Thư viện

Chùm ảnh đẹp về ao cá Bác Hồ

 

Trong những ngày đầu hè, khách thập phương về viếng Lăng Bác rất đông. Mọi người đều ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của ao cá Bác Hồ.

ao ca 1

Trước kia, sau giờ làm việc, ngày nào Bác cũng ra cầu ao gọi cá cho ăn. Những con trắm, con chép, con mè… dần quen với những tiếng vỗ tay của Bác.

ao ca 2

Ao cá có diện tích 3.320m², sâu 3m, với nhiều loài cá được thả tại đây. Ao cá có khoảng 5 tấn cá các loại.

ao ca 3

Ao cá Bác Hồ hiện có 20 loài cá sinh sống. Chiếm đa số là loại chép vàng, cá mè…

ao ca 4

Cây Bụt mọc quanh ao cá cũng tạo được ấn tượng và sự tò mò với nhiều người khi mới tới đây lần đầu.

ao ca 5

Những cây liễu mùa đơm hoa đang rủ xuống mặt nước làm cho ao cá càng trở lên đẹp và thơ mộng hơn.

ao ca 6

Ao cá Bác Hồ đang là một trong những địa điểm thu hút được rất đông khách du lịch tới thăm. Tới đây khách du lịch tìm được nét thanh bình và thích thú với những đàn cá trong ao.

ao ca 7

ao ca 8

TheoTrần Kháng /giaoduc.net
Kim Yến(st)
bqllang.gov.vn

 

Xúc động người lính mù vẽ 3.000 bức chân dung Bác

Những ngày cuối cùng trên chiến trường giải phóng miền Nam cũng là lúc Đại tá, họa sĩ Lê Duy Ứng trúng mảnh đạn vào mắt và bị mù. Tìm lại ký ức qua hình ảnh vị Chủ tịch kính yêu, họa sĩ Ứng đã vẽ hơn 3.000 bức tranh ký họa Bác.

Họa sĩ Lê Duy Ứng sinh năm 1947 tại thôn Cổ Hiền, xã Hiền Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ông là Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam. Năm 1971, khi đang học năm thứ 3 trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, ông đã tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam thuộc đơn vị C20, E101, F325, Quân đoàn II, trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Bình Trị Thiên.

Ngày 28/4/1975, ông tham gia đoàn quân giải phóng tiến vào Sài Gòn với nhiệm vụ ghi chép hình ảnh quân ta chiến đấu. Khi đến căn cứ Nước Trong, ngoại vi Sài Gòn, ông bị thương vào mắt, tỉnh dậy, trước mắt ông là một màu đen tối. Giữa sự sống và cái chết, ông đã nghĩ đến Bác Hồ, dồn hết tâm lực, ông dùng ngón tay và dòng máu chảy ra từ đôi mắt vẽ chân dung Bác Hồ và ghi dòng chữ “Ánh sáng niềm tin! Con nguyện dâng Người tuổi thanh xuân”.

Sau khi bị thương ở mắt, phải trải qua 2 cuộc phẫu thuật ghép giác mạc, mắt khi sáng, khi mờ đục, có lúc tối hẳn. Nhưng niềm tin luôn đi theo họa sĩ Lê Duy Ứng, thôi thúc ông sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật. Đề tài Bác Hồ và chiến tranh cách mạng luôn là nguồn cảm hứng vô tận trong sáng tác của ông. Đến nay, ông đã có hơn 3.000 bức tranh ký họa chân dung Bác Hồ, gần 200 tác phẩm điêu khắc, hơn 2.000 ký họa về chiến trường , trong đó có 500 bức ký họa về chiến trường Quảng Trị; gần 50 cuộc triển lãm cá nhân và nhiều giải thưởng Mỹ thuật trong nước và quốc tế.

Xuc dong 1Đại tá, họa sĩ Lê Duy Ứng

Là thương binh hạng 1/4, đến nay đôi mắt gần như mù lòa, nhưng vượt lên chính mình, Đại tá, họa sĩ Lê Duy Ứng vẫn không ngừng sáng tạo. Gặp ông tại triển lãm “Tranh, tượng chủ đề về Chủ tich Hồ Chí Minh và ký họa chiến trường” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên – Huế ngày 18/5, ông vui cười bảo: “Chú chỉ được gặp Bác Hồ 1 lần. Sau khi bị thương ở mắt, chú dùng trí nhớ của mình để sáng tác nên những tác phẩm về Bác”.

