Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Người Việt tại Pháp nhớ lại thời ký Hiệp định Paris

Bác Bùi Thanh Tùng. (Ảnh: Phân xã Paris/Vietnam+)

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013), phóng viên TTXVN tại Pháp đã có cuộc gặp gỡ với một số Việt kiều là nhân chứng đã từng sống, chứng kiến và tham gia tích cực các hoạt động ủng hộ đoàn đại biểu Việt Nam các cuộc đàm phán góp phần không nhỏ vào việc ký kết thành công các văn kiện lịch sử này.

Cách đây 40 năm đa số các Việt kiều sang Pháp là những thanh niên tuổi mới ngoài đôi mươi (có người còn chưa tới tuổi 20) và tập trung dưới mái nhà chung gọi là Hội “Liên hiệp Việt kiều tại Pháp” thành lập tháng 4/1969 mục tiêu phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Hội lúc đó có nhiều tổ chức như sinh viên Việt Nam, có Liên hiệp trí thức Việt Nam, Hội công nhân, Hội thương gia, phụ lão, y học tại Pháp … Đến cuối 12/1975 sau khi chiến thắng hoàn toàn và thống nhất đất nước, Hội Liên hiệp Việt kiều đã tự giải tán, vì nhiệm vụ chính lúc này là xây dựng và kiến thiết đất nước. Đến 1976, “Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF)” thành lập và giữ nguyên cho đến hôm nay.

Các thành viên của hội luôn hướng về đất nước và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc mình và gia nhập phong trào yêu nước với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé sức mình vào cuộc đấu tranh vì hòa bình và độc lập dân tộc. Sự ủng hộ và giúp đỡ của các Việt kiều này nói riêng và của cả cộng đồng người Việt Nam tại Pháp nói chung đã trở thành một trong những yếu tố không thể thiếu tạo nên chiến thắng lịch sử hôm nay.

Bác Nguyên Văn Bổn, hiện nay là phó chủ tịch UGFV, phụ trách công tác đối ngoại của Hội, lúc đó là Chủ tịch Hội sinh viên Việt Nam (có khoảng 300 người), cho biết số người còn sống tham gia trực tiếp giúp đỡ các phái đoàn Việt Nam không còn nhiều. Đối với người Việt Nam tại Pháp, ủng hộ về vật chất không phải là vấn đề quan trọng. Bà con Việt kiều từ năm 1954 đã đóng góp tiền để gửi về Quỹ chống Mỹ cứu nước ở Việt Nam.

Thời kỳ đó có các bộ phận cùng phối hợp làm việc hàng ngày trong thời gian này như làm báo, dịch tài liệu; lo sức khỏe cho các đoàn khi có người ốm đau gồm các bác sỹ Phan, bác sỹ Dân, nha sỹ Ngô Thuần Phương; và theo dõi hoạt động của đối phương, của đoàn chính quyền Sài gòn cũ ….

Bộ phận khác theo dõi thông tin liên quan đến dư luận của người Pháp, Việt kiều, sinh viên, những người khác ủng hộ hay không ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Hoạt động của bộ phận thứ ba này không mấy khi được nhắc tới vì được xem như nhiệm vụ bí mật thời gian đó và đã mang về nhiều thông tin quý giá cho tiến trình đàm phán.

Những người khác trực tiếp làm công tác tuyên truyền, vận động phải thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các buổi míttinh để giải thích cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và diễn biến của hội nghị Paris.

Cùng chia sẻ tình cảm và những kỷ niệm không thể nào quên với bác Bổn, bác Bùi Thanh Tùng, hiện nay là Tổng thư ký UGVF, cho biết bác sang Pháp năm 1967. Từ năm 1968-1972 diễn ra các cuộc đàm phán hai bên và bốn bên, bác thường xuyên hoạt động trong Phong trào Liên hiệp sinh viên Việt Nam tại Pháp (sinh viên sang Pháp khá đông từ năm 1960 đến 1968 nhưng sau đó không sang nữa).

Với thế mạnh của giới sinh viên là trẻ, năng nổ, dễ tiếp cận và Việt Nam khi đó là một điểm nóng trên thế giới, tại các ký túc xá sinh viên, nhiều buổi hội thảo kéo dài cho đến khuya, cùng nhau trao đổi với các bạn bè quốc tế, sinh viên Pháp về tình hình chiến tranh ở Việt Nam.

Bác Tùng không giấu nổi cảm xúc khi kể lại một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất đó là sau chiến thắng oanh liệt bắn rơi rất nhiều máy bay B52 của Mỹ trên Hà Nội cuối tháng 12/1972, đầu tháng 1/1973 Mỹ đã phải trở lại bàn đàm phán, ban đầu là đàm phán bí mật, sau đó là ký kết tại Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber vào ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris về hòa bình lịch sử này.

Theo bác Tùng kể lại, ngay từ sáng sớm, rất đông mọi người đứng thành hàng dài suốt hai bên vào cửa ra vào trung tâm với cờ đỏ sao vàng, cờ xanh, đỏ của mặt trận giải phóng Miền nam Việt Nam để phô trương lực lượng, ủng hộ cho hòa bình của Việt Nam và để bày tỏ tình cảm của mình đối với chiến thắng của đất nước.

Những đóng góp thầm lặng

Nhiều bác tuổi đã ngoài 80 không thể nhớ hết và không thể diễn đạt rành mạch những gì mình đã làm và những gì mình cảm nhận được trong suốt thời gian từ 1968 đến 1973, như của cô Thérèse Nguyễn Văn Ký (chúng tôi quen gọi “cô” như vậy theo người miền Nam), nhưng năm nay cô đã hơn 80 tuổi. Hiện nay cô là Chủ tịch UGVF.

Cách đây 40 năm và cũng như bây giờ cô vẫn là bác sỹ. Chỉ có điều khi đó, nhiệm vụ của cô là tham gia chăm sóc sức khỏe cho đoàn hoặc cho bà con Việt kiều mỗi khi ốm đau, cùng những công việc khác như tham gia míttinh, biểu tình vận động quần chúng, hậu cần… cho các đoàn.

Đến nay khi hỏi cô về những gì cô thường đau đáu nhớ về nó sau 40 năm, cô cho biết cô không thể nào quên hình ảnh đường phố Champs Elysées trung tâm thủ đô Paris tung bay cờ đỏ sao vàng khẳng định thắng lợi các cuộc đàm phán về hòa bình ở Việt Nam.

Còn bác Đoàn Hữu Trung, lúc đó làm nhiệm vụ gặp gỡ bà con cũng như Hội, tổ chức các cuộc míttinh ở nơi nào có Việt kiều, gặp đoàn mặt trận giải phóng ở Massy để giúp đỡ họ. Ngoài kỷ niệm riêng – đứa con gái đầu lòng của bác được sinh ra đúng những năm tháng đang diễn ra đàm phán, bác còn luôn nhớ đến thời gian sống và làm việc cùng đoàn miền Nam do bà Bình dẫn đầu.

Trong thời gian được sống cùng với phái đoàn, bác cảm thấy mình có may mắn được gần với cách mạng và coi những người trong phái đoàn như là những chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao. /.

Lê Hà-Nguyễn Tuyên-Trung Dũng/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27-1-1973/27-1-2013): Báo chí phương Tây với madame Bình

Hơn 40 năm trước, có một người phụ nữ Việt Nam được báo chí phương Tây trân trọng ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ cho sự thành công của Hội nghị Paris: Bà Nguyễn Thị Bình – một trong 4 người đặt bút ký vào bản Hiệp định chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình và bà Bình Thanh (đeo kính),
tại cuộc họp báo ngày 5-11-1968

2 giờ chiều ngày 2-11-1968, bầu trời Paris u ám và giá lạnh, bà Bình trong bộ áo dài màu hồng sậm, khoác măng – tô xám với chiếc khăn quàng đen điểm hoa, cùng 6 anh chị em của Đoàn MTDTGPMNVN, hồi hộp bước xuống sân bay Bourget giữa đám đông người chào đón, trong đó có nhiều nhà báo. Bà bị bao vây từ bốn phía như chiếc thuyền trôi trên sông lớn, máy ảnh chớp lia lịa. Vào phòng khách danh dự, bà dõng dạc tuyên bố giải pháp 5 điểm của Mặt trận, bà Bình Thanh (Thanh Vân), dịch rõ ràng mạch lạc, nghe như giọng “đầm”. Đám nhà báo ngạc nhiên, im lặng, rồi “xung quanh chúng tôi vang tiếng bàn ghế gãy, kính vỡ loảng xoảng và cãi cọ om xòm” vì ai cũng muốn đứng gần bà Bình để ghi hình, ghi tiếng tốt hơn” – bà Bình Thanh kể lại câu chuyện ấy.

Ông Xuân Thủy (Trưởng đoàn đại biểu VNDCCH) cùng bà Bình đi trên đoàn xe bóng loáng loại DS (déesse, có nghĩa là “nữ thần”), phấp phới lá cờ nửa đỏ nửa xanh (cờ Mặt trận), có ô tô, mô tô của cảnh sát Pháp dẫn đường và hộ tống, bà con Việt kiều và người dân Paris đứng chật hai bên đường sững sờ, xúc động. Hôm sau tất cả các báo Pháp và báo của các nước phát hành ở Paris đều chạy tít lớn: “Đại diện của Việt Cộng đã đến Paris” và những lời bình rất kêu: “Việt Cộng đã thắng lớn qua cuộc đón tiếp bà Bình ở Paris”; “Bà Bình như một bà hoàng được đón như một quốc trưởng với đủ nghi thức chính quy, lại được hoan nghênh nhiệt liệt”; “Bà Bình đã làm chấn động dư luận Paris và thế giới. Cờ Mặt trận đã tung bay ở Paris! Rất tuyệt! Thật hiếm có!”. Nhiều nhà báo đeo bám đến nơi ở. Có nhà báo leo qua tường, có người đặt máy ảnh giữa kẽ hở cánh cửa để bất chợt chụp được những tấm ảnh đặc biệt của đoàn Việt Cộng, nhất là ảnh bà Bình ở biệt thự Thévent.

Ba ngày sau (5-11), Đoàn tổ chức họp báo, cuộc họp báo được coi là hiếm có. Hơn 400 nhà báo quốc tế đến dự, chứng tỏ họ rất quan tâm chú ý đến Đoàn MTDTGPMNVN, đến cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta. Trước mắt họ là một người phụ nữ nhỏ nhắn, hiền lành, đến từ một vùng đất đang rực lửa chiến tranh, ăn nói có lý có tình. Bà Bình đã trả lời phỏng vấn các nhà báo một cách suôn sẻ hơn một tiếng đồng hồ, gây được thiện cảm với họ. Những ngày tiếp theo, bà Bình chịu áp lực khi nhiều nhà báo và các hãng truyền hình phỏng vấn riêng, nhưng vẫn tỏ ra bình tĩnh trước ánh đèn pha chiếu vào mặt.

