Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Phải hoàn thành tốt công tác phòng và chống lụt, bão nǎm 1968 (4-7-1968)

Mấy nǎm gần đây, đến mùa này, ở miền Bắc nước ta thường có mưa lũ lớn, giặc Mỹ lại đánh phá đê, kè. Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta đã anh dũng chiến đấu, vượt nhiều khó khǎn, thêm nhiều kinh nghiệm và đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chống lụt, chống bão, chống địch.

Cả nước ta đang phấn khởi, tự hào vì miền Nam anh hùng đánh mạnh, thắng to, miền Bắc đã bắn rơi hơn ba nghìn máy bay Mỹ. Giặc Mỹ thua to nhưng vẫn rất ngoan cố, chúng vẫn dùng máy bay đánh phá các vùng đông dân và có nhiều đê. Chúng ta không được chủ quan khinh địch, phải luôn luôn cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu.

Hiện nay đang mùa mưa lũ, ở một số nước châu á đã xảy ra nạn lụt. Các ngành và các địa phương cần coi trọng hơn nữa việc phòng và chống lụt, bão, chống địch đánh phá đê, kè.

Nhiều nơi đã bồi đắp xong đê. Có nơi làm khá như Vĩnh Phú, Nam Hà, Hải Hưng, Hà Bắc, nhưng cũng có nơi làm còn chậm. Nhiều xã chưa tổ chức xong lực lượng phòng và chống lụt, bão; nhiều hợp tác xã nông nghiệp chưa chuẩn bị sẵn sàng.

Các cấp tỉnh, huyện phải kiểm tra thật kỹ việc chuẩn bị ở địa phương.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh và huyện phải phân công nhau trực tiếp đi xuống các xã, hợp tác xã nông nghiệp để kiểm tra đôn đốc, giúp đỡ việc chuẩn bị phòng, chống lụt, bão và đẩy mạnh sản xuất vụ mùa. Phải vận động đồng bào làm nhiều thuyền, mảng, ụ đất, sàn gác, chằng chống nhà cửa cho vững, phòng khi lụt to, bão lớn. Phải giữ gìn và sửa sang hầm hố, phòng máy bay giặc Mỹ.

Các đơn vị bộ đội, các cơ quan phải có kế hoạch tích cực tham gia và giúp đỡ nhân dân chuẩn bị các mặt cho tốt.

Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta phải có quyết tâm cao, phải chuẩn bị tốt, nhất định phải thắng thiên tai, địch hoạ trong mùa mưa lũ nǎm nay, góp phần đẩy mạnh sản xuất và giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

T.L.

Báo Nhân dân, số 5196, ngày 4-7-1968.
cpv.org.vn

Điện gửi Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ (13-7-1968)

Kính gửi: Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, các vị trong Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam,

Quân và dân Trị – Thiên – Huế đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, vừa rồi đã chiến thắng oanh liệt, đánh đuổi hàng vạn quân tinh nhuệ nhất của Mỹ phải rút chạy khỏi Khe Sanh 27 với những tổn thất rất nặng nề. Đó là một thất bại lớn của Mỹ, một thắng lợi lớn của ta.

Cuộc thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân, dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của miền Nam từ đầu xuân đến nay. Cùng với những thắng lợi của ta ở các chiến trường khác, nó mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa. ở miền Bắc, vừa lập chiến công bắn rơi 3.000 máy bay giặc Mỹ, thắng lợi vẻ vang của Khe Sanh càng giục giã quân và dân miền Bắc cố gắng hơn nữa, bắn rơi nhiều máy bay giặc Mỹ hơn nữa. Giặc Mỹ tuy thua, nhưng vẫn rất ngoan cố. Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta phải luôn luôn cảnh giác, liên tục đánh mạnh, đánh thắng.

Nam Bắc một lòng, ra sức đánh giặc,
Thắng lợi cuối cùng nhất định về ta.

Tôi nhờ Chủ tịch và các vị chuyển đến đồng bào, chiến sĩ và cán bộ toàn miền Nam, đặc biệt là đồng bào, chiến sĩ và cán bộ Mặt trận Khe Sanh lời khen ngợi nhiệt liệt nhất.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 13 tháng 7 nǎm 1968
Hồ Chí Minh

Báo Nhân dân, số 5206, ngày 14-7-1968.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân ngày 20 tháng 7 (20-7-1968)

Hỡi đồng bào và chiến sĩ cả nước,

Trước đây 14 nǎm, với chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam ta. Đáng lẽ từ tháng 7 nǎm 1956, nhân dân ta đã có tổng tuyển cử, nước ta đã hoàn toàn độc lập, tự do, hoà bình, thống nhất, Bắc – Nam đã sum họp một nhà.

Song đế quốc Mỹ hiếu chiến phản bội lời cam kết của chúng, đã phá hoại trắng trợn Hiệp định Giơnevơ. Chúng nặn ra chính quyền bù nhìn buôn dân bán nước, chúng tiến hành chiến tranh xâm lược ở miền Nam nước ta. Nhưng chúng đã vấp phải sức kháng chiến cực kỳ anh dũng của đồng bào và chiến sĩ miền Nam ta và đã bị thất bại nặng nề. Hòng gỡ thế bị động và sa lầy ở miền Nam, từ hơn ba nǎm nay, chúng điên cuồng ném bom, bắn phá miền Bắc. Chúng phá hoại nền độc lập, hoà bình, trung lập của Lào và luôn luôn uy hiếp, khiêu khích Vương quốc Campuchia.

Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ trên đất nước ta hiện nay là một cuộc chiến tranh tàn bạo nhất trong lịch sử loài người. Giặc Mỹ tưởng lầm rằng, với hơn một triệu quân, trong đó có hơn 50 vạn quân Mỹ, với sức mạnh của vũ khí hiện đại, chúng có thể khuất phục được nhân dân ta. Sự thật hoàn toàn trái lại. Đồng bào và chiến sĩ miền Nam anh hùng, cả dân tộc Việt Nam anh hùng đã kiên quyết đứng lên, triệu người như một, chiến đấu vô cùng anh dũng, đánh bại mọi kế hoạch quân sự và chính trị của quân thù, giành nhiều thắng lợi ngày càng to lớn.

Từ đầu Xuân nǎm 1968 đến nay, cuộc kháng chiến ở miền Nam tiến lên một thời kỳ mới: đồng bào và chiến sĩ miền Nam đã mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào các thành thị, lập nên nhiều chiến công oanh liệt, làm rung chuyển nước Mỹ và chấn động nǎm châu. Việc thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình 28 là một thắng lợi to lớn của chính sách đoàn kết toàn dân chống Mỹ, cứu nước, làm cho bọn Mỹ – nguỵ càng lộ rõ bộ mặt cướp nước và bán nước của chúng và càng bị cô lập. Ở miền Bắc, hơn ba nghìn máy bay của giặc Mỹ đã bị bắn rơi. Thế là “Nam – Bắc hai miền đều đánh giỏi”. Đế quốc Mỹ ngày càng thua to, nhất định sẽ hoàn toàn thất bại.

Song “chết thì chết, nết không chừa”, giặc Mỹ vẫn rất ngoan cố. ở miền Nam, chúng vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh, đánh phá hết sức dã man các thành thị, triệt hại nhiều vùng ở nông thôn, đồng thời bắn phá điên cuồng các tỉnh ở phía nam miền Bắc.

Tại cuộc nói chuyện ở Pari 29 trước thái độ nghiêm chỉnh và lập trường chính đáng của ta, chúng vẫn trơ tráo đòi “có đi có lại” một cách cực kỳ vô lý. Rõ ràng là đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác của chúng, vẫn cố bám lấy miền Nam nước ta, hòng chia cắt lâu dài Tổ quốc ta.

Trước tình hình nghiêm trọng ấy, nhân dân cả nước ta càng phải kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Vì độc lập, tự do, 31 triệu đồng bào ta quyết vượt mọi gian khổ hy sinh, quyết đánh và quyết thắng. Bọn xâm lược Mỹ ngày càng bị động và thất bại, đang ở bước đường cùng. Quân và dân cả nước ta đang ở thế chủ động và tiến công, càng đánh mạnh càng thắng lớn.

