Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

Xuân về nhớ Bác

(Chinhphu.vn) – Mỗi mùa Xuân về lòng ta lại nhớ Bác Hồ. Nhớ Bác, học và làm theo lời Bác một cách thiết thực nhất chính là soi mình vào tấm gương sống giản dị, trung thực nhưng hết sức kiên cường của Bác và nhắc nhở nhau làm theo những lời căn dặn của Người.

“Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” (Tố Hữu)

Từ mùa Xuân 1970, chúng ta không còn được nghe Bác Hồ đọc thơ chúc Tết vào thời điểm trang trọng Giao thừa, chào đón năm mới.

Tuy nhiên, đứng trước bàn thờ gia tiên vào lúc tiễn đưa năm cũ, trong lòng mỗi chúng ta không chỉ nghĩ đến tổ tiên, ông bà và những người thân đã khuất mà còn thành kính tưởng nhớ đến Bác Hồ.

Khi nhân dân đặt trọn niềm tin vào Đảng

Ông Jean Sainteney, người thay mặt cho nước Pháp ký Hiệp định Sơ bộ với nước ta đầu năm 1946, về sau trong hồi ký của mình đã viết: “Từ khi gặp ông Hồ Chí Minh lần đầu tiên, tôi đã có cảm tưởng là con người khổ hạnh đó mà nét mặt biểu lộ cả trí thông minh và nghị lực, lẫn mưu trí và tế nhị, là một người siêu đẳng chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành một nhân vật chính trị nổi bật trên diễn đàn châu Á… Kiến thức rộng rãi, trí thông minh cùng với sức hoạt động lạ lùng, khả năng chịu đựng mọi kham khổ và lòng vị tha không bờ bến của ông đã đem đến cho ông uy tín và sức thuyết phục không ai có thể so sánh nổi”.

Chúng ta may mắn có một vị lãnh tụ mà người bên kia chiến tuyến cũng phải ca tụng.

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tôi thiết thực nhất là soi mình vào tấm gương sống giản dị, trung thực nhưng hết sức kiên cường của Bác và nhắc nhở nhau làm theo những lời căn dặn vừa hết sức chân tình, vừa hết sức chí lý của Bác Hồ.

Phát biểu tại Phân hiệu II Trường Nguyễn Ái Quốc, tháng 7/1955, Bác đã nói: “Đảng phải rất mạnh, rất trong sạch. Lấy đồng hồ làm thí dụ: bộ máy đồng hồ phải chạy đều, muốn chạy đều phải sạch sẽ. Đảng muốn trong sạch, mạnh mẽ thì mỗi bộ phận, mỗi đảng viên phải trong sạch, mạnh mẽ”.

Nhân dân ta vốn rất tin yêu Đảng và công nhận tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng nhân dân yêu cầu Đảng phải luôn có những quyết sách đúng đắn và hợp lòng dân, từng đảng viên phải gương mẫu đúng như tinh thần hồi Kháng chiến (Đảng viên đi trước, làng nước theo sau).

Năm nay Đảng ta tổ chức Đại hội lần thứ XI, Đại hội tổng kết kinh nghiệm những năm Đổi mới và chuẩn bị hành trang cho một thời kỳ mới – thời kỳ phát triển nhanh trong xu thế hội nhập quốc tế.

Báo cáo Chính trị Đại hội XI của Đảng đã thẳng thắn vạch ra những tồn tại trong công tác xây dựng Đảng: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; sự yếu kém làm chưa hết trách nhiệm trong quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành, làm tăng thêm bức xúc trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước… Không ít cơ sở đảng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thấp; công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nền nếp, tự phê bình và phê bình yếu… Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng… Một số tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể chưa quan tâm đúng mức công tác dân vận. Nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần chúng vẫn nặng tính hành chính”…

Tôi cho rằng như vậy là Đảng ta đã thực sự soi mình làm theo những lời căn dặn của Bác Hồ: “Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”; “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Về ý thức tôn trọng quyền dân chủ của nhân dân, Bác Hồ khẳng định: “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi việc đều vì lợi ích của dân mà làm”“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”.

Dân chủ phải được biểu hiện trong toàn bộ cuộc sống. Mỗi đảng viên đều có trách nhiệm với Đảng, với nhân dân.

Học Bác cách trọng dụng nhân tài để xây dựng đất nước

Bác là tấm gương sáng trong việc trọng dụng nhân tài để xây dựng đất nước. Ông Tạ Quang Bửu là một nhà toán học nổi tiếng (lưu học tại Đại học Paris, Bordeaux -Pháp và ĐH Oxford-Anh) về nước năm 1934 và dạy học ở Huế. Năm 1945 ông cùng Luật sư Phan Anh ra Hà Nội để tham gia cách mạng. Tháng 3/1946 tuy chưa vào Đảng, ông đã được Bác Hồ giao cho làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 8/1947, tuy chỉ mới được kết nạp vào Đảng tròn 1 tháng ông đã được giao trọng trách làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Về khoa học thì có lẽ trường hợp tiêu biểu nhất là GS Trần Đại Nghĩa. Ông là Kỹ sư Phạm Quang Lễ, được Bác trực tiếp thuyết phục và tìm cách bí mật đưa từ Pháp về nước để giao trọng trách làm Cục trưởng Cục Quân giới. Bác còn tự tìm tên để đổi cho ông. Bác nói: “Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế kể từ nay Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình , bà con chú  còn ở trong Nam”.

Bác tin ai là không có nhầm. Là một Việt kiều sống lâu năm xa Tổ quốc, mặc dầu bắt đầu từ hai bàn tay trắng nhưng GS Trần Đại Nghĩa đã ra sức góp phần tích cực xây dựng ngành quân giới non trẻ để phục vụ trực tiếp cho chiến đấu. Có lần Bác gửi cho GS Nghĩa một chiếc áo  với mẩu giấy ghi hàng chữ: “Chiếc áo sơ mi của đồng bào Thái Lan tặng Bác. Bác tặng lại chú, mặc cho ấm để làm việc tốt”.

Những chuyện ấm lòng như vậy đối với những người trí thức cống hiến cho đất nước kể sao cho xiết.

Bác phân tích: “So với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được việc gì hết…Ta cần hợp tác với người ngoài Đảng. Ta không được khinh rẻ họ, chê bai họ… Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên không làm nổi”.

Chúng ta càng tự hào về Đảng ta, về dân tộc ta thì càng thấy rõ yêu cầu bức thiết phải bứt phá về kinh tế, để Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong mỏi.

Muốn đất nước ngày càng giàu có lên Đảng phải vạch ra được những kế hoạch phát triển kinh tế rất xác đáng và động viên được toàn thể nhân dân hào hứng và nỗ lực tham gia vào việc thực hiện kế hoạch đó. Muốn nhân dân hào hứng và nỗ lực trước hết phải thực thi dân chủ.

Bác dặn chúng ta: “Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa”. Bác còn nhắc nhở: “Kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần và quyết tâm phải ba phần, có như thế mới có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước”.

Năm 2011 này cả nước phấn đấu để GDP tăng thêm 7-7,5% so với năm 2010, nhập siêu không vượt quá 18% kim ngạch xuất khẩu, chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá 7%, tổng thu ngân sách trung ương là 591. 279 tỷ đồng, tạo thêm việc làm cho 1,6 triệu lao động, đưa được 87.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài; tuyển mới đại học- cao đẳng tăng 6,5%, trung cấp chuyên nghiệp tăng 10%, cao đẳng nghề và trung cấp nghề tăng 16,5%; giảm tỷ lệ hộ nghèo 2% theo tiêu chuẩn mới; có 4% số xã đạt các chỉ tiêu nông thôn mới; tỷ lệ che phủ rừng đạt 40%…

Hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 là hành động thiết thực nhất để chào mừng thành công Đại hội Đảng lần thứ XI và cũng là để đáp lại lòng mong muốn của Bác Hồ: “Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

* Những lời nói của Bác được dẫn từ cuốn: “Về xây dựng và chỉnh đốn Đảng”, NXB Chính trị Quốc gia năm 2000.

GS.NGND Nguyễn Lân Dũng

baodientu.chinhphu.vn

Tới Pác Bó ngẫm tầm vóc tư duy chiến lược của Người

Tác giả: VƯƠNG QUÂN HOÀNG

Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công.

Sáng 28-1-2011 (tức ngày 25 tháng Chạp) chúng tôi tiếp tục hành trình trên mảnh đất Cao Bằng, nơi biên cương tổ quốc để được đến với địa danh Pác Bó, khu di tích lịch sử ghi mốc những ngày đầu lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam, tổ chức và lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.

…Càng đi trên con đường dẫn tới khu di tích Pác Bó, ta có cảm giác núi cao hơn, rừng bao phủ dày đặc hơn. Con đường có vẻ như hẹp lại – mặc dù rõ ràng là không phải như vậy. Tôi có cảm giác như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn để lại ở đây – hoặc tiếp tục trao cho nơi đây – rất nhiều năng lượng của Người, như thể Người chưa bao giờ nằm xuống vậy. Đó là cảm giác rất thực, thực đến mức càng cố gắng sử dụng ngôn ngữ để miêu tả, có lẽ càng làm cho điều ấy ít thực hơn đi.

Phiến đá bên đường ghi lại rằng, vào năm 1961 Hồ Chủ tịch đã trở lại thăm Pác Bó sau khi lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng 8 và Kháng chiến 1946-54 lẫy lừng bốn bể. Cờ hoa dọc hai bên con đường dẫn vào khu di tích – nơi nhiều hộ dân sinh sống làm sáng lên và ấm hơn cho vùng núi non hiểm trở nơi địa đầu tổ quốc.

