Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 14)

74. Nghe tiếng giã gạo
Gạo đem vào giã bao đau đớn;
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông;
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.

 

Nhật ký trong tù,
Sđd, t.3, tr.350.

 

75. … Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư, thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những tính tốt như sau ngày càng thêm.

Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm…

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.

 

Sửa đổi lối làm việc
tháng 10-1947, sđd, t. 5, tr. 251-252.

 

76. … Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

…

Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình.

Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình.

Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. Mục đích là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm.

 

Sửa đổi lối làm việc
tháng 10-1947, sđd, t.5, tr. 261, 267.

 

77. Đối với người

… Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người…

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới.

Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – Ái.

Đối với việc

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết tâm làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm.

Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết tâm làm cho thành công.

Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh.
Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

 

Cần, kiệm, liêm, chính,
tháng 6-1949, sđd, t.5, tr. 644-645.

 

78. … Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Nhưng lại phải thấy rằng chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình.

… Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân.

Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó.

… Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người.

 

Đạo đức cách mạng,
tháng 12-1958, sđd, t. 9, tr. 291, 292, 293.

 

79. … Cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên càng phải giữ vững lập trường giai cấp, nâng cao tinh thần trách nhiệm, trau dồi đạo đức cách mạng, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao cho.

Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối và chính sách của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng.

Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng.

 

Đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mới,
ngày 3-2-1963, sđd, t. 11, tr. 23

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 13)

đ) Bệnh lười biếng – Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết không chịu nghiên cứu rõ ràng. Không lập tức đưa ngay mệnh lệnh và Nghị quyết đó cho cấp dưới, cho đảng viên, cho binh sĩ. Cứ xếp lại đó.

Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng.

Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng. Không đến nơi đến chốn.

Kết quả nhỏ là: Nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần.

Kết quả nặng là: Phá hoại tổ chức của Đảng, giảm bớt kỷ luật của Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi.

Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp…

e) Bệnh tị nạnh – Cái gì cũng muốn “bình đẳng”.

Thí dụ: Cấp trên vì công việc, phải cưỡi ngựa, đi xe. Cấp dưới cũng muốn cưỡi ngựa, đi xe.

Người phụ trách nhiều việc, cần có nhà rộng, người không phụ trách nhiều việc, cũng đòi nhà rộng.

Phụ cấp cho thương binh cũng muốn nhất loạt, không kể thương nặng hay nhẹ.

Làm việc gì, thì muốn già, trẻ, mạnh, yếu đều làm bằng nhau.

Có việc, một người làm cũng được, nhưng cũng chờ cho đủ mọi người mới chịu làm.

Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng. Không hiểu rằng: người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng…

g) Bệnh xu nịnh, a dua – Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái…

Sửa đổi lối làm việc,
tháng 10-1947, sđd, t. 5, tr. 255-261.

72. … Bệnh quan liêu mệnh lệnh từ đâu mà ra?

Nguyên nhân bệnh ấy là:

Xa nhân dân: do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cũng làm cũng được.

Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân…

Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, dọa nạt dân!

Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.

Cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là:

Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính, để nhân dân noi theo.

Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh
ngày 2-9-1951, sđd, t. 6, tr. 292-293.

73. … Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người. Nhân dân lao động ta làm lụng đổ mồ hôi sôi nước mắt để góp phần xây dựng của công – của Nhà nước và của tập thể.

Của công ấy là nền tảng vật chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là nguồn gốc chủ yếu để nâng cao đời sống của nhân dân ta.

Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư. Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức cách mạng.

… Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước, của tập thể thì lãng phí cũng có tội. Ví dụ: Tên A tham ô 1.000 đồng, tên B lãng phí 1.000 đồng. Kết quả tai hại đến của công thì B cũng chẳng khác gì A.

Lãng phí có nhiều hình thức: hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo, ví dụ làm một ngôi nhà không hợp thức, làm xong rồi phải phá đi làm lại. Hoặc vì tính toán không cẩn thận, điều động hàng trăm hàng nghìn con người đến công trường, nhưng chưa có việc gì làm hay là người nhiều việc ít, phải để họ trở về. Hoặc vì xa xỉ, phô trương hình thức, nào liên hoan, nào “báo chí”, nào kỷ niệm, sắm sửa lu bù, xài tiền như nước, v.v…

Nói tóm lại, lãng phí là vì thiếu tinh thần trách nhiệm, không có ý thức quý trọng sức của, sức người của Nhà nước, của nhân dân.

… Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc cần phải làm, việc gì cũng nắm không vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung.

Vì vậy, bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô…

Việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường xuyên. Nó có hai ý nghĩa quan trọng:

– Nó làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, ý thức bảo vệ của công, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân.

– Nó giúp cho cán bộ và đảng viên ta giữ gìn phẩm chất cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Do đó mà nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm…

Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước,
ngày 24-7-1962, sđd, t. 10, tr. 573-574, 575

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 12)

III. CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH ĐẠO ĐỨC MỚI, PHÊ PHÁN NHỮNG HIỆN TƯỢNG PHI ĐẠO ĐỨC

71. … a) Bệnh tham lam – Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư, tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình.

Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình.

b) Bệnh lười biếng – Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết. Làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì giành lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh.

c) Bệnh kiêu ngạo – Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình.

Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác.

d) Bệnh hiếu danh – Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực.

đ) Thiếu kỷ luật – Đã mắc bệnh cá nhân thì tư tưởng và hành động cũng đặt cá nhân lên trên, vì thế mà việc gì cũng không lấy Đảng làm nền tảng. Mình muốn thế nào thì làm thế ấy. Quên cả kỷ luật của Đảng. Phê bình thì cốt công kích những đồng chí mình không ưa. Cất nhắc thì cốt làm ơn với những người mình quen thuộc.

e) Óc hẹp hòi – Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ta uất ức và mình thành ra cô độc.

g) Óc địa phương – Bệnh này tuy không xấu bằng bệnh kia nhưng kết quả cũng rất tai hại. Miễn là cơ quan mình, bộ phận mình, địa phương mình được việc. Còn các cơ quan, bộ phận, địa phương khác ra sao cũng mặc kệ. Đó là vì cận thị, không xem xét toàn thể. Không hiểu rằng lợi ích nhỏ phải phục tùng ích lợi to, ích lợi bộ phận phải phục tùng ích lợi toàn thể.

h) Óc lãnh tụ – Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi.