Đồng bào và chiến sĩ miền Nam, đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi dưới ngọn cờ vẻ vang của Mặt trận dân tộc giải phóng, nhất định sẽ chiến đấu mạnh mẽ hơn nữa, giành những thắng lợi vĩ đại hơn nữa.

Đồng bào và chiến sĩ miền Bắc, phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, chiến đấu anh dũng, thi đua sản xuất, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của địch, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu leo thang mới của chúng và hết lòng hết sức giúp đỡ miền Nam ruột thịt, làm tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.
Nam – Bắc một lòng, nhân dân cả nước ta kiên quyết kháng chiến, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhân dân ta rất yêu chuộng hoà bình nhưng phải có độc lập, tự do thật sự thì mới có hoà bình chân chính. Lập trường của ta rất chính đáng, rõ ràng: ngày nào đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược nước ta, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để dân ta tự do giải quyết công việc nội bộ của mình, thì ngày đó hoà bình sẽ lập lại ngay. Đó là nguyện vọng của nhân dân ta, mà cũng là nguyện vọng của nhân dân tiến bộ Mỹ và nhân dân yêu chuộng hoà bình, công lý trên thế giới. Cách duy nhất để lập lại hoà bình là quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hết về nước! Nước Việt Nam của người Việt Nam!

Đồng bào và chiến sĩ yêu quý!

Dân tộc Việt Nam ta đang tiến hành cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử của mình. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lợi ích của phe xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức và của cả loài người tiến bộ, chúng ta đang chiến đấu và chiến thắng một kẻ thù hung ác nhất trên thế giới. Trên đất nước ta đang diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa vǎn minh và bạo tàn. Nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ toàn thế giới đang hằng ngày nhìn về Việt Nam ta, nhiệt liệt khen ngợi đồng bào và chiến sĩ ta. Nhân dịp này, thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em và tất cả bầu bạn khắp nǎm châu đã hết lòng giúp đỡ nhân dân ta trong sự nghiệp thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước.

Nhân dân ta rất anh hùng. Đường lối ta rất đúng đắn. Chúng ta có chính nghĩa. Chúng ta có chí khí kiên cường, quyết chiến, quyết thắng. Chúng ta có sức mạnh vô địch của toàn dân đoàn kết và được cả loài người tiến bộ đồng tình và ủng hộ.

Đế quốc Mỹ nhất định thua!
Nhân dân ta nhất định thắng!

Đồng bào và chiến sĩ cả nước hǎng hái tiến lên!

Báo Nhân dân, số 5212, ngày 20-7-1968.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Nghệ An (22-7-1968)

Thân ái gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ Nghệ An,

Bác rất vui lòng được tin quân và dân tỉnh nhà đã bắn rơi chiếc máy bay giặc Mỹ thứ 400.

Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác thân ái gửi lời khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ tỉnh ta đã chiến đấu dũng cảm, chiến thắng vẻ vang, cùng với quân và dân cả nước đập tan mọi thủ đoạn chiến tranh tàn bạo của giặc Mỹ.

Đồng bào, bộ đội và cán bộ Nghệ An hãy nêu cao truyền thống anh dũng của Xôviết Nghệ – Tĩnh, phát huy thắng lợi, đoàn kết chặt chẽ, luôn luôn cảnh giác, thi đua chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, làm thật tốt công tác giao thông vận tải và phòng không nhân dân, giành nhiều thành tích to lớn hơn nữa.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 22 tháng 7 nǎm 1968
Bác Hồ

Báo Nhân dân, số 5215, ngày 23-7-1968.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Hà Tĩnh (5-8-1968)

Thân ái gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ Hà Tĩnh,

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, gửi lời khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ Hà Tĩnh đã đẩy mạnh sản xuất, chiến đấu dũng cảm, bắn rơi máy bay Mỹ chiếc thứ 200, ra sức bảo đảm giao thông vận tải và phục vụ tiền tuyến, cùng với quân và dân cả nước đập tan mọi thủ đoạn chiến tranh tàn bạo của giặc Mỹ.

Đồng bào, bộ đội và cán bộ Hà Tĩnh hãy phát huy thắng lợi, đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu và sản xuất giỏi hơn nữa, làm công tác giao thông vận tải và công tác phòng không nhân dân tốt hơn nữa, xứng đáng với truyền thống Xôviết Nghệ – Tĩnh anh hùng.

Chào thân ái và quyết thắng

Bác Hồ

Báo Nhân dân, số 5228, ngày 5-8-1968.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Quảng Bình (9-8-1968)

Thân ái gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ Quảng Bình,

Tính đến ngày 3-8-1968, Quảng Bình đã lập chiến công vẻ vang, bắn rơi 500 chiếc máy bay giặc Mỹ, bắn chìm và bắn cháy 42 tàu chiến Mỹ các loại. Từ cuối tháng 3-1968, giặc Mỹ đánh phá Quảng Bình dã man hơn trước, song vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Từ đầu tháng 4-1968 đến nay, Quảng Bình đã bắn rơi thêm 100 máy bay Mỹ.

Quảng Bình cũng rất hǎng hái trên mặt trận sản xuất và giao thông vận tải, luôn luôn cố gắng làm tròn nghĩa vụ đối với tiền tuyến.

Bác vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ Quảng Bình. Bác vui mừng báo tin là Quốc hội vừa quyết định tặng tỉnh Quảng Bình thêm một Huân chương Độc lập hạng Nhì nữa.

Nhân dịp này Bác nhắc nhủ đồng bào, bộ đội và cán bộ Quảng Bình chớ vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch, phải luôn luôn cảnh giác, ra sức thi đua chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, làm công tác giao thông vận tải và phòng không nhân dân cho thật tốt, để giành lấy nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, cùng với đồng bào cả nước kiên quyết tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng

Bác Hồ

Báo Nhân dân, số 5232, ngày 9-8-1968.
cpv.org.vn

Một lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sevgei Somov
Nguyễn Huy Hoàng dịch

Những năm 1960, khi tôi công tác ở Việt Nam, tôi có nhiều dịp gặp gỡ các sĩ quan cao cấp quân đội Việt Nam và đặc biệt là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tôi có một Album ảnh về họ.

Giữa nhiều những bức ảnh, có một bức đã trở thành kỷ vật quý giá của tôi, đó là bức ảnh các phi công Liên Xô chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có lần, những đứa cháu tôi rón rén đến ngắm bức ảnh, chúng hỏi tại sao tôi lại được đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tại sao chung quanh Người không có đội bảo vệ? Tôi nói với bọn trẻ rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người vĩ đại, là lãnh tụ, là người thầy của dân tộc Việt Nam, Người không cần có vệ sĩ riêng, bởi ai cũng yêu quý, kính trọng Người, tất cả mọi người dân Việt Nam đều bảo vệ Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thông thái, nhìn xa trông rộng, mà còn là một con người nhân hậu và khiêm tốn, là Con Người viết hoa. Có thể đưa ra hai thí dụ. Chủ tịch hoàn toàn có điều kiện sống và làm việc trong một tòa nhà lớn, nhưng Người lại thích sống và làm việc trong một ngôi nhà sàn nhỏ, có hoa bao quanh và tự tay Người chăm sóc. Một lẵng hoa hồng luôn luôn được đặt trong phòng làm việc và bất cứ ai được Người tiếp, sau khi chia tay đều được Người tặng một bông hồng như biểu tượng của cái đẹp và lòng hiếu khách.

Một thí dụ khác. Năm 1963, Quốc hội Việt Nam quyết định trao tặng Người huân chương “Sao vàng” cao quý, nhưng Người từ chối phần thưởng, nói rằng vì lúc đó đất nước vẫn còn chưa thống nhất, tạm thời chia làm hai miền.

Tôi là người rất đỗi hạnh phúc, bởi số phận đã ban cho tôi một cơ hội không chỉ được nghe lời Người chúc Tết qua đài nhân dịp Tết âm lịch năm 1961, mà còn được gặp gỡ, nói chuyện với Người. Sau đây là câu chuyện ấy.

Vào mồng một Tết hằng năm, ở miền bắc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đến thăm các bạn chiến đấu trong Đảng, những đồng chí đã cùng Người trải qua con đường gian khổ trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vì độc lập và thống nhất Tổ quốc.

