Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Di sản Hồ Chí Minh về Đạo đức, Văn hóa

(GD&TĐ) – “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Chân lý đó đã làm rung động con tim mỗi người dân Việt Nam khi nhắc đến tên Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta!

bìa sách

Bìa sách

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm tới tất cả các lĩnh vực của đời sống từ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng…, song lĩnh vực mà Người đề cập nhiều nhất chính là tư tưởng, đạo đức, lối sống. Hiếm có một lãnh tụ nào mà cả cuộc đời lại là tấm gương sáng về tư tưởng, đạo đức và lối sống như Bác của chúng ta. Đó chính là một di sản tinh thần vô giá của dân tộc trong hành trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở Hồ Chí Minh, văn hóa và đạo đức có sự gắn quyện, hài hòa, đã đạt tới sự thống nhất cao độ giữa công và tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Chính vì thế, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức, văn minh, không chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức, văn minh nhân loại. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản chân chính và cũng là tấm gương đạo đức bình dị cho mọi người, để ai cũng có thể học tập và làm theo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng cả cuộc đời và sự nghiệp để cứu nước, cứu dân, cho ước vọng cao cả là đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, mọi người sống chan hòa, nhân ái và hạnh phúc. Nặng lòng vì dân, tin ở dân, lo hạnh phúc cho muôn dân, đó là tư tưởng nhân văn cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó, giai cấp, dân tộc và nhân loại, cá nhân và xã hội, xã hội và tự nhiên luôn thống nhất trên lập trường của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Đến khi trái tim lớn ngừng đập, tư tưởng cao đẹp đó vẫn tỏa sáng cho muôn thế hệ mai sau.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tham gia và hưởng ứng rộng rãi. Việc cùng nhau học lại những giá trị tư tưởng và đạo đức của Người có ý nghĩa vô cùng to lớn, sâu sắc trong việc tự hoàn thiện của mỗi chúng ta.

Hà Châu (St)
gdtd.vn

HỒ CHÍ MINH – Danh nhân văn hóa kiệt xuất

(GD&TĐ) – Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất. Sự tôn vinh này của UNESCO khẳng định những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh cho dân tộc Việt Nam cũng như cho nhân loại. Tìm hiểu về Hồ Chí Minh với tư cách là danh nhân văn hóa kiệt xuất, có thể thấy rất rõvăn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời Người cũng là nhà sáng tạo văn hóa lớn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Văn hóa Hồ Chí Minh được hình thành trong cái nôi văn hóa dân tộc và nhất là trong quá trình Người tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Quá trình này nằm trong bối cảnh văn hóa Việt Nam có sự giao lưu và tiếp biến văn hóa mạnh mẽ với văn hóa nhân loại. Có thể nói văn hóa Hồ Chí Minh đã được hình thành từ quá trình Hồ Chí Minh, với tư cách là chủ thể văn hóa, tiếp nhận tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại.

Văn hóa Hồ Chí Minh đã kết tinh được những gì tinh túy nhất của văn hóa Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là chủ nghĩa yêu nước và lòng nhân ái. Hồ Chí Minh đã viết những dòng đầy tâm huyết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn. Nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Yêu nước gắn liền với thương dân là đạo lý truyền thống của dân tộc. Đạo lý này đã được Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy. Trước cảnh nước mất, người dân lầm than nô lệ, Hồ Chí Minh đã quyết tâm đi theo con đường cứu nước và trở thành nhà ái quốc vĩ đại với “một sự ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Ra đi tìm đường cứu nước, Người đã lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. Khi nước nhà giành được độc lập, đứng trên Lễ đài đọc Tuyên ngôn Độc lập, Người đã ân cần, thân thiết hỏi quốc dân đồng bào: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Yêu nước, thương dân đã thành điều tâm niệm thiêng liêng nằm sâu trong tâm thức và tâm cảm của nhà cách mạng – nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh luôn coi trọng tìm tòi, chắt lọc những tinh hoa, những yếu tố tích cực của văn hóa Phương Đông, nhất là của Nho giáo, Phật giáo. Trong các tác phẩm của mình, Người nhiều lần vận dụng các khái niệm, phạm trù, luận điểm của Nho giáo nhưng gắn vào đấy những nội dung cách mạng của thời đại. Chẳng hạn Người vận dụng các khái niệm “trung”, “hiếu” của Nho giáo và phát triển thành “trung với nước, hiếu với dân”. Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn của Phật giáo và hướng cho mọi người “làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải của nô lệ”. Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc với văn hóa phương Tây ngay từ thuở thiếu thời khi theo học lớp dự bị trường tiểu học Pháp. Những tư tưởng của văn hóa phương Tây như tự do, bình đẳng, bác ái đã sớm có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành văn hóa Hồ Chí Minh. Sau này, khi bôn ba qua Pháp và nhiều nước khác, Hồ Chí Minh còn được tiếp cận với các giá trị văn hóa nổi bật khác của phương Tây như chủ nghĩa nhân văn, tinh thần duy lý và văn hóa dân chủ. Những giá trị văn hóa như vậy đã được hợp dung trong văn hóa Hồ Chí Minh và được Người vận dụng sáng tạo vào việc lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa sau này.

Trong quá trình hình thành văn hóa Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin có một vị trí đặc biệt quan trọng. Chủ nghĩa Mác – Lênin như ngọn hải đăng soi đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin cũng có nghĩa là Hồ Chí Minh đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn nhất. Người đã khẳng định dứt khoát chủ nghĩa Mác – Lênin là “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Những giá trị của nó đã trở thành một nền tảng cơ bản của văn hóa Hồ Chí Minh.

Như vậy, có thể thấy văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, từ đó hình thành một văn hóa tiên tiến, cách mạng, có tính nhân văn sâu sắc. Có được điều này bởi Hồ Chí Minh đã không ngừng học hỏi. Những điểm đặc sắc của văn hóa nhân loại đã ghi dấu ấn sâu đậm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hòa quyện nhuần nhị trong văn hóa Hồ Chí Minh để từ đó tỏa sáng thông qua lăng kính tư duy sắc sảo và minh triết của Người. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.

– Tôn giáo của Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.

– Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng.

– Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta”.

Và Người nhấn mạnh:” Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội… Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy”. Cũng cần nói thêm rằng tinh thần học tập suốt đời cũng là một nét đặc sắc trong văn hóa Hồ Chí Minh. Không chỉ ở giai đoạn đầu mà ở cả những giai đoạn sau cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh đều không ngừng học tập để làm giàu vốn văn hóa của mình. Người đã nêu tấm gương sáng về học tập.

Khi tìm hiểu Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất, cùng với việc khẳng định văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh những tinh túy của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, cũng cần thấy rõ Hồ Chí Minh là mộtnhà sáng tạo văn hóa lớn.

Có thể thấy Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa đa tài. Người là nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà điêu khắc vv… Nhưng sự nghiệp văn hóa lớn nhất, quan trọng nhất của Hồ Chí Minh là đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn và lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Sự nghiệp giải phóng dân tộc do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đem lại địa vị xứng đáng cho văn hóa dân tộc Việt Nam. Không chỉ vậy, sự nghiệp này còn có ý nghĩa to lớn đối với nền văn hóa thế giới, chỉ ra cho nhân dân các nước thuộc địa con đường đứng lên đập tan xích xiềng nô lệ, giành độc lập tự do cho đất nước của mình, từ đó góp phần vào việc xóa bỏ chế độ thuộc địa trên thế giới. Có thể nói Hồ Chí Minh với tư cách là nhà văn hóa kiệt xuất đã góp phần không chỉ tạo ra một chế độ mới, một thời đại mới mà còn tạo ra một nền văn hóa mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng góp phần to lớn vào sự phát triển của nhân loại nói chung và sự phát triển văn hóa nhân loại nói riêng. Không phải là ngẫu nhiên mà bằng sự linh cảm và khả năng trực giác, ngay từ năm 1923, khi tiếp xúc với Người, nhà thơ Xô – Viết Ôxip Mandextam đã tiên đoán: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai… Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi như thấy được ngày mai, như thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương”.

