Tag Archive | Chính trị – Xã hội

‘Người bạn đường’ của bà Nguyễn Thị Bình ở hội nghị Paris

Ông Michel Strachinescu là lái xe cho bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại các cuộc đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Paris lịch sử về lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973.

Bằng một giọng sang sảng và nhiệt tình, ông Michel Strachinescu khẳng định ông rất vinh dự được lái xe cho đoàn của bà Nguyễn Thị Bình trong vòng 4 năm từ năm 1970. Trong suốt thời gian này, ông cho biết những cảm nhận của mình về bà Nguyễn Thị Bình, bà là “một nhân cách lớn, một người có tầm ảnh hưởng lớn.” Ông rất vinh dự được làm công tác đưa đón đoàn đàm phán Miền Nam ở Verrière-le-Buisson và một số đồng chí khác ở Massy, các địa điểm ở Pháp mà phái đoàn lưu trú trong thời gian diễn ra đàm phán.

Một bức ảnh chụp buổi làm việc của bà Nguyễn Thị Bình tại Hội nghị Parid do bà ký tặng.Một bức ảnh chụp buổi làm việc của bà Nguyễn Thị Bình tại Hội nghị Parid do bà ký tặng.

Ban đầu, Đảng Cộng sản Pháp cử ông cùng một số người Pháp đến giúp đoàn Việt Nam. Ông được giải thích rằng cần giúp đỡ tận tình các bạn Việt Nam vì sự nghiệp của nhân dân Việt Nam. Dù lúc đó, ông đã 36 tuổi, có gia đình, vợ con, song ông không mấy khi được gặp mặt vợ con, ông đã làm việc đến gần 400 giờ mỗi tháng, và thực sự trở thành một trong những nhà hoạt động tranh đấu thực sự vì nền hòa bình của Việt Nam.

Theo ông đây là một nhiệm vụ quan trọng và vinh dự. Thời điểm đó ông làm việc không thể tính thời gian, ông luôn ủng hộ và đấu tranh cùng các bạn Việt Nam trên mặt trận ngoại giao – mặt trận quan trọng và gắn kết với những thành công và thắng lợi trên mặt trận quân sự. Các mặt trận này có mối liên hệ mật thiết với nhau. Ông luôn mong mỏi “các bạn Việt Nam sớm đạt được thỏa thuận tiến tới ký Hiệp định Paris về hòa bình.”

Để bày tỏ tất cả tình cảm yêu mến Việt Nam, ông chỉ biết thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là “đảm bảo lái xe an toàn, tránh mọi sơ suất trong quá trình phục vụ bà Bình và đoàn đàm phán.” Lộ trình hàng ngày của ông là từ Verrière-le-Buisson đi Massy và ngược lại, cũng như lộ trình chở bà Bình đến trung tâm hội nghị Kléber họp. Một hoặc hai lần mỗi tuần ông chở đoàn đến Choisy-le-roi để hội kiến với đoàn Miền Bắc. Vai trò của ông không chỉ đơn thuần là lái xe, mà còn như vệ sĩ của bà Bình. Ông không phải là những người làm công, mà là những nhà hoạt động tranh đấu bên cạnh các bạn Việt Nam, làm việc không kể thời gian, 7 ngày trên 7, nhiều hôm đến 3 giờ sáng. Ông ở ngay tại Verrière-le-Buisson để hỗ trợ, phục vụ các bạn Việt nam và vì sự thành công của cuộc đàm phán.

Ông Michel Strachinescu có kỷ niệm không thể nào quên trong thời gian lái xe. Một hôm đang đi trên đường vành đai Paris, cán cờ hiệu trước xe bị gẫy và lá cờ hiệu rơi xuống đường. Tôi đã không ngần ngại dừng xe khẩn cấp, và mặc dù có thể nguy hiểm đến tính mạng, song tôi vẫn quay lại tìm lấy cờ hiệu trong dòng xe cộ qua lại, bởi đó là một hình ảnh biểu tượng, có ý nghĩa với các bạn Việt Nam đang đấu tranh trên bàn đàm phán.

Được hỏi về những cảm nhận của ông khi biết Việt Nam đã ký thành công Hiệp định Paris, ông Michel Strachinescu, cho biết hôm đó thực sự là một lễ hội đối với ông, ông thực sự ấn tượng và đã uống mừng bằng sâmpanh. Ông còn làm một cái bánh ga tô to để cùng anh em bạn bè Việt Nam mừng chiến thắng này. Tuy nhiên, với các bạn Việt Nam lúc đó “cuộc chiến chưa phải đã kết thúc” vì hiện tại đất nước vẫn đang chia cắt, nhiều gia đình chưa thể đoàn tụ,- tình cảm thực sự xúc động trong ngày hôm đó.

Với ông, làm việc với các bạn Việt Nam “thật tuyệt vời, rất tình người,” cho nên theo ông, “những đóng góp của tôi chỉ là một phần nhỏ bé như những con suối nhỏ tạo thành dòng sông lớn, vì sự nghiệp của nhân dân Việt Nam.”

Khi đánh giá về những tình cảm của người dân Pháp dành cho nhân dân Việt Nam ở thời điểm đó, ông khẳng định thật “Tuyệt vời!” Nhân dân Pháp cũng như người dân Mỹ phản đối chiến tranh bằng các biểu tình và có nhiều hoạt động ủng hộ hòa bình ở Việt Nam. Ngôi sao điện ảnh Mỹ Jane Fonda đã từng sang Pháp hoạt động đấu tranh vì hòa bình Việt Nam và ông cũng đã có vinh dự chở Jane Fonda. Theo ông, đó là một ngôi sao rất dễ gần, dễ mến. Thời điểm đó, rất nhiều người dân Pháp có tấm lòng yêu hòa bình, phản đối chiến tranh đã ủng hộ Việt Nam.

Để ghi nhận công lao đóng góp của ông đối với cuộc đấu tranh vì hòa bình của dân tộc Việt Nam, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng bằng khen do bà Nguyễn Thị Bình ký tặng. Đối với ông “Việt Nam là một đất nước tuyệt vời.”

Theo Vietnam+
vnexpress.net

Sống lại những kỷ niệm về ngày ký Hiệp định Pari

Kỷ niệm tròn 40 năm sự kiện ký kết Hiệp định Pari (27/1/1973), triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam”, do Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm phối hợp với Bộ Ngoại giao tổ chức tại Hà Nội, đã khai mạc ngày 23/1.

Bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pari

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, từng là Trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pari, là nhân chứng lịch sử cho sự kiện quan trọng này đã tới tham dự triển lãm, cùng lãnh đạo các Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch…

Triển lãm trưng bày gần 150 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách, trong đó có những hiện vật quý lần đầu được trưng bày như văn bản gốc Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam; con dấu và biển tên của đoàn Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam; hai cây bút được đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký kết Hiệp định và Định ước quốc tế công nhận Hiệp định; chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi măng niêm phong bản Hiệp định… Triển lãm còn trưng bày nhiều hiện vật rất đặc biệt như cuốn sổ tập hợp 10.000 chữ ký của nhân dân Cuba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam, các cuốn tư liệu về cuộc chiến tranh ở Việt Nam được mang về từ Mỹ…

Với những tư liệu quý cùng những bức ảnh ghi lại dấu ấn của những giây phút quan trọng trong tiến trình đi đến ký kết Hiệp định Pari, người xem có thể cảm nhận được toàn cảnh cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên cường, mưu trí, khôn khéo và đầy bản lĩnh của những nhà ngoại giao cách mạng Việt Nam trên bàn đàm phán; sự kết hợp tài tình giữa ba mặt trận quân sự – chính trị – ngoại giao; sự ủng hộ, cổ vũ của nhân dân các nước, những người tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý; cả những giây phút khó khăn cũng như những giây phút xúc động, hân hoan trong niềm vui chiến thắng…

Phát biểu tại triển lãm, bà Nguyễn Phương Nga, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao khẳng định: Những tư liệu quý trưng bày tại triển lãm sẽ góp phần giúp cho người xem, cả bạn bè quốc tế, người dân Việt Nam và đặc biệt là thế hệ trẻ, có thể hiểu thêm về truyền thống đấu tranh, lịch sử hào hùng của dân tộc cũng như là nghệ thuật ngoại giao của Việt Nam, bản lĩnh, trí tuệ của dân tộc Việt Nam. Đây là những tư liệu vô cùng quý giá, những di sản rất quan trọng có thể để lại cho thế hệ sau này, qua đó để cho thế hệ trẻ hiểu được rằng nền độc lập mà họ đang được hưởng đã phải đánh đổi bằng nhiều xương máu của cha ông, và học tập tinh thần đó trong tương lai xây dựng đất nước.

Ông Phạm Ngạc, thông dịch viên và là thư ký trong cuộc đàm phán Hiệp định, không giấu nổi những xúc động khi xem triển lãm: “Được nhìn lại những tư liệu, xem các bức ảnh ghi lại từng bước, từng dấu mốc lịch sử của cuộc đàm phán cam go ngày ấy, tôi như được sống lại những giây phút đáng nhớ nhất khi được trực tiếp chứng kiến buổi ký kết, cũng như được sống lại những ngày tháng hào hùng đó của dân tộc. Cả tôi và những người đã từng đi qua những năm tháng đó thật sự cảm thấy xúc động và tự hào về sự tài tình của người Việt Nam, về tinh thần kiên định, đấu tranh không mệt mỏi cho nền hòa bình của dân tộc”.

Theo Ban tổ chức, triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam” là triển lãm lớn nhất về sự kiện ký Hiệp định Pari từ trước tới nay, góp phần làm sống lại những giây phút quan trọng trong tiến trình đầy cam go của cuộc đấu tranh để tiến tới ký kết Hiệp định Pari trên cả ba mặt trận chính trị – quân sự – ngoại giao, buộc Mỹ phải rút hết quân và đồng minh ra khỏi Việt Nam, tạo bước ngoặt mở đường cho thắng lợi mùa xuân 1975 thống nhất đất nước sau này.

Tạ Nguyên
baotintuc.vn

Bạn bè Pháp nhớ về đàm phán ký Hiệp định Paris

Bà Hélène Luc, cựu nghị sĩ, Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Pháp Việt (AAFV). (Ảnh: Lê Hà-Trung Dũng/Vietnam+)

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, phóng viên TTXVN tại Pháp có cuộc gặp gỡ với những người vinh dự được Chính phủ Việt Nam mời về Hà Nội tham dự các hoạt động kỷ niệm sự kiện lịch sử này.

Đó là bà Hélène Luc, cựu nghị sĩ, Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Pháp Việt (AAFV), và ông Michel Strachinescu, một trong hai lái xe đưa đón bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau là Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam), trong những năm tháng đấu tranh để đi đến ký kết văn kiện lịch sử này tại Pháp.

Ngay từ đầu khi gặp gỡ với chúng tôi bà Hélène Luc cho biết khi mới 17 tuổi cho đến ngày này bà luôn đấu tranh ủng hộ cuộc chiến đấu vì hòa bình của nhân dân Việt Nam, chống chủ nghĩa thực dân Pháp. Sau này, với cương vị là nghị sỹ bà luôn chống chủ đế quốc Mỹ. Cả cuộc đời bà, bà đã cùng với Đảng cộng sản Pháp đấu tranh vì hòa bình và tình hữu nghị của các dân tộc trên thế giới.

Bốn mươi năm đã qua đi, nhưng câu chuyện vẫn như còn mới nguyên đối bà Hélène Luc, bà rành mạch kể về những năm tháng đó. Bà cho biết bà không thể nào quên hình ảnh Việt Nam, đất nước đã giành chiến thắng Điên Biên Phủ và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong cuộc kháng chiến này, bà cùng chồng và nhiều bạn bè Pháp đã “tham gia với hết mức có thể” để ủng hộ cuộc đấu tranh vì hòa bình của nhân dân Việt Nam.

Nhìn lại chặng đường lịch sử ấy, bà Hélène Luc cho biết, sau cuộc tổng tấn công và nổi dậy năm 1968, Pháp đã tiếp hai đoàn Việt Nam, một đoán ở Choisy-Le-Roi và một đoàn ở Massy.

Để giúp đoàn có thể giải quyết được những khó khăn về vật chất và khắc phục điều kiện làm việc của ông Xuân Thủy và ông Lê Đức Thọ, bà Hélène Luc cùng các bạn bè Đảng cộng sản Pháp đã dành “tất cả sự giúp đỡ hiệu quả và có thể” và sự “ủng hộ của tình đồng chí và mối quan hệ anh em” (Fraternité) cho đoàn. Bà cũng không ngờ rằng đàm phán kéo dài đến 5 năm.

Bức ảnh về buổi làm việc của bà Nguyễn Thị Bình – Trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Theo bà khi đó Mỹ chỉ có hoặc lựa chọn leo thang tiếp tục đánh phá Miền Bắc Việt Nam hoặc phải chọn phương án ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam. Cuối cùng họ không có còn con đường nào khác phải chọn phương án thứ hai – ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam. Vì lúc đó một làn sóng đấu tranh mạnh mẽ lên án cuộc chiến phi nghĩa của đế quốc Mỹ và ủng hộ mạnh mẽ nhân dân Việt Nam đã dấy lên ở nhiều nước trên thế giới, như Đức, Italy, Tây Ban Nha… ở châu Âu, kể cả ở Mỹ.

Đài phát thanh của Pháp đã phát đi rất nhiều chương trình về các hoạt động liên quan đến Việt Nam. Ở Pháp lúc đó cũng có cuộc biểu tình rất lớn trên đại lộ Saint Michel thu hút khoảng 40.000 người nhằm kêu gọi thế hệ thành niên cộng sản và bạn bè Đảng Cộng sản Pháp ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam.

Ngoài ra, bà cùng các bạn bè Pháp kêu gọi sự giúp đỡ tự nguyện của hai cơ quan Pháp trong việc bảo vệ an ninh thường xuyên khu nhà của đoàn đại biểu Việt Nam và Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber. Tham gia các buổi biểu míttinh biểu tình trực tiếp để bắt Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán.