Từ nơi này vào tới trung tâm của khu di tích không còn bao xa. Phía trong, đường bê tông đã trải tới tận sát những phiến đá đầu tiên dẫn vào lối nơi Người sống và làm việc từ cuối tháng 1 năm 1941, cái nơi mà Người tả rằng “cuộc đời cách mạng thật là sang,” mà đa số học sinh phổ thông đều thuộc, nhưng khó mà mường tượng ra sự sang trọng của “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.”

Hang Pác Bó, nơi Bác Hồ đã từng làm việc.

Và đây cũng là lần đầu tiên tôi được tận mắt ngắm nhìn và sờ tay vào dòng suối Bác Hồ đặt tên Suối Lê Nin, chạy uốn quanh núi đá thấy ngay từ khi bước vào sân khu di tích – Núi Các-Mác (Karl Marx). Nhìn thấy “phong thủy” của sự lựa chọn sáng suốt của Già Thu thời ấy, tôi càng khẳng định đó là sự lựa chọn cho một năng lượng chiến đấu với những thách thức lớn của cả một dân tộc, cầu sự an bình, độc lập, hạnh phúc cho cả 3 miền đất nước. Có lẽ cảm nhận năng lượng ấy không khó.

Tôi có biết một giả thiết – cứ xem như được mật truyền – của nhà khoa học Nga tên là Ernest Muldashev, người được rất nhiều người Việt gần đây biết đến qua bản dịch tiếng Việt các cuốn sách “Chúng ta thoát thai từ đâu,” và “Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân,” và “Trong vòng tay Sambala.” Ông ấy có biện luận cho sự tồn tại và lý giải năng lượng của các ngọn núi lớn nơi Phật giáo Tây tạng phát triển là nhằm tiêu diệt cái ác, đem đến năng lượng thiện, sự cải hóa tâm tính con người… Nếu Muldashev có lý, thì lựa chọn 70 năm trước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đối với vùng núi biên cương này chứa đựng sự thấu hiểu cao độ những nguyên lý năng lượng vũ trụ, sự hòa hợp năng lượng tự nhiên với tâm năng của ý chí Người nuôi dưỡng vượt mọi thách thức thời cuộc… Nói ngắn gọn, chúng ta bắt gặp tiên cảnh ở nơi đây.

Trộm nghĩ, với một tầm vóc tư duy lớn lao, những khao khát theo đuổi sự nghiệp giải phóng cả một dân tộc, thống nhất một đất nước chia cắt làm 3 miền kể từ 1884 bởi những các thế lực chính trị Pháp lần lượt cai trị An Nam, Già Thu không thể câu cá nơi đây để có sự thư thái, ung dung. Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công. Sử sách vẫn còn ghi đó, ngay khi vừa tới Pác Bó, Hồ Chủ tịch đã sớm phác họa con đường chiến lược lấy Cao Bằng với địa hình thuận lợi và phong trào cách mạng có chiều sâu trong nhân dân làm điểm bắt đầu, và huấn thị phải nhanh chóng chuyển biến được thuận lợi ban đầu này thành căn cứ để lan tỏa sức mạnh tới Bắc Kạn, Thái Nguyên, từ đó tiếp cận đồng bằng và triển khai sự liên kết lực lượng các mạng các vùng miền của Việt Nam.

Thẳng thắn mà nói, đời sống vật chất tiện nghi, văn hóa nghe nhìn, bấm nút rầm rộ đã phần nhiều cản trở chúng ta thoát khỏi sự hời hợt của những khái niệm không đầu không cuối. Trong khi đó, để thấu hiểu những phát biểu chiến lược này, cần phải quay ngược lại không thời gian của giai đoạn lịch sử ấy. Một người sâu sắc như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã biết rõ rằng, mỗi một bước đi chiến lược đều liên quan đến sinh mệnh đồng chí, đồng bào, đến sự tồn vong của một lực lượng non trẻ… và phép tính ấy còn phải vượt qua rất nhiều thử thách để đi từ một chốn tiên cảnh nơi hoang sơ trở thành phong trào cách mạng rộng khắp toàn quốc chỉ hơn 4 năm sau đó. Những bất trắc như thời kỳ ngục tù 1943 dưới tay quân Tưởng là một phần của những khó khăn Người đã dự liệu.

Không có cách nào để hiều điều ấy nếu chúng ta không chịu rời chăn ấm và phòng kín điều hòa, những bữa tiệc ngon để biết trong hang đá lạnh lẽo chừng hơn 10 mét vuông ở Hang Cốc Bó, Người và 5 đồng chí thuở ban đầu chỉ có ý chí và ngọn lửa sự nghiệp dân tộc làm hơi ấm tiếp sức. Rõ ràng cháo bẹ, rau măng ấy là những món sang nhất trên đời, một khi đó là nguồn năng lượng đem đến những kỳ tích dân tộc

Nơi nghỉ của lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam cũng chỉ đơn sơ với một tấm phản bằng gỗ như thế này mà thôi. Một nhân cách vĩ đại là thế, một tài năng lỗi lạc là thế, một sự nghiệp lớn lao bao trùm là thế, nhưng nhu cầu vật chất nào có là bao.

Nhũ đá trong hang Cốc Bó được Người đặt tên “tượng Các Mác” như một minh chứng của trí tuệ phong phú, khởi nguồn cho những tư duy chiến lược, viễn kiến quốc gia mãi mãi sau này vẫn là bài học sống động của lịch sử Việt Nam.

Tôi chợt nhớ những vần thơ của Tố Hữu – không phải viết về Hồ Chủ tịch, mà trong bài thơ về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi – nhưng lại hợp lý vô cùng khi suy ngẫm về tầm vóc và sự nghiệp của Người:

Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có con người như chân lý sinh ra

Con người “như chân lý sinh ra” ấy có một cuộc đời giản dị tới mức những người bình thường sống trong xã hội chúng ta ngày hôm nay không sao hình dung được đó là cuộc sống của một lãnh tụ vĩ đại, một cuộc sống được đánh đổi bằng những năm tháng tuổi trẻ bôn ba, và sự đau đáu cả đời, hy sinh mọi thú vui cá nhân… Chỉ để thế này thôi sao?

Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước, Người đã chọn bản Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) làm nơi khởi sự cho công cuộc cách mạng. Vào thời kỳ đó, lương thực có lẽ chỉ là ngô. Cảnh thiếu đói triền miên phổ biến với vùng cao đất nước này. Người về sống trong hang Cốc Bó, trước đó là kho trữ lương thực của ông Lý Quốc Sùng, người ban đầu chăm lo cuộc sống cho Người. Bác sống đạm bạc, với cháo ngô, măng và rau rừng như những người dân quanh đây. Bác sống ở Cốc Bó khoảng 2 tháng. Đến đầu tháng 4-1941, chuyển sang sống ở lán Khuổi Nặm. Chuyện kể rằng, có người cán bộ bẫy được con gà lôi đẹp, muốn giữ nuôi cảnh. Bác bảo: “- Nuôi gà lôi giải trí cũng thích, nhưng hiện nay lương thực rất thiếu thốn, cơm gạo chúng ta còn chưa đủ ăn thì các chú lấy gì để nuôi gà cảnh?”

Anh em có ý kiến rằng sẽ bắt sâu bọ để nuôi gà, Bác đồng ý, nhưng chỉ được vài bữa con gà gầy rộc. Cuối cùng, anh em đành xin phép thịt con gà ấy đi. Khi Bác nhất trí, mọi người nghĩ sẽ được bữa ngon, nhưng sau khi thịt lại chỉ được phép lấy bộ lòng để nấu một bữa tươi. Còn lại thì phải băm nhỏ toàn bộ để trộn muối và rang mặn, cất trữ trong ống tre ăn dần…

Năm 1942, Bác sang Trung Quốc để gặp gỡ với chính quyền Trung ương Tưởng Giới Thạch bàn về mối quan hệ giữa hai nước trong công cuộc chống Nhật. Không may, đi đến phố Túc Vinh, huyện Đức Bảo, Quảng Tây, Trung Quốc, Bác đã bị chính quyền địa phương Tưởng Giới Thạch bắt giữ. Chúng giải Bác đi qua hơn 30 nhà lao của 13 huyện thị Quảng Tây, Trung Quốc. Tháng 10-1943, mới được trả tự do. Tháng 10-1944, Bác quay trở lại Pác Bó. Khi này, sức khỏe đã giảm sút đi nhiều. Tuy vậy, Người vẫn kiên quyết từ chối những chế độ chăm sóc đặc biệt. Trong chữ “đặc biệt” ở đây chỉ là những bữa ăn có thêm chất mà thôi, chứ tuyệt nhiên chẳng có gì để so với những bữa tiệc hoành tráng, lãng phí, trang điểm bằng âm thanh “dzô dzô…” mà dân chớm có tiền của ở đô thị VN hiện đại ngày nay đãi nhau mỗi khi có cớ và cả không cớ.

Lại nói tới điều kiện, tôi vốn không tin rằng điều kiện vật chất là thứ phải có để cho con người có đủ năng lượng chinh phục khát khao. Giống như khi tôi lấy ví dụ rằng,(*) Louis Pasteur đã phát minh ra những thứ vĩ đại cho y học hiện đại (trong đó có vắc-xin chống bệnh dại) trong điều kiện nửa não đã teo, và nửa kia ngập trong bệnh tật, có nguy cơ dừng làm việc bất cứ lúc nào. Nhưng Pasteur xa quá, còn Hồ Chủ tịch thì ngay nơi đây, trong lịch sử đương đại của chính đất nước này.

Tôi đã thỉnh xin vị Thánh dân tộc để được ngồi thử vào chiếc “bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,” trong bộ dạng trang bị ấm áp của kẻ từ dưới xuôi lên, đã sẵn sàng chống chọi với cái rét vùng cao. Tuy thế, cái lạnh thấu xương vẫn cứ xuyên qua những lớp vải bảo vệ, như ngầm nhắc nhở rằng, ngủ quên trong sự ấm áp, hưởng thụ, có sức công phá và gây xói mòn nhanh chóng nghị lực, ý chí và cả đạo đức con người.