Với chất giọng vui tươi hóm hỉnh, nụ cười luôn ở trên môi và một tinh thần rất lạc quan, họa sĩ Ứng nói: “Cháu hãy đi xem hết tranh của chú để cảm nhận thời chiến tranh khốc liệt của nước ta vì một mục đích giải phóng đất nước lớn lao. Những người thời chú gặp tuy có người còn người mất nhưng tất cả đã được chú thể hiện trong tranh để kỷ niệm một thời chiến đấu hào hùng vì dân tộc. Hãy sống tốt cháu nhé!”.

Có thể khó nói hết những cảm nhận của tôi khi xem phòng tranh về Bác và chiến trường ác liệt. Chỉ cảm thấy trong lòng quá đỗi tự hào với nhiều bức ký họa rất chân thực và sống động khắc ghi hình ảnh Bác Hồ và nhiều nét chấm phá khắc họa được toàn cảnh những trận chiến oanh liệt, những ngày đói khổ thắm tình đồng đội của quân dân ta trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống đế quốc, thực dân. Họa sĩ Ứng đã dùng tranh thay lời diễn tả hết sức cặn kẽ một quá trình của đất nước. Tranh ông không lẫn vào đâu được bởi vì nó được sáng tác trong rừng, dưới hầm công sự, trong giờ nghỉ hiếm hoi và cả quãng đời mù lòa trong thời bình.

Hãy cùng xem và cảm nhận những nét cọ tài hoa của người nghệ sĩ một đời trọn tâm huyết với Đảng.

xuc dong 2
Chân dung Bác Hồ vẽ bằng máu trong chiến đấu của họa sĩ Lê Duy Ứng vẽ ngày 28/4/1975

xuc dong 3
Tượng Bác trên đỉnh Trường Sơn

xuc dong 4
Bác Hồ với thiếu nhi (màu nước – 1973)

xuc dong 5
Bác Hồ với chiến sĩ miền Nam (màu nước -1971) – đây là những bức tranh vẽ trước khi
họa sĩ Ứng bị mảnh bom vào mắt

xuc dong 6
Bác đi câu cá (vẽ năm 1990, thời điểm họa sĩ Ứng đã bị mù lòa)

xuc dong 7
Đêm nay Bác không ngủ

xuc dong 8
Phút nghỉ chân bên suối

xuc dong 9
Bác và các chiến sĩ

xuc dong 10
Được gặp Bác

xuc dong 11
Chân dung Bác

xuc dong 12

xuc dong 13

Những cảnh sinh hoạt của Bác.

Theo Đại Dương/ Báo Dân trí
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ qua tranh cổ động độc đáo, xúc động

Nhân dịp kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phóng viên Hà Thành, Báo điện tử TS đã thực hiện 9 bức tranh cổ động, nêu lại khái quá trình Người tìm đường cứu nước và trở thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

logo 1
Bức tranh vẽ bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh

 logo 2
Ngày 5/6/1911, chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành, lấy tên là Văn Ba, từ bến Sài Gòn, theo tàu buôn Latouche – Treville vượt biển sang Pháp, bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước. Sau này, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi cuộc ra đi của chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành là “Người đi tìm hình của nước”.

logo 3
Năm 1920, khi đã đổi tên thành Nguyễn Ái Quốc, người đã đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lenin, từ đó, Người đi theo chủ nghĩa Cộng Sản và lấy đó làm kim chỉ nam cho đường lối cách mạng của Người
và dân tộc về sau

logo 4
Ngày 13/8/1942, Người lấy tên là Hồ Chí Minh, sang Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Hoa Dân Quốc. Ngày 29/8/1942, Người bị Trung Hoa Dân Quốc bắt và giam hơn một năm, trải qua 30 nhà tù. Thời gian này,
Người đã viết “Nhật ký trong tù”.

logo 5
Ngày 2/9/1945, Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa.

75288553-m04
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, 
ai cũng được học hành.

75288553-m03
Hồ Chủ tịch, biểu tượng của sự giản dị, đức hy sinh

75288553-m05
Hồ Chủ tịch – Biểu tượng của tình yêu bao la

75288553-m01
Hồ Chủ tịch – Người làm rạng danh nong sông, đất nước Việt Nam. Nước Việt Nam tự hào có tên Người.

Theo Hà Thành vtc.vn
Kim Yến (st)
cpv.org.vn

“Nơi huyền thoại bắt đầu”

GiadinhNet – “Nơi huyền thoại bắt đầu” là bộ phim phóng sự tài liệu đậm chất sử thi về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Nam trong đó dãy Trường Sơn là một nguồn mạch mang tính biểu tượng.