Trong vòng 6 tháng Mỹ đã tìm cách thay đổi phương thức đàm phán và mặc cả với phía Pháp rằng nếu dừng viện trợ và dừng cung cấp lương thực và vũ khí cho Miền Nam Việt Nam, Mỹ sẽ ngừng ném bom ở Miền Bắc. Các bạn Pháp đã làm mọi cách để Mỹ ngừng ném bom Miền Bắc, như gặp Hồng Y giáo chủ ở Italy để đề nghị Hồng Y gây sức ép với Mỹ.

Ngày nay tiến tời kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Pháp, theo bà, chính phủ Pháp “cần nỗ lực hơn nữa” cho việc xây dựng mối quan hệ với Việt Nam. Bà bày tỏ muốn giúp đỡ Việt Nam trên có sở bình đẳng vì Việt Nam cần Pháp và ngược lại Pháp cũng cần đến Việt Nam. Để tăng phát triển hơn nữa mối quan hệ hợp tác giữa hai nước, theo bà cần tăng cường việc giảng dạy tiếng Pháp ở Việt Nam. Đây là một dự án tâm huyết của bà. Vì theo bà, biết tiếng Pháp là biết được nền văn hóa Pháp. Tiếng Pháp còn là thứ tiếng của ngôn ngữ và của cách mạng. Nó cho phép hai nước Việt Nam và Pháp gắn bó, đoàn kết nhau hơn và phát tiển sâu sắc hơn.

Gặp người lái xe cho bà Nguyễn Thị Bình năm xưa

Qua nhiều cuộc hẹn và cuối cùng cuộc chúng tôi đã có cuộc gặp với ông Michel Strachinescu, lái xe từ năm 1970-1973 cho bà Nguyễn Thị Bình – Trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau là Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, tại các cuộc đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Paris lịch sử về lập lại hòa bình ở Việt Nam, ngày 27/1/1973.

Bằng một giọng sang sảng và nhiệt tình, ông Michel Strachinescu khẳng định ông rất vinh dự được lái xe cho đoàn của bà Nguyễn Thị Bình trong vòng 4 năm. Trong suốt thời gian này, ông cho biết những cảm nhận của mình về bà Nguyễn Thị Bình, bà là “một nhân cách lớn, một người có tầm ảnh hưởng lớn.” Ông rất vinh dự được làm công tác đưa đón đoàn đàm phán Miền Nam ở Verrière-le-Buisson và một số đồng chí khác ở Massy.

Ban đầu, Đảng Cộng sản Pháp cử ông cùng một số người Pháp đến giúp đoàn Việt Nam. Ông được giải thích rằng cần giúp đỡ tận tình các bạn Việt Nam vì sự nghiệp của nhân dân Việt Nam. Dù thời điểm đó, ông đã 36 tuổi, có gia đình, vợ con, song ông không mấy khi được gặp mặt vợ con, ông đã làm việc đến gần 400 giờ mỗi tháng, và thực sự trở thành một trong những nhà hoạt động tranh đấu thực sự vì nền hòa bình của Việt Nam.

Theo ông đây là một nhiệm vụ quan trọng và vinh dự. Thời điểm đó ông làm việc không thể tính thời gian, ông luôn ủng hộ và đấu tranh cùng các bạn Việt Nam trên mặt trận ngoại giao – mặt trận quan trọng và gắn kết với những thành công và thắng lợi trên mặt trận quân sự. Các mặt trận này có mối liên hệ mật thiết với nhau. Ông luôn mong mỏi “các bạn Việt Nam sớm đạt được thỏa thuận tiến tới ký Hiệp định Paris về hòa bình.” Ông cho rằng cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là điển hình, mẫu mực, là tấm gương đấu tranh giải phóng dân tộc cho nhiều nước khác trên thế giới.

Để bày tỏ tất cả tình cảm yêu mến Việt Nam, ông chỉ biết thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là “đảm bảo lái xe an toàn, tránh mọi sơ suất trong quá trình phục vụ bà Bình và đoàn đàm phán.” Lộ trình hàng ngày của ông là từ Verrière-le-Buisson đi Massy và ngược lại, cũng như lộ trình chở bà Bình đến trung tâm hội nghị Kléber họp. Một hoặc hai lần mỗi tuần ông chở đoàn đến Choisy-le-roi để hội kiến với đoàn miền Bắc. Vai trò của ông không chỉ đơn thuần là lái xe, mà còn như vệ sĩ của bà Bình. Ông không phải là những người làm công, mà là những nhà hoạt động tranh đấu bên cạnh các bạn Việt Nam, làm việc không kể thời gian, 7 ngày trên 7, nhiều hôm đến 3 giờ sáng. Ông ở ngay tại Verrière-le-Buisson để hỗ trợ, phục vụ các bạn Việt nam và vì sự thành công của cuộc đàm phán.

Ông Michel Strachinescu không quên kể lại cho chúng tôi một kỷ niêm không thể nào quên, đó là: Một hôm đang đi trên đường vành đai Paris, cán cờ hiệu trước xe bị gẫy và lá cờ hiệu rơi xuống đường. Tôi đã không ngần ngại dừng xe khẩn cấp, và mặc dù có thể nguy hiểm đến tính mạng, song tôi vẫn quay lại tìm lấy cờ hiệu trong dòng xe cộ qua lại, bởi đó là một hình ảnh biểu tượng, có ý nghĩa với các bạn Việt Nam đang đấu tranh trên bàn đàm phán.

Được hỏi về những cảm nhận của ông khi biết Việt Nam đã ký thành công Hiệp định Paris, ông Michel Strachinescu, cho biết hôm đó thực sự là một lễ hội đối với ông, ông thực sự ấn tượng và đã uống mừng bằng sâmpanh. Ông còn làm một cái bánh ga tô to để cùng anh em bạn bè Việt Nam mừng chiến thắng này. Tuy nhiên, với các bạn Việt Nam lúc đó “cuộc chiến chưa phải đã kết thúc” vì hiện tại đất nước vẫn đang chia cắt, nhiều gia đình chưa thể đoàn tụ,- tình cảm thực sự xúc động trong ngày hôm đó.

Với ông làm việc với các bạn Việt Nam “thật tuyệt vời, rất tình người,” cho nên theo ông, “những đóng góp của tôi chỉ là một phần nhỏ bé như những con suối nhỏ tạo thành dòng sông lớn, vì sự nghiệp của nhân dân Việt Nam.”

Khi đánh giá về những tình cảm của người dân Pháp dành cho nhân dân Việt Nam ở thời điểm đó, ông khẳng định thật “Tuyệt vời!” Nhân dân Pháp cũng như người dân Mỹ phản đối chiến tranh bằng các biểu tình và có nhiều hoạt động ủng hộ hòa bình ở Việt Nam. Ngôi sao điện ảnh Mỹ Jane Fonda đã từng sang Pháp hoạt động đấu tranh vì hòa bình Việt Nam và ông cũng đã có vinh dự chở Jane Fonda từ Verrière-le-Buisson đến Choisy-le-roi. Theo ông, đó là một ngôi sao rất dễ gần, dễ mến. Thời điểm đó, rất nhiều người dân Pháp có tấm lòng yêu hòa bình, phản đối chiến tranh đã ủng hộ Việt Nam./.

Sau năm 1973, ông Michel Strachinescu đã gặp lại bà Nguyễn Thị Bình một lần ở Pháp, tại trụ sở Đảng Cộng sản Pháp trong buổi lễ tân do Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp Robert Hue tiếp.

Một lần khác, ông được mời đến Đại sứ quán Việt Nam gặp bà Bình. Tuy nhiên, lúc đó ông đã không thể đến được, vì mẹ ông bị ốm nặng.

Để ghi nhận công lao đóng góp của ông đối với cuộc đấu tranh vì hòa bình của dân tộc Việt Nam, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng bằng khen do bà Nguyễn Thị Bình ký tặng. Đối với ông “Việt Nam là một đất nước tuyệt vời.”

Lê Hà-Trung Dũng (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Đường đi đến bàn đàm phán Paris (Bài 2)

(Petrotimes) – Kéo dài gần 5 năm, với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn, quá trình đàm phán hòa bình đưa đến việc ký Hiệp định Paris 27/1/1973 là một trong những cuộc đàm phán kéo dài nhất lịch sử ngoại giao thế giới. Kết quả của nó khẳng định chiến thắng tuyệt đối trên mặt trận ngoại giao (tiến hành song song mặt trận chiến tranh). Mỹ chấp nhận rút lui, ngụy quyền Sài Gòn buộc phải chịu sự có mặt hợp pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (CPCMLTMNVN)…

>> Đường đi đến bàn đàm phán Paris (Bài 1)

Bài 2: Chiến thắng ngoại giao lịch sử

Để có thể cùng thương lượng…

Trước hết, cần nói ngay, thắng lợi 27/1/1973 là một trong những hệ quả của Chiến dịch Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Chính sự kiện Mậu Thân gây kinh hoàng Nhà Trắng đã khiến Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đi đến 3 quyết định then chốt cho sự nghiệp chính trị của ông nói riêng cũng như cho cuộc chiến Việt Nam nói chung: Mỹ đơn phương ngừng bắn từ vĩ tuyến 20 trở ra (Bắc); Johnson không tranh cử nhiệm kỳ hai và Washington chấp nhận thương lượng hòa bình với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH). 3 tháng sau sự kiện Mậu Thân, Hà Nội tuyên bố sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với Mỹ nhằm thiết lập quá trình đàm phán. Cuộc thương lượng hòa bình tại Việt Nam giữa Mỹ và VNDCCH bắt đầu từ lúc này.

Ngày 13/5/1968, đại diện hai bên gặp nhau. Cuộc chiến Việt Nam từ lúc đó tiến hành song song hai chiến tuyến: Trên mặt trận ngoại giao và trên mặt trận chiến trường. Với thái độ chấp nhận đàm phán, Mỹ đã gián tiếp thừa nhận họ thất bại trong cuộc chiến Việt Nam và đàm phán hòa bình chính là cuộc thoái bộ từng bước trong danh dự. Cuộc thoái bộ càng thể hiện rõ với chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Tổng thống kế nhiệm Richard Nixon. Bởi tính chất quan trọng mang tính sống còn của “danh dự chính trị”, những hiệp đấu đầu tiên giữa Mỹ và VNDCCH đã căng thẳng ngay từ “vòng đấu loại”, từ vấn đề chọn địa điểm đến các tranh cãi quanh việc lựa kiểu bàn cho cuộc gặp 4 bên (VNDCCH, CPCMLTMNVN, Mỹ và ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH), từ những điều khoản trong hiệp định đến cả cách thức ký…

Ngoại trưởng Mỹ William P. Rogers ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973)

Đầu tiên, việc chọn địa điểm đã gây nhiều tranh luận. Ngày 4/4/1968, Tòa đại sứ Mỹ tại Lào thông báo với Tòa đại sứ Việt Nam về dự định tổ chức cuộc gặp đầu tiên tại Geneva (Thụy Sĩ). Tuy nhiên, Hà Nội chọn Phnom Penh (do gần chiến trường Việt Nam, dễ phục vụ công tác tuyên truyền và cổ vũ tinh thần nhân dân 3 nước anh em Đông Dương). Mỹ không chịu và đưa ra 4 địa điểm khác: New Delhi, Jakarta, Vientiane và Ragoon. Hà Nội tiếp tục bác và lại đề xuất Warsaw (Ba Lan). Washington không đồng ý, đồng thời đưa ra một danh sách dài (Colombo, Kathmandu, Kuala Lumpur, Kabul, Tokyo, Helsinki, Rome…).

Cuối cùng, ngày 2/5/1968, Hà Nội đề nghị Paris. Lần này, Washington nhượng bộ. Ngoài địa điểm họp, hình dáng cái bàn cũng là đề tài tranh luận giữa các bên. Thoạt đầu, Mỹ đề nghị dùng bàn chữ nhật với Mỹ và VNCH ngồi một bên và bên kia là VNDCCH và CPCMLTMNVN. Do VNDCCH không đồng ý, Mỹ đưa tiếp 3 kiểu bàn khác (1. Hai bàn hình cung đối diện không tách nhau; 2. Hai bàn hình cung đối diện, tách nhau; 3. Hai bàn hình cung đối diện, tách nhau, hai đầu bàn hai bên có hai bàn nhỏ chữ nhật cho thư ký ngồi). VNDCCH đề nghị dùng kiểu bàn thứ hai (trong ba mẫu trên) nhưng ghép lại thành bàn tròn. Vài tháng liên tiếp, vụ cái bàn vẫn chưa ngã ngũ. Cuối cùng, sau gần 3 tháng, ngày 15/1/1969, hai bên thống nhất dùng kiểu bàn do Liên Xô đề xuất: Chiếc bàn tròn cho 4 bên tham gia đàm phán, cùng hai bàn chữ nhật đặt cách bàn tròn 0,45m ở vị trí đối diện làm chỗ ngồi cho thư ký; trên bàn tròn không có cờ và biển.

Và cùng quyết đấu

Trong cuộc gặp đầu tiên, phía Mỹ được dẫn đầu bởi hai nhà ngoại giao tên tuổi Averell Harriman (mất năm 1986) và Cyrus Vance (mất năm 2002); trong khi đó, phía VNDCCH đến Paris dưới sự dẫn dắt của Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy. Trong những cuộc gặp đầu tiên (5/1968), Mỹ tập trung 3 vấn đề chính: Các cuộc thương lượng phải có tiếng nói tham gia của phe VNCH; Bắc Việt Nam không được vi phạm khu phi quân sự; Bắc Việt Nam không được tấn công các thành phố lớn tại miền Nam như Đà Nẵng, Huế và Sài Gòn.