… Nhìn xuống dòng Suối Lê-Nin, vẫn thấy những đàn cá đang bơi trong nước lạnh. Những người ở đây nói, thường là cá chép. Nước suối Cao Bằng thật lạnh, tê buốt tay, và ta có thể mường tượng chỉ có những vĩ nhân với năng lượng mãnh liệt mới vừa chinh phục sự khắc nghiệt thời tiết để tạo dựng những viễn kiến lớn của tương lai một đất nước đang chìm trong kiếp nô lệ. Lại tự hỏi, không biết có bao nhiêu người được gọi là quan đầu tỉnh này, bộ kia… có thể tự mình rời bỏ những nơi ấm áp, để thấu hiểu nỗi khổ của thiên hạ, để chia sẻ nỗi đau của muôn dân, để thoát khỏi sự mụ mị của mâm cao, cỗ đầy, say đắm tửu sắc nơi phồn hoa đô thị (cho dù chỉ là sự phồn hoa giả tạo, cục bộ).

Khi cha tôi còn sống, tôi biết ông nhiều lần đã gặp Cụ Hồ, vì ông cũng là thiếu sinh quân từ khi còn nhỏ ở Liên Xô (chừng 10 tuổi hay hơn chút), mà Cụ Hồ có lịch sử quan hệ rất đặc biệt với Liên Xô, lãnh đạo Quốc tế Cộng sản, cũng như đặc biệt quan tâm đến thiếu nhi. Tôi có hỏi cha tôi về sự kiện Bác mất năm 1969, và hỏi cụ thể rằng: “Thế bố có khóc không?” Câu trả lời rất ngắn gọn: “Người Việt Nam, ai cũng khóc.” Và hàng triệu bạn bè khắp năm châu bốn bể cũng thương nhớ chia sẻ mất mát này. Giờ tôi lại tự hỏi, liệu nay còn được bao nhiêu người ở bậc sang trọng, quyền chức có thể khiến cho hàng chục triệu người Việt, và bạn bè khắp năm châu rơi lệ tiếc thương được nữa?

Trước khi rời khu di tích, chúng tôi tới thắp hương tưởng nhớ Hồ Chủ tịch ở khu tưởng niệm người, cách hang Cốc Bó không xa. Nơi đây, những cây trồng kính dâng người của lớp học trò xuất sắc như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vượt lên trời cao, vững vàng trước nắng mưa, gió rét. Một cây lát hoa đã cao vài chục mét của ông Hồ Tế đã có vòng thân lớn khỏe… Dọc đường chúng tôi mới để ý, vùng này người dân trồng thật nhiều cây lát, dọc cả hai bên quốc lộ.

Hơn bao giờ hết, tôi ý thức được sự bé nhỏ của mình, khi đứng trước tầm vóc lớn lao của một nhân cách vĩ đại, một tư duy chiến lược xuyên không-thời gian mà Hồ Chủ tịch đã mang đến cho đất nước. Chỉ nguyên giao thông thôi, ta cũng nên hiểu rằng ngồi trên những chiếc xe hơi đời mới, tiện nghi không thiếu gì, bánh ngọt nước uống đủ cả, mà chúng ta vượt đèo tới nơi cũng ê ẩm cả người. Hãy nghĩ tới khi Người vượt núi rừng về đây, ở trong hang đá lạnh hơn 10 mét vuông, xung quanh rừng rậm chỉ có chồn sóc, rắn rết… mà nghĩ tới một tương lai độc lập dân tộc, để thấy chúng ta bé nhỏ nhường nào.

Vào lúc này đây, xin được dành phút giây này nhớ đến vị anh hùng dân tộc, Người đã mang lại sự toàn vẹn của tổ quốc Việt Nam hình chữ S thân thương, người cho tôi được nói mình là “người Việt Nam”.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Bài nói tại trường Cán bộ tự vệ

Lúc này, chúng ta không cần nói nhiều, mà phải làm cho thật nhiều. Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp. Về quân sự, Pháp có thể đánh vào thành phố ta. Về xã hội, có thể phát sinh ra trộm cướp. Về chính trị, có thể có những kẻ phản động phao đồn những tin nhảm để làm náo động lòng dân.

Các đồng chí đến đây theo lớp huấn luyện là học tập cách trị an về vật chất và tinh thần. Những kẻ mưu sự phá hoại đất nước chúng ta, có thể tuyên truyền, đồn phao để chia rẽ sự đoàn kết. Chúng hủ hoá chúng ta về vật chất, về sinh hoạt, văn hoá, chính trị. Bởi thế các đồng chí phải học tập thành cán bộ để đi trước sự bảo vệ: Bảo vệ nền độc lập tự do của mình. Không những thế, các đồng chí còn chỉ huy những anh em đi sau. Tóm lại, không những phải học cho biết kỹ thuật, mà còn phải học lý luận về đạo đức, tinh thần nữa.

Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

Lãnh đạo về kỹ thuật chưa đủ. Còn phải lãnh đạo về tinh thần. Phải là người tuyên truyền. Phải là những người nói cho dân hiểu. Có phao đồn gì, phải giải thích cho dân. Có mệnh lệnh của Chính phủ, phải giải thích cho dân biết rõ tại sao Chính phủ đã ban bố mệnh lệnh đó.

Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công.

Nói ngày 7-1-1946.
Báo Cứu quốc, số 136, ngày 8-1-1946


Hoàng Nhật Minh

“Chủ tịch Hồ Chí Minh – người Anh hùng dân tộc vĩ đại”

Tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta…”.

>> “Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam

Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm.

Sáng 18/5, tại Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dự lễ kỷ niệm có Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm.

Tới dự có các Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Quốc hội; đại diện các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và thành phố Hà Nội, các lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, đại diện các tầng lớp nhân dân Thủ đô Hà Nội; đại diện các đoàn ngoại giao, tổ chức quốc tế tại Hà Nội.

Đọc diễn văn tại buổi lễ, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã ôn lại những cống hiến to lớn và ý nghĩa thời đại sâu sắc của tư tưởng, tấm gương, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng như cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội ở Việt Nam và thế giới.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nêu rõ, tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Marx-Lenin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại mới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Với những thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, của cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, dân tộc ta không chỉ thi hành “Bản án chế độ thực dân” ở Việt Nam, giành lại độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới vì tự do, hạnh phúc của nhân dân ta, mà còn cùng với các dân tộc thuộc địa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đấu tranh loại bỏ vết nhơ áp bức của chủ nghĩa thực dân, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta. Công lao của Người với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng Việt Nam và dẫn dắt dân tộc ta tiến đến tương lai tươi sáng”.

Bày tỏ niềm tự hào về những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta đã đạt được trong 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Tổng Bí thư chỉ rõ, để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở kiên định lập trường và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn Đảng, toàn dân ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và phổ biến rộng rãi hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới.

Tổng Bí thư khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc ta. Giá trị thực tiễn cao đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, “nói đi đôi với làm.” Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta quyết tâm thực hiện thành công, hiện thực hóa những di huấn của Người trong thực tiễn cuộc sống.

Tổng Bí thư kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sống, chiến đấu, lao động, học tập, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta phát triển mạnh mẽ, bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong không khí trang trọng, chị Nguyễn Thùy An, gương điển hình về học tập và làm theo lời Bác của Tỉnh đoàn Nghệ An, đại diện cho tuổi trẻ cả nước phát biểu bày tỏ những suy nghĩ, tình cảm, niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc đối với Bác Hồ. Tuổi trẻ cả nước nguyện suốt đời trung thành với lý tưởng cách mạng cao đẹp mà Đảng và Bác Hồ đã chọn, tiếp tục cống hiến, nỗ lực học tập, rèn luyện theo gương Bác Hồ, để đóng góp nhiều hơn nữa vào công cuộc đối mới xây dựng đất nước.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam nêu rõ, năm 1987, đại hội đồng UNESCO đã thông qua nghị quyết khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn của Việt Nam nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người.

Bày bỏ tình cảm ngưỡng mộ của mình với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Katherine Muller Marin xúc động nói, hôm nay, nhiều người trên khắp thế giới kỷ niệm ngày sinh của Người vì Hồ Chí Minh được coi là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và nhân dân Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Bà Katherine Muller Marin đã nêu bật những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các lĩnh vực hoạt động của UNESCO như văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa, truyền thông, bình đẳng giới, môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giáo dục, ngoại giao.

Bà Katherine Muller Marin kết thúc bài phát biểu của mình bằng câu nói nổi tiếng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Câu nói này còn rất có giá trị và tác động mạnh mẽ trong bối cảnh thế giới ngày nay, bà Katherine Muller Marin khẳng định.

Trong không khí tưng bừng, phấn khởi kỷ niệm ngày sinh của Người, chương trình nghệ thuật đặc sắc do các nghệ sỹ, diễn viên biểu diễn tại buổi lễ đã ngợi ca công ơn trời biển của Bác Hồ đối với dân tộc Việt Nam.

Theo Hương Thủy
Vietnam+

dantri.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh công du nước ngoài

(Dân trí) – Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một loạt các chuyến thăm tới các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới. Chuyến thăm đầu tiên của Người năm 1955 đến Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ.

Sau đó vào năm 1957, 1958 là các chuyến thăm tới các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Ấn Độ và Myanma.

Trong di chúc, Người viết: Sau ngày đất nước thống nhất sẽ thay mặt nhân dân ta thăm và cảm ơn các nước anh em xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp 5 châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Nhưng ước muốn của Người đã không thể thành hiện thực…

Dân trí may mắn có cơ hội xem những bức ảnh ghi lại những chuyến thăm nước ngoài chính thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ năm 1955 – 1958.