N. D. B
gdtd.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản di chúc lịch sử

(GD&TĐ) – “Tôi nhớ mãi sáng tháng Năm ấy… Trời cao và trong xanh. Mây trắng lững lờ trôi trên bầu trời Ba Đình. Trong vườn Bác, chim nhảy chuyền cành, gọi nhau ríu rít”.

Đó là những dòng hồi ký đầy xúc động của đồng chí Vũ Kỳ – người “đầy tớ trung thành” thực thụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh gần ba thập kỷ như ông tự nhận – khi kể lại ngày đầu tiên Người đặt bút viết “mấy lời gửi lại” cho đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng. 48 năm về trước, khi bước vào tuổi 75, “với tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe mạnh”, Bác Hồ bắt đầu tài liệu “Tuyệt đối bí mật” mà ngày nay chúng ta gọi đó là Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản Di chúc được Bác khởi thảo từ ngày 10/5/1965 và Người xem lại lần cuối vào ngày 19/5/1969.

Di chúc của Bác “Trước hết nói về Đảng”, vì Đảng là nhân tố quyết định thành công của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng lại đất nước sau này. Tháng 5 – 1968, Người đã bổ sung vào Di chúc một điểm chỉ dẫn quan trọng: Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi thì “việc cần phải làm trước hết là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi Đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”. Toàn văn bản viết Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phần xây dựng chỉnh đốn Đảng đã thể hiện sức sống tư tưởng của Người trong khả năng vận dụng sáng tạo những lý luận cơ bản nhất về xây dựng Đảng cầm quyền của Chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng nước ta.

Di chúc được khởi thảo trong khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đang đi vào thời kỳ quyết liệt nhất: Mỹ ồ ạt đưa 50 vạn quân vào miền Nam, chuyển chiến lược chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ. Hơn nữa, ở hậu phương lớn miền Bắc phải tiếp tục chống lại cuộc chiến tranh phá hoại ngày càng ác liệt nhằm biến nơi đây trở về thời kỳ đồ đá của đế quốc Mỹ. Thế nhưng, toàn bộ Di chúc toát lên khí phách, tinh thần lạc quan chiến thắng của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng, luôn tin tưởng vào tương lai tất thắng của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cũng như của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong tương lai: “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn.

Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”. Đó là niềm tin, là ý chí, lòng quyết tâm của Bác và của cả dân tộc. Niềm tin đó xuất phát từ đường lối độc lập tự chủ, từ phương pháp và nghệ thuật lãnh đạo cách mạng sáng tạo của Đảng. Niềm tin đó xuất phát từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từ tinh thần hy sinh anh dũng của bao người Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác. Niềm tin đó còn xuất phát từ sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Nhìn thấy trước một nước Việt Nam thắng lợi hoàn toàn, đồng bào sum họp một nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho Đảng ta và Nhà nước ta những việc cần làm sau chiến tranh rất cụ thể, tỉ mỉ.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho Đảng ta và Nhà nước ta những việc cần làm sau chiến tranh rất cụ thể

Sức sống lớn lao và ánh sáng kỳ diệu tỏa ra trong toàn bộ Di chúc đó là những tư tưởng nhân văn cách mạng ngời sáng và đầy giá trị nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà biểu hiện sinh động nhất chính là tình yêu thương sâu sắc đối với con người. Tư tưởng vì nhân dân, vì con người là điều nổi bật và xuyên suốt cuộc đời Bác mà kết tinh ở đỉnh cao trong bản Di chúc lịch sử.

Có thể nói, điều làm nên giá trị tinh thần lớn lao và ý nghĩa sâu sắc của Di chúc chính là quan điểm vì con người và giải phóng con người thấm đượm chủ nghĩa nhân đạo cao cả. Một chủ nghĩa nhân văn cách mạng sáng ngời lý tưởng cộng sản được kết tinh trong một con người vĩ đại nhất của dân tộc.

Tuy không nói nhiều về nhân dân và cách mạng thế giới, nhưng trong Di chúc, chúng ta vẫn thấy rất rõ tình cảm và tư tưởng của Người về sự gắn bó giữa nhân dân và cách mạng Việt Nam với nhân dân và sự nghiệp cách mạng thế giới nói chung.

Di chúc của Bác đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau như: Chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội… của đời sống mỗi người dân Việt Nam. Nó vạch ra những vấn đề mang tính chất cương lĩnh định hướng cho sự phát triển của đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta giành được thắng lợi. Vậy mà khác với các văn bản chính luận khác, ẩn chứa bên trong mỗi từ, mỗi câu của bản Di chúc là một chất thơ được kết tụ bởi sự dồn nén cảm xúc, tình yêu thương đối với thiên nhiên, con người và cuộc đời. “Muôn vàn thương yêu” mà Người gửi lại trong Di chúc thiết tha và xúc động đối với triệu triệu trái tim hôm qua và hôm nay. Những dòng chữ như một lời tạ từ, một sự lỗi hẹn vì biết mình không kịp thấy, không kịp làm điều mình ấp ủ của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

Nếu như Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca khai sinh ra nước Việt Nam mới, thì Di chúc trở thành ánh sáng tương lai

Lịch sử đã có sự trùng hợp thiêng liêng và kỳ diệu. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2/9/1969, Người đi vào thế giới Người Hiền tại ngôi nhà sàn đơn sơ cũng thuộc Quảng trường Ba Đình lịch sử với lời nhắn gửi đến toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong bản Di chúc lịch sử. Nếu như Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca khai sinh ra nước Việt Nam mới, thì Di chúc là sự thể hiện thành công trọn vẹn bản khai sinh đất nước và trở thành ánh sáng tương lai. Di chúc là một văn kiện có cách viết độc đáo, trong đó tồn tại song song giữa cái vĩ đại và cái bình thường, cái mãnh liệt nồng nàn và cái điềm đạm, sâu lắng vừa trang trọng, vừa gần gũi. Với trách nhiệm trước hậu thế, Người đã cân nhắc từng ý, từng lời, nhưng mỗi ý, mỗi lời đều giản dị, chân thành, trong sáng, tự nhiên như chính cuộc đời mà Người đã sống – một tấm gương để chúng ta suốt đời học tập và làm theo.

Th.S Nguyễn Kim Thành (Bảo tàng cách mạng Việt Nam)
gdtd.vn

Ý nghĩa sự kiện ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc

(GD&TĐ) – Đó là khẳng định của các đại biểu tham gia hội thảo khoa học “Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước” (5/6/1911 – 5/6/2011) được tổ chức ngày 17/5 tại Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Bến Nhà Rồng-nơi cách đây 100 năm, Bác đã ra đi tìm đường cứu nước

Bến Nhà Rồng-nơi cách đây 100 năm, Bác đã ra đi tìm đường cứu nước

Trong phần đề dẫn tại hội thảo, GS.TS Tạ Ngọc Tấn, Uỷ viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Người là kết tinh truyền thống văn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa thế giới. Người đã có những cống hiến to lớn đối với phong trào đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ nhân loại.

