Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

“Nơi Bác yên nghỉ – Nơi hội tụ niềm tin”

(ĐCSVN) – Hơn 31 nghìn người! Đó là con số kỷ lục về lượng du khách đến viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào một buổi sáng… Nhưng phía sau dòng người vô tận ấy là biết bao công việc miệt mài của những cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm 116 năm ngày sinh của Bác, Đại tá, TS. Vũ Văn Bình- Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Lăng đã có cuộc trò chuyện với Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thưa đồng chí, một mốc quan trọng trong gần 40 năm giữ gìn, bảo vệ an toàn thi hài Hồ Chủ tịch là việc chúng ta đã pha chế thành công dung dịch và làm chủ công nghệ bảo quản thi hài Bác. Xin đồng chí cho biết, Bộ Tư lệnh (BTL) Lăng đã làm thế nào để có được thành tựu quan trọng ấy?

Sau khi Người qua đời, đồng bào, chiến sĩ cả nước thương nhớ Người khôn xiết, bầu bạn quốc tế cũng chia sẻ nỗi đau buồn sâu sắc với chúng ta. Thể theo nguyện vọng rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã quyết định bảo vệ, giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Nhiệm vụ thiêng liêng và trọng trách lớn lao đó được giao cho Quân đội. Đoàn 69- đơn vị tiền thân của bộ đội bảo vệ Lăng được thành lập và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong những năm đầu giữ gìn, bảo vệ thi hài Bác. Gần 40 năm qua, cán bộ, chiến sĩ tổ y tế đặc biệt, Đoàn 69 và từ năm 1975 đến nay là Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vừa xây dựng vừa trưởng thành, hoàn thành nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng và nhân dân giao phó.

Ngay từ ngày Bác đi xa, chúng ta đã một mặt dựa vào sự giúp đỡ của Liên Xô để bảo quản tốt thi hài của Người, một mặt tích cực xây dựng lực lượng cán bộ khoa học hướng tới tự chủ, tự lực, tự cường trong công tác bảo quản và giữ gìn thi hài của Bác.

Do được chuẩn bị tốt như vậy, nên khi Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, chúng ta từng bước làm chủ công nghệ giữ gìn thi hài Bác. Song công việc đó không hề đơn giản, bởi đấy là một ngành khoa học công nghệ tổng hợp. Khi thực hiện quá trình công nghệ giữ gìn thi hài Bác, chúng ta phải kết hợp nhiều ngành kĩ thuật trong khi chưa có kinh nghiệm. Tuy nhiên vẫn phải giữ tốt thi hài của Bác với 3 yêu cầu: “Thi hài không bị phân huỷ, không sạm màu, không bị biến dạng” để nhân dân đến viếng vẫn thấy thi hài nguyên vẹn như lúc Bác còn sống.

Một vấn đề hết sức quan trọng là phải có một loại dung dịch hóa chất để bảo quản thi hài. Trước năm 1990 các chuyên gia Liên Xô trực tiếp có mặt tại Việt Nam để giúp ta về công nghệ pha chế dung dịch này, nhưng đến năm 1992, do sự biến động chính trị, việc giúp đỡ ngày càng hạn chế. Trước tình hình trên, các nhà khoa học Việt Nam phải nhanh chóng, chủ động khắc phục khó khăn. Sau 3 lần pha chế thành công tại Hà Nội, dung dịch để bảo quản thi hài Bác do các chuyên gia Việt Nam pha chế đã được các bạn Nga công nhận. Vì thế, từ ngày 29/4/1995 các bạn đã chính thức bàn giao cho ta nhiệm vụ làm thuốc thường xuyên bảo quản thi hài Bác. Cho đến nay, thi hài Bác vẫn rất tốt, và sẽ bảo quản được lâu dài đáp ứng niềm mong mỏi của toàn dân.

Theo các chuyên gia về y học, việc gìn giữ thi hài trên thế giới rất khó khăn (không chỉ riêng ở VN) để công tác giữ gìn thi hài của Bác được lâu dài, BTL Lăng sẽ phải làm như thế nào?

Về công nghệ giữ gìn thi hài trên thế giới thì nước Nga có nhiều kinh nghiệm và ta cũng đã tiếp thu, học tập được rất nhiều. Nhưng chúng ta cũng phải hiểu là giữ gìn thêm mỗi năm là thêm sự phức tạp. Hơn nữa thi hài nào cũng sẽ bị chuyển hoá theo thời gian và năm tháng, do sự tác động của môi trường, nhất là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm ở nước ta. Song, giữ gìn được lâu dài thi hài của Bác luôn là quyết tâm của Bộ Chính trị, Đảng ủy quân sự Trung ương, các ngành khoa học và cũng là mong ước của toàn dân. Để làm được như vậy chúng tôi đã phối hợp với các ngành khoa học, các giáo sư của trường đại học và một số viện nghiên cứu khoa học… nhằm tìm ra các giải pháp tốt nhất. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực, sáng tạo của BTL Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự giúp đỡ hiệu quả của bạn, tôi xin khẳng định, trong điều kiện hiện nay, chúng ta sẽ tiếp tục bảo quản lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch.

Vẫn biết việc bảo quản giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng giao cho các anh và là công việc không đơn giản chút nào. Nhưng hiện nay có ý kiến cho rằng, hoạt động của bộ đội Lăng Chủ tịch là rất ” nhàn”. Vậy đồng chí suy nghĩ gì về vấn đề này?

Có thể khẳng định rằng, chỉ những ai ít quan tâm, thiếu hiểu biết về bộ đội Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mới nói như vậy. Chứ còn đại bộ phận nhân dân đều có thể hiểu được sự gian khó, hy sinh của chúng tôi, nhất là những đồng chí đang ngày đêm canh giữ giấc ngủ bình yên cho Bác; các chiến sĩ đã phải vất vả tập luyện gian khó mới có thể đứng nghiêm hàng vài giờ đồng hồ như vậy. Không phải ai cũng có thể làm được việc đó. Rất nhiều đồng chí qua thời gian đầu được rèn luyện, huấn luyện đã không chịu được. Có đồng chí còn ngất đổ “như cây chuối” và phải chuyển sang công việc khác. Đó là còn chưa kể nắng, mưa, đêm hôm… Chúng tôi cũng đang ngày đêm nỗ lực phấn đấu vươn lên trên tất cả các lĩnh vực công tác. Rồi hàng loạt công việc: nghiên cứu hoàn chỉnh công nghệ ướp, bảo quản thi hài trong điều kiện nhiệt đới, trùng tu để công trình luôn khang trang, đảm bảo an ninh và sạch đẹp khu vực Quảng trường… Nói như thế để thấy rằng, tất cả cán bộ, chiến sĩ trong Bộ Tư lệnh đều cống hiến bằng trái tim, khối óc của chính mình.

Hiện nay đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, xa đến được HN vào thăm viếng Lăng Bác là rất khó khăn. Để tạo điều kiện cho các đồng bào dân tộc thiểu số và các bà con vùng sâu, xa được vào thăm viếng Bác, BTL Lăng đã tổ chức thực hiện như thế nào?

Chúng tôi đã phối hợp với ngành đường sắt Việt Nam và các tỉnh ở xa để có sự hỗ trợ về tiền tàu, xe cho đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa khi về Hà Nội để vào Lăng viếng Bác. Đối với những bà con có chế độ chính sách thì được giảm từ 60% – 90% giá vé đi lại (tùy theo chế độ). Khi bà con đến Hà Nội, chúng tôi cho xe ra tận ga để đón và liên hệ mượn nhà nghỉ để khách thăm Lăng chỉ phải trả tiền điện, nước chứ không phải trả tiền thuê phòng. Vì hiện nay, BTL Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chưa có nhà khách.

Do làm tốt công tác đó nên mấy năm trở lại đây, những đoàn khách ở xa như: Đồng Nai, Tiền Giang… và các tỉnh khác đến viếng Bác rất đông. Tiêu biểu là ngày 2-9-2004, số lượng khách thăm viếng lên tới hơn 31.000 người trong một buổi sáng.

Khi có số lượng khách đông như thế, mọi công tác đảm bảo an ninh trật tự cho đến vệ sinh môi trường có nhiều khó khăn… Nhưng chính tình cảm của nhân dân đối với Bác lại là động lực, là niềm vui thôi thúc chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Cùng với nhiệm vụ bảo quản, giữ gìn lâu dài thi hài của Bác thì một nhiệm vụ rất quan trọng của các đồng chí là phải góp phần làm nổi bật văn hóa Hồ Chí Minh cho du khách. Vậy, BTL Lăng đã quan tâm đến vấn đề này như thế nào?

Hình ảnh Bác Hồ đã đọng lại không chỉ trong trái tim nhân dân Việt Nam, mà còn đọng lại trong bạn bè quốc tế. Chính vì thế ai tới Hà Nội và nhiều khách quốc tế cũng đều mong muốn vào Lăng viếng Bác. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ, nhân viên BTL Lăng phải thể hiện sự nhiệt tình, chu đáo, văn minh… nhất trong việc tiếp đón và như thế chính là góp phần gìn giữ tư tưởng của Người, bởi vì việc mỗi cán bộ chiến sĩ thể hiện tư thế, tác phong quân nhân chững chạc, có văn hoá cũng chính là góp phần tô thắm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” với những phẩm chất cao đẹp mà chính Người lúc sinh thời đã dày công rèn luyện, vun đắp. Trong những lần du khách đến viếng Lăng Bác, chúng tôi còn chiếu những phim tư liệu để đồng bào được xem những hình ảnh khi Bác còn sống. Chính vì thế mà nhiều du khách đã vào Lăng viếng Bác xong rồi nhưng lại không muốn ra về, cứ nấn ná ở lại như muốn được kéo dài thêm thời gian bên Bác- người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của thế giới.

Xin cảm ơn đồng chí./.

Triệu Sơn Hảo (thực hiện)

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh – nhà văn hóa lớn, hiện thân của tinh hoa văn hóa Việt Nam

(ĐCSVN) – Thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh hoa văn hóa thế giới và các giá trị văn hóa dân tộc, hòa mình trong hoạt động phong phú của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rő ý nghĩa lớn lao, vị trí đặc biệt quan trọng của văn hóa, do đó Người đã chỉ rő: “Văn hóa soi đường quốc dân đi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khi lãnh đạo toàn dân giành lại độc lập cho dân tộc cũng đã trả lại vị trí xứng đáng cho văn hóa Việt Nam, mở ra một thời đại mới cho văn hóa Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đi vào nhân dân không chỉ tồn tại một cách trừu tượng trên lĩnh vực ý thức – tư tưởng mà đã thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội của dân tộc, đã trở thành văn hóa dân tộc. Hồ Chí Minh – tư tưởng của Người, thiên tài và toàn bộ sự nghiệp của Người trở thành biểu tượng cao đẹp và sáng ngời của vãn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Ðó là sự trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi cái gì đã đi vào văn hóa thì sẽ sống mãi với dân tộc, với loài người.

Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới đang bàn đến văn hóa chính trị Hồ Chí Minh, văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh, văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh, văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, văn hóa lao động, văn hóa sống Hồ Chí Minh v.v… Hiện nay nhiều ý tưởng được bàn rộng ra như: văn hóa lãnh đạo, văn hóa Đảng, văn hóa cơ quan, văn hóa lao động… theo tư tưởng Hồ Chí Minh là như thế nào, cần thể hiện những đặc trưng và phẩm chất gì? Nghiên cứu, làm sáng tỏ những điều đó chắc chắn sẽ là một đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống văn hóa cổ, kim, đông, tây; đặc biệt là tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, đỉnh cao của tư tưởng nhân văn của nhân loại, nhờ đó đã kết tinh ở Người những giá trị văn hóa vừa dân tộc, vừa hiện đại, vừa nhân văn. Là chiến sĩ tiên phong của nền văn học – nghệ thuật, báo chí cách mạng, đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho công bằng, tình thương và lẽ phải trên trái đất, sự đóng góp của Người về văn hóa rất phong phú và đa dạng, thấm đượm trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Người, được tỏa sáng trong từng việc làm, từng cử chỉ, từng mối quan hệ với đồng chí, đồng bào và bạn bè quốc tế. Cái cốt lõi trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu con người và niềm tin đối với con người hết sức bao la, sâu sắc, tất cả vì con người, tất cả do con người. Đó là một nhân sinh quan, một triết lí sống rất nhân văn, là đạo đức cách mạng của người cộng sản. Người quan niệm: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”. Chính vì vậy, suốt đời Người đã hy sinh chiến đấu chống áp bức bất công, đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân dân, cho dân tộc, cho nhân loại. Như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà tư tưởng lỗi lạc, mà còn là một nhà hoạt động thực tiễn đầy tài năng; không chỉ là một nhà chính trị vĩ đại, mà còn là một nhà văn hóa kiệt xuất. Ngay từ năm 1923, nhà thơ Nga Ô-xíp Man-đen-xtan đã nhận xét rằng: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một nền văn hóa, không phải là văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai”.

Với những cống hiến xuất sắc cho dân tộc và nhân loại, năm 1990, kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Liên hợp quốc đã ra nghị quyết công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, danh nhân thế giới.