Phim được phát sóng từ ngày 31/3 trên kênh VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam vào lúc 21h30 các ngày thứ 4, thứ 6, thứ 7 trong tuần.

Dãy Trường Sơn không chỉ là huyền thoại về con đường vận chuyển quân sự 559, mà còn là minh chứng sống động cho khát vọng mãnh liệt, ý chí thống nhất, sự hợp nhất không thể chia tách của dân tộc từ thuở các Vua Hùng dựng nước. Càng trải qua thử thách nghiệt ngã, khát vọng ấy ngày càng định hình rõ ràng hơn trong tâm thức của các thế hệ người Việt, đúng như lời của chủ tịch Hồ Chí Minh – “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi!”.

Đậm đặc trong suốt 15 tập phim là những ký ức lịch sử được ghi lại bằng hình ảnh, bằng lời kể của người trong cuộc, lời bình của những người có trách nhiệm sau cuộc chiến, bằng những chất liệu sống, muôn màu, vượt qua thời gian. Những chất liệu sống động đó sẽ đưa khán giả đến với dòng suy tư rõ ràng và sâu lắng xung quanh những sự thật lịch sử đã vượt quá sức tưởng tượng của con người, lung linh như huyền thoại.

Bộ phim lấy hình ảnh Trường Sơn để minh chứng và gợi ra một ý niệm tưởng chừng như bất tận ở cả hai chiều không gian và thời gian. Đó là ý niệm về chiều dài lịch sử dữ dội của một dân tộc trải qua nhiều thế hệ, những đời người nối tiếp nhau. Đó là độ bền bỉ chịu đựng của một dân tộc để vượt qua một cuộc chiến dài nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới. Đó là sự đặc tả độ hùng vĩ của những chiến tích trải dài trên từng mỏm đá, bến sông, bờ lau ngọn cỏ, dọc suốt những cuộc Trường Chinh giữ nước, từ Nam Quan đến Cà Mau.

Với tên gọi “Từ Âu Lạc đến Đại Nam”, tập 1 của bộ phim lược qua dòng lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam như một dòng chảy gian nan nghiệt ngã để định hình những yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc của người Việt. Tập phim như lời dẫn cho câu chuyện dài xung quanh cuộc chiến khốc liệt nhất của lịch sử thế kỷ 20 giữa dân tộc Việt Nam với các thế lực cường quyền hung hãn nhất. Từ các đế chế phong kiến Trung Hoa, đến hệ thống thực dân đế quốc sau này, qua cuộc đọ sức ấy, cuối cùng đều nghiệm ra rằng: cường quyền khổng thể nuốt chửng được khát vọng độc lập tự do của người Việt…

T.Hà
giadinh.net.vn

Mời quý vị đón xem trọn bộ 15 tập:

Nơi huyền thoại bắt đầu

Chiêm ngưỡng chữ ký Hồ Chủ Tịch từ 1945 – 1969

79 chữ ký trải dài từ những ngày đầu nước nhà độc lập năm 1945 đến 1969, sẽ giúp chúng ta có thêm một góc nhìn thú vị về người Cha già của dân tộc Việt Nam.

Bộ sưu tập bắt đầu với chữ ký vào ngày 10/9/1945 tức chỉ 8 ngày sau khi nước ta dành độc lập và kết thúc vào năm 1969.

Theo dòng thời gian, có chữ ký thể hiện sự vui mừng của Bác khi nước nhà hoàn toàn độc lập, có những chữ ký nói lên sự suy tư của Người khi đất nước khó khăn, cũng có chữ ký quyết đoán trước những vấn đề trọng đại của dân tộc, tất cả đã làm hiện lên một vị Lãnh tụ trọn đời vì dân, vì nước.

Không chỉ là nét bút của một Lãnh tụ vĩ đại, mỗi chữ ký tại đây đều gắn liền với những sự kiện trong một giai đoạn lịch sử gian khổ nhưng hết sức hào hùng của dân tộc ta.

Bác Trần Chung, cán bộ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II – một trong số ít những người đang có bản chính của bộ sưu tập này cho biết, những chữ kí có trong đây đều được chọn lọc từ hàng ngàn văn bản tại Cục Văn thư và lưu trữ Nhà nước (Bộ Nội vụ), và tất cả đã được thẩm định bằng những biện pháp nghiệp vụ cẩn trọng nhất.