Thời gian nghỉ giữa hai phiên họp, trong 4 năm đàm phán, bà Bình đi thăm nhiều nước để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Tháng 4-1969, thăm Anh, một nước luôn ủng hộ Mỹ, nên các đoàn thể của MTDTGPMNVN không xin được visa vào Anh. Nhưng nay Mỹ đã phải đàm phán với Mặt trận nên Anh chịu tiếp. Chuyến thăm kết quả tốt đẹp hơn cả mong đợi. Kết thúc buổi đón tiếp long trọng, madame Bình từ trên đài cao bước xuống, đi giữa hai hàng cảnh binh bảo vệ. Giữa quãng trường Trafalgar, rừng người hô vang khẩu hiệu “Đoàn kết với Việt Nam!”, “Chấm dứt chiến tranh!”. Chuyến thăm Thụy Điển năm 1970, được đích thân Thủ tướng Olof Palme (1927-1986) tiếp và cùng madame Bình dẫn đầu cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam. Nữ nhà văn Sara Lidman (1923-1976) nổi tiếng ở Bắc Âu, tiếp và nói: “Chị Bình ơi, Việt Nam đang có một nền văn hóa dân tộc vô cùng quý giá…” Các nước khác bà Bình đến thăm đều được đón tiếp nồng hậu, báo chí không tiếc lời khen ngợi madame Bình-Bộ trưởng, Trưởng đoàn và cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta.

Cuối tháng 4-1969, bà về Hà Nội nhận chỉ thị mới, kết hợp thăm cha đang bệnh nặng, và được Bác Hồ dặn phải vận động nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam. Không ngờ đó là lần cuối cùng gặp cha và Bác. Ngoài việc chuẩn bị cho các cuộc họp chính vào thứ 5 hàng tuần, các trưởng đoàn phải tiếp xúc với báo chí nhiều. Bà Bình “có những giai đoạn hầu như ngày nào cũng phải tiếp một hay hai hãng truyền hình hoặc phóng viên các báo Pháp, Mỹ, Anh, Nhật. Báo chí có thiện cảm nhất với đoàn CPCMLTCHMNVN. Mặt trận đối ngoại là một chiến trường, có thể nói đấu lý lần nào chúng ta cũng giành thắng lợi. Có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?” Bà Bình trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”. Họ xoay mãi nhưng bà chỉ một cách trả lời đó, họ phải chịu.

Nhà báo hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?” Bà Bình dứt khoát: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?” Các nhà báo đều chấp nhận. Giữa năm 1971, truyền hình Pháp tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Paris và Washington, có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người phần lớn là Pháp trung lập. Bà Bình một mình giữa các nhà báo sừng sỏ, dưới ánh đèn sáng chói đã bình tĩnh, đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh. Ông Xuân Thủy gọi điện khen : “Cô rất dũng cảm.”

Khi Mỹ huy động nhiều máy bay B52 ném bom Hà Nội, ai cũng hồi hộp, lo lắng. Bà Bình được gọi về. Giữa đêm 30-12-1972 về đến Hà Nội, bà đi thăm phố Khâm Thiên bị B52 tàn phá tối 26-12 với nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo; thăm hai đứa con nhỏ thương yêu, sống xa mẹ nhiều năm, sơ tán ở thị xã Hưng Yên. Ngày 21-1-1973, trở lại Paris, bà Bình mở ngay cuộc họp báo, tuyên bố: “Chỉ có một nước Việt Nam, chỉ có một dân tộc Việt Nam và Chính phủ lâm thời là đại diện của nhân dân miền Nam!” Hãng AFP mô tả: “Bà Bình mặc áo dài truyền thống của Việt Nam bằng lụa vân màu xanh lá cây, trông rất thoải mái. Đôi lúc madame nở nụ cười làm khuôn mặt càng rạng rỡ, trả lời các nhà báo rõ ràng khúc chiết, làm cho người ta có cảm giác đứng trước một quý bà đầy bản lĩnh, đầy tự tin.” Ngày 27-1-1973, họp phiên chính thức ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh Việt Nam”. Phóng viên hãng AP của Mỹ mô tả Trung tâm hội nghị Kléber tràn ngập biển người và cờ Việt Nam, cờ Mặt trận, hô vang khẩu hiệu chống Mỹ và ngụy khi ngoại trưởng Rogers và ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn Trần Văn Lắm đến. Họ tung hô ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Thị Bình: “Hoan hô Việt Nam dân chủ cộng hòa! Hoan hô Chính phủ cách mạng lâm thời!”. Mỗi vị ký vào 32 văn bản của Hiệp định. Phóng viên UPI của Mỹ trang trọng viết: “Buổi lễ ký kết hòa bình ở Việt Nam diễn ra trong khung cảnh huy hoàng tráng lệ của thế kỷ 19 và những biện pháp an ninh nghiêm ngặt nhất mà thế kỷ 20 có thể tạo ra. Bốn ngoại trưởng, 2.000 cảnh sát và an ninh bảo vệ nghiêm cẩn”.

Phan Thu Hương
daidoanket.vn

Những câu chuyện về Hội nghị Paris: Giai thoại về cái bàn đàm phán

Cuộc đàm phán bước sang một giai đoạn mới là giải quyết vấn đề quân sự và chính trị ở miền Nam Việt Nam. Hai bên đều cho rằng để giải quyết vấn đề này phải có mặt các bên miền Nam Việt Nam.

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) đề nghị có mặt của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPNMVN). Phía Mỹ đề nghị có mặt của Cộng hòa Việt Nam tức chính phủ Sài Gòn. Hội nghị 2 bên đã trở thành hội nghị 4 bên. Vì thế, cuộc tranh cãi về hình thù cái bàn kéo dài đến 2 tháng, từ 1-11-1968 đến tháng 1-1969 mới họp được phiên đầu tiên của Hội nghị 4 bên là VNDCCH, Mỹ, MTDTGPMNVN và Chính phủ Sài Gòn.

Trước khi đến Bắc Kinh để nhận nhiệm vụ Đại sứ Pháp do De Gaulle bổ nhiệm, Etienne Manac’h (Vụ trưởng Vụ châu Á-Bộ Ngoại giao Pháp) tham gia các cuộc thảo luận dưới hình thức bàn đàm phán. Ngoài tính chất giai thoại, vấn đề chiếc bàn trên thực tế động chạm đến bản chất của đàm phán bởi vì nó đặt ra vấn đề về vị trí và thân phận các đồng minh của Mỹ và VNDCCH: Ở đây là Chính phủ Sài Gòn và MTDTGPMNVN. Đề xuất của trung gian Pháp về một loại bàn hình kim cương có thể đáp ứng được cả ý muốn của Mỹ- đàm phán 2 bên bên 2 bàn chữ nhật- và của miền Bắc Việt Nam- đàm phán 4 bên bên 4 bàn hình vuông- xuất hiện sau đề xuất của Liên Xô và cuối cùng phương án được chấp nhận là: Một bàn tròn cho phía Mỹ và miền Bắc Việt Nam, hai bên có hai bàn nhỏ hình chữ nhật cho chính phủ Sài Gòn và cho MTDTGPMNVN.

Nguyễn Thế Mai
(dịch và biên tập từ tài liệu: NướcPháp,
bên thứ năm trong đàm phán?)

daidoanket.vn

Vị Đại đức có nhiều việc làm theo gương Bác

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu rõ những giá trị đạo đức và văn hóa tích cực của tôn giáo: “Chúa Giê-su dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi”. Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tình yêu thương con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

Tìm thấy trong triết lý Phật giáo và tư tưởng Hồ Chí Minh những trùng hợp về tư tưởng cao cả vì con người, noi theo tấm gương đạo đức tuyệt vời cao đẹp của Bác, trong thời gian qua, Đại đức Thích Thiện Hòa cùng chùa Hải Hội, xã Hòa Hiệp Trung, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã có nhiều việc làm thiết thực nhằm cứu giúp những cảnh đời nghèo khó và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Bàn thờ Bác bốn mùa ngát hương

Tôi tìm về chùa Hải Hội – ngôi chùa đẹp, cổ kính, mang đậm dấu ấn kiến trúc chùa chiền Nam Trung Bộ vào một ngày rằm. Người đi lễ chùa khá đông. Tiếng chuông, tiếng mõ hoà với tiếng rì rào sóng vỗ tạo nên khung cảnh yên bình ở một vùng quê biển. Đại đức Thích Thiện Hòa, trụ trì cùa Hải Hội dẫn tôi vào gian chánh điện, kính cẩn thắp hương lên bàn thờ Phật và bàn thờ Bác.

Đại đức cho biết: Từ trước năm 1975, sau khi Bác mất, hằng năm, vào dịp sinh nhật Bác hay Tết Độc lập, chùa đều bí mật lập bàn thờ Bác, thắp hương tưởng nhớ công ơn của Người. Ngay sau giải phóng, chùa lập bàn thờ Bác ở vị trí trang trọng nhất của gian chánh điện. Bà con ngư dân, trước mỗi chuyến biển, đều đến chùa, cầu cho sóng yên biển lặng và thắp thắp hương, hứa với Bác sẽ chung tay giữ biển đến cùng, như lời Bác dạy. Đi lễ chùa cũng là dịp bà con thắp hương lên bàn thờ Bác, vì thế, bàn thờ Bác quanh năm hương hoa thơm ngát.

Đại đức Thích Thiện Hoà tâm sự: “Chúng tôi lúc nào cũng tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu vì Bác là vị lãnh tụ vĩ đại đã giải phóng dân tộc khỏi áp bức của ngoại xâm, để chúng tôi có được cuộc sống yên bình như ngày hôm nay, yên tâm tu hành, tu học. Tôi đã nghiên cứu rất kỹ cuộc đời, tấm gương đạo đức của Bác, tư tưởng vì dân, vì con người của Bác và thấy bổn phận mình phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người”.

Chùa Hải Hội đã có từ lâu đời. Trong kháng chiến chống Mỹ, đây là cơ sở, nơi đi về của cán bộ cách mạng. Cũng vì thế, không ít lần chính quyền chế độ cũ đã làm khó dễ đối với chùa, thậm chí chúng còn cài lựu đạn cho nổ tung  tượng Phật. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, với sự ủng hộ của chính quyền, sự đóng góp của đạo hữu, ngôi chùa được tu bổ, xây dựng khang trang, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của bà con phật tử xã Hòa Hiệp trước đây, nay là các xã Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Trung, Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa. Tiếp nối truyền thống tốt đẹp trong kháng chiến chống Mỹ, các thế hệ trụ trì chùa Hải Hội đã tích cực tham gia hưởng ứng các phong trào yêu nước.

vi Dai ducBàn thờ Bác tại chùa Hải Hội

Đặc biệt, từ khi triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gươg đạo đức Hồ Chí Minh”, từ tấm gương của Bác và qua nghiên cứu, tìm thấy trong triết lý Phật giáo và tư tưởng Hồ Chí Minh những trùng hợp về tư tưởng cao cả vì con người, mỗi tháng 2 lần, trong các buổi dạy giáo lý, Đại đức Thích Thiện Hòa đã lồng ghép nói về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho bà con phật tử. Đại đức dặn bà con phải luôn thương yêu, đoàn kết, giúp đỡ nhau theo lời Bác và cũng là lời Phật dạy.

Những việc làm theo gương Bác

Các xã Hòa Hiệp ngày nay đã có nhiều đổi mới, song tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn khá cao và vẫn còn không ít cảnh đời bất hạnh do hậu quả chiến tranh. Chung tay cùng người nghèo, góp phần cùng địa phương giúp đỡ những gia đình khó khăn, Đại đức Thích Thiện Hòa đứng ra  thành lập Chi hội Chữ thập đỏ của chùa với gần 200 hội viên là các phật tử, luôn duy trì nguồn quỹ khoảng 30 triệu đồng, trong đó có nhiều  hội viên nòng cốt, chưa bỏ sót tham gia một đợt quyên góp nào. Ông Huỳnh Đức Ngọc ở thôn Phú Hiệp 2, xã Hòa Hiệp Trung, một thành viên tích của Chi hội Chữ thập đỏ chùa Hải Hội nói: “Chúng tôi rất ủng hộ những việc làm từ thiện của chùa Hải Hội. Không nhiều thì ít, hễ nhà chùa mở đợt quyên góp là gia đình tôi hưởng ứng ngay”.