TS. Bùi Thế Đức

cpv.org.vn

Di tích Phủ Chủ tịch, một sáng tạo văn hoá

Việc nghiên cứu các di tích trong khu di tích phủ Chủ tịch là để tìm đến những giá trị văn hóa tinh thần đã và đang kết đọng trong từng sự vật gắn với đời sống thường nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu Di tích Phủ Chủ tịch không chỉ nghiên cứu những di tích ở khuôn viên Phủ Chủ tịch mà có thể mở rộng hơn ra cả khu Quảng trường Ba Đình bao quanh nó, để thấy sự sáng tạo các giá trị văn hóa gắn kết, hòa quyện với nhau.

1. Các giá trị văn hóa nhân văn, nhân bản:

Tinh thần nhân văn đối với con người:

Tinh thần nhân văn, nhân bản sâu sắc nhất là tinh thần vì con người, vì hạnh phúc của con người. Đối với Hồ Chí Minh, tinh thần ấy trước hết vì nhân dân mình: hướng đến sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc, đem lại đời sống tốt đẹp hơn cho nhân dân Việt Nam. Người đã từng bộc lộ ý tưởng nhân văn của mình: ”Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Tinh thần nhân văn hóa thân trong sự nghiệp cách mạng cao cả của Người và cả trong đời sống thường nhật. Phủ Chủ tịch, nơi ở và làm việc của Hồ Chí Minh đã chứng minh cho ý tưởng nhân văn cao cả: lấy hạnh phúc của nhân dân làm hạnh phúc của mình. Do vậy, nơi đây thể hiện một cuộc sống hết sức bình dị, ”một cái nhà nho nhỏ nơi non xanh nước biếc” để ngoài giờ làm việc thì ”câu cá trồng rau”.

Chúng tôi muốn mượn lời của Chủ tịch văn phòng đại diện Vương quuốc Bỉ tại Việt Nam, để nói về sự hiểu biết giá trị nhân văn Hồ Chí Minh qua ngôi nhà sàn của Người: ”Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một nỗi trăn trở và mục tiêu duy nhất là cống hiến cho dân tộc mình, và ngôi nhà của Người là một minh chứng cho lý tưởng đó”.

Tinh thần nhân văn bao trùm lên tất cả những ứng xử văn hóa của Người và thể hiện ở mỗi hàng cây, ngọn cỏ và mỗi nhành hoa… trong khu Di tích.

Đối với các thế hệ con người, các tầng lớp nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm, chăm sóc, động viên, khuyến khích, mà Người còn nâng cao thêm nhân cách, vị thế của họ. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: ”Người hạ mình cho vừa tầm mọi người Việt Nam để nâng đỡ mọi người Việt Nam lên đến tầm Người”. Do vậy, từ cái ăn, cái mặc, đồ dùng của Người đang lưu giữ ở đây rất giản dị, gần gũi với cuộc sống của nhân dân. Nhà thơ Tố Hữu đã viết: Một đôi dép lốp mòn quai gót, Vài mảnh quần nâu mấy áo sờn.

Đặc biệt, đối với Người, Phủ Chủ tịch chỉ là nơi làm việc của vị Chủ tịch một nước dân chủ cộng hòa chứ không còn là nơi thâm nghiêm biểu trưng cho uy quyền như dưới chế độ phong kiến, thực dân. Không những thế, nó còn là nơi vui chơi của các cháu thiếu niên, của những người đồng chí, người bạn và những người phục vụ tại đây.

Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đón các cháu thiếu niên vào vui chơi với Người tại Phủ Chủ tịch (xưa là Phủ Toàn quyền) hay Người cho xây bể cá vàng ở ngôi nhà sàn khẳng định điều đó và hơn nữa, Người muốn trao cho các cháu vị thế làm chủ đất nước của các công dân tương lai. Khi đoàn đại biểu các anh hùng lực lượng vũ trang miền Nam ra thăm miền Bắc, vào Phủ Chủ tịch, Người không từ Chủ tịch phủ ra đón, mà xuất hiện từ Đường Xoài đến với họ.

Người làm như vậy không phải để tạo ra sự bất ngờ mà Người muốn một sự gần gũi như người cha, người bác đón con cháu trở về trong một không gian lịch sử (Đường Xoài dẫn đến ngôi đình cổ).

Tình cảm của Người đối với nhân dân được vật hóa vào tất cả các sự vật ở đây. Nói cách khác, từ gốc cây, ngọn cỏ, con cá đều toát lên tinh thần nhân văn của Người. Từ “cây xanh bốn mùa” gợi nhớ sự thông cảm của Người đối với chị lao công đêm đông quét rác, từ ”cây cọ đầu” gợi nỗi ưu tư trước đời sống khó khăn, vất vả của nhân dân, từ “cây vú sữa” gợi nhớ nỗi nhớ ”miền Nam nỗi nhớ nhà” của Người… Phải chăng sự thương cảm của Bác đối với những người lao động, người dân binh thường đã được Tố Hữu ghi lại trong dòng thơ: Con cá rô ơi! chớ có buồn, Chiều chiều Bác vẫn đợi rô luôn.

Tục ngữ Việt Nam thường nói đến ”con rô – con giếc”, ”con tôm – con tép” – chỉ người dân lao động bình thường – đọc câu thơ trong bối cảnh ngày hôm nay chúng ta càng xúc động hơn.

Trở lại với cây, với hoa quả trong ”vườn Bác” chúng ta thấy sự quan tâm của Người với biết bao lớp người trong xã hội. Cây ”vú sữa”, ”cây dừa miền Nam” là biểu hiện tình cảm của Người đối với đồng bào miền Nam ruột thịt, ”đi trước về sau”. Hàng cây dâm bụt ”đỏ hoa quê” là biểu hiện của tình yêu quê hương tha thiết với ”bao nhiêu tình” của Người. Cây cam, ”cây xanh bốn mùa”, cây bưởi, cây cọ đầu… biểu hiện tình cảm đối với quê hương, đất nước và nhân dân mình. Cây hoàng lan – ”cây vũ trụ”, cây cam, cây dừa Xiêm là biểu hiện của tinh thần quốc tế, tinh thần hữu nghị của Người và của nhân dân ta đối với đồng chí, với bạn bè gần xa.

Từ vườn cây ao cá của Người trong khu Di tích Phủ Chủ tịch đến phong trào ”Vườn cây – ao cá Bác Hồ” gần đây và hôm nay là cả một chương trình VAC của đất nước, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong cả nước, không chỉ nói lên ý nghĩa kinh tế của tư tưởng Hồ Chí Minh mà sâu sắc hơn ià một ý nghĩa nhân văn cao cả trong những di sản vật chất và tinh thần Người để lại cho chúng ta.

Giá trị nhân văn đối với tự nhiên:

Mối quan hệ giữa con người với con người quy định mối quan hệ của con người đối với tự nhiên và ngược lại. Tinh thần văn hóa nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thiên nhiên cũng nằm trong quan hệ đó.

Sự gắn bó giữa con người với tự nhiên, con người gần gũi hòa quyện với thiên nhiên được biểu hiện ngay trong môi trường sinh thái của khu Di tích Phủ Chủ tịch. Tâm thức ấy luôn luôn thường trực trong tâm hồn Người từ căn cứ địa Cao Bằng đến chiến khu Việt Bắc. Và về đến Thủ đô Hà Nội ”trở lại” với thiên nhiên cũng vườn cây, ao cá, hoa thơm, trái ngọt và ”Một cái nhà nho nhỏ với non xanh nước biếc để câu cá, trồng rau… không dính gì đến vòng danh lợi”.

Tinh thần nhân văn cao cả của Hồ Chí Minh thể hiện nơi Chủ tịch phủ, không chỉ ở sự hòa quyện, gắn bó với thiên nhiên mà còn ở sự nâng đỡ tự nhiên, cải tạo tự nhiên, thích ứng tích cực với hoàn cảnh tự nhiên. Việc Người hướng dẫn anh chị em làm vườn chữa mối đục thân cây bụt mọc là một minh chứng. Việc Người cứu cây đa con, sống trên bẹ cây to bị gió đánh bật xuống đất cũng là một di vật chứng minh cho tinh thần thương yêu thiên nhiên của Người.

Đến nơi đây, những khách du lịch phương Tây ý thức sâu sắc về mối quan hệ giữa tự nhiên và con người đã cảm nhận được điều gì nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh sống và làm việc? ”Tôi có cảm nghĩ rằng: nơi đây tuyệt đẹp và tràn đầy ý nghĩa. Tôi càng hiểu được những giá trị tư tưởng có thể cảm nhận được từ cảnh quan tĩnh lặng thanh bình tại ngôi nhà này” (Khách du lịch Niu Di Lân – K.Baitz). Con người chỉ có sống bình yên khi hòa mình vào tự nhiên, giữ gìn tự nhiên, cải tạo tự nhiên. Do vậy, đến khu Di tích Phủ Chủ tịch, họ tìm lại cảm giác đó: ”Ngôi nhà này của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bằng chứng về sự cống hiến quên mình của Người cho nhân dân Việt Nam. Quang cảnh vườn cây, ao cá, nhà sàn tạo cảm giác bình yên và thanh thản cho du khách. Người luôn luôn là nguồn động lực tinh thần cho các thế hệ người Việt Nam sau này và mãi mãi” (Khách du lịch Thụy Sĩ – Visune Shanth). Bình yên và thanh thản là trạng thái hạnh phúc của con người. Trong hoàn cảnh sống đầy biến động hiện nay, với một nhịp độ sống gấp gáp, dồn nén với bao tai họa đang đe dọa con người, thì việc tìm thấy cảm giác đó thật là quý giá. Di tích Phủ Chủ tịch đã trở thành ”Thánh địa rực rỡ soi sáng tinh thần” (Nhà Vua Malaysia) không chỉ trên con đường dành độc lập tự do của các dân tộc mà còn trên con đường đi đến hạnh phúc cho toàn nhân loại bằng triết lý hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với đồng loại.

2. Các giá trị thẩm mỹ nghệ thuật:

Khu di tích đã khắc họa phẩm chất cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Một nét độc đáo hiện ra ở đây là cái cao cả lại được biểu hiện trong cái giản dị, khiêm nhường. Khu Di tích Phủ chủ tịch không phải là một công trình lớn như Kim Tự tháp (Ai Cập), Vạn Lý trường thành (Trung Quốc), Vườn treo BabiLon (I Rắc) hay cung điện Véc-Xây (Pháp)… mà chỉ là một khuôn viên bình thường về cả quy mô và kiến trúc. Nhưng cái giản dị của nó lại phản ánh một phẩm chất tinh thần cao đẹp của một vĩ nhân. Có lẽ, không nhiều khách tham quan, trước khi đến đây đã tìm hiểu đầy đủ phẩm chất tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng khi thăm viếng nơi ở và nơi làm vlệc của Người tại khu Chủ tịch phủ này (và cũng chỉ mới xem các hiện vật ở đây) đã cảm nhận được phẩm chất cao cả của Người. Vị đại diện cơ quan Liên hợp quốc tại Việt Nam đã ghi cảm tưởng: ”Không một ai đến thăm nơi ở khiêm nhường này mà không trào dâng những niềm xúc cảm trước sự vĩ đại của một Con Người đã trở thành huyền thoại trong cuộc sống đời thường của mình”.

Theo lý thuyết biểu trưng về sự sáng tạo văn hóa của con người thì có thể nói rằng mỗi sự vật, mỗi di vật ở Phủ Chủ tịch đều mang một linh hồn ghi dấu phẩm chất cao đẹp của nhân cách Hồ Chí Minh – một nhân cách văn hóa tích hợp giữa cái chân – cái thiện – cái mỹ. Đó là sự kết hợp giữa một nhà chính trị nhân văn và một nhà văn hóa. Người vừa là người sáng tạo văn hóa vừa là biểu tượng của văn hóa Việt Nam. Nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh và các di vật của Người trở thành di sản văn hóa của dân tộc.

Lê Quý Đức
(Theo tạp chí Văn hoá Nghệ thuật)

cpv.org.vn

Ngôi nhà sàn huyền thoại

Phủ Chủ tịch ở Hà Nội vốn xưa là dinh thự của Toàn quyền Đông Dương, được xây dựng từ năm 1900. Sau ngày 19-12-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn nơi đây làm Thủ phủ của Nhà nước và Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa.

Trong khuôn viên rộng lớn, mặc dù có nhiều công trình kiến trúc sang trọng, đầy đủ tiện nghi song Bác Hồ không ở. Người chọn cho mình một ngôi nhà nhỏ nguyên là nơi ở của những người thợ điện Việt Nam phục vụ cho Toàn quyền Đông Dương, làm nơi ở và làm việc của mình.