Ngoài việc lưu trữ tại những bảo tàng trên nhiều miền đất nước, bộ sưu tập này còn được tặng tới nhiều chính khách nước ngoài khi đến thăm Việt Nam như một món quà giúp thế giới hiểu thêm về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả bộ sưu tập quý giá này:

D

D

JToàn cảnh các chữ ký của Bác trong bộ sưu tập

J
Khi đất nước dành độc lập từ tay phát xít Nhật

J
Trong những năm tháng sóng gió của nền độc lập non trẻ

J

F
Trong (hình trên) và sau (hình dưới) chiến dịch biên giới

N
Sau chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ

M
Thời gian chuẩn bị chiến dịch Tết Mậu Thân

H
Trước khi Bác đi xa

DS
Bác Trần Chung với bộ sưu tập hết sức ý nghĩa của mình

(Theo Infonet)
bee.net.vn

“Tiếng hát giữa rừng Pắc Pó” ra đời như thế nào?

Ai đã một lần lên Cao Bằng đều tìm tới khu di tích lịch sử Pắc Pó. Ở đó có dòng suối Lê Nin nước trong vắt lách ra từ những khe núi đá, có ngọn núi Các Mác vút lên trời xanh, có hang Pắc Pó và những con đường mòn từng in dấu chân Bác, có bàn đá chông chênh nơi Bác Hồ viết bao tài liệu quan trọng liên quan tới đường đi và vận mệnh của đất nước. Và ở đó, luôn văng vẳng những câu hát: “Ơ rừng Pắc Bó quê ta nhớ rừng xưa ôm bóng Người/ Bước chân Người đi đất chuyển dời theo Người/ Người về rừng núi theo Người ngày mai tươi sáng…”. Đó là một trong những sáng tác hay nhất của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, tuy nhiên và ít người biết, bài hát được viết khi nhạc sĩ mới 23 tuổi và chưa một lần được đặt chân tới Cao Bằng, tới Pắc Pó…

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ từng khẳng định: “Đúng là cho tới lúc viết tôi chưa từng được lên Cao Bằng nhưng Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó được viết xuất phát từ một tình yêu lớn lao với Bác Hồ, nên cảm xúc dạt dào. Có cảm xúc rồi nhưng lại không có thực tế vì Việt Bắc núi rừng, sông suối ra sao tôi chưa từng được biết. Sự ra đời của bài hát là cả một kỉ niệm lớn. Khoảng mùa thu năm 1959, anh Quốc Hương đi tu nghiệp ở Tây về gặp tôi và bảo “Tuệ ơi, Tuệ viết một bài ca về Bác Hồ đi, để mình hát báo cáo với Bác cùng đồng bào miền Nam nhân dịp sang năm mừng thọ Bác 70 tuổi”. Tôi đáp: “Thôi anh đặt các anh khác đi, đề tài này lớn quá, tôi lại chưa lên Việt Bắc, chưa được gần Bác, làm sao có cảm xúc thật”… Tôi không ngờ anh Quốc Hương sau đó rủ tôi ra chợ Đồng Xuân (Hà Nội) tìm mua một cái xe đạp Trung Quốc để chuẩn bị chuyến hành hương lên Việt Bắc của hai anh em. Nhưng thật không may, mua xe xong, hai anh em đạp xe đến Bờ Hồ, loay hoay thế nào lại sa vào đường ray điện khiến xe đạp bị hỏng. Chuyến đi coi như bỏ lỡ vì không còn tiền mua xe. Loại vành xe cỡ 680 rất hiếm nên không thể nói chuyện sửa. “Cái khó ló cái khôn”, bí quá tôi về lục lại tài liệu liên quan đến chiến khu, đặc biệt đọc thuộc lòng bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu để lấy chất liệu cho bài hát. Đầu năm 1960, bài hát vừa viết xong được ca sĩ Quốc Hương tập ngay để kịp hát chúc thọ Bác vào dịp 19-5”.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ Tuệ sinh ngày 15-5-1936, quê ở Thanh Chương, Nghệ An. Ngay từ bé, những làn điệu dân ca như hò ví dặm, hát phường vải đã ngấm sâu vào trong máu thịt của ông. Năm 17 tuổi, Nguyễn Tài Tuệ rời quê hương ra đi với hi vọng đi theo con đường nghệ thuật. Ban đầu với sự dẫn dắt của nhạc sĩ Trọng Bằng, Nguyễn Tài Tuệ trở thành một giọng nam cao tham gia trong dàn hợp xướng cùng các nghệ sĩ Chu Minh, Quốc Hương, La Thăng, Mai Khanh… Một thời gian sau đó, Nguyễn Tài Tuệ được cử lên công tác tại Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái. Chính những năm tháng này đã đem lại cho ông vốn sống, những hiểu biết quý giá về văn hóa của bà con các dân tộc vùng cao.