Tết năm ấy, khi mọi người tiến hành công việc chuẩn bị cho chuyến công tác của Người lên phía bắc thì một chỉ thị được ban ra: chiếc máy bay trực thăng từng chở Người đã đến lúc sửa chữa định kỳ và phải hoàn thành trước ngày bay. Lãnh đạo không quân Việt Nam yêu cầu phải hoàn tất công việc để chuyến bay được thực hiện theo kế hoạch đã định.

Sáng sớm ngày Chủ tịch lên đường đi công tác, tổ lái đã có mặt ở sân bay Gia Lâm. Chúng tôi cùng vị Tư lệnh Không quân Việt Nam nóng lòng chờ Người đến. Bất chợt, tôi thấy phía trước đường băng một chiếc xe con Liên Xô “Pôbêđa” lao tới. Tôi ngoảnh về đồng chí Tư lệnh nói: “Anh cho tập hợp lại kẻo anh em phân tán, để đón Chủ tịch”. Đồng chí tư lệnh quan sát phía trước và nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tới”.

Cả nhóm kỹ sư và đội bay đứng chờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra khỏi xe hơi. Cho đến lúc này tôi vẫn chưa lần nào được gặp Người, nhưng tôi biết khá rõ về cuộc đời hoạt động đầy gian truân của Người. Vì vậy, trong hình dung của tôi, tôi sẽ được gặp một người khỏe mạnh, phong trần, cao lớn như một chiến binh. Đại loại, vóc dáng của Hồ Chí Minh phải là như vậy. Nhưng thật ngạc nhiên khi từ trong xe bước ra là một người tầm thước với mái tóc gọn gàng đốm bạc, khuôn mặt điểm bộ ria cắt ngắn và một chòm râu bạc. Chủ tịch mặc bộ ka-ki trắng giản dị, đi đôi dép bình thường.

Người mỉm cười như đã quen biết chúng tôi từ lâu, đôi mắt hơi nheo ngời lên tia sáng ấm áp và nhân hậu rất đặc trưng ở Người Việt Nam. Hồ Chí Minh chính là con người tôi vẫn gặp hằng ngày trên đường phố Hà Nội và trên những cánh đồng lúa Việt Nam. Tôi báo cáo với Người: Chuyến bay đã sẵn sàng, còn Người ngoái về phía tôi hỏi bằng tiếng Nga rành rọt: “Chú là quân nhân à?”. Tôi trả lời: “Vâng ạ”. Tôi biết Người nói được nhiều ngoại ngữ, nhưng quả thật tôi khó hình dung ra Người nói tiếng Nga trong sáng đến như vậy. Về sau này tôi biết được rằng, lần đầu tiên Người đến Liên Xô vào mùa hè năm 1923 để học trường Đại học Quốc tế Phương Đông. Ngày 27-1-1924, trong bộ quần áo mỏng, giữa mùa đông nước Nga giá buốt, Người đã xếp hàng suốt ngày ở lối đi vào phòng khánh tiết Nhà Công đoàn để được vĩnh biệt Lê-nin…

Ngày hôm đó, chúng tôi không rời khỏi sân bay mà ở lại chờ Người quay trở về. Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi máy bay, chúng tôi lập tức đến đứng quanh Người. Tôi bước đến gần Người và đề nghị chụp ảnh kỷ niệm với các phi công Liên Xô. Và thế là chúng tôi có một bức ảnh trở thành báu vật của gia đình như thế.

Để kết thúc câu chuyện xúc động, khó quên này tôi không thể không kể thêm một chi tiết về vẻ đẹp của tâm hồn một con người thực sự vĩ đại. Khi hoa tiêu A.Xuốcnốp, bạn tôi, vừa chụp xong thì chúng tôi vội tản ra, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngăn lại. Người nói: Các chú đứng lại đã, chú chụp ảnh không có mặt trong ảnh. Một chú khác ra chụp lần nữa. Và khi đó Xuốcnốp được đứng bên cạnh Người, còn các phi công khác được chụp lần thứ hai. Trong ảnh tôi đứng bên phải Người, trong bộ áo mầu sáng.

Văn nghệ quân đội
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài về Lev Tolstoi

N.i.nikulin
Phương Phương dịch

Năm 1960, tòa soạn báo Văn học ở Moscow đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một bài về văn hào Nga vĩ đại Lev Tolstoi. Khi đó vừa tròn 50 năm Tolstoi rời bỏ ngôi nhà của mình ở Yasnaia Poliana và qua đời. Năm 1960 được tuyên bố là “Năm Tolstoi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đáp lại lời đề nghị của tòa soạn.

Bài báo nhỏ ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan trọng ở nhiều phương diện. Thứ nhất, đó là một tư liệu quý giá của nhân loại, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kể về bản thân mình, về tuổi trẻ của mình, về sự trưởng thành về tinh thần và nghệ thuật của mình với tư cách là một nhà văn, nhà báo. Người kể lại một cách rõ ràng với phong cách giản dị, sáng sủa, giàu hình ảnh, với sự chân thành sâu sắc, có lúc thoáng chút hài hước khi Người nhớ lại thời gian đầu làm quen với sáng tác của Tolstoi. Thứ hai, bài báo là một cứ liệu hiếm hoi về vai trò của các nhà văn cổ điển Nga và của Tolstoi trong sự hình thành văn học cách mạng Việt Nam, về sự tiếp nhận văn học hiện thực phê phán Nga của nhà hoạt động văn hóa vĩ đại Việt Nam và về nhiều điều khác. Bài báo nhỏ nhưng rất nhiều thông tin.

Đầu tiên bản dịch sang tiếng Nga của bài báo được đăng ở Moscow trên tờ Văn học số ra ngày 19-11-1960, còn nguyên bản tiếng Việt thì hai ngày sau được đăng trên báo Nhân Dân (số ngày 26-11-1960). Tạp chí Văn nghệ sau đó đăng lại. Giữa các văn bản tiếng Nga và tiếng Việt có một số chỗ khác nhau, chủ yếu là về phong cách. Trong bản tiếng Việt và bản tiếng Nga bài báo mang các tựa khác nhau. Trên báo Văn học nó có tên “Kỷ niệm về Người”.

Việc Nguyễn ái Quốc vào đầu những năm 20 quan tâm đến sáng tác của Tolstoi là điều rất tự nhiên, bởi chính Tolstoi chứ không phải ai khác trong các nhà văn cổ điển Nga có rất nhiều mối quan hệ với văn hóa phương Đông, với các nhà hoạt động nổi tiếng trong lĩnh vực văn hóa và trong phong trào giải phóng dân tộc cuả các dân tộc châu á, trong số họ có người chiến sĩ vĩ đại đấu tranh cho độc lập của ấn Độ Mahatma Gandhi, có nhà văn Nhật Bản nổi tiếng Tokutomi Roka.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo về Tolstoi ấy ở đâu và trong hoàn cảnh nào? Câu hỏi đó từ lâu đã làm tôi quan tâm. Hóa ra, vào tháng 11 năm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở Moscow, Người dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam tham dự hội nghị của các đảng cộng sản và đảng công nhân. Tôi tìm đến một số đồng chí Liên Xô phục vụ cho đoàn Việt Nam lúc đó, và đã sáng tỏ một số chi tiết.

Người ta kể cho tôi rằng ngày làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đầy ắp những công việc quan trọng và kéo dài 17 tiếng đồng hồ hoặc hơn thế nữa, với vài lần nghỉ ngắn ngủi. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ trở về tòa nhà nhỏ hai tầng nằm trong khu phố Mosfilm ở phía tây nam Moscow, nơi Đoàn đại biểu Việt Nam nghỉ lại, sau 12 giờ đêm; 5 – 6 giờ sáng Người đã dậy và bắt đầu ngày làm việc. Người chỉ có thể được ngủ 4 – 5 tiếng. Trong điều kiện như thế, rút bớt thời gian ngủ, Người không cho phép mình được từ chối lời đề nghị của tòa soạn báo Văn học và đã viết bài báo về Tolstoi.

Còn giữ lại một cứ liệu khác về những ngày đó: cùng thời gian này cũng ở Moscow có nhà văn Nguyễn Công Hoan đến để tham dự các hoạt động kỷ niệm Tolstoi, và ông đã gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 17-11-1960. Nguyễn Công Hoan nhớ lại: Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong giá rét, mặc chiếc măng-tô và đội chiếc mũ lông, hồng hào, nhanh nhẹn. Thời gian của Chủ tịch quá chật hẹp, Người đang vội, cuộc nói chuyện với Nguyễn Công Hoan rất ngắn ngủi.