Tháng 1/1969, phiên họp thứ nhất với sự tham gia của 4 bên được tổ chức, khi nước Mỹ bấy giờ được thay tổng thống bằng gương mặt mới Richard Nixon. Đầu năm 1970, quá trình thương lượng nhiều lần diễn ra trong bí mật, giữa hai nhân vật: Henry Kissinger (cố vấn An ninh quốc gia Hoa Kỳ) và cố vấn Chính phủ VNDCCH Lê Đức Thọ. Ngày 21/2/1970, tại căn nhà số 11 đường Darthé thuộc Choisy-Le-Roi (Paris), hai nhà đàm phán Kissinger – Lê Đức Thọ (mà sau này đều được trao Nobel hòa bình 1973 và ông Thọ không nhận) đã lần đầu gặp nhau.

Một trong những cuộc họp riêng cuối cùng giữa Henry Kissinger và cố vấn Lê Đức Thọ vào tháng 1/1973 tại Saint Nom la Breteche, Pháp

Sang năm 1972, một trong những vướng mắc chính của quá trình đàm phán là cuộc chiến ngôn ngữ ngoại giao giữa VNCH và CPCMLTMNVN. Trong khi chính quyền Sài Gòn một mực không công nhận tính hợp pháp chính trị của CPCMLTMNVN, ngày 2/2/1972, tại hội nghị 4 bên, Ngoại trưởng CPCMLTMNVN Nguyễn Thị Bình đưa ra hai yêu cầu: 1. Về quân sự, CPCMLTMNVN đòi Mỹ công bố thời hạn dứt khoát cho việc rút toàn bộ lính Mỹ tại Việt Nam và chấm dứt tấn công quân sự ở cả hai miền Việt Nam; 2. Về chính trị, CPCMLTMNVN yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu từ chức và chính quyền Sài Gòn chấm dứt chiến tranh, trả tự do tù nhân chính trị, hủy bỏ chính sách bình định…

Tại chiến trường Việt Nam, tình hình chiến sự chuyển sang giai đoạn căng thẳng, với những cuộc tấn công quy mô của bộ đội và lực lượng giải phóng quân cùng các cuộc dội bom trả đũa của Mỹ. Đây cũng là thời điểm Nixon triển khai mạnh chính sách Việt Nam hóa chiến tranh.

Sau vài tháng gián đoạn bởi các cuộc giao tranh quân sự tại chiến trường Việt Nam, tiến trình đàm phán giữa Henry Kissinger và cố vấn Lê Đức Thọ được nối lại, với 3 cuộc gặp chính: cuộc họp thứ nhất vào ngày 19/7/1972; cuộc họp thứ hai ngày 1/8/1972; và cuộc họp thứ ba ngày 14/8/1972. 3 cuộc họp là cơ sở cho văn bản thỏa thuận hiệp định hòa bình Việt Nam được hai bên Mỹ – VNDCCH gần như nhất trí vào vài tuần sau đó.

Đầu tháng 10/1972, VNDCCH đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Tuy nhiên, đúng lúc này, Nguyễn Văn Thiệu giãy nảy cho rằng, VNCH bị xử ép và phản đối nhiều điều khoản trong dự thảo. Ủng hộ Thiệu, Washington trở mặt, không những đòi VNDCCH chấp nhận hàng chục kiến nghị sửa đổi (trong dự thảo) của Thiệu mà còn tăng cường viện trợ quân sự cho chính quyền VNCH. Sự cản mũi của Thiệu khiến quá trình đàm phán bế tắc và Nixon đã dùng đến B-52 trong chiến dịch Linebacker II dội bom Hà Nội suốt 12 ngày đêm để buộc VNDCCH quay lại bàn thương lượng.

Hiệp định ra đời và một cuộc chiến chuẩn bị bế mạc

Ngày 6/1/1973, cố vấn Lê Đức Thọ đến Paris. Tất cả những gì từng nêu trong văn bản thỏa thuận hiệp định về tái lập hòa bình Việt Nam (tháng 10/1972) lần này được bàn lại và Mỹ gần như chấp nhận hầu hết các điểm chính. Những kiến nghị sửa đổi của phe VNCH đều bị phớt lờ. Sau chiến dịch Linebacker II, Washington không còn tinh thần để tiếp tục gây khó dễ VNDCCH. Ngày 27/1/1973, lễ ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được thực hiện tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Kléber (Paris).

Bản Hiệp định Paris gồm 9 chương, 23 điều. Nội dung chính nêu: Hoa Kỳ cùng các nước khác cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam; Hoa Kỳ chấm dứt hoàn toàn chiến tranh xâm lược và ngưng viện trợ hay dính líu vào nội bộ Nam Việt Nam; nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Với kết quả Hiệp định Paris 27/1/1973, cục diện chiến trường Nam Việt Nam thay đổi nhanh từng ngày và kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ chỉ đào sâu thêm huyệt mộ cho chính quyền Sài Gòn…

Quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris 27/1/1973

– Ngày 13/5/1968: Hội nghị 2 bên Mỹ – VNDCCH khai mạc tại Paris.

– Ngày 25/1/1969: Hội nghị 4 bên Mỹ – VNCH và VNDCCH – Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) khai mạc tại Paris.

– Ngày 8/6/1969: Tổng thống Richard Nixon tuyên bố rút quân đợt đầu tiên gồm 25.000 lính khỏi miền Nam Việt Nam.

– Ngày 10/6/1969: CPCMLTMNVN quyết định đoàn đại biểu MTDTGPMNVN tham gia tiến trình đàm phán hòa bình tại Paris được chính thức gọi là đoàn đại biểu CPCMLTMNVN, do bà Nguyễn Thị Bình, với cương vị Ngoại trưởng, làm trưởng đoàn.

– Ngày 25/8/1969: Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời thư Tổng thống Richard Nixon. Bác Hồ nêu rõ: Muốn có hòa bình, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam.

– Ngày 17/9/1970: Tại phiên họp toàn thể lần thứ 84 Hội nghị Paris về Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đưa ra đề nghị tám điểm.

– Ngày 18/10/1970: Tổng thống Nixon đưa đề nghị năm điểm.

– Ngày 26/6/1971: VNDCCH đưa đề nghị chín điểm.

– Ngày 8/10/1972: VNDCCH chủ động đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam”.

– Ngày 22/10/1972: VNDCCH và Mỹ hoàn thành văn bản Hiệp định nhưng sau đó Mỹ lập cầu hàng không tiếp tế mạnh cho ngụy quyền Sài Gòn.

– Ngày 18/12/1972: Tổng thống Nixon ra lệnh thực hiện chiến dịch Linbebacker II đánh phá Hà Nội và Hải Phòng.

– Ngày 23/1/1973: VNDCCH – Mỹ ký tắt Hiệp định Paris.

– Ngày 27/1/1973: Lễ ký chính thức Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được tiến hành tại Trung tâm Kléber (Paris).

– Ngày 29/1/1973: Quân đội Mỹ bắt đầu rút khỏi Nam Việt Nam.

– Ngày 30/1/1973: Đoàn đại biểu quân sự VNDCCH do Thiếu tướng Lê Quang Hòa làm trưởng đoàn bắt đầu vào Sài Gòn tham gia Ban Liên hợp quân sự bốn bên và giám sát sự rút quân của Mỹ.

– Từ ngày 10 đến 13/2/1973: Cố vấn Chính phủ Mỹ Henry Kissinger đến Hà Nội để thảo luận việc thi hành Hiệp định.

– Từ ngày 12/2 đến 27/3/1973: CPCMLTMNVN trao trả nhân viên quân sự và dân sự Mỹ.

– Từ ngày 12/2 đến 24/7/1973: CPCMLTMNVN trao trả nhân viên quân sự và dân sự thuộc chính quyền Sài Gòn.

(Nguồn: Chính phủ Việt Nam 1945-1998, NXB Chính trị Quốc gia 1999; Việt Nam – những sự kiện lịch sử 1945-1975, Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn Quốc gia, Viện Sử học, NXB Giáo dục 2002).

Cao Minh (tổng hợp)
petrotimes.vn

Đường đi đến bàn đàm phán Paris (Bài 1)

(Petrotimes) – 87 chiếc pháo đài bay Boeing B-52 Stratofortress từ căn cứ không quân Andersen (Guam) cùng 42 B-52 từ căn cứ không quân Hoàng gia Thái Lan U-Tapao gần Sattihip (Thái Lan) đã kéo vào bầu trời Hà Nội đêm 18/12/1972, mở đầu chiến dịch oanh kích kinh hoàng nhất kể từ Thế chiến thứ hai. Trận chiến 12 ngày đêm khốc liệt nhất chiến tranh Việt Nam – “Điện Biên Phủ trên không” – bắt đầu.

Bài 1: Thế trận của hai bên

Ngay trong trận đầu tiên, chiếc B-52 số 8201 đã bị tên lửa SAM bắn rơi và 3 trong 6 phi công phi hành đoàn nhảy dù bị bắt. Chiến dịch “Linebacker II”, mà quân đội Mỹ gọi là “món quà Giáng sinh” cho Hà Nội, được thiết kế để có thể làm thay đổi thế trận xuống dốc và cục diện bất lợi của Mỹ tại chiến trường Việt Nam.

sau loạt thất bại trên mặt trận ngoại giao – cuối cùng cũng không cứu nổi sự nghiệp chính trị hết thời của Tổng thống Nixon và chính “Điện Biên Phủ trên không” đã mở màn cho sự đổ vỡ của một cuộc chiến dài hơi. Chúng ta nhìn lại nguyên nhân chính đưa đến sự kiện “Điện Biên Phủ trên không” và kết quả của nó…

Đàm phán

Từ tháng 5/1968, cuộc chiến Việt Nam bắt đầu tiến hành song song hai mặt trận: mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao. Ngày 13/5/1968, phái đoàn đàm phán Mỹ và Bắc Việt Nam gặp nhau lần đầu tiên tại Pháp, mở đầu cuộc thương lượng marathon kéo dài hơn 4 năm.

Từ Hà Nội, chỉ thị được gửi đến phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) với nội dung: 1. Mỹ chấm dứt ném bom không điều kiện; 2. VNDCCH ngừng tấn công các khu phi quân sự; 3. VNDCCH đồng ý cuộc họp bốn bên về giải pháp chính trị cho tình hình Nam Việt Nam nhưng chính quyền Sài Gòn phải công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGP).

Suốt từ năm 1968 đến đầu 1972, hàng loạt cuộc gặp gỡ đã diễn ra, nhưng hai bên – với Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn Lê Đức Thọ đại diện VNDCCH và ông William Averell Harriman (sau đó là Henry Kissinger) đại diện Chính phủ Mỹ – đều bất đồng. Thời gian này, Chính phủ Nixon bắt đầu thực hiện kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh (“Vietnamization” – thuật ngữ do Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird đặt).

Mệt mỏi với cuộc chiến Việt Nam, Nixon và Kissinger tìm cách rút lui

Tháng 6/1969, trong khi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu gặp Tổng thống Mỹ Richard Nixon tại đảo Midway để bàn chương trình Việt Nam hóa chiến tranh (kế hoạch rút quân từng bước của quân đội Mỹ khỏi chiến trường Việt Nam) thì tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành thuộc vùng giải phóng Tây Ninh, MTDTGP cùng nhiều tổ chức yêu nước cũng tổ chức bầu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch và Hội đồng cố vấn do luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu.

Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời – như một đối tác chính trị chính thức đại diện cho miền Nam Việt Nam – đã gây thêm áp lực trong vòng đàm phán Paris…

Từ đầu năm 1970, cuộc đấu tranh ngoại giao xảy ra chủ yếu giữa hai đối thủ: Henry Kissinger và ông cố vấn Lê Đức Thọ (hai người gặp nhau lần đầu tiên trong cuộc họp vào ngày 21/2/1970 tại Pháp). Đầu năm 1972, khi cuộc đấu trí căng thẳng Kissinger và ông Thọ tại Pháp chưa ngã ngũ, Hà Nội đánh giá: “Năm 1972 là năm hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh giữa ta và địch trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Nhiệm vụ quân sự cần kíp là đẩy mạnh tấn công quân sự, chính trị, binh vận, phát triển thế tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam… đánh bại chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ…”.

Ngày 30/3/1972, bộ đội tổ chức tấn công quy mô vào Quảng Trị, Thừa Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Một tuần sau, ngày 6/4/1972, Mỹ phản hồi bằng cuộc không kích ác liệt (chiến dịch Linebacker I). Mùa hè đỏ lửa 1972 bắt đầu. Ngày 2/5/1972, trong khi tiếng súng chưa ngưng tại Việt Nam, ở Paris, cuộc họp giữa Kissinger và Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn Lê Đức Thọ được tái lập.

Ngày 18/10/1972, Kissinger sang Sài Gòn, đưa Chính quyền VNCH bản dự thảo kế hoạch hòa bình. Nguyễn Văn Thiệu bất mãn, cho rằng mình bị xử ép vì Mỹ chỉ tìm tiếng nói từ phía Hà Nội chứ không phải Sài Gòn. Trong hồi ký Our endless war, Trần Văn Đôn (Tổng tư lệnh Quân lực VNCH kiêm Tổng trưởng Quốc phòng) kể rằng, Thiệu chỉ đồng ý với dự thảo hiệp định hòa bình với bốn điều kiện: 1. Không có chính phủ liên hiệp; 2. Quân miền Bắc phải rút khỏi miền Nam; 3. Tôn trọng tính trung lập của khu phi quân sự; 4. Giải quyết những bất đồng chính trị còn lại giữa hai miền mà không có sự can thiệp nước ngoài.

Tại sao bế tắc?

Với chính quyền Sài Gòn, sự rút lui quân đội miền Bắc khỏi miền Nam là yếu tố quan trọng mang tầm chiến lược lâu dài. Điều này có thể thấy rõ trong báo cáo của Bùi Diễm (Đại sứ VNCH tại Mỹ từ 1962-1972): “Tôi vẫn còn nhớ những gì Tổng thống Thiệu nói, khi tôi gặp ông ấy vài tuần trước khi ký hiệp định Paris: “Hãy đến gấp Washington và Paris và ráng cố hết sức. Đặt vấn đề quân đội miền Bắc rút khỏi lãnh thổ chúng ta vào lúc này có lẽ quá muộn nhưng còn cơ hội thì chúng ta cứ thử. Nếu không thể đạt được những đòi hỏi cơ bản cho sự tồn tại của chúng ta, chúng ta sẽ gặp rắc rối về lâu dài…”.

