệt Vympel K-13 có tầm bắn khoảng 8 km. Vũ khí phụ là pháo 23 hoặc 30 mm.

MiG-21 sử dụng động cơ phản lực đốt nhiên liệu hai lần Tumansky R-11-300, cho phép tiêm kích này đạt tốc độ lên tới 2.500 km/h (Mach 2,5), tầm hoạt động khoảng 1.500 km, trần bay gần 20.000m.

Không quân nhân dân Việt Nam lúc đó được viện trợ các loại MiG-21F-13/PF/PFM/MF. Trong chiến dịch Linebacker II, không quân Việt Nam đã lập nên kỳ tích bắn rơi hai pháo đài bay B-52. Một “kỷ lục” mà cho tới tận ngày nay vẫn chưa có quốc gia nào trên thế giới làm được.

MiG-21 số hiệu 5121 do phi công Phạm Tuân lái bắn rơi “Pháo đài bay” B-52.
Ảnh: Tuấn Linh

Hai người anh hùng đó là phi công Phạm Tuân lái một chiếc Mig-21MF (trang bị radar RP-22) bắn rơi B-52 vào đêm 27/12/1972. Phạm Tuân sau này đã trở thành người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên vũ trụ cùng với nhà du hành vũ trụ Gorbatko trên con tàu Soyuz 37.

Người phi công thứ hai là Vũ Xuân Thiều, bắn hạ một chiếc B-52 đêm 28. Anh anh dũng hy sinh khi dùng máy bay làm “viên đạn thứ ba” đâm thẳng vào B-52, sau khi bắn hai tên lửa mà chưa tiêu diệt được địch.

Ngoài ra, trước đó, phi công Vũ Đình Rạng từng bắn bị thương một B-52 vào ngày 20/11/1971. Tổng kết sau 12 ngày đêm, không quân MiG-21 đã xuất kích 24 lần bắn rơi 7 máy bay địch (trong đó có hai B-52)

Hệ thống tên lửa đất đối không SA-2

SA-2 (theo tiếng Nga gọi là C-75) là hệ thống tên lửa đất đối không tầm trung, tầm cao do Liên Xô phát triển từ những năm 50. SA-2 được triển khai chủ yếu ở các quốc gia thuộc khối Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới.

Tên lửa đất đối không SA-2. Ảnh: Tuấn Linh

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Việt Nam được Liên Xô viện trợ cho loại tên lửa này. Ngày 24/7/1965, bộ đội tên lửa Việt Nam đã tham gia đánh thắng trận đầu bắn rơi một chiếc F-4 trên bầu trời miền Bắc.

Từ đó tới chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, tên lửa phòng không Việt Nam tham gia bắn hạ hàng trăm máy Mĩ.

Hệ thống tên lửa đất đối không SA-2 bao gồm các thành phần:

-Tên lửa V-750 là loại tên lửa hai tầng gồm một tầng phóng chứa nhiên liệu rắn và một tầng chứa nhiên liệu lỏng. Bộ phận phóng hoạt động trong khoảng 4-5 giây, động cơ chính vào khoảng 22 giây. V-750 lắp một đầu đạn 200 kg HE-phá mảnh. Khi cách mục tiêu khoảng 60m thì đầu đạn tự nổ bung ra 12.000 mảnh vụn. Tên lửa có tầm bắn 45km, độ cao bay trên 20 km.

– Radar điều khiển hỏa lực FAN SONG, tầm phát hiện mục tiêu khoảng 60 –120km đối với phiên bản A/B và 75-145km (phiên bản E/F/D). Radar có khả năng quét theo dõi đồng thời sáu mục tiêu cùng lúc. Radar FAN SONG kết hợp với hệ thống tên lửa SA-2 và radar bắt mục tiêu SPOON REST.

– Radar bắt mục tiêu và cảnh báo SPOON REST có tầm hoạt động khoảng 275 km.

– Radar đo độ cao SIDE NET, độ cao tìm kiếm từ 28 – 32 km.

– Radar cảnh báo sớm KNIFE REST, tầm hoạt động khoảng 250 km. Loại này chỉ được trang bị ở một số phiên bản đời đầu của hệ thống SA-2.

Tên lửa SAM-2 Radar điều khiển hỏa lực FAN SONG. Ảnh: Tuấn Linh

Radar bắt mục tiêu và cảnh báo SPOON REST. Ảnh: Tuấn Linh

Radar đo độ cao SIDE NET. Ảnh: Tuấn Linh

Radar cảnh báo sớm KNIFE REST.

Một tiểu đoàn tên lửa SA-2 thường được bố trí theo kiểu hình hoa, 6 bệ phóng bố trí ở xung quanh các hệ thống radar điều khiển và dẫn đường.

Một điểm đáng lưu ý nữa, có một số nguồn tin lâu nay cho rằng tên lửa SA-2 trong chiến tranh Việt Nam đã được cải tiến nối tầng nâng tầm bắn. Nhưng thực tế hoàn toàn không phải, bởi tên lửa SA-2 có thể hạ mục tiêu ở độ cao trên 20.000m trong khi trần bay tối đa của B-52 chỉ là 15.000 – 17.000m (khi bay ném bom độ cao bay 10.000m). Trên thực tế, chất bộ đội ta đã cải tiến các thiết bị radar để “vạch nhiễu tìm thù” bắt B-52 đền tội.

Xác B-52 rơi tại hồ Hữu Tiệp, làng Ngọc Hà (Hà Nội). Ảnh: Tuấn Linh

Trong chiến dịch cuối năm 1972, tên lửa SA-2 đã bắn rơi được 29 chiếc B-52, riêng Hà Nội bắn rơi 25 chiếc. Đây là một “cú sốc” đối với không lực Mỹ, bởi chúng coi B-52 là pháo đài bay không thể xâm phạm, được bảo vệ bởi nhiều loại máy bay gây nhiễu chủ động, bị động.

Với ý chí kiên cường, sáng tạo, anh dũng, quân và dân Thủ đô đã hạ đo ván con “ngáo ộp” này trên bầu trời miền Bắc Việt Nam. Buộc đế quốc Mỹ phải quay trở lại bàn đám phán ở Paris để ký kết hiệp định lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Lê Nam (tổng hợp)
baodatviet.vn

Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 3)

Để đối phó với Linebacker II, quân và dân thủ đô Hà Nội đã thiết lập lưới lửa phòng không để bảo vệ Thủ đô cùng các thành phố lớn ở miền Bắc.

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)
>> Thăm lại xác ‘Pháo đài bay B-52’ trong bảo tàng Hà Nội

Các loại pháo phòng không ta sử dụng trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không:

Súng máy phòng không tầm thấp (cỡ 12,7mm và 14,5mm)

Ngay từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã được Liên Xô viện trợ cho súng máy phòng không tầm thấp DShK 12,7mm và đã lập chiến công bắn hạ nhiều máy bay quân Pháp ở chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Song, trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không 1972, DShK 12,7mm lần nữa tham gia bảo vệ bầu trời Hà Nội chống lại không quân Mỹ.

DShK 12,7mm được Liên Xô phát triển từ cuối những năm 1930, với mục đích tạo ra loại súng có khả năng chống thiết giáp hạng nhẹ và máy bay tầm thấp. Súng máy phòng không 12,7mm hoạt động theo cơ chế trích khí, được làm mát bằng không khí; nặng khoảng 137kg (tính cả giá đỡ ba chân), được điều khiển bởi một tổ ba người và cả ba người này sẽ phụ trách tháo lắp di chuyển từng phần súng khi cần; được lắp một hộp tiếp đạn cỡ 50 viên. Tầm bắn tối đa 2000m tuy nhiên tầm bắn hiệu quả chỉ là 1.000m. Sơ tốc đầu đạn 850 viên/phút, tốc độ bắn 600 viên/phút.

Súng máy phòng không DShK 12,7mm đặt trên giá ba chân.

Kết hợp với các đơn vị trang bị DShK 12,7mm lực lượng phòng không tầm thấp của ta còn được viện trợ loại súng máy phòng không ZPU-1/2/4 sử dụng cỡ nòng 14,5mm.

Tất cả seri ZPU đều được Liên Xô phát triển trong khoảng thời gian 1945-1947, đến đầu năm 1950 chúng được đưa vào biên chế của Hồng Quân. Mặc dù ra đời từ cách đây nửa thế kỉ, nhưng tới tận ngày nay, chúng vẫn nằm trong thành phần trang bị của hàng chục quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Các seri của ZPU bao gồm:
-ZPU-1 được lắp một nòng cỡ 14,5mm
-ZPU-2 được lắp hai nòng cỡ 14,5mm
-ZPU-4 lắp bốn nòng cỡ 14,5mm

Pháo phòng không ZPU-1 14,5mm. Ảnh: Lê Nam

Pháo phòng không ZPU-2 14,5mm (hai nòng). Ảnh: Lê Nam

Pháo phòng không ZPU-4 14,5mm (bốn nòng). Ảnh: Lê Nam

Tất cả các series ZPU trên đều bắn loại đạn API (BS41) trọng lượng 64,4gram. Sơ tốc đầu đạn 1000m/s, tầm bắn tối đa chống máy bay 5000m, tuy nhiên thật sự hiệu quả ở cự ly 1400m. Tốc độ bắn trên lý thuyết 600 viên/phút còn thực tế chỉ là 150 viên/phút.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, DShK 12,7mm kết hợp với các khẩu đội ZPU-1/2/4 với nhiệm vụ chống máy bay địch bay thấp đã phát huy tác dụng bắn rơi nhiều máy bay quân địch, đặc biệt là chiến công bắn hạ 5 máy bay cánh cụp cánh xòe F-111 “con lợn đất”.

Pháo phòng không 37mm M1939 (61-K)

M1939 (61-K) là pháo phòng không cỡ nòng 37mm được Liên Xô phát triển từ cuối những năm 1930 và sử dụng trong suốt cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.

Pháo 37mm được thiết kế chủ yếu để chống lại máy bay ném bom bổ nhào, các mục tiêu tầm thấp, tầm trung hoặc chống lại các loại xe thiết giáp hạng nhẹ. Đây là loại pháo nòng dài rãnh xoắn, được đặt trên xe kéo bốn bánh ZU-7l; có tầm bắn chống máy bay 2500m, tốc độ bắn khoảng 180 viên/phút. Khẩu đội bao gồm 8 người. Pháo được ngắm bắn bằng kính ngắm quang học.

Pháo phòng không 37mm M1939. Ảnh: Lê Nam

Ngay từ trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, quân đội ta đã được viện trợ loại vũ khí này để chống máy bay quân Pháp ở Điện Biên Phủ.

Năm 1972, pháo 37mm tiếp tục tham gia vào chiến dịch Điện Biên Phủ trên không với vai trò phòng không bảo vệ cầu cống, kho tàng, bến bãi,… và các trận địa tên lửa chống máy bay địch bay tầm thấp.

Pháo phòng không 57mm AZP S-60

57mm AZP S-60 là loại pháo phòng không tầm thấp, tầm trung do Liên Xô phát triển từ những năm 1950.

Cũng giống như pháo 37mm, S-60 được sử dụng để chống lại các loại xe thiết giáp hạng nhẹ và bắn máy bay tầm thấp. Thông thường, 57mm S-60 được kéo bởi một xe Ural-375.

Một sự khác biệt lớn với 37mm M1939 (61-K) trong hệ thống ngắm bắn, 57mm S-60 được triển khai cùng với hệ thống điều khiển với máy chỉ huy PUAZO-6/60 và radar SON-9/9A, hoặc tương tự pháo 57mm cũng sử dụng máy chỉ huy PUAZO-5 và radar SON-4.

Trong tác chiến phòng không, pháo 57mm có tầm bắn 4.000m nếu dùng kính ngắm quang học và 6.000m nếu có radar dẫn đường. Trong một trung đoàn trang bị 57mm thường được bố trí thành bốn khẩu đội. Mỗi khẩu đội gồm 6 pháo, radar điều khiển hỏa lực, máy chỉ huy.