Những bức ảnh được in trong cuốn sách ảnh bằng tiếng Anh, thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Liên, nguyên Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai và đã được chuyển lại cho nhà sưu tập sách Phạm Chí Thiện ở Kẻ Sặt, Hải Dương.

Mời bạn đọc cùng chiêm ngưỡng:

Lãnh đạo Xô Viết chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm tại sân bay.

Chủ tịch Mao Trạch Đông chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay.

Bác dắt tay một em bé trong chuyến thăm Trung Quốc.

Bác Hồ trong trang phục truyền thống của Mông Cổ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Ulanbator (Mông Cổ).

Chủ tịch Hồ Chí Minh được đón tiếp tại sận bay Pyongyang (Bình Nhưỡng) – CHDCND Triều Tiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một hợp tác nông nghiệp Kochang, ở Kangsu, phía nam Pyongyang.


Chuyến thăm Ấn Độ vào tháng 2 năm 1958 của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác bơi trên con thuyền truyền thống của Myanma

Bác Hồ nhận bằng danh dự tiến sĩ luật tại Myanma

Bác Hồ nhảy điệu nhảy truyền thống của Albania

Em bé Đức tặng hoa cho Người

Người dân Đức tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh hoa hồng.

Hoàng Giang

dantri.com.vn

Trọng dân – Một tư tưởng lớn của Bác Hồ

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng ngày 11-2-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng”. Người chỉ rõ sự cần thiết phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng: Không có quần chúng thì không có lực lượng. Không có Đảng thì không có người lãnh đạo, hướng dẫn, chỉ đường. Người nhấn mạnh: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng”. “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn”.

Nói về trách nhiệm của Đảng đối với Tổ quốc và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa phải lo tính công việc lớn như đổi mới nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành nền văn hóa tiên tiến, đồng thời luôn luôn quan tâm đến những công việc nhỏ như tương, cà mắm, muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Người khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch”. “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt”. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức, thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai… phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo. Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn “những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân. Người nói: “Hiện nay chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình là cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.

Theo Bác Hồ, Đảng phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng nhân dân và hướng dẫn nhân dân, tổ chức thành lực lượng, thành phong trào hành động cách mạng trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Còn các tầng lớp của nhân dân phải tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức. Nhân dân là nguồn bổ sung vô tận cho Đảng và luôn luôn tràn trề sức xuân. Trọng dân là thương dân, vì nhân dân mà phục vụ và biết coi trọng sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Biết bao những phần tử ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đã trở thành đảng viên của Đảng. Quần chúng còn tham gia góp ý, phê bình sự lãnh đạo của Đảng với mong muốn Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng.

Khi Quốc hội tín nhiệm bầu Người làm Chủ tịch nước – Người trả lời các nhà báo: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận” (1). Người căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, tham ô, lãng phí, quan liêu, móc ngoặc, tham nhũng… vì nó “là kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, nó nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta. Người dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”(2). Trước lúc đi xa Bác Hồ đã căn dặn toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên rằng: Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng coi việc “làm đầy tớ” của nhân dân, phục vụ nhân dân, chăm lo cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là trách nhiệm, là vinh dự và niềm hạnh phúc.

Bác Hồ từng nói: Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người được sánh với Trời, Đất theo triết học phương Đông như Bác Hồ khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”.

Những lời dạy của Bác Hồ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng…”, “Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân…” là một tư tưởng lớn của Bác Hồ về trọng dân xuyên suốt từ ngày thành lập Đảng đến nay. Tư tưởng yêu nước, thương dân, trọng dân, suốt đời vì cách mạng, vì nhân dân mà hy sinh phấn đấu, không ham danh lợi, với một lối sống chân thực, giản dị, khiêm nhường của Bác Hồ là tấm gương đạo đức vô cùng trong sáng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chúng ta học tập và noi theo.

Tô Phương

haugiang.gov.vn

Bác Hồ với chống bệnh quan liêu

Bệnh quan liêu, dân chủ hình thức, thái độ quan cách, hách dịch, xa rời quần chúng… gây phiền hà cho nhân dân, cản trở sản xuất và công tác là hiện tượng đang có tính phổ biến, kể cả ở cơ sở.

Tệ quan liêu còn biểu hiện ở bệnh phô trương, hình thức, coi nhẹ tính hiệu quả, nặng về giấy tờ, thói thụ động…

Đã là cán bộ thì ít nhiều đều có quyền hành. Quyền hành là môi trường khách quan làm cho người cán bộ nếu không tỉnh táo dễ quên vai trò của quần chúng. Những cán bộ kém năng lực thường dùng quyền lực thay cho năng lực. Cán bộ quan liêu thường chỉ ngồi bàn giấy, ra chỉ thị cho cấp dưới và thường có “sáng kiến” đề ra nhiều cuộc vận động với tên gọi rất kêu, nhưng chỉ dừng ở khẩu hiệu suông.

Thói thụ động là một dạng cụ thể của bệnh quan liêu. Người cán bộ cấp dưới chỉ biết ngồi chờ mệnh lệnh cấp trên là hiện tượng không hiếm của công chức. Thói thụ động bỏ lỡ những cơ hội có thể đem lại lợi ích lớn cho Nhà nước, cho tập thể và né tránh những vấn đề cấp bách đòi hỏi phải có nhiều cố gắng để thực hiện.

Chủ nghĩa quan liêu, về mặt tổ chức, tạo dựng ra một hệ thống tổ chức quản lý dựa trên quyền lực. Điều đặc biệt nguy hại là chủ nghĩa quan liêu khéo núp dưới cái vỏ dân chủ – dân chủ hình thức – để lẩn tránh mọi sự lên án và trừng phạt.

V.I.Lênin đã phân biệt hai kiểu quan liêu: Kiểu thứ nhất thể hiện trong tác phong hoạt động của cán bộ và các cơ quan quản lý. Kiểu thứ hai là ở trong sự quản lý tồi.

Chủ nghĩa quan liêu có nguồn gốc sâu xa từ lịch sử, từ tư tưởng, nhận thức, tổ chức và tác phong.

Chủ nghĩa quan liêu tồn tại là vì còn cơ chế quan liêu và nhất là còn đội ngũ đông đảo cán bộ quan liêu. Cơ chế quan liêu là cái nôi làm nảy nở đội ngũ cán bộ quan liêu. Cán bộ quan liêu ra sức củng cố, bảo vệ cơ chế quan liêu để duy trì địa vị và quyền lợi của mình. Chủ nghĩa quan liêu là mảnh đất tốt sản sinh và dung dưỡng bệnh chủ quan, nóng vội, giản đơn, duy ý chí, giáo điều.

Thật không sai nếu nói rằng: Tệ quan liêu đem lại lợi ích cho những kẻ mắc bệnh đó. Chính lợi ích vị kỷ này là lý do làm cho một số dạng của tệ quan liêu sống dai dẳng và trở thành căn bệnh mãn tính rất khó chữa.

Phong cách làm việc quan liêu làm cho cán bộ bảo thủ, trì trệ, thiếu năng động và sáng tạo, thậm chí còn cản trở và chống lại sự năng động, sáng tạo.

Tệ quan liêu gây ra hệ quả tiêu cực là có một số nghị quyết, kế hoạch, chính sách, dự án được xây dựng thiếu căn cứ khoa học, tách rời khả năng và hiện thực.

Quan liêu và dân chủ đối lập với nhau như lửa với nước. Có cái này sẽ không có cái kia. Cho nên, không thể tiến hành cuộc đấu tranh chống bệnh quan liêu mà không dựa vào quần chúng trên cơ sở mở rộng dân chủ và công khai hóa, huy động quần chúng tham gia mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, công khai thông tin, tạo mọi thuận lợi để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Chủ nghĩa quan liêu không tự thủ tiêu. Nó chỉ biến dạng, thậm chí, dù có đặt ra thể lệ, quy chế, nó cũng tìm cách làm cho mất hiệu lực, nếu không có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng.

Nguyên nhân của bệnh quan liêu đã được Bác Hồ chỉ rõ: “Xa nhân dân: Do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: Cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: Họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được.

Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

Không yêu thương nhân dân: Do đó, họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân…”(1).

Theo Bác Hồ, chứng bệnh quan liêu tỏ ra bằng nhiều vẻ:

“Đối với người:

Cấp trên đối với cấp dưới, cán bộ đối với nhân dân, quân quan đối với binh sĩ, bộ đội đối với dân chúng – chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải thích, tuyên truyền. Không biết làm dân chúng tự giác và tự động.

Đối với việc:

Chỉ biết khai hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị. Chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc, giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra.

Đối với mình:

Việc gì cũng kềnh càng, chậm rãi, làm cho qua chuyện. Nói một đường làm một nẻo.

Chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí.

Một vẻ quan liêu nữa là: Chỉ biết ăn sang, diện cho kẻng; chẳng những không lo phụng sự nhân dân, mà còn muốn nhân dân phụng sự mình.

Tham ô, hủ hóa. Trước mặt dân chúng thì lên mặt “quan cách mạng”(2).

Người khẳng định: “Nếu không lo chữa, thì bệnh quan liêu sẽ đưa bệnh nhân đến chỗ hoàn toàn bị đào thải.

Thang thuốc chữa bệnh quan liêu:

– Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.

– Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.

– Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.

– Phải làm kiểu mẫu: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Mong rằng toàn thể cán bộ ta, ai không mắc bệnh quan liêu thì phải giữ gìn, tránh nó. Ai đã mắc bệnh ấy, thì phải cố gắng mà chữa cho khỏi đi, cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng, chớ để bị đào thải”(3).