Mãi gần bốn năm sau Bác Hồ chuyển đến ở trong một ngôi nhà sàn làm bằng gỗ, nhỏ bé, giản dị và đơn sơ được dựng lên ở một góc nhỏ của khuôn viên Phủ Chủ tịch. Đây là nơi ở và làm việc chính thức của Bác cho tới khi Người đi xa. Ngôi nhà sàn được xây dựng trong khuôn viên Phủ Chủ tịch, ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội, trước hết đó là ý muốn của Bác Hồ. Người không chấp thuận đề nghị của Trung ương và Chính phủ mời Bác ra ở trong dinh thự sang trọng, đầy đủ tiện nghi mà các đời toàn quyền Đông Dương đã ở trước đây. Bác Hồ coi đó là thành quả cách mạng của nhân dân nên để làm nơi gặp gỡ đồng bào trong nước, nơi tiếp khách quốc tế và các nghi lễ ngoại giao. Bác muốn Trung ương cho Bác làm một cái nhà sàn nho nhỏ, theo kiểu của bà con dân tộc thiểu số trên Việt Bắc, để ở và làm việc. Người đề nghị nhà làm bằng loại gỗ bình thường và nhỏ thôi, dựng gần bờ ao cho thoáng mát.

Mười lăm năm cuối cuộc đời sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, trong đó 11 năm trực tiếp ở nhà sàn là một khoảng thời gian khá dài trong sự nghiệp cách mạng của vị lãnh tụ kính yêu và là giai đoạn có ý nghĩa vô cùng lớn lao, quyết định đối với sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Chính vì vậy, nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch đã trở thành một địa danh lớn phản chiếu về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một tấm gương hết lòng phục vụ lợi ích của nhân dân, đấu tranh không mệt mỏi cho danh dự, tự do và độc lập của Tổ quốc mình” – Người là Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới.

Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (2-9-1969), khu vực Phủ Chủ tịch đã sớm được hình thành là một di tích lịch sử-văn hóa-danh nhân. Ngày 25-11-1970, Bộ Chính trị Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 206-NQ/TƯ. Điều 2, Nghị quyết có ghi rõ: “Bảo quản tốt khu lưu niệm các di tích và hiện vật lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch”.

Trên suốt chặng đường 35 năm tồn tại, như minh chứng cho chân giá trị lịch sử của một vĩ nhân-một dân tộc, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch mà điểm nổi bật, đặc trưng là ngôi nhà sàn Bác Hồ ở và làm việc, với đầy đủ ý nghĩa quan trọng và lớn lao không những đã trở thành một địa danh trên bản đồ hành hương mà còn đọng lại ấn tượng sâu đậm trong triệu triệu trái tim con người.

35 năm qua, kể từ ngày Bác Hồ đi xa, Nhà sàn đã được bảo quản chu đáo, nguyên trạng. Gần 40 triệu lượt người đã đến tham quan, nghiên cứu, học tập. Trong đó có khách của hơn 150 nước trên thế giới, gồm các vị nguyên thủ quốc gia, các chính khách và đủ các đối tượng khác nhau, khi đến Việt Nam vào thăm nơi Bác Hồ ở và làm việc.

Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch đã trở thành di sản văn hóa vô giá của dân tộc và có ý nghĩa quốc tế. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: Cuộc đời của Bác Hồ có vô vàn cái giản dị, nhưng Nhà sàn-nơi Bác ở và làm việc là điều giản dị nhất, nó trở nên kỳ diệu hơn, hấp dẫn hơn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng nói: “Cái nhà sàn đơn sơ của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại thì cái nhà nho nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao”.

Trước ngôi nhà sàn tĩnh lặng, một nhà báo phương Tây đã thốt lên đầy xúc động: Con người ta khi đạt đến đỉnh cao của vinh quang thường hay bị vinh hoa quyến rũ. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không thế. Người đã vượt lên trên tất cả, Người đã chiến thắng chính bản thân mình để trở thành con người hoàn thiện. Ngôi nhà này là hiện thân của tinh thần đó. Một đại diện của Liên hợp quốc đã nói đầy thán phục: “Chủ tịch Hồ Chí Minh thật thông minh khi chọn ngôi nhà này để ở. Ngôi nhà này đã nói lên tất cả con người ông: nhân cách, tầm vóc trí tuệ, phong cách sống và đạo đức cách mạng”.

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại. Ngôi nhà sàn-nơi Người ở và làm việc tại Phủ Chủ tịch cũng đi vào huyền thoại. Nó tồn tại mãi mãi trong trái tim nhân dân Việt Nam và bạn bè thế giới. Hàng triệu lời khen, hàng vạn dòng cảm tưởng tốt đẹp khi đến thăm nơi ở và làm việc của Bác tại Phủ Chủ tịch càng minh chứng chiều sâu giá trị của di sản văn hóa Hồ Chí Minh. Với những ý nghĩa lớn lao đó, Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch là di tích lịch sử-văn hóa đặc biệt quan trọng của đất nước, là nơi hội tụ cả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Vinh dự cho dân tộc ta, nhân dân ta, đất nước ta có Hồ Chí Minh. Tự hào cho di sản văn hóa Việt Nam có Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Vinh dự và tự hào đó của nhân dân ta nói chung, có niềm vinh dự và tự hào của những con người, chiến sĩ đã góp trí tuệ, công sức xây dựng nên Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Đồng thời nó cũng thuộc về những cán bộ công chức và người lao động trong suốt 35 năm qua đã tận tụy bảo quản, giữ gìn và phát huy tác dụng di sản văn hóa vô giá đó.

Trước xu thế phát triển mới của nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn diện với thế giới thì di sản văn hóa-Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch càng hội tụ đầy đủ những điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa để tuyên truyền hơn nữa những tinh thần văn hóa-tư tưởng Hồ Chí Minh tới mọi người dân Việt Nam cũng như trên trường quốc tế. Tuy nhiên, ngoài ý thức và tình cảm với di sản của Bác Hồ để lại, cần phải có những phương tiện kỹ thuật, những tiến bộ khoa học để giữ gìn lâu dài một di tích gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hy vọng rằng, với niềm tự hào là những người trực tiếp xây dựng Tổng cục Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch, ngành xây dựng Tổng cục Hậu cần Quân đội luôn luôn quan tâm và sẵn sàng góp phần vào nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa có ý nghĩa lớn lao này.

BTS
Theo Bùi Kim Hồng, Báo QĐND

cpv.org.vn

Tư duy quân sự Hồ Chí Minh – tiếp cận từ góc độ vǎn hoá

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

“Quân sự” dùng ở đây hiểu theo nghĩa rộng, như “quân sự” trong “đường lối quân sự” của Đảng. Tư duy quân sự Hồ Chí Minh là sự tiếp tục của tư duy chính trị Hồ Chí Minh bằng chiến tranh và trong chiến tranh cách mạng, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu của cách mạng vì độc lập dân tộc (ĐLDT) và chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Bài này chỉ tiếp cận đôi điều từ góc độ văn hóa, xuất phát từ nguồn gốc văn hóa và ảnh hưởng văn hóa đối với tư duy chính trị Hồ Chí Minh là: tinh hoa văn hóa Việt Nam, chủ nghĩa Mác – Lê-nin (là cơ sở lý luận và phương pháp luận, cũng là tinh hoa văn hóa phương Tây hiện đại đã trở thành tinh hoa văn hóa nhân loại), cùng ảnh hưởng của những tinh hoa văn hóa khác Đông – Tây kim cổ.

* * *

Văn hóa bản chất là nhân văn. Nói văn hóa với tư duy quân sự dường như nghịch lý. Nhưng đó lại là thuận lý, mười lần thuận lý đối với tư duy quân sự Hồ Chí Minh. Bởi, với Hồ Chí Minh, “dùng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu nước, cứu dân”. Bởi chiến tranh chính nghĩa, yêu nước và cách mạng là “văn minh thắng bạo tàn”. Chiến tranh xâm lược, phi nghĩa không có gì liên quan đến văn hóa, đến văn minh, trái lại, là chống lại văn hóa, phản lại văn minh một cách tàn bạo nhất – dù dưới bất cứ chiêu bài gì, cả chiêu bài “can thiệp nhân đạo”, như ở Cô-xô-vô mà thực chất là xâm lược.

Tư duy quân sự Hồ Chí Minh, đó trước hết vẫn là việc giải quyết những vấn đề chính trị của chiến tranh và trong chiến tranh nhằm đáp ứng những yêu cầu của chiến tranh, của đấu tranh vũ trang – quy luật chung của chiến tranh – nhằm giành thắng lợi cho chiến tranh cách mạng và tiếp tục đưa cách mạng phát triển trong chiến tranh. Nó phản ánh những vấn đề có tính quy luật của chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng ở Việt Nam trong thời đại mới.

Cụ thể là: xác định mục đích chính trị của chiến tranh cách mạng là nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng: ĐLDT (dân chủ nhân dân), tiến lên CNXH, vì nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Xây dựng lực lượng của chiến tranh cách mạng trên cơ sở khối đại đoàn kết của toàn dân tộc, lấy liên minh công nông làm nền tảng, phát động và tổ chức toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, mở rộng đoàn kết quốc tế.

Giải quyết những vấn đề về phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự trên cơ sở vận dụng trong chiến tranh và theo yêu cầu của quy luật quân sự, những phương pháp và hình thức đấu tranh cách mạng, phát động và tổ chức toàn dân đánh địch một cách toàn diện: quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa. Do vậy, tiếp cận tư duy quân sự Hồ Chí Minh, không thể tách rời nguồn gốc văn hóa và ảnh hưởng văn hóa đối với tư duy chính trị Hồ Chí Minh (như nêu ở trên).

Trực tiếp liên quan đến tư duy quân sự xét theo góc độ văn hóa, đó là văn hóa quân sự. Trong vàn hóa Việt Nam, có một bộ phận tiêu biểu là văn hóa quân sự Việt Nam (VHQSVN) – linh hồn của truờng phái quân sự Việt Nam. Bởi nói dân tộc là phải nói bản sắc văn hóa. Nói trường phái quân sự dân tộc không thể không thấy dòng máu văn hoá dân tộc chảy trong đó. Đây là dòng văn hoá quân sự (VHQS) chủ yếu trong tư duy quân sự (cũng là tư duy chính trị) Hồ Chí Minh.

Cũng cần nói thêm, văn hóa bản chất là nhân văn nhưng mang bản sắc riêng của các dân tộc khác nhau và dấu ấn riêng của những giai cấp khác nhau trong lịch sử phát triển lâu dài của dân tộc (quốc gia – dân tộc). VHQSVN được xây dựng và phát triển trong lịch sử lâu dài giữ nước gắn với dựng nước của dân tộc Việt Nam: trong các cuộc khởi nghĩa dân tộc và chiến tranh dân tộc, chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nhằm lật đổ ách thống trị ngoại bang và đánh bại chiến tranh xâm lược. VHQSVN phát triển cả trong sự nghiệp củng cố quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế và văn hóa qua những thế kỷ sống trong hòa bình. VHQSVN thấm nhuần tinh hoa văn hoá Việt Nam, thể hiện trong chiến tranh lòng yêu nước, thương nòi, tinh thần cộng đồng và ý thức dân chủ, đặc biệt ở làng xã.

Nhờ vậy mới có quyết tâm chiến đấu kiên cường để bảo vệ cộng đồng, bảo vệ quê hương, đất nước; mới có “cả nước đánh giặc”, “toàn dân là binh”, đánh địch toàn diện, đánh địch khắp nơi, làm chủ làng xã, có thể tạm thời mất nước nhưng không để mất làng, không để mất bản sắc văn hoá dân tộc, từ làng, nhà lấy lại nước, giữ gìn và phát triển văn hoá dân tộc (đương nhiên dưới sự lãnh đạo của tập đoàn phong kiến tiến bộ, giữ vai trò lịch sử tích cực trong dân tộc). Có văn hoá yêu nước nồng nàn, tinh thần cố kết dân tộc, mới có chiến tranh toàn dân quyết đánh và quyết thắng, cách đánh mưu mẹo, thông minh, sáng tạo, “lấy đoản chế trường”, “lấy yếu đánh mạnh”.

Có bình đẳng nam nữ (thuận vợ, thuận chồng, tát Biển Đông cũng cạn – chứ không phải “phu xướng, phụ tùy”), mới có “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Đó là chiến tranh và chiến thắng của văn hóa “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của dân tộc nhỏ đánh thắng kẻ thù xâm lược to bắt nguồn từ sức mạnh của văn hóa. Dân tộc Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, thiết tha với hòa bình trong độc lập tự do, hiểu rõ cái giá của độc lập tự do.

Do vậy, cố gắng tránh chiến tranh mà vẫn giữ được độc lập, tự do; buộc phải làm chiến tranh thì quyết thắng trong mọi hoàn cảnh để giữ được độc lập tự do; đánh địch bằng mọi cách, đánh cả vào lòng địch (tâm công) chứ không riêng bằng quân sự; cầu đánh bại quân địch chứ không cầu tiêu diệt nhiều quân địch; thắng rồi nhưng vẫn “mở đường hiếu sinh” tha chết cho tàn quân chiến bại, lấy đường hòa hiếu với kẻ xâm lược bị đánh bại để “dập tắt muôn đời chiến tranh”.

Tư duy quân sự Hồ Chí Minh đậm cái chất của văn hóa Việt Nam, VHQSVN truyền thống phát triển lên một chất mới, trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lê-nin, để đánh thắng kẻ thù xâm lược trong thời đại mới là bọn đế quốc có tiềm lực quân sự hiện đại của nền công nghiệp hiện đại cùng quân đội của chúng được trang bị nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. (Khác kẻ thù trước đây mà ông cha ta đánh thắng cùng trình độ phát triển, cùng hình thái kinh tế – xã hội với nước ta thời đó).

Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, tìm ra đáp số của bài toán mới đó, trước hết bằng lời giải về chính trị – đường lối cách mạng thấm nhuần văn hóa, lời giải về quân sự thấm nhuần văn hóa: lời giải về văn hóa. Chính giới Mỹ, nhiều nhà chiến lược của Mỹ thừa nhận: thắng lợi của Việt Nam với Mỹ là thắng lợi của văn hóa Việt Nam.

Nên nói thêm: Văn hoá Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Tư duy quân sự Hồ Chí Minh đương nhiên còn tiếp nhận những dòng văn hoá khác, những tri thức quân sự cổ kim đông tây. Bác Hồ của chúng ta từng lược dịch Binh pháp Tôn Tử, viết Kinh nghiệm du kích Tàu, Kinh nghiệm du kích Pháp, Kinh nghiệm du kích Nga, Phép dạy làm tướng của Khổng Minh… Những di sản quân sự Mác và Ăng-ghen – nhất là của Ăng-ghen được Bác nghiên cứu khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Trong quá trình cuộc kháng chiến lâu dài chống hai đế quốc to, tư duy quân sự của Bác đã từng bước được làm phong phú thêm bởi khoa học quân sự xô-viết, kinh nghiệm đấu tranh vũ trang của cách mạng Trung Quốc, những kiến thức về vũ khí kỹ thuật hiện đại. Bác không chỉ coi trọng xây dựng dân quân du kích và cách đánh du kích mà coi trọng cả xây dựng bộ đội chủ lực, xây dựng các quân binh chủng kỹ thuật hiện đại, cách đánh của quân đội chính quy.

Văn hóa trong tư duy quân sự Hồ Chí thể hiện rõ ở chủ nghĩa nhân văn mới, có thể gọi là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, sản phẩm tổng hợp của chủ nghĩa yêu nước và lòng nhân ái truyền thống Việt Nam với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Cố tránh chiến tranh nếu có thể được. Buộc phải làm chiến tranh thì đó là vì nhân nghĩa, vì mục đích chính nghĩa, nhân văn của chiến tranh. Quán triệt tư tưởng nhân văn trong xây dựng lực lượng, trong các cách đánh; tìm mọi cách giảm tổn thất cho ta và cả cho địch. Bác từng nói: “Tôi quý sinh mạng thanh niên Pháp như quý sinh mạng thanh niên Việt Nam”. “Máu thanh niên Pháp hay máu thanh niên Việt Nam cũng đều là máu”.

Như đã biết, sau thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945, trước âm mưu xâm lược của nhiều kẻ thù cùng lúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách rất kiên quyết và khéo léo, đối nội và đối ngoại, kể cả những biện pháp đau đớn, để bảo vệ thành quả cách mạng, củng cố nền độc lập mới giành được mà không phải làm chiến tranh. Nhưng thực dân phản động Pháp cố tình cướp nước ta hòng đạt lại ách thống trị của chúng. “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ?”.

Chiến tranh yêu nước như vậy, rõ ràng là nhân văn, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống của mỗi người dân. Trong mấy thập kỷ chiến tranh, Hồ Chí Minh và Đảng ta nhiều lần tiến hành các cuộc thương lượng hòa bình, ký kết những hiệp ước hòa bình: Hiệp định sơ bộ 6/3, Tạm ước 14/9, Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, Hiệp định Pa-ri. Nhưng các thế lực xâm lược vẫn cố tình áp đặt chiến tranh, buộc nhân dân ta cuối cùng vẫn phải giành lấy hòa bình bằng chiến tranh – hòa bình trong Độc lập Tự do. Hồ Chí Minh, những người cộng sản không sùng bái bạo lực, không sùng bái cả bạo lực cách mạng, bạo lực cách mạng chỉ cần thiết để đánh bại bạo lực phản cách mạng. Cuộc chiến tranh yêu nước 30 năm 1945 – 1975 hoàn toàn do kẻ thù áp đặt chúng ta phải tiến hành.

Chủ nghĩa nhân văn trong tư duy quân sự Hồ Chí Minh thể hiện trong nhiều chủ trương chiến lược và sách lược của Đảng ta trong quá trình chiến tranh, trong các cách đánh của lực lượng vũ trang nhân dân, trong nhiều chính sách đối với nhân dân, quân đội, cả đối với những người lầm đường, tù hàng binh, đối với kẻ thù, mà mọi người đều biết. Nổi lên vẫn là sự quan tâm của Hồ Chí Minh đối với con người, đối với nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân chiến đấu và phục vụ chiến đấu kết hợp chiến đấu với xây dựng. Tích cực bồi dưỡng sức dân đi đôi với động viên sức dân, chăm lo mọi mặt đời sống của các tầng lớp nhân dân, của công nông, của bộ đội. Đẩy mạnh việc xây dựng chế độ mới ngay trong hoàn cảnh chiến tranh để càng đánh càng mạnh, để nhân dân lao động, để mọi người dân được hưởng từng bước thành quả của cách mạng ngay trong chiến tranh.

Những đòn tiến công ngoại giao trong chiến tranh, chính sách đối ngoại có nguyên tắc và đầy tình nghĩa của Đảng và Nhà nước ta thể hiện nổi bật trong hoạt động của cá nhân Hồ Chí Minh. ở Người, trong quan hệ đối ngoại, là sự am hiểu sâu sắc văn hóa và văn minh Đông Tây, lòng yêu nước, vị tha gắn liền với lòng căm thù địch, tính nguyên tắc cứng rắn gắn liền với sách lược mềm dẻo, có lý có tình, khiến bạn bè khâm phục, kẻ thù kiêng nể. Cuộc hòa đàm ở Pari (1968-1973) đã gây ấn tượng mạnh trong chính giới và báo giới thế giới về một “trường phái ngoại giao Việt Nam”.

Đó là di sản quý báu của văn hóa Hồ Chí Minh, của tư duy chính trị – quân sự – ngoại giao Hồ Chí Minh mà những học trò của Người kế tục xuất sắc khi Người đã đi xa. Tiếp cận từ góc độ văn hóa tư duy quân sự Hồ Chí Minh, giúp chúng ta hiểu rõ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư duy chính trị – quân sự Hồ Chí Minh nói riêng để xử lý theo góc độ văn hóa những vấn đề quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 của Đảng về văn hóa mà chúng ta đã biết.

Quang Cận (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 5/2000)

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu nữ trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, tháng 9-1960

Phụ nữ chiếm một nửa dân số trên thế giới. Lịch sử đã chứng minh phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trước kia, phụ nữ ở nhiều quốc gia chủ yếu làm công việc nội trợ. Ngày nay, phụ nữ đã vươn lên về mọi mặt, đóng góp to lớn trên mọi lĩnh vực khoa học và xã hội. Từ năm 1910, thế giới tiến bộ lấy ngày 8-3 là “Ngày Đàn bà và con gái”, sau đổi là “Ngày Phụ nữ Quốc tế”.

Ở nước ta hiện nay, đội ngũ cán bộ nữ được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước. Phong trào phụ nữ đã có bước phát triển, các tầng lớp phụ nữ tỏ rõ có năng lực, phẩm chất, nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo trong học tập, lao động sản xuất và công tác, đạt những thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đội ngũ cán bộ nữ đã có bước trưởng thành rõ rệt. Số lượng và chất lượng cán bộ nữ phát triển không ngừng. Trong các cấp uỷ đảng và ở các vị trí lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở đều có cán bộ nữ tham gia.

Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều cấp uỷ đảng chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ quan điểm của Đảng về công tác cán bộ nữ, chưa thực sự coi cán bộ nữ là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ, chưa thấy hết tiềm năng, vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ nữ nên việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, chính sách đối với cán bộ nữ chưa đầy đủ, còn có biểu hiện định kiến, khắt khe, cầu toàn, chưa quan tâm đến yếu tố giới nên đội ngũ cán bộ nữ phát triển chưa vững chắc, mất cân đối, thiếu đồng bộ, phân bố không đồng đều ở các địa phương, các lĩnh vực. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp uỷ, chính quyền còn thấp, nhất là ở cơ sở.

Nghiêm trọng hơn, hiện nay, tình trạng buôn bán phụ nữ qua biên giới, nạn bạo hành trong gia đình mà nạn nhân là phụ nữ đang gây nhức nhối trong xã hội. Đó là biểu hiện của sự bất bình đẳng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới vị trí, vai trò của người phụ nữ, đặc biệt là trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), coi chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ nữ là một nhiệm vụ quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến một nửa số dân, đến từng gia đình trong cộng đồng xã hội.

Chính vì thế, những tư tưởng của Người về công tác phụ nữ trong xây dựng CNXH cần được quán triệt một cách sâu sắc và toàn diện, nhằm giúp cho mọi người có nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của phụ nữ. Qua đó, các cấp uỷ đảng đề ra nhiều biện pháp cụ thể hơn, tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy hết tiềm năng của mình. Đồng thời, đối với phụ nữ Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước, đây là một dịp tốt nhằm ôn lại và thực hiện những di huấn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cùng nhân dân cả nước hoàn thành các nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra.

Mấy nét chính trong tư tưởng của Người về công tác phụ nữ

Thấm nhuần truyền thống văn hoá dân tộc đồng thời tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh rất hiểu và đặc biệt quan tâm đến vai trò, vị thế của người phụ nữ trong phong trào cách mạng. Người không chỉ nêu lên tình cảnh khổ nhục của người phụ nữ dưới chế độ thực dân phong kiến mà còn chỉ ra khả năng cách mạng của họ.

Trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập), trong tổng số 1.941 bài nói và viết, đã có nhiều bài Người nhắc đến phụ nữ. Trong bài Phụ nữ Phương Đông, Người viết: “Phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ tham gia bảo vệ đất nước chống sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Phụ nữ Ấn Độ vùng lên chống sự đô hộ của Anh. Phụ nữ Trung Quốc tham gia cuộc cách mạng năm 1912. Phụ nữ Triều Tiên đã và đang đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc. Phụ nữ Nhật Bản đã buộc Chính phủ phải huỷ bỏ đạo luật cấm phụ nữ tham gia đời sống chính trị và v.v.

Trong đời sống kinh tế những “bông hồng” của phương Đông bắt đầu tỏ cho chủ nghĩa tư bản thấy ở họ có những chiếc gai nhọn. Những cuộc bãi công của nữ công nhân ở các nhà máy và xưởng dệt lụa không còn là hiện tượng hiếm nữa”.

Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người đã chỉ ra rằng cách mệnh Pháp dạy cho chúng ta, đàn bà và trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều.

Trong tác phẩm này, Người cũng dành một phần nói về “Phụ nữ quốc tế”. Trong đó, Người nói: “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà, con gái tham gia. Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sáclốt Coócđây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, như bà Luy Misen ra giúp tổ chức Pari Công xã. Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1854 người. Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà, con gái hết sức giùm vào. Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà, con gái công nông các nước”. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN,1995, t.2, tr.288).

Người nêu gương chiến đấu của bà Trưng Trắc và kêu gọi: như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết cách mệnh. Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!

Người nói với đại biểu phụ nữ các nước rằng: lúc kháng chiến, chị em phụ nữ hăng hái tham gia. Từ ngày dân Việt Nam tranh được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến sĩ, tăng gia sản xuất. Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ vàng, Đời sống mới, v.v, việc gì phụ nữ cũng hăng hái.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng phong phú của mình, Người luôn quan tâm tới các phong trào của phụ nữ. Dù bận trăm công ngàn việc khác nhau, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc vẫn dành thì giờ tham dự nói chuyện tại các hội nghị và đại hội của tổ chức phụ nữ, ít nhất Người cũng gửi thư căn dặn với tấm lòng của một người Cha, người Bác thân yêu trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Nhiều chị em là cán bộ lãnh đạo, là anh hùng, chiến sĩ thi đua trong lao động và chiến đấu, là dũng sĩ từ tiền tuyến lớn miền Nam… đã được Người ân cần đón tiếp, tặng hoa và quà, được ăn cơm hoặc xem văn nghệ cùng Người.

Hồ Chí Minh luôn khẳng định: lực lượng phụ nữ là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng, một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm mọi thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Người tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Người nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Đó cũng là lời khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ là rất to lớn trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

Cần có kế hoạch thiết thực trong việc giúp đỡ phụ nữ

Trong nhiều bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức phải tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia hoạt động.

Trong Thư gửi Hội nghị Nông dân cứu quốc toàn quốc lần thứ hai, Người kêu gọi Hội Nông dân cứu quốc phải thiết thực, tổ chức rộng rãi và chặt chẽ nhất là kết nạp thanh niên và phụ nữ nông thôn vào hội làm cho hội đông thêm, mạnh thêm và hăng hái thêm.

Khi nói chuyện tại Đại hội Giáo dục phổ thông toàn quốc, Người chỉ ra rằng sau này công tác giáo dục phần nhiều phải do phụ nữ đảm nhiệm. Muốn phụ nữ đảm nhiệm, thì phải bồi dưỡng cho phụ nữ.