… Với tình cảm biết ơn sâu sắc, tôi lần nữa lại đọc lại bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Lev Tolstoi: mỗi chữ mỗi từ đều tràn đầy ý nghĩa.

Báo Sài Gòn giải phóng
cpv.org.vn

Người châu Phi rước chân dung Bác Hồ

Thủ đô Bradavin của nước Cộng hoà Nhân dân Công Gô (nay là Cộng – hoà Công Gô) tuy nhỏ, nhưng đẹp và rất trật tự. Vào những năm 1988 đến năm 1992, nơi đây thường diễn ra các cuộc Hội nghị, Hội thảo, các cuộc gặp gỡ quốc tế của các nước á, Phi và Mỹ La tinh. Khi chúng tôi, những người Việt Nam làm việc ở Bradavin có dịp tiếp xúc với các bạn ấy, họ thường hỏi thăm về Bác Hồ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, về anh Nguyễn Văn Trỗi…

Năm 1988, bạn tổ chức ngày Lễ Quốc tế Lao động (1-5) rất long trọng, có diễu hành lớn qua Quảng trường Marien N’gouabi (tên vị Tống thống đầu tiên của CHND Công Gô) và các đường phố lớn ở Thủ đô Bradavin. Công việc chuẩn bị tiến hành từ giữa tháng 4-1988 khi ấy tôi làm việc tại Bộ Giáo dục Công Gô với tư cách chuyên gia Hội hoạ; Bộ này tham gia diễu hành ngày Quốc tế Lao động bằng đội ngũ các thấy, cô giáo dạy giỏi và đội ngũ các học sinh xuất sắc mang các biểu ngữ, panô trình bày thành tích giáo dục. Tôi được mời đến gặp Bà Bernadette Bayol, Bộ trưởng Bộ Giáo dục.

Bà Bayol yêu cầu tôi vẽ 2 bức chân dung cỡ lớn để đi diễu hành ngày 1 tháng 5: một là vẽ cố Tổng thống Marien N’gouABI, phía dưới kẻ dòng chữ “Trường học thoải mái” tiếng Pháp: “Ecole àgréablel” đó là phương châm của Cố Tổng thống đề ra cho ngành Giáo dục, ý nói: “Học hành phải vui vẻ thoải mái mới đạt kết quả cao”, hai là vẽ chân dung đương kim Tổng thống: Đại tá Denis Sassou N’guesso, phía dưới kẻ dòng chữ “Môi trường học là một cánh đồng” – “Chaque Ecole, un Champ” ý Tổng thống nói: “Dạy và học đều phải tích cực, cần mẫn như công việc đồng áng”. Chân dung 2 vị Tổng thống đều có kẻ khẩu hiệu ở phía dưới bằng tiếng Pháp vì nước Công Gô nói tiếng Pháp.

Tôi vui vẻ nhận vẽ hai bức chân dung nói trên và nói với Bà Bộ trưởng và các vị trợ lý rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh có lời dạy bảo rất hay. Các bạn Công Gô hỏi: “Lời dạy bảo của Bác Hồ thế nào?”. Tôi có dụng ý dùng từ Chủ tịch Hồ Chí Minh. (président Hồ Chí Minh) sau đó tôi chú ý thấy bà Bộ trưởng dùng từ bác Hồ”. (Uncle Hồ) khiến tôi cảm động và thấy tình cảm càng thân thiết với Công Gô. Tôi giới thiệu câu nói của văn học “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người” tiếng Pháp: “Pour leo inte’zêtrắng de dix ans, on plante larbre, pour ceux de cent ans, on cultive l’homme”. Nghe xong câu ấy, từ bà Bộ trưởng Bernadette Bayol, ông Đổng lý Văn phòng D’Nimina – Gilbert đến các vị trợ lý Bộ Giáo dục đều đứng cả dậy vỗ tay reo: – “Thật là lời dạy của một vị đại triết gia”. Ông Touloulon ghi vào văn bản.

Vậy là bà Bộ trưởng chỉ thị cho tôi vẽ 3 bức chân dung. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tổng thống Marien N’gouabi – Tổng thống Denis Sassou N’guesso với các phương châm như đã nói ở trên. Ông Đổng lý văn phòng điều ngay thợ mộc đen đóng khung panô, căng vải để vẽ bằng sơn dầu và mang đến cơ man nào là bia, rượu vang đường, sữa, bơ, pho mát, xúc xích… để bồi dưỡng cho hoạ sĩ. Các chuyên gia Việt Nam đang làm việc ở Công Gô thời gian ấy cũng được nghỉ 10 ngày để phục vụ cho việc thể hiện 3 tranh chân dung cỡ lớn (3mx2m), đó là kỹ sư Đặng Vũ Tường và 2 bác sĩ khoa Nhi: Trịnh Thị Mai Anh và Nguyễn Văn Lai. Họ đem sữa, pha chè, nấu ăn rửa bát… phục vụ chu đáo cho anh em thể hiện các bức chân dung.

Và thế là trong Ngày hội Quốc tế Lao động năm ấy, đoàn người diễu hành trùng điệp trong tiếng nhạc Quốc tế ca hùng tráng – Những hàng người đi đầu giương cao các bức chân dung các nhà lãnh đạo cách mạng trong đó có chân dung Bác Hồ với dòng chữ ” Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Ông Matoundp Albert, một trung sĩ trong Quân đội viễn chinh Pháp Cefeo (Corps expédi tionnaire franctas en Extrême-Orint) đã chạy sang hàng ngũ Việt Minh năm 1953 rồi ở lại Việt Nam đến năm 1973 mới hồi hương, nắm lấy tay tôi, vẻ hồ hởi cảm động. Ông nói tiếng Việt rất thạo:

– Trông thấy chân dung Bác Hồ trong đoàn diễu hành, tôi nhớ da diết Thủ đô Hà nội.

Báo Văn Nghệ 18/5/2002
cpv.org.vn

Mấy quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa và thực tế hiện nay

Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và xây dựng con người là một chủ đề rộng lớn.

1. Về vai trò của văn hóaĐã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Dù không có điều kiện và thời gian để đi sâu tìm hiểu các định nghĩa “hàn lâm” đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã tự tìm ra một định nghĩa về văn hóa rất gần với cách hiểu văn hóa mà hàng chục năm sau, năm 1982, tại Mexico, UNESCO mới nêu lên.

Trong mục Đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942-1943), Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

Chính văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng như vậy mới có thể đóng góp được vai trò “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội”.

Vị trí rất cao của văn hóa trong đời sống xã hội, vai trò tối quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một cách rành rẽ ngay từ những ngày đầu của chính quyền nhân dân non trẻ.

Ngay đầu tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Ủy ban Văn hóa lâm thời Bắc Bộ. Ngày 7/9/1945, khi tiếp các đại biểu của ủy ban đó, Hồ Chủ tịch đã nói: “Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hóa nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn gây dựng cho đất nước một nền văn hóa mới…Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng của quốc dân, đấu tranh cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hóa mới” (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 3, tr.13). Thật quả là một kỳ vọng to lớn mà Người đã trông đợi ở các nhà văn hóa!

Hơn một năm sau, khi tiếng súng kháng chiến đã nổ ở Nam Bộ, ở Hải Phòng, tình hình đất nước hết sức nguy cấp, ngày 24/11/1946, Hồ Chủ tịch vẫn dành thì giờ tới đọc diễn văn khai mạc Hội nghị Văn hóa toàn quốc với lời lẽ đã đi vào lịch sử như một hàng chữ vàng: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.

Sau này, Hồ Chủ tịch còn nhiều lần nhắc lại vai trò, vị trí của văn hóa trong sự nghiệp chung. Đáng tiếc là nơi này, nơi khác, lúc này, lúc khác một số cán bộ, cấp ủy còn chưa đặt đúng văn hóa vào vị trí của nó, thậm chí còn coi nó như một lĩnh vực “ăn theo” kinh tế, một “cái đuôi” của sự phát triển. Để đáp ứng được những yêu cầu, kỳ vọng của Người đối với văn hóa, chúng ta còn phải nỗ lực tìm ra những chính sách, những giải pháp hiệu quả sao cho vai trò to lớn của văn hóa được khẳng định trong hiện thực.