Từ nguồn quỹ này, Chi hội Chữ thập đỏ Chùa Hải Hội thường xuyên giúp đỡ nhiều gia đình khó khăn, nạn nhân chất độc màu da cam và tặng quà cho học sinh nghèo vượt khó. Ngay sau trận lũ  lịch  sử ở Phú Yên đầu tháng 11/2009, chùa Hải Hội đã vận động quyên góp, tổ chức 3 đợt về huyện Đồng Xuân – nơi bị thiệt hại nặng nề nhất – trao quà cho bà con vùng lũ trị giá 50 triệu đồng.

Cùng với đó, Đại đức Thích Thiện Hòa còn gặp gỡ trao đổi với bà con phật tử về thực hiện đời sống văn hoá ở khu dân cư, chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc, yêu thương đùm bọc, nuôi dạy con cái ngoan hiền, hiếu học, góp phần xây dựng và giữ vững danh hiệu các thôn văn hóa.

Những việc làm của Đại đức Thích Thiện Hòa và Chi hội Chữ thập đỏ chùa Hải Hội được chính quyền, Mặt trận địa phương đánh giá cao. Ông Nguyễn Hữu Tổng, Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Hòa Hiệp Trung nói: “Không chỉ góp phần giúp đỡ những cảnh đời khốn khó, bà con nghèo,  chùa Hải Hội và Đại đức Thích Thiện Hòa còn hỗ trợ địa phương rất nhiều trong việc xây dựng thôn xóm bình yên”.

Phan Xuân Luật
cand.com.vn

“Đã đánh là nhất định thắng”

Tròn 40 năm đã trôi qua kể từ ngày quân và dân ta lập nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Chiến thắng này một lần nữa cho thấy tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, một trong những yếu tố đóng vai trò then chốt làm nên thắng lợi rực rỡ của cách mạng nước nhà.

Ngày 16-4-1952, trước trận “Điện Biên Phủ trên không” hai mươi năm, nước Mỹ cho bay thử thành công chiếc máy bay B.52 đầu tiên do hãng Boeing sản xuất và tuyên truyền rùm beng cho loại “siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm”. Sau 20 năm, năm 1972, B.52 đã được qua 8 lần cải tiến từ B.52A đến B.52G, B.52H. Mỗi chiếc B.52G hoặc H (loại bị bắn rơi tại Hà Nội tháng 12-1972) có thể mang trên dưới 100 quả bom với trọng lượng từ 17 đến 30 tấn cùng nổ chỉ trong phạm vi 3 đến 10 giây đồng hồ. Đi kèm B.52 là một lực lượng máy bay F4 hộ tống tạo thành mộthàng rào không thể chọc phá”. Nhưng điều chủ yếu nhất, nguy hiểm nhất và gây nhiều khó khăn nhất cho đối phương là hệ thống gây nhiễu điện tử cực mạnh tạo thành chiếc áo giáp điện tửche giấu toàn bộ lực lượng tiến công, biến mỗi chiếc B.52 thành một máy bay tàng hình”. Hoa Kỳ cho rằng “Đối phương không thể có cách chống đỡ và không còn một sinh vật nào tồn tại nổi dưới những trận mưa bom kinh khủng của loại B.52 bất khả xâm phạm”.

da danh nhat dinh thang 1Máy bay B.52 thực sự là kho bom đạn bay trên không.
(Ảnh Tư liệu – Internet)

Ngày 18-6-1965, đế quốc Mỹ cho 30 chiếc B.52 từ đảo Gu-am giữa Thái Bình Dương bay vào “rải thảm” khu căn cứ Long Nguyên của ta ở huyện Bến Cát. Đây là lần đầu tiên B.52 được sử dụng ở Việt Nam. Giặc Mỹ muốn dùng “con ngáo ộp” B.52 để hăm dọa chúng ta.

Nhưng chỉ một tháng sau, ngày 19-7-1965, trong chuyến thăm Trung đoàn 324, bộ đội Phòng không – Không quân đóng tại Tam Đảo, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt nhân dân Việt Nam đã lên tiếng trả lời bọn xâm lược: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B.52 hay “Bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”.

Lời khẳng định ấy của Bác, cùng chỉ thị của Bộ Chính trị và mệnh lệnh Bộ Quốc phòng sau này, đã trở thành niềm tin và động lực để quân và dân ta tạo nên chiến thắng lịch sử của trận Điện Biên Phủ trên không ở Hà Nội cuối năm 1972.

“Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B.52 hay “Bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng” – Thể hiện quyết tâm của Bác, cũng là quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong cuộc chiến chống trả đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đồng thời, câu nói này cũng thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chiến lược tài tình.

Riêng đối với Quân chủng Phòng không – Không quân, lời dạy của Bác đã củng cố lòng tin và tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ chiến sĩ trong toàn quân chủng nỗ lực vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, đánh thắng những bước leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta. Hơn thế nữa, lời dạy của Bác thực sự đã đặt nền móng cho tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng không, nghệ thuật tác chiến phòng không của chúng ta. Ngay sau khi Bác đến thăm, theo chỉ thị của Đảng ủy Quân chủng, Cục Chính trị Quân chủng đã hướng dẫn các đơn vị phát động toàn thể cán bộ, chiến sĩ học tập và làm theo lời dạy của bác, thi đua lập công, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Bản chỉ thị nêu rõ những yêu cầu của đợt phát động: 1) Nêu cao quyết tâm chiến đấu, kiên định vững vàng, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dũng cảm chiến đấu, đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. 2) Quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến “Đánh thắng trận đầu, đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng”, phát huy quân sự dân chủ, tăng cường rèn luyện năng lực chỉ huy, trình độ kĩ thuật để bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch, tiết kiệm đạn, trước mắt nhanh chóng đưa số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc lên 400 chiếc.

Dù kẻ địch có huy động lực lượng đông đảo quân lính với những vũ khí tối tân để tấn công, “Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa”, có đông hơn nữa thì “ta cũng đánh”. “Ta cũng đánh” là lời khẳng định chắc như đinh đóng cột của Bác kính yêu. Sở dĩ Người có thể khẳng định mạnh mẽ như vậy là xuất phát từ sự thấu hiểu sâu sắc truyền thống yêu nước quý báu đã có từ hàng nghìn năm nay của dân tộc ta; thấu hiểu ý chí quật cường, tinh thần anh dũng, quả cảm, không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù xâm lược của những người con mang dòng máu Lạc Hồng. Đó là quyết tâm của Bác, quyết tâm của Đảng cũng như của nhân dân ta, dù thế nào “ta cũng đánh” và “đã đánh là nhất định thắng”.

“Phải đánh thắng B.52” là mối quan tâm đặc biệt của Bác và cũng là quyết tâm của quân dân ta. Năm 1962, mười năm sau khi chiếc B.52 đầu tiên ra đời, trong lần gặp đồng chí Phùng Thế Tài nhân dịp đồng chí được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Bác hỏi:

Bây giờ chú là Tư lệnh Phòng không, vậy chú biết gì về B.52 chưa?

Thấy đồng chí Tài lúng túng, Bác cười độ lượng:

Nói thế thôi, chú có biết cũng chưa làm gì được nó. Nó bay trên cao mười cây số mà trong tay chú hiện nay mới chỉ có cao xạ thôi. Nhưng ngay từ nay, là Tư lệnh Phòng không, chú phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến thằng B.52 này”.

Để có vũ khí trừng trị được B.52, Bác đặt vấn đề với Liên Xô chi viện cho Việt Nam vũ khí tên lửa phòng không. Dưới sự giúp đỡ của nước bạn, Trung đoàn tên lửa phòng không SAM-2 đầu tiên mang phiên hiệu H36 ra đời.

Tháng 4-1965, Mỹ quyết định dùng Sư đoàn Không quân chiến lược số 3 đóng ở đảo Guam tiến hành chiến dịch ném bom mang tên “Cung sáng” vào miền Nam Việt Nam để yểm trợ cho bộ binh Mỹ trong các cuộc hành quân trên bộ. Ngày 18-6-1965, 30 máy bay B.52 cất cánh từ Guam ở trung tâm Thái Bình Dương vượt gần 9.000 km với 16 giờ bay liên tục, thực hiện cuộc ném bom “rải thảm” lần đầu tiên trên thế giới vào căn cứ Long Nguyên của ta ở huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương (phía Tây Bắc Sài Gòn). Cùng với bom là những tờ truyền đơn in hình chiếc B.52 với đủ kích thước, tính năng của nó và đã gây tác dụng tâm lý nhất định. Một số cán bộ ở miền Nam ra công tác miền Bắc khi kể về những trận rải thảm của B.52 đã tỏ ra phân vân, lo lắng. Vì, chỉ cần 10 chiếc B.52 lọt vào Hà Nội cũng đủ gây tổn thất nặng nề không lường hết được. Chính vì vậy mà Bác Hồ đã đặc biệt quan tâm đến loại máy bay này. Việc xây dựng quyết tâm dám đánh và quyết thắng B.52 được đặt ra ngay từ khi đế quốc Mỹ bắt đầu sử dụng máy bay B.52 đánh phá ở chiến trường miền Nam.

Ngày 24-7-1965, Trung đoàn tên lửa H36 ra quân đánh thắng trận đầu, bắn rơi tại chỗ chiếc F4C trên bầu trời Hà Tây. Một ngày sau, ngày 25-7-1965, hạ tại chỗ thêm một máy bay trinh sát không người lái BQM34A ở độ cao 19 km. Hai chiến công đầu của bộ đội tên lửa Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt: Nó khẳng định khả năng tên lửa Việt Nam trị được B.52 đã ở trong tầm tay. Bác Hồ đã gửi thư khen quân và dân Hà Tây và ký lệnh thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Ba cho 2 Tiểu đoàn 63 và 64 đã trực tiếp lập công. Ngày 12-4-1966, máy bay B.52 lần đầu tiên ném bom đèo Mụ Giạ ở Tây Nam Quảng Bình, mở đầu việc đánh phá của B.52 ở miền Bắc nước ta. Ít lâu sau, B.52 đánh rộng đến Vĩnh Linh, phía bắc giới tuyến 17 với mức độ ngày càng dữ dội. Bác mời đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ Quân chủng Phòng không – Không quân lên báo cáo tình hình và trực tiếp giao nhiệm vụ cho quân chủng: “Máy bay B.52 Mỹ đã ném bom miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được B.52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú Phòng không- Không quân”.da danh nhat dinh thang 2Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm các chiến sĩ lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô năm 1966. (Ảnh Tư liệu – Internet)