Nói chuyện tại Đại hội Chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất, Người nhắc nhở: “đoàn thể phụ nữ, cơ quan phụ trách cần chú ý dìu dắt, giúp đỡ hơn nữa để nhiều chị em có thể thay cho nam giới trong công việc buôn bán”.

Nói chuyện tại Hội nghị Các đại biểu phụ nữ tham gia công tác chính quyền toàn miền Bắc, Người căn dặn: từ nay, các cấp đảng, chính quyền địa phương, khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ nhiều hơn nữa.

Người quan tâm đến những phụ nữ có con nhỏ và để tạo điều kiện cho họ lao động sản xuất, Người đã chỉ ra: muốn cho người mẹ sản xuất tốt thì cần tổ chức tốt những nơi gửi trẻ và những lớp mẫu giáo.

Người rất quan tâm đến phụ nữ các dân tộc thiểu số, Người nhắc nhở đảng uỷ các cấp ở miền núi cần phải ra sức phát triển đảng viên và đoàn viên phụ nữ, cần phải đào tạo và giúp đỡ cán bộ phụ nữ các dân tộc.

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo.

Như vậy, trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm, nhắc nhở Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức chính trị – xã hội phải tạo điều kiện để phụ nữ tham gia đóng góp sức nhằm xây dựng CNXH thành công ở nước ta.

Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm nhưng cũng có yêu cầu cao đối với phụ nữ. Người luôn khuyên bảo chị em phải tự cố gắng vươn lên để khẳng định mình chứ không phải chờ Đảng, Chính phủ đề ra các chủ trương, chính sách.

Người kêu gọi:

Chị em phụ nữ nông thôn THI ĐUA góp sức hoàn thành tốt cải cách ruộng đất và lập những tổ đổi công tốt.

Chị em công nhân và công chức THI ĐUA làm tròn nhiệm vụ của mình.

Chị em trí thức THI ĐUA góp phần vào việc phát triển văn hoá.

Nữ thanh niên tuỳ theo cương vị của mình, THI ĐUA học và hành, xung phong trong mọi công việc.

Người chỉ rõ cấp trên có cất nhắc cán bộ phụ nữ nhưng chưa mạnh dạn, tức là còn phần nào chưa coi trọng trí tuệ, tài năng của phụ nữ. Vậy phụ nữ phải làm sao cho người ta thấy phụ nữ giỏi, lúc đó cán bộ không cất nhắc, anh chị em công nhân sẽ cử mình lên.

Nói chuyện tại Hội nghị Cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình, Người nói: Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Quốc tế Phụ nữ, Người khen ngợi phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù. Trong kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc cứu nước. Nhưng phụ nữ ta cần phải cố gắng nhiều để theo kịp chị em các nước bạn, góp phần nhiều hơn nữa trong việc xây dựng CNXH.

Tại Hội nghị Phụ nữ lao động tiên tiến và chiến sĩ thi đua toàn thành phố Hà Nội lần thứ hai, Người chỉ rõ: “Hiện nay, trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít. Đảng và Chính phủ rất hoan nghênh, sẵn sàng cất nhắc và giao cho phụ nữ những chức trách quan trọng. Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải:

Gắng học tập chính trị, học tập văn hoá, kỹ thuật.

Nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ xã hội chủ nghĩa.

Hăng hái thi đua thực hiện “cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình.

Đoàn kết chặt chẽ, ra sức tham gia sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và giữ gìn hoà bình thế giới” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.89).

Nói chuyện tại Hội nghị Các đại biểu phụ nữ tham gia công tác chính quyền toàn miền Bắc, Người phê bình: “Phụ nữ ta còn một số nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình; mặt khác, phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái. Muốn giải quyết khó khăn không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn của phụ nữ trong công tác chính quyền”.

Người căn dặn: tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng CNXH. Muốn làm trọn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xoá bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hoá, kỹ thuật.

Trong Hội nghị Cán bộ phụ nữ miền núi, Người căn dặn chị em phải cố gắng học tập. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được.

Người luôn khuyến khích chị em tự mình cố gắng vươn lên khẳng định mình. Điều đó thể hiện sự quan tâm, thương yêu và đầy tinh thần trách nhiệm của một vị lãnh tụ luôn theo sát, cổ vũ các phong trào của phụ nữ.

Đấu tranh cho quyền bình đẳng nam nữ

Theo Hồ Chí Minh, công tác phụ nữ trong xây dựng CNXH, một trong những nội dung quan trọng là phải đấu tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ.

Người chỉ rõ: “Đảng và Chính phủ ta luôn luôn chú ý nâng cao địa vị của phụ nữ. Hiến pháp định rõ “nam nữ bình đẳng” và luật lấy vợ lấy chồng, v.v. đều nhằm mục đích ấy”.

Trong bài Phải thật sự tôn trọng quyền lợi của phụ nữ, Người viết: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng CNXH thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ. Hiến pháp và pháp luật của nước ta đã quy định rõ điều đó”.

Người nhắc nhở là phải kính trọng phụ nữ. “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lênin dạy chúng ta: phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ”.

Những lời dạy đó của Người thể hiện sự quan tâm sâu sắc, đồng thời cũng tỏ rõ rằng Người luôn đấu tranh để cho phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới.

Gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với sự nghiệp xây dựng CNXH.

Trong Hội nghị Cán bộ thảo luận dự thảo Luật hôn nhân và gia đình, Bác nói: “Bây giờ toàn dân ta ai cũng muốn xây dựng CNXH. Muốn xây dựng CNXH phải làm gì? Nhất định phải tăng gia sản xuất cho thật nhiều. Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động. Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ.

Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.

Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng CNXH chỉ một nửa”. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.523).

Trong xây dựng CNXH, phụ nữ phải được giải phóng khỏi những tàn dư của hủ tục, định kiến hẹp hòi của tư tưởng phong kiến; vươn lên đóng góp sức mình xây dựng CNXH.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ. Người luôn đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ, yêu cầu Đảng, Chính phủ và các tổ chức đoàn thể tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia hoạt động, nghiêm khắc nhắc nhở chị em phải cố gắng tự vươn lên trong học tập và công tác. Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực nhằm phát huy khả năng của phụ nữ trong công cuộc xây dựng đất nước.

Phụ nữ Việt Nam ta đã luôn làm theo lời dạy của Người, cố gắng học tập, công tác và đang dần khẳng định vị thế của mình trong xã hội. Trong 4 kỳ đại hội toàn quốc của Đảng gần đây đều có cán bộ nữ tham gia Bộ Chính trị hoặc Ban Bí thư. Nhiệm kỳ khoá X, số Uỷ viên Trung ương là nữ có 16/181 người, chiếm tỷ lệ 8,83%. Trong các cấp chính quyền, phụ nữ cũng đã có mặt ở tất cả các vị trí lãnh đạo, cương vị phó chủ tịch nước, phụ nữ vẫn duy trì trong cả hai khoá. Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội tăng từ 18,5% ở khoá IX lên 26,2% ở khoá X và 27,3% ở khoá XI. Đặc biệt, phụ nữ giữ cương vị chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội tăng nhanh từ 22,2% ở khoá IX lên 33,3% ở khoá X và đến khoá XI có tỷ lệ khá cao 40%. Tỷ lệ đảng viên nữ tăng đều theo từng năm. Năm 1994 chỉ có 16,4% đảng viên nữ. Năm 1999 có 19,3%; nếu năm 2002 là 21,7% thì năm 2005 tỷ lệ này là 25%. Điều đó nói lên vai trò của phụ nữ ngày càng quan trọng.

Người phụ nữ hiện đại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá rất cần sự quan tâm của gia đình và xã hội. So với nam giới, phụ nữ đã bị chi phối nhiều thời gian và công sức vào công việc gia đình. Thực hiện bình đẳng giới đã tạo điều kiện khích lệ phụ nữ vươn lên trong mọi lĩnh vực. Phụ nữ ngày nay về cơ bản không còn bị ràng buộc bởi những định kiến, những quy ước lạc hậu, cổ hủ ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc. Tuy nhiên, ở nông thôn, phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi bởi đời sống còn khó khăn, nhận thức của gia đình cũng như thôn xóm còn hạn chế về quyền bình đẳng nam nữ. Vì vậy, phát huy tính tích cực của tổ chức hội phụ nữ ở nông thôn để chị em có điều kiện giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm là điều vô cùng cần thiết.

Tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia trên mọi lĩnh vực của xã hội, đó là trách nhiệm của toàn xã hội. Phụ nữ chiếm một nửa dân số, phụ nữ là người nuôi dạy trực tiếp các thế hệ tương lai của đất nước. Nếu như người phụ nữ được học hành, được nâng cao kiến thức về mọi mặt sẽ tác động tích cực tới chất lượng thế hệ tương lai. Phụ nữ có thể hoàn thành nhiệm vụ tốt hay không, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào người chồng trong mỗi gia đình. Chỉ khi nào có sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ của gia đình thì người phụ nữ mới có điều kiện hoàn thành mọi công việc với hiệu quả cao nhất.

Nguyễn Thị Bích Thúy
Khoa Xây dựng Đảng Học viện Chính trị – Hành chính khu vực IV

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc

Một trong những di sản quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho cách mạng Việt Nam là phong cách làm việc. Phong cách làm việc đó được coi là một nét đặc sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng nâng cao địa vị lãnh đạo của Đảng.

PHONG CÁCH QUẦN CHÚNG

Phong cách này bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Bác có lòng tin vô tận đối với quần chúng. Bác luôn luôn chăm lo tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, và coi đó nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Bác nói: “Nước lấy dân làm gốc”, “gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Bác thường xuyên căn dặn các tổ chức Đảng , cán bộ, đảng viên phải coi trọng mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng và phải thể hiện tinh thần phụ trách trước nhân dân. Bác nói: “Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc đều vì lợi ích của quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng, thì ta phải bỏ đi hoặc sửa lại…”.

Với lòng nhân ái bao la đối với quần chúng, Bác Hồ thâm nhập vào quần chúng bằng phong cách thật sự của người cán bộ quần chúng, với nụ cười hiền hậu, giọng nói ấm áp và vòng tay rộng mở.

Bác nói: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Một vấn đề quan trọng trong phong cách quần chúng của Bác Hồ là phải chống chủ nghĩa cá nhân. Bác đã kịch liệt phê phán chủ nghĩa cá nhân, cho đó là một thứ vi trùng phá hoại cơ thể người cán bộ, đảng viên làm cho họ không thể làm việc gì cho sự nghiệp cách mạng, dù người đó tài giỏi mấy.

PHONG CÁCH LÀM VIỆC KHOA HỌC

Bác Hồ dạy: “Gặp mỗi vấn đề phải suy tính kỹ lưỡng, chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều, chớ gặp sao làm vậy”.

Muốn quyết định đúng mọi vấn đề, trước hết phải “điều tra nghiên cứu rõ ràng”. Có nắm chắc tình hình thì đề ra chính sách mới đúng. Và mỗi khi làm xong một công việc, dù thành công hay thất bại, phải biết tổng kết rút kinh nghiệm để làm “khuôn phép” cho những công việc khác, coi đó là “chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”.

Để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ công tác, Bác dạy phải biết lựa chọn cán bộ và sử dụng cán bộ. Bác căn dặn phải chí công vô tư trong tuyển chọn, xem xét cán bộ, bố trí cán bộ. Bác phê phán gay gắt những bệnh ưa nịnh hót, ghét những người chính trực…Khi giao công tác cho cán bộ thì phải làm cho họ yên tâm công tác, vui thú công tác. Quá trình người cán bộ thực hiện nhiệm vụ thì phải tổ chức kiểm tra, kiểm soát thường xuyên từ trên xuống và từ dưới lên một cách có hệ thống. Có như vậy mới đánh giá được hoạt động của cán bộ, đảng viên và còn đánh giá được những chủ trương, chính sách đề ra có đúng hay không?

PHONG CÁCH LÀM VIỆC THIẾT THỰC,CỤ THỂ

Bác Hồ nghiêm khắc lên án bệnh “hữu danh vô thực”, bệnh hình thức, khi ra chỉ thị, nghị quyết thì không gắn với điều kiện thực tế, không gắn với quần chúng và cơ sở. Trong chỉ đạo thực hiện thì không có kế hoạch cụ thể, biện pháp cụ thể, không kiểm tra, kiểm soát, không tổng kết rút kinh nghiệm.

Bác chỉ rõ: Khi ra quyết định công tác hay khi định ra cách tổ chức thực hiện, không được ngồi trên bàn giấy, nghe người dân báo cáo rồi vẽ vời, do chủ quan tưởng tượng mà không đi sâu sát thực tế. Người kịch liệt phê phán những lối làm việc không thiết thực, làm cho có chuyện, làm được ít suýt ra nhiều, “để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại rỗng tuếch”.

PHONG CÁCH NÊU GƯƠNG

Bác Hồ nói: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông giàu tình cảm và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc mọi nơi, nói phải đi đôi với làm để quần chúng noi theo. Thực tế cho thấy, nếu một cán bộ, đảng viên “nói một đằng, làm một nẻo” thì trước con mắt của nhân dân, họ không còn là người chiến sĩ tiên phong nữa, họ tuyên truyền sẽ chẳng ai nghe nữa. Và thực chất, họ đã tự tước mất vai trò của người lãnh đạo.