Cùng lúc, chính quyền Thiệu nhận ra rằng, chính sách Việt Nam hóa chiến tranh là đòn thoái bộ trong danh dự của Mỹ.

Hai ngày sau khi Văn bản thỏa thuận (cho việc ký hiệp định) được ấn định, trong cuộc gặp Kissinger ngày 22/10/1972, Nguyễn Văn Thiệu trình bày: “Liệu có vấn đề gì với Mỹ khi các vị mất một nước nhỏ như Nam Việt Nam? Chúng tôi chỉ là một chấm nhỏ trên bản đồ thế giới đối với các ngài. Nếu các ngài muốn từ bỏ cuộc chiến, chúng tôi sẽ chiến đấu một mình cho đến khi chết.

Một cuộc gặp giữa ông Lê Đức Thọ và Henry Kissinger tại một biệt thự thuộc đảng Cộng sản Pháp ở ngoại ô Gif-sur-Yvette vào ngày 22/5/1973

Chính sách thế giới của Mỹ cho thấy các ngài đang nhảy nhót với Moscow và Bắc Kinh và các ngài tạo ra những chọn lựa khác nhau để đáp ứng chính sách mới. Nhưng với chúng tôi, sự chọn lựa chỉ là sự sống và cái chết. Với chúng tôi, việc ký vào hiệp định đồng nghĩa với đầu hàng để chấp nhận bản án tử hình. Cuộc sống không tự do tức là chết. Không, còn tệ hơn chết!”. Hai ngày sau, Thiệu đọc diễn văn trước Quốc hội, chỉ trích và bác bỏ Văn bản thỏa thuận ngày 20/10/1972; trong khi đó, bên Mỹ, khi trở về Washington, Kissinger công bố với giới báo chí: “Hòa bình đang trong tầm tay”…

Văn bản thỏa thuận ngày 20/10/1972 nói gì? Có thể điểm lại vài điểm chính:

1. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ký hiệp định này, Mỹ phải hoàn thành việc rút quân, bao gồm nhân viên quân đội và cố vấn quân sự; cùng lúc, hủy mọi căn cứ quân sự Mỹ trên đất Việt Nam.

2. Việc thống nhất hai miền Nam – Bắc sẽ thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và đặc biệt không có sự can thiệp nước ngoài; trong khi chờ đợi, miền Nam và miền Bắc không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự.

3. Chính phủ VNDCCH, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, Chính phủ Mỹ và Chính phủ VNCH cử đại diện thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên để giám sát việc thực hiện ngừng bắn cũng như việc rút quân Mỹ khỏi Nam Việt Nam…

Tháng 11/1972, Thiệu cử đặc phái viên Nguyễn Phú Đức sang Mỹ, gõ cửa Nhà Trắng, thuyết phục Washington tìm cách “câu giờ” tiến trình đàm phán giữa Kissinger và cố vấn Lê Đức Thọ. Tiếp đó, Nguyễn Văn Thiệu đưa tướng Alexander Haig bức giác thư yêu cầu Washington giúp sửa 69 điểm trong Văn bản thỏa thuận (theo Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger; vài tài liệu khác ghi “96 điểm”). Tuy nhiên, dù muốn cứu Thiệu, Nixon cũng không còn cách vì chính ông cũng đang chết đuối trong chính trường Mỹ.

Trong 4 năm cuối cùng ở cương vị tổng thống, Nixon đã làm mất thêm 20.553 lính Mỹ tại chiến trường Việt Nam, đối mặt làn sóng phản chiến bạo động lớn nhất và uy tín bị suy yếu bởi ảnh hưởng từ scandal “Bộ tài liệu Lầu Năm Góc” (toàn bộ kế hoạch chi tiết về cuộc chiến Việt Nam mà viên chức Lầu Năm Góc Daniel Ellsberg bí mật cung cấp cho tờ New York Times đăng tải vào tháng 6/1971).

Trong hồi ký, Tổng thống Nixon thú nhận rằng việc Quốc hội tước quyền hành động quân sự khiến ông chỉ có thể hù dọa VNDCCH bằng miệng. Thật không may, Hà Nội lại biết rõ điều này. Cuối năm 1972, các cuộc đàm phán nhằm thống nhất những bất đồng còn lại tiếp tục bế tắc, trong khi Hà Nội lợi dụng mùa tranh cử Tổng thống Mỹ để gây áp lực Washington – như kể trong quyển Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger. Khi Kissinger đưa kiến nghị sửa đổi gồm 69 điểm của Nguyễn Văn Thiệu cho cố vấn Lê Đức Thọ, phía VNDCCH bác bỏ.

Ngày 13/12/1972, khi quan điểm tiếp tục bất đồng và VNCH cương quyết không ngồi vào bàn thương lượng, hai bên Henry Kissinger – Lê Đức Thọ tạm ngưng làm việc. Hôm sau, Tổng thống Nixon gửi tối hậu thư, yêu cầu Hà Nội trở lại đàm phán trong vòng 72 giờ. Hà Nội từ chối. Ngày 15/12/1972, cố vấn Lê Đức Thọ lên đường về nước, tạt qua Bắc Kinh và Moscow. Ngày 18/12/1972, khi cố vấn Lê Đức Thọ vừa từ sân bay Gia Lâm về tới nhà ở phố Nguyễn Cảnh Chân, chiến dịch “Linebacker II” cũng bắt đầu…

Trận chiến cuối cùng của sự nghiệp Nixon

Theo Trung tướng Lê Văn Tri (nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân), kế hoạch đánh B-52 được phác thảo từ tháng 2/1972 và hoàn thành vào tháng 5/1972. Như vậy, một trận chiến như “Điện Biên Phủ trên không” đã nằm trong thế chủ động trước.

Trước năm 1972, miền Bắc có hệ thống phòng không với 145 chiến đấu cơ MiG cùng 26 vị trí tên lửa đất đối không SAM-2 Guideline (21 vị trí tại Hà Nội và Hải Phòng) – theo sử gia quân sự Mỹ Walter J. Boyne. Đêm đầu tiên, Mỹ sử dụng 129 chiếc B-52. Hơn 200 tên lửa SAM được bắn trong đêm này và 3 chiếc B-52 bị trúng.

Cũng trong đêm đầu tiên, xạ thủ Samuel Turner trên chiếc B-52 Brown 03 bị 1 MiG-21 bắn gục (vụ tử nạn đầu tiên trong lịch sử B-52). Những phi công Mỹ bị bắt trong trận đầu tiên đã được đăng ảnh trên hai tuần báo Time và Newsweek vào vài tuần sau. Đêm thứ hai kết thúc với 2 chiếc B-52 bị hỏng và đêm thứ ba trở thành bi kịch, khi 4 B-52G và 2 B-52D bị bắn cháy. Một trong những phi công bị bắt – Trung tá Keith Heggen – chết vào 10 ngày sau do vết thương nặng từ vụ cháy máy bay.

Pháo đài bay B-52 không kích Hà Nội trong chiến dịch “Linebacker II”

Vào Giáng sinh, Nixon ra lệnh 36 giờ ngừng bắn và trận “Điện Biên Phủ trên không” đợt hai tiếp tục được tiến hành với cường độ kinh hoàng hơn, bởi sự tham gia của 120 chiếc B-52. Chỉ trong đêm này, B-52 đã thả 9.932 quả bom. Cuối cùng, ngày 30/12/1972, chiến dịch “Linebacker II” kết thúc. Chiếc B-52 cuối cùng hạ cánh xuống căn cứ Guam vào trưa cùng ngày. Trong chiến dịch “Linebacker II”, B-52 thực hiện 729 chuyến bay (trong số 741 chuyến bay dự kiến), thả 15.000 tấn bom xuống Bắc Việt (một tài liệu khác của Mỹ ghi “hơn 36.000 tấn bom”).

Hà Nội đáp trả với khoảng 1.240 tên lửa SAM. Theo Việt Nam – những sự kiện lịch sử 1945-1975, riêng tại Hà Nội, số nạn nhân thiệt mạng là 2.380 người; 1.355 người bị thương; 7 trong 9 ga xe lửa bị phá hủy; 4 trong 5 cầu; 4 trong 5 bến phà; 1/3 nhà máy; 5 bệnh viện; Đài Tiếng nói Việt Nam và phố cổ Khâm Thiên cũng như nhiều tài sản – di tích văn hóa khác bị hỏng nặng…

Theo Thiếu tướng Trần Văn Giang, nguyên Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội, số máy bay Mỹ bị bắn cháy trên bầu trời Việt Nam trong 12 ngày đêm kinh hoàng tháng 12/1972 là 81 chiếc trong đó có 34 B-52 và 47 máy bay chiến thuật, 47 phi công bị bắt sống. Theo sử gia quân sự Mỹ Walter J. Boyne, số máy bay B-52 bị bắn rơi là 15 chiếc, cùng 13 máy bay chiến thuật và có tổng cộng 92 phi công B-52 bị bắn rơi (59 người bị bắt sống, số còn lại chết hoặc mất tích). Số phi công bị bắn rơi từ các máy bay Mỹ khác là 29 người, với 17 người bị bắt sống và phần còn lại chết hoặc mất tích…

Giá trị lịch sử của “Điện Biên Phủ trên không” như thế nào? Washington còn cố vớt vát danh dự để nói rằng: “Chiến dịch “Linebacker II” là chiến thắng, một chiến thắng kinh điển của chiến thuật dùng quân sự gây áp lực ngoại giao. Hà Nội chấp nhận tái đàm phán và không còn yêu sách”. Đúng là Hà Nội đồng ý thương lượng sau khi nhận “món quà Giáng sinh” của Nixon nhưng để đánh giá chiến thắng thuộc phe nào thì chỉ cần xem kết quả chung cuộc từ Hiệp định Paris 27/1/1973.

Hiệp định này gần như không khác mấy bản dự thảo tháng 10/1972 và như vậy bên thật sự thắng lại chính là Hà Nội và kẻ thua nặng nhất là chính quyền Sài Gòn. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu không còn chọn lựa nào khác hơn là ký vào Hiệp định Paris 27/1/1973, dù trong thâm tâm bất mãn tột độ. Tại sao Thiệu chịu ký?

11 ngày trước khi các bên ngồi quanh chiếc bàn tròn tại Paris để ký Hiệp định 27/1/1973, ngày 16/1/1973, Nixon phái tướng Alexander Haig sang Sài Gòn thuyết phục Thiệu (chính xác hơn là gây sức ép).

Bùi Diễm đã thuật lại vài chi tiết từ cuộc gặp này (dẫn lại từ http://www.ehistory.com): “Quyết định cuối cùng của Sài Gòn trong việc ký Hiệp định chỉ ra đời sau loạt thông điệp đau đớn giữa hai tổng thống Nixon và Thiệu mà trong vài thông điệp, Tổng thống Nixon đã dùng thứ ngôn ngữ ngoại giao cứng rắn nhất ít thấy trong hoạt động ngoại giao, chẳng hạn nếu Thiệu ngoan cố không ký vào Hiệp định, viện trợ của Mỹ sẽ “cắt hoàn toàn… và nếu ông (Thiệu) từ chối không tham gia với chúng tôi, Chính phủ VNCH sẽ gánh toàn bộ trách nhiệm các hậu quả…

Nếu ông không đưa câu trả lời tích cực vào trước 12 giờ trưa, theo giờ Washington, vào ngày 21/1/1973, tôi sẽ cho phép Tiến sĩ Kissinger tham gia tiến trình ký Hiệp định mà không cần có mặt chính phủ ông”.

Đúng là Nguyễn Văn Thiệu không còn chọn lựa nào khác và chấp nhận nhiều điều kiện khó chịu, kể cả yêu cầu về sự có mặt của quân đội miền Bắc tại miền Nam và việc đòi hỏi nhìn nhận sự tồn tại hợp pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam! Như ông từng nói, về số phận mình cũng như nền “Đệ nhị Cộng hòa”: “Với chúng tôi, việc ký vào hiệp định đồng nghĩa với đầu hàng để chấp nhận bản án tử hình…”.

Cao minh
petrotimes.vn

Đảng Cộng sản Pháp và các cuộc đàm phán tại Paris

Năm 1968 đánh dấu sự chuyển biến lớn trong thái độ của Đảng Cộng sản Pháp (PCF) đối với cuộc xung đột. Việc tạo ra một Ủy ban hành động quốc gia ngày 17-1-1968, do Waldeck-Rochet lãnh đạo,để ủng hộ và vì chiến thắng ở Việt Nam, là một tín hiệu rõ ràng nhất. Các cuộc đàm phán ở Paris là cơ hội để PCF kết nối những hình thức cam kết cho nỗ lực mà PCF đang duy trì nhằm tạo áp lực lên các nhà ngoại giao Mỹ, điều mà PCF coi như trận đánh của chính mình: Một trận đánh được thể hiện chủ yếu thông qua chiến dịch tăng cường thông tin và qua tổ chức các cuộc tuần hành quy mô lớn.

Biên bản cuộc họp của Ban Bí thư PCF ngày 7-5-1968 đã chỉ rõ: “Việc mở ra tại Paris các cuộc đối thoại về Việt Nam là một sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là thành quả của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với sự hỗ trợ của tình đoàn kết quốc tế.”