_____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 6, tr.292-293. (2,3) Sđd, tập 6, tr.89-90.

Nguyễn Xuyến

xaydungdang.org.vn

“Ông Hồ đã tìm thấy bên trong đất nước của mình điều bí mật về sức mạnh dân tộc”

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đã được thế giới tôn vinh là người anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới.

Nhân dân ta đã phải tiếp tục trải qua 30 năm dài chiến đấu, đầy gian khổ hy sinh để giữ vững nền độc lập, thống nhất của mình. Ngày nay, lịch sử Việt Nam đã bước sang những trang mới vẻ vang của thời kỳ đổi mới, nhưng chúng ta đều biết rằng: Tất cả những thành quả đó đều bắt nguồn từ những hoạt động tìm đường cứu nước của Bác, từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và từ cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại!

Tháng 4-1921, với bài báo “Đông Dương” trên tạp chí Revue Communiste, Nguyễn Ái Quốc viết:

“Người Đông Dương không được học, đúng thế, bằng sách vở và bằng diễn văn, nhưng người Đông Dương nhận sự giáo dục bằng cách khác. Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ… Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến.

Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(1).

Tháng 5-1921, Nguyễn ái Quốc viết tiếp:

“Người ta đưa người Đông Dương vào chỗ chết trong cuộc chém giết của bọn tư bản để bảo vệ những cái gì mà chính họ không hề biết. Người ta đầu độc họ bằng rượu cồn và thuốc phiện. Người ta kìm họ trong ngu dốt… Người ta bịa đặt ra những vụ âm mưu để cho họ nếm những ân huệ của nền văn minh tư sản ở trên máy chém, trong nhà tù hay đày biệt xứ!

… 20 triệu dân bị bóc lột tàn nhẫn trong tay một nhóm kẻ cướp thực dân, đấy là xứ Đông Dương hiện nay”(2).

Ngày 23-6-1924, tại phiên họp thứ 8 Đại hội lần thứ 5 Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn phát biểu, mạnh mẽ đấu tranh cho mục tiêu giải phóng dân tộc:

“Tôi thấy rằng hình như, các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng cho rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa…

Các đồng chí thứ lỗi về sự mạnh bạo của tôi, nhưng tôi không thể không nói với các đồng chí rằng, sau khi nghe những lời phát biểu của các đồng chí ở chính quốc, tôi có cảm tưởng là các đồng chí ấy muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc. Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các thuộc địa cung cấp binh lính cho quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Các thuộc địa trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng. Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa”(3).

Trong tài liệu nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003, cũng nêu rõ:

“Nếu ở phương Tây, các nhà kinh điển mác xít cho rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người tuy có liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng trước hết, phải giải phóng giai cấp công nhân, thì Hồ Chí Minh khẳng định: Đối với phương Đông, trong đó có Việt Nam, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trên hết, trước hết.

Hồ Chí Minh cho rằng, trong điều kiện các nước thuộc địa thì giải phóng dân tộc là cơ sở để giải phóng giai cấp, giải phóng con người”.

Ngay từ khi thành lập Đảng, trong Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ nhiệm vụ của cuộc Cách mạng là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”(4).

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 họp tại Pác Bó tháng 5-1941, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, khẳng định: “Nhiệm vụ bức thiết nhất của Cách mạng Đông Dương lúc này là giải phóng dân tộc… Trong lúc này quyền lợi của bộ phận giai cấp phải đặt dưới sự tồn vong sinh tử của quốc gia dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(5).

Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Ban Thường vụ Trung ương họp mở rộng và ra Chỉ thị lịch sử: “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào.

Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân tiếp tục họp tại Tân Trào, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ của nước ta nền đỏ sao vàng, chọn bài “Tiến quân ca” làm Quốc ca và bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(6).

Ngay trong đêm 13-8-1945, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc đã gửi Quân lệnh số 1 cho đồng bào và chiến sĩ cả nước, nhanh chóng vùng dậy giành độc lập.

Từ 14 đến 18-8-1945, Tổng khởi nghĩa đã diễn ra ở nông thôn miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An (Quảng Nam).

Ngày 19-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi rực rỡ tại Thủ đô Hà Nội. Hàng vạn nhân dân nội, ngoại thành xuống đường thị uy. Quần chúng tiến vào chiếm lĩnh phủ Khâm sai, Toà Thị chính, Trại Bảo An…

Từ 19-8 đến 22-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa tại các thị xã Yên Bái, Thái Bình, Phúc Yên, Thanh Hoá, Khánh Hoà, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên, Nam Định, Hưng Yên, Kiến An, Quảng Yên đã giành thắng lợi.

Ngày 23-8-1945, cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi ở thành phố Huế. 15 vạn nhân dân Huế, Thừa Thiên đã nổi dậy bắt vua Bảo Đại phải thoái vị, nộp ấn kiếm cho cách mạng, xoá bỏ chính thể quân chủ ở Việt Nam.

Từ 23-8 đến 25-8-1945, các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Định, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tây Ninh, Biên Hoà, Đồng Nai Thượng giành thắng lợi.

Sáng 24-8-1945, tại Sài Gòn, Đảng ra hoạt động công khai, đông đảo quần chúng phấn khởi nhìn lá cờ đỏ búa liềm tung bay trước gió.

1 giờ sáng ngày 25-8-1945, toàn bộ chính quyền thành phố Sài Gòn đã thuộc về Cách mạng.

Như vậy là chỉ trong vòng nửa tháng, cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại đã thành công trong cả nước!

L.A Pat-ti, một tình báo Mỹ, người đã được Bác Hồ đọc cho nghe Bản Tuyên ngôn độc lập trước ngày đọc ở Ba Đình và cũng là người có mặt ở Hà Nội ngày 2-9-1945 đã viết trong cuốn sách “Why Viet Nam” (Tại sao Việt Nam) dày ngót một nghìn trang, có đoạn kể lại ngày 2-9 ở Ba Đình:

“Tiếng loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, người ta giới thiệu “ông Hồ là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng hát vang và trong mấy phút liền hô vang “Độc Lập”, “Độc Lập”. Ông Hồ mỉm cười, nhỏ nhắn trong tầm cỡ, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, mà ngày nay đã trở thành nổi tiếng…”(7).

Hen Xơ-bớc-lem, tác giả cuốn “Việt Nam một dân tộc trong Cách mạng” đã viết: “Đối với Việt Nam, Cách mạng Tháng 8 là cuộc thử sức bằng cả lực lượng và tài trí. Ông Hồ đã tìm ra giải pháp đúng, đi nước cờ thật tài ba tuyệt diệu… Những người đứng đầu Việt Minh được tán thành do quá khứ của họ và quá khứ lâu dài của Đảng Cộng sản Đông Dương… Ông Hồ đã tìm thấy bên trong đất nước của mình điều bí mật về sức mạnh dân tộc, sức mạnh của 25 triệu người Việt Nam lúc ấy”(8).

___

(1, 2, 3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 1, tr.28, 34, 273. (4, 6) Sđd, tập 3, tr.1, 554. (5) Văn kiện Hội nghị TW Đảng lần thứ 8. (7) Why Việt Nam – NXB Đà Nẵng, năm 2001. (8) Cách mạng Tháng 8 với các học giả nước ngoài, Báo Người Đại biểu nhân dân, tháng 8-2001.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn

Ngày 8/1: Tết kháng chiến đầu tiên

– “Chúng ta phải làm sao cho Tết này thật là một Tết kháng chiến. Bao giờ kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau ăn Tết linh đình” – Trong Lời kêu gọi chuẩn bị Tết kháng chiến đầu tiên cho chiến sĩ ngày 8/1/1947, Bác Hồ đã nói như vậy.

Ngày 8/1/1947 mới là ngày 17 tháng Chạp năm Bính Tuất tức là gần tròn một tháng kể từ ngày Toàn quốc kháng chiến và Tết Đinh Hợi đang đến gần, Bác Hồ viết một bài thơ tặng báo “Độc lập” là cơ quan của Đảng Dân chủ để động viên lực lượng trí thức và các nhà công thương yêu nước nhân Tết kháng chiến đầu tiên và chuẩn bị tinh thần cho một cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ nhưng lạc quan tin vào thắng lợi cuối cùng.

Bác Hồ đến thăm Xưởng may 10  và góp ý kiến về cách may sao cho nhanh chóng và hiệu quảBác Hồ đến thăm Xưởng may 10 và góp ý kiến về cách may sao cho nhanh chóng và hiệu quả

Bài thơ viết : “Năm mới thế cho năm đã cũ/ Báo Độc lập của Đảng Dân chủ/ Kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam/ Đoàn kết và thắt chặt hàng ngũ/ Kiên quyết kháng chiến đến kỳ cùng/ Để giữ chủ quyền và lãnh thổ/ Chờ ngày độc lập đã thành công/ Tết ấy tha hồ bàn với cỗ.”

Tinh thần ấy còn được thể hiện trong một văn kiện được người đứng đầu cuộc kháng chiến công bố cùng ngày “Lời kêu gọi nhân ngày Tết Nguyên đán năm 1947”. Lời kêu gọi viết: “Tết đã đến gần. Theo tục lệ thường thì đồng bào từ Nam chí Bắc, từ thành thị đến thôn quê, ai cũng sắm sửa ăn Tết.

Song Tết năm nay, phải là một Tết kháng chiến. Chiến sĩ ở tiền phương đang chịu đói chịu rét, xông pha bom đạn, đem xương máu để giữ gìn Tổ quốc, để bảo vệ đồng bào hậu phương được an toàn. Đồng bào các chiến khu thì nhà tan cửa mất, lưu lạc, tản cư ăn đói mặc rét, cực khổ điêu linh. Trước tình trạng đó, đồng bào các nơi khác có nỡ lòng ăn Tết linh đình không? Chắc là không!”.