2. Về một khía cạnh quan trọng trong văn hóa chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ rằng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta bốn lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa gắn bó mật thiết với nhau, cần được coi trọng như nhau.

Ở đây cần đặc biệt lưu ý tới kiến giải của Người về sự tác động qua lại giữa các lĩnh vực đó và văn hóa không đứng ngoài, đứng trên mà phải hiện diện ở mọi lĩnh vực của đời sống.

Từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra luận điểm “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”.

Chúng tôi xin điểm lại một ứng xử của Người thể hiện rõ nét văn hóa đã lồng ghép, đã thấm sâu như thế nào vào hoạt động chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Cả cuộc đời vì nước, vì dân…” – câu hát quen thuộc đã nói lên mục tiêu chính trị của Người là vì độc lập, tự do của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Và để đạt được mục tiêu ấy phải lấy dân làm gốc, người cán bộ phải thực sự là đầy tớ của nhân dân, không thể là một thứ “quan cách mạng” như Người đã nhiều lần nhắc nhở.

Trên thực tế, không ít cán bộ của chúng ta chỉ mới nói mà chưa làm được như mình nói, còn để dân sợ, dân ghét, dân không tin. Nguyên nhân là từ trong nhận thức, tình cảm đến biểu hiện công việc hàng ngày của họ chưa thực sự kính trọng dân, chưa thực coi dân là gốc.

Một việc tưởng như là nhỏ, như là chuyện hình thức – việc cán bộ tiếp dân thế nào trong thực tiễn hàng ngày, tiếc thay còn gây bao phiền toái, bực bội cho người dân! (Đấy là còn chưa nói đến thái độ không hiếm gặp “bịt tai, làm ngơ” coi như “không nghe, không thấy, không biết” trước bao điều thắc mắc, thỉnh cầu của người dân !…).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương sáng trong công việc này. Ngay sau ngày đọc bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945), Người đã cho thông báo Về việc tiếp chuyện các đoàn thể. Ở cương vị cao nhất đất nước, bận trăm công ngàn việc, giữa thời điểm nước sôi lửa bỏng, vô cùng phức tạp ở trong nước và thế giới khi nhà nước non trẻ mới ra đời được tính bằng giờ, Người đã nghĩ ngay đến việc tiếp dân. Người thông báo rành rẽ:

1. Gửi thư nói trước để tôi sắp thì giờ, rồi trả lời cho bà con, như vậy thì khỏi phải chờ đợi mất công.

2. Mỗi đoàn đại biểu, xin chớ quá 10 vị.

3. Mỗi lần tiếp chuyện, xin chớ quá 1 tiếng đồng hồ”.

(Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 3, tr.11)

Từ thái độ ân cần, chu đáo, lời nói bình dị, khiêm nhường, việc tiếp dân đối với Người đã là một hành xử văn hóa mang đậm tư tưởng chính trị chủ đạo (“lấy dân làm gốc”), hay cũng có thể nói là một động thái chính trị thấm nhuần sâu sắc tinh thần văn hóa – yêu dân, tôn trọng từng người dân, nghe và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của mỗi người dân để có thể làm được một việc tối thiểu là trả lời kịp thời những câu hỏi chính đáng của họ.

3. Cốt cách văn hóa trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chúng ta đều biết Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình Nho học uyên thâm của một vùng đất học truyền thống – vùng xứ Nghệ. Những tinh hoa trong tư tưởng, tình cảm của các hiền triết đời xưa – từ Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Trang Tử… đến Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm… đã thấm sâu vào tâm hồn, trí tuệ của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành qua sự truyền thụ của người cha, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, của người thầy khả kính Vương Thúc Quý và từ những cuốn sách vỡ lòng như Sơ học vấn tân, Ấu học ngữ ngôn, Minh tâm bảo giám đến những tác phẩm đã trở thành “khuôn vàng thước ngọc” của Nho giáo như Tứ thư, Ngũ kinh.

Sau này, khi bước chân xuống tàu để sang châu Âu, có thể nói Nguyễn Tất Thành đã là một người phụ bếp khác thường – một trí thức Nho giáo với khát vọng tiếp cận với thế giới phương Tây, tìm đường cứu dân, cứu nước.

Nguyễn Tất Thành đã trở thành Nguyễn Ái Quốc rồi là Hồ Chí Minh với bao kiến thức phong phú, sâu sắc thu nhận được từ cuộc dấn thân của Người vào đời sống chính trị – xã hội thế giới, nhưng tựu trung, ở chính cội nguồn của mình, Người vẫn mang đậm cốt cách văn hóa phương Đông, văn hóa dân tộc Việt Nam với sự bổ sung sáng tạo của Người và sự hòa hợp với tinh hoa của văn hóa phương Tây.

Khát vọng cao đẹp, dù không tưởng, của các bậc hiền triết cổ đại phương Đông về một thế giới đại đồng, khi mọi người được sống trong tình thương yêu, trong hạnh phúc, có thể nói đã chiếm một vị trí quan trọng trong suy nghĩ, tình cảm của Người. Từ năm 1921, trên tạp chí Cộng sản, cơ quan của Quốc tế thứ III, Hồ Chí Minh đã viết: “Khổng Tử vĩ đại từng đề xướng chủ nghĩa quốc tế và từng hô hào quyền bình đẳng về của cải. Ngài nói tóm tắt là: Nền hòa bình trên thế giới chỉ nảy nở từ một nền đại đồng thiên hạ… Người ta không sợ thiếu mà chỉ sợ không công bằng…”. Ít năm sau, trong cuốn sách nổi tiếng Đường kách mệnh (1927), Người lại viết: “Làm cho thiên hạ đại đồng, ấy là thế giới cách mạng”.

Cũng giống như trong Nho giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao vai trò của đạo đức như là yếu tố quan trọng bậc nhất của văn hóa dân tộc, văn hóa từng cá nhân. Người nhắc nhở: “Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo… Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Sửa đổi lối làm việc, 1947). Con người có đạo đức trong quan niệm của văn hóa phương Đông mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm đắc nhấn mạnh nhiều lần là con người “chí công vô tư”, “cần kiệm liêm chính”, con người “giàu sang không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục” (Lời bế mạc Lễ ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, 1951). Đó là con người “trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân”, đầy đủ những phẩm chất “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”.

Chăm lo xây dựng con người có đủ đức tài là mối quan tâm suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Câu nói nổi tiếng của vị tể tướng nước Tề thời Chiến quốc Quản Di Ngô “Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân” đã được Người diễn giải nôm na: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

Có thể thấy tư tưởng văn hóa của các hiền triết phương Đông xưa được ghi nhận và phát triển trong các phát biểu của Người. Điều đặc biệt đáng lưu ý là tinh hoa văn hóa phương Đông không chỉ dừng lại ở lời nói của Người, mà đã toát ra từ cốt cách con người, từ cuộc đời của chính vị lãnh tụ Hồ Chí Minh, một cốt cách khoan hòa, ung dung, tự tại, luôn luôn làm chủ được bản thân mình, làm chủ được mọi hoàn cảnh. Nhờ thoát khỏi – thoát khỏi một cách “tự nhiên nhi nhiên”, không cần một sự “ráng sức” nào! – mọi sự ràng buộc của danh lợi cá nhân, chỉ suốt đời theo đuổi một “ham muốn tột bậc” là làm sao cho “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, mà Người đã có được cái phong thái sống ung dung, tự tại đó.

Những kẻ hậu sinh chúng ta đều nhớ lời tâm sự chân thành của Người từ những ngày đầu mới ở cương vị cao nhất đất nước: ngoài “ham muốn tột bậc” nói trên, Người chỉ ao ước cho riêng mình “một căn nhà nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, để câu cá trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu gì tới vòng danh lợi”. Phong thái sống tránh xa “vòng danh lợi” ấy phải chăng Người đã thừa hưởng từ tiếng suối chảy rì rào bên rừng thông, rừng trúc Côn Sơn của Nguyễn Trãi, từ “ngôi nhà nhỏ mây trắng”, “thu ăn măng trúc, đông ăn giá; xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” của Nguyễn Bỉnh Khiêm?…

Ngôi nhà sàn giữa vườn cây, bên ao cá của Người mãi mãi còn là biểu tượng sống động cho cốt cách văn hóa Hồ Chí Minh.