Theo thống kê, từ tháng 5-1968 đến tháng 1-1973, trong 203 cuộc họp của Ban Bí thư PCF, Việt Nam được đề cập đến trong 125 cuộc và các cuộc đàm phán ở Paris là 29 lần. Ở Bộ Chính trị, 41 cuộc họp nói về Việt Nam và 10 cuộc trực tiếp về đàm phán trong tổng sổ 171 cuộc họp. Các con số này đủ nói lên sự quan tâm của PCF với Việt Nam nói chung và với cuộc đàm phán Paris nói riêng. Các cơ quan lãnh đạo Đảng thường xuyên được thông tin về diễn tiến các cuộc đàm phán: Elie Mignot và Raymond Guyot thường xuyên có báo cáo sau các cuộc nói chuyện riêng với các thành viên phái đoàn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặc biệt là với trưởng đoàn Xuân Thủy hoặc với phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, đặc biệt là với Trưởng đoàn Nguyễn Thị Bình.

Nguyễn Thế Mai
(dịch từ tài liệu ĐCS Pháp và các cuộc đàm
phán tại Paris của Sylvain Pons)

daidoanket.vn

Hiệp định Paris: Ký ức sau 40 năm

Paris, 40 năm sau ngày ký Hiệp định lịch sử để mở ra con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam, những ký ức vẫn còn nhưng dù đang mờ dần theo năm tháng.

Người cận vệ già

Đã ở tuổi ngoài 70 nhưng Pierre Gueguen vẫn có vóc dáng khỏe mạnh, nhanh nhẹn mà ai mới gặp ông lần đầu sẽ nghĩ rằng ông mới tầm sáu chục. Nghỉ hưu từ nhiều năm nay, Pierre sống bình lặng và yên ả cùng người vợ trong một ngôi nhà rộng rãi ở thành phố Verriere-le-Buisson. Trong khu vườn của mình, Pierre trồng nhiều loài cây lạ so với khí hậu ôn đới châu Âu. Có xoài của Bờ Biển Ngà, và thậm chí có cả một cây bao báp châu Phi đang ươm giống. Sống thong thả đặc trưng như một công chức Pháp về hưu, mối quan tâm duy nhất của vợ chồng Pierre bây giờ là hoạt động của một Quỹ từ thiện do vợ ông làm Chủ tịch nhằm quyên góp tiền xây trường học và hỗ trợ các dự án nông nghiệp nhỏ ở Burkina Faso. Ngoài ra là câu cá. Đó là đam mê và cũng là trách nhiệm của Pierre bởi ông là Chủ tịch Hội câu cá thành phố Verriere-le-Buisson. “Gọi là Chủ tịch cho vui thôi, chứ thực ra việc chính của tôi là để mắt đến cái hồ cá, không cho những người không có giấy phép vào đó câu trộm” – Pierre nói.

Cuộc đời luôn có những điều khó lý giải mà đôi khi vẫn được gọi bằng cái tên “định mệnh”. Cái hồ mà Pierre dành trọn đam mê tuổi già đó chỉ cách vài bước chân với một địa danh mà Pierre nói rằng đã để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong cuộc đời ông thời trẻ, thậm chí nó thay đổi cuộc đời ông. Ở nơi đó, từ hồ cá băng qua con đường, là ngôi nhà số 17 phố Cambeceres, nơi lưu lại của phái đoàn Mặt trận dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam trong thời gian đàm phán Hiệp định Paris. Nơi đó, hơn 40 năm trước, cũng là “nhà” của Pierre. Ông đã có không biết bao nhiêu ngày ở trong ngôi nhà đó 20/24h mỗi ngày, với tư cách là nhân viên bảo vệ an ninh cho phái đoàn.

Ông Pierre bên các kỉ vật

“Tôi đã làm việc cùng phái đoàn Mặt trận trong 3 năm. Những nhân viên an ninh như chúng tôi phải để ý và làm tất cả những việc chi li nhất, kiểm tra từng bụi cây, từng thanh sắt hàng rào. Hàng ngày, chúng tôi dẫn và bảo vệ đoàn đến các nơi đàm phán, kiểm tra thư từ, mang các bài viết của phái đoàn đến các tòa soạn báo trong Paris như L’Humanité hay Le Monde. Chúng tôi ăn ngủ luôn trong căn phòng dành cho bộ phận phát thanh của phái đoàn. Chúng tôi sống như một gia đình” – Pierre bồi hồi.Vài chục năm trôi đi, ngôi biệt thự đẹp rộng đến hơn 1000m2 nằm trên sườn đồi đó đã trải qua nhiều đời chủ, nhưng thói quen của Pierre thì vẫn không đổi. Cứ rảnh rỗi là ông lại đi bộ ra hồ cá, thơ thẩn bên hồ rồi lại bước sang bên kia đường, lặng lẽ đứng ngắm ngôi nhà và chìm trong hồi tưởng.

Bộ tem bà Nguyễn Thị Bình mà ông Pierre sưu tầm

Một lần như thế, khi đang quần đùi, áo phông đi bộ quanh hồ, bà Nguyễn Thị Bình xuất hiện trước mặt ông. “Tôi không tin vào mắt mình. Bà Bình có việc đi công tác qua Paris nên ghé thăm lại ngôi nhà. Tôi gặp lại bà mà không thốt nên lời”.Bà Nguyễn Thị Bình, người phụ nữ nổi danh của Hiệp định Paris, thực ra luôn hiện diện trong cuộc sống gia đình ông. Từ nhiều năm nay, vợ chồng Pierre đang loay hoay dịch một cuốn sách viết về bà Bình, được viết từ tiếng Tây Ban Nha, sang tiếng Pháp.

Pierre có một bộ tem quý in hình bà Bình, có bằng khen mà bà tặng, có chiếc huy hiệu mang cờ Mặt trận, và có tất cả những hình ảnh về Việt Nam thời đó mà ông lưu giữ được. “Đó là những ngày đáng nhớ nhất đời tôi” – Pierre nghẹn ngào.

Thời gian không còn nhiều để những nhân chứng sống như Pierre được thổ lộ điều đó.

Những mảnh ghép quá khứ

40 năm đã qua, những chứng nhân lịch sử không còn bao nhiêu. Những con người quan trọng của thời kỳ đó, hoặc đã qua đời vì tuổi tác, hoặc không còn nhớ được gì vì chứng bệnh tuổi già. Bản vẽ ký ức về Hiệp định Paris, vì thế, bắt đầu xuất hiện những chấm mờ.

Ở Gif -sur-Yvette, Bernard Minier sống một mình trong căn nhà Maison du Gros Tilleul. Là một nghệ sỹ nhiếp ảnh có tiếng với các tác phẩm nude, Bernard đã biến ngôi nhà của mình thành một studio phong cách. Chỉ có mặt tiền ngôi nhà là vẫn giữ nguyên bởi Bernard hiểu rõ giá trị lịch sử của nó.

Tấm biển trước nhà Gif-sur Yvette

Hơn 40 năm trước, tại Ngôi nhà Gros Tilleul này, cố vấn Lê Đức Thọ đã có những cuộc gặp bí mật với Henry Kissinger để bàn về những bước tiến trong đàm phán. Ngôi nhà nhờ đó mà nổi danh khắp thế giới, lúc nào cũng có hàng trăm phóng viên báo chí quây bên ngoài để chụp được những khoảnh khắc dù là nhỏ nhất của cuộc đàm phán lịch sử.Nó càng nổi tiếng hơn khi cách một hàng rào, ở ngôi nhà bên cạnh cũng có những cuộc gặp của một nhóm người Việt bàn cách đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam.

Ngôi nhà kế bên đó là của vợ chồng giáo sư Trần Thanh Vân, nhà vật lý Việt kiều nổi danh với “Gặp gỡ Việt Nam”.

Ngôi nhà Gif-sur Yvette

Là một người tự coi là thế hệ sau, dù thời trẻ cũng từng xuống đường ủng hộ Việt Nam, Bernard Minier thừa nhận rằng ông không biết người ta còn nhớ đến ngôi nhà trong bao lâu nữa. Những hàng chữ trên tấm biển đặt trước cổng ngôi nhà, ghi lại lịch sử gặp gỡ Lê Đức Thọ – Kissinger, dần bạc phếch theo thời gian. Thi thoảng có một vài đoàn Việt Nam và một vài cựu binh Mỹ đến thăm, còn với người dân bản địa, hay chính những người Pháp từng có liên hệ với ngôi nhà này, ký ức cứ nhạt dần.

Ngôi nhà ở  thành phố Verriere-le-Buisson

Dẫu sao, Gros Tilleul, nhờ lịch sử của nó gắn với nhiều người nổi tiếng, như họa sỹ Fernand Léger, nhà thơ André Verdet, và cuộc gặp Lê Đức Thọ – Kissinger, sẽ còn được nhắc đến với diện mạo thưở xưa. Có những nơi, như khách sạn Majestic ở số 19 đại lộ Kleber (quận 16, Paris), nơi diễn ra các cuộc đàm phán 4 bên, đã mãi mãi biến mất. Ở đó, từ cuối năm 2011, tòa nhà đã bị đập đi để sau 2 năm nữa, nơi đó sẽ mọc lên một khách sạn 5 sao tráng lệ với cái tên mới – Peninsula.Chỉ có ở Choisy le Roi là ký ức được giữ lại trọn vẹn nhất. Thành phố từng một thời gian dài được coi là thành trì của đảng Cộng sản Pháp, nơi nhiều đời Thị trưởng là đảng viên Cộng sản. Có lẽ vì thế, Choisy le Roi cũng là nơi có nhiều người vẫn mang nặng tình cảm với Việt Nam.

Ngôi nhà số 11 phố Darthe, nơi phái đoàn VNDCCH đàm phán với phía Mỹ, còn như nguyên vẹn. Khu nhà tập thể, nơi ở của các cán bộ trong phái đoàn cũng không thay đổi gì, ngoài màu sơn. Và một quảng trường mới vừa được hoàn thành mang tên quảng trường “Hiệp định Paris”.

Ở thành phố phía Nam Paris này, 5 năm lưu lại của phái đoàn VNDCCH là quãng thời gian nhiều kỷ niệm và có nhiều số phận gắn bó với nhau từ sự kiện này. Hội hữu nghị Việt-Pháp thành phố Choisy le Roi vẫn hàng năm trao học bổng cho học sinh tiếng Pháp trường tiểu học Nam Thành Công và 2013 cũng được Choisy le Roi chọn là năm Việt Nam của thành phố với nhiều hoạt động chào mừng.

40 năm, vẫn còn sự hiện diện của những con người của lịch sử. Đến 50 năm, có lẽ tất cả họ đều trở thành quá khứ.

Bùi Nguyễn (từ Paris)
vietnamnet.vn

Vâng lời Bác, chúng con lên đường

Đúng 7 giờ sáng ngày 23/01/2013, khi tiết trời Hà Nội còn đang mờ sương buổi sớm, nhưng gần 400 cán bộ, giáo viên, học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự cùng các đại biểu của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có mặt đông đủ trước Lăng Chủ tịch Hồ Chi Minh để tổ chức lễ báo công dâng Bác cho 326 học viên Khoá học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự tốt nghiệp ra trường, chuẩn bị lên đường nhận nhiệm vụ mới.

HVKTQS
Học viên Khoá học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự
báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Buổi lễ báo công dâng Bác hôm nay là nội dung trọng tâm trong chương trình phối hợp giáo dục, tuyên truyền đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh giữa Học viện Kỹ thuật Quân sự và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ký kết từ ngày 19/5/2012. Nooij dung của Chương trình phối hợp giữa Học viện và Bộ Tư lệnh là: “Tất cả các học viên của Học viện Kỹ thuật Quân sự trong dịp khai giảng, mở đầu khoá học mới được vào Lăng viếng Bác; khi kết thúc khoá học ra trường được về Lăng báo công dâng Người”. Đây là nội dung tuyên truyền, giáo dục thiết thực, hiệu quả. Mở đầu khóa học, từng học viên khi về Lăng viếng Bác, như để hứa với Bác sẽ nỗ lực cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của người học viên. Để trước khi tốt nghiệp ra trường, tất cả các học viên về trước Lăng Bác báo cáo với Người kết quả học tập, rèn luyện trong những năm học tại Trường. Đồng thời tiếp tục hứa với Bác sẽ đi bất cứ nơi đâu, nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi Tổ quốc, nhân dân và Quân đội giao phó; phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau lễ chào cờ và lắng nghe những lời căn dặn của Bác đối với Thanh niên, Đại tá Nguyễn Văn Tài, Phó Chủ nhiệm Chính trị Học viện đã trân trọng kính thưa với Bác những kết quả nổi bật trong học tập, rèn luyện của Khóa học 43: Thực hiện mục tiêu đào tạo học viên trở thành người sỹ quan tốt – kỹ sư giỏi – đảng viên mẫu mực, trong gần 6 năm học vừa qua (2007- 2013), toàn thể cán bộ, học viên Khóa 43 đã nêu cao tinh thần đoàn kết, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách, phấn đấu “học tập tốt, rèn luyện kỷ luật nghiêm”, hoàn thành tốt nhiệm vụ của toàn khóa học. Trong số 326 học viên tốt nghiệp ra trường hôm nay có 271 đồng chí (chiếm 83,18%) đạt kết quả Khá, Giỏi. Đồng thời, Khóa học 43 còn dành được 49 giải Olympic, trong đó có 10 giải Nhất và 12 giải Nhì; tiến hành nghiên cứu 130 đề tài khoa học, có 31 đề tài được các cấp khen thưởng và có 322 đồng chí (chiếm 98,78%) được vinh dự trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong niềm vui chung của Học viện và toàn Khoá học 43, có 10 học viên tiêu biểu xuất sắc gồm các đồng chí Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Thị Bảo Yến và Ngô Thị Hòa thuộc Đại đội 143, Tiểu đoàn 1; Phạm Đình Thắng, Trương Quang Lăng và Trần Văn Hiệp thuộc Đại đội 243, Tiểu đoàn 2; Đới Thị Lan, Phạm Thúy Hằng thuộc Đại đội 343, Tiểu đoàn 3 và Đào Duy Tùng, Đỗ Văn Thùy thuộc Đại đội 443, Tiểu đoàn 4 được Học viện Kỹ thuật Quân sự và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Huy hiệu Bác Hồ trước Lăng của Người. Đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Thiện Chất, Phó Chính ủy Học viện Kỹ thuật Quân sự đã gắn cho từng đồng chí Huy hiệu Bác Hồ – phần thưởng cao quý mà lúc sinh thời Người dành tặng cho những gương “người tốt, việc tốt” tiêu biểu.