Các đồng chí trong Quân uỷ Phòng không – Không quân báo cáo Bác ý định đưa lực lượng tên lửa, ra-đa vào chiến trường phía Nam tìm cách bắn rơi máy bay B.52, để củng cố ý chí quyết thắng và xây dựng niềm tin đánh thắng B.52 cho bộ đội. Người suy nghĩ rồi thong thả nói: “Đúng, muốn bắt cọp phải vào tận hang”. Tháng 5-1966, một số đơn vị tên lửa, ra-đa và những cán bộ có kinh nghiệm của quân chủng đã được cấp tốc đưa vào chiến trường. Trung đoàn tên lửa H38 (biệt danh Đoàn Hạ Long) – đơn vị hoả lực đầu tiên nhận trọng trách lớn lao này, đã kịp thời cơ động từ đồng bằng Bắc Bộ, vượt qua nhiều chặng đường hiểm trở đầy ác liệt của bom đạn Mỹ để tới Vĩnh Linh vào đầu năm 1967. Các chiến sĩ đã anh dũng nằm ngay trong tầm đạn pháo mặt đất, pháo biển của địch phục kích bắn B.52. Một số đơn vị ra-đa đã vượt qua muôn vàn gian khổ, khó khăn đưa máy lên tận đỉnh Trường Sơn để nghiên cứu phát hiện B.52. Đưa tên lửa vào Vĩnh Linh là chặng đường đầu tiên trên con đường dài đi đến chiến thắng B.52. Nghe tin 1 trung đoàn tên lửa SAM-2 của ta vào Vĩnh Linh, Lầu năm góc hoảng sợ và quyết tiêu diệt những bệ phóng của ta bằng mọi giá. Các khí tài của ta bị bom, đạn Mỹ đánh hỏng nặng. Biết đơn vị gặp khó khăn, Bác thường xuyên quan tâm thăm hỏi xem có biện pháp khắc phục chưa.da danh nhat dinh thang 3Ngày 09-02-1967, Bác Hồ thăm bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam.
(Ảnh Tư liệu – Internet)

Ngày 17-9-1967, Phân đội tên lửa 84, Đoàn H38 lần đầu tiên chỉ trong vòng ba mươi phút đã kịp thời phát hiện và bắn rơi 2 chiếc B.52 trên bầu trời Vĩnh Linh. Nhận được tin vui từ Vĩnh Linh ra, các đồng chí lãnh đạo Quân chủng Phòng không – Không quân muốn báo tin ngay đến Bác vì Người đã cho phép gọi điện thoại trực tiếp đến bất cứ lúc nào cần thiết. Trời đã khuya, sợ Bác thức giấc, đồng chí Tư lệnh đã gọi cho đồng chí Vũ Kỳ (thư ký của Bác) thì được biết Bác vẫn chưa ngủ. Đồng chí quay số 01 (mật danh điện thoại của Bác), Bác nhận ra giọng đồng chí Phùng Thế Tài và hỏi ngay: “Chú Tài đấy à? Có việc gì thế? Bắn rơi B.52 rồi phải không?”

Việc Bác đoán trước đã bắn rơi B.52 là xuất phát từ niềm tin tuyệt đối của Người vào lòng dũng cảm, trí tuệ, khả năng sáng tạo của bộ đội ta. Từ ngôi nhà sàn, Bác đã tự tay viết thư khen quân và dân Vĩnh Linh anh hùng và ký Lệnh thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho Tiểu đoàn 84 thuộc Trung đoàn tên lửa H38 là đơn vị trực tiếp đã lập công.

Bước leo thang của Mỹ đã lên đến đỉnh. Chúng tổ chức những chiến dịch không quân liên tục đánh phá quyết liệt Thủ đô. Bộ Tư lệnh Phòng không -Không quân được giao nhiệm vụ chuẩn bị phương án chiến đấu bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng trong tình huống địch sử dụng B.52. Vào một buổi tối mùa Xuân năm 1968, tại ngôi nhà sàn, Bác Hồ nói với đồng chí Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng lời dự báo về một cuộc chiến căng thẳng, khốc liệt sắp diễn ra: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Vì vậy nhiệm vụ cuả chú rất nặng nề”.

Đúng như lời dự đoán của Bác, ngày 17-12-1972, Ních-xơn chính thức ra lệnh mở Chiến dịch Lai-nơ-bêch-cơ II, sử dụng không quân chiến lược B.52, tập kích với quy mô hủy diệt vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc.

Trong suốt 12 ngày đêm vần vũ trên bầu trời Hà Nội, đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng lớn chưa từng có kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (tính đến tháng 12/1972) cho cuộc tập kích này: gần 1/2 số máy bay chiến lược B.52 của toàn nước Mỹ (193 chiếc trên tổng số 400 chiếc), gần 1/3 số máy bay chiến thuật của toàn nước Mỹ (1.077 chiếc trên tổng số 3041 chiếc) cùng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại khác. Chúng đã huỷ diệt nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết hại 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. Tờ báo lớn nhất của Anh, the Daily Mirror đã bình luận rằng: “Việc Mỹ quay lại ném bom Bắc Việt Nam đã làm cho cả thế giới lùi lại vì ghê sợ”.

Đế quốc Mỹ toan tính rằng, bằng sự tàn sát dã man của B.52, chúng có thể buộc nhân dân ta phải khuất phục. Nếu đế quốc Mỹ thành công trong cuộc tập kích bằng B.52 thì hậu quả thật khôn lường. Báo Pháp Nhân đạo viết: “Tấn thảm kịch Việt Nam đang trải qua cho ta hương vị của cái mà trái đất chúng ta sẽ nếm trải nếu nước đế quốc mạnh nhất đặt được nền thống trị độc tôn của nó!”. Thế nhưng, “thần tượng B.52” – con át chủ bài trong bộ ba chiến lược của đế quốc Mỹ đã phải sụp đổ trước ý chí kiên cường và trí tuệ thông minh tuyệt vời của dân tộc Việt Nam. Chỉ trong 12 ngày đêm, lưới lửa phòng không dày đặc của ta đã xé tan xác 81 máy bay của giặc Mỹ, trong đó “siêu pháo đài bay” B.52 là 34 chiếc, F111 – 5 chiếc và 42 máy bay chiến thuật khác, bắt sống nhiều giặc lái, trong đó có nhiều giặc lái B.52.

Thông thường trong chiến tranh, ở những trận tập kích đường không lớn, tỷ lệ tổn thất về máy bay của phe tiến công là khoảng 1-2%. Vậy mà trong cuộc tập kích không quân chiến lược cuối tháng 12-1972 này tỷ lệ tổn thất về máy bay của Mỹ đạt kỷ lục cao nhất từ trước tới nay (25%), khiến các nhà quan sát quân sự Mỹ phải thú nhận: “Cứ cái đà mất máy bay, người lái này và nếu Mỹ còn tiếp tục ném bom thì chỉ đến ngày 28 tháng 4 năm 1973 toàn bộ lực lượng không quân chiến lược Mỹ ở vùng Đông Nam Á sẽ hết nhẵn”. Người Mỹ cũng đã phải cay đắng thừa nhận rằng: “B.52 đã được tung ra chiến trường với số lượng lớn chưa từng có, để cuối cùng Tổng thống phải chấp nhận một kết cục bi thảm chưa từng thấy!”. Chính Ních-xơn cũng đã phải cay đắng thừa nhận về thất bại thảm hại này trong hồi ký của mình: “Nỗi lo của tôi trong những ngày này không phải là lo những làn sóng phản đối, phê phán nghiêm khắc ở trong nước và trên thế giới, mà chính là mức độ tổn thất về máy bay B.52 quá nặng nề”.

da danh nhat dinh thang 4 Xác pháo đài bay B.52 chất đống ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. (Ảnh tư liệu – Internet)

Trước sự thất bại liên tiếp trong 12 ngày đêm đánh phá miền Bắc, 7h sáng ngày 30/12, Tổng thống Mỹ Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận họp lại Hội nghị Pari về Việt Nam. Cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc kéo dài 12 ngày đêm đã bị thất bại hoàn toàn. Ngày 27-01-1973 Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết.

“Phải tin tưởng vững chắc là ta nhất định thắng, Mĩ nhất định thua. Lúc này mà còn phân vân, tàu địch to, tàu ta nhỏ, máy bay địch nhiều, súng ta ít, liệu có đánh được không? Đó là biểu hiện quyết tâm chưa cao. Tuy không dám tự nhận là sợ địch, nhưng chính là sợ địch. Phải khẳng định rằng: Dù đế quốc Mĩ có lắm súng nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52 hay “bê” gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng… Ta phải có lòng tin sắt đá ở Đảng. Đảng đã nói: “Nhất định đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” là nhất định thắng… Đánh nhau có hi sinh, có gian khổ, nhưng bền gan, vững chí thì cuối cùng ta nhất định thắng, giặc nhất định thua”. Lời của Bác tựa như lời sông núi, thấm sâu vào trái tim mỗi người dân Việt Nam, cổ vũ, thôi thúc quân dân ta vững niềm tin tất thắng kiên cường chống lại kẻ thù xâm lược. Đoàn kết một lòng, quân dân thống nhất, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã kiên cường, dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” vang dội, đánh một đòn chí mạng vào kẻ thù xâm lược, khiến chúng phải thua một cách “tâm phục, khẩu phục”.da danh nhat dinh thang 5Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội trao cờ cho các đơn vị lập công xuất sắc trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972.
 (Ảnh tư liệu – Internet)

Đã bốn thập kỷ qua đi nhưng những bài học vô giá về tính chủ động, sáng tạo, tinh thần dám đánh và quyết thắng mà Bác Hồ để lại từ trận “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” vẫn còn vẹn nguyên giá trị và sẽ giúp cho dân tộc ta vững tay lái khi ra biển lớn trong quá trình hội nhập quốc tế hôm nay.

Thu Hiền (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ

Đồng chí Tô Huy Rứa phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Như tin đã đưa, chiều 22-1-2013, Đảng uỷ cơ quan Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2012 và triển khai nhiệm vụ năm 2013. Đồng chí Tô Huy Rứa, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương dự và phát biểu chỉ đạo. Tạp chí Xây dựng Đảng trân trọng giới thiệu bài phát biểu này.

Thưa các đồng chí đại biểu, thưa toàn thể Hội nghị!

Hôm nay, Đảng bộ cơ quan Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị đảng viên để tổng kết công tác năm 2012 và triển khai nhiệm vụ năm 2013, năm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Qua nghe tóm tắt dự thảo Báo cáo do Đảng uỷ chuẩn bị trình Hội nghị Đảng bộ, Lãnh đạo ban nhất trí với những đánh giá về kết quả đạt được của Đảng bộ trong năm 2012. Hội nghị cán bộ chủ chốt và Hội nghị cán bộ, công chức của cơ quan đã khẳng định: Năm qua, Ban Tổ chức Trung ương đã tổ chức triển khai thực hiện tương đối toàn diện, đồng bộ một khối lượng công việc lớn, yêu cầu đòi hỏi cao, trong thời gian ngắn nhưng chúng ta hoàn thành có chất lượng, được Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đánh giá tốt, được các ban, ngành Trung ương và các địa phương, cũng như dư luận chia sẻ, đồng tình và ghi nhận. Cơ quan Ban Tổ chức Trung ương nội bộ đoàn kết, đa số cán bộ, công chức hăng hái, nhiệt tình và năng động sáng tạo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Đạt được kế quả đó, trước hết là do Ban ta có Đảng bộ, có các chi bộ, có đội ngũ đảng viên vững mạnh. Đảng bộ thường xuyên làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự đồng thuận, đoàn kết, thống nhất trong toàn cơ quan, hướng tới thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị.