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước bảo tôi trước khi đi rằng: Phải nắm lấy cái sli, lượn, cọi, then… mà làm tiết mục cho đoàn. Tất nhiên là làm tiết mục cho đoàn nhưng tôi ý thức rằng phải góp cho cái vốn của người sáng tác… Đoàn chúng tôi vừa làm văn nghệ phục vụ đồng bào, giác ngộ đồng bào, vừa tiễu phỉ… Đôi khi cả đoàn hát cho một gia đình nghe thôi, nhà họ Vương ấy mà cảm tình cách mạng thì sẽ có nhiều người theo cách mạng. Vì vậy khi viết “Tiếng hát giữa rừng Pắc Pó” tất cả tình yêu với Bác và vốn liếng tích lũy được trong những ngày sống ở rừng núi đã được tôi “huy động”.

Bài hát ngợi ca lãnh tụ Hồ Chí Minh, có thể xếp vào hàng xuất sắc nhất về Người. Âm hưởng núi rừng Việt Bắc ngập tràn trong giai điệu và ca từ của bài hát, vừa hoành tráng vừa mang chất sử thi. Sau khi ra đời bài hát đã được các nghệ sĩ tài danh hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam như nghệ sĩ ưu tú Bích Liên, nghệ sĩ nhân dân Thanh Huyền, nghệ sĩ ưu tú Tuyết Thanh và người nghe cũng đặc biệt ấn tượng với giọng hát cao vút như suối ngàn của nghệ sĩ nhân dân Lê Dung. Theo nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, “bài hát được Bác Hồ nghe lần đầu do anh Quốc Hương hát. Đến năm 1962, sau khi trưng cầu ý kiến thính giả Đài Tiếng nói Việt Nam cả hai miền Nam, Bắc, bài “Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó” được giải nhất.

Trên nền âm nhạc dân tộc, những giai điệu của Nguyễn Tài Tuệ vút lên, với những “Tiếng hát giữa rừng Pắc Pó”, “Xuân về trên bản”, “Suối Mường Hum còn chảy mãi”, “Lời ca gửi Nọong”, “Xa khơi”… Bằng những giai điệu âm nhạc tuyệt vời này, Nguyễn Tài Tuệ để lại dấu ấn khó phai mờ trong lòng nhiều thế hệ người yêu nhạc. Ông được trao tặng giải thưởng Nhà nước đợt I (2001) về văn học – nghệ thuật vì những đóng góp cho nền âm nhạc nước nhà.

Hương Liên
daidoanket.vn

Nhìn ra biển lớn: Câu chuyện lập chí của Bác thời trẻ

Nguồn YouTube

“Nhìn ra biển lớn” là bộ phim truyện nhựa kể về quãng thời gian hơn hai năm của thầy giáo Nguyễn Tất Thành (Bác Hồ thời trẻ) vừa hoàn thành kịp tiến độ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Kịch bản phim “Nhìn ra biển lớn” của Giám đốc Hãng phim Hội Điện ảnh Việt Nam – Nguyễn Thị Hồng Ngát đã đoạt giải A trong cuộc thi kịch bản phim kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội do Cục Điện ảnh tổ chức và được Bộ VHTTDL đặt hàng sản xuất bộ phim này.

Diễn viên Minh Đức trong vai Nguyễn Tất Thành

Lát cắt thời gian trong câu chuyện phim từ năm 1908-1910. Thời điểm này, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đang là một học sinh xuất sắc của trường Quốc học Huế. Sớm nghe chuyện vua Hàm Nghi chống Pháp, sớm chứng kiến cảnh vua Thành Thái bị đi đày nên lòng yêu nước thù giặc càng thôi thúc trong lòng chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành. Bởi vậy, khi phong trào nông dân, tiểu thương biểu tình chống sưu cao thuế nặng, Nguyễn Tất Thành đã dũng cảm đi đầu trong đoàn người để phiên dịch giúp đồng bào. Phong trào bị đàn áp, Nguyễn Tất Thành bị thương. Sau đó anh bị đuổi học. Tìm vào huyện Bình Khê (Bình Định) nơi cha đang làm tri huyện, Nguyễn Tất Thành được cha dẫn đến gặp người bạn của ông là Hồ Tá Bang – Tổng lý Công ty nước mắm Liên Thành cũng là người đồng sáng lập trường Dục Thanh ở Phan Thiết để anh được dạy học tại ngôi trường này. Qua hai năm dạy học, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã để lại một dấu ấn khó phai mờ trong tâm trí những thầy giáo, học sinh, những chí sĩ yêu nước. Dù lưu luyến nơi đây nhưng cuối cùng, như con chim bằng đã đủ lông đủ cánh sau bao ngày rèn chí, Nguyễn Tất Thành cũng vẫn lựa chọn sự ra đi. Thông điệp: “Muốn làm việc lớn phải dám ra biển lớn” của bộ phim thể hiện nổi bật ở đoạn kết này.