Nào có biết so với công cuộc giải phóng cả dân tộc thì những thành công đó chỉ là một phút cỏn con, đã thấm vào đâu! Mà so với những sự nghiệp to tát trong thế giới, càng không thấm vào đâu.

Cố nhiên, Đảng ta mong cho có nhiều anh hùng, nhiều lãnh tụ, được dân tin, dân phục, dân yêu. Những anh hùng và lãnh tụ như thế là của quý của Đảng, của dân tộc. Song, những anh hùng và lãnh tụ như thế đều do tranh đấu và kinh nghiệm rèn luyện ra, đều do dân chúng và đảng viên tin cậy mà cử ra; chứ không phải tự mình muốn làm lãnh tụ, làm anh hùng mà được.
Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, lãnh tụ.

… Những bệnh khác

a) Bệnh “hữu danh, vô thực” – Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch.

Thí dụ việc tổ chức – Trong báo cáo thì làng nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có. Hạng người nào cũng có. Có hàng vạn hàng ức người. Nhưng khi soạn lại cặn kẽ, hỏi lại rõ ràng, những nơi đó có bao nhiêu người, những tổ chức đó đã làm việc gì, cán bộ đã đến đó mấy lần, đã làm gì cho những tổ chức đó, thì chưa có gì thiết thực hết.

Thế là không làm tròn nhiệm vụ của mình. Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm.

b) Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa.

Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống.
Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái , đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ.

c) Bệnh cận thị – Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ. Thí dụ: Việc tăng gia sản xuất, việc tiếp tế bộ đội thì không lo đến, mà chỉ lo thế nào để lợi dụng cơm cháy và nước gạo trong các bộ đội.

Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn.

b) Bệnh “cá nhân”

1. Việc gì không phê bình trước mặt để nói sau lưng. Khi khai hội thì không nói, lúc khai hội rồi mới nói. Không bao giờ đề nghị gì với Đảng. Không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng. Muốn sao Làm vậy.

2. Muốn làm xong việc, ai có ưu điểm cũng không chịu học theo, ai có khuyết điểm cũng không dám phê bình.

3. Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình.

4. Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí.

5. Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ.

6. Gặp dân chúng thì không điều tra, không hỏi han, không tuyên truyền, không giải thích. Xem như dân chúng không có quan hệ gì với mình.

7. Thấy những việc có hại đến dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không ngăn cản, không giải thích.

8. Làm việc không có kế hoạch, gặp sao làm vậy, làm lấy lệ, làm không có ngăn nắp, làm không đến nơi đến chốn.

9. Tự cho mình là “cách mạng già”, “cách mạng cũ”; việc to làm không nổi, việc nhỏ không chịu làm. Làm việc thì lờ mờ, học hành thì biếng nhác.

10. Biết mình có khuyết điểm, nhưng không chịu cố gắng sửa đổi.
Những tật bệnh đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để, Đảng xa rời dân chúng.

Mắc phải bệnh đó thì sẽ đi đến chỗ để lợi ích cá nhân lên trên, để lợi ích Đảng và dân tộc xuống dưới.
…

(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Đoàn H75 hoàn thành tốt chương trình tập huấn cán bộ tiểu đội năm 2012

Học viên thực hành luyện tập động tác nghiêm

Để nâng cao phẩm chất, năng lực và phương pháp tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ các cấp, làm cơ sở nâng cao chất lượng quản lý, rèn luyện bộ đội ở đơn vị làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ, từ ngày 20/02 đến ngày 27/2/2012, Đoàn H75, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức lớp tập huấn cán bộ tiểu đội cho 40 đồng chí hạ sĩ quan – binh sỹ.

Trong thời gian 08 ngày, các đồng chí tham gia lớp tập huấn được trang bị những kiến thức cơ bản về chức trách, nhiệm vụ của cán bộ tiểu đội, trực ban nội vụ, quyền hạn khen thưởng và xử phạt, quy định về tổ chức canh phòng và chức trách người gác trong Điều lệnh Quản lý bộ đội; phương pháp tổ chức và huấn luyện điều lệnh đội ngũ nội dung từng người tay không và có súng, phương pháp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện, xây dựng chính quy và rèn luyện bộ đội; thống nhất động tác các bài thể dục buổi sáng, võ thể dục và phương pháp, nội dunng huấn luyện, rèn luyện thể lực cho bộ đội.

Đánh giá kết quả lớp tập huấn, Thượng tá Lâm Văn Hoan, Phó Đoàn trưởng – Tham mưu trưởng Đoàn H75 cho biết: Lớp tập huấn đã hoàn thành tốt nội dung, chương trình đề ra. Các đồng chí hạ sĩ quan – binh sỹ đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục thời tiết mưa rét, tích cực tập luyện, ôn luyện, kiểm tra 100% đạt yêu cầu, gần 80% đạt khá, giỏi.

Tập huấn cán bộ tiểu đội là một nội dung mới trong kế hoạch công tác năm 2012. Quá trình tập huấn là quá trình truyền thụ kinh nghiệm trong quản lý, chỉ huy và thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị, nhằm thống nhất nội dung, tổ chức và phương pháp huấn luyện, rèn luyện bộ đội, nâng cao trình độ, năng lực quản lý chỉ huy của cán bộ tiểu đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị, qua đó làm cho cán bộ tiểu đội thấy rõ vị trí, vai trò của mình trên cương vị chức trách được giao, gắn với trách nhiệm trong quá trình tổ chức chỉ huy và quản lý bộ đội thực hiện nhiệm vụ./.

Đàm Việt Dũng
cpv.org.vn

VN đạt nhiều thành tựu bảo đảm quyền con người

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị.
(Ảnh: Thể thao Văn hóa)

Theo Vụ Thông tin Báo chí, Bộ Ngoại giao, ngày 8/3, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ đã thông qua “Dự luật Nhân quyền Việt Nam,” Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị nói, dự luật này đã đưa ra những thông tin sai trái, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam.