Đời đời ghi nhớ công ơn của Đảng, của Bác, trực tiếp là những tình cảm quý báu và sự quan tâm giáo dục, rèn luyện của Học viện dành cho các học viên trong những năm học vừa qua, đồng chí Phạm Đình Thắng đã xúc động báo cáo với Bác: “Trong giờ phút trang nghiêm này, chúng cháu xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Đảng, Bác Hồ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cùng các thầy, các cô và các đồng chí nhân viên, chiến sỹ phục vụ trong Học viện đã luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện, giúp đỡ để chúng cháu hoàn thành tốt nhiệm vụ khóa học và trở thành người sỹ quan, người cán bộ khoa học kỹ thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng”.

Kết thúc buổi lễ, các đại biểu cùng toàn thể cán bộ, học viên Khóa học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự kính cẩn dâng vòng hoa: “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại” và vào Lăng viếng Người. Tâm trạng về bên Bác ai cũng bồi hồi xúc động, nhưng đều quyết tâm thực hiện trọn vẹn lời hứa mà đồng chí Phạm Thúy Hằng, học viên Đại đội 343, Tiểu đoàn 3 đã hứa với Bác: “Năm xưa, vâng lời Bác, các thế hệ cha anh đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Nay, vâng lời Bác, chúng cháu sẽ tiếp bước cha anh, lên đường hướng tới mọi vùng miền, biên cương của Tổ quốc, đem sức trẻ, lòng nhiệt huyết và kiến thức đã được Học viện trang bị vào quản lý, khai thác, sử dụng, cải tiến vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật của từng đơn vị, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”./..

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Hiệp định Paris – Dấu son của ngành ngoại giao VN

Quang cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.(Nguồn: qdnd.vn)

Đúng 40 năm trước, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết là kết quả thắng lợi hết sức quan trọng của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Bốn thập kỷ đã trôi qua nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán vẫn luôn in đậm trong ký ức những nhân chứng lịch sử, đồng thời đây cũng là một dấu son không bao giờ phai mờ được ghi vào lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh nói riêng.

Thắng lợi ngoại giao to lớn

Sau thất bại Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ buộc phải ngừng ném bom từ Ninh Bình trở ra phía Bắc và ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại Paris. Cuộc đàm phán giữa đoàn đại biểu Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức bắt đầu ngày 13/5/1968 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở đường Kleber, Paris đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam, đọ sức trên mặt trận ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm”.

Nhớ lại những ngày tháng đấu trí cam go, quyết liệt ấy, ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ, nguyên thành viên Đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa chia sẻ, đó là một trong những hoạt động ngoại giao to lớn, quan trọng của Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, thu hút sự chú ý của dư luận thế giới.

Cuộc đàm phán thể hiện sự đối đầu toàn diện về chiến lược và chiến thuật, bản lĩnh và trí tuệ, đạo lý và pháp lý giữa Việt Nam và Mỹ. Sự kết hợp khôn khéo chiến lược “vừa đánh vừa đàm” của Việt Nam buộc Mỹ phải ra lệnh chấm dứt mọi hành động ném bom đánh phá miền Bắc để đi tới đàm phán bốn bên.

Ông Huỳnh bồi hồi kể lại, mãi đến ngày 27/10/1968, hai bên mới thỏa thuận được tất cả các vấn đề và đến 31/10/1968, Johnson mới ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc. Lúc đó Hà Nội chỉ thị sang cuộc họp bốn bên sẽ không tiến hành trước ngày 6/11/1968.

Do đó, hai đoàn (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ) chuẩn bị hai bản tuyên bố ngắn.

Theo thông lệ, vào phiên họp, đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ưu tiên phát biểu trước. Nhưng lần này, bắt đầu vào phiên họp Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy đã đứng lên tuyên bố bỏ phiên họp.

Ngay sau đó, không một phút chần chừ, Trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam là bà Nguyễn Thị Bình cũng đứng lên đồng tình ủng hộ ý kiến hủy bỏ phiên họp. Hai đoàn ra về nhanh chóng, điều đó làm cho đoàn Mỹ hoàn toàn bất ngờ không kịp phản ứng.

Đây có lẽ cuộc họp ngoại giao ngắn nhất trong lịch sử, ông Huỳnh cho biết.

Ngày đó, chỉ là một cán bộ bình thường tham gia thành viên của đoàn đàm phán nhưng mỗi khi nhớ lại, ông Nguyễn Khắc Huỳnh vẫn cảm thấy tự hào đã được đóng góp công sức cho thời khắc lịch sử ấy, Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi ngoại giao sáng chói, mở ra một chương mới cho nền ngoại giao Việt Nam và cả vận mệnh đất nước.

Qua đàm phán Paris, ngoại giao Việt Nam tiếp thu thêm những ý tưởng mới, hiểu thêm thế giới và các quan hệ quốc tế, tạo thuận lợi cho công tác ngoại giao sau này.

Bằng chất giọng trầm ấm, tuy hơi chậm do tuổi tác nhưng vẫn toát lên khí chất của một cán bộ ngoại giao kỳ cựu, như đang sống lại những thời khắc lịch sử ấy, ông bộc bạch: “Đến ngày 20/10/1972, hai bên đạt thỏa thuận cuối cùng, dự định ký Hiệp định ngày 31/10/1972. Với văn bản Hiệp định hai bên đã thỏa thuận, Việt Nam đã đạt được các mục tiêu đề ra đó là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Tôi và các thành viên trong đoàn đều không thể nào ngủ được vì vui sướng, bởi điều mình chờ đợi rất lâu, nay đã đến. Lúc đó, chỉ muốn báo tin ngay về cho người thân để thốt lên: Việt Nam sắp hòa bình rồi”.

“Tù binh” trong vấn đề tù binh tại đàm phán Paris

Trong văn bản Hiệp định Paris, vấn đề tù binh, nhất là tù binh chính trị trở thành một trong các vấn đề đấu tranh gay gắt nhất. Các quy định chính của Hiệp định Paris năm 1973 đã đáp ứng đúng những yêu cầu cơ bản nhất của nhân dân Việt Nam. Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược ở cả hai miền Việt Nam và rút hết quân đội về nước, song song với việc Việt Nam thả hết tù binh Mỹ.

Với tư cách là người được giao nhiệm vụ phụ trách vấn đề quản lý tù binh Mỹ, ông Trần Tuấn Anh, nguyên Đại sứ, nguyên thành viên Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris, kể lại: “Khi Hiệp định Paris diễn ra, tôi không phải là người đầu tiên đi theo đoàn mà ở lại nhận nhiệm vụ phụ trách vấn đề tù binh ở Hà Nội. Tháng 9/1969, tôi mới sang Paris để nhập vào đoàn đàm phán theo dõi tình hình tù binh.

Sau thời gian 9 tháng, đoàn Việt Nam nhận định hội nghị còn có thể kéo dài, ít chuyển biến, thêm nữa vấn đề tài chính của đoàn lúc này có khó khăn nên tôi đã trở về nước. Đến tháng 11/1972 tôi trở lại Paris và trực tiếp tham gia vào vấn đề đấu tranh trao trả tù binh”.

40 năm đã qua đi, nhưng ký ức xưa vẫn mãi mãi khắc ghi trong tâm khảm của những nhân chứng lịch sử như ông Trần Tuấn Anh. Những lý luận đấu tranh cứng rắn, chắc chắn và quyết liệt, chặt chẽ của Việt Nam về vấn đề tù binh trở thành một trong những giải pháp buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh.

Chính sách nhân đạo đối với tù binh Mỹ của Việt Nam đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, nhất là từ tháng 5/1969, khi chính quyền Nixon khuấy lên rất mạnh vấn đề này. Những hoạt động chủ yếu của chính quyền Nixon dựa vào xuyên tạc và vu cáo.

Nhưng thời gian đầu, họ đã lợi dụng hệ thống thông tin rộng lớn và hiện đại, nhất là vào sự ít hiểu biết về Việt Nam của nhân dân và dư luận Mỹ và đánh lừa được khá nhiều người. Do đó, cuộc đấu tranh của Việt Nam về vấn đề tù binh diễn ra rất gay gắt.

Mục tiêu đấu tranh của Việt Nam là làm thất bại âm mưu thủ đoạn của Mỹ, đề cao chính sách nhân đạo của Việt Nam đối với tù binh Mỹ, làm nổi bật tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.

Điều đó đã làm cho những luận điệu xuyên tạc của Nixon ngày càng mất tác dụng, đồng thời tạo thuận lợi cho lĩnh vực đấu tranh của Việt Nam trong vấn đề tù binh. Chính vì vậy, ở thời điểm đó, các hãng thông tin của Mỹ và dư luận báo chí nhận xét: “Chưa bao giờ Mỹ lại có vẻ bất lực, trơ trụi như bây giờ”, “chính quyền này tự đào hố chôn mình”, “Nixon đã trở thành tù binh của vấn đề tù binh”… ông Trần Tuấn Anh kể.

Khi Hiệp định Paris 1973 bắt đầu có hiệu lực, Việt Nam trao trả tất cả tù binh Mỹ bị bắt vào đúng các thời điểm mà các bên thỏa thuận. Điều đó đã trở thành sức mạnh, tạo sức ép lớn chống lại ý đồ của phía Mỹ tìm cách dây dưa việc rút hết quân đội ra khỏi Việt Nam, nhất là chống lại âm mưu của chính quyền Sài Gòn gây ra những khó khăn, trục trặc để không trao trả hết tù binh của Việt Nam.

Ngày 29/3/1973, diễn ra đợt cuối cùng Việt Nam trao trả tù binh cho Mỹ, đồng thời cùng diễn ra đợt cuối cùng quân đội Mỹ rút hết khỏi miền Nam, đánh dấu việc hoàn thành điều khoản quan trọng nhất của Hiệp định Paris.

Nhờ khéo vận dụng nhiều chính sách và sách lược phù hợp với tình thế ta-địch, với tình hình và luật pháp quốc tế nên Việt Nam đã có những thành công lớn trong việc dùng vấn đề tù binh, trước hết là vấn đề phi công Mỹ bị bắt, trong đấu tranh chính trị và đàm phán với Mỹ, góp phần làm phân hóa nội bộ Mỹ, tạo sức ép trong dư luận và chính giới Mỹ, tạo thế mạnh khi đàm phán kết thúc chiến tranh, buộc Mỹ chấp nhận ký kết Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh và gắn thời hạn rút hết quân Mỹ với thời hạn thả hết tù binh.

Vấn đề tù binh chỉ là một vấn đề cụ thể, một bộ phận của giải pháp. Tuy nhiên đấu tranh thắng lợi trên vấn đề này cũng thể hiện trí tuệ và nghệ thuật đàm phán của Việt Nam , ông Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Trận chiến phối hợp giữa quân sự và ngoại giao

Những ngày này, thành công của Hiệp định Paris 40 năm về trước, một lần nữa lại bừng lên, vẹn nguyên trong ký ức của nguyên Đại sứ, nguyên Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trần Viết Tân.

Ông nhớ lại: “Vào khoảng đầu tháng 12/1969, ông Nguyễn Ngọc Sơn, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Ngoại giao gọi tôi đến phòng làm việc để giao nhiệm vụ mới: Thư ký phái đoàn Chính phủ (phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Tôi nghĩ đây là niềm vinh dự lớn nhưng là một nhiệm vụ rất quan trọng và nặng nề. Sau đó ít ngày, tôi theo đoàn cố vấn Lê Đức Thọ đến Paris.

Đây là chuyến đi nước ngoài đầu tiên đầy ấn tượng, mọi việc đều mới lạ và bỡ ngỡ. Tôi đã nỗ lực cao, đồng thời học hỏi kinh nghiệm của những cán bộ ngoại giao đi trước nên sớm thích nghi với công việc.

Tôi được bố trí vào tổ ngoại giao do đồng chí Phan Hiền, Ủy viên Phái đoàn phụ trách (sau là Bộ trưởng Bộ Tư Pháp) với nhiệm vụ hàng ngày là theo dõi và tập hợp các phát biểu của những nhân vật chính quyền, Quốc hội Mỹ cả hai phái “diều hâu” và “bồ câu” cùng những vị đứng đầu các nước thuộc phe Mỹ liên quan đến giải pháp cuộc chiến tranh Việt Nam. Những tư liệu này để cung cấp cho nghiên cứu giải pháp đàm phán với Mỹ”…

Thời gian làm Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris, có một sự kiện ấn tượng mà ông Tân nhớ như in: “Đó là đầu năm 1971, Mỹ Ngụy mở chiến dịch lấy tên Lam Sơn 719 tại đường 9 Nam Lào nhằm đánh chặn sự chi viện từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam. Quân Việt Nam đánh trả quyết liệt, giành thắng lợi lớn.

Lúc này tại Paris, Trưởng phái đoàn Việt Nam nhận định địch thua nặng ở chiến trường, tại phiên họp bốn bên ngày hôm sau sẽ có phản ứng, có thể phía Mỹ sẽ chuyển văn bản, xuyên tạc tình hình, vu cáo Việt Nam và chuyển qua đường thư ký. Trưởng Đoàn Việt Nam chủ trương không nhận văn bản của phía Mỹ.

Đúng như dự đoán, ngày hôm sau, vào hội nghị, trước lúc Trưởng đoàn Mỹ phát biểu, Thư ký Mỹ David Angel ngồi đối diện đẩy văn bản sang phía tôi. Như một phản ứng tự nhiên, tôi lập tức đẩy trả lại. Việc “đẩy-trả” diễn ra 2-3 lần. Nhận thấy cách đó không xong, David Angel đã phát biểu phê phán thư ký đoàn Việt Nam không nhận văn bản.

