Tag Archive | Cha già trong ký ức

Những lần được gặp Bác trong nghề báo của tôi

Tôi nhớ ngày 8/3/1947, khi mới lên Việt Bắc, tôi tham gia làm tờ báo tay đầu tiên của cơ quan phụ nữ.

Sau khi làm tờ báo tay đầu tiên, chúng tôi gửi ngay sang để Bác Hồ xem. Bác khen báo đẹp, chúng tôi thấy tự tin hơn. Sau này, tôi vẫn nhớ lời nhận xét của Bác:

– Báo tay các cô đẹp đấy nhưng nó chỉ như bông hoa. Các cô phải làm sao cho thành bắp ngô, củ sắn.

Thực hiện lời Bác, các chị Ban Phụ vận mở chiến dịch trồng dâu nuôi tằm. Chúng tôi đến một xã nghiên cứu cách chặt hom dâu, cách trồng dâu rồi phổ biến trên tờ tin của Phụ nữ Trung ương.

Sau khi xem tờ báo tay của chúng tôi, Bác nói:

– Phụ nữ nên ra một tạp chí riêng.

Ý Bác rất hợp với nguyện vọng của chúng tôi.

Một buổi tối đầu thu năm 1947. Niềm vui bất ngờ. Dưới ánh đuốc, chúng tôi nhìn thấy Bác Hồ. Bác mặc bộ quần áo nâu, ống quần xắn gọn, đi chân đất bước lên cầu thang. Tất cả reo lên:

– Bác đến! Bác đến!

Trên đường đi họp, Bác ghé thăm cơ quan Hội Phụ nữ. Một điều bất ngờ nữa: Dưới ánh sáng của bếp lửa, Bác rút trong chiếc ủng ra mấy nắm rau xanh:

– Đây là giống cải xoong Bác trồng gần nhà. Các cô nên trồng thứ rau này. Rau dễ trồng, mọc nhanh mà lại bổ máu, rất tốt cho các cô đang nuôi cháu nhỏ.

Ngay ngày hôm sau, chúng tôi đã cấy nắm rau Bác Hồ cho trên đám đất có dòng suối nhỏ chảy qua. Rau lan ra rất nhanh. Lúc cơ quan dời đi, “đôi ủng rau” của Bác đã trở thành một vạt rau lớn để lại cho đồng bào.

Tuy cùng ở chiến khu Việt Bắc nhưng 4 năm sau tôi mới được gặp lại Bác trong Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất. Lúc ấy, tôi đang làm phóng viên báo Quân đội thuộc Cục Tuyên huấn quân đội. Bác đến thăm Đại hội. Bác vẫn gầy nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Trong danh sách Chiến sĩ thi đua có chị Nguyễn Thị Chiên. Chị Chiên rưng rưng nước mắt khi nhận cây súng ngắn Bác trao cho chị làm phần thưởng. Cả Đại hội xúc động nghe anh La Văn Cầu báo cáo đã chặt tay mình đang bị thương để tiếp tục chiến đấu…

Sau hòa bình, tôi chuyển về làm phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam. Ngày 8/3/1961, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ 3, tôi lại may mắn được gặp Bác Hồ. Tôi được phân công vào Phủ Chủ tịch chụp ảnh, đưa tin, viết bài về cuộc gặp gỡ giữa Bác Hồ với các đại biểu trong và ngoài nước. Đại biểu tỉnh nào cũng muốn chụp ảnh chung với Bác. Bác ưu tiên cho những đại biểu miền núi và quốc tế. Tôi cuống quýt lấy danh sách đại biểu để trình Bác. Trong lúc vội vàng, tôi viết: “Các đại biểu dân tộc… Cao Bằng”. Bác gọi tôi, cười thân mật:

– Cô phóng viên Nguyệt Tú ra đây. Cháu viết dân tộc Cao Bằng thì Bác biết là dân tộc gì?

Bị Bác hỏi bất ngờ, tôi hoảng quá, mặt nóng ran, vội vàng nhận khuyết điểm. Tôi rất xúc động khi được chụp ảnh Bác đứng với đoàn đại biểu từng tỉnh. Hồi ấy, tôi mới học chụp ảnh. Tôi luống cuống, một tay vẫn cầm bó hoa đại hội tặng, còn một tay bấm máy ảnh lia lịa. Bác cười:

– Hẵng bỏ hoa xuống không thì che mất ống kính.

Nói xong, Bác gọi tất cả phóng viên nhiếp ảnh cùng một số đại biểu quây quần lại bên Bác chụp ảnh.