Lời kêu gọi đã đề ra những việc làm cụ thể: “Phải hết sức tiết kiệm để dành tiền bạc, cơm gạo cho cuộc kháng chiến lâu dài”, “đề phòng trước bọn địch tấn công”, “ra sức thi đua tăng gia sản xuất”, “rủ nhau gửi đồ, uý lạo đến chiến sĩ ở tiền phương”.

Cuối lời kêu gọi, Bác viết: “Chúng ta phải làm sao cho Tết này thật là một Tết kháng chiến. Bao giờ kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau ăn Tết linh đình”.

Cũng nhân dịp chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi hô hào đồng bào phải hết sức tiết kiệm, để dành tiền bạc, cơm gạo cho cuộc kháng chiến lâu dài…, ra sức thi đua tăng gia sản xuất, “Rủ nhau gửi đồ, uý lạo cho chiến sĩ ở tiền phương”.

Cùng ngày, Bác Hồ còn viết thư khen ngợi các chiến sĩ bị thương “xứng đáng với Tổ quốc và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên những người con yêu quý như thế”. Đồng thời khen ngợi các thầy thuốc và cán bộ đã hết lòng chăm sóc thương binh: “Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc”.

Cuộc kháng chiến thành công đã được 4 năm, ngày 8/1/1958 sau khi tiếp Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp trong vườn của Phủ Chủ tịch, Bác Hồ tiếp tục chủ trì cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, Bác đã đưa ra những yêu cầu lãnh đạo các bộ phải học tập kinh nghiệm làm kế hoạch của các nước bạn, kế hoạch khi đã được thông quan phải trở thành pháp lệnh của nhà nước buộc mọi người phải chấp hành nghiêm chỉnh, phải quan tâm giáo dục tư tưởng và xây dựng tác phong cần kiệm, sâu sát thực tế và phải “kiên quyết chống quan liêu, chống lãng phí. Các bộ, các ngành mắc khuyết điểm nghiêm trọng về lãng phí phải kiểm điểm trước nhân dân”.

Ngày này năm sau, ngày 8/1/1959, Xưởng may 10 của Tổng cục Hậu cần có vinh dự được Bác Hồ đến thăm. Nửa thế kỷ qua, nhà máy này đã không ngừng trưởng thành đến nay đã trở thành một nhà máy có một thương hiệu nổi tiếng trong ngành may mặc nước ta.

X&N
bee.net.vn

Đoàn kết Lương Giáo – một quan điểm xuyên suốt của Đảng

Đêm Giáng sinh an lành tại Thủ đô Hà Nội. (Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết Lương Giáo, phát huy các giá trị nhân văn trong tôn giáo và với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhất quán khẳng định vị trí và vai trò của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội qua việc thực hiện chiến lược đoàn kết dân tộc và tôn giáo…

1. Đoàn kết Lương Giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đoàn kết toàn dân tộc

Đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng, nhất quán trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Đây là một bài học mang tính lịch sử. Giai đoạn nào chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo được thực hiện tốt thì đất nước thái bình, các thế lực ngoại bang cũng ít nhòm ngó.

Đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc đã trở thành tư tưởng xuyên suốt, một chiến lược cách mạng quan trọng của Đảng ta. Cơ sở của chiến lược này là luôn tôn trọng và bảo đảm trên thực tế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, không tôn giáo; đoàn kết tôn giáo; hoà hợp dân tộc. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương để dễ bề thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết”(1), và đây đã trở thành một trong sáu nhiệm vụ của nhà nước non trẻ. Điều này xuất phát từ một lẽ hiển nhiên là, người Việt Nam, dù theo tôn giáo, tín ngưỡng hay không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng có chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc Hồng. Do vậy, đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề tất yếu, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng. Trong mối quan hệ giữa dân tộc và nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, và nhân dân chỉ có thể được tự do khi đất nước độc lập. Điều này là ước nguyện của mọi người dân, dân tộc bị áp bức, kể cả đồng bào có đạo. Người viết: “Hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do”(2), do vậy, “toàn thể đồng bào ta, không chia Lương Giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo tự do”(3).

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi vấn đề đoàn kết Lương Giáo là một nội dung quan trọng của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về đoàn kết toàn dân, về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo.

Từ việc xác định tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, năm 1990, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 24/NQ-TƯ, về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là: “tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đoàn kết Lương Giáo, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(4).

Những quan điểm này được tiếp tục thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (1991); Văn kiện Đại hội VII, VIII, IX. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (năm 2003), về Công tác tôn giáo cũng khẳng định:

“- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

– Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào,…

– Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”(5).

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4/2006) tiếp tục khẳng định: Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ… Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân (6).

Gần đây nhất, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục nhất quán khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(7). Đây chính là cơ sở quan trọng nhằm đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta – giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

2. Phát huy các giá trị trong tôn giáo, tín ngưỡng nhằm đoàn kết lương giáo xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đây cũng là một trong những nhận thức lại của Đảng ta về vị trí, vai trò của tôn giáo, là giải pháp quan trọng nhằm phát huy tính tích cực của tôn giáo, làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời, ngăn chặn có hiệu quả những hành vi lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Hồ Chí Minh từng cho rằng, học thuyết của Khổng Tử, Thiên chúa giáo của Giêsu, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên và chủ nghĩa Mác đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Do vậy, trong quan niệm và hoạt động thực tiễn của mình, Người luôn tôn trọng vai trò của các tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của các tầng lớp nhân dân; phát huy các giá trị mang tính nhân văn trong các tôn giáo để tiến tới xây dựng một nước Việt Nam đoàn kết, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết Lương Giáo, phát huy các giá trị nhân văn trong tôn giáo và với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhất quán khẳng định vị trí và vai trò của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội qua việc thực hiện chiến lược đoàn kết dân tộc và tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của các tầng lớp nhân dân; phát huy các giá trị mang tính nhân văn của các tôn giáo trong xây dựng đạo đức xã hội, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Các quan điểm trên đã được khẳng định trong Nghị quyết 24-NQ/TƯ của Bộ Chính trị, về các Văn kiện và nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Nghị quyết 24-NQ/TƯ nhấn mạnh, cần phải: “khắc phục nhận thức thiển cận đối với tôn giáo và thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo”(8).

Điều 5, Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo, ngày 18/6/2004, khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “tôn trọng giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”(9). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(10).

3. Bảo đảm sự đoàn kết lương giáo trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, đồng thời nghiêm trị mọi hành động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung và đoàn kết lương giáo nói riêng.

Hiến pháp và pháp luật là cơ sở quan trọng, bảo đảm chiến lược đoàn kết lương giáo nói riêng, đại đoàn kết dân tộc nói chung. Đây chính là những sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng về đoàn kết lương giáo, là cụ thể hóa quyền lực của nhà nước trong việc bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết Lương Giáo.

Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004) đều nhất quán khẳng định quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Các quyền này thể hiện ở các điểm sau:

– Mọi công dân Việt Nam đều có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo, tín ngưỡng bất kỳ và đây là một trong những quyền dân chủ quan trọng. Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau.

– Các tôn giáo dù lớn hay nhỏ (ít hay nhiều tín đồ) đều bình đẳng trước pháp luật cả về quyền lợi và nghĩa vụ. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

– Nhà nước luôn tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp của các tôn giáo; động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

– Nhà nước bảo đảm quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật; tôn trọng giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo.

– Mọi sự xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân đều bị pháp luật nghiêm khắc trừng trị.

– Nhà nước Việt Nam tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước, bảo đảm khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tóm lại, trong những năm qua, nhất là thời kỳ đổi mới, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề đoàn kết toàn dân tộc nói chung, đoàn kết lương giáo nói riêng có những phát triển vượt bậc. Điều này thể hiện rõ nét qua xu hướng chủ đạo trong hoạt động của các tôn giáo là gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với phương châm “Tốt đời, đẹp đạo”, các tôn giáo ở Việt Nam đã có những định hướng hành đạo tiến bộ, như: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Thiên chúa giáo; “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc” của Hội thánh Tin lành Việt Nam; “Nước vinh, đạo sáng” của Cao Đài… Các khuynh hướng này vừa phù hợp với đạo lý, truyền thống, văn hóa của dân tộc, vừa phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và xu hướng phát triển của thời đại./.

TS. Nguyễn Dương Hùng
___________________________

(1), (3) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.4, tr.9, 490.
(2) – Sđ d, t.5, tr.44.
(4), (8) – Nghị quyết 24-NQ/TW về Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
(5) – ĐCSVN: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb. CTQG, H, 2003.
(6) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H.2006, tr.122-123.
(7), (10) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H.2011, tr.81, 245.
(9) – Xem: Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo.

Theo http://www.tuyengiao.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bến cảng Sài Gòn – nơi mở đầu hành trình vĩ đại của Người

(Dân trí) – Từ bến cảng Sài Gòn, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một cuộc hành trình vĩ đại, vô cùng gian lao. Suốt 30 năm bôn ba Người đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

Ngày 31/5, Thành ủy TPHCM đã phối hợp với Ban tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch tổ chức hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”.

Hơn 500 đại biểu là cán bộ lãnh đạo Đảng và nhà nước, cán bộ lão thành cách mạng, đại diện các tầng lớp nhân dân đến tham dự hội thảo

Tham dự hội thảo có ông Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng; ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; ông Đinh Thế Huynh, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; ông Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TPHCM; Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an…

Khai mạc hội thảo, ông Đinh Thế Huynh phát biểu: “Cách đây 100 năm, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Sài Gòn, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã ra đi tìm đường cứu nước. Đó là thời điểm sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta bế tắc về đường lối, như trong đêm tối không có đường ra. Biết bao cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước bị thực dân đàn áp, bị dìm trong bể máu và đều thất bại”.

Trong bối cảnh lịch sử đó, Bác Hồ đã ra đi với đôi bàn tay trắng, ra đi để tìm kiếm một con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Ông Đinh Thế Huynh nhìn nhận: “Đó là sự mở đầu cho một cuộc hành trình vĩ đại, vô cùng gian lao, quả cảm và sáng tạo suốt 30 năm đi tìm chân lý, tìm con đường giải phóng cho cả dân tộc Việt Nam”.

Từ bến cảng Sài Gòn, Người đã ra đi tìm đường cứu nước (ảnh tư liệu)

Phát biểu báo cáo đề dẫn hội thảo, Phó bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua cho biết: “Mục đích của hội thảo là nhằm nâng cao nhận thức và tôn vinh công ơn trời biển của Bác Hồ, khẳng định ý nghĩa lịch sử và thời đại của sự kiện Bác Hồ ra đi ngày 5/6/1911 như một mốc son trong lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng; khẳng định lựa chọn sáng suốt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam”.

Ông Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tương Văn hóa Trung ương cũng đồng tình với ý kiến trên. Theo ông thì ngày 5/6/1911 là ngày có ý nghĩa lịch sử trọng đại, bởi vì “đó là ngày từ cảng Sài Gòn, Người đã ra đi tìm đường cứu nước và đã tìm được con đường đúng”.

Với ý nghĩa quan trọng này, hội thảo đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các cán bộ lãnh đạo Đảng và nhà nước, các cán bộ lão thành cách mạng, các nhà khoa học… Đến ngày hội thảo khai mạc, ban tổ chức đã nhận được 137 bài tham luận, trong đó có tham luận của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười và nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu.

Các tham luận xoay quanh 4 nội dung chính là: Bối cảnh lịch sử của đất nước và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Sự lựa chọn của Người khi Người chọn ra đi từ thành phố Sài Gòn; Hành trình tìm đường cứu nước vĩ đại trong suốt 30 năm của Người; Quyết tâm vững bước theo con đường cách mạng mà Người đã chọn.

Bác bắt đầu ra đi tìm đường cứu nước bằng chính sức lao động của đôi bàn tay mình trên con tàu Amiral Latouche Tre1ville (ảnh tư liệu)

Trong tham luận của mình, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nhấn mạnh, chúng ta phải kiên trì đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân lựa chọn; để kiên định và kiên trì con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn thì trong mọi hoạt động của Đảng, phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam.

Ông cho rằng: “Đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là một cuộc đấu tranh để xây dựng cái mới và loại trừ cái cũ không còn phù hợp, là sự nghiệp mãi mãi của các thế hệ Việt Nam. Chúng ta khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển nổi, tiếp tục thực hiện con đường cách mạng vinh quang đó tới đích”.

Trong tham luận “Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: “Ngay sau khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Người khẳng định, đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất thật rộng rãi, dùng máy móc trong công nghiệp và trong nông nghiệp… Đó là con đường phải đi của chúng ta, con đường công nghiệp hóa nước nhà”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao đổi cùng nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu bên lề hội thảo
Cũng trong tham luận này, Thủ tướng chia sẻ: “Lịch sử có những sự trùng hợp thú vị. Từ thành phố này, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Và Thành phố này cũng là một nơi khởi phát mạnh mẽ những tìm tòi con đường đổi mới, đưa nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20, dẫn đến quyết định lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ VI. Trong 25 năm qua, TPHCM luôn giữ được vai trò tiên phong trong tiến trình đổi mới theo đường lối của Đảng”.

Và Thủ tướng gửi gắm nhiệm vụ cho lãnh đạo TPHCM: “Cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, các dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, xây dựng nền nông nghiệp sạch, đi đôi với đầu tư phát triển nhanh kết cấu hạ tầng và tăng cường chất lượng quản lý đô thị, tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc. Đồng thời, Thành phố phải rất coi trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để đi đầu trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tri thức.”.

Thủ tướng tin tưởng từ thành công đó của TPHCM sẽ tạo tác động lan tỏa góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở cả khu vực phía Nam và trong cả nước. Ông cho rằng: “Đây là sứ mệnh rất vẻ vang của Đảng bộ và quân dân Thành phố mang tên Bác. Chúng ta tin tưởng rằng Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phát huy truyền thống tốt đẹp, làm tốt hơn nữa vai trò tiên phong của mình trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Khi đọc tham luận của mình, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải xúc động: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả cuộc đời Người hiến dâng trọn vẹn cho tổ quốc, cho nhân dân. Lúc ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng, lúc trở về gây dựng cả một giang sơn gấm vóc, nhưng là để lại cho muôn đời con cháu mai sau. Còn đối với người thì “sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức phúng điếu linh đình để lãng phí tiền bạc và thời giờ của nhân dân”. Nguyễn Tất Thành – Nguyển Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người vô cùng bình dị và thật là vĩ đại”.

Ông thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP hứa: “TP nguyện xây dựng đảng bộ thật sự trong sạch, vững mạnh để vững bước theo con đường Người đã chọn, để xứng đáng được mãi mãi là thành phố mang tên Hồ Chí Minh”.

Tùng Nguyên
dantri.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, ngọn cờ chỉ đường chiến thắng của quân và dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước

Ðại thắng mùa Xuân 1975 để lại những bài học sâu sắc về sức mạnh toàn dân đánh giặc, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng lùi xa với thời gian, ý nghĩa tư tưởng đó của Người càng lung linh tỏa sáng.

Tư tưởng chiến tranh nhân dân là một bộ phận trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại. Ðó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân…

Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ lãnh đạo, ngọn cờ tập hợp, ngọn cờ động viên, cổ vũ nhân dân ta, quân đội ta làm nên kỳ tích vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám, những chiến công lừng lẫy suốt 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân được phát huy lên những đỉnh cao mới. Tư tưởng ấy xuất phát từ tính chất cuộc chiến tranh chống xâm lược, chiến tranh yêu nước, chính nghĩa, cách mạng của thời đại. Ðó là chiến tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân, mở đường đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Ðảng CS Việt Nam.

Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Bác Hồ viết: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Bước vào cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đề ra hai chiến lược cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Ở thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, xây dựng quyết tâm giành độc lập cho dân tộc, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc là đặc điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân. Trước tội ác “trời không dung, đất không tha” của giặc Mỹ – tay sai, Bác Hồ khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”, “Vì độc lập, Vì tự do,/ Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Với quyết tâm ấy, dưới ngọn cờ của Ðảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta đã xốc tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 lịch sử.

Từ khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta hiểu sâu hơn tư tưởng của Người về chiến tranh nhân dân. Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của quần chúng trong chiến tranh nhân dân Việt Nam hiện đại. Trước thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã từng tiến hành nhiều cuộc chiến tranh với sự tham gia của nhân dân ở mức độ khác nhau, đã đánh bại nhiều thế lực xâm lược hung bạo, trong đó có cả kẻ thù sừng sỏ Mông – Nguyên. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, dân tộc ta lại phải lần lượt đương đầu với những kẻ thù hoàn toàn mới, khác hẳn với các kẻ thù thời trước. Ðiều kiện lịch sử mới phải có lý luận mới về chiến tranh nhân dân hiện đại, trong đó việc xác định đặc điểm thời đại, tính chất chiến tranh, nguồn lực cơ bản để tiến hành kháng chiến được đặt lên hàng đầu. Bởi vậy, ngay trong thời kỳ chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong phạm vi cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự khác nhau giữa chiến tranh hiện đại và chiến tranh trước đây, qua đó xác định vai trò và nguồn lực chủ yếu trong chiến tranh hiện đại.

Người viết “Trước kia, chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay, đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia, chỉ đánh nhau về mặt quân sự, ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh. Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể thắng lợi được”(1).

Bước sang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Người phát triển quan điểm trên và nhấn mạnh: Phải nâng cao kiến thức quân sự cho toàn dân, “Giáo dục nhân dân từ các cháu đến ông già, bà cả về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân”, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy cao độ tinh thần yêu nước và mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu. Người còn căn dặn: Nói giành thắng lợi quân sự, nhưng phải chú ý đến giữ sức dân, người của kiệt thì quân nhiều không đánh được.

Quán triệt tư tưởng của Người, trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Ðảng và Nhà nước ta hết sức chăm lo cho nhân dân về đủ mọi mặt. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân cả nước trở thành một khối thống nhất, cao trào cách mạng dâng cao trong mọi giới, mọi ngành. Ðó là phong trào hành động cách mạng: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền nam ruột thịt”, “Chắc tay súng, vững tay cày”, “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Làm nghìn việc tốt”. Nhờ vậy, sức mạnh chiến đấu của toàn dân Việt Nam trên cả hai miền nam – bắc được nhân lên gấp bội, phát triển mạnh mẽ. Sự đóng góp sức của, sức người “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” của nhân dân miền bắc là tấm lòng, là quyết tâm của cả nước đối với sự nghiệp giải phóng miền nam.

Trong giai đoạn cuối chiến tranh “toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt” được phát huy cao độ, kết hợp với sức mạnh của thời đại, thực lực cách mạng ngày càng lớn mạnh. Nhờ có thực lực cách mạng mạnh, ta đã tạo ra thời cơ và khi thời cơ đến, ta nhanh chóng mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thứ hai, Người nhấn mạnh phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, giữ vững chủ động trong chiến tranh: Ðộc lập, tự chủ và giữ vững chủ động là hai quan điểm nổi tiếng mà Người đã nêu ra. Từ quan điểm đó, Người xác định sức mạnh của công cuộc giải phóng: “Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân anh em.”