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là bản anh hùng ca về chủ nghĩa yêu nước, về tinh thần tận tụy, hy sinh phấn đấu quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Di sản tư tưởng và tấm gương đạo đức cao đẹp của Người mãi mãi là tài sản quý báu của toàn Đảng, toàn dân ta, là niềm tự hào, nguồn cổ vũ lớn lao đối với các thế hệ người Việt Nam.

Cách đây tròn 100 năm, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành từ giã quê hương, lên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin sang phương Tây, mang theo mình một khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước để đem lại: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”. Người đã bôn ba khắp năm châu, vừa lao động vừa học tập, nghiên cứu lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới, để rồi tìm thấy ánh sáng cách mạng của thời đại: Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tham luận của các nhà khoa học tại hội thảo đã tập trung phân tích, đánh giá sâu sắc hơn về bối cảnh lịch sử thế giới, trong nước những năm đầu thế kỷ XX và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành; những cống hiến vĩ đại của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc xây dựng, hoàn thiện đường lối và tổ chức lãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi; ý nghĩa lịch sử của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước đối với tiến trình cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới.

Gần 60 tham luận được trình bày và gửi đến hội thảo khẳng định: Một trăm năm đã trôi qua kể từ ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước nhưng ý nghĩa to lớn của sự kiện ấy vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc.

Đối với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, sự kiện Bác Hồ quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước là một dấu son mở đầu trang sử mới trong lịch sử dân tộc ta. Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, lựa chọn ra con đường cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, con đường cách mạng đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tiễn của lịch sử nước ta, đưa cách mạng nước ta đến thành công…

Đối với Đảng ta, nhìn lại chặng đường hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng và con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn, lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi hết sức to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành tư tưởng chỉ đạo trong đường lối của Đảng, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mặc dù bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế hiện nay có nhiều biến đổi, song Đảng ta vẫn khẳng định kiên định mục tiêu, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.

Minh Duy
gdtd.vn

Tấm lòng của Bác Hồ thật là mênh mông vĩ đại

Đã 25 năm kể từ khi bài thơ dài Việt Nam – tình yêu của tôi của Vili Xanbao ra đời, được dịch và trân trọng giới thiêu trên báo Nhân dân số ra ngày 6-2-1977. Cho đến bây giờ, nhiều câu trong đó vẫn cứ ngân lên trong lòng tôi:

Chào bạn Việt Nam! Có nghe tôi hát
Có nghe xôn xao nhịp đập tim tôi
Giữa sớm mai nay, tiếng hát bồi hồi
Đưa tôi đến những vùng quê xa tít

Năm 1988, ở tuổi 74, ông lại hoàn thành bài thơ Nhật ký Việt Nam dài đúng 200 câu, thể hiện những tình cảm nồng nàn đối với Bác Hồ và nhân dân ta.

Cách đây gần một năm, trong dịp công tác ở Đức tôi đã đến thăm ông tại nhà riêng ở phố Rathaodơ, trung tâm thủ đô Beclin. Ông đang ốm nặng, nhưng được bà Ria, người bạn đời yêu quý của ông báo tin có khách Việt Nam đến, gương mặt ông tươi tắn hẳn lên. Ông vẫn nằm ở giường, lâu nay ông vẫn nằm như thế – nhưng cổ nghển lên, đưa cả hai tay ôm lấy tôi: “Việt Nam! Việt Nam!”. Tôi để ý: hai khoé mắt ông ngấn lệ. Ông xúc động nói: “Việt Nam và Bác Hồ lúc nào cũng hiển hiện trong tâm hồn tôi”.

Là người quen biết ông từ lâu, lại đã từng hợp tác với nhau trong một số công việc báo chí và văn học, tôi rất hiểu tấm lòng ông. Từng mấy thập kỷ làm Tổng thư ký Uỷ ban Việt Nam, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Đoàn kết của Cộng hoà Dân chủ Đức, ông thực hiện trách nhiệm của mình một cách tuyệt vời, không chỉ với cương vị một cán bộ Nhà nước, một “quan chức” mà trước hết, trên hết, tự xác định là một người bạn thực sư của Việt Nam. Con người hiền lành, giàu tình cảm và rất đỗi khiêm nhường ấy đã có sau lưng mình gần tám chục năm hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú – kể từ lúc đứng trong hàng ngũ Đội thiếu niên Chim ưng đỏ ở tuổi lên 9, miệt mài nghiên cứu, viết sách, viết báo. Tập hồi ức Thẳng lưng mà bước của ông vừa xuất bản mà tôi hân hạnh được ông tặng riêng một cuốn, là sản phẩm chủ yếu của quá trình lao động miệt mài ấy. Ngay trong tập hồi ức này, ông dành hẳn một chương viết về Việt Nam và đặc biệt về những dịp ông được tiếp xúc với Bác Hồ. Tình cảm ấy, ở ông, như một sợi chỉ đỏ, xuyên suốt bao nhiêu năm qua. Gần 30 năm trước, trong bài Nghĩ đến Việt Nam, nghĩ đến Bác Hồ, ông đã viết:

“Là một người từng công tác ở Uỷ ban Việt Nam, bao nhiêu năm qua, tôi đã lắng nghe với tất cả tâm hồn mình những bước đi của sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nạm dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ. Đối với chúng tôi, Việt Nam có nghĩa là Bác Hồ. Trên làn môi cửa trẻ con nước chúng tôi, hai tiếng “Bác Hồ” được gọi với niềm yêu thương, tin cậy, trìu mến. Riêng đối với tôi, bởi vì Việt Nam đã trở thành quê hương thứ hai của mình, tôi xin được phép gọi Bác Hồ là người cha thân thiết của tôi. Tôi bỗng nhớ đến một câu ca dao Việt Nam rat dễ thương:

Tháp Mười đẹp nhất hoa sen
Nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

Từng đọc những vần thơ thiết tha về Bác Hồ, về Việt Nam của Vili Xanbao, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã có những cảm nghĩ hết sức tốt đẹp và đầy lòng biết ơn đối với người đồng nghiệp ở phía trời Tây.

Trong các tác phẩm của V.Xanbao, theo nhận xét của tôi – người được đọc và dịch gần hết ra tiếng Việt – tình cảm của ông đối với Bác được thể hiện đầy đủ nhất ở hồi ức Tháng giêng năm ấy. Tháng Giêng năm ấy là năm 1969, năm cuối cùng trong đời Bác Hồ vĩ đại, vào ngày 23, tính ra chỉ 7 tháng 9 ngày trước khi Người vĩnh biệt cuộc đời này, ông và các đồng chí của mình đã được đến thăm Bác Hồ tại nhà riêng. Ông cho biết: Hồi này – so với những lần gặp trước – trông Bác đã yếu nhiều. Mọi người trong đoàn đều lo ngại về sức khoẻ của Người. Nhưng Người chỉ mỉm cười đôn hậu: “Các đồng chí đừng lo. Tôi vẫn ăn, ngủ và làm việc bình thường”. Rồi Người âu yếm hỏi: “Các chú thấy co lạnh không?”. Mọi người trả lời: “Thưa Bác, không ạ!” Bác là người già yếu, đáng lo nhất về sức khoẻ thì Người lại quan tâm, hỏi thăm sức khoẻ từng người một. Lúc ấy, trong đoàn, chỉ có Chủ tịch Uỷ ban Việt Nam Mác Dêphrin bi cúm, phải nằm Bệnh viện Hữu Nghị mất mấy ngày. Theo phép lịch sự, Mác Dêphrin cởi áo khoác ngoài và định cởi cả khăn quàng ra thì Bác xua tay: “Không nên cởi khăn quàng, chú ạ!”. Nói xong, Người cởi khăn quàng của Người ra và quàng thêm cho Dêphrin. Thấy Người cũng mệt, Chủ tịch Uỷ ban chúng tôi vội quàng chiếc khăn của ông cho Người.

Trong cuộc gặp này, Bác Hồ đã được báo cáo rất tỉ mỉ về phong trào ủng hộ Việt Nam ở Cộng hoà Dân chủ Đức, từ các hoạt đông: “Điện cho Việt Nam”, “Xe đạp cho Việt Nam”, “Máu cho Việt Nam”… cho đến những buổi hoà nhạc quyên tiền theo yêu cầu thính giả của đài phát thanh, những “quầy hàng đoàn kết do thanh niên và thiếu niên, nhi đồng tổ chức… Đoàn đại biểu Uỷ ban Việt Nam trao tặng Bác những món quà mà nhân dân ở các nơi của Cộng hoà Dân chủ Đức gửi biếu Người. Bác tỏ ý rất vui và xúc động trước tình cảm chân thành của mọi người trên quê hương Các Mác.

Trong món quà kính dâng Bác Hồ, Người rất thích tác phẩm Việt Nam trong giờ phút này – một cuốn sách dày dặn, giấy tốt, khổ to, mới được xuất bản trước đó ít lâu. Đây là công trình của nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi ở Đức và trên thế giới như Anna Dêgớc, Phởítxơ Brêmơ, Pao Đếtxao, Xtê Phan Hêmơlin, Gêoóc Maorơ, Ôttô Nagen, Vili Xítê, Cuốc Stécnơ, Bổít Pôlêvôi, Sôlôkhốp, Iven, Êptusenkô, Pêtơ Vaisơ… từ khắp các lục địa cũng gửi bản thảo tới, hưởng ứng hành động chung giàu ý nghĩa. Tiền bán sách được gửi vào quỹ đoàn kết ủng hộ Việt Nam. Đăc bịệt, hơn 30 tác giả ở Mỹ, trong đó có Philíp Bônỗki, Pêthơ Dêgơ… cũng viết bài cho tập sách…

Là người biết tiếng Đức, Bác Hồ lật từng trang sách một tấm lòng trân trọng. Người chú ý từng tên tác giả và cũng dừng lại khá lâu ở bản thống kê phong phú, độc đáo về sự phát triển của Việt Nam trong các thế kỷ qua. Người được giao báo cáo với Bác về mọi việc cụ thể là Vili Xanbao. Riêng về cuốn sách này, Bác Hồ nói với ông: “Đây là hành động chung bao trùm khắp thế giới. ý tưởng của các nhà văn Đức thật đáng ca ngợi. Nhân dân Việt Nam, qua tác phẩm này, thêm một lần đón nhận những tiếng nói đoàn kết chiến đấu cất lên từa nhiều phương trời…”. Bác còn hỏi thăm về từng tác giả, như Brunô Apítxơ, người viết cuốn Trần trụi giữa bầy sói; Cuốc và Gien Stécnơ, những người Bác Hồ từng có lần tiếp tại nhà sàn này, hoặc Erích Noisơ, nhà văn đã viết vở kịch Cuộc chiến tranh bẩn thỉu nói về một làng quê Việt Nam bên sông MêKông và về Hoàng cung của Bảo Đại…

Vili Xanbao vui mừng được giới thiệu với Bác Hồ những bức tranh do thiếu nhi Đức vẽ, những vần thơ do các em viết hoặc những “sản phẩm” do các em làm để bán tại các quầy “đoàn kết” lấy tiền ủng hộ Việt Nam. Nhà thơ kính biếu Bác một quyển anbum Tem về Việt Nam, trong đó có nhiều tem mang hình ảnh Bác Hồ.

Trong bầu không khí hết sức cởi mở ấm áp, Bác sĩ Mác Dephrin nêu một vấn đề khá quan trọng để xin ý kiến Người. Số là, trong thời giàn đó, nhiều thanh niên ở Cộng hoà dân chủ Đức tình nguyện xin được sang Việt Nam trực tiếp cầm súng chống Mỹ. Nghe báo cáo xong, Bác nở một nụ cười trìu mến và chậm rãi nói:

– Tôi rất vui, khi được biết ý định đó của các cháu. Đó là một ý định tốt, rất đáng hoan nghênh. Xin nhờ các đồng chí chuyển lời cảm ơn của tôi tới các cháu. ý định đó, quyết tâm đó của các cháu nói lên rằng, tình đoàn kết quốc tế của thế hệ trẻ nước Cộng hoà Dân chủ Đức đã phát triển ở mức độ cao nhưng vấn đề là cần làm cho các cháu hiểu rằng: chúng ta đừng để nổ ra một cuộc chiến tranh thế giới. Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình nên mới tiến hành cuộc đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh này. Chúng tôi không những chiến đấu vì bản thân mình mà chính là vì lợi ích của toàn nhân loại. Tôi nghĩ rằng, ở Đức cũng như ở các nước khác trước hết cần tiến hành phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam ngay trong nước mình, đó là một phong trao ủng hộ rộng khắp về chính trị, tinh thần và vật chất…

Nghe Bác nói, các bạn Đức càng thấm thía về sự quan tâm của Người đối với lợi ích chung của hoà bình thế giới. Vili Xanbao viết: “Tấm lòng của Bác thật là mênh mông, vĩ đại! Trong tầm nhìn của Bác, không những cho thấy Người là nhà quốc tế đáng kính phục mà còn là nhà văn hoá lớn, giàu tình thương yêu nhân loại. Nào ai ngờ rằng chỉ sau đó ít tháng, Bác Hồ đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của mọi con người lương tri trên trái đất này…”

Báo Văn nghệ, số 20, ngày 18/5/2002
cpv.org.vn

Bác Hồ trong lòng dân Tây Đô

QĐND Online – Bác Hồ đã đi xa hơn 40 năm, nhưng hình ảnh giản dị, đầy cao quý về vị cha già dân tộc vẫn không phai mờ trong lòng người dân Việt Nam. Với người dân thành phố Cần Thơ – đất Tây Đô, Bác vẫn còn ở đâu đó, rất gần gũi, thân thương trong cuộc sống hàng ngày như để dõi theo sự phát triển đi lên của đất nước nói chung và mảnh đất Tây Đô nói riêng.

Treo ảnh Bác để học tập Bác

Hòa thượng Lý Sân, Ủy viên Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội trưởng hội Đoàn kết sư sãi yêu nước TP Cần Thơ, trụ trì chùa Săn- vor- Pô-thi, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn tâm sự: tôi coi Bác như đức Phật. Việc tôi và các phật tử rước ảnh Bác, thờ Bác là niềm vui, niềm tự hào của chúng tôi. Một con người cả đời hy sinh, cống hiến thân mình vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam, một Danh nhân Văn hóa thế giới như Người chẳng khác nào Phật vậy. Hòa thượng Lý Sân kể: “Tôi có may mắn được ra thăm Hà Nội, được viếng lăng Bác 4 lần. Lần nào tôi cũng rất xúc động. Tôi nhớ nhất lần đầu tiên được tận mắt nhìn căn nhà sàn của Bác đơn sơ, giản dị khiến tôi rất bất ngờ. Vị lãnh tụ của đất nước của dân tộc mà sống giản dị như thế trên thế giới có lẽ chỉ có một- Bác Hồ. Tôi vẫn thường khuyên các phật tử sống tiết kiệm, siêng năng lao động đó cũng là cách học tập Bác thiết thực nhất, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho mỗi gia đình, xây dựng quê hương đất nước giàu mạnh. Đến nay, có 250 hộ đồng bào Khơ-me phường Châu Văn Liêm, Ô Môn treo ảnh Bác. Hòa thượng Lý Sân kể: “Hôm tổ chức rước ảnh Bác vui và trang trọng lắm, có tổ chức biểu diễn văn nghệ để phục vụ đồng bào nhưng chỉ tiếc hôm đó thiếu ảnh để trao cho đồng bào…”.

Anh Lý Phiên (người Khơ- me, phường Châu Văn Liêm, Ô Môn, Cần Thơ) bên ảnh Bác

Ông Bùi Xuân Mỹ, Chủ tịch hội Cựu chiến binh quận Ô Môn cho biết thêm: Việc rước ảnh Bác, treo ảnh Bác là hoàn toàn tự nguyện, thể hiện lòng kính yêu đối với Bác Hồ.

Ông Nguyễn Văn Hồng, Trưởng ban trị sự phật giáo Hòa Hảo, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt đã xúc động phát biểu trong buổi lễ trao ảnh Bác Hồ nhân kỷ niệm 121 năm sinh nhật Bác: Mọi người dân Việt Nam đều hiểu và ghi nhớ công ơn to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi rất mừng khi có ảnh Bác treo trang trọng trong nhà mình.

Bà Võ Thị Út, 65 tuổi ở ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền phấn khởi: “Tôi đã sửa sang lại nhà cửa, chuẩn bị một chỗ trang trọng nhất trong nhà để hôm nay rước ảnh Bác Hồ về treo. Bác là vị cha già kính yêu đã hy sinh cả cuộc đời vì dân tộc. Ngày nay, đất nước thanh bình, người dân có cơm no áo ấm, đưa ảnh Bác về treo trong nhà là cách bà con ghi nhớ công ơn trời biển của Bác”.

Treo ảnh Bác-nét đẹp văn hoá

Ông Trần Thành Nghiệp, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP Cần Thơ xúc động: Người đã đi vào cõi vinh hằng hơn 40 năm nhưng hình ảnh của người vẫn rất gần gũi, thân thương đối với người dân Cần Thơ. Vì thế, từ năm 2008, chúng tôi đã quyết định phát động phong trào vận động các hội viên cựu chiến binh rước ảnh Bác về thờ ở vị trí trang trọng nhất trong mỗi gia đình. Đến nay, tại các gia đình các hội viên cựu chiến binh thành phố Cần Thơ đều treo ảnh Bác. Năm 2010, phong trào rước ảnh Bác về gia đình được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng. Đây là cách thể hiện tình cảm của người dân đất Tây Đô với Bác kính yêu!

Chỉ tính từ đầu năm 2011 đến nay, TP Cần Thơ đã có hơn 60.000 hộ gia đình rước ảnh Bác về thờ tại gia đình. Toàn thành phố hiện có 160.000 ảnh Bác được thờ tại các gia đình. Các buổi lễ trao ảnh Bác đều được lãnh đạo Hội Cựu chiến binh, UBND, Uỷ ban MTTQ các xã tổ chức trang trọng.

Phong trào rước ảnh Bác ở Cần Thơ đã được đông đảo người dân hưởng ứng nhiệt tình. Đăc biệt, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ có đông đồng bào dân tộc Khơ me, lễ rước ảnh Bác Hồ ngay trong chùa Kinh Số 5 và mời sãi cả thay mặt lãnh đạo trao ảnh Bác Hồ cho nhân dân. Ở Nhà thờ ấp Bờ Bao thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh có gần 100% hộ treo ảnh Bác Hồ. Hình ảnh người dân xứ đạo nhận ảnh Bác do chính vị Linh mục trao cho khiến những người chứng kiến không khỏi xúc động.

Cựu chiến binh Lê Quang Tuấn, xã Trường Long, huyện Phong Điền cho biết: có ảnh Bác thờ trong gia đình là dịp để chúng tôi chiêm nghiệm lại mình, học tập Bác để sống tốt hơn. Chúng tôi xin hứa với Bác quyết tâm thi đua lao động sản xuất, thắt chặt tình làng nghĩa xóm, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền thật sự trong sạch, vững mạnh và xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, xứng đáng với sự hy sinh lớn lao của Bác cho đất nước cho dân tộc Việt Nam.

Phong trào rước ảnh, treo ảnh Bác tại mỗi gia đình không chỉ thể hiện tình cảm của người dân đất Tây Đô với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc mà còn là nét đẹp văn hóa mới của người dân nơi đây.

Bài và ảnh: NGUYỄN KIỂM
qdnd.vn

Chỉ có một nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa của Bác Hồ

QĐND Online- Hiệp định Paris về “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết, nhân dân Việt Nam đã “đánh cho Mỹ cút” giành thắng lợi quyết định. Bước tiếp theo là “đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, đó là quá trình đấu tranh quyết liệt và phức tạp trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Trong đấu tranh ngoại giao và các hoạt động quốc tế để buộc Nguyễn Văn Thiệu phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris của các lực lượng, diễn ra mạnh mẽ, phong phú và đa dạng. Tiêu biểu là Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp đã có các hoạt động vận động các nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh thống nhất đất nước. Quá trình đó, có một câu chuyện thú vị tại Pháp đã nói lên một chân lý sáng ngời.

Quảng Trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập

Từ năm 1973 đến đầu năm 1975, Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tổ chức nhiều cuộc vận động một số nước ở châu Phi có quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đại sứ ta tại Pháp có nhiều cuộc gỡ với đại sứ các nước ở Paris và đi đến các nước để chuẩn bị cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước đó. Quá trình đó, Đại sứ ta luôn tranh thủ vận động họ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Những hoạt động đó đã đạt kết quả tốt đối với một số nước như Bê Nanh, Công Gô, Angola,… ở châu Phi và Bồ Đào Nha ở Tây Âu. Đối với một số nước khác mặc dù chưa có kết quả ngay do điều kiện của họ, nhưng hầu hết đều đã bày tỏ tình cảm với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với nước Mađagatca có câu chuyện khá thú vị như sau: Nhân dịp ông Ratsiraca Ngoại trưởng nước Mađagatca (sau này trở thành Tổng thống Mađagatca) có chuyến công tác qua Paris, đồng chí Võ Văn Sung, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp xin gặp và đặt vấn đề Mađagatca công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với cách nói thân thiết của một người bạn, ông cho biết không bao giờ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đồng chí Võ Văn Sung hỏi lý do vì sao? Ông Ratsiraca trả lời “vì Mađagatca đã có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và không có quan hệ với chính quyền Sài Gòn”1. Ông Ngoại trưởng còn khẳng định: “Đối với chúng tôi thì nước Việt Nam là một, chỉ có nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của “Bác Hồ”2. Vì vậy, “nếu công nhận bất kỳ một chính phủ nào khác là trái với nguyên tắc mà chúng tôi tôn trọng: nước Việt Nam là một! Chúng tôi đã từ chối việc công nhận bọn bù nhìn ở Sài Gòn”3. Đồng chí Võ Văn Sung giải thích lại tình hình miền Nam và chính sách của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam; những điều khoản của Hiệp định Paris và những vấn đề thuộc về quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam Việt Nam, ở đó có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát,… Thấy ông Ratsiraca còn phân vân, đồng chí Võ Văn Sung đã phải nói rằng: “Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng là anh em chúng tôi cả” và “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Cách mạng lâm thời tuy hai cũng như một, nhưng tuy một mà cho đến khi Việt Nam tái thống nhất thì vẫn phải là hai”4. Khi hiểu ra vấn đề, ông Ratsiraca hứa sẽ báo cáo về Chính phủ. Hơn một tuần sau đó, Đại sứ quán Mađagatca ở Paris báo cho Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Pháp biết là Mađagatca đồng ý công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.

———————-

1,2. Võ Văn Sung (2005), Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris, Nxb QĐND, tr.88.
3, 4. SĐD, tr.88-89.

TS Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn

Trở lại đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Vũ Mai Hoàng
Đình Song Linh

Dải đất nhỏ hình chữ S nằm bên bờ Thái Bình Dương trở nên gần gũi, thân thương đối với Bờ-ra tự khi nào, ông không còn nhớ nữa, nhưng những kỷ niệm đẹp tại đất nước này đã và sẽ mãi theo ông suốt cuộc đời.

Năm 1955, Bờ-ra, cậu bé chín tuổi người ấn Độ lần đầu theo cha là Chủ tịch ủy ban giám sát quốc tế về việc thực hiện Hiệp đinh Giơ-ne-vơ sang Việt Nam. Đất nước Việt Nam bấy giờ tạm thời bị chia cắt nhưng vì theo cha cho nên cậu bé có điều kiện đến những thành phố như: Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Sài Gòn (TP Hồ Chí Minh ngày nay)… Phong cảnh và con người Việt Nam dần cuốn hút cậu. Từ đấy, mỗi dịp nghỉ học dài ngày tại ấn Độ, cậu lại thu xếp thời gian sang thăm cha, đất nước Việt Nam mến yêu. ấn tượng lớn với Bờ-ra là Hà Nội, một thành phố đẹp mang dáng vẻ thâm trầm và cổ kính. Cha con Bờ-ra ở trong một khách sạn lớn kiến trúc kiểu Pháp, nằm bên một con phố yên bình. Ngày đó, trên đường phố chỉ có những người đạp xe qua lại, những người bán hàng rong với những món hàng trĩu nặng trên vai hoặc trên đầu. Mỗi khi cha đi làm, cậu bé thường thơ thẩn đi dạo dưới những tán cây xanh của phố phường Hà Nội, tìm bắt những chú bướm đủ sắc mầu cất vào bộ sưu tập, hoặc tìm cách trò chuyện với những người Việt Nam. Bờ-ra từ lâu ấp ủ một ước mơ thầm kín là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ được nhân dân Việt Nam gọi là Bác Hồ, dù cậu biết đó là điều rất khó. Thật bất ngờ, mơ ước ấy trở thành hiện thực vào ngày 1-1-1957, năm cậu 11 tuổi. Nhân Tết dương lịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới các đại sứ, đại diện các phái đoàn ngoại giao và tổ chức quốc tế tại Việt Nam dự buổi gặp thân mật tại Phủ Chủ tịch. Cha Bờ-ra đưa cậu theo. Bờ-ra còn nhớ mãi hình ảnh một cụ già tóc bạc, đôi mắt sáng ngời, ăn mặc giản dị ở ghế chủ tọa. Thật may mắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn thấy cậu trong số các quan khách và trìu mến gọi cậu bé đến ngồi cạnh Người. Bằng giọng nói hiền từ, Người ân cần thăm hỏi Bờ-ra về chuyện học hành, về gia đình, về những ấn tượng đối với Hà Nội, Việt Nam và cả những ước mơ… Đó là những phút giây hồi hộp nhất trong cuộc đời Bờ-ra. Cậu không nhớ đã trả lời những gì, chỉ nhớ không khí lúc đó thật ấm áp, gần gũi và xúc động. Bác Hồ tặng Bờ-ra con chim bồ câu bằng đá, biểu tượng cho hòa bình cùng một quả quýt và căn dặn mang về làm quà cho mẹ. Bờ-ra theo cha trở về ấn Độ và mang theo món quà quý giá của Chủ tich Hồ Chí Minh. Còn bức ảnh chụp cậu ngồi bên Bác Hồ được Bờ-ra và cả gia đình trân trọng giữ gìn trong an-bum như một bảo vật. Nhiều năm sau đó, mỗi lần khách đến chơi nhà, đặc biệt là khách từ Việt Nam sang, Bờ-ra đều tự hào kể lại kỷ niệm ấy và cho mọi người xem ảnh.

Sau gần nửa thế kỷ, Bờ-ra mới có dịp trở lại Việt Nam theo lời mới của Ban Bí thư T.ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với danh nghĩa là Thiếu tướng, Phó Tổng giám đốc Hiệp hội giáo dục quốc phòng cho học sinh ấn Độ (NCC) – một tổ chức thanh niên quy mô-lớn nhất ấn Độ với khoảng 1,4 triệu thành viên là học sinh, sinh viên tuổi từ 13 đến 22, được tuyển chọn từ các trường phổ thông, cao đẳng và đại học cả nước. Việc trở thành một thành viên hay còn gọi là thiếu sinh quân của NCC là niềm tự hào đối với thanh, thiếu niên ấn Độ. Chuyến thăm Việt Nam của Thiếu tướng nhằm giao lưu, học hỏi và tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa thanh niên và nhân dân hai nước. Chúng tôi gặp ông tại Hà Nội vào thời điểm cả nước kỷ niệm lần thứ 112 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thiếu tướng Bờ-ra cho biết những chuyến thăm và giao lưu giữa Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và NCC mang lại kết quả thiết thực và bổ ích. Trong thời gian tới, tổ chức đoàn hai nước sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác thông qua các chuyến thăm và giao lưu.

Có lẽ nhờ những hoạt động hữu nghị ấy, các cán bộ Đoàn Việt Nam mới được biết câu chuyện cảm động về lần đầu và là lần duy nhất cậu bé Bờ-ra được gặp Báo Hồ. Anh Trần Đắc Lợi, Trưởng ban Quốc tế T.ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, cho biết, trong dịp công tác tại ấn Độ, đã tận mắt nhìn thấy bức ảnh gốc chụp từ năm 1957, được gia đình Thiếu tướng bảo quản rất cẩn thận. Thiếu tướng Bờ-ra tâm sự, suốt 45 năm qua, mỗi lần nhìn bức ảnh Bác, trong ông lại rộn lên ao ước được trở lại Việt Nam, nơi ông gửi gắm bao kỷ niệm, không chỉ để tăng thêm tình đoàn kết, gắn bó giữa thanh niên và nhân dân Việt nam – ấn Độ mà còn thực hiện tâm nguyện đến thăm vị lãnh tụ kính yêu Hồ Chí Minh- người bạn lớn của nhân dân ấn Độ. Vì thế, khi đặt chân tới Việt Nam sau nhiều năm xa cách, điểm đến đầu tiên của ông là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Khu di tích Phủ Chủ tịch. Với ông, Hà Nội giờ đây dù hiện đại, nhộn nhịp hơn xưa nhưng không làm giảm nét đẹp tự nghìn xưa còn lắng đọng. Người Việt Nam năng động hơn nhưng tình cảm của người Việt Nam vẫn như thuở nào, chân tình và nồng ấm.

Báo Nhân dân, ngày 20/5/2002
cpv.org.vn

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình

Quảng trường Ba Đình và lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành không gian thiêng liêng của Thủ đô Hà Nội và của cả nước.

Quảng trường Ba Đình và lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hà Nội là trái tim của nước Việt Nam thì quảng trường Ba Đình là trái tim của Hà Nội. Vì tại đây đã diễn ra những sự kiện trọng đại của thủ đô và cũng là của cả nước. Nơi đây vốn là khu vực Cửa Tây của thành Hà Nội cổ. Đầu thời Pháp thuộc, thực dân phá thành, làm một vườn hoa nhỏ gọi là điểm tròn Puginier. Nǎm 1945 mới có tên là vườn hoa Ba Đình. Địa danh Ba Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hoá nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9/1886 đến tháng 1/1887.

Cách mạng Tháng Tám thành công, tại Quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sự kiện đó cùng tên Quảng trường Ba Đình đã được cả thế giới biết đến.

Ngày 2/9/1945 nửa triệu nhân dân Hà Nội và phụ cận đã cuồn cuộn đổ về Quảng trường này để dự lễ Tuyên ngôn Độc Lập. Lễ đài dựng giữa quảng trường, bốn mặt hình thang phủ vải đỏ, ở giữa có hình nổi ngôi sao vàng nǎm cánh. Đúng 14 giờ các vị trong Chính phủ lâm thời đã có mặt trên lễ đài. Nửa triệu người hân hoan, xúc động, im phǎng phắc lắng nghe tiếng nói của lãnh tụ. Bác đọc xong, Chính phủ lâm thời tuyên thệ.

Ngay sau đó, Bộ trưởng bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trình bày tình hình trong nước và chính sách của Chính phủ. Bộ trưởng bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo công việc tước ấn kiếm tại Huế, trình với đồng bào quả ấn và thanh kiếm tượng trưng cho uy quyền của triều Nguyễn mà Bảo Đại đã nộp cho Cách mạng. Đại diện Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng nói về cuộc đấu tranh của nhân dân và kêu gọi đoàn kết, đẩy mạnh quá trình Cách mạng. Sau cùng, mít tinh biến thành biểu tình tuần hành trên các đường phố.

Ngày 9/9/1969, sáu ngày sau khi Hồ Chủ Tịch qua đời, cũng tại Quảng trường này, lễ truy điệu Người đã được cử hành trọng thể. Mười vạn đồng bào Thủ đô và các địa phương cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế đã tới đây dự lễ.

Vào lăng viếng Bác

Nay, mặt chính của Quảng trường – mặt tây – là lǎng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau hai năm xây dựng, ngày 19/8/1975 lăng khánh thành.

Lăng gồm ba lớp với chiều cao 21.6m. Lớp dưới kết cấu bậc nhiều cấp, có lễ đài dành cho đoàn chủ tịch khi mít tinh. Phần giữa là kết cấu trung tâm của lăng, gồm phòng thi hài, hành lang, cầu thang lên xuống. Phần trên là mái lăng được tạo dáng cách điệu bông sen nở. mặt chính lăng có dòng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” bằng đá hồng ngọc màu mận chín.

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng, thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ…”

Lăng là nơi giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã đuợc UNESCO tặng danh hiệu Danh nhân Văn hóa thế giới và Anh hùng giải phóng dân tộc nhân kỷ niệm 100 ngày sinh (1890 – 1990).

Công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả lao động sáng tạo của nhiều nhà khoa học và công nhân hai nước Việt Nam – Liên Xô tỏ lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh và là sản phẩm của tình hữu nghị Việt – Xô.

Trước lăng là quảng trường với 320m chiều dài và 100m chiều rộng, đủ chỗ cho 20 vạn người dự mít tinh. Quảng trường có 168 ô cỏ bốn mùa xanh tươi, xen giữa là lối đi rộng 1,4m. Giữa quảng trường, trước lăng là cột cờ cao 25m.

Nhà sàn Bác Hồ

Từ sau năm 1954, có một số công trình được xây dựng thêm xung quanh khu vực Quảng trường Ba Đình, bên cạnh những kiến trúc thuộc địa cũ. Đó là Hội trường Ba Đình (hoàn thành năm 1963 – công trình được phá dỡ năm 2008 để nhường chỗ cho dự án xây dựng Nhà Quốc hội mới), Bảo tàng Hồ Chí Minh (hoàn thành năm 1990), Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ hy sinh vì Tổ Quốc (hoàn thành năm 1994).

Ngoài các công trình lớn như trên, trong quần thể kiến trúc ở Quảng trường Ba Đình có một số công trình nhỏ nhưng cũng rất quan trọng và ý nghĩa như Chùa Một cột, khu vực nhà sàn Bác Hồ trong Phủ Chủ tịch. Đây chính là nơi ở và làm việc của Người, hồ cá, vườn cây, rặng dừa, những hàng rao dâm bụt… Tất cả đã đi vào thơ ca Việt Nam. Đặc biệt hơn nữa, với việc phát lộ Hoàng Thành Thăng Long ngay bên quảng trường; Ba Đình càng trở nên ý nghĩa và thiêng liêng hơn bao giờ hết.

Quảng trường Ba Đình và lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành không gian thiêng liêng của Thủ đô Hà Nội và của cả nước.

Rặng tre ngà bên Lăng Bác

Bảo tàng Hồ Chí Minh

Chùa Một Cột

Theo (quehuongonline.vn)
vietbao.vn

Nhớ mãi bài thơ chúc Tết của Bác Hồ năm Nhâm Thìn 1952

QĐND – Cách đây đúng 60 năm, ngày Mồng Một Tết năm Nhâm Thìn (1952), chúng tôi làm việc tại Đài Tiếng nói Miền Nam, Liên khu V. Qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, chúng tôi thu được bài thơ chúc Tết của Bác Hồ. Bài thơ viết:

“Xuân này, Xuân năm Thìn
Kháng chiến vừa 6 năm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trăm phần trăm.
Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tăng gia
Năm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta.
Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân”.

Chúng tôi vô cùng phấn khởi vội báo cáo lên Liên khu ủy, họp toàn đài phát động đợt thi đua mới làm theo lời Bác và bàn cách phổ biến rộng lời Bác kêu gọi và mừng Xuân qua làn sóng Đài Tiếng nói Miền Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc Tết (1967). Ảnh tư liệu

Đài chúng tôi thời gian ấy đóng tại một vùng quê nghèo, hẻo lánh, bên bờ sông Lại Giang, thuộc xóm Vạn Tín, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, được đồng bào thương yêu, đùm bọc và bảo vệ tuyệt đối.

Anh Võ Bài, nhạc sĩ của đài nhanh chóng phổ nhạc bài thơ của Bác theo làn điệu dân ca Liên khu V và họp anh chị em chúng tôi lại học hát. Ngay tối hôm ấy, Mồng Một Tết, trong chương trình phát thanh đầu Xuân, sau lời giới thiệu của phát thanh viên Minh Lý, “toàn ban nam nữ” của đài đã chen nhau trong “lều phát thanh” (làm bằng tranh tre) hát bài ca chúc Tết của Bác, trong bầu không khí trang nghiêm và niềm xúc động không sao tả xiết. Giọng nữ chính là chị Bích Hường. “Dàn nhạc đệm” có Võ Bài đàn băng-giô, anh Liêng đàn măng-đô-lin và anh Phú đàn ác-coóc-đê-ông – chiếc đàn này là chiến lợi phẩm bộ đội ta thu được trong trận diệt đồn Túy Loan và Ban chỉ huy Mặt trận Quảng-Đà gửi tặng đài. Liên tiếp hai ngày, Mồng Hai và Mồng Ba Tết, Đài Tiếng nói Miền Nam lại phát chương trình đặc biệt này, mỗi lần lại huy động “toàn ban nam nữ”, vì chúng tôi ngày ấy không có máy ghi âm. Cũng xin được nói rằng, Tiếng nói Miền Nam ngày ấy chỉ là “một đài nhỏ xíu ở miền Trung, mà phát sóng lên phủ khắp vùng”, tận Việt Bắc, các đô thị và cả một số nước Đông Nam Á cũng nghe được. Tiền thân của đài là Tiếng nói Nam Bộ, “Tiếng nói căm hờn, tiếng nói chiến đấu”.

Sau Tết, chúng tôi được Liên khu ủy khen ngợi; anh Trần Lâm, Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, từ Chiến khu Việt Bắc gửi điện khen các chương trình Tết của đài và khen bản nhạc lời chúc Tết của Bác là kịp thời và hay. Trong xóm nhỏ đã có vài em bé, nhà gần “lều phát sóng”, nghêu ngao hát bài này.

Sáu mươi năm đã qua, nhưng chúng tôi, những người trong cuộc còn sống đến hôm nay, mãi không quên mùa Xuân Nhâm Thìn năm ấy với lời chúc Tết “vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân” của vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu.

Lý Văn Sáu
Nguyên Phó giám đốc Đài Tiếng nói Miền Nam
qdnd.vn

Bài nói chuyện với nhân dân Trung Quốc qua Đài phát thanh Bắc Kinh (7-7-1955)

Trước hết tôi xin thay mặt nhân dân Việt Nam gửi bà con lời chào thân ái. Tôi cùng Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rất sung sướng được dịp sang thǎm Trung Quốc để thắt chặt thêm tình anh em mà nhân dân hai nước chúng ta đã sẵn có từ mấy nghìn nǎm. Chúng tôi rất cảm động việc Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đón tiếp một cách cực kỳ vồn vã như đón tiếp những người thân thích từ phương xa mới về. Chúng tôi rất sung sướng thấy Mao Chủ tịch và các lão đồng chí ai cũng hồng hào mạnh khoẻ, mọi người đều vui tươi.

Chúng tôi đã đi thǎm vài nhà máy, nông trường, hợp tác xã nông nghiệp, trường học, v.v.. Đến đâu cũng thấy phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội. ở công xưởng thì thấy những máy móc tối tân do các chiến sĩ và anh hùng lao động điều khiển, mức sản xuất ngày càng tǎng. ở nông thôn thì thấy những đám lúa và hoa mầu tươi đẹp như những bức gấm dài rộng mênh mông do bàn tay cần cù của hàng triệu anh chị em nông dân thêu dệt. Bên cạnh nhiều nhà cửa lâu đài, đường sá của thành phố cũ đã sửa sang mở rộng, chúng tôi thấy mọc lên nhà cửa, lâu đài và đường sá mới càng ngày càng nhiều. Nói tóm lại, những điều mắt thấy tai nghe cho phép chúng tôi nói trước rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản, của Chính phủ Trung Quốc và của Mao Chủ tịch, với tinh thần hǎng hái thi đua sản xuất của nhân dân Trung Quốc, kế hoạch 5 nǎm nhất định thành công tốt đẹp. Điều đó làm cho chúng tôi sung sướng vì chúng tôi coi nhân dân Trung Quốc thắng lợi cũng như bản thân Việt Nam chúng tôi thắng lợi.

Tính tôi rất yêu trẻ con cho nên vừa đến Bắc Kinh tôi vội đi thǎm nhà gửi trẻ và trường tiểu học, thấy cháu nào cũng ngoan, cũng xinh đẹp, vui vẻ, mạnh khoẻ, tôi rất sung sướng và thầm nghĩ rằng các cháu ấy sẽ là những công dân của xã hội cộng sản mà chúng ta đang phấn đấu để xây dựng cho tương lai.

Chúng tôi mừng rằng những thành tích tốt đẹp mà chúng tôi trông thấy là kết quả đầu tiên của hàng mấy mươi nǎm phấn đấu anh dũng của Đảng Cộng sản Trung Quốc vĩ đại, của nhân dân lao động Trung Quốc vĩ đại.

Bây giờ tôi xin báo cáo tóm tắt về tình hình của nước Việt Nam chúng tôi:

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhân dân Việt Nam chúng tôi đang ra sức đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Chúng tôi có nhiều khó khǎn nhưng chúng tôi không sợ khó khǎn, bởi vì với sự cố gắng của bản thân chúng tôi, với sự ủng hộ của anh em Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn khác, với sự đồng tình của nhân dân các nước Đông- Nam á và các nước yêu chuộng hoà bình trên thế giới, chúng tôi tin chắc rằng chúng tôi nhất định vượt được mọi khó khǎn và giành được thắng lợi hoàn toàn.

Lời ngắn tình dài, trước khi kết thúc câu chuyện, tôi xin chúc bà con luôn luôn mạnh khoẻ và luôn luôn tiến bộ trong mọi công việc. Tôi gửi các cháu bé Trung Quốc nhiều cái hôn.

Trong lúc chúng tôi ở Bắc Kinh thì tôi tiếp được thư từ của các bà con ở các nơi gửi đến rất nhiều, nhân dịp này tôi xin cảm ơn tất cả bà con.

Tôi xin hô khẩu hiệu:

– Tình hữu nghị nhân dân hai nước Việt – Trung muôn nǎm!

– Hoà bình thế giới muôn nǎm!

—————————-

Nói ngày 7-7-1955.
Báo Nhân dân, số 494, ngày 10-7-1955.
cpv.org.vn

Tổng thống Cộng hòa liên bang Myanmar đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng thống Cộng hòa liên bang Myanmar Thein Sein sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 20 – 21/3/2012. Sáng ngày 21/3/2012, Ngài Tổng thống Thein Sein đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và đặt vòng hoa, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Chính phủ và nhân dân nước Cộng hòa liên bang Myanmar tưởng nhớ sâu sắc Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam”.

Ngài Tổng thống đã ghi vào sổ cảm tưởng của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi rất vinh hạnh được đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và vào Lăng viếng Người, đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tôi tin tưởng rằng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ sống mãi trong trái tim các thế hệ người Việt Nam. Thay mặt Đoàn đại biểu cấp cao Myanmar và nhân danh cá nhân xin bày tỏ sự kính trọng sâu sắc các Anh hùng liệt sỹ, những người đã hy sinh cuộc sống của mình đấu tranh vì nền độc lập của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Thu tuong Mianma2Tổng thống Cộng hòa liên bang Myanmar vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thu tuong Mianma3Tổng thống Cộng hòa liên bang Myanmar Thein Sein
lưu lại cảm tưởng khi vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong những năm qua, Việt Nam – Myanmar đã tích cực củng cố và thúc đẩy quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt. Nhiều chuyến thăm cấp cao lẫn nhau đã được tiến hành. Quan hệ kinh tế – thương mại có những bước phát triển tích cực. Hai bên đã thiết lập Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hóa và khoa học – kỹ thuật (1994) và Tham khảo chính trị thường niên giữa hai Bộ Ngoại giao (2005). Ngoài các quan hệ hợp tác song phương, hai nước còn hợp tác tốt trong khuôn khổ ASEAN, một số tổ chức khu vực và quốc tế như: Hợp tác Tiểu vùng Mekong (GMS); Chiến lược phát triển kinh tế 3 dòng sông (ACMECS); Hợp tác Việt Nam – Campuchia – Lào – Myanmar (CLMV)… Hai nước có quan điểm gần gũi, thường xuyên phối hợp và ủng hộ nhau trên các diễn đàn quốc tế và khu vực.

Lan Hương
bqllang.gov.vn