Riêng tôi vẫn mong được chụp ảnh chân dung Bác. Một mình tôi đứng tần ngần mãi giữa vườn cây. Tiễn đoàn đại biểu cuối cùng, Bác quay gót bước lên mấy bậc tam cấp trước Phủ Chủ tịch. Tôi vội giơ chiếc máy ảnh Pratica lên. Nhưng chưa kịp bấm, Bác đã bước nhanh lên thềm. Nhìn thấy tôi đang loay hoay với chiếc máy ảnh, Bác hiểu ý liền quay lại mỉm cười, kịp trong vài giây cho phóng viên bấm một kiểu ảnh. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác, cũng vừa đến, vui vẻ bảo tôi:

– Thế là Bác ủng hộ phóng viên nữ rồi đấy!

Buổi chiều, Bác Hồ tiếp đoàn phụ nữ Quốc tế. Có cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng dự.

Chị Phan Thị An, Trưởng đoàn phụ nữ Việt Nam, giới thiệu:

– Thưa Bác, chị đại biểu phụ nữ Hungary xin tặng Bác một tượng đá phụ nữ Hungari.

Bác cầm tượng đá, nói vui:

– Tượng phụ nữ Hungary đẹp đấy nhưng phụ nữ Hungary đẹp hơn nhiều. Câu nói dí dỏm bất ngờ của Bác làm mọi người càng thấy Bác thật gần gũi, thân mật.

Năm 1962, Bác Hồ sang Mát-xcơ-va dự Đại hội lần thứ hai của Đảng Cộng sản Liên Xô, anh Nguyễn Chí Thanh đi cùng với Bác. Lần đầu tiên cũng là lần duy nhất tôi được ăn cơm với Bác. Anh Nguyễn Chí Thanh, anh Vũ Kỳ và tôi quây quần quanh Bác bên bàn ăn. Bác vừa ăn vừa nói chuyện rất vui.

Trong chiến tranh chống Mỹ, khi đang làm phóng viên Báo Phụ nữ, tôi được tham gia cuộc họp của Bác tiễn Đoàn Văn công quân đội vào Nam. Tuy làm phóng viên nhiều năm và gặp Bác nhiều lần nhưng lần nào Bác cũng làm tôi bất ngờ. Bác cầm chiếc đĩa to đựng những bông hồng nhung đỏ tươi, hương thơm thoang thoảng. Bác tặng mỗi nữ diễn viên một bông hồng. Có cô nhanh nhảu muốn xin Bác hai bông. Bác cười vui:

– Bác chỉ cho mỗi cô một bông thôi.

Các cô diễn viên ai cũng rất bất ngờ, cảm động. Sau này, tôi rất xúc động khi nghe tin trong Đoàn Văn công đi B lần ấy, mấy cô đã hy sinh.

Nhà văn NGUYỆT TÚ
Theo phunuvietnam.com.vn
Phương Thúy (st)

Advertisements

Nhớ mãi bài thơ chúc Tết của Bác Hồ năm Nhâm Thìn 1952

QĐND – Cách đây đúng 60 năm, ngày Mồng Một Tết năm Nhâm Thìn (1952), chúng tôi làm việc tại Đài Tiếng nói Miền Nam, Liên khu V. Qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, chúng tôi thu được bài thơ chúc Tết của Bác Hồ. Bài thơ viết:

“Xuân này, Xuân năm Thìn
Kháng chiến vừa 6 năm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trăm phần trăm.
Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tăng gia
Năm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta.
Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân”.

Chúng tôi vô cùng phấn khởi vội báo cáo lên Liên khu ủy, họp toàn đài phát động đợt thi đua mới làm theo lời Bác và bàn cách phổ biến rộng lời Bác kêu gọi và mừng Xuân qua làn sóng Đài Tiếng nói Miền Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc Tết (1967). Ảnh tư liệu

Đài chúng tôi thời gian ấy đóng tại một vùng quê nghèo, hẻo lánh, bên bờ sông Lại Giang, thuộc xóm Vạn Tín, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, được đồng bào thương yêu, đùm bọc và bảo vệ tuyệt đối.