Khi mà không ít quan chức đủ các cấp bị rơi vào tình trạng “phai nhạt lý tưởng”, bị cầm tù bởi “vòng danh lợi”, xa rời dân, vô cảm trước những bức xúc của dân, chỉ lo “vinh thân phì gia”, hễ có dịp là bòn rút, ăn cắp của công… thì bài học về cốt cách văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giữ nguyên tính thời sự nóng hổi.

 4. Về xây dựng đời sống văn hóa

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã chỉ rõ việc phát động một cách thực chất phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là một trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy sự nghiệp văn hóa phát triển. Có thể nói chủ trương này đã bắt nguồn từ những suy nghĩ và việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hóa ngay từ những ngày đầu tiên sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân vừa mới ra đời. Thời kỳ đó Người đã dùng khái niệm “Đời sống mới”.

Tháng 1/1946, Người phát động phong trào “Đời sống mới”. Ba tháng sau, Người cho thành lập Ủy ban Trung ương vận động “Đời sống mới”. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa bắt đầu được ít lâu, giữa lúc vận mệnh chính quyền cách mạng tưởng chừng như đang ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, với một tinh thần lạc quan, niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến, Người đã bình tâm viết cuốn sách Đời sống mới (3/1947) để hướng dẫn cụ thể mọi người tích cực tham gia xây dựng “Đời sống mới”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuốn sách của mình, đã làm rõ khái niệm “Đời sống mới” trên cơ sở xác định vị trí nền tảng của đạo đức và sự thể hiện của đạo đức đó trong lối sống, nếp sống hàng ngày.

Người viết: “Thực hành đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính; nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì sẽ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân; nêu cao và thực hành cần, kiệm, liêm, chính là nhen lửa cho đời sống mới”.

Người chỉ rõ việc xây dựng đời sống mới phải bắt đầu từ việc “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”. Năm cách đó chính là cái mà hôm nay chúng ta thường gọi là lối sống.

Người viết thật giản dị về những gì làm nên đời sống mới: “Đời sống mới không phải những gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Thí dụ: ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ: đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi”…

Khái niệm thường gặp hiện nay về “làng văn hóa” đã được Người nêu lên với chữ dùng là “làng phong thuần tục mỹ”: “Về phong tục, phải cấm hẳn say sưa, cờ bạc, hút xách, bợm bãi, trộm cắp. Phải tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau, làm cho làng mình thành một làng phong thuần, tục mỹ”. Người dặn dò mọi người dân phải chú ý đến những việc tưởng chừng như rất nhỏ trong đời sống hàng ngày như giữ vệ sinh trong nhà, ngoài ngõ; sao cho đường sá, ao hồ, nước ăn, nước rửa đều thật sạch sẽ; lễ hội, giỗ tết, ma chay, cưới xin, phải thật trang trọng mà giản dị, tiết kiệm…

Để xây dựng được đời sống mới, Người chỉ ra sự cần thiết phải bắt đầu từ mỗi con người, mỗi gia đình. Người viết: “Do nhiều người nhóm lại thành làng. Do nhiều làng nhóm lại thành nước. Nếu người này xấu, người kia cũng xấu thì thành làng xấu, nước hèn. Nếu mọi người đều tốt thì thành làng tốt, nước mạnh. Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới thì dân tộc ta nhất định sẽ phú cường”. “Ai cũng làm như thế thì tự nhiên nước Việt Nam ta trở thành một nước mới, một nước văn minh”.

Sự nghiệp xây dựng đời sống mới, đời sống văn hóa có thành công hay không một phần quan trọng là phụ thuộc vào vai trò gương mẫu của các cán bộ. Người viết: “Đời sống mới cũng cần có những người làm gương, những nhà làm gương. Khi trông thấy có hiệu quả tốt tươi thì chắc những nơi khác cũng hăng hái làm theo. Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích!”.

Đối chiếu với những mặt sa sút, yếu kém hiện nay trong đời sống văn hóa ở nước ta (mê tín dị đoan, cúng bái tùm lum, cán bộ thiếu gương mẫu, ma chay cưới hỏi linh đình, cờ bạc, số đề, nghiện hút, trộm cắp của công và của riêng, văng tục, chửi bậy, va chạm một chút là gây gổ đánh nhau…), chúng ta càng thấy việc đọc lại, suy ngẫm về những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới là một việc làm cần thiết, cấp bách.

5. Về vấn đề xây dựng con người

Có thể nói xây dựng con người đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển đất nước là mối quan tâm hàng đầu trong suốt cuộc đời hoạt động lâu dài của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ bài giảng đầu tiên cho lớp huấn luyện những người được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội (1925), Người đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ thường xuyên trau dồi “Tư cách một người cách mệnh”. Trên báo Thanh Niên tháng 9/1926, một lần nữa Người lại đề ra những yêu cầu cụ thể của “một người cách mệnh mẫu mực”. Đó chính là những con người tiên tiến, đi đầu dẫn dắt quần chúng nhân dân cùng phấn đấu thực hiện mục tiêu cao cả giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội.

Sau ngày cách mạng thành công, Người đã phát triển, mở rộng vấn đề nêu trên thành vấn đề xây dựng con người mới như một phạm trù của lĩnh vực văn hóa.

Tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, trong Báo cáo chính trị, Người đã lần đầu tiên chỉ ra sự cần thiết phải “xúc tiến công tác văn hóa để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc”.

Để xây dựng được con người mới, một nguyên tắc hết sức quan trọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đó là vừa phải tu dưỡng đạo đức thường xuyên, vừa phải kiên quyết chống những biểu hiện thoái hóa đạo đức.

Phải nói rằng Người không chỉ quan tâm đề cao những gương sáng đạo đức, những “người tốt, việc tốt” mà còn vạch ra một cách sắc sảo từ rất sớm những căn bệnh tệ hại của sự suy thoái đạo đức, trước tiên là trong hàng ngũ cán bộ. Chỉ hai tháng sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong Thư gửi Ủy ban Nhân dân các cấp, Người đã nhìn thấy rõ các khuyết điểm nghiêm trọng của các cán bộ đảng viên: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo.

Những điều xấu xa đó, hơn một năm sau, trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ (3/1947) lại được Người nhận dạng kỹ càng hơn: Người nêu đúng bản chất của các thói xấu đó là “địa phương chủ nghĩa, bè phái, quân phiệt, quan liêu, hách dịch, hoạnh họe với dân, coi thường cấp trên, lấn át cấp dưới, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa, tranh giành địa vị, chỉ chăm lo ăn ngon mặc đẹp, chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị để buôn bán phát tài v.v…”.

Những bệnh trầm kha trên còn có dịp được Người nhắc lại trong cuốn Sửa đổi lối làm việc (10/1947), trong rất nhiều phát biểu sau này của Người, khi Người gọi đó là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, nguy hiểm không kém gì “Việt gian, mật thám”!… Thật là chí lý!

Một trong những bài viết cuối cùng của Người là bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (công bố vào dịp kỷ niệm 39 năm thành lập Đảng, 3/2/1969). Người chân thành dặn dò: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cho nên trong khi ta kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước, làm cho văn minh chiến thắng tàn bạo thì đồng thời phải loại trừ những cái xấu xa do chế độ cũ để lại trong xã hội và trong mỗi con người”.

Trong thực tiễn cuộc sống hôm nay, bên cạnh bao điều tốt đẹp, vẫn còn tồn tại nhức nhối những “điều xấu xa” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “chỉ mặt đặt tên” từ hàng chục năm về trước. Những điều xấu xa ấy không còn chỉ là của “xã hội cũ để lại” mà nó nảy sinh, đâm thêm nhành ngọn chính là từ trong những kẽ hở, những lỗ hổng, những yếu kém của cơ chế quản lý và vận hành xã hội hôm nay.