Bác Hồ còn rất coi trọng việc xây dựng làng, xã, huyện, tỉnh kiểu mẫu, những “người tốt, việc tốt”. Từ những nhân tố mới làm gương mẫu nhân rộng ra, dấy lên phong trào thi đua học tập và làm theo, tạo nên khí thế cách mạng hào hùng trong sản xuất công tác. . . rộng khắp trong cả nước.

Bác Hồ, ngay từ những ngày đầu hoạt động cách mạng, rất quan tâm rèn luyện cho cán bộ, đảng viên không những về mặt phẩm chất, đạo đức mà còn rèn luyện về phong cách làm việc.

Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (năm 1927) và “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), Bác Hồ đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải là người có phẩm chất đạo đức cách mạng, vừa phải có năng lực mới đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, trong đó phong cách làm việc là một nhân tố quan trọng cấu thành phẩm chất và năng lực cán bộ. Và suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ nêu tấm gương sáng ngời về phong cách làm việc. Phong cách và đức độ của Người đã làm cho quần chúng nhân dân tự đáy lòng mình , đã đặt cho Người cái tên gọi hết sức thân thương người Bác, người Cha.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến tất cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng. Chính phẩm chất cao đẹp đó, Người đã xây dựng cho mình phong cách làm việc mà Đảng ta đã trân trọng gọi là phong cách Hồ Chí Minh.

Nguyễn Xuyến

cpv.org.vn

Nghĩ về bài học giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên của Bác

Cách sống giản dị của Bác là đức tính để mọi người học tập

(VOV) – Niềm mong mỏi của Bác ở mỗi cán bộ, đảng viên, lãnh đạo có thể trở thành hiện thực hay không đòi hỏi mỗi người cần thấm nhuần những bài giảng kinh điển của Bác

Nói đến vai trò của người cán bộ trong phong trào cách mạng quần chúng, Bác Hồ đã từng khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi thắng lợi”, cán bộ nào phong trào ấy”. Vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác luôn dành thời gian tâm sức cho công tác đào tạo bồi dưỡng, giáo dục cán bộ để họ thực sự là “công bộc”, là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Những lời dạy tâm huyết

Ngay từ năm 1925, khi từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc), chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đã mở nhiều lớp huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ cho Đảng sau này. Trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” (tập hợp những bài giảng của Bác), Bác đã đặt lên hàng đầu tư cách người cán bộ cách mạng: “…Tự mình phải cần kiệm, hoà mà không tư, cẩn thận mà không nhút nhát, nhẫn nại, hay nghiên cứu xem xét, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói đi đôi với làm, giữ chủ nghĩa cho vững, ít lòng về ham muốn vật chất…”.

Những lời dạy tâm huyết của Bác đã thực sự trở thành mục tiêu phấn đấu của nhiều thế hệ cách mạng tiền thân của Đảng. Nhờ vậy trong những thời điểm khó khăn nhất của cách mạng, nhiều cán bộ đảng viên bị bắt, bị tù đày, tra tấn, đến tận lúc hy sinh vẫn một lòng trung kiên nêu cao phẩm chất trong sạch, khí tiết bất khuất của người cộng sản, như Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Tô Hiệu, Hà Huy Tập…

Sau thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền về tay nhân dân, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Khi ấy, yêu cầu về phẩm chất năng lực của người cán bộ đảng viên đòi hỏi ngày càng cao và bức thiết hơn. Chính vì vậy, ngay sau khi cách mạng thành công, ngày 14/11/1945, trên Báo Cứu Quốc, Bác đã viết bài “Nhân tài và kiến quốc”, kêu gọi người có tài, có đức ra giúp nước. Tiếp đến trong lễ ra mắt Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) ngày 28/5/1946, đề cập đến công tác cán bộ, Bác khẳng định: “…Những công việc của nước, của dân không thể giao cho những kẻ bất tài, thất đức. Vì vậy, phải tập hợp được những người tài đức, những nhân tài để gánh vác việc chung…”. Tiếp đến ngày 20/11/1946, trên Báo Cứu Quốc, Bác viết bài “Tìm người tài đức”, kêu gọi các địa phương trong cả nước giới thiệu những người tài đức có thể làm được những việc ích nước, lợi dân: “…Trong 20 triệu đồng bào, chắc không thiếu người tài đức, e vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những người tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin nhận…”.

Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, Bác đã tập hợp quanh mình nhiều nhân tài của đất nước, không phân biệt thành phần xuất thân, nhưng đều hết lòng vì Tổ quốc, vì nhân dân, như Chí sỹ Huỳnh Thúc Kháng, Thượng thư triều Nguyễn Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Đổng lý văn phòng Phạm Khắc Hoè… và các nhân sỹ trí thức như Phan Anh, Phạm Quang Lễ, Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Tạ Quang Bữu…

Kẻ địch bên trong của cách mạng

Thực tế trong thời điểm gay go nhất của lịch sử, vận mệnh dân tộc đang “nghìn cân treo sợi tóc”, chính quyền non trẻ phải đương đầu với trùng điệp khó khăn, thù trong, giặc ngoài, đại bộ phận cán bộ thấm nhuần lời dạy của Bác vẫn chung sức chung lòng chiến đấu quên mình trên các mặt trận kháng chiến, kiến quốc. Nhưng cũng không ít cán bộ đảng viên bắt đầu sa sút phẩm chất đạo đức, chuyên quyền độc đoán, xa rời quần chúng nhân dân. Để chặn đứng biểu hiện này, tháng 10/1947, tại Chiến khu Việt Bắc, trong khi cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang ở giai đoạn quyết liệt, Bác Hồ đã viết cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, trong đó Người chỉ ra nhiều căn bệnh đang gặm nhấm dần tư cách đạo đức của không ít cán bộ đảng viên. Đó là: bệnh lợi dụng chức quyền: “…dùng của công làm việc tư, lợi dụng thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình, sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào…”; Bệnh giấu dốt: “…biếng học hỏi, biếng suy nghĩ, việc dễ tranh lấy cho mình, việc khó đẩy cho người khác, không chịu học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình, việc gì cũng muốn làm thầy người khác…”; Bệnh háo danh, “…chỉ chịu được sướng không chịu được khổ, chỉ ham làm chủ tịch này, uỷ viên nọ, chứ không ham làm các công tác thiết thực…”; Bệnh bè phái: “…ai không hợp với mình thì tốt cũng cho là xấu, hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, dìm người đó xuống…”; Bệnh quan liêu công thần: “…luôn tự cho mình là cách mạng già, cách mạng cũ, việc to không làm nổi, việc nhỏ không chịu làm…”.

Bác gọi những căn bệnh này là kẻ địch bên trong của cách mạng, và Người chỉ ra liều thuốc tốt nhất để khắc phục những căn bệnh này là mỗi cán bộ đảng viên phải giữ vững nguyên tắc phê và tự phê bình trong Đảng: “…Phê và tự phê bình cốt giúp nhau sửa chữa, tiến bộ, cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, cốt để đoàn kết, thống nhất nội bộ…”.

Đã hơn 60 năm trôi qua, nhưng những căn bệnh ấy đến nay vẫn còn hiện hữu trong đội ngũ cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở; vẫn còn nóng hổi tính thời sự trong việc đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ hiện nay. Đây chính là nỗi lo thường xuyên của Bác đối với cán bộ, đảng viên của một Đảng cầm quyền. Vì thế, trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng, Bác vẫn không ngừng trăn trở niềm mong mỏi: “…Mỗi cán bộ đảng viên phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…”.

Niềm mong mỏi ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có trở thành hiện thực hay không? Trước thực trạng những “căn bệnh” mà Người nêu lên từ hơn 60 năm trước đang có nguy cơ gia tăng trong bộ máy công quyền, những bài học kinh điển của Bác trong việc bồi dưỡng, đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ đảng viên trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay càng phải được quan tâm coi trọng, đặc biệt là trong cuộc vận động lớn học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có như vậy cán bộ đảng viên mới thực sự trở thành “công bộc”, “người đầy tớ” thực sự của nhân dân như Bác từng mong muốn./.

Ngô Minh Thuyên

cpv.org.vn

Những nguyên tắc trong rèn luyện đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không phải chỉ thông qua những tác phẩm của Người về đạo đức mà quan trọng hơn là phải thông qua chính hành vi được thể hiện trong toàn bộ hoạt động thực tiễn của Người; thông qua mẫu mực đạo đức trong sáng mà Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã trở thành một đặc trưng nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vì vậy, trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng, Người không chỉ nêu lên những nội dung của việc tu dưỡng để có đạo đức cách mạng mà Người còn chỉ rõ những nguyên tắc trong rèn luyện đạo đức cách mạng.

Muốn có đạo đức cách mạng: Trước hết nói phải đi đôi với làm và luôn nêu gương về đạo đức. Điều này đã được Người đề cập trong “Đường Kách mệnh” khi nói đến tư cách của một người cách mệnh. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Người đã giáo dục mọi người và ngay chính bản thân mình đã thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất. Đối với mỗi người đều nói nhiều mà làm ít, nói mà không làm, hơn nữa nói một đằng, làm một nẻo thì chỉ đem lại hậu quả phản tác dụng. “Hãy làm theo tôi nói, đừng làm theo tôi làm”, đó là thói đạo đức giả của các giai cấp bóc lột. Còn việc nêu gương thì không ở lĩnh vực nào mà vấn đề nêu gương lại được đặt ra như trong lĩnh vực đạo đức. Trong gia đình: Đó là tấm gương của bố mẹ đối với con cái, của anh chị đối với các em; trong nhà trường thì đó là tấm gương của thầy, cô giáo đối với học sinh; trong tổ chức, tập thể, Đảng, Nhà nước là tấm gương của những người đứng đầu, phụ trách, lãnh đạo, của cấp trên đối với cấp dưới; trong xã hội thì đó là tấm gương của người này đối với người khác; những gương “Người tốt việc tốt” mà Hồ Chí Minh đã dầy công phát hiện thu thập, chỉ đạo việc in thành sách để mọi người học tập và làm theo là một việc làm rất cụ thể. Một bài diễn văn hay không bằng một tấm gương sống – điều mà Hồ Chí Minh nói về Lê-nin đã đặt ra cho việc xây dựng đạo đức mới một nguyên tắc rất cơ bản là sự nêu gương về đạo đức. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương chung cho cả dân tộc và cho các thế hệ người Việt Nam mãi mãi về sau học tập.

Nguyên tắc thứ hai để rèn luyện đạo đức cách mạng là xây đi đôi với chống. Bởi vì trong cuộc sống hàng ngày, những hiện tượng tốt – xấu, đúng – sai, cái đạo đức và cái vô đạo đức vẫn còn đan xen nhau, đối chọi nhau, thông qua hành vi của mỗi một con người khác nhau. Thậm chí, những đan xen và đối chọi ấy còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi một con người. Do đó việc xây và chống trong lĩnh vực đạo đức hoàn toàn là điều không đơn giản. Xây phải đi đôi với chống, muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây. Trong khi xây dựng, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức mới phải đồng thời chống lại cái xấu, cái sai, cái vô đạo đức. ở đây điều quan trọng là phải phát hiện sớm, hướng cho mọi người vào cuộc đấu tranh cho sự trong sạch và lành mạnh về đạo đức. Để xây và chống có hiệu quả phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động rất nhiều phong trào như vậy. Đó là phong trào thi đua thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu (năm 1952); đó là phong trào: 3 xây, 3 chống” năm 1963)… Có phong trào, có cuộc vận động cho toàn Đảng, toàn dân; nhưng lại có phong trào, có cuộc vận động riêng cho từng ngành, từng giới. Thông qua đó mà lôi cuốn mọi người vào cuộc đấu tranh nhằm xây gì, chống gì rất cụ thể, rõ ràng để mọi người phấn đấu, tự bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng.

Nguyên tắc thứ ba là: Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. Bởi mỗi người phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức như việc rửa mặt hàng ngày, đó là công việc kiên trì, bền bỉ suốt đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nêu lại tấm gương của người xưa: Mỗi buổi tối đều tự kiểm điểm để bỏ đỗ đen, đỗ trắng vào hai cái lọ, để cứ nhìn vào đó có thể biết mình tốt xấu ra sao? Trong thực tiễn, có người trong lúc đấu tranh thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ gian khổ, hy sinh, nhưng đến khi có ít quyền hạn thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, biến thành người có tội với cách mạng. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới đưa ra một kết luận khái quát: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi một con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cho nên trong khi ta kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, làm cho văn minh chiến thắng bạo tàn thì đồng thời phải loại trừ những cái xấu xa do chế độ cũ để lại trong xã hội và trong mỗi con người”.

Đối với mỗi con người việc rèn luyện đạo đức cách mạng phải được thực hiện trong hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong đời công, sinh hoạt, học tập, lao động, chiến đấu; trong mọi mối quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng, từ nhỏ đến lớn, từ gia đình đến nhà trường, đoàn thể, xã hội; từ quan hệ bạn bè đến đồng chí, anh em, cấp trên, cấp dưới, với Đảng, với nước, với dân và cả trong quan hệ quốc tế. Có rèn luyện công phu theo các nguyên tắc trên đây thì con người mới có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp, những phẩm chất ấy sẽ ngày càng được bồi đắp và nâng cao.