Anh Võ Bài, nhạc sĩ của đài nhanh chóng phổ nhạc bài thơ của Bác theo làn điệu dân ca Liên khu V và họp anh chị em chúng tôi lại học hát. Ngay tối hôm ấy, Mồng Một Tết, trong chương trình phát thanh đầu Xuân, sau lời giới thiệu của phát thanh viên Minh Lý, “toàn ban nam nữ” của đài đã chen nhau trong “lều phát thanh” (làm bằng tranh tre) hát bài ca chúc Tết của Bác, trong bầu không khí trang nghiêm và niềm xúc động không sao tả xiết. Giọng nữ chính là chị Bích Hường. “Dàn nhạc đệm” có Võ Bài đàn băng-giô, anh Liêng đàn măng-đô-lin và anh Phú đàn ác-coóc-đê-ông – chiếc đàn này là chiến lợi phẩm bộ đội ta thu được trong trận diệt đồn Túy Loan và Ban chỉ huy Mặt trận Quảng-Đà gửi tặng đài. Liên tiếp hai ngày, Mồng Hai và Mồng Ba Tết, Đài Tiếng nói Miền Nam lại phát chương trình đặc biệt này, mỗi lần lại huy động “toàn ban nam nữ”, vì chúng tôi ngày ấy không có máy ghi âm. Cũng xin được nói rằng, Tiếng nói Miền Nam ngày ấy chỉ là “một đài nhỏ xíu ở miền Trung, mà phát sóng lên phủ khắp vùng”, tận Việt Bắc, các đô thị và cả một số nước Đông Nam Á cũng nghe được. Tiền thân của đài là Tiếng nói Nam Bộ, “Tiếng nói căm hờn, tiếng nói chiến đấu”.

Sau Tết, chúng tôi được Liên khu ủy khen ngợi; anh Trần Lâm, Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, từ Chiến khu Việt Bắc gửi điện khen các chương trình Tết của đài và khen bản nhạc lời chúc Tết của Bác là kịp thời và hay. Trong xóm nhỏ đã có vài em bé, nhà gần “lều phát sóng”, nghêu ngao hát bài này.

Sáu mươi năm đã qua, nhưng chúng tôi, những người trong cuộc còn sống đến hôm nay, mãi không quên mùa Xuân Nhâm Thìn năm ấy với lời chúc Tết “vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân” của vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu.

Lý Văn Sáu
Nguyên Phó giám đốc Đài Tiếng nói Miền Nam
qdnd.vn

Nghĩ về tình cảm của Bác Hồ với Phụ nữ Việt Nam

Suốt cả cuộc đời mình, Bác đã để lại cho đời nhiều thứ quý giá, trong đó có một suối nguồn tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng mà Bác đã dành cho nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam.

443.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hội nghị phụ nữ tham gia công tác chính quyền. Ảnh: Tuấn Anh

“Bác sống như trời đất của ta / Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa / Tự do cho mỗi đời nô lệ / Sữa để em thơ, lụa tặng già” (Bác ơi – Tố Hữu). Suốt cả cuộc đời mình, Bác đã để lại cho đời nhiều thứ quý giá, trong đó có một suối nguồn tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng mà Bác đã dành cho nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam.

Còn nhớ, trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, trong những vấn đề Người quan tâm, Người đặc biệt chú ý đến trẻ em và phụ nữ ở các thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng, Người cho đó là những lớp người khổ nhất trong những người khổ cực.

Người căm ghét bọn thống trị luôn “đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người phụ nữ… và xúc phạm tới phong hóa, trinh tiết và đời sống của họ” (Bản án chế độ thực dân). Mỗi một phụ nữ, một trẻ em bị đánh, bị giết đều làm tác giả đau đớn. Người đã từng thốt lên: “Một em bé bị lột trần truồng, một thiếu nữ ruột gan lòi ra, cánh tay trái cứng đờ giơ nắm tay lên chĩa vào ông trời vô tình”.

Có gì xúc động hơn, khi thấy nỗi lòng Người đồng cảm với nỗi lòng của những người mẹ mất con, người vợ mất chồng trong vụ Pháp giết hại những người Việt Nam tại Khám lớn Sài Gòn. Người đã từng lên tiếng vạch trần những hành động dã man của lũ mặt người dạ thú với những người phụ nữ “Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược của bọn người xâm lược…”, chúng “mắng một phụ nữ Nam An là con đĩ, con bú dù… Ngay giữa chợ Bến Thành ở Sài Gòn… bọn gác chợ người Âu cũng không ngần ngại dùng roi gân bò, dùi cui đánh người phụ nữ bản xứ…”.