Từ những bất cập về cơ chế sở hữu, chính sách tài chính, những biểu hiện mất dân chủ, thiếu công khai , minh bạch trong việc thực hiện các quyền cơ bản của người dân… đến tình trạng thủ tục hành chính nhiêu khê, sự thiếu hụt các chế định luật pháp và thực thi luật pháp không nghiêm… tất cả những khiếm khuyết có tính hệ thống đó là môi trường hoàn toàn không thuận lợi cho việc xây dựng con người mới, nếu không nói là mảnh đất màu mỡ cho đủ các thói hư tật xấu phát triển, làm sa ngã không ít cán bộ vốn trước đây là tốt…

Một câu hỏi nhức nhối đặt ra là: Vì sao những lời hay, ý đẹp, mong muốn cháy bỏng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng con người sau mấy chục năm, sau bao cuộc vận động sống và làm theo gương Bác vẫn chưa thành hiện thực, nếu không nói là có lúc, có nơi cái xấu xa còn trầm trọng hơn thêm, ngang nhiên thách thức sự kiên nhẫn của đông đảo những người dân lương thiện đang ngày ngày nhọc nhằn mưu sinh trên ruộng đồng, trong nhà máy?…

Hiệu quả từ cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh” chỉ có thể đạt tới một cách rõ ràng và thực chất nếu chúng ta, song song với việc tuyên truyền, cổ vũ, phải cương quyết đẩy nhanh những thay đổi mạnh mẽ, rộng lớn và sâu sắc để có thể hoàn thiện trên thực tế theo hướng dân chủ hóa, minh bạch hóa cơ chế quản lý xã hội, quản lý kinh tế, văn hóa, coi đó như một điều kiện tiên quyết để xuất hiện ngày càng nhiều hơn những con người tử tế, trung thực, giỏi giang đáp ứng được yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong nỗ lực đồng hành cùng nhân loại.

Theo Honviet.

Created by lethithutrang
archives.gov.vn

UNESCO khẳng định sự tôn vinh với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội đồng UNESCO coi Người là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội đồng cũng cho rằng những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật kết tinh truyền thống văn hóa của người Việt Nam, một truyền thống có từ nhiều nghìn năm trước, và những lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng của các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau…

Bà C.Ma-rin (Katherine Muller-Marin), Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, đã dành những lời tốt đẹp này để nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Hội thảo khoa học quốc tế về Người, được tổ chức hôm qua tại Hà Nội.

Khẳng định sự tôn vinh của UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc) với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà C.Ma-rin nói: “Tôi có mặt tại đây ngày hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pa-ri năm 1987, về việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn… Đại hội đồng UNESCO cho rằng, việc thế giới kỷ niệm ngày sinh của những nhà văn hóa và trí thức kiệt xuất sẽ góp phần đạt được những mục tiêu của UNESCO và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia.

Để tôn vinh những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục của Việt Nam và thế giới… bà C.Ma-rin nhấn mạnh: “Đại hội đồng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia vào việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các sự kiện thể hiện tưởng nhớ về Người, nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Đại hội đồng cũng đề nghị Tổng giám đốc UNESCO có những biện pháp thích hợp để kỷ niệm ngày sinh của Người và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong dịp này, đặc biệt những sự kiện diễn ra tại Việt Nam”.

Bà C.Ma-rin (bên phải) trao đổi với các đại biểu dự Hội thảo

Để nhấn mạnh thêm công lao, sự đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trao đổi với phóng viên bên lề Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà C.Ma-rin xúc động nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều điều làm tôi ấn tượng, bản thân tôi đã nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh xem tại sao người dân Việt Nam lại ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến như thế, và tôi đã hiểu được tình cảm và lý tưởng của Người. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh được tôn vinh là biểu tượng của dân tộc thì chắc hẳn phải có điều gì đó và  điều quan trọng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là khả năng đoàn kết và tập hợp mọi người. Làm thế nào Người làm được điều đó? Người đã đoàn kết và tập hợp được nhiều người vì Người làm cho mọi người tự tin vào bản thân mình, tự hiểu mình nhiều hơn và làm cho mọi người có thể hợp tác và sống hòa thuận với nhau, đoàn kết với nhau… Một trong những điều tôi ấn tượng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là người luôn quan tâm, giáo dục cho người dân biết đọc, viết… và đấy cũng là ý tưởng của UNESCO. Để người dân biết đọc biết viết, Người còn quan tâm xem làm thế nào để người dân có sách để đọc, có bút để viết… Ngoài ra, tôi rất thích những nỗ lực của Người trong bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, điều thú vị là tất cả các lĩnh vực Người làm đều thuộc những thẩm quyền UNESCO quan tâm”.

Bà C.Ma-rin tâm sự: “Điều quan trọng nhất tôi thấy từ di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người đã chỉ cho dân tộc Việt Nam biết cách sống hòa thuận và xây dựng mối quan hệ bang giao hòa hiếu với các dân tộc khác như thế nào, biết đóng góp vào sự nghiệp chung cho nhân loại… Những gì tôi cảm nhận được từ Người thực sự mang những phẩm chất của một con người anh hùng”.

Bài và ảnh: HOA VINH
qdnd.vn

Điểm chung từ ba danh nhân văn hóa vĩ đại của dân tộc Việt Nam

(GD&TĐ) – Đến nay dân tộc Việt Nam có ba nhân vật lịch sử được UNESSCO vinh danh là danh nhân văn hóa vĩ đại đó là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Chí Minh.

Nguyễn Trãi cùng Hồ Chí Minh được tri ân Anh hùng dân tộc và Nguyễn Du được người Việt kính trọng tôn xưng là Đại thi hào dân tộc.

Hiển nhiên đã là danh nhân văn hóa vĩ đại thì điểm chung là cả ba danh nhân đó đều có những đóng góp lớn lao cho nền văn hóa nhân loại. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Chí Minh cùng gặp gỡ ở một điểm chung đó là trong cuộc đời và sự nghiệp của mình, họ đều đề cao cái Tâm. Tuy ba danh nhân sống ở những không gian và thời gian khác nhau, có những biểu hiện cụ thể khác nhau trong hành động, việc làm nhưng cái cốt lõi của mỗi hành động, việc làm của họ đều là cái Tâm – là tấm lòng, gốc của đạo đức. Và, điều thú vị là cả ba danh nhân văn hóa trong những hoàn cảnh nhất định, đã đặt sự so sánh giữa Tài và Đức, để rồi cả ba đều đề cao Đức, tức là đề cao cái Tâm và họ cùng lập ngôn về điều đó.

Với Nguyễn Trãi, các tài liệu đều thống nhất ghi nhận: ông là một anh hùng dân tộc vĩ đại, là nhà chính trị lỗi lạc, nhà chiến lược thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, đồng thời là một nhà văn lớn, nhà thơ lớn, nhà sử học, nhà địa lý học, nhà làm luật pháp và âm nhạc xuất sắc. Chính nhờ những đóng góp lớn lao trên các lĩnh vực đó, năm 1980 ông được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa vĩ đại nhân dịp kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông. Nguyễn Trãi là một người tài năng nhưng ông lại là người đề cao cái Tâm, tất cả các sự nghiệp của Nguyễn Trãi đều dựa trên cơ sở gốc là đề cao cái Tâm. Cái Tâm đối với đất nước, đối với nhân dân xuyên suốt trong cuộc đời, sự nghiệp Nguyễn Trãi, và luôn bàng bạc trong thơ ông. Chính Nguyễn Trãi đã hơn một lần đề cập đến trong thơ khi đối sánh giữa Tài và Đức, lúc thì ông nói:

Tài Đức thì cho lại có nhân
Tài thì kém Đức một hai phần.

(Bảo kính cảnh giới, bài LVII) [1]

và có khi ông răn:

Khó khăn, phú quý, học Tô Tần
Miễn Đức hơn Tài được mỗ phần.

(Bảo kính cảnh giới, bài LX)

Cách Nguyễn Trãi gần 500 năm, Nguyễn Du – Đại thi hào dân tộc, cũng trưởng thành từ cửa Khổng sân Trình, thấm nhuần tâm nhân nghĩa của thời đại. Cái Tâm của Nguyễn Du còn được kết tinh từ nhân dân, cả cái Tâm của Lão – Trang và đặc biệt là cái Tâm Phật giáo.