Sự việc trên cho thấy phía Việt Nam đã phán đoán rất đúng âm mưu của đối phương. Điều đó cũng thể hiện cách xử lý linh hoạt nhưng kiên quyết của phái đoàn Việt Nam trong đấu tranh giành từng chút thắng lợi, để đạt được thắng lợi cuối cùng trên bàn đàm phán. Ông Trần Viết Tân tâm đắc: “Đây là trận chiến phối hợp đẹp mắt giữa quân sự và ngoại giao, giữa chiến trường và bàn hội nghị !”./.

Nguyễn Hồng Điệp (TTXVN)
vietnamplus.vn

Chuyện người Xôviết mừng chiến thắng của Việt Nam

Nhân dân Liên Xô míttinh tại các nhà máy của Liên Xô ủng hộ Việt Nam, lên án đế quốc Mỹ xâm lược.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tôi nhớ lại một chuyện có liên quan trực tiếp đến sự kiện lịch sử này trong số muôn vàn sự kiện, kỷ ức về những người xôviết đã kề vai, sát cánh với chúng ta trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Những năm tháng chúng ta kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Liên Xô đã ủng hộ, giúp đỡ vô cùng chí tình và hiệu quả. Mỗi người xôviết đều dõi theo những tin tức thời sự về Việt Nam, trăn trở lo lắng cho số phận những thành phố, làng mạc, những người dân Việt Nam trong mưa bom, bão đạn của Mỹ. Người xôviết cũng rất tự hào về mỗi thắng lợi của quân và dân ta. Và trong mỗi người xôviết luôn luôn cháy bỏng khát vọng hòa bình cho Việt Nam.

Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973 đánh dấu việc chúng ta đã “đánh cho Mỹ cút.” Chúng ta rất hiểu, đây mới chỉ là một bước, để đi đến hòa bình và thống nhất đất nước thì chặng đường tiếp theo còn lắm chông gai. Nhưng với dư luận Liên Xô thì việc ký kết Hiệp định Paris đã là một kỳ tích.

Cuộc chiến quá khốc liệt, qua phương tiện truyền thông đại chúng, người xôviết cảm giác Việt Nam có thể bị hủy diệt, bị đẩy trở lại thời kỳ đồ đá! Cho nên, Hiệp định hòa bình Paris như trút bỏ được gánh nặng lo âu cho vận mệnh của nhân dân Việt Nam trong trái tim mỗi người xôviết. Người dân Liên Xô, tùy theo hiểu biết và tính cách của mình, đã có cách biểu hiện khác nhau, nhưng ai nấy đều hân hoan hạnh phúc trước thắng lợi lịch sử của Việt Nam.

Tôi nhớ rõ buổi sáng hôm đó – sáng Chủ Nhật 28/1/1973. Mùa Đông Nga. Rét đậm. Tôi là sinh viên năm thứ nhất Khoa Báo chí Đại học Tổng hợp quốc gia Mátxcơva mang tên Lomonosov. Chúng tôi ở khu ký túc xá 5 tầng trên đại lộ Míttrurinxki.

Còn ngon giấc, tôi và ba bạn sinh viên Nga ở cùng phòng bỗng nghe tiếng đập cửa rầm rầm và tiếng bà lao công ở tầng 3 của chúng tôi la hét gì đó rất lạ! Đang ngái ngủ, chúng tôi cứ tưởng bà chửi mắng ai đó. Bởi thường ngày bà rất hay bực bội, cáu gắt do đám sinh viên chúng tôi nhiều khi vứt rác bừa bãi, làm vương vãi nước khắp sàn bếp, khắp hành lang khiến bà phải lau chùi, dọn dẹp vất vả.

Chúng tôi định cứ trùm chăn đánh bài “lờ,” vì hôm đó không đi học. Với lại chúng tôi nghĩ, ngày Chủ Nhật thì bà lao công chẳng có “phận sự” gì ở ký túc xá cả! Nhưng bà cứ đấm cửa, cứ kêu ầm lên. Rồi chúng tôi cũng nghe được hai tiếng “Việt Nam,” “Việt Nam ơi”… Tưởng rằng bà gọi tôi ra để mắng nhiếc, cẩm thấy không thể “trốn thoát” nên tôi đành vùng dậy mở hé cửa xem sự tình ra sao. Tôi vừa ló đầu ra thì bà lập tức ôm lấy đầu tôi, miệng liếng thoắng “Con trai ơi, hòa bình rồi, hòa bình rồi nhé!”

Rồi bà tiếp tục nói toáng lên “Ơn trời, lạy trời, mọi chuyện kết thúc rồi!”… Thực tế là lúc đó tôi chưa hiểu ra ngô khoai chuyện gì, bởi mới năm thứ nhất đại học thì trình độ tiếng Nga của tôi còn xoàng lắm, mà bà lao công thì la hét, tỏ ra hết sức xúc động. Trong khi tôi còn ngẩn tò te thì ba bạn sinh viên Nga ở chung phòng đã hiểu ra mọi chuyện, họ cũng bật dậy luôn và mở cửa cho bà vào hẳn trong phòng.

Bà run run kể, sáng nay vừa nghe đài, biết ở Paris đã ký kết hiệp định, chiến tranh chấm dứt rồi, hòa bình đến rồi, Việt Nam thanh bình rồi. Bà lại ôm lấy tôi, luôn mồm “con ơi,” “con ơi” (cынок, cынок), vỗ vỗ vào vai, vào lưng tôi rồi giàn giụa nước mắt. Bà lay lay vai tôi, chúc mừng, sung sướng không tả xiết, mộc mạc, chân tình… Bà nói, hôm nay ngày nghỉ nhưng vội vàng đến ngay ký túc xá để “chúc mừng chúng mày, chúc mừng các con.”

Các bạn Nga cùng phòng lúc đó cùng quay sang nắm tay tôi nồng nhiệt chúc mừng chiến thắng, mừng Việt Nam hòa bình… Một lát sau, bà lao công trở ra, đi dọc hành lang, đấm đấm vào cửa những phòng khác, kêu rất to “Việt Nam hòa bình rồi!..”.

Những giờ sau, những ngày sau đó của năm 1973 và sau này, ngày 30 tháng 4, ngày 1 tháng 5 năm 1975, chúng tôi, những sinh viên Việt Nam trên đất nước xôviết, đã sung sướng và tự hào tiếp nhận muôn vàn lời chúc mừng của bạn bè, thầy cô, của những người dân xôviết về chiến thắng vĩ đại của chúng ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Người xôviết coi đó là thắng lợi chung, một thắng lợi mà họ đã có phần đóng góp bằng tâm hồn, trí tuệ, bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu của mình./.

Nguyễn Đăng Phát (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Hiệp định Paris: Yếu tố góp phần tạo nên chiến thắng

Đại sứ Dương Văn Quảng trả lời phỏng vấn phóng viên. (Ảnh: Lê Hà-Nguyễn Tuyên/Vietnam+)

Cách đây 40 năm, khi còn là một thanh niên 22 tuổi sang Pháp du học, ông Dương Văn Quảng đã được sống và chứng kiến những ngày tháng không thể nào quên về cuộc đàm phán tiến tới việc ký kết Hiệp đinh Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Hôm nay nhìn lại sự kiện lịch sử này, Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO, đã từng giảng dạy Chính sách đối ngoại của Việt Nam tại Học viện Ngoại giao, dành cho phóng viên TTXVN tại Pháp bài phỏng vấn nêu bật về ý nghĩa của sự kiện cùng những thuận lợi và khó khăn cũng như nhân tố không thể thiếu tạo nên chiến thắng ngày hôm nay.

– Xin chào đại sứ Dương Văn Quảng. Xin đại sứ cho biết ý kiến đánh giá về ý nghĩa lịch sử của việc ký kết Hiệp định Paris đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong những năm 1968-1972?

Đại sứ Dương Văn Quảng: Theo tôi, muốn đánh giá hết ý nghĩa của việc ký kết Hiệp định Paris cần đặt nó trong bối cảnh đối đầu giữa ta và Mỹ cách đây 40 năm.

Thứ nhất, việc ký kết Hiệp định Paris là một bước ngoặt quyết định cho những sự kiện diễn ra sau đó. Hiệp định đã hội tụ đủ các điều kiện kể cả về chiến lược, quân sự, chính tri, lẫn ngoại giao cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1975.

Thứ hai, cần nhấn mạnh rằng việc ký kết Hiệp định Paris thể hiện rất rõ một quyết định đúng đắn về mặt chiến lược của Việt Nam. Đó là ta đã lựa chọn và thực hiện “chiến lược giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn” trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao.

Thứ ba, cần nhấn mạnh nghệ thuật “vừa đánh vừa đàm.” Chúng ta phải thực hiện phương châm này là bởi chúng ta không thể đánh thắng Mỹ một cách tuyệt đối trên chiến trường. Vì vậy, chúng ta phải có cách đánh và cách thắng Mỹ phù hợp.

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Việt Nam đã biết cách xây dựng ngoại giao thành một mặt trận và đây là một sự sáng tạo. Ngoại giao đã thể hiện được vai trò chủ động của mình, góp phần quan trọng tiến tới kết thúc cuộc chiến tranh một cách thuận lợi nhất.

Như vậy, nghệ thuật “vừa đánh vừa đàm” là sự kết hợp hài hòa hai yếu tố quân sự và ngoại giao, nói cách khác, ngoại giao “không gây khó dễ” cho chiến trường và ngược lại, các hoạt động quân sự trên chiến trường không phá vỡ thế đàm phán trên bàn hội nghị.

Hiệp định Paris còn có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng nữa; đó là nó quy định các điều khoản liên quan đến chính trị, đến các lực lượng chính trị, tổng tuyển cử và việc thành lập cơ cấu chính quyền tại Miền Nam Việt Nam. Nói tóm lại, các diễn biến lịch sử cách đây 40 năm cho thấy Hiệp định Paris đã tạo mọi tiền đề để chúng ta kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào năm 1975.

– Thưa đại sứ, sau 40 năm nhìn lại, theo ông đâu là những khó khăn và thuận lợi đối với Việt Nam khi tiến hành các cuộc đàm phán song phương và đa phương và vai trò của phía Pháp đối với các cuộc đàm phán này như thế nào?

Đại sứ Dương Văn Quảng: Để làm rõ câu hỏi này, chúng ta cần đặt quá trình đàm phán trong bối cảnh lịch sử của quan hệ quốc tế và của mối quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác chính và trong bối cảnh quan hệ giữa các nước lớn thời kỳ đó cũng như quan hệ trong nội bộ từng khối.

Thứ nhất, trong những thập niên 60-70, về đại thể thế giới chia thành hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, và trật tự thế giới khi đó là trật tự hai cực mang tính đối kháng trên mọi khía cạnh: về ý thức hệ, về lợi ích lẫn về cách tiếp cận các vấn đề quốc tế.

Thứ hai, mỗi phe lại có những xu hướng “ly tâm,” có những đối tượng không chấp nhận vai trò lãnh đạo của Mỹ hoặc của Liên Xô. Chẳng hạn, lịch sử cho thấy Pháp là nước đã tự mình xây dựng một lực lượng hạt nhân độc lập, không muốn phụ thuộc ô hạt nhân của Mỹ và thực hiện một chính sách đối ngoại độc lập.

Phe xã hội chủ nghĩa cũng có những đối tượng thể hiện xu hướng ly tâm, ví dụ trường hợp của Nam Tư và đặc biệt là mâu thuẫn Xô-Trung. Vì thế, Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt khi mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm” trong một bối cảnh quốc tế rất phức tạp.

Nhưng Việt Nam có nhiều thuận lợi nhất định khi thế giới được chia thành hai phe: mặc dù có mâu thuẫn Xô-Trung và những bất đồng trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã thành công trong việc vận động, tập hợp được tất cả lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Do hành động xâm lược của Mỹ là phi nghĩa, Việt Nam đã tạo dựng được một mặt trận nhân dân thế giới phán đối chiến tranh của Mỹ. Đây là một sáng tạo của ngoại giao Việt Nam và vai trò của ngoại giao nhân dân thời kỳ đó là vô cùng quan trọng.

Nhìn vào lịch sử quan hệ quốc tế giai đoạn đó, quan hệ Mỹ-Xô-Trung rất phức tạp và cả ba nước đều tìm cách tận dụng nhau vì lợi ích của mỗi nước. Do vậy, thái độ và cách tính toán của Liên Xô và Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta thay đổi theo thời cuộc, tùy thuộc một phần vào quan hệ của mỗi nước đối với Mỹ.

Năm 1972 là “năm đỉnh điểm của hòa hoãn” giữa ba cường quốc này. Điều đó đã tác động tiêu cực đến tiến trình đàm phán Hiệp định Paris. Năm 1972,Tổng thống Mỹ Nixon đã đi thăm Trung Quốc và “Tuyên bố Thượng Hải” đã gây ra những hậu quả và tác động lâu dài đến tiến trình cách mạng Việt Nam.

Trên đây là một vài yếu tố khách quan thuận lợi và khó khăn tác động đến cuộc đàm phán Paris lâu dài và khó khăn giữa ta và Mỹ. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ rằng yếu tố quyết định chính là chính sách độc lập tự chủ của chúng ta.

Việt Nam đã lựa chọn, xác định rõ quan điểm độc lập tự chủ trong suốt quá trình đấu tranh giải phóng đất nước. Việt Nam đã biết mở ra cuộc chiến tranh, tiến hành chiến tranh và cũng biết kết thúc chiến tranh, biết đánh bằng quân sự, biết đánh bằng chính trị và biết đánh bằng ngoại giao.

Tất cả các yếu tố này đã được hội tụ để mang lại thành công cho cuộc đàm phán Paris nói riêng và cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nói chung.