Có phải chăng đó chính là tình cảm, là động lực giúp Người vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong cuộc hành trình 30 năm trời tìm đường cứu nước để rồi, khi trở về đất Mẹ, Người không phút ngơi nghỉ để cùng Ðảng và nhân dân ta làm nên sự tích thần kỳ: Lật nhào chế độ phong kiến thực dân, dựng nên một nước Việt Nam độc lập dân tộc và dân chủ tiến bộ.

Ngay trong cuộc Tuyển cử phổ thông đầu phiếu ngày 6-1-1946, Người vui sướng nhận ra rằng “Phụ nữ là tầng lớp đi bỏ phiếu hăng hái nhất”. Sau khi đã trở thành Chủ tịch nước, Người vẫn luôn hướng tình cảm của mình đối với những người phụ nữ. Năm 1952, nhân kỷ niệm Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế phụ nữ, Người đã gửi thư ngợi khen: “Non sông gấm vóc Việt Nam do Phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Những năm tháng tại đầu nguồn Pác Bó, trong diễn ca “Lịch sử nước ta”, Người đã khẳng định: “Phụ nữ ta chẳng tầm thường / Ðánh Ðông, dẹp Bắc làm gương để đời”; “Hai Bà Trưng có đại tài / Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian / Ra tay khôi phục giang san / Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta”. Và hình ảnh Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng cũng được Người khắc họa: “Tỉnh Thanh Hóa có một bà / Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi / Tài năng dũng cảm hơn người / Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương”. Người từng căn dặn: “Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang là dũng cảm kháng chiến…”, thì: Phụ nữ Việt Nam ta cũng phải xứng đáng là con cháu Hai Bà.

Và vì thế Người luôn tự hào rằng “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng… Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng”, Cả trong kháng chiến chống Pháp. Rồi chống Mỹ “ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ”. “Từ trước đến nay phụ nữ Việt Nam ta có rất nhiều đóng góp cho cách mạng, phụ nữ ta rất đáng kính, phụ nữ ta đã có nhiều tiến bộ”. Tuy nhiên, “Bác còn mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa”.

Người còn chỉ ra rằng “Hiện nay, trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít. Ðảng và Chính phủ rất hoan nghênh, sẵn sàng cất nhắc và giao cho phụ nữ những chức trách quan trọng”. Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải: Gắng học tập, chính trị, học tập văn hóa kỹ thuật; nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ XHCN; Hăng hái thi đua thực hiện “Cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình”. Chúc chị em phụ nữ cố gắng học tập, tiến bộ nhiều, tiến bộ mãi để xứng đáng làm chủ nước nhà” (Bài nói chuyện tại Ðại hội phụ nữ tích cực Thủ đô lần thứ hai-8-3-1960).

Với Người, việc cất nhắc và giao trọng trách cho phụ nữ phải gắn liền với việc giải phóng phụ nữ, bởi “Ðể xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”. Thế nhưng “Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti…phải có ý chí tự cường tự lập”. Bởi vậy, những gì trái với quy tắc nam nữ bình đẳng Người đều có thái độ kiên quyết phản đối.

Chuyện rằng, tháng 1-1963, trong phiên họp của Bộ Chính trị để bàn về những vấn đề quan trọng của cách mạng, Người đã đọc một bức thư của một phụ nữ trong cuộc họp này, đó là bức thư một nữ cán bộ cách mạng ở Vĩnh Phúc bị chồng đối xử đánh đập tàn tệ mà không được chính quyền đoàn thể can thiệp, cán bộ đảng viên thì lẩn tránh. Bác xem đó là tội ác, là tàn dư còn lại tồi tệ nhất của chế độ cũ và yêu cầu cuộc họp ưu tiên giải quyết trường hợp này trước.

Những người phụ nữ Việt Nam thật sự xúc động và tri ân Người khi biết rằng, vào những năm tháng cuối cùng của đời mình, Người đã để lại cho chúng ta bản Di chúc quý giá, trong đó có những dòng viết riêng cho phụ nữ Việt Nam.

Sinh thời, bác Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại rằng: “Vào tháng 5-1968, Bác Hồ đọc lại bản Di chúc và thấy cần phải viết thêm mấy điểm về phụ nữ”. Thế rồi, trong bản Di chúc Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” (Di chúc). Chỉ thế thôi, nhưng đó vừa là tình cảm tràn đầy, vừa là huấn thị thiêng liêng của Bác.

Trong tác phẩm “Ðường Kách mệnh”, Bác cũng từng viết: “Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi: “ông Lê-nin nói: Ðảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công…”. Ôi, những dấu ấn đó của Người vẫn còn in mãi trong ta…

 Nguyễn Thị Thọ.

hochiminhhoc.com