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Ông Lương Thanh Nghị nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng mọi khác biệt về vấn đề quyền con người cần được trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tăng cường hiểu biết và góp phần thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã tiến hành đối thoại với Hoa Kỳ về vấn đề quyền con người.”/.

(Vietnam+)
vietnamplus.vn

Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Trong Di chúc, Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sán xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng”

GS, TS Nguyễn Lân Dũng

Trong một lần trả lời phỏng vấn Đài phát thanh BBC (Anh) nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ tại Việt Nam. Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc, nhân loại và từ đó giải phóng chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai. Người xác định rõ, bất bình đẳng nam nữ không đơn thuần là bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng lạc hậu mà chủ yếu là do chế độ kinh tế xã hội. Hồ Chí Minh là lãnh tụ Việt Nam đầu tiên kêu gọi “Thực hiện nam nữ bình quyền”, coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ là mọt mục tiêu của cách mạng.

Đồng chí Vũ Kỳ nhớ lại: “Một lần, tới dự Hội nghị, nhìn dọc Hội trường Bác hỏi: này các chú, phụ nữ đâu không thấy ngồi hàng đầu ? Bác hỏi tiếp: Các cô có đấy không ? Có ạ. Vậy mời lên đây ngồi. Ngay việc ngồi cũng không bình đẳng. Phụ nữ muốn bình đẳng không phải bảo Đảng, Chính phủ hay nam giới mời ngồi mà phải tự đấu tranh để giành lấy.

Đó là lời dặn mà cũng là mong muốn của Bác. Bác thường nhắc: Lực lượng phụ nữ không nhỏ, có khi còn đông hơn nam giới. Ở Việt Nam nói riêng và Châu Á, Châu Phi nói chung, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ rất rõ rệt. Do ý thức hệ phong kiến đã đè nặng lên tư tưởng phụ nữ từ bao đời nay. Vì thế, mọi đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ bao giờ cũng phải chú ý đến phụ nữ…

Bác còn trực tiếp đào tạo nhiều người trở thành cán bộ cách mạng. Hãy đọc lại hồi ký của bà Nông Thị Trưng viết về Bác: “Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm, người giữ trạm đầu nguồn đưa chúng tôi đến gặp ông Ké. Đến nơi, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Bên bờ suối có một cái lán, trong lán, một ông cụ đang ngồi đọc sách. Tôi chấp tay: Cháu chào cụ ạ. Ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện. Cụ bảo 2 lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên: “Từ nay cháu đã có gia đình lớn là cách mạng, đừng nên luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu có cặm cụi làm ăn cũng không đủ nộp sưu thuế. Mình lấy lại được nước rồi sẽ khác”. Bác đặt cho tôi tên Trưng cũng là vì muốn tôi noi theo gương của bà Trưng khi xưa.

Từ đấy, tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ học tập Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản đến cả những cách ứng xử hàng ngày: Đừng làm việc gì khiến dân mất lòng tin. Mượn 1 cái kim, 1 con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi… Tám tháng được Bác chỉ dạy, tôi học được nhiều hơn mấy chục năm học lý luận tập trung sau này”.

Khi bàn về việc bầu Chủ nhiệm HTX nông nghiệp, Bác đề nghị bầu nhiều phụ nữ vào cương vị này bởi: “Phụ nữ làm chủ nhiệm đâu có đánh chén. Chủ nhiệm nữ thật thà, phải đưa nhiều phụ nữ tham gia làm chủ nhiệm”.

Trong Di chúc, Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sán xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng”.

Theo Nhịp cầu đầu tư
Người đưa tin: NBC

haugiang.gov.vn

Nguyễn Ái Quốc với Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3

Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển tột bậc, nhất là ở Mỹ và các nước Tây Âu, nhiều phụ nữ và trẻ em phải làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, bị chủ tư bản bóc lột và trả lương rẻ mạt, đời sống vô cùng cực khổ, khó khăn. Căm phẫn trước sự áp bức đó, ngày 8-3-1899, tại hai thành phố Chi-ca-gô và Niu-óoc (Mỹ) một cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nữ công nhân ngành dệt may đã nổ ra đòi tăng lương, giảm giờ làm và cuối cùng buộc bọn chủ tư sản phải nhượng bộ.

Tháng 2-1909, lần đầu tiên phụ nữ khắp nơi trên nước Mỹ tổ chức mít tinh “Ngày Phụ nữ”, biểu tình rầm rộ đòi quyền bình đẳng. Những cuộc đấu tranh đầu tiên của nữ công nhân Mỹ đã có tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của phụ nữ lao động trên toàn thế giới. Trong phong trào đấu tranh lúc bấy giờ, xuất hiện nữ chiến sĩ cách mạng lỗi lạc người Ðức là bà Cơ-la-ra Det-kin. Cơ-la-ra Det-kin sinh ra trong một gia đình nhà giáo ở vùng nông thôn Ai-xuê nước Đức, lớn lên Cơ-la-ra học tại một trường tư thục ở Lai-xích.

Cơ-la-ra Det-kin

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Cơ-la-ra Zet-kin hoạt động trong phong trào công nhân và sau đó gia nhập Đảng xã hội dân chủ Đức. Vì bị khủng bố và truy lùng, từ năm 24 tuổi, Cơ-la-ra sang nước ngoài hoạt động, trở thành một chiến sĩ cộng sản, chủ bút của tạp chí Bình đẳng do chính bà sáng lập năm 1890.

Năm 1907, Đại hội Phụ nữ quốc tế được triệu tập theo đề nghị của Cơ-la-ra Det-kin, sau đó một tổ chức quốc tế của phụ nữ ra đời và Cơ-la-ra được bầu làm Bí thư đầu tiên. Năm 1910, theo sáng kiến của bà, Hội nghị Phụ nữ quốc tế họp tại Cô-pen-ha-ghen (Đan Mạch) đã lấy ngày 8-3 hằng năm làm ngày đấu tranh cho quyền tự do, bình đẳng của phụ nữ trên toàn thế giới.

Trong thời kỳ diễn ra nhiều hoạt động đấu tranh sôi nổi của phụ nữ thế giới nhằm giành quyền bình đẳng, Nguyễn Tất Thành đang bôn ba ở hải ngoại tìm đường cứu nước, Người phải làm thuê nhiều công việc nặng nhọc để kiếm sống ở các nước Mỹ, Anh, Pháp.