Tượng Nguyễn Du trong khu di tích Nguyễn DuTượng Nguyễn Du trong khu di tích Nguyễn Du

Trong cuộc đời của một con người xuất thân từ gia đình “đại thế gia”, Nguyễn Du đã được học hành, được thừa hưởng từ gia đình những điều kiện nhất định. Tài năng của Nguyễn Du được nảy nở và chí hướng theo gia đình, nhập thế lập công danh đã thôi thúc chàng trai trẻ Nguyễn Du cùng với những con người khác trong thời đại muốn trổ tài kinh bang tế thế. Thế nhưng công không thành, danh không toại, lý tưởng không đạt, tài năng không có chỗ dùng, một đời thông minh thiệt thòi, ngắm thanh gươm bên mình mà thẹn phận trai không ích gì cho nước. Nguyễn Du đến với văn chương, ý thức được tài năng văn chương của mình. Thế nhưng văn chương là biểu hiện của tài năng cũng chẳng mang lại gì cho chính nhà thơ:

Bách niên cùng tử văn chương lý [2]

(Mạn hứng I)

(Cuộc đời trăm năm chết xác với văn chương)

Nguyễn Du là người từng phải nếm trải cảnh “mười năm gió bụi”, phải trôi nổi trong cuộc đời như ngọn cỏ bồng trốc gốc, thấm thía nỗi đau của bản thân, trở về dưới chân núi Hồng, tâm trạng của nhà thơ u uất, chán nản. Cuộc đời bất hạnh đã đưa nhà thơ trở về gần gũi với cuộc sống gian khổ của nhân dân mà chính nhà thơ viết:

Thôn ca sơ học tang ma ngữ,
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh.

(Thanh minh ngẫu hứng)

(Câu hát nơi thôn dã giúp ta biết những tiếng nói trong nghề dâu gai,
Ngoài đồng nội thỉnh thoảng có người khóc còn nghe tiếng chiến tranh).

Chứng kiến cảnh “bình địa ba đào”, “thương hải biến tang điền” của thời đại, suy ngẫm về chuyện của cuộc đời mình, Nguyễn Du còn mở rộng mối quan tâm của mình ra tất cả mọi kiếp người. Trong đó có những kiếp người dưới đáy xã hội. Với tấm lòng nhân ái, cái tâm trách nhiệm, nhà thơ đã thể hiện một tình cảm xót thương trước sự nghèo đói, khổ sở của họ, tìm ra nguyên nhân, chỉ trích, phê phán thói phung phí, xa hoa của quan lại. Và, đặc biệt, trong những kiếp người đau khổ, Nguyễn Du quan tâm tới những con người tài hoa mà bạc mệnh. Từ cảnh ngộ, cuộc đời mình – một con người tài hoa, Nguyễn Du đã đồng cảm, liên tài đối với những người đồng cảnh. Nhà thơ nhận thấy rằng, cái “tài”, từ trong… bản thể của nó ẩn chứa nguyên nhân tai hoạ, vì người tài khó tránh khỏi bị đố kỵ, ghen ghét. Ông cho rằng:

Phàm sinh phụ kỳ khí
Thiên địa phi sở dung

(Điệu khuyển)

(Phàm sinh ra có khí phách khác thường
Thì trời đất không có chỗ dung thân).

Ngày trước, để tránh đi hoặc vượt qua cái “tai”, Lão Tử đưa ra một cách xử thế sâu kín, khôn khéo để tránh tai hoạ: “Thông minh duệ trí thủ chi dĩ ngu, dũng lực chấn thế thủ chi dĩ khiếp” [3], nghĩa là người thông minh phải biết giữ mình bằng cách khiêm nhường, coi mình như người ngu, bậc anh hào có sức mạnh chấn động thế giới phải biết giữ mình bằng cách làm như người nhát sợ. Thế nhưng Nguyễn Du không tìm hướng giải quyết như Lão Tử, mà ông tìm đến Phật giáo, bằng con đường tu Tâm. Bởi vậy trong tập đại thành Truyện Kiều nổi tiếng của mình, sau khi đã trải qua những thăng trầm trong cuộc đời, nhà thơ cảm khái: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài [4]”.

Đến thời đại Hồ Chí Minh, nhiều nhà nghiên cứu đều nhận thấy: có lẽ trong lịch sử thế giới về các danh nhân văn hóa, các nguyên thủ chưa có ai lại đặt ra vấn đề lý luận về Tài và Đức như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc và người cộng sự gần gũi  với Bác Hồ đã nói: “Ở gần Bác, tôi thấy một nét nổi bật của Bác là rất coi trọng phẩm chất con người, suốt đời chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân”.

sdChủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa

Hồ Chí Minh là một lãnh tụ bàn nhiều đến đạo đức và vai trò của đạo đức trong đấu tranh cách mạng. Người nói: “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng”. “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Vì vậy suốt đời mình Người kiên trì giáo dục phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên, nhấn mạnh không ngừng “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, và bản thân Người là một tấm gương trọn vẹn của đạo đức mới: Suốt đời phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.” [5]. Hồ Chí Minh nói: “Có Tài mà không có Đức là người vô dụng, có Đức mà không có Tài thì làm việc gì cũng khó”. Cũng đặt trong tương quan so sánh giữa Tài và Đức, ở trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đề cao cái Tài nhưng dĩ nhiên cái Đức mới là yếu tố quan trọng hơn. “Có Đức mà không có Tài thì làm việc gì cũng khó”, khó chứ không phải là không làm được, khác hẳn với vô dụng. Qua đó mới thấy Tài tuy quan trọng nhưng Đức còn cần thiết hơn bởi lẽ người có Tài mà sống vị kỉ, chỉ dùng tài năng để phục vụ cho bản thân mình không thôi thì chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí với lối sống cá nhân và làm việc như vậy có thể gây hại cho tập thể. Tài năng chỉ được xem trọng khi nó gắn với quá trình cống hiến, người có Tài đem khả năng của mình phục vụ tập thể, phục vụ đất nước trước khi nghĩ tới những quyền lợi cho bản thân. Trong bài nói chuyện tại Đại hội sinh viên lần thứ hai, ngày 7 tháng 5 năm 1958, Bác nói: “Thanh niên bây giờ là thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có Đức, có Tài. Có Tài mà không có Đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có Đức mà không có Tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người…” [6].

Trong Bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, Người lại nói đến mối quan hệ giữa chuyên môn và chính trị bằng sự so sánh giữa Tài và Đức: “Ta là cán bộ chuyên môn, có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì dù học giỏi mấy dạy trẻ con cũng hỏng. Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn. Nếu thầy giáo, cô giáo bàng quan thì lại đúc ra một số công dân không tốt, cán bộ không tốt. Nói tóm lại, chính trị là Đức, chuyên môn là Tài. Có Tài mà không có Đức là hỏng. Có Đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào? Đức phải có trước Tài. Trước hết phải dạy trẻ yêu Tổ quốc, yêu lao động, yêu đồng bào và yêu chủ nghĩa xã hội” [7]. Người luôn tâm niệm: Làm bất cứ cái gì có lợi cho dân, có lợi cho cách mạng thì làm.

Như vậy, có thể nói rằng từ Nguyễn Trãi, đến Nguyễn Du và Hồ Chí Minh cả ba danh nhân văn hóa vĩ đại đều đề cao cái Tâm, cái đạo đức trong sự so sánh với cái Tài. Đó là điểm chung rất quan trọng của ba danh nhân văn hóa. Thế đấy, có những điều tưởng như bình dị, ai cũng biết đến, nhưng để thực hiện thật không phải là dễ. Phải có một thực Tâm đối với dân, với nước, và một định hướng thường trực trong mỗi hành động, việc làm trong suốt cuộc đời. Chính điều đó mới là cái gốc làm nên nhân cách của ba danh nhân văn hóa vĩ đại của dân tộc Việt Nam.


[1] Các bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi được trích dẫn từ Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập 3, Nxb. Văn học, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.
[2] Các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du và lời dịch được trích dẫn từ Nguyễn Du toàn tập, tập 1, Nxb. Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 1996.
[3] Dẫn theo: http://sachhiem.net/NGHOAN/NgHoan02.php
[4] Truyện Kiều, câu thứ 3252.
[5] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. XVIII.
[6] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 172.
[7] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 492.

Nguyễn Cảnh Chương
gdtd.vn