Pháo phòng không 57mm AZP S-60. Ảnh: Lê Nam

Sau này, các chuyên gia còn cải tiến lắp pháo 57mm lên thân xe tăng T-54 để tăng khả năng cơ động. Mẫu cải tiến này được đặt tên là ZSU-57-2 (pháo 57mm hai nòng). Loại này cũng được trang bị cho quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Pháo 57mm AZP S-60 nằm trong thành phần lực lượng phòng không tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trên không.

Pháo phòng không 100mm KS-19

100mm KS-19 là loại pháo phòng không tầm trung, tầm cao của Liên Xô viện trợ cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Pháo phòng không tầm cao 100mm KS-19. Ảnh: Lê Nam

Pháo 100mm được điều khiển bởi một tổ 15 người, khi cần thiết chúng được di chuyển bởi xe kéo bánh xích hạng trung AT-S và hạng nặng AT-T.

Trong tác chiến chống máy bay, 100mm KS-19 có khả năng tiêu diệt mục tiêu ở độ cao 10000m. Các loại đạn sử dụng cho KS-19 bao gồm: đạn HE (thuốc nổ mạnh), đạn HE-nổ mảnh, đạn nổ mảnh.

KS-19 sử dụng kính ngắm quang học hoặc dùng hệ thống điều khiển bảo gồm radar SON-9A và máy chỉ huy PUAZO-6/19 tăng thêm độ chính xác. Tuy nhiên, tốc độ bắn của KS-19 khá chậm (15 viên/phút).

Máy chỉ huy PUAZO-6. Ảnh: Lê Nam

Radar điều khiển SON-9 có thể dùng chung pháo 57mm và 100mm. Ảnh: Lê Nam

Tương tự pháo 37, 57mm, KS-19 cũng được dùng để chống lại xe thiết giáp hạng nhẹ. Chúng có thể xuyên giáp dày 185mm ở khoảng cách 1000m.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, pháo 100mm KS-19 trang bị hạn chế trong các đơn vị pháo cao xạ.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm lịch sử cuối năm 1972, lực lượng phòng không quân ta với trang bị từ súng máy phòng không 12,7mm, ZPU-1/2/4 14,5mm tới pháo 37mm, 57mm, 100mm đã tạo thành lưới lửa tầm thấp, tầm trung, tầm cao phủ khắp miền bắc. Tập trung đánh địch từ mọi hướng, bảo vệ an toàn cho các kho tàng, bến bãi, sân bay, trận địa tên lửa (át chủ bài của nhân dân ta chống “ngáo ộp” B-52)…

Tính riêng từ ngày 18 đến 30 tháng 12, bộ đội phòng không đã bắn rơi hàng chục chiếc máy bay hiện đại của quân Mỹ, trong đó có cả loại mới nhất F-111.

Lê Nam (tổng hợp)
baodatviet.vn

Thăm lại xác ‘Pháo đài bay B-52’ trong bảo tàng Hà Nội

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày quân dân Hà Nội đập tan chiến dịch Linebacker II của Mỹ, tạo nên  chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972, Đất Việt giới thiệu một số hình ảnh về số phận những chiếc B52 – niềm tự hào của Không lực Mỹ – bị bắn rơi ngày ấy.

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)

Những mảnh của B-52 rơi trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không cuối năm 1972 được quy tập tại nhiều bảo tàng ở Hà Nội. Tuy không được nguyên vẹn như đồng đội của chúng đang “nghỉ hưu” tại Boneyard, Mỹ, nhưng những mảnh B-52 được trưng bày tại Hà Nội lại có sứ mạng riêng: là minh chứng ấn tượng nhất về sức mạnh quật cường của quân và dân Thủ đô Hà Nội yêu chuộng hòa bình.

Được sản xuất từ các nhà máy Boeing, nước Mỹ, nhưng bãi đỗ cuối cùng của nhiều chiếc B-52 này lại là Hà Nội, nơi diễn ra cuộc đọ sức ác liệt giữa trí tuệ Việt Nam và kỹ thuật giết chóc tối tân của Mỹ, cách đây 37 năm.

Người Hà Nội đã trưng bày những chiếc B-52 bị bắn rơi tại ba Bảo tàng quân sự lớn: Bảo tàng Chiến thắng B-52, Bảo tàng Phòng Không – Không quân và Bảo tàng Lịch sử Quân sự. Đến nay, Việt Nam là nước đầu tiên và cũng là duy nhất trên thế giới từng bắn hạ pháo đài bay B-52.

Người Mỹ từng hùng hồn tuyên bố: “Nếu cộng sản bắn rơi một chiếc B-52 giá 9 triệu USD và có bằng cớ, thì trị giá của chiến công đó ngang với việc đánh chìm một tàu chiến của hải quân Mỹ”. Vậy mà, trong tháng 12/1972, trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (người Mỹ gọi là Linebacker II), có tất cả 34 máy bay B-52 bị bắn rơi, nâng tổng số B-52 bị hạ ở chiến trường Việt Nam lên 88 chiếc.

Trong 34 chiếc máy bay bị hạ, 18 chiếc bị bắn rơi tại miền Bắc, 1 chiếc phải hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Đà Nẵng, 4 chiếc rơi trên Vịnh Bắc Bộ, 11 chiếc rơi ngoài lãnh thổ Việt Nam. Tại Bảo tàng Chiến thắng B-52, mảnh vỡ của nhiều chiếc B-52 đã được ghép lại theo đúng hình dạng ban đầu với tỷ lệ 1:1.

Phòng trường hợp bị bắn rơi, phi công Mỹ được trang bị “tận răng” gồm: vũ khí cá nhân, sách hướng dẫn sinh tồn, lưới bắt cá,… và cả mũ tai bèo của quân giải phóng để ngụy trang. Đặc biệt, mỗi phi công còn được phát “cờ xin ăn” viết bằng nhiều thứ tiếng, có nội dung nhờ người địa phương cưu mang và hứa hẹn sẽ trả công.

Chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không là đoạn kết của công cuộc chống chiến tranh phá hoại kéo dài suốt từ 1964 đến 1972. Có tất cả 4.181 máy bay Mỹ các loại bị bắn rơi trong giai đoạn này trên bầu trời miền Bắc Việt Nam. Ngày nay, xác máy bay B-52 là di tích lịch sử thu hút sự quan tâm đặc biệt của khách du lịch muốn tìm hiểu lịch sử Việt Nam.

Ông Mon Trima, thương nhân 55 tuổi, người Thái Lan đang du lịch tại Việt Nam cùng gia đình. Ông  rất ấn tượng với bức ảnh người nữ dân quân kéo mảnh xác máy bay Mỹ trên biển. Dù đã nghe nói về chiến tranh Việt Nam nhưng ông không thể tin được rằng những người phụ nữ Việt Nam cũng tham gia chiến đấu cho đến khi tận mắt những hình ảnh này tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN.

Trong số các máy bay B-52 rơi tại Hà Nội, có một chiếc đến nay vẫn được trưng bày ngay tại chỗ nó rơi xuống. Đó là chiếc B-52G thuộc tốp 491, bị Đơn vị D72, Đoàn Nam Triệu, Sư đoàn phòng không Hải Phòng tăng cường  bảo vệ Hà Nội bắn rơi trên bầu trời Đại Chu, Bắc Ninh, lúc 23h ngày 27/12/1972.  Chiếc máy bay bị bắn hạ mà chưa kịp cắt bom, bay tới đúng hồ Hữu Tiệp, làng hoa Ngọc Hà thì rơi xuống. Địa điểm rơi máy bay chỉ cách Phủ Chủ tịch và trụ sở Chính phủ chưa đầy 1km.

Sau 37 năm, khung cảnh quanh hồ Hữu Tiệp đã có nhiều đổi thay nhưng xác chiếc máy bay B-52 vẫn được giữ nguyên vẹn. Nhân dân làng hoa truyền thống này đã đề nghị giữ nguyên xác máy bay tại hồ. Đến nay, Hồ Hữu Tiệp và xác máy bay được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử.

Học sinh trường THCS Nghĩa Dân, Kim Động, Hưng Yên ngắm nhìn những mảnh xác máy bay tại Bảo tàng. Với người Việt Nam, đằng sau những chứng tích lịch sử này là niềm tự hào dân tộc, là bài học quý giá về tinh thần dựng nước và giữ nước.

Xuân Kiên
baodatviet.vn

Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)

Trong chiến dịch Linebacker II, Mỹ đã đưa lượng lớn “pháo đài bay” B-52, được coi là “thần tượng của không lực Mỹ” có tầm bay xa, mang nhiều bom, với sức hủy diệt lớn.

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)

B-52 Stratofortress (Pháo đài bay) là máy bay ném bom chiến lược tầm xa của không quân Mỹ. Đi vào hoạt động năm 1955, B-52 đã trở thành niềm tự hào của ngành công nghiệp quốc phòng của siêu cường này.

Với chiều dài gần 50m, cao 12,4m, sải cánh 56,4m, trọng lượng cất cánh tối đa trên 200 tấn. B-52 được xem là máy bay ném bom lớn nhất trên thế giới lúc đó.

Hình dáng của B-52 khá giống với mẫu máy bay ném bom chiến lược B-47 Stratojet. Tất cả bộ phận cánh, vị trí đặt động cơ, bộ phận bánh đáp đều gợi cho người ta nhớ tới những chiếc B-47. Tuy nhiên, xét trên mọi mặt, B-52 vẫn to lớn hơn và nặng hơn “người tiền nhiệm”.

Để nâng “con quái vật” này lên bầu trời, Boeing đã trang bị cho nó 8 động cơ phản lực cánh quạt đẩy Pratt & Whiteney TF33-P-3/103 giúp B-52 đạt tốc độ 1.000km/h, tầm hoạt động 12.000km, trần bay 15.000m.

“Ngáo ộp” B-52 trang bị tám động cơ TF-33, chiều dài máy bay gần 50m, chiều cao 12,4m, sải cánh 56,4m.

B-52 được điều khiển bởi một kíp lái 6 người gồm: chỉ huy, phi công, sĩ quan phụ trách radar, sĩ quan dẫn đường, sĩ quan tác chiến điện tử và một xạ thủ súng máy ở phía đuôi máy bay.

Mỗi chiếc B-52 có thể chứa khoảng 100 quả bom đặt trong khoang bom và giá treo trên cánh. Số lượng đó tương đương với 30 tấn. Ngoài ra, còn có tháp pháo đuôi trang bị pháo M 61 “Thần lửa” cỡ 20mm dùng để bắn máy bay hoặc tên lửa.

Tháp pháo đuôi của B-52

Tất cả những điều trên đã làm cho B-52 trở thành “thần tượng của không lực Mỹ”. Vì thế, với tham vọng đè bẹp ý chí chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Từ năm 1965, Mỹ đã đem B-52 tới Việt Nam tham chiến. Hầu hết các máy bay B-52 đều cất cánh từ hai sân bay Utapao (Thái Lan) và Anderson (Guam).

Trong chiến dịch Linebacker II năm 1972, bên cạnh các loại máy bay chiến đấu chiến thuật thì B-52 chính là “quân át chủ bài” mà Tổng thống Nixon tung ra hòng “đưa miền bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá”, tạo thế thuận lợi trên bàn đàm phán hiệp định Paris. Để thực hiện mưu đồ này, chúng đã huy động 193 chiếc B-52D/G (chiếm gần 50% số B-52 mà Mỹ có).

Trong đó:

– Phiên bản B-52D không có quá nhiều sự thay đổi, ngoài việc nó đã được cải tiến để mang được một lượng bom lớn hơn thông thường phục vụ cho các chiến dịch ném bom rải thảm.

B-52D ném bom rải thảm.

– Phiên bản B-52G có hai sự thay đổi lớn nhất là: trọng lượng tăng thêm từ 200 tấn lên 221 tấn và thay thế động cơ mới Pratt & Whiteney J57-P-43W.

Ngoài ra, có một số điểm thay đổi là thiết kế lại phần cánh cung cấp thêm giá treo bên ngoài cho hai thùng nhiên liệu 2.650 lít; phần đầu máy bay chứa radar được mở rộng. Đối với hệ thống điện tử trên máy bay, ngoài các thiết bị tiêu chuẩn thì nó trang bị mới radar điều khiển hỏa lực AN/ASG-15, cải tiến công nghệ gây nhiễu điện tử.

Phiên bản cải tiến B-52G mang một vài điểm cải tiến mới.

Về trang bị vũ khí, ngoài khối lượng bom thông thường, những chiếc B-52G được trang bị một động cơ phản lực Pratt & Whiteney J52, sử dụng hệ thống dẫn đường quán tính và mang thêm loại tên lửa hành trình không đối đất AGM-28 Hound Dog (chó săn).

Nếu AGM-28 bay tầm cao ở tốc độ siêu âm thì tầm bắn lên tới 800km, còn bay ở tầm thấp và tốc độ cận âm thì tầm bắn giảm xuống còn trên 300km. Tên lửa AGM-28 có khả năng trang bị đầu đạn hạt nhân.

Tên lửa hành trình không đối đất AGM-28.

Lớp hỏa mù che đậy hành tung B-52

B-52G mang được bốn quả tên lửa “mồi bẫy” ADM-20 Quail (chim cút). Đây là loại vũ khí có khả năng đánh lừa được radar địch, thu hút tên lửa tầm nhiệt K-13 của MiG-21 về phía mình bảo vệ cho B-52G. Tên lửa sử dụng một động cơ phản lực Pratt & Whiteney J85, tầm bắn khoảng 700km, tốc độ Mach 0.9.

Tên lửa “mồi bẫy” AMD-20

B-52 đang thả tên lửa “mồi bẫy” AMD-20

Tuy nhiên, những trang bị trên chưa đủ để B-52 vượt qua được lưới lửa phòng không miền Bắc hay “rồng lửa” SAM-2. Không quân Mỹ đã trang bị thêm cho “con ngáo ộp” này 16 máy gây nhiễu điện tử tích cực, hai máy gây nhiễu tiêu cực và hai máy thu tần số radar đối phương.

Toàn bộ hệ thống máy gây nhiễu điện tử tích cực của B-52 đều do sĩ quan tác chiến điện tử phụ trách, các thiết bị này sẽ tự động thu và phân tích tần số sóng radar đối phương, sau đó sĩ quan phụ trách sẽ lựa chọn phát tần số sóng để chế áp đài radar đối phương.

Bên cạnh đó, B-52 còn nhận được sự hỗ trợ từ các máy bay trinh sát điện tử EA-6A, EB-66, EC-121 và kể cả từ các chiến đấu cơ F-4, F-105, A-6, A-7 đều được lắp đặt thiết bị gây nhiễu điện tử tích cực.

Ngoài ra, không quân Mỹ còn áp dụng cả phương thức gây nhiễu tiêu cực là các “quả bom” chứa hàng triệu triệu sợi kim loại màu bạc, rất mỏng, nhẹ (mỗi quả bom chứa 450 bó nhiễu).  Những sợi nhiễu này còn được thả từ các tốp F-4,  khi gặp sóng radar sẽ phản xạ hiển thị trên màn hình theo dõi thành các chấm nhỏ li ti che giấu mục tiêu thật. Tất cả được kỳ vọng sẽ hình thành một hành lang an toàn cho B-52 xâm nhập bầu trời thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc Việt Nam.

Đắc ý với những vũ khí siêu hiện đại như vậy, không quân Mỹ hoàn toàn tự tin cho một chiến thắng. Nhưng chúng đã lầm, với ý chí quật cường, lòng quyết tâm cao độ quân dân miền bắc đã bẻ gãy chiến dịch Linebacker II làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ trên không lẫy lừng.

Trong 12 ngày đêm (từ 18 tới 30/12), lực lượng phòng không – không quân miền bắc đã bắn hạ 81 máy bay. Trong đó, có 34 chiếc B-52. Đến nay, Việt Nam là nước đầu tiên và cũng là duy nhất trên thế giới từng bắn hạ pháo đài bay B-52.

(còn tiếp)

Lê Nam
baodatviet.vn

Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)

Linebacker II là cuộc tập kích đường không chiến lược của quân đội Mỹ vào miền bắc Việt Nam, với âm mưu “đưa miền bắc Việt Nam trở về thời kì đồ đá”. Đây là bước phiêu lưu quân sự lớn nhất của tập đoàn Nixon. Về mặt khoa học quốc phòng, Linebacker II còn là chiến dịch tập trung những gì tinh hoa nhất của nền công nghiệp quốc phòng Mỹ giai đoạn bấy giờ.

Trong chiến dịch này, Mỹ đã huy động 193 B-52 (chiếm gần một nửa trong tổng số 400 B-52), 1077 máy bay chiến thuật chiến đấu hiện đại trong tổng số trên 3000 chiếc.

Lực lượng hải quân huy động sáu tàu sân bay (trong tổng số 24 chiếc) cùng với đội tàu khu trục, tàu hộ tống, tàu cấp cứu của hạm đội Thái Bình Dương. Ngoài ra, còn có một đội bay tiếp dầu trên không, trinh sát chiến thuật, trinh sát chiến lược, gây nhiễu điện tử…hùng hậu.

Có thể nói, Mỹ đã đưa vào chiến dịch này những vũ khí hiện đại nhất thời bấy giờ vào “canh bạc cuối cùng” này. Đó là những chiến đấu cơ mới nhất, hiện đại nhất, những tổ hợp chiến đấu tinh vi, phức tạp nhất.

Sau đây là một số loại máy bay hiện đại quân đội Mĩ sử dụng trong chiến dịch Linebacker II:

Tiêm kích – bom F-4 Phantom II (Con ma)

F-4 “Con ma” là máy bay tiêm kích – bom siêu âm, hai động cơ, hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết. F-4 là một trong những thiết kế thành công nhất của tập đoàn Mcdonell.

Bắt đầu phục vụ Hải quân Mỹ từ năm 1961, nhưng vai trò của F-4 lúc đó lại là tấn công mặt đất hỗ trợ cho các chiến dịch của lính thủy đánh bộ (United states marine corp – USMC).

Máy bay chiến đấu F-4 tham gia hoạt động với nhiều vai trò khác nhau ví dụ như: chiến đấu chiếm ưu thế trên không, đánh chặn trên không, hỗ trợ tấn công tầm cực ngắn, tấn công tầm xa và trinh sát chiến thuật.

Tiêm kích – bom F-4 “con ma” là máy bay chiến đấu có khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ.

Cấu trúc thân của F-4 sử dụng nhiều hợp kim Titan, dài tới 19m, tổng trọng lượng cất cánh tối đa 27 tấn. F-4 có một thân hình khá đồ sộ, to lớn khác hẳn với những tiêm kích cùng thời. “Con ma” này đạt được tốc độ Mach 2.23 (2.370km/h) đáng nể , tốc độ lên cao 210m/s, tầm bay 2.600km và trần bay trên 18.000m.

Buồng lái được thiết kế dành cho hai phi công (một phi công điều khiển và một phi công phụ trách vũ khí hoặc theo dõi radar). Các hệ thống điện tử trên máy bay gồm radar điều khiển hỏa lực, thiết bị hỗ trợ ném bom, thiết bị dẫn đường quán tính…

Đối với hệ thống vũ khí của F-4 được mang trên chín giá treo, tùy vào từng nhiệm vụ khác nhau chúng có thể linh động thay đổi phù hợp. Về cơ bản, chúng trang bị các tên lửa không đối không AIM-7 Sparrow (chim sẻ) và AIM-9 Sidewinder (rắn đuôi chuông), tên lửa không đối đất AGM-65 Maverick và các loại bom thông thường, bom dẫn đường bằng laze, bom chùm…

Tuy nhiên, có một thiếu hụt mà trở thành điểm yếu lớn của F-4 trong thời gian tham chiến ở Đông Nam Á. Chúng không được lắp đặt pháo dùng cho không chiến tầm gần, mãi đến phiên bản F-4E ra đời điểm yếu này mới được khắc phục khi máy bay có thêm pháo M61 “Thần lửa” (có thể bắn 639 viên đạn).

Đi vào phục vụ không lâu, F-4 bắt đầu tham gia vào cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Chúng hoạt động với nhiệm vụ chủ yếu không chiến chiếm ưu thế trên không, cường kích.

F-4 “con ma” đang ném bom.

Sau này, F-4 còn được đưa vào tham gia chương trình Wild Weasel (chồn hoang). Đây là một dự án đặc biệt của quân đội Mĩ nâng cấp cải tiến máy bay thực hiện nhiệm vụ khống chế hệ thống phòng không đối phương (suppression of enemy of air defenses-SEAD).

Vũ khí trang bị chủ yếu là tên lửa chống radar AGM-88 HARM (tên lửa có thể phát hiện, tấn công và phá hủy trạm radar, ăng ten). Cùng với các thiết bị gây nhiễu điện tử.

Trong chiến dịch Linebacker II (1972), Không quân và Hải quân Mỹ đã huy động hàng trăm chiếc thuộc ba phiên bản F-4D/E/J tham chiến. Vai trò của F-4 trong chiến dịch là hộ tống “pháo đài bay” B-52, khống chế hệ thống phòng không của ta, đặc biệt là các trận địa tên lửa SAM.

Tiêm kích – bom F-105G Thunderchief (Thần sấm)

F-105 “Thần sấm” là máy bay tiêm kích – bom siêu âm của không quân Mĩ. F-105 cũng là một trong những chiến đấu cơ được quân đội Mỹ sử dụng rộng rãi trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam.

F-105 được thiết kế với một chỗ ngồi duy nhất, nó có chiều dài 19,6m. Trang bị một động cơ phản lực Pratt & Whitney J75-P-19W cho phép F-105 đạt tốc độ Mach 2.08 (2208km/h), tầm bay tối đa 3.500km, trần bay trên 14.000m.

F-105 được lắp đặt một pháo M-61 “Thần lửa” (1.208 viên đạn) cùng với đó là bom và tên lửa mang trên giá treo bên ngoài. Máy bay có khả năng sử dụng tên lửa không đối không AIM-9 Sidewinder (Rắn đuôi chuông) và AIM-12 Bullput cho các nhiệm vụ không chiến. Tuy nhiên, vai trò chính của “thần sấm” trong cuộc chiến tại Việt Nam lại là ném bom đánh phá. Chúng thường được các đơn vị F-4 hộ tống.

F-105 “thần sấm” mang đầy đủ bom.

Trong chiến dịch Linebacker II, không quân Mỹ đã đưa F-105G tham gia. Đây là phiên bản nâng cấp cải tiến của F-105 sử dụng cho mục đích áp chế hệ thống phòng không đối phương.

F-105G được lắp đặt thiết bị tác chiến điện tử AN/ALQ-105, một số chiếc còn được trang bị tên lửa chống radar AGM-78 (tầm bắn 90km) có khả năng phát hiện, tiêu diệt các trạm radar của hệ thống tên lửa đối không.

F-105 “thần sấm” thực hiện phi vụ áp chế hệ thống phòng không đối phương (trang bị tên lửa chống radar AGM-78 và AGM-45).

Các máy bay làm nhiệm vụ áp chế hệ thống phòng không luôn là những người đến sớm nhất và “ra về” muộn nhất. Đến sớm là để khống chế hệ thống phòng không hỗ trợ các máy bay ném bom vào đánh phá, và rút ra muộn nhất là để hỗ trợ việc rút lui an toàn các đơn vị ném bom. Những chiếc F-105G thường được KC-135 tiếp dầu trên không để có đủ thời gian hoạt động hỗ trợ.

Phi đội “thần sấm” đang được tiếp nhiên liệu từ máy bay tiếp dầu trên không KC-135.

Máy bay ném bom cánh cụp – cánh xòe F-111 Aardvark (Lợn đất)

F-111 là máy bay ném bom siêu âm của không quân Mĩ. F-111 cũng là loại máy bay mang thiết kế độc đáo cánh cụp cánh xòe đầu tiên trên thế giới.

“Lợn đất” F-111 được thiết kế với hình dạng cánh có thể thay đổi, chính điểm đặc biệt này cho phép phi công có thể bay tầm thấp với vận tốc siêu âm và đạt tốc độ gấp hai lần vận tốc âm thanh ở tầm bay cao.

Khi cánh xòe hết cỡ thì lực nâng của cánh tăng lên cho phép máy bay cất hạ cánh đường băng ngắn.

Máy bay “cánh cụp cánh xòe” F-111.

Hệ thống điện tử của F-111 bao gồm: hệ thống dẫn đường, thông tin liên lạc, hệ thống áp chế hỏa lực phòng không và radar điều khiển ném bom giúp tấn công chính xác mục tiêu trong điều kiện ban đêm hoặc thời tiết xấu.

Một điểm mới của F-111 so với các loại máy bay khác, nó được trang bị radar theo dõi địa hình cho phép máy bay bay trong khu vực thung lung, đồi núi, bất kể ngày hay đêm hay trong điều kiện thời tiết xấu ở tốc độ cao.

F-111 khi cụp cánh hết cỡ.

Vũ khí của F-111 gồm pháo M-61 “Thần lửa” và 14.000 kg bom mang trên bốn giá treo bên ngoài cánh và hai giá treo nằm trong khoang vũ khí máy bay. F-111 mang được các loại bom thông thường và bom hạt nhân.

F-111 trang bị hai động cơ Pratt & Whitney TF30-P-100 cho phép nó đạt tốc độ vượt âm Mach 2.5 (2.665km/h), tầm bay trên 5000km.

Tại Việt Nam, đến tận năm 1972 loại máy bay này mới được đưa vào sử dụng. Lợi dụng ưu thế bay tốc độ cao ở tầm thấp giúp F-111 tránh được sóng radar, không quân Mĩ sử dụng nó với vai trò áp chế hệ thống tên lửa phòng không.

Máy bay cường kích A-4 Skyhawk (Chim ưng nhà trời)

Trong chiến dịch Linebacker II, bên cạnh các chiến đấu cơ của không quân, Hải quân Mỹ cũng được điều động tham chiến với các loại máy bay ném bom hạng nhẹ A-4, A-6 và A-7.

Trong đó, máy bay cường kích A-4 được mệnh danh là “chim ưng nhà trời” tham gia cuộc chiến Việt Nam từ những năm đầu. Chúng được hải quân Mỹ sử dụng rộng rãi trong các phi vụ ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam.

Máy bay cường kích A-4 “chim ó nhà trời”.

Ngoài những tính năng kỹ chiến thuật thông thường, A-4 là loại máy bay đầu tiên áp dụng kĩ thuật tự tiếp dầu trên không, nghĩa là các máy bay cùng loại A-4 có thể tiếp dầu cho nhau mà không cần máy bay chuyên dụng.

Để thực hiện kĩ thuật này, một chiếc  A-4 cải tiến trang bị hệ thống tiếp dầu gồm thùng nhiên liệu phụ và vòi bơm dầu cất cánh với tải trọng tối đa đổ đầy nhiên liệu và sẽ rời khỏi tàu sân bay trước tiên.

Tiếp đó, các máy bay A-4 làm nhiệm vụ chiến đấu mang tối đa vũ khí và chỉ bơm một lượng nhiên liệu đủ dùng, sau khi cất cánh sẽ được tiếp dầu đầy đủ trên không.

A-4 cải tiến mang thùng nhiên liệu và hệ thống bơm dầu đang thực hiện tiếp liệu cho “con ma” F-4

Tham gia Linebacker II, không quân Mỹ đã đưa phiên bản cải tiến A-4E vào tấn công đánh phá miền Bắc Việt Nam. A-4E được cải tiến nhiều về hệ thống điện tử bao gồm: radar dẫn đường Doppler, hệ thống định vị TACAN (Tactical Air Navigation – dẫn đường chiến thuật trên không), radar độ cao, máy tính điều khiển ném bom, thiết bị dẫn đường ném bom tầm thấp AJB-3A. Ngoài ra, A-4E được lắp động cơ mới Pratt & Whitney J52-P-6A.

Trang bị vũ khí của A-4E cũng tương tự các phiên bản khác, chúng lắp đặt một pháo 20mm. Năm giá treo trên cánh có thể mang được tên lửa không đối không AIM-9 “rắn đuôi chuông”, tên lửa chống radar AGM-45, tên lửa không đối đất AGM-65, AGM-12 và các loại bom thông thường, rocket.

Bên cạnh các loại chiến đấu cơ, không quân Mỹ còn huy động các loại máy bay gây nhiễu điện tử tầm xa (EA-6A, EB-66, EC-121); trinh sát tầm cao SR-71 Blackbird (chim hét) có tầm bay cao lên tới 30000m, tốc độ gấp ba lần vận tốc âm thanh; trinh sát tầm thấp RF-4, RA-5 và kể cả các loại máy bay không người lái (BQM-34A).

(còn tiếp)

Lê Nam
baodatviet.vn

‘Có thể thắng trận ĐBP trên không trong 3 ngày’

“Theo tôi, mình có thể thắng trận này chỉ trong ba ngày mà không cần tới 12 ngày”, Trung tướng Trần Nhẫn, nguyên Phó tư lệnh Sư đoàn Phòng không Hà Nội, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không, chia sẻ với Đất Việt về chiến dịch Điện Biên Phủ trên không lịch sử.

– Thưa Trung tướng, ba ngày cũng là thời gian mà Mỹ tuyên bố sẽ san phẳng Hà Nội bằng B-52, ý kiến của ông thế nào?

– Đúng. Với cuộc tập kích chiến lược bằng pháo đài bay B-52 vào Hà Nội, giới chóp bu Nhà Trắng khẳng định sẽ kết thúc trong ba ngày và khiến Bắc Việt Nam phải “bò lê bò càng” trở lại bàn đàm phán Paris theo những điều kiện của chúng. Tuy nhiên, trong ngày thứ ba (20/12/1972), càng huy động B-52 ném bom nhằm đánh đòn quyết định thì chúng thất bại càng ê chề. Chúng buộc phải kéo dài ném bom bằng B-52 và đến ngày thứ 12 thì không chịu nổi nữa.

Trung tướng Trần Nhẫn.

– Theo ông, Mỹ đã mắc sai lầm gì?

– Sai lầm của Mỹ là không ngờ ta có thể hạ được loại vũ khí tối tân, chiến lược của họ. Còn nhớ, khi dùng B-52 ném bom Hà Nội, Mỹ chỉ lưu ý phi công quan tâm đến máy bay MIG của ta chứ không phải là tên lửa hay pháo cao xạ. Mỗi chiếc B-52 có tới 11 máy gây nhiễu. Thực tế là đã có lúc, ra-đa của ta không dám phát sóng vì sợ tên lửa Sơ-rai (Shrike) của địch. Mỗi khi ta phát sóng, Sơ-rai lập tức phát hiện, tiêu diệt ngay. Chúng ta bị thiệt hại và rất đau đầu trong việc tìm ra cách tránh, tiêu diệt Sơ-rai, nhưng rồi cũng tìm ra. 11 máy gây nhiễu ở B-52 không thể phát hiện hết ra-đa của ta. Đó là loại ra-đa của pháo cao xạ, khiến tên lửa của chúng bị “mù”.

– Nhưng hồi đó, tên lửa của ta ở Hà Nội không nhiều, trong khi địch tập kích vào Thủ đô nhiều hơn các địa phương khác?

– Theo số liệu tính toán của tôi thì trong 12 ngày đêm, địch đã sử dụng 417 lần B-52 đánh vào Hà Nội, chiếm 62,9%. Tỷ lệ này ở Hải Phòng là 6,3%, Thái Nguyên 15,3%, Lạng Sơn 14%… Khi địch dùng B-52 đánh Hà Nội thì Thủ đô chỉ có hai trung đoàn tên lửa, mãi đến gần cuối mới điều thêm hai tiểu đoàn về. Vậy mà ta vẫn thắng giòn giã.

Nói thế nhưng tôi vẫn không quên cảm giác lo ngại lúc bấy giờ. Ngày 20/12/1972, địch huy động 93 lần B-52 và 151 lần máy bay chiến thuật đánh đòn quyết định. Giữa lúc cuộc chiến đấu đang quyết liệt thì các sở chỉ huy nhận được tin xấu: Tiểu đoàn 77 và 94 hết đạn. Nhưng trong chiến tranh cũng có may mắn hiếm hoi. Khi chúng tôi lo đến thắt tim vì trên bệ phóng của nhiều tiểu đoàn không còn đạn hoặc chỉ còn một, hai quả thì đợt tấn công thứ hai của B-52 Mỹ vào khoảng nửa đêm như hai đêm trước đã không xảy ra, mãi đến rạng sáng chúng mới tiếp tục tấn công. Tranh thủ thời gian quý báu đó, các chiến sĩ trực tiếp sản xuất đạn đã làm nên một chuyện phi thường, bảo đảm đủ đạn cho các tiểu đoàn đánh đợt hai.

Lúc 5h sáng, trong đợt tấn công B-52 cuối cùng của ngày hôm đó, Tiểu đoàn 77 lại hết đạn, Tiểu đoàn 94 trắng bệ, Tiểu đoàn 59 cũng vì hết đạn mà vắng mặt trong đội hình chiến đấu. Trong khi đó, đây là ba trận địa nếu đủ đạn sẽ đánh đường bay này rất hiệu quả. Trong tình hình ấy, nhiệm vụ tiêu diệt B-52 chỉ còn trông chờ vào Tiểu đoàn 57, khi ấy chỉ còn một quả đạn trên bệ, trong khi để tiêu diệt một B-52, ta thường dùng 2-3 quả đạn. Kỳ diệu thay, Tiểu đoàn 57 bắn rơi chiếc B-52 thứ 7 trong ngày bằng quả đạn cuối cùng… Những ngày sau đó, địch càng đánh càng mất tinh thần. Trong 12 ngày đêm, ta bắn rơi 34 chiếc B-52.

– Thưa ông, B-52 được coi là “pháo đài bay” bất khả xâm phạm nhưng tại sao ta vẫn bắn hạ được, tại sao ta vẫn thắng?

– Đó là sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân, là truyền thống hàng nghìn năm, là chiến công, trí tuệ tập thể, từ người lính trong từng kíp trắc thủ đến cán bộ chỉ huy. Chúng ta đã vận dụng sáng tạo cách đánh và đúc kết thành sách đỏ đánh B-52. Tuy nhiên, theo tôi, cũng như vũ khí, cách đánh chỉ là phương tiện, yếu tố quyết định nhất vẫn là con người. Các trắc thủ của ta gan dạ, dũng cảm, thông minh, sáng tạo tuyệt vời. Hồi ấy, bộ đội nói một, làm hai…  Chính vì vậy theo tôi, nếu ta tập trung đúng mức thì chỉ cần ba ngày là ta tiêu diệt được B-52, làm nên Điện Biên Phủ trên không.

– Xin cảm ơn và chúc Trung tướng mạnh khỏe!  

Thế Kỷ – Nam Quốc (thực hiện)
baodatviet.vn

Diễn biến trận đánh 12 ngày đêm rúng động thế giới

Chiến dịch Linebacker II là chiến dịch quân sự cuối cùng của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, từ 18/12 đến 30/12/1972. Tại chiến dịch này, Mỹ  sử dụng lực lượng không quân chiến lược với B-52 làm nòng cốt ném bom rải thảm huỷ diệt xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên và các mục tiêu khác liên tục trong 12 ngày đêm.

Sau đây là diễn biến trận đánh kéo dài 12 ngày đêm năm 1972:

– Ngày 17/12

Tổng thống Nixon chính thức ra lệnh mở cuộc tiến công bằng không quân vào Hà Nội và Hải Phòng. Chiến dịch mang tên Linebacker- 2.

‘Rồng lửa’ SAM, một trong những nỗi kinh hoàng của pháo đài bay B-52 trong trận Điện Biên Phủ trên không.

– Ngày 18/12

Từ 19h20 đến 20h18, nhiều tốp máy bay B-52 (mỗi tốp 3 chiếc) liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm… Cuộc chiến đấu ác liệt của lực lượng phòng không ba thứ quân bảo vệ Hà Nội bắt đầu, mở đầu chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội Điện Biên Phủ trên không”.

20h18, tiểu đoàn 59 trung đoàn tên lửa phòng không 261 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy phóng hai quả đạn, hạ một máy bay B-52 (rơi xuống cánh đồng thuộc Phủ Lỗ và Đông Xuân, giữa tỉnh Vĩnh Phú và Hà Nội, cách trận địa gần 10 km). Đây là chiếc máy bay B-52 G đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.

Đêm cùng ngày, Mỹ huy động 90 lần B-52 ném ba đợt bom xuống Thủ đô Hà Nội. Xen kẽ các đợt này có 8 lần F 111 và 127 lần máy bay cường kích bắn phá các khu vực nội, ngoại thành. Trong đêm đầu tiên Mỹ đã ném khoảng 6.600 quả bom xuống 135 địa điểm thuộc Thủ đô Hà Nội. 85 khu vực dân cư bị trúng bom làm chết 300 người.

– Ngày và đêm 19/12

4h30, địch ném bom đợt thứ 3 vào các khu vực Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam (Mễ Trì), xã Nhân Chính, nhà máy Cao su Sao Vàng… Các trận địa tên lửa, pháo phòng không với các đơn vị dân quân tự vệ Thủ đô bắn hàng nghì̀n viên đạn các loại tiêu diệt một máy bay F4.

Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 77 Trung đoàn Tên lửa 257 bắn rơi tại chỗ một máy bay B-52 D.

Đêm 18 rạng ngày 19/12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, đến một số đơn vị phòng không – không quân và khu vực Đông Anh, Yên Viên nơi vừa bị B-52 ném bom, động viên thăm hỏi bộ đội và nhân dân Thủ đô.

– Ngày 20/12

Từ 19h đến sáng 21/12, địch huy động 78 lần B-52 ném bom Hà Nội và hơn 100 lần máy bay cường kích các loại vào đánh phá nội, ngoại thành Hà Nội.

Từ 20h5 đến 20h7, trong hai phút từ cự ly 22 km với hai quả đạn, tiểu đoàn 93, trung đoàn tên lửa 261 bắn cháy một máy bay B-52 rơi tại chỗ ở khu vực ga Yên Viên, cách Hà Nội hơn 10 km. 20h34, tiểu đoàn 77, trung đoàn tên lửa 257 bắn rơi chiếc B-52 thứ 2 ở ngoại thành.

Từ 20h29 đến 20h38, ba tiểu đoàn tên lửa (78, 79, 94) tập trung hoả lực bắn rơi tại chỗ chiếc B-52 thứ 3.

Đêm 20 rạng ngày 21/12, bộ đội tên lửa phòng không bảo vệ Hà Nội bắn 35 quả đạn, “hạ gục” 7 chiếc B-52, trong đó 5 chiếc rơi tại chỗ.

Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp gọi điện thoại xuống các sư đoàn biểu dương bộ đội Phòng không Hà Nội đánh tốt, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, của nhân dân.

Một trong những xác máy bay B-52 còn lưu giữ ở Hà Nội. Ảnh: Tuấn Linh.

– Ngày 21/12

Chiến sự tại Hà Nội và Hải Phòng diễn ra ác liệt. Ban ngày, 180 lần máy bay chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ đánh phá các mục tiêu trọng yếu: ga Hàng Cỏ và Sở Công an (Hà Nội), nhà máy điện yên Phụ, Bộ Giao thông, cầu Phủ Lý và 6 đợt đánh vào khu vực thị xã Thanh Hóa.

Từ 21h37 đến rạng sáng 22/12, địch huy động 24 lần máy bay B-52 và 36 lần máy bay chiến thuật hộ tống vào đánh sân bay và bệnh viện Bạch Mai, Giáp Bát, Văn Điển… Ngoài ra, 30 lần F4, F105 vào đánh phá các khu vực Bắc Giang, ga Kép, sân bay Yên Bái, cảng Hải Phòng, Cát Bi và An Lão (Kiến An, Hải Phòng).

Hôm đó, quân và dân ta bắn rơi 11 máy bay, trong đó bắn rơi tại chỗ ba B-52, hai F4, hai A7, một F111, một A6, một RA50, một F105…

– Ngày 22/12

2h38, bộ đội rađa phát hiện chính xác các tốp B-52 và máy bay chiến thuật Mỹ ở hướng Tây Nam. Lần này địch sử dụng 24 chiếc B-52 và 36 máy bay chiến thuật vào đánh phá sân bay, bệnh viện Bạch Mai, ga Giáp Bát, Gia Lâm, Văn Điển… và các trận địa tên lửa, 18 lần F 111 hoạt động xen kẽ ở độ cao thấp nhằm bất ngờ đánh phá vào các mục tiêu đã trinh sát.

3h42, các kíp chiến đấu của tiểu đoàn 57 bộ đội phòng không Hà Nội đồng loạt nổ súng bắn rơi tại chỗ một B-52 ở chợ Bến, Mỹ Đức, Hà Tây. Cùng thời điểm này, tiểu đoàn 71 bắn rơi tại chỗ một máy bay B-52 ở Thanh Miện, Hải Hưng (Hải Dương ngày nay).

3h46, tiểu đoàn tên lửa 93 lại bắn rơi một chiếc B-52 ở khu vực Quỳnh Côi, Thái Bình. Trong ngày, quân và dân ta bắn rơi 5 máy bay, trong đó bắn rơi tại chỗ ba chiếc B-52, một chiếc F4.

Ngày 21, 22/12, tại trận địa Vân Đồn (Hà Nội), các chiến sĩ tự vệ nhà máy Liên Cơ Hà Nội bằng 19 viên đạn 14,5 ly ngay loạt đạn đầu đã bắn rơi một máy bay F 111 “cánh cụp cánh xòe” của Mỹ.

– Ngày 23/12

Ban ngày, 54 lần máy bay chiến thuật của không quân Mỹ đánh phá các khu vực ngoại thành Hà Nội. Mai Dịch, Trạm Trôi, Hoài Đức ( Hà Tây ). Ban đêm, 33 chiếc B-52 đánh Đồng Mỏ ( Lạng Sơn ) và khu vực Bắc Giang; 30 chiếc máy bay F4 và F105, 11 máy bay F111 đánh vào Yên Viên, Giáp Bát, Đa Phúc và các sân bay Nội Bài, Yên Bái. Hướng biển, có 7 máy bay chiến thuật của Hải quân Mỹ vào đánh Uông Bí, Phà Rừng, Sở Dầu và sân bay Kiến An ( Hải Phòng ).

Ta bắn bốn máy bay trong đó có hai B-52, một F4, một A7.

– Ngày 24/12

Ban ngày, địch huy động 44 lần máy bay chiến thuật đánh phá khu vực Thái Nguyên (Cao Ngạn và dọc đường số 1), Sen Hồ, Việt Yên (Hà Bắc).

Ban đêm, từ 19h50, địch dùng 33 lần B-52 đánh phá ác liệt ga Kép, Bắc Giang, phối hợp với 39 lần máy bay chiến thuật yểm hộ đánh phá các sân bay Yên Bái, ga Kép và khu vực Vĩnh Tuy (Hà Nội).

Quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 5 chiếc máy bay, trong đó có một B-52, hai F4, hai A7.

Lấy cớ nghỉ lễ Noel, 24h ngày 24/12, địch tạm ngừng cuộc tập kích để củng cố lực lượng.

– Ngày 25/12

Quân đội Mỹ ngừng ném bom miền Bắc.

– Ngày 26/12

13h, địch sử dụng 56 lần chiếc máy bay cường kích các loại vào ném bom dữ dội các khu vực trận địa tên lửa và trạm biến thế Đông Anh. Tiểu đoàn tên lửa 72, trung đoàn 285 đã bắn rơi một máy bay F4.

Từ 22h5, địch sử dụng 105 lần B-52 và 110 lần máy bay chiến thuật hộ tống đánh ồ ạt, liên tục vào nhiều mục tiêu trên cả ba khu vực: Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên (Mỹ tập trung 66 lần B-52 vào đánh phá Hà Nội, 21 lần B-52 đánh Thái Nguyên và 18 lần B-52 đánh Hải Phòng).

Từ 22h40, B-52 ồ ạt đến ném bom rải thảm dữ dội vào tất cả các mục tiêu nội, ngoại thành Hà Nội. Khu phố Khâm Thiên và Khu Hai Bà Trưng bị tàn phá nặng nề.

Từ các trận địa khu vực ngoại thành, ba tiểu đoàn tên lửa (57, 76, 88) đã tập trung bắn rơi một máy bay B-52. Sau ít phút các tiểu đoàn (57, 58, 79, 85, 87, 94) lập tức bắn rơi tại chỗ hai máy bay B-52, một chiếc rơi xuống xã Định Công (Thanh Trì).

Với kinh nghiệm dày dạn, các tiểu đoàn tên lửa Phòng không (59, 93, 78, 79) đã phân tích chính xác, mục tiêu B-52 trong dải nhiễu, bắn rơi thêm hai B-52. Cùng thời gian này tại Hải Phòng, tiểu đoàn tên lửa 81 bắn rơi một B-52, Đại đội 74 pháo 100 mm, trung đoàn 252 cũng bắn rơi một B-52.

Trận chiến đấu đêm 26/12 diễn ra hơn một giờ, lực lượng phòng không ba thứ quân của Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên đã đánh một trận lớn, bắn rơi 8 máy bay B-52 và 10 máy bay chiến thuật khác. Đây là trận đánh then chốt quyết định bắn rơi nhiều máy bay chiến lược B- 52 nhất trong 9 ngày qua.

Đài tưởng niệm người đã khuất dựng trong khuôn viên Bệnh viện Bạch Mai, nhắc về một thời đạn bom và sự hy sinh cao cả của người thầy thuốc. Ảnh: Tuấn Linh.

– Ngày 27/12

Sáng 27/12, 100 lần máy bay chiến thuật của địch chia làm ba đợt đánh phá dữ dội vào các khu vực nội, ngoại thành Hà Nội như nhà máy dệt 8/3, ga và kho Văn Điển, cầu Đuống, Gia Lâm, đài phát thanh Mễ Trì, các trận địa tên lửa, rađa… Đại đội 61 tiểu đoàn 20 bắn rơi một máy bay F4. Cùng ngày 27, không quân ta cất cánh hai lần bắn rơi hai chiếc F4 của Mỹ.

Từ 19h đến 22h, 36 lượt B-52, có 66 lượt máy bay chiến thuật yểm hộ, tập trung đánh phá các khu vực: Đông Anh, Yên Viên, Bạch Mai, Khuyến Lương, Đa Phúc, Dục Nội, Cổ Loa. Xen kẽ giưa các đợt hoạt động của B-52 là 17 lần F 111 tiếp tục thay nhau đánh phá.

22h20, Bộ Tư lệnh Không quân cho phi công Phạm Tuân lái máy bay MIG- 21 cất cánh bất ngờ từ sân bay Yên Bái được Sở chỉ huy và rađa dẫn đường trực tiếp bảo đảm, vượt qua hàng rào bảo vệ của máy bay F4 tiến về hướng đội hình B-52. Đến bầu trời khu vực Mộc Châu – Sơn La, anh tiếp cận được mục tiêu, công kích bằng hai quả tên lửa. Một chùm lửa bốc cháy trùm lên chiếc B-52 đầu tiên bị không quân ta bắn rơi trong chiến dịch 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”.

23h, bằng 32 quả đạn, các đơn vị tên lửa phòng không đã bắn tan bốn máy bay B-52, trong đó có hai chiếc rơi tại chỗ.

23h02, hai tiểu đoàn tên lửa (71, 72) bắn tiêu diệt tốp máy bay B-52 từ hướng Tây lao vào đánh phá Hà Nội. Bằng hai quả đạn theo phương pháp bám chính xác vào giữa nền dải nhiễu đậm, chiếc B-52 chưa kịp cắt bom đã bị trúng đạn bốc cháy rơi xuống làng Ngọc Hà, đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội). Đây là chiếc B-52 duy nhất chưa kịp cắt bom đã bị bắn rơi. Tiểu đoàn 59 và tiểu đoàn 77 cũng bắn rơi hai máy bay B-52 ngay sau đó.

Trong ngày và đêm đó, quân dân miền Bắc đã bắn rơi 14 máy bay, trong đó có 5 B-52, 5 chiếc F4, hai A7, một A6, một máy bay lên thẳng HH- 53 đến cứu giặc lái.

– Ngày 28/12

Từ 10h đến 17h, 131 lần máy bay chiến thuật các loại đánh vào trận địa của bộ đội phòng không – không quân. Không quân ta cất cánh, bắn rơi một máy bay RA- 5C.

Cùng ngày, Bộ Tổng Tham mưu thông báo: Tổng thống Mỹ Nixon chấp thuận nối lại các phiên họp Hội nghị Paris.

21h41, phi công Vũ Xuân Thiều được lệnh của Sở chỉ huy Không quân, lái chiếc MIG-21 cất cánh từ sân bay Cẩm Thuỷ, do Sở chỉ huy sân bay Thọ Xuân và rađa dẫn đường vòng ra phía sau đội hình B-52 đuổi địch đến vùng trời Sơn La. Phát hiện được B- 52 bám sát ở cự ly gần, Vũ Xuân Thiều xin công kích, quyết tiêu diệt địch. Sau khi bắn cháy máy bay địch, phi công Vũ Xuân Thiều cũng anh dũng hy sinh.

Trận đánh ngày và đêm 28/12, quân và dân ta bắn rơi ba máy bay Mỹ, trong đó có hai B-52, một RA- 5C.

– Ngày 29/12

23h16, 60 lần B-52 lần lượt đánh vào: 30 chiếc B-52 đánh khu gang thép Thái Nguyên và khu Trại Cau, 18 B-52 đánh khu vực Đồng Mỏ (Lạng Sơn), 12 B-52 đánh Kim Anh (Vĩnh Phú).

Ngoài ra, 70 lần máy bay chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ đánh xen kẽ các sân bay Thọ Xuân, Yên Bái, Hoà Lạc, Kép và khu vực Kim Anh (VĨnh Phú), , Đông Anh (Hà Nội), ngoại vi Thành phố Hải Phòng và Quảng Ninh. Ta bắn rơi hai máy bay, trong đó Tiểu đoàn tên lửa 79 bảo vệ Hà Nội bắn rơi một B-52, một F4.

Đây là trận đánh kết thúc chiến dịch 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” bảo vệ Thủ đô Hà Nội cuối tháng Chạp năm 1972.

– Ngày 30/12

7h, Nixon ra lệnh ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và họp lại Hội nghị Pari về Việt Nam.

Cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B- 52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng kéo dài 12 ngày, đêm đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B-52, 5 máy bay F 111 và 42 máy bay chiến thuật khác.

Cuộc ném bom nhằm “đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá” của quân đội Mỹ đã tàn phá tan hoang nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga; giết chết 2.368 dân thường và làm bị thương 1.355 người khác

Trong trận bom rải thảm phố Khâm Thiên, Hà Nội đêm 26/12/1972, gần 90 tấn bom đã được trút xuống đây khiến 278 người thiệt mạng, trong đó có 91 phụ nữ, 40 cụ già, 55 trẻ em. Chỉ sau một đêm, 178 người con trở thành mồ côi, trong đó có 66 em mồ côi cả cha lẫn mẹ; 290 người bị thương, 2.000 ngôi nhà, trường học, đền chùa, rạp hát, trạm xá bị sập, trong đó có 534 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn.

Ngôi nhà số 51 phố Khâm Thiên chỉ còn là một hố bom, 7 người sống trong ngôi nhà này không còn ai sống sót. Mảnh đất này trở thành một đài tưởng niệm với một tấm bia mang dòng chữ “Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ” và một bức tượng bằng đồng tạc hình một phụ nữ bế trên tay một đứa trẻ đã chết vì bom Mỹ, tượng được lấy nguyên mẫu từ chính chủ nhân của ngôi nhà bị hủy diệt này. Kể từ sau trận bom ấy, hàng năm, đến những ngày kỉ niệm trận bom, người dân trên phố, và nhiều nơi khác tới đây thắp hương tưởng niệm những người đã chết vì bom Mỹ.

Trước đó bốn hôm, vào lúc 2h38 ngày 22/12, bệnh viện Bạch Mai, trung tâm y tế lớn nhất miền Bắc, cũng bị B52 Mỹ dội bom. Tòa nhà chính của bệnh viện đổ sập, đè lên những căn hầm, trong đó có rất nhiều bệnh nhân và nhân viên y tế đang ẩn nấp.Trong sân bệnh viện Bạch Mai có tấm bia mang chữ “Căm thù” để ghi nhớ về thời bom đạn này.

Trong cuốn hồi ký nhan đề “Những năm tháng ở Nhà Trắng”, Henry Kissinger, nguyên cố vấn an ninh quốc gia dưới thời Tổng thống Mỹ Nixon, viết: “Những lời buộc tội hành vi phi đạo lý và lừa dối cứ bao vây lấy tôi trong cả thời gian dài. Tính từ man rợ là một từ được nhiều người tặng tôi nhất”.

baodatviet.vn

70 tham luận mới về chiến thắng B-52

(ĐVO) Với ý nghĩa, tầm vóc to lớn của chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, dựa trên thông báo số 92-TB/TW và Đề án tổ chức kỷ niệm 40 năm “chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ quốc phòng, ban Tuyên giáo Trung ương, thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam”.

Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam.

Có 320 đại biểu tới tham dự hội thảo, với gần 70 bài tham luận cùng nhiều ý kiến phát biểu của các nhân chứng lịch sử, xoay quanh các vấn đề: bối cảnh chung trong nước và quốc tế trước khi Mỹ mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào miền Bắc Việt Nam; âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ; tầm nhìn chiến lược của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; tinh thần đấu tranh kiên cường, sáng tạo của lực lượng Phòng không – Không quân và của quân dân miền Bắc; vai trò của chiến thắng đối với thắng lợi trên chiến trường miền Nam và chiến trường 3 nước Đông Dương trong nước năm 1972; ý nghĩa, nguyên nhân, tầm vóc của chiến thắng; đúc kết bài học kinh nghiệm …

Hội thảo có sự đóng góp mới về lý luận và thực tiễn, có sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị, địa phương và các đồng chí lãnh đạo lão thành, các nhân chứng trực tiếp chỉ huy, tham gia chiến đấu trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972.

Tới dự buổi họp báo giới thiệu Hội thảo “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam” có đồng chí thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, phó chủ nhiệm tổng cục Chính trị, thiếu tướng Phan Thanh Giảng, phó chủ nhiệm chính trị quân chủng Phòng không – Không quân, đại tá Trần Ngọc Long, phó viện trưởng viện Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam cùng nhiều sỹ quan thuộc quân chủng Phòng không – Không quân.

baodatviet.vn

Giải mật bộ khí tài bắt B-52 lộ diện

Theo dõi chặt chẽ âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ, ngày 25/11/1972, Quân ủy Trung ương nhận định địch có thể ném bom, bắn phá trở lại từ vĩ tuyến 20 trở ra với mức độ ác liệt hơn. Trên cơ sở đó, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Quân chủng Phòng không – Không quân tiếp tục nghiên cứu các biện pháp chống nhiễu, nghiên cứu cách đánh, kiên quyết bắn rơi máy bay chiến lược B-52.

Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, nghiên cứu chống nhiễu, phát hiện để bắn rơi “siêu pháo đài bay” B-52 là một trong những nội dung nghiên cứu của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự Việt Nam.

Radar thoát gây nhiễu

Từ cuối năm 1968, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân đã cử nhiều đoàn cán bộ kỹ thuật, trong đó có một bộ phận của tiểu đoàn trinh sát đi cùng các tiểu đoàn tên lửa vào nam Quân khu 4 và tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn theo dõi, nghiên cứu nhận dạng và tìm cách đánh máy bay B-52.

Vượt qua mọi khó khăn, qua theo dõi, nghiên cứu các thủ đoạn gây nhiễu của địch trong hai mùa khô năm 1968-1969 và 1969-1970, nhóm cán bộ của tiểu đoàn trinh sát nhiễu phát hiện một hiện tượng khá đặc biệt: Trong số radar ta đang sử dụng có một loại radar máy bay B-52 không phát hiện được.

Trên cơ sở đó, cuối năm 1971, một tổ cán bộ nghiên cứu thuộc Phòng Nghiên cứu kỹ thuật Quân chủng Phòng không – Không quân đề xuất một công trình nghiên cứu cải tiến kỹ thuật: Dùng loại radar không bị máy bay B-52 gây nhiễu ghép nối với đài điều khiển phục vụ bộ đội tên lửa đánh B-52.

Tháng 1/1972, tổ nghiên cứu hoàn thành bản vẽ thiết kế, sau đó chuyển đến Tiểu đoàn 76, Trung đoàn tên lửa 257 lắp ráp thành bộ khí tài mới. Qua thử nghiệm, bộ khí tài này có thể giúp bộ đội ta phát hiện các loại máy bay địch, đặc biệt là B-52.

Trong biên chế của bộ đội phòng không Việt Nam có một loại radar “thoát” thủ đoạn gây nhiễu của đối phương.

Để đánh giá hiệu quả bắt mục tiêu B-52, ngày 22/2/1972, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân chỉ thị cho tổ nghiên cứu kỹ thuật lắp ráp bộ khí tài thứ hai tại Tiểu đoàn 89, Trung đoàn tên lửa 274 đang chiến đấu ở Quảng Bình để kiểm nghiệm thực tế.

Gần 2 tháng, bộ khí tài mới triển khai bắt được mục tiêu 18 lần, trong đó có 16 lần B-52. Trên cơ sở đó, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân chỉ thị cho Phòng Nghiên cứu kỹ thuật lắp thêm 6 bộ khí tài mới trang bị cho các đơn vị tên lửa tác chiến bảo vệ Hà Nội.

Tháng 6/1972, Cục Kỹ thuật cung cấp toàn bộ bản vẽ và một số mẫu cho nhà máy Z119 thuộc Cục Quân giới để lắp ráp 6 bộ khí tài mới. Hàng trăm kỹ sư và công nhân kỹ thuật nhà máy không kể ngày đêm làm việc khẩn trương, nhanh chóng hoàn thành gia công và lắp ráp hoàn chỉnh 6 bộ khí tài đúng thời gian quy định, bảo đảm hệ số kỹ thuật. Các bộ khí tài mới mang ký hiệu KX.

Để xác định độ tin cậy của bộ khí tài KX, ngày 19/11/1972, Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức trình diễn ở Tiểu đoàn 79, Trung đoàn tên lửa 257. Sau 2 giờ theo dõi hoạt động của bộ khí tài KX cho thấy, khả năng chỉ chuẩn mục tiêu giúp đài điều khiển tên lửa phát hiện máy bay B-52 để tiêu diệt chúng. Đây là thành tựu quan trọng về nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự của quân đội ta.

Cùng với những bước cải tiến tên lửa có hiệu quả, khả năng “vạch nhiễu tìm thù”, phát hiện được mục tiêu B-52 của khí tài KX góp phần bảo đảm cho bộ đội tên lửa nâng cao hiệu quả chiến đấu bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay” của đế quốc Mỹ.

Phát huy hiệu quả tuyệt vời

Đêm 18/12/1972, Đế quốc Mỹ mở cuộc tập kích chiến lược đường không với mật danh Linebacker II vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác trên miền Bắc. Do chuẩn bị tốt, trong 12 ngày đêm Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, bộ đội tên lửa phối hợp với lực lượng phòng không ba thứ quân anh dũng chiến đấu, bắn rơi nhiều loại máy bay địch, trong đó có cả B-52.

Từ ngày 18 đến 24/12, Tiểu đoàn 57, Trung đoàn tên lửa 261 bố trí ở phía bắc sông Hồng và Tiểu đoàn 79, Trung đoàn tên lửa 257 bố trí ở phía nam sông Hồng sử dụng bộ khí tài KX nhiều lần phát hiện B-52, phục vụ bộ đội tên lửa chiến đấu nhiều trận đạt hiệu quả.

Tiểu đoàn 57 được bộ khí tài KX chỉ dẫn mục tiêu bắn rơi 4 máy bay B-52. Riêng đêm 22/12, Trung đoàn tên lửa 257 sử dụng bộ khí tài KX phát hiện B-52, phục vụ đài điều khiển tên lửa phóng 4 quả đạn diệt 2 máy bay B-52.

Xác B-52 rơi ở hồ Hữu Tiệp.

Sáng 25/12, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân triệu tập hội nghị tổng kết đợt một chiến đấu đánh trả máy bay B-52 ở khu vực Hà Nội. Hội nghị phát hiện thêm một ưu điểm nữa của bộ khí tài KX là khả năng phân biệt được máy bay B-52 thật và B-52 giả, giúp người chỉ huy chỉ thị hướng tốp máy bay B-52 đang tiếp cận để bộ đội tên lửa đánh trúng mục tiêu.

Sau hội nghị, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân chỉ thị cho các đơn vị tên lửa được trang bị khí tài KX bố trí ở Hà Nội, Hải Phòng phải thông báo về sở chỉ huy quân chủng hướng vào tốp B-52 mà bộ khí tài KX bắt được. Phát huy thắng lợi, trong đợt 2 (từ ngày 26 đến 29/12), các đơn vị tên lửa sử dụng bộ khí tài KX tiếp tục phát hiện, chỉ dẫn đánh B-52 hiệu quả.

Thắng lợi của Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” khẳng định sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thế đối đầu với chiến tranh phá hoại bằng không quân chiến lược của đế quốc Mỹ.

Quân đội ta đánh thắng B-52 bằng những vũ khí trang bị hiện có là một bất ngờ đối với Mỹ. Bên cạnh trình độ tác chiến phòng không, thắng lợi này khẳng định khả năng nghiên cứu, làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại của bộ đội ta. Chúng ta đã thắng “siêu pháo đài bay” hiện đại của Mỹ bằng cả ý chí kiên cường và trí tuệ trong chiến tranh hiện đại.

baodatviet.vn

Âm hưởng bản hùng ca chiến thắng

QĐND – 40 năm trước, quân và dân Thủ đô đã làm nên chiến thắng vĩ đại, Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không. Sau chiến thắng ấy, khán giả chứng kiến lại 12 ngày đêm đau thương mà cũng rất đỗi oanh liệt hào hùng thông qua các tác phẩm điện ảnh, phim tài liệu. Cho đến hôm nay, những dư âm ấy, ký ức ấy lại ùa về trong tâm trí của bao nghệ sĩ, nhà quay phim đạo diễn, diễn viên và cả những khán giả của “Hà Nội 12 ngày đêm”, “Em bé Hà Nội”, “Hà Nội bản hùng ca”…

Ký ức hào hùng trên phim

Trong dư âm chiến thắng của Hà Nội 12 ngày đêm 40 năm về trước, và trong ký ức làm phim “Hà Nội 12 ngày đêm” cách đây 10 năm (năm 2002 phim được công chiếu sau 5 năm thực hiện) của đoàn làm phim do NSND Bùi Đình Hạc làm đạo diễn, cùng NSưT Chiều Xuân, NSưT Quốc Tuấn, nhà biên kịch Đinh Thiên Phúc, nhà quay phim Bùi Trung Hải… đã hâm nóng hội trường Sư đoàn Không quân 371 (Sóc Sơn, Hà Nội) trong ngày đông giá lạnh bằng những kỷ niệm, chuyện vui về quá trình thực hiện bộ phim phác họa chân thực về sự kiện lịch sử trọng đại này.

Cảnh trong phim “Em bé Hà Nội”. Ảnh tư liệu

NSND Bùi Đình Hạc kể, cuộc đời của ông chứng kiến trọn vẹn 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại của dân tộc. Khi Hà Nội gồng mình trong 12 ngày đêm khói lửa, ông là một trong những người được chứng kiến tận mắt. Đến nay, dù 40 năm nhưng mỗi lẫn đi qua những con phố, góc đường, vị đạo diễn già vẫn hình dung được không khí tang thương ngày ấy. Phố Khâm Thiên sau trận đánh chỉ còn là một đống đổ nát. Những chiếc xe tải chở quan tài chạy dọc trên phố… Nhưng từ đau thương ấy, Hà Nội vẫn vượt lên, dũng cảm chiến đấu và chiến thắng. Đó chính là những “chất liệu” chân thực để NSND Bùi Đình Hạc làm nên sự thành công của “Hà Nội 12 ngày đêm”.

Với quan niệm làm phim về chiến tranh nhưng không được căng thẳng, lên gân mà phải đi sâu vào tình cảm con người, từ một trận đánh cụ thể, một nhân vật cụ thể để khái quát lên bản lĩnh của cả dân tộc, lý giải với bạn bè quốc tế cũng như thế hệ sau này rằng trong những giây phút khó khăn nhất, chúng ta đã chiến đấu và chiến thắng như thế nào. Vì thế, Hà Nội của năm đầu thập kỷ 70 trong phim của đạo diễn Bùi Đình Hạc cũng mang nét đặc trưng thường thấy: Những cô gái mặc áo dài dịu hiền và lãng mạn; những chàng trai điềm đạm dễ gần nhưng bước vào cuộc chiến, họ trở thành con người quyết liệt và mạnh mẽ. Không chỉ nói về chiến tranh mà còn là tình yêu, là sự gắn kết con người Hà Nội với nhau. Giữa 12 ngày đêm ác liệt ấy, bỗng có một ngày nô -en hòa bình, trong không gian của đồng ruộng bát ngát, một ngôi nhà nhỏ yên bình, Tiểu đoàn trưởng tên lửa Đặng Nhân (Quốc Tuấn đóng) và cô du kích xã tên Hiền (Hoàng Nhật Mai) được tận hưởng một đêm trọn vẹn tình vợ chồng. Lại cảnh gầm rú của B -52, sự căng thẳng trên từng gương mặt chiến sĩ vì thiếu đạn. Nữ bác sĩ xinh đẹp Thủy Tiên (Mai Thu Huyền) mới đây còn say sưa ngắm một giò lan mới nở hoa, thoắt cái đã trút hơi thở cuối cùng trong đống đổ nát của Bệnh viện Bạch Mai sau một đợt máy bay Mỹ oanh tạc. Giữa ầm ào súng đạn, có những người tình nguyện ở lại pha cà phê phục vụ chiến sĩ… Trong sự kết hợp liên hoàn của ngôn ngữ điện ảnh, “Hà Nội 12 ngày đêm” – như lời của NSND Bùi Đình Hạc, mục đích cuối cùng là đem đến cho khán giả những xúc cảm về sự lớn lao của con người Hà Nội trong chiến đấu.

Với NSND Lan Hương, khi nhắc lại kỷ niệm vào vai Ngọc Hà trong “Em bé Hà Nội”, chị nói 40 năm rồi chị vẫn giữ vẹn nguyên cảm xúc: “Tháng 12-1972, khi ấy tôi 9 tuổi sống cùng ông bà ngoại ở phố Hoàng Hoa Thám. Tôi không biết ký ức về những ngày ấy trong trí nhớ của những đứa trẻ 9 tuổi khác như thế nào, nhưng trong ký ức của tôi đó là nỗi kinh hoàng. Tôi còn nhớ đêm đầu tiên Mỹ ném bom, rất bất ngờ, cả nhà tôi chỉ kịp nhìn thấy chớp giật ầm ầm, sau đó là tiếng la hét, tiếng khóc, tiếng gào vang lên từ khắp các phố. Gia đình tôi lao ào ra hầm trú ẩn cá nhân. Sáng sớm hôm sau, Thành phố hoang tàn, đổ nát”. Từ những ký ức kinh hoàng chân thực về những trận ném bom mùa đông năm 1972, nên khi được chọn vào vai Ngọc Hà, Lan Hương đã diễn bằng tất cả cảm xúc thật, tình cảm thật, Lan Hương đã có một vai diễn xuất sắc khi mới 10 tuổi, và “đóng đinh” tên tuổi “Em bé Hà Nội” với chị đến ngày nay.

Nhắc đến “Em bé Hà Nội”, đạo diễn, NSND Hải Ninh bồi hồi kể, khi đưa phim “Em bé Hà Nội” đi chiếu ở Nhật Bản, sau mỗi buổi chiếu rất đông khán giả khóc, có khán giả xúc động hỏi những câu như tại sao người Việt Nam lại có thể bình tĩnh đến thế trong hoàn cảnh ngặt nghèo đến thế: “Tôi trả lời, nếu không bình tĩnh thì không thể đối phó với bom, đạn của Mỹ. Có người hỏi về việc em bé Hà Nội luôn mang theo cây đàn, phim kết thúc cũng bằng cảnh kéo đàn. Tôi giải thích cho họ biết cây đàn là một ẩn dụ về hòa bình, và khát khao được học tập trở lại, được đến trường của trẻ em Hà Nội”.

Viết tiếp bản hùng ca

Không ít băn khoăn, giới văn nghệ nước nhà, nhất là các nghệ sĩ điện ảnh đang mắc nợ với những thời khắc của lịch sử, bởi ngày nay chúng ta chưa có nhiều những bộ phim, tác phẩm điện ảnh xứng tầm với lịch sử dân tộc. Nhưng thật khó!- như lời của đạo diễn Nguyễn Xuân Cường-người đang làm bộ phim truyền hình dài 50 tập “Cao hơn bầu trời”, phim do Công ty TNHH một thành viên phim Giải Phóng và Quân chủng PK -KQ phối hợp sản xuất, thì điều cơ bản là nguồn kịch bản phim ít, người làm phim tâm huyết với đề tài lịch sử của dân tộc cũng ít, thêm vào đó là kinh phí đầu tư cho dự án phim lịch sử rất tốn kém. Đạo diễn Xuân Cường cho biết, khi được giao làm “Cao hơn bầu trời” anh đã rất lo, vì phim được đầu tư rất lớn, tái hiện toàn bộ cuộc chiến vừa khốc liệt, vừa oanh liệt của những ngày cuối năm 1972 Hà Nội; vốn sống và kinh nghiệm làm phim lịch sử chưa nhiều, phải tra cứu lịch sử và gặp gỡ trao đổi với các nhân chứng lịch sử hàng năm trời… Nhưng đạo diễn Nguyễn Xuân Cường nói, anh rất vinh dự vì những người con miền Nam như anh được làm về cuộc chiến của những người con miền Bắc, trên đất Bắc. Phim “Cao hơn bầu trời” dự kiến sẽ hoàn thành vào tháng 12 – 2013.

Đại tá Vũ Văn Chính, Giám đốc Điện ảnh Quân đội tự hào khi nhắc đến những bậc đàn anh từng một thời ôm máy quay ở khắp các chiến trường, trong đó phải kể đến thời khắc lịch sử 12 ngày đêm năm 1972. Họ là những người luôn đối diện giữa sự sống -cái chết như: Quốc Nhàn, Lê Thi, Xuân Thu, Hà Tài, Trần Gia Định, Ngô Đặng Tuất, Vương Đức Cừ, Phạm Hữu Doanh… để ghi lại những giờ phút lịch sử của quân và dân gồng mình chiến đấu – nguồn tư liệu âm thanh, hình ảnh sống động, chân thực quý giá cho các thế hệ làm phim. Để sau đó là những bộ phim tài liệu ra đời, gây tiếng vang với khán giả trong nước và quốc tế như: “Hà Nội đánh giỏi thắng lớn”, “Hà Nội bản hùng ca”, “Hà Nội tháng Chạp năm ấy”, “Một ngày Hà Nội”… Mới đây, nhân kỷ niệm 40 chiến thắng Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không, các nghệ sĩ Điện ảnh Quân đội lại bắt tay thực hiện bộ phim tài liệu “40 năm chiến thắng Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không”, thực hiện phim tài liệu minh họa cho chương trình Lễ kỷ niệm cấp Nhà nước. Đặc biệt phải kể đến bộ phim tài liệu “Gió ngang”, phim lấy ý tưởng từ tác phẩm văn học “Gió ngang, những điều không thể thiếu trong cuộc chiến tranh đường không” của GS, TS lịch sử quân sự Mỹ E. Tinpho, với ý nghĩa những “Siêu pháo đài bay”, “Thần sấm”, “Con ma” Mỹ đã bị cơn “Gió ngang” – lịch sử, văn hóa Việt Nam quật ngã. Cơn “Gió ngang” mà nhà sử học quân sự Mỹ tìm cách lý giải lý do thất bại của Chiến dịch Lanebacker II và toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ chính là truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam, sức mạnh của “Gió ngang” là sức mạnh của cuộc chiến tranh chính nghĩa, từ lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân, đến tấm lòng yêu chuộng hòa bình và chân lý của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới… Phim đang trong quá trình hoàn thiện và ra mắt khán giả dịp đầu năm mới 2013.

Hy vọng, trong những năm tiếp theo, các nhà làm phim, diễn viên điện ảnh bằng tình cảm, nhiệt huyết và nghệ thuật sẽ còn tiếp tục miêu tả sống động và chân thực cuộc chiến này với những cách nhìn mới, tiếp cận mới để đưa đến khán giả những thước phim ý nghĩa, nêu bật ý chí kiên cường của quân và dân Việt Nam.

VƯƠNG HÀ
qdnd.vn

Tiến công chiến lược ở miền Nam và đánh bại B-52 ở miền Bắc năm 1972-Những đòn quyết định buộc Mỹ ký Hiệp định Pa-ri

QĐND – Thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường chính miền Nam, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) và đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất trên miền Bắc thực sự là những đòn đánh quyết định làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt đánh phá miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Pa-ri.

Tiếp đó, bằng nỗ lực vượt bậc của cả hậu phương và tiền tuyến, đồng thời được sự ủng hộ, giúp đỡ hiệu quả bạn bè quốc tế, quân và dân ta ở miền Nam khẩn trương củng cố thế và lực, mở tiếp chiến dịch Đường 9 -Nam Lào (1971), làm thay đổi cán cân so sánh lực lượng trên chiến trường theo hướng có lợi cho ta.

Theo dõi sự chuyển biến trên chiến trường, cân nhắc thế và lực của ta, tháng 5-1971, Trung ương Đảng quyết định: “Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua”[1]. Theo đó, Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu khẩn trương xây dựng kế hoạch tiến công chiến lược ở miền Nam năm 1972 (Quân uỷ Trung ương thông qua tháng 6-1971).

Đúng như kế hoạch, sau khi dồn sức làm công tác chuẩn bị, ngày 30-3-1972, cuộc tiến công chiến lược đã nổ ra đồng loạt trên chiến trường miền Nam. Tại hướng chủ yếu Trị – Thiên và các hướng quan trọng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, ta mở ba chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đập tan một số tuyến, khu vực phòng thủ mạnh, tiêu diệt và đánh thiệt hại nhiều đơn vị cấp trung, sư đoàn chủ lực cơ động của quân đội Sài Gòn. Đặc biệt, trên hướng Trị – Thiên, ta giải phóng tỉnh Quảng Trị. Ở đồng bằng Nam Bộ và Khu 5, ta cũng đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, mở rộng vùng làm chủ, giải phóng hàng triệu dân.

Thắng lợi 1972 ở miền Nam cộng hưởng với chiến công vang dội của quân và dân miền Bắc: bắn rơi 561 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 80 tàu chiến, phá hủy hàng nghìn quả thủy lôi, mìn từ trường của Mỹ (6.4 – 22.10.1972), đã buộc Mỹ phải chấp thuận bản dự thảo “Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” do ta soạn thảo (8-10-1972) và dự định ngày ký kết chính thức[2]. Tuy việc chấp thuận này có phần liên quan đến cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra vào ngày 7-11-1972 (Ních-xơn tái tranh cử), nhưng đây thực sự là một thắng lợi lớn của ta. Bởi, nếu không có thắng lợi quyết định 1972 thì làm sao có sự chấp thuận này của Mỹ.

Với bản chất ngoan cố và xảo trá, sau chính thức bước vào Nhà Trắng lần hai, chính quyền Ních-xơn tìm mọi lý do để ép ta sửa đổi nhiều nội dung căn bản của Hiệp định. Tất nhiên, ta không thể chấp thuận. Hội nghị Pa-ri bế tắc. Ngay tức khắc, Ních-xơn quyết định sử dụng không lực để “tạo ra một cú sốc” (Sock dologer) – mở cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng điểm khác trên miền Bắc. Với lực lượng tập trung cho cuộc tập kích gồm 193 máy bay B-52 (chiếm 50% số B-52 của Mỹ), gần 50 máy bay F-111 và hơn 1.000 máy bay tiêm kích, 6 liên đội tàu sân bay, hàng chục máy bay KC.135 tiếp dầu trên không… Ních-xơn tin rằng sẽ làm “mềm xương sống” của Hà Nội, buộc Chính phủ ta phải ký Hiệp định Pa-ri theo hướng có lợi cho Mỹ.

Với bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, từng được tôi luyện trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, được chuẩn bị chu đáo mọi mặt từ nhiều năm trước đó, quân và dân Thủ đô Hà Nội thề quyết tâm “… thà hy sinh tất cả, chứ không chịu khuất phục… Không có gì quý hơn độc lập tự do”[3]. Và, chúng ta cũng không bị bất ngờ trước thủ đoạn xảo trá của giới cầm quyền Mỹ; bởi ngay từ tháng 9-1967, khi bộ đội tên lửa của Quân chủng PK-KQ đã bắn rơi B-52 Mỹ ở Vĩnh Linh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội”, vì “trước khi thua ở Triều Tiên, Mỹ đã hủy diệt ở Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội”[4]. Đây chính sự cảnh báo sớm cho quân và dân Thủ đô yêu dấu chủ động đón nhận thách thức “nảy lửa” này.

Đúng như lời Bác, từ đêm 18 đến 29-12-1972, Mỹ đã tổ chức mỗi đêm từ 2 đến 3 đợt đánh phá, với số lượng trung bình 54 – 60 lần/chiếc B.52. Lực lượng yểm trợ cho mỗi đợt thường là 1 tốp 4 máy bay tiêm kích F.4 đánh chặn máy bay và 1 tốp máy bay cường kích F.105 làm nhiệm vụ chế áp tên lửa của ta. Mỗi tốp B-52 có 1 tốp F-4 hộ tống trực tiếp từ khu vực tiếp cận mục tiêu. Ngoài ra, mỗi đêm chúng còn sử dụng từ 10 đến 25 lần/chiếc F.111 oanh tạc ở tầm thấp xen kẽ các các đợt đánh của B-52, nhằm nghi binh tạo bất ngờ cho B-52 vào tiếp cận mục tiêu đánh phá[5].

Tuy chúng có gây cho nhân dân ta những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, nhưng với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương lân cận, với tất cả những vũ khí và phương tiện có trong tay, đã ngoan cường, thông minh, sáng tạo đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích của không quân Mỹ, bắn rơi 81 máy bay, gồm 34 máy bay B-52, 5 F-111 và 42 máy bay chiến thuật khác. Riêng quân và dân Thủ đô bắn rơi 25 chiếc B-52, làm nên một “Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội” vang động khắp năm châu, chấn động địa cầu. Cũng từ đây, làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ bùng phát mạnh mẽ hơn bao giờ hết; làm cho “uy tín của Mỹ trên thế giới tụt xuống mức thấp nhất chưa từng có. Phản ứng trên khắp thế giới sẽ càng thêm gay gắt”[6]. Biết không thể đảo ngược được tình thế, sáng 30-12-1972, Ních-xơn tuyên bố ngừng ném bom hoàn toàn, vô điều kiện đối với miền Bắc, quay trở lại bàn đàm phán Pa-ri và ký kết Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973).

Đến đây chúng ta đã hoàn toàn thực hiện được quyền tự quyết dân tộc của mình trên mọi phương diện – điểm “vượt trội” của Hiệp định Pa-ri so với Hiệp định Giơ-ne-vơ cách đó 21 năm tròn. Mặt khác, theo Hiệp định, toàn bộ quân chiến đấu Mỹ phải rút khỏi miền Nam, nhưng phải chấp nhận việc ở lại hợp pháp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đến đây, quân và dân ta đã thực hiện được một bước lời huấn thị của Bác Hồ: “Đánh cho Mỹ cút”, mở ra điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 – “Đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

——————

[1] BQP-VLSQSViệt Nam, Cuộc kháng chiến chóng Mỹ cứu nước 1954 – 1975, Những sự kiện quân sự, H.1988, tr.246.

[2] Theo kế hoạch, Hiệp định sẽ được chính thức ký ở Hà Nội ngày 22-10-1972 và ký ở Pa-ri ngày 30-10-1972.

[3] Trích Tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 26-10-1972.

[4] “Kính dâng Bác chiến công lịch sử này”, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 24 (12-1987).

[5] Riêng với Thủ đô Hà Nội, trong cuộc tập kích 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, Mỹ đã huy động tới 444 lần/chiếc B-52, 1.004 máy bay chiến thuật và sử dụng gần 10.000 tấn bom đạn các loại…

[6] Báo Nhân dân, ngày 28-12-1972.

Đại tá, TS NGUYỄN HUY THỤC
qdnd.vn

Hà Nội 12 ngày đêm – Bản Anh hùng ca Máu và Hoa

LTS: Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, giành độc lập tự do cho dân tộc – tổ tiên ta, cha ông ta đã làm nên biết bao chiến công hiển hách. Những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa hiển hách còn đó; và còn cả những lần Kinh thành Thăng Long bỏ trống chấp nhận ngoại bang giày xéo để đợi đến ngày phục hận…

Ga Hàng Cỏ, bệnh viện Bạch Mai bị bom Mỹ tàn phá – ảnh tư liệu

Thế kỉ XX, tiếp nối truyền thống đánh giặc giữ nước, kế thừa, phát huy kinh nghiệm và nghệ thuật quân sự của cha ông, toàn dân tộc Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ vĩ đại đã liên tục tiến hành những cuộc chiến đấu bảo vệ, giải phóng đất nước, viết nên trang sử vàng chói lọi trong biên niên sử dựng nước và giữ nước.

12 ngày đêm cuối năm 1972, Hà Nội thay mặt cả nước quật cường chiến đấu và chiến thắng siêu pháo đài bay B52 của không quân Mỹ, làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”, một mốc son chói lọi. 40 năm đã qua, giá trị của chiến thắng này trong toàn cục cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước càng rực sáng. Nhân 40 năm Hà Nội chiến thắng B52, ĐĐK cùng bạn đọc nhớ lại những ngày đau thương và oai hùng đó, từ số báo đúng ngày này cách đây 40 năm (18-12-1972 / 18-12-2012) B52 giặc Mỹ rải thảm Thủ đô Hà Nội.

[Bài 1: Hà Nội chờ giặc tới]
[Bài 2: Hà Nội đau thương]
[Bài 3: Hà Nội quật cường]
[Bài 4: Hà Nội chiến thắng]
[Bài 5: Tài tình nghệ thuật quân sự Việt Nam: “Dụng binh như thần” ]

ĐĐK
daidoanket.vn