Với nhiệm vụ chủ trì nghiên cứu, tham mưu xây dựng, ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” cũng như theo dõi, đôn đốc việc thực hiện giúp các chi bộ và từng đảng viên, cán bộ của Ban về sự gương mẫu làm tốt hơn việc thực hiện nghị quyết Trung ương 4. Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình của tập thể, cá nhân Lãnh đạo Ban, Ban Thường vụ Đảng uỷ, các tập thể chi uỷ và toàn thể đảng viên trong Đảng bộ đã thực sự là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, với thái độ nghiêm túc, thẳng thắn, cầu thị, chỉ tõ những mặt hạn chế, khuyết điểm, từ đó đề ra biện pháp sửa chữa, khắc phục để cùng nhau tiến bộ, góp phần xây dựng Đảng bộ và từng chi bộ trong sạch, vững mạnh.

Lãnh đạo Ban hoan nghênh, đánh giá cao và cảm ơn sự đóng góp tích cực và hiệu quả của Đảng bộ cơ quan.

Tuy  nhiên, chúng ta cũng còn nhiều điều thiếu sót, hạn chế và khuyết điểm như Báo cáo tổng kết của Ban và của Đảng bộ đã nêu. Năm 2013 lại là năm công việc rất nhiều, đòi hỏi vẫn rất cao và thời gian triển khai thực hiện đối với từng công việc không nhiều. Lãnh đạo Ban mong muốn Đảng bộ tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, đồng thời có những đổi mới tích cực, hiệu quả, tạo khí thế mới và chuyển biến rõ nét hơn nữa trên tất cả các mặt công tác.

Trước hết, cán bộ, đảng viên của Đảng bộ phải làm rõ tốt việc nêu gương trong thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Trung ương, nhất là trong lĩnh vực công tác tổ chức xây dựng đảng. Từng đồng chí phải chủ động nghiên cứu, học tập, quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nói đi đôi với làm, vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào từng lĩnh vực công tác được giao, góp phần thúc đẩy hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị cơ quan.

Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan cả về trình độ, năng lực chuyên môn, khả năng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát hiện đức tính tốt, cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và dũng khí của người cán bộ tổ chức để tham mưu, đề xuất những chủ trương, biện pháp đúng và trúng, đáp ứng được đòi hỏi của công tác xây dựng đảng hiện nay.

Tôi đề nghị Đảng bộ, nhất là các đồng chí trong Đảng uỷ, Ban Thường vụ Đảng uỷ và các chi uỷ cần chủ động hơn trong nghiên cứu, đề xuất để cùng lãnh đạo Ban, lãnh đạo các vụ, đơn vị làm tốt công tác nội bộ, khắc phục sớm những hạn chế của đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan, như báo cáo tổng kết của Đảng uỷ đã chỉ ra. Trước mắt, tập trung nâng cao tinh thần trách nhiệm, tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. Nâng cao chất lượng công tác tuyển chọn cán bộ, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, kịp thời đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung kiến thức và phẩm chất đối với những đồng chí mới về Ban công tác; tiến hành luân chuyển cán bộ giữa các vụ, đơn vị trong Ban, luân chuyển cán bộ của Ban đến một số cơ quan làm công tác tổ chức ở Trung ương và địa phương để đào tạo nguồn cán bộ lâu dài.

Thứ ba, duy trì nghiêm túc và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, nhất là đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt chi bộ, thiết thực hơn, hiệu quả hơn và có tính chiến đấu cao hơn.

Chúc Đảng bộ tiếp tục là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết nhất trí, là chỗ dựa tin cậy của Lãnh đạo Ban.

Nhân đây, chúng ta bày tỏ sự biết ơn sự lãnh đạo, sự cộng tác tích cực và hiệu quả của các ban, ngành mà trực tiếp là Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương.

Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc, thành đạt và nhiều may mắn trong cuộc sống.

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo

Bác Hồ thǎm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc năm 1958.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cứu nước, cứu dân của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục và vai trò, vị trí của người thầy. Nhiều lần Bác đã đi thăm các trường học, các hội nghị của ngành giáo dục, gửi và điện cho thầy giáo và học sinh. Mỗi lần như thế Bác đã có lời dạy chân tình.

Trước Cách mạng Tháng Tám, Người coi giáo dục là một bộ phận của công cuộc giải phóng dân tộc. Bản thân Người đã tích cực tham gia huấn luyện, đào đạo đội ngũ cán bộ cách mạng ngay từ khi trở về đất Quảng Châu (Trung Quốc): tổ chức lớp học, biên soạn tài liệu, trực tiếp giảng dạy. Người thực sự là một thầy giáo cách mạng đầu tiên. Nhiều học trò của Người sau đó cũng là những thầy giáo, những nhà giáo dục đi sâu vào phong trào quần chúng vừa dạy văn hóa, vừa tuyên truyền cách mạng cho đồng bào…

Cách mạng Tháng Tám thành công mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc. trong hoàn cảnh mới, giáo dục trở nên hết sức quan trọng và cấp bách. Chính vì vậy, Hồ Chủ tịch đã đặt nhiệm vụ giáo dục ở hàng thứ hai trong khẩu hiệu “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Người đánh giá rất cao đội ngũ giáo viên: “anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp tiêu diệt giặc dốt. Anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hi sinh phấn đấu để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hóa sơ bộ cho dân tộc”(1). Người nhắc nhở phải “chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”(2).

Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên phải thật thà yêu nghề mình. “Còn gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng CNXH và CNCS? Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng CNXH được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang, ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì phải sửa chữa”(3). Người phân biệt rõ vị trí khác nhau của người thầy trong xã hội cũ và xã hội mới. Xưa nghề thầy giáo là gõ đầu trẻ để kiếm cơm ăn, nay là sự nghiệp quan trọng “trăm năm trồng người”, để thực hiện nhiệm vụ nặng nề và cao cả đó, người thầy phải có năng lực phẩm chất cao, phải có lòng yêu nghề, yêu trẻ, phải “làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc”(4).

Để làm tốt công việc giảng dạy của mình, người giáo viên còn phải hình thành cho mình hàng loạt những năng lực sư phạm khác như năng lực dạy học, năng lực ngôn ngữ, năng lực tổ chức, năng lực giao tiếp…

Trong Đại hội chiến sĩ thi đua toàn Ngành Giáo dục ngày 21-2-1956, Bác đã ân cần căn dặn: “Các cô, các chú là những thầy giáo, những cán bộ giáo dục đều phải luôn luôn cố gắng học thêm, học chính trị, học chuyên môn. Nếu không tiến bộ mãi thì sẽ không theo kịp đà tiến chung, sẽ trở thành lạc hậu”(5).

Tại buổi nói chuyện chỉnh huấn giáo viên phổ thông toàn miền Bắc, năm 1958, Người đã nhắc lại câu “giáo bất nghiêm, sư chi đọa” – dạy không nghiêm là do thầy lười nhác.

Để nhắc nhở trách nhiệm cao cả, đáng trân trọng của người thầy, Người căn dặn: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(6). Khắc ghi lời Bác dặn, kế thừa truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách nhằm phát huy mọi tiềm năng của con người, trong đó có đội ngũ thầy, cô giáo và những người làm công tác quản lý giáo dục. Nguồn lực giáo dục, đào tạo trước hết là nguồn lực con người, trong đó thầy cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục là nguồn lực quan trọng nhất. Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 11-12-1998 đã ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện có đạo đức, trí tuệ, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”(7).

Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, sự nghiệp giáo dục – đào tạo càng trở nên quan trọng. Trước những đòi hỏi đó, vai trò của người thầy càng có ý nghĩa. Sứ mệnh, nhiệm vụ của những nhà giáo hơn lúc nào hết rất nặng nề và người thầy cần phải tạo dựng cho mình những phẩm chất và năng lực nhằm cống nhiến nhiều hơn nữa cho Tổ quốc nói chung, sự nghiệp giáo dục – đào tạo nói riêng.

Để thực hiện được lời dạy cuả Bác, người thầy cần phải đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, phải luôn tìm tòi, sáng tạo không ngừng để tiếp nối một cách xứng đáng thế hệ những người đi trước, không ngừng rèn luyện, hoàn thành tốt vai trò thiêng liêng đối với xã hội. Đồng thời đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, phải năng động, sáng tạo, linh hoạt, có phương pháp làm việc khoa học, có ý chí vượt khó và đặc biệt phải có tâm huyết với nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn. Người thầy không thể tự bằng lòng với những kiến thức đã có mà phải nâng cao, vươn xa hơn về nhận thức, tiếp cận tốt hơn với phương pháp giảng dạy tích cực nhằm tạo ra những “sản phẩm” tốt đáp ứng có hiệu quả nhu cầu của xã hội, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, CNH, HĐH đất nước.

Trần Văn Hạnh
3CB-36 -Tam Phước – TP. Biên Hoà – Đồng Nai
xaydungdang.org.vn

————————–

(1). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H,2001, tr.220. (2). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H,2001, tr.501. (3).Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG H, 2001, tr.329-330. (4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H,2001, tr.46. (5).Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H,2001, tr.126-127. (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H,2001, tr.222. (7).Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.77.

Phải ra sức chống hạn

Lời của Bác - Lời của non sôngNgày 4-12-1959, trên Báo Nhân dân số 2088, trong bài “Phải ra sức chống hạn”, Bác Hồ viết:

“Dù cho hạn hán khắp nơi/Người mà quyết chí thì trời phải thua/Không mưa mà vẫn được mùa”.

Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến công tác phòng, chống hạn hán. Trong nhiều bài phát biểu, bài viết, Người thường xuyên nhắc đến hai từ “hạn hán”. Người gọi hạn là “giặc hạn” để kêu gọi mọi lực lượng, mọi lứa tuổi ở từng địa phương đều phải tham gia chống hạn: Mỗi người phải ra sức chống hạn. Ai ai cũng thi đua tham gia chống hạn. Các cụ già có kinh nghiệm, thanh niên có sức lực làm đầu tàu. Các cháu thiếu nhi ra đồng động viên, nấu nước cho đồng bào uống. Mỗi người một tay, già trẻ góp sức, nhất định chống hạn thắng lợi.

Cuối năm 1959, thiên tai, hạn hán diễn ra ở nhiều nơi trên miền Bắc, ảnh hưởng đến sản xuất vụ chiêm xuân của bà con nông dân. Song song với việc chỉ đạo các bộ, ngành giúp bà con nông dân chống hạn, Bác đã viết bài báo “Phải ra sức chống hạn” để tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhắc nhở từng địa phương phải đặc biệt quan tâm tới mùa màng. Người nêu việc, nhiều địa phương trong cả nước mặc dù bị thiên tai nhưng vẫn được mùa. “Đó là vì đồng bào nông dân và cán bộ ta đã quyết tâm chống hạn”.

Sau khi gặt xong vụ mùa thắng lợi, thời tiết khô hạn kéo dài, nhiều nơi thiếu nước cho sản xuất vụ chiêm, vì thế, Bác nêu rõ: “Chúng ta phải ra sức làm thủy nông nhỏ và quyết tâm tìm mọi cách chống hạn. Các hợp tác xã và tổ đổi công phải hăng hái làm chủ lực. Thanh niên phải là những đội đột kích xung phong. Bộ đội phải cố gắng giúp sức. Toàn thể đảng viên ở nông thôn phải gương mẫu. Cán bộ từ tỉnh đến xã phải  xem xét tận đồng ruộng, phải cùng quần chúng bàn bạc, đặt kế hoạch cho sát và theo dõi đôn đốc, chu đáo liên tục. Như thế thì chúng ta nhất định đánh thắng giặc hạn và bảo đảm vụ chiêm thắng lợi”.

Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta rất chú trọng phát triển nông nghiệp, với nhiều chủ trương, giải pháp phòng, chống thiên tai nhằm tăng năng suất cây trồng. Các tỉnh đã cơ bản xây dựng các hồ chứa nước lớn; xây dựng hàng nghìn công trình thuỷ lợi, trong đó có nhiều công trình quy mô lớn góp phần nâng cao năng lực phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai.

Những lời dạy của Bác về công tác phòng, chống hạn hán đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Rèn luyện tu dưỡng đạo đức suốt đời

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 26-12-1963, Bác thăm và chúc Tết Hội đồng Chính phủ đang họp phiên cuối năm.

Bác nhắc nhở các thành viên trong Chính phủ phải làm tốt ba Cuộc vận động lớn do Đảng và Chính phủ đã phát động, đặc biệt là Cuộc vận động “3 xây, 3 chống”. Người nói: “Hiện nay, chúng ta làm 3 xây, 3 chống còn kém. Anh chị em công nhân và nhân viên ở cơ sở thì rất hăng hái, nhưng từ cấp giám đốc lên đến bộ trưởng, thứ trưởng thì còn nhiều người chưa chuyển, cho nên có chỗ cuộc vận động bị tắc lại. Bây giờ phải làm 3 xây, 3 chống cả hai chiều, từ dưới lên và từ trên xuống. Bản thân các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng, các cán bộ lãnh đạo phải 3 xây, 3 chống. Hơn ai hết, người lãnh đạo phải nhận rõ cuộc vận động 3 xây, 3 chống này rất quan trọng để làm cho tốt”.

Người yêu cầu các Bộ trưởng, Thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo “phải luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hoà bình thống nhất nước nhà”. Người khẳng định: “Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”.

Bác Hồ đã phát động cuộc thi đua “3 xây, 3 chống”, viết sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống. Người cho rằng, muốn xây dựng đạo đức mới thì xây phải đi đôi với chống. Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới, đó là “chủ nghĩa cá nhân”.

Bác khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành, “phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời”. Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Học tập và làm theo những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mà Người đã chỉ ra chính là biện pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ai phá vỡ Hiệp định Paris 1973?


Trên thực tế, mỗi bên lại ủng hộ những điều khoản nằm trong lợi ích của mình.

Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam năm 1973 là một sự nhầm tên bởi vì mãi đến tháng 4/1975 hòa bình mới đến với Việt Nam, và chắc chắn không theo cách mà các điều khoản chính thức của văn bản này đã yêu cầu. Về cơ bản, Hiệp định tách bạch các vấn đề về quân sự và chính trị, với các vấn đề về quân sự khá rõ ràng còn các vấn đề về chính trị cần nhiều thương lượng so với thực thi – và những vấn đề này có thể không xảy ra một cách thành công. Hiệp định thiết lập một Ủy ban Liên hợp quân sự nhưng vì các quyết định của ủy ban này phải được nhất trí nên nó tất phải thất bại. Hiệp định tạo ra một Ủy ban Kiểm soát và Giám sát quốc tế bao gồm các thành viên thuộc các nước NATO, các nước cộng sản và trung lập, nhưng vì các quyết định của ủy ban này cũng phải được nhất trí nên nó cũng chỉ là hình thức mà thôi.

Khi hoàn thành văn bản cuối cùng, Nixon tuyên bố rằng Mỹ công nhận Việt Nam Cộng hòa do tướng Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu như “chính phủ hợp pháp duy nhất của Nam Việt Nam”. Điều đó có nghĩa là ông sẽ cổ vũ những phần trong Hiệp định mà ông ủng hộ và phớt lờ phần còn lại. Chế độ Thiệu không công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời và sẽ chỉ ký một thỏa thuận tách biệt không liên quan tới lực lượng này. Trên thực tế, mỗi bên lại ủng hộ những điều khoản nằm trong lợi ích của mình. Các cuộc chiến tranh cách mạng hiếm khi kết thúc bằng ngoại giao.

Đối với Tổng thống Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger, Hiệp định cung cấp thời gian mà cùng với nó họ hy vọng sẽ chiến thắng Cuộc chiến Việt Nam bằng cách bảo với Trung Quốc và Nga – hai nước đang ở trong một tiến trình chia rẽ sâu sắc, rằng nếu họ không hợp tác với Mỹ thông qua cắt viện trợ quân sự cho những người Cộng sản Việt Nam, họ sẽ có các biện pháp tăng cường sức mạnh cho kẻ thù của họ, bằng cách đó đe dọa kích động hai cường quốc cộng sản này chống lại nhau – còn gọi là “phép đạc tam giác”.

Toàn cảnh cuộc ký kết Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Niềm tin rằng ngoại giao khéo léo sẽ thành công đã trói buộc chính phủ Mỹ, và họ tin vào ảo tưởng này cho tới tận khi thực tế ở Việt Nam trở nên không thể đảo ngược. Mỹ công khai nói với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bắc Việt Nam, rằng viện trợ kinh tế sẽ sẵn sàng như một sự “khuyến khích hiển nhiên” nếu họ ngừng “xâm phạm” miền Nam.Nhưng những người Cộng sản đã dốc hết sức, lại kém xa về quân số và trang thiết bị so với các lực lượng của Thiệu, do Thiệu nhận được một nguồn cung quân sự khổng lồ từ Mỹ mà phần lớn trong số đó họ không thể bảo trì hoặc vận hành. Những vũ khí mới này không chỉ là một sự vi phạm Hiệp định Paris mà chúng còn khuyến khích Thiệu dám liều về quân sự, mà rút cục ông ta đã bị đánh bại.

Thực tế kể trên đã khiến quân đội Mỹ đi đến kết luận rằng tiếp thêm vũ khí cho chính quyền Sài Gòn chỉ lãng phí tiền của (hóa ra đúng như vậy). Hơn nữa, vào năm 1973, nhiều sĩ quan Mỹ hiểu rõ thực tế rằng nhiệm vụ chủ yếu của tư lệnh quân đội của Thiệu là củng cố quyền lực chính trị cá nhân của ông này hơn là phục vụ như một lực lượng chiến đấu hiệu quả – và rằng sự vượt trội về vũ khí của lực lượng này là vô nghĩa.

Thiệu cũng tin rằng Mỹ sẽ trở lại cuộc chiến với các máy bay B-52: các danh sách mục tiêu được vẽ ra. Các kiểm soát viên không gian của Mỹ ở Thái Lan luôn sẵn sàng. Bê bối Watergate của Nixon, rút cục dẫn tới việc ông này từ chức Tổng thống Mỹ, sắp chấm dứt khả năng đó. Tuy nhiên, Thiệu chưa từng nhận ra rằng đồng minh quyền lực và thân cận nhất của ông giờ đã ra đi.

Hiệp định cũng gây chia rẽ trong ban lãnh đạo Việt nam Dân chủ Cộng hòa, với một số người nghĩ có thể phải một thập niên nữa hoặc hơn mới đạt được chiến thắng.

Một dòng vũ khí, và khoảng 23.000 cố vấn người Mỹ và người nước ngoài tới dạy cho quân đội Việt Nam Cộng hòa cách sử dụng và bảo quản vũ khí, khiến cho Thiệu ngày càng tự tin, cộng với cam kết bí mật của Nixon rằng sức mạnh không quân Mỹ sẽ trở lại cuộc chiến nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa quân trở lại miền Nam, cam kết mà Quốc hội Mỹ không hề hay biết và rất có thể sẽ phản đối nếu xảy ra.

Nhưng cả Trung Quốc và Liên Xô, mặc dù ngày càng chia rẽ, đều không phản bội những người Cộng sản Việt Nam theo cách và thời gian mà chiến lược ngoại giao của Kissinger hy vọng. Ảo tưởng rằng ngoại giao khôn khéo sẽ thành công khi mà sức mạnh quân sự thất bại đã buộc chặt Nixon và Kissinger cho đến khi tất cả trở nên quá muộn. Hơn nữa, các yếu tố mà sẽ quyết định kết quả cuối cùng của một cuộc chiến trường kỳ đã vượt tầm kiểm soát của Mỹ.

Thiệu đã dùng khoảng thời gian trì hoãn mà Hiệp định mang lại cho ông ta để nỗ lực củng cố quyền lực của mình và trong quá trình đó bắt đầu xa lánh các thành phần trong dân chúng miền Nam không phải là “cộng sản” nhưng muốn kết thúc một cuộc xung đột gây đau thương cho Việt Nam trong nhiều thập niên. Hiệp định được dự kiến, ít nhất có vẻ như vậy, mang lại hòa bình và hòa giải, chứ không phải thêm chiến tranh. Họ không hay biết gì về các giả thuyết suông của Kissinger nhằm cho phép Mỹ cứu vãn “tín nhiệm” của mình.

Người dân thành thị ở Nam Việt Nam khi đó, đặc biệt là các Phật tử, phải chịu một mức độ đàn áp chưa từng thấy bởi chính quyền Thiệu. Báo chí và truyền hình bị kiểm soát ở một mức độ mới, và sự trấn áp càng khiến cho một bộ phận ngày càng đông dân cư thành thị xa lánh. Thiệu còn làm xa lánh cả những đồng minh tự nhiên của ông: nhiều người trở nên trung lập.

Những người tha phương muốn trở lại làng quê ở những khu vực có người Cộng sản nhưng nhìn chung họ bị cấm đoán – một sự vi phạm các điều khoản của Hiệp định. Lúa gạo và hàng hóa bán cho nông dân ở vùng châu thổ sông Mekong bị giám sát chặt chẽ để ngăn không cho lúa gạo tới tay quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Trong khi đó, Thiệu sử dụng nguồn vũ khí dồi dào mà Mỹ cung cấp cho ông ta, đặc biệt là pháo, và đến năm 1974, một cuộc chiến tranh nóng đã tái diễn (nhưng không có quân đội Mỹ), với quân đội Việt Nam Cộng hòa ARVN nổ súng ác liệt hơn nhiều so với những người Cộng sản.

Thực tế, dù dự kiến đạt được gì thì Hiệp định Paris 1973 chỉ mang lại một khoảng thời gian tạm lắng trong Cuộc chiến Việt Nam. Sai lầm của Thiệu là không nỗ lực làm cho Hiệp định Hòa bình có hiệu lực, chia sẻ một chút quyền lực với các Phật tử, với tầng lớp trung lưu, thậm chí với một số người Cộng sản – mà phần lớn họ là những người dân tộc chủ nghĩa thực sự. Thay vào đó, ông ta nghĩ sự vượt trội về vũ khí sẽ cho phép mình giành toàn thắng. Thiệu đã quá nhầm, và phải kết thúc trong cảnh sống tha hương khi quân đội của ông ta tan rã vào mùa xuân năm 1975.

Sam Nguyễn theo Counter Punch
vietnamnet.vn

—–

* Tác giả Gabriel Kolko là sử gia hàng đầu về chiến tranh hiện đại. Ông là tác giả cuốn Century of War: Politics, Conflicts and Society Since 1914 and Another Century of War. Ông cũng là sử gia nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam, với tác phẩm: Anatomy of a War: Vietnam, the US and the Modern Historical Experience. (Tạm dịch Giải phẫu một cuộc chiến tranh : Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử).