Tuy nhiên, có thể do thời gian thúc bách nên bộ phim không tránh khỏi một số hạt sạn. Ngôn ngữ được các nhân vật sử dụng trong phim là tiếng Hà Nội nên chưa tạo cho người xem sự đồng cảm. Nếu các nhà làm phim lồng tiếng đúng với âm điệu lời nói ở quê hương của chính nhân vật thì hay biết bao. Một số chi tiết chưa được tìm hiểu kỹ đã làm giảm đi sức hấp dẫn của bộ phim như chi tiết quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc mắng con sao lại làm thông ngôn giúp bà con để bị đuổi học thì không hợp với điều mà quan Phó Bảng dạy con: “Đừng đợi đến tuổi tráng niên mà muộn, hãy gánh lên vai tất cả từ tuổi hoa niên”. Hoặc chi tiết cụ Nguyễn Sinh Sắc khuyên con không lựa chọn theo tư tưởng ông Phan Bội Châu thì không đúng với tư liệu lịch sử, trong đó cho biết ông Phan Bội Châu và cụ Nguyễn Sinh Sắc cùng chí hướng. Hoặc chi tiết giữa khi biển động, Nguyễn Tất Thành dám ra khơi cùng ngư dân đánh cá nhưng trên phim lại là hình ảnh biển đẹp, nắng vàng, gió nhẹ, sóng lăn tăn, lưới nặng cá… và điều gây ngạc nhiên là một chàng trai từ bé đã gắn bó với biển như Nguyễn Tất Thành lại… say sóng.

Nhìn tổng thể, bộ phim “Nhìn ra biển lớn” đã khắc họa được khá sinh động giai đoạn tuy ngắn ngủi nhưng đã thể hiện lòng yêu nước, quyết tâm lập chí của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành.

Từ Khôi
daidoanket.vn

Ra mắt 5 tập truyện tranh về Chủ tịch Hồ Chí Minh

(VOV) – Bộ 5 tập ra mắt lần này là tiếp sau 5 tập đầu tiên trong bộ sách truyện tranh Việt Nam “Bác Hồ sống mãi” (gồm 20 tập).

Nhân dịp kỉ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2012), NXB Kim Đồng đã cho ra mắt bạn đọc bộ 5 tập truyện tranh với những câu chuyện chân thực của những người thân cận bên cạnh Bác Hồ kể lại, giúp bạn đọc hiểu hơn về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Bộ truyện tranh mới về Bác Hồ do NXB Kim Đồng ấn hành.

 

Bộ 5 tập truyện tranh bao gồm: “Buổi chiếu phim đặc biệt”, “Bộ tăng âm nghĩa tình”, “Đêm giao thừa đáng nhớ”, “Đã hứa thì phải làm”, “Họa sĩ vẽ Bác Hồ”.

Đây là những ấn phẩm tiếp theo sau 5 tập: “Từ mái ấm Nà Lọm”, “Cháu muốn xem nhà Bác”, “Hãy yêu thương các cháu”, “Mệnh lệnh của Bác Hồ”, “Thăm làng cá Cát Bà” ra mắt trước đó của bộ 20 tập truyện tranh về Chủ tịch Hồ Chí Minh được mang tên “Bác Hồ sống mãi”.

“Buổi chiếu phim đặc biệt” là cuốn thứ sáu trong bộ truyện, kể về một lần Bác tự mình thuyết minh bộ phim tiếng Pháp trong rạp chiếu phim để các cháu nhỏ và anh chị em trong Phủ hiểu rõ nội dung. Một cử chỉ nhỏ nhưng đầy ân tình của Bác cũng đủ khiến mọi người, nhất là các cháu nhỏ vô cùng cảm động. Buổi chiếu phim kết thúc nhưng còn đọng lại mãi lời dạy của Bác Hồ: làm việc gì cũng cần nhiệt thành, làm đến nơi đến chốn mới có hiệu quả thiết thực.

Hay một lần bắt gặp tiếng đàn ghi ta truyền cảm của người nghệ sĩ cách mạng cụt tay, Bác Hồ đã không ngần ngại gác lại công chuyện, gặp anh hỏi thăm tình hình gia đình và con đường nghệ thuật gian nan của anh. Bộ tăng âm Bác Hồ tặng anh thương binh chính là một kỉ vật đẹp, kỉ vật của nghĩa tình. “Bộ tăng âm nghĩa tình” là câu chuyện cảm động như thế!

Có một đêm giao thừa không bao giờ Bác Hồ có thể quên được, đó chính là khoảnh khắc Bác rớt nước mắt trước gia cảnh nghèo khó cùng cực của nhà chị Tín gánh nước thuê mà Bác tới thăm.

Bác đem miếng cơm manh áo tặng lũ trẻ nhà chị, Bác còn truyền cả hơi ấm tình người đến những số phận éo le, bất hạnh. Việc làm của Bác Hồ nhắc nhở cán bộ tránh bệnh hình thức, quan liêu, ý thức rõ hơn về trách nhiệm của người lãnh đạo cùng nhân dân vượt khó. “Đêm giao thừa đáng nhớ” không chỉ của Bác mà cũng là của tất cả mọi người trong cái Tết năm xưa.

“Đã hứa thì phải làm” kể về tình cảm của Bác với người Tày và đồng bào dân tộc thiểu số nước ta. Bác vẫn nhớ lời mong mỏi của một cô bé người Tày năm xưa, khi về thăm lại bản Bác kiên quyết ghé qua chợ mua cho cô bé chiếc vòng bạc. Một lời hứa với trẻ nhỏ chớ nên xem nhẹ, Bác Hồ đã truyền dạy mọi người bằng việc làm giản dị nhưng ý nghĩa như thế!

“Họa sĩ vẽ Bác Hồ” là cuốn thứ mười trong bộ truyện tranh “Bác Hồ sống mãi”. Từ kỉ niệm có thật của họa sĩ Phan Kế An trong những ngày tháng ở bên Bác và vẽ tranh về Người, cuốn sách làm sống dậy chân dung của vị Chủ tịch với đời sống giản dị và tâm hồn cao đẹp. Không chỉ “thu hoạch” được những bức họa quý, họa sĩ An còn được Bác dạy dỗ nhiều điều về chuyên môn, hướng dẫn họa sĩ An vẽ tranh thiếu nhi. Từ đó trở đi, họa sĩ An chú trọng hơn nhiều để vẽ truyện tranh và các tác phẩm cho các cháu.

Tập truyện tranh do Công ty Phan Thị sưu tầm và biên soạn, dày 36 trang được in trên khổ 13 x 19cm với giá 12.300 đồng/cuốn./.

Thúy Hoa/VOV online
vov.vn

Những giai điệu bất tử: Đêm Trường Sơn nhớ Bác

(VOV) – Bài hát “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” của nhạc sĩ Trần Chung, phổ thơ của Nguyễn Trung Thu là bài bát có sức sống lâu bền trong tâm khảm nhiều thế hệ công chúng.

Bài hát có cái gì đó rất gần gũi, phù hợp với phong cách của Bác: ung dung, tự tại, giản dị, sâu sắc, mặn mà và luôn lạc quan, bay bổng, trẻ trung, tự nhiên. Chủ thể cảm xúc trong bài hát là những người lính Trường Sơn đang hành quân ra mặt trận. Họ suy nghĩ và cảm xúc thật hồn nhiên và đầy lãng mạn. Chắc chắn đây phải là những người lính còn rất trẻ: “Đêm Trường Sơn/Chúng cháu nhìn trăng, nhìn cây/Cảnh về khuya như vẽ/Bâng khuâng, chúng cháu thấy/Bác như đã đến nơi này…”

Cảnh ở đây chỉ có trăng và cây, lại đã về khuya. Con người có vẻ như lọt thỏm vào giữa thiên nhiên. Các chàng lính trẻ, lãng mạn đến “bâng khuâng” rồi hình dung như có Bác vừa đi qua. Các chàng lính trẻ không tưởng tượng ra hình ảnh ai khác, mà lại là vị lãnh tụ rất đỗi kính yêu. Đủ thấy sự gắn bó tự nhiên, máu thịt, gần gũi thân quen như thế nào giữa Bác và chiến sĩ. Những âm hình có vẻ rất sơ sài, hầu như toàn nốt đen và trắng, vài chỗ có móc đơn, móc kép, chẳng luyến láy cầu kỳ, phức tạp.