Tháng 10-1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội Tua và gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Tại Đại hội này, Cơ-la-ra Det-kin với cương vị là Ủy viên Đoàn Chủ tịch của Quốc tế Cộng sản đã đọc một bài diễn văn quan trọng. Bài diễn văn của Cơ-la-ra đã làm cho Nguyễn Ái Quốc hiểu thêm về Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười Nga, cũng như mối hiểm họa mà bọn cơ hội đang rắp tâm gây ra cho giai cấp vô sản thế giới; đồng thời cũng giúp Người biết thêm tình hình thế giới, phong trào phụ nữ quốc tế và những thành quả sau mười năm thành lập. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã làm quen với Cơ-la-ra. Với tình hữu ái vô sản và nhất là sự cảm phục tấm lòng yêu nước của Người, bà đã giúp Nguyễn Ái Quốc học tiếng Đức và trao đổi nhiều vấn đề về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của giai cấp công nhân và nhân dân hai nước Đức, Việt.

Năm 1913, Nguyễn Ái Quốc gặp lại Cơ-la-ra tại Mát-xcơ-va, hai chiến sĩ cộng sản đã kể cho nhau nghe chặng đường hoạt động cách mạng đầy gian khó nhưng vinh quang của mình, càng thêm gắn bó hơn về trách nhiệm của mỗi người đối với Quốc tế Cộng sản và phong trào công nhân thế giới. Giữa thập niên 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc sang hoạt động cách mạng ở Liên Xô, Trung Quốc, từ những trao đổi cùng Cơ-la-ra, Người đã tích lũy được nhiều tư liệu quý để viết bài về “Phụ nữ quốc tế” với 3 nội dung: Vì sao lập ra Phụ nữ quốc tế? Lịch sử Phụ nữ quốc tế thế nào? Cách tổ chức của Phụ nữ quốc tế ra sao?

Phần đầu của bài “Phụ nữ quốc tế”, Người đã viết những lời thật giản dị mà thấm thía:

“Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tấn bộ ra thế nào”.

Ông Lênin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”…

Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia. Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sác-lốt Coóc-đây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, bà Luy Mi-sen ra giúp tổ chức Pa-ri Công xã. Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1.854 người. Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào. Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước”.(*)

Tại Đại hội Phụ nữ Quốc tế lần thứ 3 ở Mát-xcơ-va năm 1924, với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đến dự, đại diện cho ý chí và nguyện vọng quần chúng lao động xứ Đông Dương, Người đã gặp lại Cơ-la-ra Dét-kin và nhiệt liệt chúc mừng bà được bầu làm Tổng Bí thư của Phụ nữ quốc tế. Bà Cơ-la-ra còn được Hội nghị lần thứ nhất của Hội quốc tế Cứu tế đỏ bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương của Hội, ngoài việc cứu tế nạn nhân chiến tranh, thiên tai, Hội còn bênh vực cho các chiến sĩ cách mạng từ nhiều nước khác nhau. Sau này, chính Hội quốc tế Cứu tế đỏ do Cơ-la-ra đứng đầu đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc cứu Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nhà tù đế quốc Anh ở Hương Cảng.

Sau những năm tháng đấu tranh không biết mệt mỏi, năm 1933, Cơ-la-ra Dét-kin, người sáng lập ra Ngày quốc tế Phụ nữ 8-3 đã trút hơi thở cuối cùng trên quê hương Xô-viết anh hùng. Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm các nước Đông Âu, trong buổi gặp đồng chí Vin-hem Pích, Chủ tịch Đảng Xã hội thống nhất Đức, Người đã kể lại với tấm lòng khâm phục vô hạn về tinh thần chiến đấu kiên cường vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ của bà Cơ-la-ra Dét-kin, người phụ nữ Đức dũng cảm đã dành trọn cuộc đời tranh đấu vì nhân loại cần lao.

——

(*) HCM toàn tập, NXBCTQG-ST, Hà Nội 2002, tập 2, tr 288.

Nguyễn Thanh Hoàng
Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ

xaydungdang.org.vn

Hồ Chủ tịch và quyền bình đẳng của phái nữ

“Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Hồ Chí Minh

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập đã đánh dấu một bước chuyển biến cơ bản trong đời sống của người phụ nữ. Từ nay chị em thực sự trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh mình cùng nam giới chung lo bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Như vậy, họ đẫ bình đẳng với nam giới trên cả hai mặt: nghĩa vụ và quyền lợi.

Cuộc đấu tranh thực hiện quyền bình đẳng nam nữ

Tháng 10-1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính thức được ban hành, quyền bình đẳng giữa nam và nữ được công nhận. Hồ Chủ tịch nói: “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”.

Khi quyền nam nữ bình đẳng được công bố và thừa nhận, có người lầm tưởng rằng việc giải phóng phụ nữ như vậy đã được giải quýet, do đó thi hành luật pháp có thể là dễ dàng, thuận lợi. Hồ chủ tịch đã sáng suốt chỉ ra rằng, con đường đấu tranh để thực hiện quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ khó khăn và lâu dài.

“Nhiều người lầm tưởng đó là việc dễ chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát, thế là bình đẳng, bình quyền. Lầm to!

Đó là một cuộc cách mạng to và khó”.

Vì vấn đề giải phóng phụ nữ là một vấn đề xã hội to lớn đòi hỏi về mặt quan tâm của tất cả mọi người. Đây không chỉ là giải quyết những mâu thuẩn tranh chấp giữa hai giới nam và nữ, cành không phải là việc riêng của phụ nữ.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn giải phóng người phụ nữ không chỉ thực hiện một sự phân công mới, bình đẳng giữa vợ và chồng trong những công việc gia đình, mà cái căn bản là phải có sự phân công, sắp xếp lại lao động của toàn xã hội,đưa phụ nữ tham gia vào nhiều ngành nghề như nam giới. Cần tổ chức lại đời sống công nông cũng như sinh hoạt gia đình để phụ nữ giảm nhẹ công việc bếp núc, chăm lo con cái, có điều kiện tham gia sản xuất, học tập nâng cao trình độ mọi mặt. Từ đó, chị em mới có đủ khả năng làm nhiều công việc chuyên môn và đảm nhiệm được những chức vụ công tác ngang hàng với nam giới. Đó là một cuộc cách mạng thực sự lớn.

“Vì không thể dùng vũ lực mà tranh đấu…vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân. Dù to và khó phải nhất định thành công”.

Trước đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ đã cùng toàn dân đứng lên lật đỗ chính quyềt đế quốc và phong kiến tay sai, giành lại độc lập, tự do và thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân. Chính quyền mới do nhân dân lập ra, bảo đảm quyền tự do, dân chủ cho người lao động và bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ. Vì vậy, ngày nay chị em hết sức ủng hộ chính quyền cách mạng là lẽ tất nhiên.

Những muốn biến quyền bình đẳng giữa nam nữ, từ một luật lệ trở thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, biến ý thức tôn trọng phụ nữ thành nếp sống đạo đức của mọi người thì đòi hỏi sự nỗ lực hết sức to lớn của toàn dân, của tất cả phụ nữ để xây dựng một xã hội mới, một kiểu người mới xã hội chủ nghĩa. Hồ Chủ tịch nêu rõ: Muốn thực hiện tốt quyền bình đẳng của phụ nữ phải có sự tiến bộ về kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật của nước ta. Phụ nữ phải hi sinh xương máu, lao động gian khổ, góp phần đẩy mạnh sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp, giáo dục và y tế, xây dựng một đất nước giàu mạnh, phồn vinh, một nền văn hóa, khoa học tiên tiến.

Đấu tranh giải phóng phụ nữ cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng lâu dài, khó khăn để xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ còn tồn tại dai dẳng trong nhân dân ta.

“Vì trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại, vì nó ăn sâu trong đầu óc mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”

Chính từ những nhận định sáng suốt trên, khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới được thành lập, Hồ chủ tịch đã kêu gọi phụ nữ hăng hái cùng toàn dân tham gia ba phong trào cách mạng lớn là: diệt giặc dốt, giặc đói và giặc xâm lăng.

Để khắc phục hậu quả ghê gớm do thực dân Pháp và phát xít Nhật để lại, Hồ Chủ tịch phát động phong trào toàn dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Người đã nhắc nhở tất cả mọi người, trong đó lực lượng chính là phụ nữ thi đua sản xuất “tấc đất, tấc vàng” thực hành tiết kiệm để đảm bảo lương thực cho gia đình và đóng góp nuôi quân.

Suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, phụ nữ Việt Nam đặc biệt là phụ nữ công nông, đã nhiệt liệt hưởng ứng lời Bác Hồ dạy. Đảm đang việc sản xuất, chăm lo việc gia đình để chồng con đi chiến đấu. Chị em hàng ngày còn chú ý tiết kiệm lương thực, lập ra những hủ gạo nuôi quân để tiếp tế cho bộ độ. Phụ nữ ra sức thâm canh, tăng năng suất, tăng sản lượng để làm nghĩa vụ bán thóc cho Nhà nước. Những hạt thóc vàng do mồi hôi công sức phụ nữ làm ra, đóng góp cho Tổ quốc để góp phần tạo nên chiến thắng thực dân Pháp và củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân.

Về nhiệm vụ diệt giặc dốt, nhằm xóa bỏ tình trạng dốt nát của nhân dân ta do chính sách ngu dân của thực dân Pháp để lại, Hồ Chủ tịch rất quan tâm đến phụ nữ, Người đã khuyến khích chị em chịu khó học tập để có khả năng làm chủ đất nước đảm nhiệm những công việc như nam giới. Trong Lời kêu gọi chống nạn thất học tháng 10-1945, Người đã nói: “Mọi người Việt Nam phải hiểu hết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm. Đây là lúc các chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu và ứng cử”.

Người rất vui mừng khi thấy phong trào Bình dân học vụ, phụ nữ đã tham gia tích cực làm người dạy học cũng như làm học trò. Người đặc biệt khen ngợi các cụ bà ham học đã làm gương, khuyến khích cho thanh niên noi theo: “Nhiều cụ, tuy tuổi tác đã cao, vẫn cố gắng học chữ, học làm tính. Thật là đáng kính, đáng quý”.

Hồ Chủ tịch đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Pháp, người động viên chị em phát huy truyền thống chiến đấu dũng cảm của Bà trưng, Bà Triệu, Người tỏ lòng kính trọng các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, luôn luôn gởi lời thăm hỏi các bà mẹ bộ đội, các gia đình liệt sĩ.

Trong bức thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ 8-3-1952, Hồ Chủ tịch đã viết:

“Nhân dịp 8-3 tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sỹ đã hi sinh cho Tổ quốc. Tôi kính chúc các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ. Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng”.

Người rất xúc động trước tinh thần yêu thương chiến sĩ của các bà, các cụ trong các Hội chiến sĩ ở các địa phương. Người tỏ lòng biết ơn và nhắc nhở các chiến sĩ phải hiếu với mẹ nuôi bằng cách giết giặc lập công.

Trong thư gửi các Hội mẹ chiến sĩ, Người viết: “Các chiến sĩ thì sẵn sàng hy sinh gia đình, hy sinh tính mệnh đi giết giặc cứu nước, bảo vệ đồng bào. Các cụ, các bà thì thương yêu săn sóc chiến sĩ như con cháu ruột thịt. Thế là các cụ, các bà cũng trực tiếp tham gia kháng chiến… Chẳng những các chiến sĩ mà tôi và Chính phủ cũng biết cám ơn các cụ, các bà”.

Người động viên, ca ngợi tinh thần dũng cảm chiến đấu không quản nguy hiểm khó khăn của các nữ du kích, cũng như thành tích của hàng vạn phụ nữ Kinh, Tày, Nùng, Mán, Mèo, tạm gác việc nhà xung phong đi dân công, xông pha lửa đạn để giúp đỡ bộ đội trong mọi việc. Người nhắc đến câu chuyện nhỏ, nhưng có ý nghĩa rất to lớn: “Bà cụ Nam (Cao Bằng), 83 tuổi xung phong sửa đường. Cán bộ khuyên bà cụ nghỉ thì bà cụ nói: “Càng già càng phải giúp kháng chiến, sửa đường cho bộ đội đi cho mau, giết cho nhiều giặc, thắng cho nhiều trận”.

Sự hoạt động hăng hái của các tầng lớp phụ nữ khắp toàn quốc trên các mặt trận sản xuất, chiến đấu, văn hóa xã hội trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp đã xứng đáng với lời ca ngợi của Hồ Chủ tịch:

“Non sông gấm vóc Việt Nam, do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Quá trình phụ nữ nước ta tham gia tích cực vào ba phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, giặc xâm lăng cũng là quá trình chị em đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ bản thân mình, phụ nữ ngày càng khẳng định rõ vai trò, khả năng của mình.

Cùng với sự phát triển của công cuộc kháng chiến và kiến quốc, quyền bình đẳng của phụ nữ trên nhiều mặt được dần dần thực hiện. Trong cải cách ruộng đất, phụ nữ nông dân đã được chia ruộng đất như nam giới; trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, phụ nữ làm việc ngày càng đông và được hưởng quyền lợi ngang hàng nam giới; trong các ngành y tế, văn hóa, giáo dục, khoa học phụ nữ được học tập, đào tạo bồi dưỡng rộng rãi, không có sự hạn chế nào ngăn cản việc phát triển tài năng của chị em. Nhưng cũng phải thấy rằng phụ nữ còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền bình đẳng của chị em do trình độ phát triển chung của cách mạng Việt Nam.

Trích “Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam”, NXB Phụ nữ

haugiang.gov.vn

Bác Hồ nói về công tác phụ nữ

Phát biểu tại lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (19-10-1966), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến truyền thống yêu nước đầy tự hào của người phụ nữ Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó ta có câu tục ngữ rất hùng hồn: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”.

Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam, Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”.(1) Nói chuyện tại đại hội liên hoan phụ nữ “Năm Tốt” vào ngày 30-4-1964, Bác Hồ đã giúp phụ nữ nhận thức rõ: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ ta đã góp phần khá lớn làm cho cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi vẻ vang. Ngay từ lúc đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông”.(2)

Bác không chỉ quan tâm đến quyền bình đẳng của nữ giới trong mọi quan hệ xã hội mà còn lo cho hạnh phúc của nữ giới trong quan hệ vợ chồng, khuyên giới nữ ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình để tự đấu tranh giải phóng mình khỏi những ràng buộc phi lý kiểu “chồng chúa vợ tôi”. Trong dịp gặp gỡ với cán bộ tỉnh Hà Tây vào ngày 10-2-1967, Bác phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật: ”Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”.(3)

Tại buổi nói chuyện với lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện vào ngày 18-1-1967, Bác đã nghiêm khắc phê phán những thành kiến hẹp hòi ở một số cán bộ: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai… Bác mong rằng các đồng chí hãy thật sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ…”. (4) Bác đã chỉ ra cho chúng ta thấy, phụ nữ không thua kém nam giới khi được tạo mọi điều kiện thuận lợi: “Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ. Phụ nữ ta tham gia ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Thế là dưới chế độ tốt đẹp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ nữ đã thật sự làm chủ Nhà nước”.(5)

Bác đã biểu dương những đóng góp to lớn của phụ nữ trong công cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm: “Miền Nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ. Họ rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ và gọi họ là “đội quân tóc dài”. Phó Tổng Tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”.(6) Phụ nữ nước ta còn được Bác khen tặng bởi những thành tích trong học tập, rèn luyện và đóng góp trong mọi lĩnh vực… “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo… Theo gương các bà, các mẹ và các chị anh hùng, nhiều cháu thiếu niên nhi đồng gái cũng rất ngoan… Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật là anh hùng…”.(7)

Bác khuyên giới nữ phải tự đấu tranh với bản thân mình, tự mình phải biết tôn trọng mình mới làm nên mọi việc. Bác đã nói: “Phụ nữ phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập. (8) Bác đã nhắc nhở Đảng, Nhà nước phải quan tâm đến công tác phụ nữ. Di chúc thiêng liêng của Người ghi rõ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên.

Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.(9) Ngày nay, phụ nữ nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Họ không chỉ là người mẹ hiền đảm đang giữ gìn hạnh phúc gia đình, mà còn là những nhà khoa học, những vị lãnh đạo tài năng có những cương vị cao trong các cơ quan Đảng và Nhà nước từ cơ sở đến Trung ương, xứng đáng với sự quan tâm và tin tưởng của Bác Hồ.

(1.2.3.4.5.6.7.8.9: Theo Hồ Chí Minh toàn tập)
MAI BỬU MINH

haugiang.gov.vn

Vượt qua bến Thượng Hải

Vẫn còn nhiều hạn chế trong cách xây dựng, song bộ phim điện ảnh mới nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự sáng tạo về thể loại và trau chuốt hơn về mặt hình ảnh, âm thanh.

NhocStylePro764

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng về Đảng lãnh đạo quân đội là một bộ phận hợp thành, giữ vai trò trọng yếu trong tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Người về tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Ngay từ đầu năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề “tổ chức ra quân đội công nông”(1) và trong suốt quá trình xây dựng, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta, Người đã yêu cầu “Xây dựng quân đội – một quân đội nhân dân thật mạnh, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng”(2). Người nói: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3). Người nhiều lần nhắc nhở “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội”(4), bởi theo Người đó là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sức chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta.