Nhà ngoại giao khổng lồ Lê Đức Thọ

Hội thảo khoa học về ông Lê Đức Thọ – nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm, tài năng trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, cố vấn đặc biệt của phái đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về Hiệp định Paris lịch sử.

Hội thảo khoa học “Đồng chí Lê Đức Thọ với cách mạng Việt Nam và quê hương Nam Định” do Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Tỉnh ủy Nam Định, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức đã diễn ra tại Nam Định ngày 5/9. Hội thảo được tổ chức nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm, tài năng trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao.

Hơn 60 tham luận và bài viết của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học và những người từng làm việc với ông Lê Đức Thọ tiếp tục khẳng định những cống hiến to lớn của ông đối với cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ, nhưng đậm nét hơn cả vẫn là những đóng góp của ông trên mặt trận ngoại giao.

Ông Lê Đức Thọ (phải). Ảnh: tư liệu

Tên tuổi Lê Đức Thọ, cố vấn đặc biệt của phái đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành tâm điểm cuả giới truyền thông thế giới với cuộc đàm phán kéo dài tới hơn 4 năm. Một cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27.1.1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ủy ban giải thưởng Nobel đã quyết định trao giải thưởng Nobel hòa bình năm đó cho ông Lê Đức Thọ, giải Nobel duy nhất dành cho người Việt từ trước tới nay nhưng ông đã từ chối với lý do hòa bình chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam.

“Kiến trúc sư” về công tác cán bộ

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho hay, đối với các nhà ngoại giao, cái khó trong đàm phán đó là lúc cương, lúc nhu. Ông Lê Đức Thọ trong đàm phán đã có lúc cương với đối phương nhưng ông đã thành công trong cách ứng xử linh hoạt khiến ông Kissinger nể và bị thuyết phục.

Ông Lê Đức Thọ và Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger. Ảnh tư liệu

“Ông ý là nhà ngoại giao khổng lồ. Ông ý khổng lồ ở chỗ đối phương đối thoại với Lê Đức Thọ là Kissinger, một học giả rất lớn của Mỹ thời đó. Lúc đó, Kissinger rất ngạo mạn, những tưởng có thể đè bẹp Lê Đức Thọ nhưng không thể được. Ví như làm thế nào để thống nhất được với Mỹ về vấn đề Mỹ phải rút quân. Mỹ muốn nếu Mỹ rút quân thì miền Bắc cũng phải rút quân khỏi miền Nam, đánh đồng như thế không thể được. Cuối cùng đồng chí Lê Đức Thọ đưa ra một công thức đó là vấn đề quân đội Việt Nam ở lãnh thổ Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết với nhau. Còn việc Mỹ rút quân là chuyện Mỹ phải rút. Tôi nghĩ trí tuệ của ông ý ở chỗ tìm một giải pháp đúng với lợi ích của mình” – nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho hay.

Trải qua nhiều chức vụ quan trọng và sau này khi phụ trách công tác tổ chức cán bộ của Đảng trong nhiều năm, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho công tác xây dựng Đảng và tổ chức của cả hệ thống chính trị.

Ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương nhận xét: “Vấn đề cán bộ là quyết định nhất. Thượng bất chính, hạ tắc loạn. Cán bộ không gương mẫu làm thế nào xây dựng Đảng tốt? Cho nên ông Thọ, yếu tố quan trọng của ông ý hàng đầu là vấn đề cán bộ. Cán bộ là quyết định nhất. Đứng đầu một cơ quan, đứng đầu một tỉnh uỷ, đứng đầu một đơn vị, ông thủ trưởng phải mẫu mực, phải trở thành một thủ lĩnh gương mẫu nhất, một thủ lĩnh kiên cường nhất, có bản lĩnh nhất. Ông Thọ thích xây dựng cán bộ kiểu như vậy”. 

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đánh giá ông Lê Đức Thọ là một “phái viên chiến lược toàn năng, có thể ví như một tướng quân tài ba thao lược”. Đặc biệt trong công tác cán bộ, ông có những công lao lớn trên cương vị Trưởng ban Tổ chức Trung ương qua nhiều kỳ đại hội Đảng toàn quốc, đặc biệt trong công tác tổ chức – cán bộ. Được đánh giá như là một “kiến trúc sư” trong lĩnh vực này, ông Lê Đức Thọ đã để lại cho Đảng, Nhà nước những kinh nghiệm quý báu trong việc xem xét, đánh giá cán bộ.

“Trong các kỳ Đại hội IV, V, VI của Đảng, đồng chí Lê Đức Thọ được phân công giữ cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí đã có công lớn trong việc tham gia soạn thảo xây dựng Điều lệ Đảng, xây dựng quan điểm cách mạng, đấu tranh kiên quyết chống các quan điểm sai trái, đặc biệt là trong công tác tổ chức – cán bộ. Có thể đánh giá đồng chí Sáu Thọ như một “kiến trúc sư” về lĩnh vực này.”

Nhiều tham luận tại hội thảo đi sâu nghiên cứu những đóng góp của ông Lê Đức Thọ trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, quân sự, ngoại giao, văn học, nghệ thuật…, khẳng định, trong bất cứ lĩnh vực nào, ông cũng để lại những dấu ấn nổi bật, sáng tạo và sâu sắc.

Từ những luận cứ khoa học nêu ra, các tham luận đều nhất trí cho rằng, ông Lê Đức Thọ không chỉ là một nhà lãnh đạo tài năng mà còn là người có đóng góp to lớn trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả của đất nước, là một tấm gương sáng ngời của người cộng sản kiên cường, bất khuất, suốt đời trung thành, tận tụy với nước với dân; là một người cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; luôn có tinh thần tiến công, lạc quan cách mạng, chủ động, quyết đoán và sáng tạo; hết lòng thương yêu đồng bào.

Ông Lê Đức Thọ, tên thật là Phan Đình Khải, sinh ngày 10/10/1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay là xã Nam Vân (TP Nam Định) trong một gia đình nho giáo, ở vùng đất có truyền thống yêu nước, hiếu học. Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một chiến sỹ cách mạng kiên cường, một cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm của Đảng và Nhà nước.

Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Sao Vàng; Đảng và Nhà nước Liên Xô tặng Huân chương Cách mạng Tháng Mười; Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Angkor…

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris 1968: Áp lực gia tăng

Để giải quyết các vấn đề của mình, Humphrey không nhận được nhiều sự ủng hộ từ phía tống thống.

>> Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>> Kỳ 2: Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?
>> Kỳ 3: Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson
>> Kỳ 4: Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn
>> Kỳ 5: Hòa đàm Paris 1968: ‘Hãy đừng bị lừa dối’

Trong một cuộc họp vào cuối tháng 9, Tổng thống Johson còn lớn tiếng mắng Humphrey vì để lộ thông tin mật về Việt Nam.

Như vị Phó Tổng thống sau đó kể cho bác sĩ của ông: “Ông có biết những gì [Johnson] dám nói vào mặt tôi không, sau tất cả những lời sỉ nhục mà tôi nhận được từ ông ấy trong bốn năm qua? Ông ấy nói rằng nếu tôi không xem xét thái độ của mình thì ông ấy sẽ đích thân coi đó là vấn đề cá nhân nếu tôi để mất Texas (vào ngày bầu cử). Ông ấy nói ông ấy sẽ vắt kiệt từng đôla của Đảng Dân chủ từ Maine tới California – như thể ông ấy chưa làm thế. Tôi cố gắng kiềm chế nhưng tôi sẽ không sa sút tới mức độ của kẻ dối trá đó”.

Vào giữa tháng 10, Humphrey tới Nhà Trắng gặp Tổng thống để bàn bạc kín về bầu cử. Tuy nhiên, Johnson từ chối gặp ông bởi vì tin tức về cuộc gặp đã bị rò rỉ cho báo chí. Là Bộ trưởng Nông nghiệp, và cũng là một đồng minh thân cận của Humphrey, Orville Freeman đã nhận xét một cách chán chường: “Đó là sự thể hiện hờn dỗi và cũ rích của Tổng thống”.

Johnson hẳn là đã nhỏ vài giọt nước mắt cho màn thể hiện tồi của Humphrey trong các cuộc thăm dò dư luận. Tuy nhiên, áp lực ngày càng gia tăng lên Johnson đòi ông phải ướm thử thiện ý của Bắc Việt Nam nhằm bắt tay vào các cuộc đàm phán thực sự. Cuối cùng, đồng ý với các yêu cầu của Harriman cho một cú mặc cả ngoại giao quan trọng, Tổng thống đặt ra thời hạn ngừng ném bom là vào 31/10 – chỉ vài ngày trước cuộc bầu cử Tổng thống.

Quyết định này đã được đưa quá muộn để mà nâng Humphrey qua giới tuyến cuối cùng, nhưng cũng đủ kịp để gợi ý rằng Johnson vẫn quan tâm đến việc đảm bảo hòa bình trước khi nhiệm kỳ Tổng thống của ông kết thúc. Johnson đã đạt được các đảm bảo vững chắc từ các mưu trưởng liên quân Mỹ rằng quân đội có thể kiểm soát được việc ngừng ném bom. Vị Tổng tham mưu trưởng Earle Wheeler giải thích rằng Mỹ có thể dễ dàng đánh bom trở lại nếu như Bắc Việt Nam dại dột thực hiện một cuộc tổng tiến công khác.

Hội đàm bí mật Lê Đức Thọ – Kítxinhgiơ tại Pari. Ảnh tư liệu

Tin tức này đã gây ra lo lắng trong nội bộ nhóm vận động tranh cử của Nixon. Họ sợ rằng Humphrey có thể là người được hưởng lợi chính từ nước cờ kiến tạo hòa bình vào phút chót của Johnson. Henry Kissinger chính là tay trong đã thông báo cho nhà quản lý chiến dịch của Nixon, John Mitchell, rằng chính quyền Johnson có kế hoạch dừng ném bom.

Như Herbert Schandler viết: “Kissinger đã gặp riêng Harriman, Vance và các thành viên khác trong đoàn đàm phán ở Paris vào giữa tháng 9, ngay trước cuộc gặp đầu tiên giữa Harriman – Vance với Bắc Việt Nam, và họ đã chia sẻ với ông ấy sự thất vọng của mình, và cập nhật cho ông tình trạng của các cuộc hòa đàm. Khi lên kế hoạch cuộc gặp này, Kissinger đã dùng một thủ đoạn gian xảo nhằm xây dựng lòng tin của Harriman.

Ông ta viết cho Harriman ngày 15/8 rằng “có thể tôi sẽ có mặt ở Paris vào khoảng 17/9 và tôi thực sự muốn ghé qua và gặp ông ở đó. Tôi đã đoạn tuyệt với chính trị Cộng hòa. Đảng này không có năng lực và không phù hợp để lãnh đạo”. Kissinger đã dối trá để thuyết phục Harriman rằng ông ta đồng cảm với các nỗ lực của vị đại sứ và rằng bất cứ vấn đề nào được bàn đến đều sẽ được thực hiện trong sự tin tưởng tuyệt đối”.