Nghe bài hát: Đêm Trường Sơn nhớ Bác – Thể hiện: Tốp ca Quân khu 7

Về giai điệu, chẳng có phát triển nào đột biến với những quãng nhảy đáng kể, chỉ được tiến hành bình ổn, tuần tự, tất cả đều có sự chuẩn bị rất “logic” cho sự đón nhận, tiếp thu của người nghe. Vậy mà bài hát đã đem đến ấn tượng thật phong phú, sinh động và đa dạng. Màu tối của giai điệu biểu hiện rất “đắt” không khí đêm khuya ở rừng Trường Sơn, nhưng cái dào dạt ở đoạn B của bài hát với những ô nhịp liên tiếp được hát luyến, liền mạch lại khiến người nghe có cảm giác trời như sắp về sáng, một ngày mới đang chờ đón các chiến sĩ.

Nhạc sĩ đã xử lý rất khéo phần âm nhạc để chuyển tải nội dung hai câu “Đêm Trường Sơn, nghe tiếng suối trong như tiếng hát xa, mà ngỡ như từ Pắc Bó suối về đây ngân nga”. Mạch âm nhạc từ tốn nhưng lại không kém phần dào dạt. Nghe mà hình dung ra dòng suối tận Pắc Bó chảy về Trường Sơn hát ngân nga. Và câu nhạc ấy cũng rất có duyên khi đổ dồn về câu kết: “Đường Trường Sơn mang bóng hình của Bác. Đường Trường Sơn chúng cháu dồn chân bước. Con đường của Bác mới đi qua”.

Cả bài hát là ý nghĩ, sự tưởng tượng của các chiến sĩ về hình ảnh của Bác ở Trường Sơn chứ điều đó chưa xảy ra, nghĩa là hư chứ không phải là thực, bởi vì “Bâng khuâng chúng cháu nghĩ Bác như đã đến nơi này”. Và đến câu kết: “Con đường của Bác mới đi qua” cũng vẫn trong cái mạch tưởng tượng của những chàng lính trẻ. Những câu cuối cùng đầy hứng khởi âm nhạc được mô tiến cao dần để vút lên nốt cao nhất ở tiếng mới (nốt lá trong giọng mi thứ). Có cảm giác như đã là hiện thực, như là Bác đã xuất hiện bên cạnh, trước các chiến sĩ. Cả bài là trầm ngâm, lãng mạn, là đêm khuya khoắt, là những tâm tình thì cuối bài là tiếng reo vang, bởi như đã nói, các chàng lính hình dung như đã nhìn thấy Bác. Quả là một sự xử lý âm nhạc quyện với lời thơ không thể khác được.

 “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” cực kỳ ngắn gọn, khúc chiết, giản dị về âm nhạc và hàm xúc, chân thật, sâu sắc về lời ca – những điều không dễ đạt được trong một ca khúc. Trong những bài hát viết về Bác, “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” là một gương mặt rất riêng, hồn hậu, đặc sắc, rực rỡ nhưng giản dị, thánh thiện. Cả hai tác giả đã qua đời nhưng “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” thì mãi còn đó./.

Nhạc sỹ Nguyễn Đình San/VOV – Báo TNVN
vov.vn

Hồ Chí Minh – Hình ảnh của Người

Người là một người Cộng sản Việt Nam, nhưng khi qua đời cả nhân loại khóc thương Người. Một nhà thơ ở Châu Phi xa xôi đã viết những dòng sau để vĩnh biệt Người:

“Trong cái thế kỷ bạo tàn này, hình ảnh của Người đã đem lại cho chúng ta những kẻ bị tước đoạt quyền làm người và quyền sống, niềm hi vọng và sức mạnh để chiến đấu cho nhân phẩm tự do.

Hồ Chí Minh!

Người là Lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc và là một danh nhân văn hóa. Nhưng trước hết, trước mắt chúng ta, Người là hình ảnh của một con người”

qdnd.vn

Thơ chúc mừng nǎm mới (1959) (1-1-1959)

Chúc mừng đồng bào nǎm mới,

Đoàn kết thi đua tiến tới,

Hoàn thành kế hoạch ba nǎm,

Thống nhất nước nhà thắng lợi.

HỒ CHÍ MINH

———————————–

Báo Nhân dân, số 1754,
cpv.org.vn

Thơ mừng nǎm mới (1-1-1960)

Mừng Nhà nước ta 15 Xuân xanh!
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!
Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng, hǎng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà, Bắc Nam vui vẻ!

Xuânnǎm 1960
Hồ Chí Minh

————————-

Báo Nhân dân, số 2116, ngày 1-1-1960.
cpv.org.vn