Để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc thiết lập hệ thống tổ chức đảng trong quân đội từ Quân uỷ Trung ương đến các tổ chức đảng ở cơ sở; đồng thời tổ chức quân đội theo những nguyên tắc tổ chức phù hợp với đường lối chính trị, quân sự và tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ đội vũ trang đầu tiên – Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Người đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng theo mô hình lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo, có đại diện của Đảng (chính trị viên) bên cạnh người chỉ huy quân sự để chăm lo công tác chính trị. Bằng công tác tư tưởng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải thường xuyên giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội lòng trung thành với Đảng. Sự trung thành ấy thể hiện trước hết ở chỗ phải trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phải làm cho mọi quân nhân sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; phải lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho các hoạt động của quân đội. Hồ Chí Minh yêu cầu sự trung thành của quân đội đối với Đảng phải được thể hiện ở việc hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho, mà trước hết là hoàn thành thật tốt chức năng chiến đấu, đánh thắng mọi kẻ thù. Trong lần về thăm Trường Chính trị trung cấp quân đội (tháng 10-1951), Người nói: “Riêng về các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc. Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực hiện. Nếu thuộc lầu mà không biết đánh giặc thì vô dụng”(5). Trong buổi chiêu đãi mừng Quân đội ta 20 tuổi, Người đã khen ngợi: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(6). Đó vừa là sự khẳng định bản chất, truyền thống và mục tiêu chiến đấu của Quân đội, vừa là yêu cầu có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh đối với mọi hoạt động của Quân đội.

Lịch sử hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã chứng tỏ tư tưởng của Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo quân đội luôn luôn được quán triệt sâu sắc. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, thực sự là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng Quân đội ta theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại đang đứng trước nhiều thuận lợi và thách thức to lớn. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hậu gia nhập WTO có nhiều nội dung mới, đòi hỏi quân đội phải thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN trong mọi tình huống. Đồng thời, những biến đổi kinh tế-xã hội to lớn ở trong nước gắn liền với tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp đang tác động đa chiều đến việc giữ vững bản chất cách mạng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; trong đó phải kể đến những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta. Những vấn đề đó đang đòi hỏi việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội theo Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được đặt lên hàng đầu.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong giai đoạn hiện nay, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp về tổ chức, tư tưởng và chính sách, mà trước hết là đẩy mạnh công tác xây dựng đảng, để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, lãnh đạo Quân đội trong thời kỳ mới, bởi theo Hồ Chí Minh “Đảng có vững, cách mệnh mới thành công”. Vì vậy, một mặt, cần tiếp tục đi sâu, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với những yêu cầu, biện pháp mới, phù hợp; đồng thời tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; mặt khác, cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc các Quy định số 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115-QĐ/TW ngày 20-8-2004 về chức năng, nhiệm vụ của 8 loại hình tổ chức đảng trong Quân đội và “Xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước đối với hoạt động quốc phòng, an ninh”(7), chỉ đạo tốt việc thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20-7-2005 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm thấu triệt trong toàn xã hội nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội.

Hai là, tăng cường xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh (TSVM); tập trung vào nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Trong giai đoạn hiện nay, cần hết sức quan tâm nâng cao năng lực của các cấp uỷ đảng trong việc quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng; nâng cao tính tiền phong gương mẫu của đảng viên, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, gắn chặt công tác rèn luyện, quản lý đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng tổ chức đảng TSVM với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; tích cực tìm các giải pháp tăng cường vững chắc số chi bộ đại đội có cấp uỷ, chăm lo xây dựng cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị để nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội.

Ba là, làm tốt hơn nữa công tác giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng trong Quân đội, đặc biệt là ở cơ sở; làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội hiểu sâu sắc nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, cùng những nội dung mới trong tư duy của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc được Đại hội X của Đảng xác định. Đó là “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”. Trên cơ sở đó, mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội tự giác rèn luyện, phấn đấu, góp phần cùng toàn quân hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng và Tổ quốc giao phó, tiếp tục xứng đáng là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 3, tr.1. (2) Sđd, tập 7, tr.220. (3,6) Sđd, tập 11, tr.350. (4) Sđd, tập 7, tr.14. (5) Sđd, tập 6, tr. 319. (7) Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ X, NXBCTQG, H.2006, tr.111.

THIẾU TƯỚNG, PGS, TS. NGUYỄN NGỌC HỒI
Phó tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân

xaydungdang.org.vn

Suy nghĩ của một người lái xe về Đảng, về Bác Hồ

Tôi nghĩ, dù ai có cố tình nhắm mắt phủ định bằng bất cứ lý do gì thì Đảng và Bác vẫn có công lao vô cùng to lớn với dân tộc, Tổ quốc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, nhân dân ta phá tan ách thống trị thực dân, phong kiến, đánh Pháp, đuổi Nhật và thắng Mỹ, non sông thu về một mối, đất nước thái bình, nhân dân yên ổn làm ăn và phát triển, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Có thể nói, từ khi có Đảng, có Bác, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn đổi mới. Chính vì thế người dân Việt Nam luôn nói: Ơn Đảng, ơn Bác…

Không biết từ bao giờ, Đảng và Bác Hồ luôn ở trong trái tim, khối óc, trong công việc và trong cuộc sống hằng ngày của tôi. Còn nhớ ngày đầu vào mạng In-tơ-net, vô tình vào một trang (tôi không còn nhớ) có những bài viết nói xấu Đảng, nói xấu Bác, tôi thấy như mình bị xúc phạm và lập tức gửi phản hồi “phản công” lại.

Tôi nghĩ, dù ai có cố tình nhắm mắt phủ định bằng bất cứ lý do gì thì Đảng và Bác vẫn có công lao vô cùng to lớn với dân tộc, Tổ quốc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, nhân dân ta phá tan ách thống trị thực dân, phong kiến, đánh Pháp, đuổi Nhật và thắng Mỹ, non sông thu về một mối, đất nước thái bình, nhân dân yên ổn làm ăn và phát triển, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Có thể nói, từ khi có Đảng, có Bác, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn đổi mới. Chính vì thế người dân Việt Nam luôn nói: Ơn Đảng, ơn Bác…

Là một lái xe, tôi không quá thần tượng và ảo tưởng, tôi luôn hướng về Đảng, về Bác và có một niềm tin sắt đá về sự trường tồn của Đảng và tư tưởng, đạo đức của Bác. Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực, Đảng muốn trường tồn, đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, thiết nghĩ, Đảng cần phải quyết liệt với một số vấn đề đang gây bức xúc dư luận cả nước.

Về chống tham nhũng

Thực tế khẳng định, tham nhũng đã trở thành quốc nạn, là một trong bốn nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng. Có thể nói bọn sâu dân mọt nước, bọn cơ hội, những cán bộ, đảng viên biến chất, hư hỏng là “một bầy sâu” hằng ngày, hằng giờ đục khoét, moi móc của cải vật chất của Nhà nước, của nhân dân, làm mất uy tín của Đảng, mai một lòng tin của nhân dân vào Đảng. Nhiều kỳ đại hội đảng đã qua, nhiều giải pháp đã được đề cập tới, nhưng vấn nạn tham nhũng không giảm mà có xu hướng tăng lên với những thủ đoạn tinh vi hơn. Tham nhũng đã và đang có mặt ở khắp mọi nơi, khắp các ngành nghề, biến thái đủ các hình thức, nhiều góc độ… Làm thế nào để người dân thấy được công cuộc chống tham nhũng của Đảng không là hô khẩu hiệu? Không là “giơ cao đánh khẽ” ? Không để những vụ việc được báo chí, người dân phát hiện bị “chìm xuồng”…? Chỉ có thể là trừng trị thẳng tay như Bác đã từng làm trước đây, bất kể kẻ tham nhũng đó là ai.

Về cảnh sát giao thông

Là một lái xe, tôi tiếp xúc hằng ngày với cảnh sát giao thông. Với tôi, hình ảnh phản cảm, đau đớn nhất là hình ảnh những người công an mặc sắc phục, được Nhà nước trang bị mọi phương tiện để thi hành công vụ lại nhận hối lộ. Điều đó không chỉ bôi nhọ lực lượng công an vì nhân dân phục vụ mà còn ảnh hưởng to lớn đến uy tín của Đảng, của Nhà nước. Từ 30 đến mồng 5 Tết Nhâm Thìn, trên toàn quốc đã xảy ra hơn 3.000 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm nhiều người chết và bị thương. Những con số đó đã cho chúng ta thấy hiệu quả của việc tuần tra kiểm soát của lực lượng cảnh sát giao thông như thế nào.

Về giáo dục – đào tạo

Xã hội phát triển, các gia đình quan tâm hơn đến việc học hành của con em mình. Đồng thời việc chạy trường, chạy lớp đầu năm học, mua điểm, mua bằng, rồi phong bì biếu xén thấy cô giáo các ngày lễ, tết… cũng tăng theo nhưng chất lượng giáo dục không tăng. Năm ngoái dư luận được phen xôn xao với phát biểu của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng kết quả môn thi lịch sử hàng ngàn điểm 0 là bình thường (!). Tình trạng học sinh bỏ học, bạo lực học đường đang rung lên hồi chuông báo động với nền giáo dục Việt Nam. Thế nhưng, những đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong Ngành Giáo dục từ Trung ương xuống cơ sở trong các bản kiểm điểm đánh giá chất lượng đảng viên cuối năm có ai dám nhận trách nhiệm về mình và từ chối các khoản xét thưởng?

Với kiểm lâm
Nhà đày của thực dân Pháp xây dựng ngay tại Buôn Ông Thuột (nay là TP. Buôn Ma Thuột). Nhà đày xây nơi rừng thiêng nước độc, suốt ngày cọp hú, voi gầm, biết bao chiến sĩ cách mạng trung kiên đã bị những cai ngục ném ra ngoài tường rào để làm mồi cho thú dữ. Nói như vậy để biết ngày xưa rừng vào tận trung tâm thành phố bây giờ. Và đúng như nhà báo Đặng Bá Tiến trong bài “Nỗi nhớ đại ngàn” thì: “… không chỉ nhớ, tôi đã rơi nước mắt vì thương rừng, thương đại ngàn. Bởi rừng, bởi đại ngàn giờ đã tan tác, điêu linh !”. Thậm chí cả rừng đặc dụng như Vườn quốc gia Yốk Đôn, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô… cũng chỉ còn cái mã ngoài, ruột gan bên trong thì đã bị moi móc băm vằm tan tác. Thật đau đớn, xót xa ! Sự thật là rừng đã và đang bị tàn phá… Tổng kết của ngành kiểm lâm có ai dám thừa nhận tiếp tay cho lâm tặc? Hay chỉ đến khi lật xe, gỗ đè chết người ở Con Cuông, Nghệ An thì mới rút kinh nghiệm, kiểm điểm ? Bây giờ nhân dân cả nước vẫn chưa biết kết quả xử lý cuối cùng vụ này ra sao ? Có ai dám nói đến sự yếu kém, sự bất lực trong công tác quản lý bảo vệ rừng ?

Về tệ nạn xã hội

Ở cơ sở có cả một hệ thống chính trị: Đảng ủy, UBND, HĐND, các hội: phụ nữ, cựu chiến binh, đoàn thanh niên… lực lượng công an phường, xã, dân quân tự vệ… Cả hệ thống đông đảo ấy nếu thật sự tận tụy với dân, tận lực làm việc thì tệ nạn ma tuý, mại dâm, trộm cướp, giết người, bạo lực xã hội, bạo hành gia đình, ngược đãi trẻ em… liệu có đất dung thân hay không? Các điểm vui chơi, quán nhậu, ka-ra-ô-kê đều phải đăng ký kinh doanh. Chỉ cần kiên quyết xử lý các sai phạm ngay từ đầu thì làm gì có đất cho tệ nạn hoạt động. Phải chăng tiếp tay, ăn chia, nhận đút lót rồi nhắm mắt làm ngơ thì tệ nạn xã hội mới có cơ hội hoành hành như vậy?

Trên đây là những vấn đề nhức nhối tôi phải chứng kiến hàng ngày khiến tôi lo lắng, băn khoăn về sự còn mất của Đảng. Phải làm thế nào đây? Tôi chỉ là một người dân bình thường, yêu Đảng, yêu Bác nhưng không thể chấp nhận việc những tiêu cực đó xảy ra hằng ngày mà chỗ nào cán bộ, đảng viên cũng nói học tập và làm theo Bác. Mỗi đảng viên, cán bộ hãy một lần đọc lại Di chúc của Bác, hãy nhớ kỹ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…”. Chỉ có như thế Đảng mới trường tồn, xứng đáng với Lãnh tụ kính yêu của Đảng – Bác Hồ vĩ đại.

Trương Long Vũ

xaydungdang.org.vn