Quán triệt sâu sắc tư tưởng đó của Người, trong các chặng đường cách mạng, Ðảng ta luôn luôn chủ động, độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối cách mạng cũng như trong việc tổ chức lực lượng và chỉ đạo thực tiễn sắc bén để giải quyết các vấn đề trọng đại của đất nước.

Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, phát biểu tại Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ sáu (7-1954), Người khẳng định: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”(2). Năm 1956, viết bài đăng trên báo Sự Thật (Liên Xô) Người nêu rõ là trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách của mỗi Ðảng cộng sản. Người giải thích với bạn bè quốc tế: “Dân tộc Việt Nam phải vạch ra những phương pháp và biện pháp riêng của mình để chống âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai hòng vĩnh viễn chia cắt đất nước cũng như để quá độ dần dần lên chủ nghĩa xã hội là điều thật rõ ràng…”(3).

Cân nhắc tất cả những nhân tố liên quan, theo định hướng lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định là con đường giải phóng miền nam chỉ là con đường cách mạng, đầu năm 1959, Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ 15 đã xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Dưới ánh sáng Nghị quyết của Ðảng, phong trào “đồng khởi” của nhân dân đã nổ ra, phát triển thành chiến tranh cách mạng; vừa đấu tranh chính trị vừa đấu tranh quân sự, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Hòng cứu vãn tình thế thất bại, đầu năm 1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp tham chiến ở miền nam, đồng thời dùng không quân, hải quân mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền bắc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đứng trước thử thách nghiêm trọng chưa từng thấy. Nhiều nước lo ngại Việt Nam khó có thể đương đầu nổi với Mỹ. Song, với tư duy biện chứng, khoa học, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá đúng sức mạnh của Mỹ, đồng thời cũng nhận rõ những hạn chế và chỗ yếu của đối phương, nên đã nhận định: Ðế quốc Mỹ đưa vào miền nam hàng chục vạn quân viễn chinh, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Từ nhận định đó, Ðảng ta chủ trương động viên lực lượng cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào.

Sau thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972 và chiến công vang dội của quân và dân ta đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng, giới cầm quyền Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước. Tuy nhiên, với bản chất cực kỳ tàn bạo và ngoan cố, đối phương đã phá hoại Hiệp định Paris một cách hệ thống. Trước tình hình đó, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ 21 BCH T.Ư Ðảng (10-1973) khẳng định: “Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, nắm vững đường lối chiến lược tiến công”.

Với tư tưởng chỉ đạo đó, từ cuối năm 1973, Quân khu 9 đã phản công địch lấn chiếm và đầu năm 1975, ta chủ động tiến công và giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng gần Sài Gòn. Thắng lợi đó giúp cho ta có thêm căn cứ thực tiễn quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên. Tây Nguyên thắng lợi tạo thời cơ thuận lợi cho quân dân ta giải phóng Huế – Ðà Nẵng và hội tụ lực lượng giải phóng Sài Gòn.

Sau này, trên cơ sở phân tích những tài liệu thu thập được, giới nghiên cứu chiến lược Mỹ đã phải chua chát thừa nhận: “Ưu thế hơn hẳn của chiến tranh cách mạng Việt Nam là nằm trong thế chiến lược chủ động. Mỹ như phải nhảy theo điệu nhạc chiến lược của Bắc Việt Nam. Chiến lược chủ động của Bắc Việt có một giá trị đặc biệt. Chúng ta thừa nhận chiến lược chủ động của Việt cộng”(4).

Chiến lược chủ động của chiến tranh cách mạng Việt Nam “có giá trị đặc biệt” như đối phương thừa nhận, có cơ sở tư tưởng là quan điểm về tính chủ động “nắm vững chủ động” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Người khẳng định rằng chiến tranh nhân dân phải có lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, có hậu phương vững mạnh. Căn cứ vào mục tiêu và động lực của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam hiện đại, tư tưởng chiến tranh nhân dân của Người đã đề cập một cách hệ thống các quan điểm về đoàn kết toàn dân, động viên sức mạnh toàn dân đánh giặc; vũ trang toàn dân đi đôi với việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân; phát huy ưu thế của chế độ mới và mọi nguồn lực của quốc gia, tranh thủ các nguồn lực quốc tế… Với hệ thống các quan điểm đó, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống thực dân Pháp  phát triển mạnh.

Ðến thời kỳ chống Mỹ, do đặc điểm đất nước ta tạm thời chia làm hai miền, do đối tượng của cách mạng khác trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển thêm các quan điểm ở những khâu chủ yếu như: phát huy cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược; xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng du kích và các hình thức đấu tranh của các lực lượng đó ở miền nam; sự phối hợp chiến đấu giữa các lực lượng chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền bắc, Người quan tâm nhiều đến hai khâu then chốt. Một là, phải xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện. Hai là, phải xây dựng hậu phương thật vững chắc.

Ở hai khâu then chốt này, Người lưu tâm việc xây dựng và phát triển các quân chủng, binh chủng kỹ thuật, nhất là không quân để “mở mặt trận trên không”, đến lực lượng cơ động và bộ đội tinh nhuệ, đến đội ngũ cán bộ cấp cao quân đội và cử những cán bộ có kinh nghiệm tác chiến tập trung vào chiến trường “cùng đồng bào miền nam đánh Mỹ cho kỳ thắng lợi”. Người nhiều lần dặn dò các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt ở chiến trường ra bắc họp là phải hết sức chăm lo xây dựng hậu phương tại chỗ ở miền nam. Người căn dặn các đồng chí hoạt động đối ngoại, nêu rõ là ta cần phát huy ưu thế chiến tranh chính nghĩa của ta, làm cho bạn tin vào cuộc chiến đấu của ta nhất định thắng lợi, để qua đó tranh thủ sự ủng hộ vật chất, tinh thần cao hơn trước. Người nhắc nhở các cấp ủy Ðảng phải quan tâm đến giao thông vận tải. Bởi vì, giao thông vận tải thắng lợi, tức là chiến tranh đã thắng lợi một phần rồi.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người, Ðảng ta đã đưa cuộc chiến tranh nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước phát triển nhảy vọt chưa từng thấy với nhiều nội dung và hình thức mới. Thêm vào đó, qua thực tiễn chiến đấu, quần chúng lại sáng tạo thêm nhiều  cách đánh hay, thắng gọn, làm cho cuộc chiến đấu của quân dân ta càng đa dạng về loại hình tác chiến, sâu đậm về tính nhân dân, phong phú về sự kết hợp giữa thô sơ với hiện đại. Quân Mỹ rơi vào thế trận đó, bị tiêu hao, bị tiêu diệt ngày càng nhiều, ý chí ngày càng suy sụp. Giới cầm quyền Mỹ, mặc dù nhiều cuồng vọng và mưu đồ, nhưng cuối cùng cũng nhận thấy Mỹ không thể thắng nổi đối phương, buộc phải rút quân về nước. Rơi vào thế trận chiến tranh nhân dân, quân ngụy bị đánh từ mọi phía, mọi nơi, tinh thần chiến đấu ngày càng giảm sút. Trong khi đó, ta càng đánh càng mạnh. Giai đoạn cuối chiến tranh, thế và lực của ta phát triển mạnh mẽ. Ðiều quan trọng là chất lượng chiến đấu của quân ta hơn hẳn quân địch. Các quân đoàn chủ lực cơ động chiến lược của ta đã đứng chân ở những địa bàn trọng yếu. Hệ thống đường giao thông vận tải, đường ống xăng dầu được nối thông suốt từ hậu phương đến tiền tuyến, đáp ứng nhu cầu chiến tranh hiện đại.

Xây dựng hậu phương theo tư tưởng Hồ Chí Minh, miền bắc đã phát huy sức mạnh to lớn của mình trong chiến tranh cách mạng. Vượt qua hai lần chiến tranh phá hoại khốc liệt của quân thù, miền bắc vẫn đứng vững và có bước phát triển mới. Trong chặng đường chống Mỹ, cứu nước, hợp tác xã nông nghiệp ở miền bắc giữ vững sản xuất và cung cấp hai triệu lao động cho lực lượng vũ trang và phục vụ chiến đấu. Trước khi vào Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, theo kế hoạch Bộ Chính trị thông qua, hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn 56 vạn tấn vật chất. Bằng sự cố gắng cao độ, hậu phương miền bắc đã hoàn thành vượt chỉ tiêu đó.

Bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các đơn vị bộ đội chủ lực đã được trang bị đầy đủ về mọi mặt. Các trang bị chủ yếu như: vũ khí, xe cộ, lương thực, thực phẩm… đều vượt mức yêu cầu. Ðược như thế là do miền bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng cả nước. Từ sức mạnh đó, quân dân ta đánh địch trên thế mạnh, áp đảo, kết thúc chiến tranh hợp với quy luật mạnh thắng, yếu thua.

Ðại thắng mùa Xuân 1975 để lại những bài học sâu sắc về nguồn sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân chống xâm lược. Ðó là sức mạnh toàn dân đánh giặc, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng lùi xa với thời gian, ý nghĩa tư tưởng đó của Người càng lung linh tỏa sáng.

Dưới ánh sáng tư tưởng chiến tranh nhân dân Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã làm nên chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, từng bước xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh như lời dặn của Bác Hồ kính yêu.

———————-

1. Q.Th: “Hình thức chiến tranh ngày nay”. Báo Cứu quốc ngày 20-09-1946.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sdd, 1996, trang 317.

3. Nghiên cứu Văn kiện Ðảng về chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự Thật, H, 1986, trang 325.

4. Davidson, Những bí mật của chiến tranh Việt Nam, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 12-1994, trang 46.

LÊ VĂN THÁI
(Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

nhandan.com.vn