Theo báo Bắc Ninh điện tử

cpv.org.vn

Bác tiết kiệm chính bởi tại lòng nhân

“Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính…”.

Năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, phần mở đầu nói về tư cách của người cách mạng, Bác Hồ viết: “Tự mình phải cần, kiệm”. Cần, kiệm theo Bác phải là đức tính đầu tiên, tư cách đầu tiên của người cách mạng.

Ngày 3-9-1945, một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu 6 vấn đề cấp bách. Sau nhiệm vụ chống giặc đói, giặc dốt, chuẩn bị Tổng tuyển cử, nhiệm vụ thứ tư Bác Hồ nói: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn để hòng hủ hoá dân tộc ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.

Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện “cần kiệm liêm chính”.

Ngày 2-9-1947, trên báo Sự Thật, Bác viết: “Một hạt gạo, một đồng tiền, tức là mồ hôi nước mắt của đồng bào. Vì vậy, ta phải ra sức tiết kiệm. Hoang phí là một tội ác!”. Bác phân tích: “Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí làm chợ đen, chợ đỏ, thụt két, buôn lậu.

Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính…”. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãng phí không phải chỉ là tiêu tốn tiền của, mồ hôi nước mắt của nhân dân, mà nguy hiểm hơn, từ hoang phí xa xỉ sẽ dẫn đến tham ô, nhũng nhiễu, mất tư cách, đạo đức của người cán bộ, đảng viên.
Bác chỉ rõ, nhiều cán bộ đã thực hiện đúng cần, kiệm, liêm, chính, “Nhưng còn một số… ăn uống xa xỉ. Thậm chí cờ bạc, rượn chè. Họ còn “các quan” lắm!”.

Bác nói: “…Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành 4 điều đó, mà muốn được lòng dân thì cũng như bắc giây leo trời!”.

Một lần nói chuyện với các giám đốc và chủ tịch các uỷ ban nhân dân, Bác nói: “Phải biết tiết kiệm những đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các cơ quan. Rút bớt hết những việc gì không cần thiết, chớ hao phí giấy má, tiền bạc và các thứ của công. Hao phí những thứ đó tức là hao phí mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những thứ cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người tiết kiệm như thế, trăm người như thế, vạn người như thế, công quỹ bớt được một số tiền đáng kể lấy ở mồ hôi, nước mắt dân nghèo mà ra…”.

Thật là cảm động khi trong một đoạn ngắn nói về tiết kiệm này, Bác đã hai lần nhắc đến mồ hôi, nước mắt của dân nghèo!

Bác Hồ rất nhiều lần nhắc đến phải tiết kiệm thời giờ: “Một phút của hàng triệu người cộng lại thành rất nhiều ngày và làm được rất nhiều công việc… Chúng ta thường than phiền không đủ thời giờ để làm việc và học tập. Đó là vì chưa biết quý trọng thời giờ, sắp đặt thời giờ cho hợp lý, còn lãng phí nhiều thời giờ. Muốn tiết kiệm thời giờ, thì mọi công việc đều phải chuẩn bị sẵn sàng đầy đủ…”.

Thực ra, tiết kiệm không phải là vấn đề mới. Ông cha ta tự bao đời đã truyền dạy con cháu: Làm dưng ăn hoang, mỏ vàng cũng cạn. Cũng không phải chỉ vì nước ta nghèo mới cần tiết kiệm, mà loài người từ lâu cũng đã tìm thấy bài học ấy trong cuộc sống của mình. Biết bao câu danh ngôn đã được truyền tụng: Nếu bạn muốn giàu có, thì chẳng những phải học cách làm ra tiền, mà còn phải biết cách sử dụng đồng tiền. Lười nhác và hoang phí, đó là hai cái vực thẳm!.

Bác Hồ kính yêu của chúng ta không chỉ dạy cán bộ, đảng viên và nhân dân ta thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, mà chính Bác còn là một tấm gương lớn về lối sống giản dị, tiết kiệm. Giữa Thủ đô Hà Nội phồn hoa, Bác vẫn tiết kiệm từng mẩu xà phòng, chiếc áo cũ, viết báo bằng mặt sau của bản tin Thông tấn xã Việt Nam, đi chiếc xe ô tô đã cũ. Khi ăn không để rơi một hạt cơm!

Một lần, thấy lớp nhựa ở vòng tay lái chiếc ô tô đã cũ toả ra mùi khó chịu, đồng chí lái xe lấy nước hoa vẩy vào trong xe. Khi lên ô tô, thấy mùi nước hoa Bác tỏ vẻ không vui. Bác bảo: Không phải Bác không thích nước hoa. Nhưng nhân dân mình còn nghèo, vị chủ tịch của những người nghèo khổ dùng nước hoa sao đành!

Theo Bác, tiết kiệm khác keo kiệt, bủn xỉn. Trong bài “Cần, kiệm, liêm, chính” Bác đã viết: “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm”.
Ngược lại với tiết kiệm là hoang phí, xa xỉ.

Với Bác, xa xỉ là hao phí thời giờ, hao phí vật liệu, ăn không ngồi rồi, ăn ngon, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn nghèo khổ. Và Bác nhấn mạnh: “Vì vậy, xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào”.

Theo Bác thì kiệm không chỉ có nghĩa là không hoang phí, không xa xỉ, mà còn phải biết tổ chức, quản lý:

“Tiết kiệm nghĩa là:
Một giờ làm xong công việc của hai, ba giờ.
Một người làm việc bằng hai, ba người.
Một đồng dùng bằng giá trị hai, ba đồng.
Cho nên, muốn tiết kiệm có kết quả tốt thì phải khéo tổ chức… Không biết tổ chức là không biết tiết kiệm”.

Cụm từ “tiết kiệm là một quốc sách” đã được nêu lên không ít lần trong diễn đàn Quốc hội, được ghi trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, nhưng chúng ta không khỏi đau lòng khi thấy còn nhiều cán bộ, đảng viên sống xa hoa, lãng phí, cách quá xa đời sống của nhân dân. Hàng trăm triệu đồng cho một bữa tiệc, hàng tỷ đồng cho một lễ kỷ niệm và khá nhiều những chiếc xe con sang trọng, quá mức cần thiết, không đúng quy định.

Những công sở xây quá lớn với thừa thãi tiện nghi, trong khi trẻ em còn thiếu trường học, bệnh viện vẫn hai ba người một giường… Chưa nói đến sự lãng phí tiền của, mà hãy nói đến những phương tiện sống xa hoa ấy đã chứng tỏ nhiều cán bộ xa rời quần chúng nhân dân. Đã có những cán bộ vì lối sống xa hoa, lãng phí mà dẫn đến tham nhũng, hối lộ, lập quỹ đen… làm tổn hại đến niềm tin của nhân dân với Đảng.

Một lần gặp gỡ cán bộ quân đội, Bác nói: “Bọn phong kiến xưa cũng nêu ra cần kiệm liêm chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân noi theo để lợi cho nước, cho dân”.

Trước đây, Nhà nước ta cũng đã đề ra Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và nay lại được nâng lên thành Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Song vấn đề quan trọng là phải thực thi luật đó. Đã có không ít những cán bộ chỉ kêu gọi người ta tiết kiệm, còn mình thì không gương mẫu thực hiện. Trình độ dân trí ngày càng cao, nhân dân phân biệt rất rõ những người chỉ nói suông, nói một đàng làm một nẻo và trong mắt của nhân dân những người đó đã trở thành “những ông quan cách mạng”. Nói đúng và gương mẫu làm đúng những điều mình nói, chính là đạo đức cách mạng. Trong vấn đề thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nếu cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, thì làm sao có thể vận động đông đảo nhân dân thực hiện tốt được. Mọi công việc đều thế, việc vận động tiết kiệm, chống lãng phí càng phải thế.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: Bác rất tiết kiệm vì nước ta còn nghèo. Nhưng tôi nghĩ, hai mươi năm sau, khi nước ta đã giàu lên rồi và Bác còn ở với chúng ta, tôi dám chắc rằng Bác vẫn tiết kiệm như bây giờ. Theo tôi hiểu, Bác tiết kiệm vì Bác không nỡ phụ người, không đành phụ của. Bác tiết kiệm không phải chỉ vì lý do kinh tế, mà chính bởi tại lòng Nhân!.

Sống giản dị, tiết kiệm là lối sống của Bác, là đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh. Nhà báo Mỹ Đa-vít Han-bớt A-ten đã viết: Đó là sức mạnh của ông Hồ, vì ông là một người Việt Nam của quần chúng. Địa vị càng cao ông càng giản dị, trong sáng hơn. Hình như ông luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam!

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

cpv.org.vn

Bác Hồ với vấn đề thời cơ trong cách mạng Tháng Tám

(ĐCSVN) – Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đã nêu một tấm gương sáng và một hình mẫu đáng tự hào về tổng khởi nghĩa giành chính quyền cho các dân tộc bị đế quốc, thực dân nô dịch trên thế giới noi theo.

Là người Mác xít chân chính, giàu trí tuệ, nung nấu lý tưởng giải phóng đất nước, Bác hiểu con đường phải đi, những việc phải làm và hướng nỗ lực chuẩn bị vào đó để giành quyền chủ động bùng nổ cách mạng khi có thời cơ: ngày 19/9/1924 Bác trả lời họa sĩ Thụy Điển Erich Giôhanxơn: con đường giải phóng Việt Nam là: “… khởi nghĩa vũ trang trong cả nước”; “phải tổ chức càng nhiều càng tốt những nhóm vũ trang của người nông dân và công nhân tại Việt Nam. Đó là những tế bào có thể hợp thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa” (1). Năm 1927, Bác viết tác phẩm “Đường Kách Mệnh”. Đó là những nét lớn làm cơ sở cho cương lĩnh của Đảng ta sau này. Tháng 6/1925 Bác sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 2/10/1929 Bác viết bài “Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông Dương”, vạch trần những thủ đoạn bóc lột, bắt phu, bắt lính của thực dân Pháp ở Đông Dương, chỉ cho nhân dân ta bộ mặt và bản chất của quân thù. Từ ngày 3-7/2/1930 Bác chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, thông qua “chính cương vắn tắt”, “sách lược vắn tắt” và “điều lệ vắn tắt” của Đảng do Người khởi thảo. Từ đây cách mạng Việt Nam có bộ tham mưu tối cao thống nhất lãnh đạo – đó là điều kiện tiên quyết để cách mạng thành công. Sau Hội nghị Trung ương I (tháng 10/1930) Bác viết: “Để chống lại đàn áp cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân”, “cần làm cho nông dân nhận thức rõ lực lượng và vai trò của mình” (2). Đó là những ý tưởng đầu tiên cho sự ra đời của quân đội. Tháng 1/1935 Bác viết thư gửi Bộ phương Đông (thuộc Quốc tế cộng sản) đề nghị một số biện pháp nhằm bồi dưỡng lý luận Mác – Lênin cho các cán bộ đảng viên ở các nước thuộc địa… đưa họ vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Tháng 7/1939 từ Trung Quốc Bác gửi thư về cho Trung ương Đảng: “… phải tổ chức Mặt trận Dân chủ rộng rãi… Mặt trận Dân chủ Đông Dương phải liên hệ với Mặt trận Nhân dân Pháp” (3). Tháng 10/1941 Việt Nam độc lập đồng minh (Việt minh) thành lập. Đây là điều kiện tiên quyết thứ hai bảo đảm sự thành công cho cách mạng. Tháng 2/1941 Bác về nước chỉ đạo lập các hội cứu quốc tại căn cứ địa Cao Bằng và chỉ thị phải tuyên truyền vận động quần chúng, có như vậy cách mạng mới thành công.

Là người nhuần nhuyễn học thuyết Mác – Lênin, lại am hiểu sâu sắc trước tác của những nhà chính trị, quân sự tầm cỡ thế giới ở phương Đông (Khổng Tử, Tôn Tử, Ngô Khởi, Gia Cát Lượng…), Bác thấy rất rõ ý nghĩa to lớn của vấn đề thời cơ. Cách mạng Việt Nam luôn phải đối mặt với các kẻ thù lớn, hung bạo (Nhật, Pháp), vấn đề thời cơ càng là mối quan tâm đặc biệt của Bác, Bác tìm mọi biện pháp nắm tình hình, phân tích kết luận chính xác, đánh giá đúng tương quan so sánh lực lượng để phát động tổng khởi nghĩa đúng lúc, bảo đảm chắc thắng, ít tổn thất, thương vong. Quá trình vận động, chuẩn bị cách mạng, Bác còn thường xuyên uốn nắn những chủ trương, hành vi manh động, không hợp thời. Tháng 11/1940 được tin Nam kỳ khởi nghĩa, Bác nhận định: “Tình hình… có lợi cho ta”, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào”. Tháng 3/1945 sau khi Nhật đảo chính Pháp, Bác nhắc nhở: chuẩn bị tổng khởi nghĩa lúc này cũng chính là sẵn sàng chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược.

Ngày 15/8/1945 Bác phát biểu ở Hội nghị toàn quốc của Đảng: tích cực thì nắm được thời cơ, không tích cực thì thời cơ không chờ mình. Theo Người thời cơ tổng khởi nghĩa chỉ tồn tại trong thời đoạn từ Nhật đầu hàng Đồng minh (13/8/1945) đến trước khi quân Đồng minh vào nước ta giải giáp quân Nhật (28/8/1945). Chính vì biết chủ động chuẩn bị, nắm được thời cơ và hành động đúng thời cơ mà chỉ với năm ngàn đảng viên, Đảng cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo tổng khởi nghĩa thành công trong cả nước.

Thành công ấy trước hết thuộc về Thường vụ, Trung ương và Đảng cộng sản Đông Dương, trong đó có vai trò đặc biệt của Bác Hồ – người giữ vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng – người có khả năng hội tụ sức mạnh của Đảng, của dân tộc và của thời đại. Bác đã đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bão tố đến bến bờ vinh quang. Cống hiến lớn lao, xuất sắc của Bác về nghệ thuật tạo, nắm và chớp thời cơ, sử dụng lực lượng áp đảo của quần chúng nhân dân giành thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu… trong tổng khởi nghĩa vẫn là bài học nóng hổi và luôn có giá trị cho chúng ta và cho các dân tộc bị nô dịch trên thế giới.

Ghi chú:

1 – Báo Nhân dân ngày 16/3/1980.
2 – Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, trang 38.
3 – Sách đã dẫn, trang 114,115.
4– Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch, trang 77.

Đỗ Lai Tiệp (CTV)

cpv.org.vn

Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi sự lãnh đạo đúng đắn của một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam. Trước tình hình đó, sau một thời gian ở lại Liên Xô để nghiên cứu chế độ Xô Viết và kinh nghiệm xây dựng đảng theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã về gần Việt Nam để xúc tiến việc chuẩn bị thành lập Đảng. Ngày 11/11/1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc).

Về mặt công khai, Người lấy tên là Lý Thụy, làm cán bộ phiên dịch cho phái đoàn cố vấn của Chính phủ Liên Xô đến giúp Chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc. Việc đầu tiên của Người là bắt mối liên lạc với Tâm tâm xã và tổ chức yêu nước của cụ Phan Bội Châu đang hoạt động ở Quảng Châu.

Lúc này cụ Phan bội Châu đã cải tổ Việt Nam quang phục Hội thành Việt Nam quốc dân đảng. Nguyễn Ái Quốc viết thư góp ý kiến với cụ Phan Bội Châu về đường lối và phương pháp cách mạng. Cụ Phan tiếp thu những ý kiến đó, nhưng chưa kịp sửa chữa sai lầm của mình thì cụ đã bị đế quốc Pháp bắt đưa về nước (1925).

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc chọn số thanh niên yêu nước trong các tổ chức cách mạng ở trong nước ra, mở Trường huấn luyện chính trị để đào tạo họ trở thành những cán bộ cách mạng và đưa họ trở về nước hoạt động trong giai cấp công nhân và nhân dân. Trường mở được 10 khóa, mỗi khóa từ một tháng rưỡi đến ba tháng, tổng số học viên có khoảng 200 người. Đó là đội ngũ cán bộ nòng cốt đầu tiên cho cách mạng Việt Nam, với những người tiêu biểu như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự…

Nguyễn Ái Quốc là người phụ trách trường, vừa là giảng viên chính, có khi kiêm cả cán bộ phiên dịch. Ngoài học tập lý luận và chính trị, các học viên còn được học thêm vǎn hóa và ngoại ngữ. Người còn lựa chọn một số cán bộ gửi sang Matxcơva học tập lý luận ở Trường đại học Phương Đông và một số khác vào học Trường quân sự Hoàng Phố có cố vấn Liên Xô giảng dạy ở Quảng Châu.

Trên cơ sở giác ngộ về tinh thần yêu nước, các học viên nhận rõ đường lối và phương pháp đúng đắn của cách mạng Việt Nam và có xu hướng cộng sản chủ nghĩa. Họ lần lượt được cử về nước xây dựng cơ sở, tuyên truyền, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng.

Để làm tài liệu giảng dạy tại Trường huấn luyện chính trị, đầu nǎm 1925, Nguyễn Ái Quốc biên soạn tập đề cương bài giảng mà đầu nǎm 1927 được xuất bản thành cuốn sách “Đường kách mệnh”. Trong đó, Người nêu lên tư tưởng cách mạng triệt để, chỉ rõ rằng: muốn sống thì phải làm cách mạng. Làm cách mạng phải có quyết tâm, hy sinh, bền gan, đoàn kết nhau lại. Muốn được như vậy thì trước hết mọi người phải hiểu rõ vì sao phải làm cách mạng. Trong cuốn Đường cách mệnh Người nói về tư cách người cách mạng, tức là đạo đức cách mạng: tự mình phải cần kiệm, chí công vô tư, quả quyết sửa lỗi mình, không hiếu danh, không kiêu ngạo ; nói thì phải làm, phải giữ chủ nghĩa cho vững, hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất… Người coi việc giác ngộ cách mạng và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ là một trong những yêu cầu hàng đầu để chuẩn bị về tư tưởng và chính trị, tiến tới xây dựng một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam.
Muốn làm cách mạng thành công, người cán bộ còn phải hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, có đường lối và phương pháp cách mạng đúng.

Nhân dân Việt Nam đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh anh dũng chống đế quốc Pháp, nhưng đều bị thất bại, vì chưa có lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, chưa có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, không hiểu tình hình thế giới, không biết so sánh lực lượng ta và lực lượng địch, không có “mưu chước” không hiểu “sách lược”, không biết nắm thời cơ, “chưa nên làm đã làm, khi nên làm lại không làm”. Vì vậy, những người cách mạng phải giảng giải cho nhân dân hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tình hình và kinh nghiệm cách mạng thế giới.

Nắm vững tính chất và đặc điểm xã hội Việt Nam, đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, thấm nhuần học thuyết của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga vào điều kiện cụ thể của nước ta, Người đề ra đường lối cách mạng Việt Nam là phải đi từ giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giại đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Người đề ra cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới (nay gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân).

Nhiệm vụ trước mắt của Cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. Người nhấn mạnh: công nhân và nông dân là lực lượng chủ yếu của cách mạng vì công nông bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất và họ là lực lượng đông nhất.

Người chỉ rõ cách mạng là việc chung của quần chúng nhân dân. Vì đế quốc Pháp dùng chính sách chia rẽ người Việt Nam thành người Trung, Nam, Bắc; lấy tôn giáo và vǎn hóa nô dịch để mê hoặc nhân dân; lấy sức mạnh để đàn áp nhân dân, cho nên muốn làm cách mạng, trước hết chúng ta phải giác ngộ, tổ chức, đoàn kết và lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh. Những người cách mạng phải tổ chức các hội quần chúng như công hội, nông hội, phụ nữ, thanh niên.

Người còn nêu rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, theo đường lối của Quốc tế cộng sản, quan hệ mật thiết với cách mạng Pháp và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa khác.

Về kinh nghiệm cách mạng thế giới, Người nhận định cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ là những cuộc cách mạng tư sản không triệt để. Chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để nhất, vì nó đem lại tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho nhân dân lao động và còn giúp đỡ cho các dân tộc bị áp bức làm cách mạng để tự giải phóng.

Muốn tổ chức và đoàn kết được các lực lượng cách mạng, muốn có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, trước hết phải có đảng cách mạng, để trong thì vận động và tổ chức nhân dân, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản các nước, Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mời chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa Mác – Lênin làm cốt. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có kim chỉ nam. “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Cuốn Đường kách mệnh chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua, mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới.

Để làm cơ sở cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 6 nǎm 1925, tại Quảng Châu, Người đã sáng lập “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội”, một tổ chức tiền thân của Đảng. Tôn chỉ và mục đích của Hội được thể hiện trong cuốn Đường cách mệnh.
“Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” là một tổ chức rất chặt chẽ, gần như một đảng cộng sản, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, dùng tự phê bình và phê bình để xây dựng hội.

Dưới sự lãnh đạo của “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội”, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đã kết hợp chặt chẽ với nhau, tạo thành một làn sóng dân tộc và dân chủ mạnh mẽ khắp cả nước. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội là tổ chức cách mạng đầu tiên ở nước ta có xu hướng chủ nghĩa cộng sản, đi vào quần chúng vận động công nhân và nông dân theo quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Để tuyên truyền tôn chỉ và mục đích của Hội, Nguyễn Ái Quốc đã xuất bản tuần báo Thanh niên. Báo này vạch trần những tội ác dã man của đế quốc Pháp, khơi sâu lòng cǎm thù đối với chúng; đồng thời giải thích rõ đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến tay sai, giành độc lập và tự do, tiến lên cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Từ cuối nǎm 1924 đến đầu nǎm 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc vừa đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam, xúc tiến việc chuẩn bị và thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, vừa góp phần rất quan trọng vào việc đào tạo cán bộ và xây dựng phong trào cách mạng ở một số nước châu Á.

Dưới sự chỉ đạo của Ban phương Đông trực thuộc Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, Người đã truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng.

Tháng 4 nǎm 1927, sau vụ phản biến của bọn Tưởng Giới Thạch ở Quảng Châu, Người đi Hồng Kông, Thượng Hải, rồi rời Trung Quốc đi Liên Xô. Người làm việc ở Quốc tế cộng sản góp phần tổng kết kinh nghiệm của phong trào cách mạng châu Á.

Được sự giúp đỡ của Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, cuối nǎm 1927, Người bí mật trở lại nước Pháp để gặp gỡ và trao đổi ý kiến với ban lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp về tình hình hoạt động của Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng. Sau đó, người trở lại Đức và đi dự Hội nghị Quốc tế chống chiến tranh đế quốc họp ở thủ đô nước Bỉ.

Mùa hè nǎm 1928, Người bí mật rời khỏi Đức đi Thụy Sĩ, Italia rồi từ đó đáp tàu biển đi Thái Lan vào mùa thu nǎm 1928. Thời gian này Người chú trọng giáo dục Việt kiều tinh thần đoàn kết và yêu nước.

Trong những nǎm 1928 – 1929, phong trào cách mạng ở nước ta dâng lên mạnh mẽ. Thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, một số cán bộ của “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” đã vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để tuyên truyền và tổ chức công nhân. Phong trào công nhân dần dần đã vượt qua giai đoạn tự phát, cục bộ, lẻ tẻ tiến đến giai đoạn tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, có sự phối hợp giữa các ngành và các địa phương. Từ cuối nǎm 1929, phong trào công nhân Việt Nam đã có tính chất độc lập rõ rệt, trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta.

Phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đang đòi hỏi sự lãnh đạo của một đảng của giai cấp công nhân. Những điều kiện để thành lập một đảng như thế đã chín muồi. Nhưng khi vấn đề ấy được đặt ra, thì trong nội bộ “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội”, nhất là ở cơ quan lãnh đạo của nó không nhất trí. Đó là cuộc đấu tranh giữa quan điểm vô sản và quan điểm tiểu tư sản trong “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” để thành lập đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam. Cuộc đấu tranh ấy đã dẫn đến thắng lợi của tư tưởng vô sản và sự ra đời của “Đông Dương cộng sản đảng” và “An Nam cộng sản đảng”. Trong tình hình ấy Tân Việt cách mạng Đảng cũng không thể duy trì tổ chức cũ, cho nên đã được cải tổ thành “Đông Dương cộng sản liên đoàn”.

Trong vòng nửa nǎm, ba tổ chức cộng sản đã liên tiếp ra đời. Nhưng lợi ích của cách mạng, và nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Như thế chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, làm giảm sức mạnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Thành lập một đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam là yêu cầu bức thiết của phong trào công nhân và phong trào yêu nước lúc bấy giờ.

Lịch sử đòi hỏi phải có một lãnh tụ có đầy đủ uy tín và nǎng lực để thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người đã đáp ứng yêu cầu đó.

Vào cuối mùa thu nǎm 1929, đang hoạt động ở Thái Lan, được nghe báo cáo về tình hình mâu thuẫn giữa các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Người đã trở lại Hồng Kông, triệu tập Hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất tổ chức, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

Dưới sự chủ tọa của Người, Hội nghị đã họp từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 nǎm 1930, trong cǎn phòng nhỏ của một người công nhân ở Cửu Long, gần Hồng Kông. Sau nǎm ngày làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, Hội nghị đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một đảng cộng sản chân chính duy nhất ở Việt Nam lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị đã thông qua các vǎn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng và của một số tổ chức quần chúng và Lời kêu gọi… do Nguyễn Ái Quốc thảo ra.

Điều lệ tóm tắt của Đảng đã nêu rõ mục đích của Đảng: “Đảng cộng sản
Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo cho quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu, để tiêu diệt tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”.

Hội nghị cũng đã thảo luận về phương pháp và kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước…

Sau này, đánh giá việc thành lập Đảng, Người đã viết:

“Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

BTS -(Trích Chủ tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp, NXB Sự thật, 1987)

cpv.org.vn