Đại diện cho Richard Nixon, một nữ thương gia người Mỹ gốc Hoa có ảnh hưởng tên là Anna Chennault – Giám đốc tổ chức “Phụ nữ Cộng hòa vì Nixon” trên toàn quốc – đã thông báo cho Đại sứ Nam Việt Nam Bùi Diễm rằng ứng viên Tổng thống có kế hoạch bắt tay vào các cuộc đàm phán trực tiếp, thực sự. Chennault khuyên Tổng thống Thiệu nên từ chối tham gia vào các cuộc đối thoại trước khi diễn ra bầu cử, vì ông chắc chắn sẽ có được các điều khoản tốt hơn dưới thời Nixon so với Humphrey. Thủ đoạn này đã đặt chính trị đảng phái lên trước mạng sống của lính Mỹ trên chiến trường. Họ hành động phối hợp với một đất nước ở xa để chống lại các mục đích công khai của chính phủ Mỹ.

Thủ đoạn của nhóm Nixon không lâu sau thì trực tiếp đến tai Tổng thống. Vào cuối tháng 11, anh trai của Walt Rostow, Thứ trưởng Ngoại giao Eugene Rostow, phát hiện ra Nixon muốn các cuộc đàm phán Paris gặp trở ngại. Dựa trên những thông tin do một chỉ điểm trong chiến dịch Cộng hòa cung cấp, Rostow giải thích rằng “những khó khăn này sẽ giúp Nixon thuận tiện hơn khi dàn xếp sau tháng 1.

Giống như Ike năm 1953, ông sẽ có thể dàn xếp các thỏa thuận mà Tổng thống không thể chấp nhận, đổ lỗi cho tình hình từ lúc đó đến tháng 1 hoặc tháng 2 đã xấu đi do người tiền nhiệm của mình. Sau đó vào ngày 29/10, Walt Rostow báo cáo với Tổng thống rằng ông có thông tin về “cách thức một số thành viên Cộng hòa nhất định có thể đã kích động Nam Việt Nam hành xử như họ đã và đang hành xử”.

Tuy nhiên, thay vì công khai bằng chứng mà có thể làm trệch hướng chiến dịch của Nixon, Rostow lại khuyến cáo rằng “các vật liệu rất dễ nổ, chúng có thể gây thiệt hại lớn cho đất nước dù Nixon trúng cử hay không”. Có thể Rostow, khi phản đối các thủ đoạn mà phe Cộng hòa sử dụng, lại cảm thông với mục đích của Chennault là đảm bảo một nền hòa bình tốt hơn để bảo vệ Nam Việt Nam. Một cách bản năng, Rostow ủng hộ một hòa bình do Nixon dàn xếp hơn là do Humphrey dàn xếp.

Vì vậy, thay vì công khai chống lại những can thiệp của Nixon, Rostow lại khuyên Tổng thống tổ chức một cuộc họp kín với ứng viên Tổng thống phe Cộng hòa, trong đó Johnson sẽ khuyên Nixon rằng ông “có thể muốn cảnh báo những người của mình là hãy thận trọng hết mức khi làm việc với Nam Việt Nam vốn dễ bị ảnh hưởng và thiếu kinh nghiệm”. Tổng thống đã nghe theo lời khuyên của Rostow.

Vào ngày 30/9, Hubert Humphrey đã có bài phát biểu ở thành phố Salt Lake, tuyên bố sự độc lập chính trị của ông khỏi chính sách Việt Nam của chính quyền Johnson và bày tỏ ủng hộ cho một sự kết thúc ném bom vô điều kiện. Tổng thống rất tức giận vì Humphrey thiếu tôn trọng khi nêu ra quan điểm chủ bại như vậy. Theo ý của Johnson, Phó Tổng thống đã hướng tới những người chủ trương hòa bình vì lợi ích chính trị của bản thân, và làm như vậy ông đã thể hiện sự phản bội của mình.

Lúc đầu, Johnson định công khai tiết lộ của Chennault: “Nó sẽ làm chấn động thế giới nếu ông ta [Thiệu] đồng lõa với đảng Cộng hòa. Bạn có thể tưởng tượng được những gì người ta sẽ nói nếu sự thật phơi bày rằng Hà Nội đã đáp ứng tất cả các điều kiện và tiếp đó mưu đồ của Nixon với họ khiến chúng ta không đạt được điều đó”.

Trong một cuộc hội thoại với lãnh đạo thiểu số Thượng viện Everett Dirksen ngày 2/11, Tổng thống mô tả các hành động của Nixon là “phản quốc”, và Dirksen trả lời “Tôi biết”. Tuy nhiên, cuối cùng Johnson lại quyết định bỏ qua thủ đoạn xảo quyệt của Nixon. Lyndon Johnson đã làm đúng như Rostow khuyên bảo.

Ông ta gọi Nixon tới vào ngày 3/11để trách cứ riêng và Nixon cười đáp: “Chúa ơi, tôi sẽ không bao giờ làm điều gì khuyến khích Hà Nội – ý tôi là Sài Gòn – không tới bên bàn đàm phán”. Tất nhiên, dối trá là một quá trình đến với Richard Nixon một cách tự nhiên.

Tình tiết này rất quan trọng, liên quan đến cả khoảng thời gian mở rộng của Cuộc chiến Việt Nam lẫn tương lai của chính trị bên trong nước Mỹ. Cuộc chiến Việt Nam kéo dài mãi cho tới tháng 1/1973, trong khi 1968 là một “cơn bĩ cực” đối với Đảng Dân chủ mà mãi tới gần đây đảng này mới có thể nguôi ngoai. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, những nhân vật ít hiếu chiến hơn cũng quá đắn đo về việc công khai hóa tiết lộ của Chennault.

Chẳng hạn, Clark Clifford muốn Humphrey giành chiến thắng vang dội, nhưng lại lo ngại rằng “một số thành phần của câu chuyện đang sửng sốt đến nỗi tôi đang băn khoăn liệu có tốt cho đất nước này không khi tiết lộ câu chuyện, và sau đó có thể để cho một cá nhân nào đó được bầu chọn. Nó có thể đặt toàn bộ chính quyền của người đó vào những nghi ngờ mà tôi nghĩ rằng sẽ có hại cho lợi ích của đất nước chúng ta”. Viễn cảnh tồi tệ nhất cho đoàn kết quốc gia là, theo quan niệm của Clifford, để câu chuyện bung ra và Nixon sẽ vẫn thắng.

Dù sao, những trang nhật ký của Hubert Humphrey cũng bày tỏ sự hối tiếc là đã không hành động nhiều hơn nữa về tiết lộ của Chennault: “Tôi băn khoăn liệu mình có nên thổi còi Anna Chennault và Nixon hay không. Ông ta phải biết về cuộc gọi của bà ấy cho Thiệu. Tôi ước tôi có thể chắc chắn. Thiệu chết tiệt. Kéo chân ông ta cuối tuần rồi đã làm hại chúng ta. Tôi băn khoăn liệu cuộc gọi đó có thế không. Nếu Nixon biết. Có thể dù gì tôi đã nên phá họ”. Một người hiện còn ấn tượng rằng Humphrey vẫn cay đắng chuyện Johnson không khuyên ông ta bằng những lời lẽ mạnh mẽ hơn để công khai mối quan hệ Chennault/Nixon-Thiệu.

Như nhật ký ngày bầu cử của Humphrey đã biểu lộ một cách buồn rầu, “[. . .] Tôi có thể khóc. Chưa từng cảm thấy như thế này. Tôi đã làm quá dở một số điều. Bạn phạm những sai lầm như thế trong một chiến dịch. Có thể sẽ hoàn thành nó trong một tuần lễ khác. Chúng tôi đang tiến tới quá nhanh. Tại sao, tại sao, tại sao chúng ta lại bắt đầu trở lại quá xa thế?”.

Tất nhiên, có một nguyên nhân quan trọng tại sao Humphrey lại bắt đầu trở lại quá xa. Bất cứ lợi thế nào mà một sự đột phá của các cuộc hòa đàm Paris có thể mang lại cho chiến dịch của Humphrey đều bị chặn trước do Tổng thống không sẵn sàng tiếp tục trên mặt trận đó một cách cấp thiết.

Tổng thống đã ra lệnh dừng ném bom như dự định vào ngày 31/10. Trong một giác thư thẳng thắn và thiện chí gửi tới LBJ, Rostow thổ lộ rằng “sự an toàn duy nhất mà tôi từng biết trong 8 năm khó khăn này là cố vấn sự đánh giá và lương tâm của tôi. Và tôi biết rằng đó cũng là niềm an ủi duy nhất của ngài”. Khi đưa ra quyết định khó khăn này, Rostow thể hiện: “Ngài có thể luôn kỳ vọng ở tôi”.

Cảm thông với tình trạng khó xử của Johnson, Rostow viết rằng “Ngài sẽ bị cáo buộc chơi trò chính trị nếu ngài để điều này trôi đi – và chính trị chống lại đảng mà ngài dẫn đầu. Harriman và người Nga sẽ nhìn ra điều đó”. Rõ ràng Averell Harriman đã chìm rất sâu trong đánh giá của Rostow để ông này biện hộ sự so sánh với những người Xô viết. Tuy nhiên, Rostow tin rằng Không lực Mỹ vẫn có thể ra vài đòn trong thời gian chuyển tiếp. Giống như một thiếu niên bị lôi ra khỏi một trận ẩu đả, vẫn còn hăng máu, Rostow nói thêm rằng “chúng ta không thể đảm bảo rằng mọi đơn vị sẽ nhận lệnh đúng thời điểm dừng ném bom. Bởi thế, họ sẽ không phàn nàn nếu có một sự vi phạm nào đó trong 7 giờ đồng hồ sau thời gian họ chỉ định”.

Dù quyết định dừng ném bom tạo một cú huých chậm cho chiến dịch bơ phờ của Humphrey, người Mỹ đã bầu chọn Richard Nixon làm Tổng thống tiếp theo của họ với đa số 510.000 phiếu phổ thông. Có thể hiểu được, từ đó, các cuộc hòa đàm Paris chìm xuống do Sài Gòn không muốn đồng ý các điều khoản dưới một tổng thống đang nắm quyền những ngày cuối cùng, với một triển vọng hấp dẫn của Nixon sắp ló dạng.

Tuy các viễn cảnh chân thực về hòa đàm đã rõ ràng trước đó trong năm, việc dừng ném bom ngày 31/10 của Lyndon Johnson là quá nhỏ nhoi và quá muộn màng. Tuy nhiên, thậm chí đã đến lúc này, Rostow vẫn muốn Harriman ra khỏi các cuộc đàm phán ở Paris. Ông ta bịa ra một kế hoạch ranh ma nhằm đạt được mục đích.

Viết vào ngày 7/11, Rostow thông báo với Tổng thống rằng Harriman sẽ bước sang tuổi 77 vào ngày 15/11: “Tôi vừa nảy ra ý nghĩ rằng nếu chúng ta muốn gạt bỏ ông ta, chúng ta có thể tổ chức cho ông ta một bữa tiệc hoành tráng, mời tất cả bạn bè của ông ta – và sau đó đưa ông ta ra khỏi Paris trong giai đoạn tiếp theo”. Biết rõ rằng mưu đồ này có thể bị từ chối, Rostow vuốt đuôi rằng “dù đó là một ý kiến hay hay dở, tôi nghĩ ngài sẽ muốn biết rằng sắp đến sinh nhật của ông ấy rồi”.

David Milne

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, The Nation, và the Los Angeles Times.

Sam Nguyễn dịch
vietnamnet.vn