Nước Pháp, trong vai trò tiếp nhận hội nghị và quá trình đàm phán dài hơi này, là một nước lớn thuộc phe tư bản chủ nghĩa và Pháp có một chính sách đối ngoại độc lập. Vì vậy cả Việt Nam và Mỹ đều đã chấp nhận việc Chính phủ Pháp tuyên bố sẵn sàng đón nhận Hội nghị tại Paris.

Khách quan mà nói, việc đồng ý tiến hành đàm phán tại Paris là một lựa chọn đúng của cả hai phía. Paris đã cho thấy một lợi thế mà các nơi khác không thể có được cho việc tổ chức một hội nghị quốc tế dài hơi như vậy. Nếu thiếu các điều kiện khách quan như vậy, rõ ràng Hội nghị Paris khó có thể đi đến kết cục tốt đệp như ta đã chứng kiến.

– Trong suốt quá trình đàm phán, Việt Nam đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ của các bạn bè Pháp, nhất là từ Đảng Cộng sản Pháp, và của cộng đồng người Việt tại Pháp. Ông đánh giá thế nào về vấn đề này?

Đại sứ Dương Văn Quảng: Về quốc tế, Việt Nam đã đã tạo dựng được một mặt trận nhân dân thế giới, đoàn kết tất cả các lực lượng chính trị tiến bộ trên thế giới, kể cả những thành phần không thuộc phe cộng sản hoặc thậm chí không ưa cộng sản, ủng hộ của đấu tranh chính nghĩa của mình. Ví dụ như Tòa án Quốc tế Bertrant Rousselle được lập ra nhờ những trí thức nổi tiếng , điển hình là ông Bertrant Rousselle, người Thụy Điển và ông Jean Paul Sartre, một nhà triết học Pháp nổi tiếng.

Về nơi diễn ra hội nghị, theo tôi, Paris hội tụ được ba điều kiện mà không thể tìm thấy ở các thủ đô khác. Đó là Paris có cộng đồng người Việt đông đảo luôn ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc, trong đó có rất nhiều sinh viên đi từ Miền Nam sang Pháp du học, thậm chí được hưởng học bổng của Chính quyền Sài Gòn.

Tại Pháp, họ đã nhận rõ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đã gia nhập phong trào của người Việt Nam yêu nước. Vì vậy, đóng góp của cộng đồng người Việt tại Pháp là vô cùng to lớn.

Thứ hai cần nhắc đến là vai trò của Đảng Cộng sản Pháp (PCF), một lực lượng chính trị rất mạnh ở Pháp lúc bấy giờ. Ngoài sự giúp đỡ vật chất rất to lớn mà PCF dành hai đoàn Việt Nam tham gia đàm phán, PCF có vai trò tích cực trong việc tập hợp các lực lượng chính trị và nhân dân Pháp ủng hộ các cuộc kháng chiến của ta và phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. PCF còn là cầu nối giữa Việt Nam và Pháp vì hai nước lúc bấy giờ chưa có quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ.

Nguyên nhân khách quan thứ ba cần phân tích là vai trò của dư luận. Không ở đâu có khả năng tập hợp dư luận và thông tin một cách nhạy bén như ở Paris, nơi có thể ví là đầu não của thông tin của thế giới lúc bấy giờ.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam luôn chiếm gần như một nửa thời lượng thông tin thời sự thế giới, đặc biệt là giai đoạn cuối của tiến trình đàm phán Hiệp định Paris.

Thực tế, Việt Nam đã tận dụng được Paris như là một đầu não thông tin quốc tế để tuyên truyền tính chính nghĩa của chiến tranh giải phóng dân tộc và tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, tập hợp lực lượng và dư luận của nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam.

Ngoài khía cạnh văn hóa và nghệ thuật, Paris luôn là đầu mối thông tin của thế giới và vì vậy, với tất cả những kinh nghiêm có được trong cuộc đàm phán Paris, nếu chúng ta tận dụng được Paris làm điểm tuyên truyền, truyền bá hình ảnh đất nước sẽ là bài học rất hay cho chúng ta hiện nay.

– Xin cám ơn Đại sứ!

Lê Hà-Nguyễn Tuyên/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Biệt thự lưu giữ kỷ niệm về đàm phán hòa bình VN

Chúng tôi tới thăm ngôi nhà số 49, nay là số nhà 17 phố Cambacérès, Verrières-le-Buisson, ngoại ô thủ đô Paris, Pháp.

Nay đã trở thành một di tích lịch sử gắn liền với thời gian gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán 4 bên (Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa) tiến tới việc ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, tại Paris ngày 27/1/1973.

Vì giá trị lịch sử của nó, ngày 13 tháng 10 năm 2012, Tòa thị chính thành phố Verrières-le-Buisson phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và các bạn bè Pháp đã gắn biển di tích lịch sử cho ngôi nhà.

Tấm biển mang tên: “Nơi đây, từ năm 1968 đến 1973, Đoàn đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời Miền nam Việt Nam đã lưu trú để tham gia các cuộc đàm phán và ký Hiệp định Paris về Hòa bình, ngày 27/1/1973”. Ngôi nhà này do các bạn Pháp là thành viên Đảng cộng sản Pháp khi đó giới thiệu cho phía Việt Nam thuê.

Nơi đó, cách đây 40 năm, bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lúc đó (sau này là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, cùng một số thành viên trong đoàn tùy tùng, từng lưu trú từ năm 1968 đến năm 1973, để tham gia các cuộc đàm phán bên lịch sử tiến tới ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Với sự giúp đỡ của ông bà Pierre Gueguen, khi đó còn là thành viên lực lựơng an ninh, kể cho chúng tôi nghe lịch sử của ngôi nhà và giúp chúng tôi có được một cuộc du ngoạn xung quanh ngôi nhà.

Dù dưới cái lạnh giá của mùa đông, cây cối và hoa xung quanh nhà đã rụng hết lá và trơ lại những cành khẳng khiu, nhưng cảnh quan nơi đây vẫn tạo cho ngôi nhà vẻ đẹp nên thơ vốn có của nó.

Kiến trúc của ngôi nhà dường như không hề thay đổi, chỉ có phía trước của ngôi nhà được sửa lại một chút cho phù hợp với nhu cầu người chủ mới (ông bà Pierre Bertaud) và một lớp sơn mới được quét lên bên ngoài cũng không làm nó mất đi vẻ cổ kính của nó với sự đổi thay của thời gian.

Ngôi nhà nằm trên một khu đất cao, với một khu vườn rộng bao quanh được trồng rất hoa, cây cảnh, cây ăn quả, cây cổ thụ và được điểm thêm vài bức tượng của các nhà điêu khác nổi tiếng của Pháp.

Sau nhiều cuộc hẹn gặp và được sự đồng ý của chủ nhà, ông bà Pierre Bertaud, (đang làm việc tại Paris), chúng tôi mới vào thăm được bên trong ngôi nhà đó, cùng với sự hướng dẫn ông Trịnh Ngọc Thái, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam, Chủ tịch câu lạc bộ giao lưu văn hóa, kinh tế quốc tế và Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt-Pháp, khi đó là trợ lý của ông Xuân Thủy, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Miền Bắc Việt Nam) và ông Lê Đức Thọ là cố vấn đặc biệt.

Ông nói trở lại đây bốn mươi năm sau xa cách, ngôi biệt thự này đã gợi nhớ lại trong ông lại những kỷ niệm không thể nào quên trong suốt gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán, mà theo ông là cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam cũng như trên thế giới.

Ông cho biết, khi đó ông là thành viên của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự hội nghị 2 bên với đoàn đại biểu Mỹ do ông W. Averell Harriman, nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ dẫn đầu. Hội nghị diễn ra ngày 13/5 đến ngày 1/11/1968 tại phố Kléber tại Paris, bàn việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam nói chung, trước hết đòi phía Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện chiến tranh ở phía Bắc Việt Nam.

Sau đó đến ngày 25/1/1969, mới diễn ra cuộc đàm phán 4 bên với sự tham gia (thêm) của đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam do ông Trần Bửu Kiếm dẫn đầu.

Đến tháng 6/1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam mới thành lập. Bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền nam Việt nam tham dự hội nghị 4 bên này tại Paris. Ngôi biệt thự trở thành ngôi nhà mang dấu ấn lịch sử của cách mạng Việt Nam – nơi bà Bình đã lưu trú và làm việc.

Ông Phạm Ngọc Thái không khỏi xúc động trước cảnh quan hầu như không đổi thay của nơi đây và cho biết cổng ô tô vào tòa nhà vẫn ở bên tay phải, hai khu nhà chính và phụ cách nhau bằng một cái sân không lớn lắm với bãi cỏ xanh mướt bao quanh…

Đi qua cửa chính vào nhà là một hành lang ngắn dẫn đến phòng khách – chính nơi bà Nguyễn Thị Bình thường tiếp ông Nguyễn Đức Thọ, ông Xuân Thủy hay các đoàn khách quốc tế, bạn bè Pháp.

Trên gác là buồng ngủ của bà Nguyễn Thị Bình và phòng làm việc vẫn được bài trí như khi xưa, chỉ có bộ bàn ghế (salon) là mới và hiện đại một chút nhưng vẫn làm cho không gian của phòng khách giữ được sự sang trọng, lịch sự và ấm áp.

Tần ngần đứng trước dãy nhà cấp bốn phía sau khi đi qua cái sân nhỏ cách với với ngôi nhà chính, ông Thái cho biết thêm đây chính là nơi làm việc và chỗ nghỉ của anh em bảo vệ, lái xe.

Phòng điện đài nằm ngay bên tay trái vẫn còn như nguyên vẹn không gian và dáng vẻ của nó (nay đã trở thành nhà kho). Nơi trước đây đã từng phát đi những tin tức quan trọng góp phần không nhỏ tạo nên chiến thắng hôm nay.

Ông Trịnh Ngọc Thái nhấn mạnh đến vị trí của ngôi nhà nằm cạnh một hồ nước không lớn lắm, được thả cá, có thiên nga bơi lội và một hàng liễu trồng xung quanh thướt tha rủ xuống soi bóng trên mặt nước – mang tên Hồ Cambacérès.

Theo ông, chính những cảnh quan này đã mang đến cho ngôi nhà vẻ đẹp và sự hài hòa khó quên. Nhất là, nơi đây mãi mãi là nơi lưu giữ những kỷ niệm không thể nào quên đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc nói chung và trong cuộc đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định Paris nói riêng.

Ông nhấn mạnh “không gian và khung cảnh nên thơ này đã giúp cho bà Nguyễn Thị Bình, có được giờ phút thư giãn và đưa ra được nhiều ý tưởng, sáng kiến mới và những suy nghĩ mang tính thuyết phục hơn”.

Cũng tại ngôi biệt thự này, nhiều phương án đã được đưa ra được nhằm cụ thể hóa đường lối chính trị của Bộ chính trị đã đề ra.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, ông không quên nhắc đến những thuận lợi và khó khăn trong suốt qua trình diễn ra các cuộc đàm phán công khai cũng như bí mật, nhiều khi gần như dẫn đến bế tắc, nhất là khi cuộc đàm phán diễn ra vào đầu tháng 12/1972, là lúc đế quốc Mỹ leo thang ném bom B52 xuống Miền Bắc. Nhưng với chiến thắng vang dội của quân và dân Việt Nam trước những “pháo đài bay trên không” của Mỹ đã kéo Mỹ trở lại cuộc đàm phán với Việt Nam.

Lý giải về thắng lợi tiến đến ký kết Hiệp định Paris về hòa bình ở Việt Nam, ông Trịnh Ngọc Thái trở nên sôi nổi hắn lên cho biết Việt Nam đã thành công là vì biết kết hợp đấu tranh trên nhiều mặt trận vừa đánh vừa “đàm”, có nghĩa phải kết hợp nhiều mặt trận như trên bàn hội nghị, trên chiến trường, mặt trận ngoại giao, kết hợp với phong trào chính trị ở miền Nam và vận động, tranh thủ sự ủng hộ các bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Không chỉ nhớ lại những công việc, cùng những kỷ niệm đã gắn bó ông với nơi này, khi cùng làm việc với bà Nguyễn Thị Bình – “nhà thương lượng tài ba” của Việt Nam, ông luôn nhắc đến những tình cảm và sự ủng hộ cao đẹp của các bạn bè Pháp đã dành cho đoàn Việt Nam khi đó. Thường các bạn Pháp giữ vai trò bảo vệ an ninh vòng ngoài tại các nơi ở và làm việc của đoàn Việt nam.

Nói đến chiến thắng này, ông ngậm ngùi nhớ đến những anh em, đồng chí, bạn bè ở Miền Nam, Miền Bắc không còn nữa, họ ra đi để lại trong lòng ông những ấn tượng và tình cảm sâu nặng, như ông Đinh Bá Thi, bà Nguyễn Thị Trơn, cô Bình Thanh – thư ký riêng của bà Bình, anh Lê Văn Tư, anh lý Văn Sáu,… những người cốt cán trong đoàn đại biểu chính phủ của cách mạng lâm thời Miền nam Việt nam, và trong đoàn miền Bắc như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Minh Vỹ, Phan Hiền, Nguyên Cơ Thạch, Trần Công Tường,…

Tất cả họ là những người đã có nhiều đóng góp và hy sinh cho thành công của Hội nghị Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam. Họ là những người có nhiều gắn bó với bà Bình trong suốt thời gian tham gia phục vụ Hội nghị.

Về nhần mình, ông Pierre Bertaud, chủ nhà cho biết ông rất vinh dự được sống tại ngôi nhà có giá trị lịch sử như vậy. Trước khi mua nó, ông đã biết nơi đây bà Nguyễn Thị Bình đã ở. Bà là nhà “thương lượng tuyệt vời của Việt Nam về hòa bình”.

Ông cho biết ông cũng là con người của hòa bình và ông luôn ủng hộ điều đó. Theo ông, sự “kiên trì ” của Việt Nam đã trở thành một bài học đối với ông trong quá trình “thương thuyết”./.

Lê Hà-Nguyễn Tuyên/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn