Thư viện

“Điện Biên Phủ trên không” qua góc nhìn của nhạc sỹ 8X

(VOV) – Bài hát kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của nhạc sỹ thế hệ 8X đầy sức trẻ, mạnh mẽ.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đến nay đã tròn 40 năm, nhưng lòng tự hào và tinh thần chiến đấu anh dũng bất khuất của quân dân Thủ đô Hà Nội luôn in sâu trong tâm trí nhiều thế hệ người Việt Nam.

Sinh năm 1987, thuộc thế hệ 8X, nhạc sĩ trẻ Dương Cầm đã thể hiện góc nhìn của mình về chiến thắng lịch sử này bằng những hình tượng nghệ thuật cụ thể của người chiến sĩ phòng không qua một sáng tác mới “Mắt thần”.

PV: Xin chào nhạc sĩ Dương Cầm! Anh có thể giới thiệu với độc giả của VOV hoàn cảnh ra đời của ca khúc này?

NS Dương Cầm: Lời đầu tiên cho phép Dương Cầm gửi lời chào, lời chúc sức khỏe tới độc giả VOV và bạn yêu nhạc trên cả nước. Ca khúc “Mắt thần” là một sự tác động rất lớn từ phía đơn vị mà Dương Cầm đang tham gia hoạt động nghệ thuật là Đoàn nghệ thuật Phòng không – Không quân.

Nghe cái tên Phòng không – Không quân, các bạn cũng nhận ra ngay nó thuộc hệ thống phòng thủ bầu trời. Đặc biệt năm 2012 này là năm kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và Dương Cầm nghĩ mình cũng cần làm một cái điều gì đó.

NS Dương Cầm tại Studio của Đài TNVN.

Nhưng ở thế hệ như của Dương Cầm cảm nhận về chiến tranh nó khác, nó không còn đậm chất khói lửa như ngày xưa nữa. Dương Cầm nhận thấy những người lính phòng không bây giờ họ rất đáng yêu cùng với nhiệm vụ của mình thì  họ cũng sống giống như chúng ta vậy.

Tuổi trẻ của họ cũng mạnh mẽ với những hoài bão ước mơ và đặc biệt là sự khao khát trong tình yêu. Với những cảm nhận đó và nhìn ở góc độ của một nhạc sĩ trẻ nên Dương Cầm đã viết bài hát “Mắt thần”.

PV: Về cái tên bài hát, tại sao anh lại lấy tên là “Mắt thần”?

NS Dương Cầm: Ở mỗi người chúng ta khi mắt tinh tường sẽ nhìn mọi thứ rõ ràng hơn. “Mắt thần” ở đây là tên gọi khác của hệ thống rada. Rada của Việt Nam ở thời kỳ “Điện Biên Phủ trên không” đã làm cho cả thế giới phải kinh hoàng, rada đã góp công rất lớn cho chiến thắng của trận chiến 12 ngày đêm này.

Từ chiến thắng đó, rada đã được nhân dân ví như đôi mắt thần để quan sát canh giữ bầu trời. Trước khi viết ca khúc này Dương Cầm cũng đã tìm hiểu rất nhiều tư liệu của binh chủng phòng không. “Mắt thần” cũng chính là hình tượng nghệ thuật trong ca khúc của Dương Cầm.

PV: Qua ca khúc “Mắt thần”, bạn yêu nhạc có thể cảm nhận được tình yêu của người lính Phòng không – Không quân, nhưng trên tất cả phải chăng đó chính là tình yêu quê hương đất nước, phải vậy không?

NS Dương Cầm: Đúng vậy! Trong bài hát này có đề cập đến rất nhiều tình yêu, nhưng cao cả nhất là tình yêu quê hương đất nước. Trong tình yêu lứa đôi có tình yêu đất nước. Câu cuối của bài hát Dương cầm có viết “Tình yêu người lính canh giữ bầu trời quê hương” đó là tình yêu của người lính dành cho quê hương – cũng như tình yêu của những người dân được sự bảo vệ của những người lính đó. Đồng thời, đó là tình yêu của những người dân dành cho những người lính đã hy sinh thân mình để bảo vệ vùng trời, bảo vệ sự bình yên của tổ quốc.

PV: Vậy còn không gian âm nhạc trong “Mắt thần”?

NS Dương Cầm: Bài hát này Dương Cầm viết theo phong cách rất mới, đúng như tuổi trẻ và những cách nhìn cách cảm nhận cũng rất là trẻ, bởi tuổi trẻ như nào thì âm nhạc như vậy. Đoạn đầu mang một chút màu sắc nhạc Jazz, đoạn sau là một chút funky và sự kết hợp của âm thanh điện tử để nó thể hiện được những tín hiệu truyền sóng của rada, của mắt thần.

Nghe ca khúc “Mắt thần” của nhạc sỹ trẻ Dương Cầm

PV: Một phong cách trẻ trung phù hợp với những lính trẻ phòng không?NS Dương Cầm: Dương Cầm cũng được một vài lần đi cùng Đoàn nghệ thuật Phòng không – Không quân thì thấy các bạn thanh niên rất nhiệt tình, sôi động, họ còn nhảy cả hip hop nữa nên Dương Cầm nghĩ là những bài hát như này khi hát nên sẽ nhận được sự yêu thích của các bạn trẻ đặc biệt là những người lính trẻ.

PV: Anh là một trong số ít nhạc sỹ trẻ ngoài các ca khúc nhạc trẻ còn viết về người lính, về các đề tài xã hội khác như: từ thiện, bảo vệ môi trường…Có lý do nào giải thích cho hướng sáng tác này?

NS Dương Cầm: Như thời gian trước Dương Cầm cũng hay viết những ca khúc về tình yêu – nhưng hiện tại, bất cứ điều gì trong cuộc sống để lại ấn tượng, cảm xúc thì Dương Cầm sẽ viết về điều đó bất kể là đề tài gì. Những bài hát về đề tài xã hội đó cũng chính là những trải nghiệm trong cuộc sống của Dương Cầm.

Ví dụ như ca khúc “Mắt thần” cũng là một dấu ấn quan trọng trong quá trình làm nghệ thuật của Dương Cầm, bởi nó gắn với sự kiện mừng 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Những đề tài xã hội giúp Dương Cầm hiểu rõ hơn cuộc sống, những số phận éo le những hoàn cảnh thiệt thòi… Có hòa mình vào đó cảm nhận nó thì mới thấy rằng mình cần phải sống tốt hơn – yêu cuộc đời hơn và là một người nhạc sĩ, thì không gì tốt hơn bằng cách thể hiện những cảm xúc đó bằng âm nhạc.

Hy vọng rằng bạn yêu nhạc sẽ nghe và cùng cảm nhận để thấy cần phải làm một điều gì đó cho xã hội, cho đất nước.

PV: Cảm ơn Dương Cầm về cuộc trò chuyện này./.

Hương Loan/VOV3
vov.vn

Hai chiến thắng, một góc nhìn

(VOV) -Điểm chung của hai chiến thắng này là đều nằm ở giai đoạn cuối của hai cuộc kháng chiến và đều là hai thắng lợi mang tính quyết định.

Lịch sử Việt Nam gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước. Cứ mỗi khi đất nước bị xâm lăng, toàn thể dân tộc ta lại kết thành một khối sức mạnh vô địch để chiến thắng những thế lực từ bên ngoài mạnh hơn nhiều lần. Trong thế kỷ 20, có hai chiến công nổi bật được thế giới biết đến với hai cái tên giống nhau: Điện Biên Phủ mặt đất và Điện Biên Phủ trên không.

Thế trận lòng dân tạo nền chiến thắng kỳ vĩ của dân tộc Việt Nam

Điểm chung đầu tiên của hai chiến thắng này là dù ở hai thời điểm khác nhau nhưng đều nằm ở giai đoạn cuối của hai cuộc kháng chiến và đều là hai thắng lợi mang tính quyết định đối với các cuộc chiến vĩ đại của dân tộc ta là kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nếu như trận Điện Biên Phủ mặt đất là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương diễn ra ròng rã 56 ngày đêm tại lòng chảo Mường Thanh giữa quân đội ta với quân đội viễn chinh Pháp thì trận Điện Biên Phủ trên không là 12 ngày đêm quân dân Hà Nội chống chọi với Pháo đài bay B52-vũ khí tối tân của Mỹ, trải thảm xuống Hà Nội. PGS,TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Ðảng cho biết: Chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dùng chiến thắng mà ông chỉ huy hồi 1954 để gọi tên cái chiến thắng mà ông chỉ huy năm 1972 cùng với quân dân cả nước và hai chiến thắng đấy đều dẫn tới chuyện sau đó Pháp, Mỹ phải ký hiệp định Gênva và hiệp định Paris cho nên nó có những sự tương đồng với nhau mặc dù thời điểm diễn ra nó cách xa nhau đến 18 năm và hiệu quả nó cũng khác nhau, một người bị đánh ở dưới đất, một kẻ bị đánh ở trên trời nhưng đều đưa đến một thắng lợi quyết định là buộc Mỹ, buộc Pháp phải thừa nhận không thể thắng được Việt Nam.

Nếu như chiến thắng Điện Biên Phủ chống lại thực dân Pháp là “cột mốc bằng vàng, đánh dấu nơi chủ nghĩa thực dân cũ lăn xuống dốc và tan rã” dẫn tới việc Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ với tư cách là một nước thua trận thì chiến thắng 12 ngày đêm của trận Điện Biên Phủ trên không buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris, buộc quân đội viễn chinh Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam, tạo tiền đề để sau đó quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng chỉ còn có nhiệm vụ là đánh cho “Ngụy nhào” bằng đại thắng Mùa Xuân năm 1975.

Trước khi diễn ra, cả hai chiến dịch đều được hai cường quốc đặt cho những cái tên hào nhoáng. Người Pháp coi Điện Biên Phủ mặt đất như “ một pháo đài không thể công phá”, là nơi thu hút để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta. Người Mỹ đe dọa dùng siêu pháo đài bay B52 đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá với suy nghĩ “Đối phương không thể có cách chống đỡ và không còn một sinh vật nào tồn tại nổi dưới những trận mưa bom kinh khủng của loại B-52 bất khả xâm phạm”.

Trong lịch sử dân tộc, không ít lần chúng ta đối mặt với những kẻ thù mạnh hơn nhiều lần. Để rồi sau khi thảm bại, kẻ thù mới cay đắng nhận ra  “Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc” như lời điều trần của  tướng De Castries trước Ủy ban Điều tra của Bộ Quốc phòng Pháp về thất bại Điện Biên Phủ năm 1954. Chính vì vậy, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hà cho rằng đây là chiến thắng của sức mạnh tổng hợp của dân tộc, của toàn dân chứ không phải chiến thắng của riêng quân đội:: Bác Hồ đã nói mỗi quốc dân là một chiến sĩ tức là mỗi người dân là một chiến sĩ trong cuộc chiến tranh này. Bác đã so sánh khi mở đầu kháng chiến chống Pháp 25 triệu đồng bào của chúng ta so với 10 vạn quân Pháp xâm lược thì chúng ta áp đảo. Khi mà toàn bộ dân tộc đã đứng lên kháng chiến như vậy thì chúng ta đã giành thắng lợi. Và trong cuộc đánh Pháp và Điện Biên Phủ ngoài 26 vạn dân công và thanh niên xung phong chúng ta huy động được lên để phục vụ hơn 5 vạn bộ đội thì đứng đằng sau họ là cả nước, huy động sức người sức của. Cũng như trận đánh 12 ngày đêm cuối năm 1972 thì không phải chỉ có bộ đội phòng không, bộ đội tên lửa, bộ đội ra đa, bộ đội của các binh chủng khác của quân đội làm nên chiến thắng.

Các nhà lịch sử quân sự Việt Nam cho rằng, chiến thắng của hai trận “Điện Biên Phủ” là chiến thắng của cuộc chiến tranh nhân dân. Cụm từ này đã trở thành tên gọi của một chiến lược quân sự riêng có tại Việt Nam để chỉ chung các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc do nhân dân Việt Nam tiến hành trong tiến trình lịch sử. Chiến lược này đã được hệ thống thành lý luận trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp (1945-54) và Kháng chiến chống Mỹ (1954-75). Năm 1973, trước phiên điều trần về lý do quân đội Hoa Kỳ thất bại ở Việt Nam, các giáo sư Mỹ đã đánh giá: “Ngoài ý chí kiên cường, quyết tâm sắt đá, người Việt Nam còn sáng tạo ra một đường lối, chiến lược và biện pháp đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh để phát huy sức mạnh đánh thắng kẻ thù”. Là một người Pháp đang làm việc tại Việt Nam, chị En-da Đuya-rê nắm khá rõ cuộc chiến Điện Biên Phủ mặt đất, nhưng khi biết thêm có một trận chiến Điện Biên Phủ thứ hai trên không, chị quyết định tìm hiểu về nó: Tôi rất quan tâm đến lịch sử của đất nước các bạn. Điện Biên Phủ trên không là một giai đoạn lịch sử hào hùng. Người dân vẫn sống, chiến đấu và lao động sản xuất dưới làn bom đạn. Nhiều người phải sơ tán nhưng vẫn có những người tình nguyện ở lại. Thế hệ đi sau chúng ta luôn phải hiểu và rút ra những bài học từ lịch sử. Phải hiểu môi trường nơi mình đang sống. Để có một Hà Nội hòa bình như ngày nay không thể không nhắc đến những ngày tháng đấu tranh giành hòa bình độc lập.

Một trong những câu hỏi đầu tiên mà người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam thường đặt ra, đó là “vì sao một đất nước tương đối nhỏ bé và lạc hậu về công nghệ lại có thể đánh thắng hai cường quốc là Pháp và Mỹ”. Và nếu đi tìm đến tận cùng thì câu trả lời chung đó chính là: “lịch sử và văn hoá của dân tộc Việt Nam, và cuộc đấu tranh vì độc lập là của tất cả mọi người”./.

Mỹ Trà/VOV -Trung tâm tin
vov.vn

Giao lưu nghệ thuật Hà Nội-Điện Biên phủ trên không

(VOV) – Chương trình nhằm ôn lại những chiến thắng vẻ vang của quân và dân ta, tri ân những người đã góp công sức làm nên chiến thắng.

Tối nay (23/12), tại Hà Nội diễn ra chương trình giao lưu nghệ thuật Hà Nội-Điện Biên phủ trên không. Chương trình do Quân chủng Phòng không không quân phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức. Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân tới dự buổi giao lưu. 

Phát biểu tại buổi giao lưu, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân chủng Phòng không không quân nêu rõ: Trong 12 ngày đêm của chiến dịch Hà Nội-Điện Biên phủ trên không quân, quân đội ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 máy bay B52, làm nên huyền thoại chiến thắng lịch sử. 40 năm trôi qua, chiến thắng này vẫn vang vọng và được thế giới khâm phục.

Trong những năm tháng ấy, những lời ca tiếng hát là nguồn cổ vũ động viên tinh thần cho quân và dân ta chiến đấu để giành thắng lợi. Phong trào tiếng hát át tiếng bom năm xưa đã thể hiện bản lĩnh trí tuệ văn hóa của dân tộc Việt Nam góp phần vào những chiến công to lớn. Chương trình này nhằm ôn lại những chiến thắng vẻ vang của quân và dân ta; tri ân những người đã góp công sức làm nên chiến thắng này, trong đó có những nhạc sỹ, ca sĩ, nhà thơ, nhà văn.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Thanh nói: “Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội-Điện Biên phủ trên không, Bộ đội Phòng không không quân xin trân trọng biết ơn sâu sắc tới anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ bầu trời Tổ quốc, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Biết ơn tới các thế hệ cha anh đã viết nên những trang sử Việt Nam anh hùng. Những tác giả, ca sĩ, diễn viên chiến sĩ đã ca ngợi những chiến công của quân và dân ta cổ vũ để bộ đội phòng không không quân làm nên chiến thắng Hà Nội Điện Biên phủ trên không”.

Tại buổi giao lưu nghệ thuật, các ca sỹ thể hiện nhiều ca khúc ca ngợi tinh thần chiến đấu bất khuất của quân và dân Hà Nội trong 12 ngày đêm của chiến dịch Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không, như Hà Nội-Điện Biên Phủ, Tên lửa ta đánh rất hay, Phi đội ta xuất kích…/.

Lan Hương/VOV-Trung tâm Tin
vov.vn

Nhân chứng người Lào với “Điện Biên Phủ trên không”

(VOV) – Hàng chục ngàn lưu học sinh Lào lúc bấy giờ đã chứng kiến chiến thắng oanh liệt 12 ngày đêm của nhân dân Việt Nam.

Chiến thắng “Điện Biên phủ trên không” ngày ấy cũng đã làm nức lòng những lưu học sinh Lào đang theo học tại các trường đặc biệt sơ tán quanh Hà Nội. Nhân dịp này, họ lại gặp nhau để hồi tưởng chuyện quá khứ.

Ông Vilaysuk đại biểu Quốc hội tỉnh Xiengkhuang, kể lại, hồi ấy ông cũng là một lưu học sinh ở thị xã Bắc Giang, được Đảng, Chính phủ Việt Nam sơ tán về xã Phúc Hòa. Nhà đầu tiên ông đến là nhà bác Hải sau đó chuyển đến nhà bác Thức. Thời ấy cả Việt Nam, tất cả thanh niên Việt Nam đều ra trận, nhà bác Thức cũng có con trai lớn tên là Ý đi bộ đội. Chỗ ông ở nghe rất rõ tiếng bom rền dưới Hà Nội. Mặc dù rất sợ, nhưng mỗi khi tên lửa của mình bắn trúng máy bay thì tất cả mọi người đều nhảy ra khỏi hầm reo hò; cứ  hô to “chiến thắng rồi, chiến thắng rồi!”.

Ông Vilaysuk kể: “Chúng tôi rất cảm phục lòng dũng cảm của anh hùng Phạm Tuân, người đầu tiên bắn rơi máy bay B52 của Mỹ, làm chúng tôi nức lòng lắm, không biết bày tỏ thế nào mà tin tưởng thế nào mình cũng thắng. Lúc ấy, không nghĩ là mình đang ở nước ngoài. Việt Nam cũng là Tổ Quốc của mình, sống với gia đình Việt Nam cũng là gia đình của mình”.

Với vốn tiếng Việt rất chuẩn bởi được rèn luyện và đào tạo từ các ngôi trường đặc biệt dành riêng cho con em Lào thời chiến tranh chống Mỹ, Giáo sư tiến sĩ  Ki–keo-khay-khăm-phi-thun, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Giám đốc Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Lào nhắc lại sự cảm phục và ngưỡng mộ của mình.

Ông hào hứng nói:“Tôi chưa bao giờ nghe, ở Lào tôi cũng chưa nghe lần nào có ai bắn rơi được máy bay B52 mà Việt Nam lại bắn được, bắn rơi bằng tên lửa. Lúc đầu là không tin được, bởi vì chúng tôi chỉ thấy cái súng thôi, người ta bắn máy bay loại nhỏ, F4, F105 chẳng hạn. Hồi đó có loại máy bay F111, gọi là “Cánh cụp cánh xòe” gì đó mà cũng bắn rơi được. Vui lắm, vui lắm! Càng vui lại càng kính phục, tại sao mình lại làm được như thế; Nhân dân Việt Nam, quân đội Việt Nam lại làm được, không phải một chiếc, hai chiếc mà là ba mươi mấy chiếc. Mà khi thấy máy bay rơi,…và sau khi chúng tôi nghe được tin Mỹ đầu hàng rồi, Việt Nam chiến thắng rồi, hồi đó chúng tôi vui sướng lắm. Dân cũng vui mà chúng tôi cũng vui, đêm hôm ấy, 30/12, chúng tôi không ngủ, không ai ngủ”.

Chiến thắng đó, chính là biểu tượng sinh động của trí tuệ, tài thao lược của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Chiến thắng đã tạo nên niềm tin cho quân và dân Lào anh em vững tin xốc tới giành lại non sông đất nước vào tháng 12 năm 1975. Giáo sự Tiến sĩ Ki–keo-Khay–khăm-phi-thun nói: “Chúng ta ngày hôm nay, đã từng sống ở Việt Nam, có bổn phận phải giáo dục con cháu, giáo dục cho các thế hệ sau hiểu được, thấm nhuần để vun đắp cho tình hữu nghị của hai nước chúng ta ngày càng xanh tươi đời đời bền vững. Làm cho quan hệ hai đất nước chúng ta ngày càng đưa lại những lợi ích cao nhất cho dân tộc chúng ta”.

Ông Vilaysuk đại biểu Quốc hội tỉnh Xiengkhuang nói bằng tiếng Lào: “Là một nhân chứng, được chứng kiến nhân dân Việt Nam kiên cường chống lại trận chiến đấu lịch sử, do Đế Quốc Mỹ ném bom hủy diệt bằng B52 bắn phá Hà Nội trong 12 ngày đêm và nhân dân Việt Nam đã chiến thắng; Là người đại biểu của nhân dân Lào, tôi xin gửi tới nhân dân Việt Nam, Đảng chính phủ Việt Nam luôn tìm ra cơ hội cho sự phát triển đất nước ngày càng văn minh và tiến lên không ngừng, lấy tinh thần quật cường 12 ngày đêm chiến thắng B52 Hà Nội Điện Biên Phủ trên không trở thành sức mạnh và ý chí để bảo vệ và xây dựng đất nước. Tôi tin chắc rằng không có thế lực hiếu chiến nào trên thế giới có thể xâm lược được Việt Nam và chia rẽ mối tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam Lào chúng ta”.

Hàng chục ngàn lưu học sinh Lào trưởng thành từ Việt Nam đã chứng kiến chiến thắng oanh liệt 12 ngày đêm của nhân dân Việt Nam, cùng chung tâm trạng như Giáo sư tiến sĩ Ki-keo-Khay- khăm-phi–thun, như đại biểu Quốc hội Vilaysuk. Trong hòa bình ấm no, Việt Nam và Lào lại càng cần phải kể những câu chuyện quá khứ hào hùng ấy, để nhắc với tương lai con cháu về sức sống của hai dân tộc đã từng đồng cam cộng khổ để có ngày hôm nay./.

Quốc Khánh- Đặng Thùy/VOV-Vientiane
vov.vn

Người Hà Nội và ký ức Giáng sinh năm 1972

(VOV) – Trong ký ức của những người dân Hà Nội, giáng sinh năm 1972, Hà Nội mang vẻ đẹp bình yên và trầm trầm mặc. Nhưng…

Một Noel an lành đang đến, đường phố Hà Nội tấp nập, đông vui với những dòng người háo hức đón chờ đêm chúa giáng sinh cùng tiếng chuông ngân vang. Trong niềm vui ấy, người Hà Nội không quên ngày Noel lịch sử năm 1972 – ngày “Giáng sinh màu lửa” trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nhắc nhở người Việt Nam niềm tự hào về chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu.

Trên 20.000 tấn bom đạn Đế quốc Mỹ đã trút xuống nhưng không thể khuất phục được lòng yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.

Phố Khâm Thiên tan hoang sau trận bom năm 1972

Hà Nội ngày 25/12/1972, nhiều người dân Thủ đô đi sơ tán trở về với lòng tin Giáng sinh – người Mỹ không ném bom. Quả thế thật, sau đợt ném bom đêm 24/12/1972, Đế quốc Mỹ tuyên bố ngừng ném bom 36 giờ đón Giáng Sinh. Hà Nội vắng tiếng bom sau 7 ngày chiến đấu quyết liệt với pháo đài bay B52. Cuộc sống người dân Hà Nội trở lại với vẻ đẹp thanh bình vốn có.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên nhớ lại: “Tôi đi xe đạp qua phố Bà Triệu vẫn nghe thấy tiếng hát vọng lại. Dân Hà Nội rất đặc biệt, nhà cửa đổ tan như thế, các nhà đi sơ tán như thế nhưng không nhà nào khóa cửa, không mất gì trong nhà. Dân đổ xô ra đường dọn dẹp khu phố”.

Giữa những ngày đông, thời tiết Hà Nội ấm áp lạ thường. Từng tốp thanh niên, học sinh, sinh viên kéo về Hà Nội chơi Giáng sinh và lấy lương thực rất đông. Phố Khâm Thiên – nơi sinh sống rất nhiều người công giáo nhộn nhịp trở lại. Khu phố nằm xa các cơ sở quân sự nên dân chúng tin rằng ở đây an toàn. Các gia đình công giáo trở về, mong được đón ngày Chúa ra đời tại Nhà thờ Lớn. Trong dòng người đó có gia đình ông Phạm Văn Thông, ngày đó vợ và cô con gái 10 tuổi của ông từ Thường Tín trở về cùng ông ăn bữa cơm, cùng đi bộ lên Nhà thờ Lớn.

Ông Thông nhớ lại: “Vợ con tôi ra đi chơi Noel, mà cũng bởi đi mãi nhớ nhà nên về. Đây cũng là dịp về lấy lương thực”

Đêm Giáng sinh, phố nhà Chung bừng sáng. Người người kéo nhau về Nhà thờ Lớn, đường phố tấp nập như chiến tranh không hiện hữu trên mảnh đất này mà ở nơi nào xa lắm. Bên trong Nhà thờ Lớn đèn, nến lung linh, tiếng chuông ngân vang, cha xứ làm lễ cầu mong thái bình cho con dân. Mọi người đều hướng đến Chúa cầu nguyện cho ngày thái bình không xa.

Trong ký ức của những người dân Hà Nội, Giáng sinh năm 1972, Hà Nội mang vẻ đẹp bình yên và trầm trầm mặc. Nhưng…

36 giờ sau, đêm 26/12, ngay sau Giáng sinh 1 ngày, B52 lại rải thảm Hà Nội. Thành phố mất điện, còi báo động nổi lên thông báo máy bay Mỹ cách Hà Nội 80 cây số, 50 cây số… Mọi người chạy xuống hầm trú ẩn. Dân quân sẵn sàng chiến đấu…

Nhà sử học Dương Trung Quốc nói:  “Sau khi dừng bắn trong một ngày thôi, trong lúc người dân còn đang vui tết Noel, nhất là đồng bào thiên chúa thì bị tập kích. Chính trận tập kích ấy dẫn đến trận thảm sát ở trung tâm Hà Nội là Khâm Thiên. Đó là một tội ác rất man rợ”.

 Đối với người dân Hà Nội, những ngày bom đạn năm 1972 mãi còn trong ký ức

Sau đợt ném bom, phố Khâm Thiên tan hoang khi toàn bộ 6 khối phố bị xóa sạch bởi bom B52, gần 2.000 ngôi nhà bị đánh sập, 534 nhà bị phá hủy hoàn toàn, bom đạn đã cướp đi 283 sinh mạng, làm thương 266 người.

Trong những người không may có những đưa con của bà Nguyễn Thị Mão, ngõ Sâm Quần, Khâm Thiên. Khi biết tin Mỹ ngừng ném bom ngày Giáng sinh, con dâu và con trai lớn của bà tranh thủ từ Lai Xá, Hoài Đức trở về lấy lương thực và trông nom nhà cửa. Nhưng lời hứa mang lương thực về cho mẹ cùng các em mãi mãi không thực hiện được.

Biết bao mùa Giáng sinh an lành đã trôi qua, những căn hầm trú bom xưa đã được lấp kín, những đổ nát ngày nào giờ là đã được xây dựng lại. Người người háo hức đón chờ đêm Chúa Giáng sinh. Trong niềm vui ấy, người Hà Nội không quên những thời khắc lịch sử bởi có những hi sinh, những đau thương mất mát ngày ấy mới có hòa bình hôm nay./.

Ngọc Ngà/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

“Vít cổ” siêu pháo đài bay

Hỏng băng sóng 3cm, Quân chủng Phòng không – Không quân đã mời các chuyên gia Trung Quốc sang tìm cách sửa chữa, nhưng không có kết quả.

Én bạc đi ‘săn’ pháo đài bay
Lời tiên tri của Chủ tịch Hồ Chí Minh
‘Mỗi quả đạn là một B.52′
‘Rồng lửa’ Thăng Long xung trận
Tù binh và bí mật ‘Điện Biên Phủ trên không’
Chặn đứng ‘pháo đài bay’

“Trước đây, tôi cũng tin rằng những thiết bị điện tử có thể bảo vệ được B.52. Nhưng từ khi có chiếc B.52 đầu tiên bị bắn rơi trên bầu trời Bắc Việt Nam, thì tôi không thể nào còn tin được rằng B.52 thuộc loại bất khả xâm phạm được nữa. Ngược lại, đến nay tôi cho rằng những lời người ta nói về B.52 chỉ là những lời quảng cáo có tính chất rao hàng.

Bởi vì, bản thân tôi đã 7 năm liên tục làm sỹ quan điện tử, lại bay trên chiếc B.52 có những thiết bị điện tử tối tân nhất, thế mà vẫn bị tên lửa bắn rơi. Hơn thế nữa, tôi còn bị một mảnh tên lửa quật vào cằm, để lại một vết sẹo dài…”, trung tá William Conli, sỹ quan điều khiển thiết bị điện tử máy bay B.52 khai nhận khi bị bắt ở Hà Nội.

Người tạo đột biến cho tên lửa Bắc Việt

Người đàn ông có dáng người nhỏ nhắn, nhưng cặp mắt rất đỗi tinh anh ngồi tiếp chuyện chúng tôi trong một căn hộ tập thể cũ, nhỏ ở Khu tập thể Nam Đồng (Quận Đống Đa, Hà Nội) tên là Nguyễn Ngọc Lạc, Đại tá, nguyên là Trưởng phòng Tên lửa (Cục Quân khí, Tổng cục Hậu cần – Bộ Quốc phòng).

Thời điểm khi tiến hành việc khôi phục băng sóng 3cm, cải tiến ra-đa K-860 vốn được biên chế đồng bộ cho pháo 57mm, tạo đột biến cho hiệu suất bắn chuẩn của tên lửa SAM 2, ông là Thượng úy, Kỹ sư của Cục Quân khí.

Từ tháng 3/1971, ra đa K-860 của lực lượng phòng không miền Bắc Việt Nam đã có băng sóng 3cm, nhưng thực chất băng sóng đó bị hỏng không thể sử dụng được, nên ra-đa của pháo phòng không, khí tài tên lửa SAM-2; ra-đa cảnh giới tầm xa, ra-đa đo cao của phòng không; ra-đa bờ biển… chỉ còn dùng băng sóng 10 cm.

Chính vì vậy, khi Mỹ nắm được bước sóng đó, đối phương đã chế tạo tên lửa Sơ-rai đánh vào các trận địa, khí tài. Ngoài ra, để làm “mù” hệ thống phòng không Bắc Việt, quân đội Mỹ còn chế tạo máy phát nhiễu phá bước sóng 10 cm, gây khó khăn cho lực lượng phòng không, kể cả cao xạ và tên lửa, khiến hiệu suất chiến đấu không cao.

Cuối tháng 12/1972, khi B.52 tập trung đánh phá Hà Nội, Hải Phòng thì lúc này cũng là lúc ta đã khôi phục được băng sóng 3cm của ra-đa K-860. Đây chính là “yếu tố bất ngờ” với đối phương, vì Mỹ đã không kịp chế tạo loại tên lửa gây nhiễu cho bước sóng 3cm.

“Tôi còn nhớ, 3 ngày sau khi đã sửa được băng sóng 3cm, bộ đội cao xạ đã bắn rơi máy bay tiêm kích, bắt sống giặc lái. Một đồng chí cán bộ PK-KQ kể lại: “Khi khai thác viên phi công Mỹ, hắn cho biết là đã phát hiện loại bước sóng 3cm, nhưng cứ tưởng là sóng ra-đa trên máy bay MIG của Bắc Việt Nam, chứ không ngờ là ra-đa phòng không.

Đại tá Lạc cho hay: Trước đây, ông từng được giao quản lý khí tài tên lửa SAM-2, nên nghiên cứu và biết rõ tính năng, kỹ chiến thuật của loại tên lửa này và có thể vận dụng ra đa K-860 để hỗ trợ xác định mục tiêu B.52.

Tuy nhiên, lúc bấy giờ do sự phân cấp nên Cục Quân khí có nhiệm vụ chỉ tiếp nhận vũ khí, đạn dược để cất giữ, cấp phát và hướng dẫn cho các đơn vị sử dụng, khai thác, nên ông cũng không biết tình trạng khí tài như thế nào. Tình cờ, có một đồng chí cán bộ quân khí của Quân chủng PK-KQ cho biết: “Đơn vị vừa đưa ra-đa K-860 về xưởng để sửa chữa do cả hai băng sóng 1 và 2 đều hỏng. Đây là tình trạng chung của đơn vị”.

Thấy vậy, thượng úy Lạc đã báo cáo với cấp trên, đề nghị được trực tiếp đến đơn vị xem tình hình hư hỏng như thế nào. Trước đó, việc ra-đa K-860 hỏng băng sóng 3cm Quân chủng PK-KQ đã mời các chuyên gia Trung Quốc sang tìm cách sửa chữa, nhưng đều không có kết quả.

Ảnh tư liệu

Ngay từ khi bàn giao khí tài ra-đa K-860, do phát hiện không có tài liệu về nguyên lý, cấu tạo của băng sóng 3cm, nên chàng thượng úy trẻ Ngyễn Ngọc Lạc đã lo lắng: nếu không hiểu rõ nguyên lý, cấu tạo thì khi hư hỏng sẽ không thể tìm được nguyên nhân và cách khắc phục. Chính từ những trăn trở đó, ông đã chủ động tìm mọi cách kiếm tài liệu kỹ thuật về ra-đa để nghiên cứu.

“Ngày đó, khi ghé qua hiệu sách Tràng Tiền, rất may tôi đã tìm mua được 3 cuốn tài liệu tiếng Nga và tiếng Trung Quốc có liên quan đến kỹ thuật ra-đa. Về nhà tôi đã nghiền ngẫm mất gần 2 năm trời để đối chiếu với các chi tiết cao tần của ra-đa K-860 và cuối cùng cũng đã hiểu được nguyên lý hoạt động của băng sóng 3cm.

Khi đó, lại trùng với thời điểm tôi vừa biết ra-đa K-860 bị hỏng băng sóng 3cm. Qua nghiên cứu, chúng tôi đã bắt được bệnh và nguyên nhân hư hỏng và cùng nhau quyết tâm sửa cho bằng được”, đại tác Lạc cười hiền từ.

Trước tình hình đó, Tổng Cục Hậu cần do Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa (Chủ nhiệm Tổng cục) chủ trì đã tổ chức Hội nghị cán bộ để bàn và phân công giải quyết những vấn đề về kỹ thuật. Thượng úy, Kỹ sư Nguyễn Ngọc Lạc đã đề xuất được trực tiếp tổ chức thí điểm ra-đa K-860 với 2 băng sóng của một tiểu đoàn tên lửa thuộc Sư đoàn 361 đóng quân ở Hà Nội.

Kết quả thử nghiệm thành công, ra-đa có băng sóng 3cm đã hỗ trợ được cho khí tài tên lửa xác định mục tiêu tốt, sau đó bàn giao cho Quân chủng PK-KQ tiếp tục ứng dụng chiến đấu trong đợt Mỹ đánh phá 12 ngày đêm cuối năm 1972 trong chiến dịch Linerbacker 2. Ra-đa K-860 cải tiến đã vận dụng cho tên lửa SAM-2 xác định B.52 ở cự ly 30km, giúp người chỉ huy và các trắc thủ quyết định phóng tên lửa tiêu diệt mục tiêu chính xác.

“Đôi mắt” của những con Én bạc

Để có những chuyến xuất kích kịp thời, đến đúng vị trí, đánh trúng mục tiêu, hạ gục nhanh, tiêu diệt gọn, đánh chắc thắng của những “con én bạc” MIG 21 đối đầu với lực lượng hùng hậu bảo vệ các pháo đài bay B.52, phải có những đôi mắt nhìn xuyên đêm lẫn ngày qua màn hình ra-đa: các sỹ quan dẫn đường bay của MIG.

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên nhớ lại: Để đánh được B.52, lực lượng PK-KQ phải mất 3 năm, 3 tháng nghiên cứu cách đánh ở Quảng Bình. 3 tháng tập trung cao điểm nhất là tháng 8,9,10 với những sỹ quan dẫn đường gạo cội có kinh nghiệm dẫn bay, có độ nhạy cảm và tinh thần dám chịu trách nhiệm.

Hàng loạt cái tên sỹ quan dẫn đường ở Sở chỉ huy đã trở thành quen thuộc với các phi công lái máy bay MIG 21 trong những ngày đối đầu với không quân Mỹ tháng 12/1972: Lê Thành Chơn, Tạ Quốc Hưng, Lê Thiết Hùng, Hoàng Kế Thiện, Phạm Văn Khả, Hà Đăng Khoa, Trần Quang Kính, Đào Ngọc Ngư, Phạm Minh Cậy…

Trong một ngôi nhà nhỏ nằm trên phố Tân Mai (Hà Nội), Đại tá Tạ Quốc Hưng nhớ lại: Đến thời điểm bước vào chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, bộ đội PK-KQ đã có 8 năm kinh nghiệm chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ. Thế nhưng, khi vào cuộc chúng ta cũng gặp rất nhiều khó khăn.

Ở chiến trường phía Bắc, chúng ta luôn có ưu thế về dẫn đường trực tiếp cho phi công. Khi vào chiến trường khu 4, chúng ta mới gặp dẫn đường đối kháng. Lúc này Mỹ đã đưa các tàu dẫn đường vào vùng biển Đông nên đã gây cho ta rất nhiều khó khăn. Từ đó những trận không chiến trở nên vô cùng ác liệt.

Mọi hoạt động của không quân ta ở vùng này đều bị Mỹ theo dõi giám sát chặt chẽ. Chỉ cần máy bay của ta bay lên độ cao 2000m – 3000m là tiêm kích đối phương từ các khu vực được dẫn đến vây chặt. Mà MIG thường hoạt động chiến đấu ban đêm là chủ yếu. Đánh đêm, phi công thiếu sự chỉ huy, dẫn đường trực tiếp từ mặt đất là đã mất đi những yếu tố chiến thuật có lợi ban đầu. Thêm vào đó, phi công ta thường phải hoạt động đơn lẻ nên dễ bị địch tập trung lực lượng tiêm kích đánh chặn không cho tiếp cận B.52.

Mặt khác, mục tiêu trọng yếu của chiến dịch là thành phố Hà Nội và Hải Phòng… trong khi đó hầu hết các Sở chỉ huy cơ bản của các Trung đoàn bay lại nằm ở phía trong nên bị nhiễu rất nặng. Do đó không thể chỉ huy kịp thời và liên tục cho phi công được vì thiếu các dữ liệu về máy bay đối phương. Chúng ta chỉ có duy nhất một Sở chỉ huy vòng ngoài ở phía tây nam Hà Nội hơn 100 km, song do bị đánh phá thường xuyên nên cũng ảnh hưởng rất nhiều.

Học sinh trường THCS Nghĩa Dân, Kim Động, Hưng Yên ngắm nhìn những mảnh xác máy bay tại Bảo tàng. Ảnh: Đất Việt

Để bảo đảm dẫn đường cho không quân đánh chặn đúng B.52 thì vấn đề bảo đảm tình báo đủ và liên tục của ra-đa là quan trọng nhất. Thông thường trên mỗi sân bay cơ bản có 1 đơn vị ra-đa bảo đảm dẫn đường cho không quân chiến đấu và huấn luyện, Nhưng khi chiến dịch tập kích đường không diễn ra, tất cả các sân bay đều bị đánh phá và không chỉ một lần. Vì vậy ta phải trực chiến ở những sân bay cơ động, không có ra-đa bảo đảm cho dẫn đường.

Mặt khác, các đơn vị ra-đa ở phía trong, gần các mục tiêu đánh phá thường bị nhiễu rất nặng nên không thể cung cấp tin tức tình báo đủ và liên tục cho dẫn đường. Cất cánh chiến đấu ban đêm, phi công phụ thuộc rất nhiều vào các thông báo của dẫn đường, nhất là các số liệu về địch. Thiếu các thông tin này, phi công sẽ rơi vào thế bị động. Trong không chiến, bị động thì khó mà giành được thắng lợi.

Dẫn đường cho phi công đánh chặn địch trong màn nhiễu ban ngày đã khó, dẫn đường đánh B.52 trong màn nhiễu ban đêm còn khó hơn nhiều. Bởi lẽ phi công chỉ có thể phát hiện máy bay đối phương khi chúng bật đèn bay hoặc ra-đa trên máy bay. Trong thực tế, những tín hiệu của B.52 thật và của các tốp tiêm kích giả dạng B.52 bay trong màn nhiễu, dẫn đường rất khó phân biệt chính xác. Vì chúng có cùng tốc độ và độ cao như nhau.

Do vậy, để có được những trận không chiến thắng lợi, đội ngũ sỹ quan dẫn đường đã phải rút kinh nghiệm từ chính những lần dẫn đường cho phi công đánh chặn vào các tốp B.52 giả.

Ngay sau chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, rõ ràng từ cuộc tập kích đường không tháng 12/1972, các loại trang bị, vũ khí kỹ thuật cao đã được sử dụng phổ biến hơn nhiều. Một số trang bị, vũ khí mới xuất hiện như máy bay tàng hình, hệ thống cảnh giới báo động sớm (AWACS), tên lửa hành trình, các thiết bị tác chiến điện tử… có thể sẽ làm thay đổi cơ bản nghệ thuật tác chiến của không quân trong tương lai.

(Còn tiếp)

Trường Minh
vietnamnet.vn

Én bạc đi ‘săn’ pháo đài bay

‘Khi máy bay vừa dừng lại, tôi giật mình bởi phía trước là một hố bom khá lớn, chỉ nhích thêm một chút nữa thôi là máy bay của tôi đã đâm nhào xuống đó’, Đại tá Trần Cung nhớ lại.

“Trong bom đạn mịt mờ, tôi đã thấy những phụ nữ trên những ụ súng lia những khẩu súng trường theo các máy bay phản lực của Mỹ đang bay trên trời. Họ tin rằng họ có thể bắn rơi máy bay phản lực bằng một khẩu súng trường. Đây là một ý chí có tính chất truyền thống trong những người dân mà tôi đã gặp”, nhà báo Mỹ tường thuật lại trên tờ tạp chí “Quốc phòng toàn dân” về hình ảnh mà ông chứng kiến ở Hà Nội trong chiến dịch “Linebacker 2”.

Một khẩu súng trường có thể không săn đuổi được máy bay Mỹ, nhưng khi đã nhìn thấy những Khâm Thiên, những Bạch Mai, những Yên Viên… vùi sâu trong bom đạn, ý chí trong mỗi con dân người Việt là sẵn sàng ôm súng ra trận. Những cánh én bạc MIG.21 đã xung trận cùng một tâm thế đó.

Đối diện không lực Mỹ

Đại tá phi công Trần Cung (nguyên Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Đỏ, Sư đoàn bay Thăng Long) nay đã về nghỉ ngơi trong một ngôi nhà yên tĩnh nằm sâu trong một ngõ nhỏ ở đường Trường Chinh (Q. Thanh Xuân, Hà Nội). Ông đại tá có nụ cười rất hiền, ít ai tưởng tượng lại là một trong không nhiều người thuộc lớp phi công từng trực tiếp đọ sức với không quân Hoa Kỳ trên bầu trời Thủ đô.

Năm 1972, việc chuẩn bị đánh B.52 đã được các đại đội bay nghiên cứu, chuẩn bị trước hàng tháng, nhất là lực lượng đánh đêm của Trung đoàn Sao Đỏ. Nhưng thực ra, lúc đó cũng chưa ai biết “mặt mũi” B.52 nó như thế nào. Bao nhiêu cuộc trao đổi tìm cách phát hiện B.52, cách chống nhiễu, cách phóng tên lửa như thế nào cũng chỉ là trên sách vở. Cần phải cử một đoàn cán bộ đi nghiên cứu thực tế ở mặt trận B.3 – Vĩnh Linh xem các sân bay dã chiến hoạt động như thế nào.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77, Trung đoàn tên lửa 257 Đinh Thế Văn và kíp chiến đấu của anh đã bắn rơi tại chỗ 4 máy bay B-52. Ảnh tư liệu.

Chấp hành mệnh lệnh của trên, đơn vị đã cử các biên đội, tổ cơ động ngày và đêm đi các sân bay để mai phục, nghiên cứu cách đánh máy bay B.52. Lúc đó, Trần Cung đang mang quân hàm Thượng úy và là phi công của Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, Sư đoàn 371.

15h ngày 11/12/1972, đại tá Cung nhớ rất rõ: Tôi nhận lệnh cơ động máy bay đến căn cứ sân bay Hòa Lạc. 16h30′, máy bay cất cánh bay ở độ cao thấp. Lúc đó, để giữ bí mật, chúng tôi không được phép liên lạc bằng vô tuyến và khi đến sân bay phải vào hạ cánh trực tiếp. Tổ cơ động lúc bấy giờ gồm có các phi công: Trần Cung, Bùi Doãn Độ, Nguyễn Văn Tài và Nguyễn Văn Đễ – phụ trách bảo đảm kỹ thuật.

Khoảng 19h ngày 18/12, kíp trực phát hiện thấy tiếng động cơ từ dãy núi phía Tây, cứ tưởng là máy bay của ta bay huấn luyện, mọi người chạy ào ra xem, hóa ra chiếc máy bay F.4 của Mỹ đang bay dọc đường băng ở độ cao thấp và tiếp theo đó là một loạt bom nổ rền vang.

“Tất cả xuống hầm ẩn nấp”, tiếng chỉ huy vang lên. Mọi người nhanh chóng xuống hầm K5. Ngay sau đó, Sở chỉ huy Quân chủng phát lệnh kiểm tra tình trạng sân bay. Sau khi đồng chí trợ lý tác chiến kiểm tra và báo về sở chỉ huy, lệnh “Cấp 1: vào vị trí chiến đấu”; “52 Ấp Bắc – Cờ Hồng: mở máy, cất cánh” được phát ra.

“Hôm đó, như có sự linh cảm, mọi khi tôi điều khiển máy bay lăn, tăng cửa dầu lớn nhất, thả phanh rồi mới tăng lực; nhưng lần này tôi cho máy bay tăng lực xong mới thả phanh để máy bay tiếp xúc đường băng một cách ngắn nhất, nên máy bay của tôi chạy đà và tách đất rất sớm…

Sau này, khi rút kinh nghiệm, đồng chí Nguyễn Văn Đễ, phụ trách kỹ thuật đã vỗ vai tôi: “Phúc lớn cho nhà cậu, hôm ấy may là máy bay tách đất sớm, không thì đã “xong rồi”, vì phía cuối đường băng những tấm ghi do bom Mỹ bắn phá đã bị uốn cong, dựng ngược lên. Chỉ chậm một chút thôi, càng máy bay của cậu bị mắc vào đó, máy bay nổ thì không biết sẽ ra sao nữa”, ông cười vang kể lại.

Máy bay tách đất, thượng úy Trần Cung tiếp tục bay theo phương án “X”, ở độ cao thấp, vì các tàu và hạm đội của Mỹ ở biển Đông ra sức gây nhiễu, phá sóng vô tuyến điện, gây khó khăn cho việc chỉ huy, dắt dẫn của ta. Theo tính toán thời gian, khi bay được 3/4 quãng đường thì Sở chỉ huy lệnh cắt thùng dầu phụ, tăng lực, vòng phải lên độ cao 8.500m – hướng 3600.

Lúc đó, tôi hiểu phải thực hiện phương án “Y” (nghĩa là B.52 của địch đang đánh vào Hà Nội). Tôi hồi hộp lắm nhưng vẫn tự dặn lòng: Đây là thời cơ có một, không hai, phải quyết chiến, quyết thắng… Vừa lúc đó, Sở chỉ huy thông báo: Mục tiêu B-52 phía trước 25 km“.

Trần Cung cho máy bay tăng lực, tăng tốc độ bay theo số M = 1,2; tốc độ tiếp cận tới B.52 khoảng 300 đến 400km/h. Sở chỉ huy lệnh “Bình Minh” (nghĩa là bật ra-đa trên máy bay). Sau khi bật ra-đa, Trần Cung phát hiện thấy mục tiêu ở cự ly 15 km và chỉ sau 5 giây trên màn hình máy bay xuất hiện nhiễu tích cực và nhiễu tiêu cực dày đặc, ngoài trời thì tối đen như mực. Phải xử lý loại trừ nhiễu để chọn mục tiêu thật của B.52 nhưng rất khó khăn, trong khi đó máy bay của Cung vẫn giữ nguyên tốc độ lớn để tiếp cận B.52.

Lệnh từ Sở chỉ huy vang lên: “52 chú ý cảnh giới phía dưới, bên phải, phía sau”. Trần Cung phát hiện thấy 2 vệt sáng đang bám đuổi phía phải của máy bay, đoán chắc đó là F.4 của Mỹ. Khi khuất góc nhìn, Cung cho máy bay tăng độ nghiêng 900 và vòng gấp, tăng gia trọng lớn, đã nhìn thấy bên trái phía trên máy bay có 2 vệt sáng dài làm chiếc MIG rung mạnh.

Đúng là máy bay Mỹ đã phóng tên lửa về phía máy bay của Cung. Nhanh chóng vòng trở lại theo hướng bay cũ, Trần Cung tiếp tục giữ tốc độ và đuổi theo chiếc B.52 phía trước. Vừa ổn định được hướng bay thì Sở chỉ huy lại thông báo: “Cảnh giới, phía dưới, bên trái”. Lúc đó, chiếc F.4 của Mỹ lại đuổi theo và phóng tên lửa tới máy bay của Cung, nhưng Cung lại phát hiện và kịp thời tránh được.

Lần thứ 2 tránh thoát được tên lửa của đối phương, Trần Cung đưa máy bay trở lại hướng bay, đề nghị dẫn đường thường xuyên thông báo cự ly đến mục tiêu để kịp thời công kích theo lệnh. Lúc này màn hình ra-đa của máy bay không thể thấy được B.52 do nhiễu dày đặc nên muốn phóng tên lửa phải chờ lệnh của chỉ huy từ mặt đất…

Nhíu đôi mày, ông phác một cử chỉ dứt khoát: “Tôi còn nhớ như in cái đêm hôm ấy. Đêm đó bầu trời Hà Nội không có trăng, nhưng sao dày đặc, mây quy khoảng 3 đến 4 phần nên vẫn nhìn thấy sông Hồng uốn lượn như dải lụa, núi Tam Đảo sừng sững uy nghi. Vì không được phép bay vào vùng hỏa lực bảo vệ Hà Nội với bán kính 50 km, nên tôi phải điều khiển máy bay bay ở phía Tây“.

Lúc này tại khu vực Hà Nội, các hỏa lực tầng cao, tên lửa, cao xạ bắn lên sáng rực bầu trời và 1 chiếc B.52 vừa bị trúng đạn của lực lượng tên lửa phòng không bùng lên như bó đuốc khổng lồ ở phía Bắc Hà Nội.

Rồi ông thở dài nuối tiếc: “Đúng là cơ hội lập công đã không đến với mình. Lúc đó, phát hiện thấy đèn báo lượng dầu còn ở mức dự bị, tôi đã báo về mặt đất. Sở chỉ huy lệnh bay về sân bay Nội Bài hạ cánh. Khi máy bay bay đến khu vực sân bay Nội Bài nhưng không thể liên lạc được vì sân bay vừa bị địch đánh phá.

Sở chỉ huy tiếp tục ra lệnh đưa máy bay về sân bay Kép, đến nơi sân bay cũng bị địch đánh phá nên cũng không thể liên lạc được với mặt đất. Tôi tiếp tục nhận lệnh bay về sân bay Gia Lâm thì đèn hàng hành sân bay không chuẩn bị kịp nên tôi lại tiếp tục cho máy bay trở lại sân bay Nội Bài. Ác một nỗi, tôi cứ bay đến khu vực sân bay nào thì đều bị hỏa lực của ta bắn dữ dội, bởi đêm tối nên họ tưởng máy bay địch…”.

Hạ cánh trên miệng hố bom

Đã không còn cơ hội tiêu diệt B.52, nên Trần Cung quyết tâm phải đưa máy bay về hạ cánh an toàn, trường hợp bất đắc dĩ mới phải nhảy dù. Thế rồi, trong cái rủi lại có cái may! Lúc đó, do tình huống đặt ra nên phương pháp bay có sự thay đổi. Phi công Cung bay với tốc độ nhỏ để tiết kiệm dầu liệu. Chính cách bay ấy đã cứu Cung không bị trúng đạn, bởi hỏa lực mặt đất của ta thường bắn theo tốc độ lớn của máy bay Mỹ.

Khi đến khu vực sân bay Nội Bài, Cung điều khiển máy bay vào vòng kín rất hẹp, sau vòng 4 thì thả càng, thả cánh tà 450 đồng thời bật đèn pha, lúc này hỏa lực dưới mặt đất mới không bắn nữa. Trần Cung đã điều khiển máy bay hạ cánh trong điều kiện không có chỉ huy, không có đèn chiếu mà đèn sân bay chỉ còn lác đác mấy chiếc ở cuối đường băng. Lúc đó ông chỉ nghe loáng thoáng được một câu từ đài thông tin sơ tán: “Đồng chí cứ yên tâm hạ cánh!”.

Phi công Cung quyết định cho máy bay tiếp đất ở ngoài đường băng. Sau khi tiếp đất, tắt máy, thả dù giảm tốc, phanh tối đa, máy bay đã chạy vượt qua những hố bom bi.

Thật ra, vì không đủ ánh sáng nên khi đó tôi không thể nhìn thấy các hố bom trên đường băng. Nhưng chính thế lại thêm một lần may mắn: Khi máy bay vừa dừng lại, tôi giật mình bởi phía trước là một hố bom khá lớn, chỉ nhích thêm một chút nữa thôi là máy bay của tôi đã đâm nhào xuống đó. Lúc này nhìn đồng hồ máy bay đã báo là hết sạch dầu“, 40 năm sau, đại tá Cung thở phào nhẹ nhõm như chuyện vừa xảy ra hôm qua.

Trong khi đó, tình hình chiến sự vẫn diễn ra mỗi lúc một ác liệt. Trên bầu trời máy bay Mỹ vẫn đang hoạt động rất ráo riết. Không thể khác, Cung liền ra khỏi máy bay và chạy đến miệng hố bom lớn cạnh đường bê tông để nếu cần thì lăn xuống đó tránh bom của đối phương.

Phạm Tuân – Trung đoàn 921 trong trận đánh đêm 27/12/1972 đã bắn rơi 1 máy bay B-52 trên bầu trời Mộc Châu – Sơn La. Đây là chiến công đầu tiên của Không quân Việt Nam bắn rơi B-52 của Mỹ. Ngày 3/9/1973, anh được tuyên dương Anh hùng LLVT.

Đêm cuối tháng, trời tối đen như mực, khoảng mươi phút sau, Cung phát hiện loang loáng phía sau chừng 50m có một máy bay vừa hạ cánh đang nằm chềnh ềnh ở trạng thái nghiêng lớn. Do bị chấn động mạnh nên buồng lái của nó bị biến dạng, phi công đang cố đạp nắp buồng lái để chui ra.”Đoán là máy bay của ta, tôi liền hô to:

– Ai đấy?

– Tôi – Tuân đây! Phi công Phạm Tuân đây!

Đúng là đồng đội mình rồi. Tôi nhanh chóng chạy lại kéo Phạm Tuân cùng đến cạnh hố bom lớn. Chờ cho địch ngưng bắn phá, chúng tôi quyết định chạy bộ vượt qua bãi đất về khu vực đài K5 và trở về Sở chỉ huy Trung đoàn rút kinh nghiệm sơ bộ…”, ông nhớ lại cảnh 2 phi công dắt nhau chạy tránh bom đêm nào.

Sau khi nhận báo cáo sơ bộ về đợt đầu không quân cất cánh đánh B.52, Quân chủng ra lệnh tiếp tục sử dụng lực lượng không quân đánh B.52. Trung đoàn sử dụng 2 phi công Vũ Đình Rạng, Vũ Xuân Thiều và một số phi công khác tiếp tục cất cánh đánh B.52, nhưng do kinh nghiệm đánh đêm chưa nhiều nên mấy đêm tiếp theo lực lượng không quân của ta đều chưa tiêu diệt được B.52. Riêng thượng úy Trần Cung tiếp tục nhận lệnh cơ động chiến đấu đến sân bay Yên Bái, sân bay dã chiến Phú Thọ, sân bay Cẩm Thủy…

Trong lần cất cánh ấy, tuy không có cơ hội tiêu diệt B.52, nhưng việc phi công miền Bắc Việt Nam dám lái MIG đột nhập vào giữa vòng bảo vệ dày đặc các loại tiêm kích chiến đấu hộ tống B.52, đã phá được đội hình tác chiến của không quân Mỹ. Đây là lần đầu tiên, MIG21 của miền Bắc Việt Nam đã ngang nhiên đối đầu với “Pháo đài bay” bất khả xâm phạm của Hoa Kỳ.

Trường Minh
(Còn tiếp)

vietnamnet.vn

’12 ngày đêm máu lửa’ qua bài giảng Thiếu tướng

– Sáng 3/12, Thiếu tướng Vũ Anh Thố cùng thầy trò Trường THPT Đống Đa (Hà Nội) đã có buổi trò chuyện ôn lại chiến thắng Điện Biên Phủ trên không của quân dân thủ đô năm 1972.

THÔNG TIN LIÊN QUAN

Điện Biên Phủ trên không: Ngày phán xét
Lầu Năm Góc: Lẩn tránh và Giấu diếm
Lầu Năm Góc ồ ạt gửi điệp viên ra nước ngoài
Chặn đứng ‘pháo đài bay’

Thiếu tướng Vũ Anh Thố và hồi ức về một thời đạn bom năm 1972.

Nói chuyện với các học trò THPT về 12 ngày đêm máu lửa, Thiếu tướng Vũ Anh Thố – Nguyên Phó Tư lệnh quân chủng phòng không không giấu được xúc động: “Chúng ta chiến thắng nhưng hàng ngàn quân dân thủ đô đã ngã xuống. Riêng Khâm Thiên 1 đêm thôi đã có 577 người chết và bị thương, 534 ngôi nhà bị phá hủy”.

Bài giảng về một thời đạn bom

Lúc B52 đánh vào Hà Nội là khi ông đang làm cán bộ tiểu đoàn tên lửa. Tiếng gầm thét của máy bay B52, sự đáp trả của nhân dân ta trên các mặt trận lại có dịp trở về trong kí ức của vị thiếu tướng quân sự.

4 vấn đề được trình bày, theo Thiếu tướng Vũ Anh Thố: “Cũng là những điều tôi nghe, tôi thấy bạn bè, thầy cô và học trò hay hỏi: Nguyên nhân gì Mỹ dùng B52 đánh Hà Nôị? B52 là gì? Ta đánh B52 như thế nào? Ý nghĩa lịch sử của chiến thắng là gì?”

“Khi ấy Mỹ đang thất thế ở chiến trường miền Nam nước ta với 48.000 quân bị chết (có tài liệu nói 58.000), 300.000 bị thương, thiệt hại đến 130 tỷ USD. Mỹ đánh Hà Nội nhằm cứu vãn tình thế nhằm bóp nát chúng ta, bắt VN phải theo ý định của chúng trên bàn hội nghị. Đánh Hà Nội, Mỹ muốn cắt đứt chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Đây cũng là đòn giáng vào phong trào giải phóng dân tộc, ủng hộ VN của nhân dân thế giới đang lên cao” – Vị thiếu tướng dẫn giải.

Một nửa lực lượng không quân chiến lược Mỹ có và toàn bộ không quân chiến lược ở Đông Nam Á, 2 tàu sân bay, toàn bộ lực lượng ở Philippines với tổng cộng 270 tàu lái sẵn sàng thay thế nhau đánh Hà Nội.

Loại máy bay chiến lược tối tân B52 với 6 cái nhất đã được lính Mỹ sử dụng, đặc biệt là khả năng chở tối đa 45 tấn bom/lần. B52 được trang bị chống đối về kỹ thuật tối tân nhất và bay cao, bay xa nhất.

“Cứ hình dung họ dùng một đèn pha lớn chiếu thẳng vào mắt để ta không nhìn được. Chúng muốn đem sức mạnh bom đạn và chiến thuật nhằm bịt mắt ta nhằm hủy diệt thủ đô Hà Nội” – Thiếu tướng Thố ví von.

Dẫu gặp nhiều khó khăn nhưng quân dân Hà Nội và miền Bắc đã mưu trí đáp trả bằng những đòn đích đáng. Ông nhắc lại việc Bác Hồ đã lường trước việc Mỹ có thể đánh Hà Nội từ những năm 1966, 1967 để quân chủng phòng không không quân chuẩn bị kỹ lưỡng. 6 năm thử thách trên chiến trường với 3 trung đoàn tên lửa, khí tài, hàng nghìn cán bộ chiến sĩ hi sinh ta đã tìm ra cách đánh và thành công.

Thầy trò Trường THPT Đống Đa hát mừng kỉ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ
trên không (tháng 12/1972-tháng 12/2012).

“14/12 ta phê duyệt kế hoạch thì 18/12 máy bay của Mỹ đánh vào Hà Nội.

Ta chỉ có tên lửa SAM2, pháo cao xạ,.. “thường thường” nhưng với chiến thuật “địch dùng đèn chiếu thẳng, ta khôn khéo tránh và đứng sang bên sườn, đánh kiểu “móc họng”, đánh từ sau gáy, đánh knock out”.

Thế trận được quân dân Hà Nội chuẩn bị như cách nói của Thiếu tướng Thố: “Ta dùng “đơm đó” đón địch vì dự đoán địch bay vào đâu, bay như thế nào, chiến thuật ra sao, chỗ nào đánh được, đánh B52 ra sao,…”

Hai trận chiến ác liệt nhất là đêm 20/12 rạng sáng 21/12 và đêm 26/12 rạng ngày 27/12. Xác máy bay rơi, xác pháo, tên lửa sáng rực bầu trời đêm Hà Nội.

16.000 tấn bom đã rơi trên đất Hà Nội, hàng ngàn quân dân của chúng ta ngã xuống. Riêng Khâm Thiên thôi 1 đêm đã có 577 người chết và bị thương, 534 ngôi nhà bị phá hủy” – Vị Thiếu tướng xúc động.

Muốn trò hay Sử phải bắt đầu từ lãnh đạo

Bản thân vị thiếu tướng cũng buồn khi có vị lãnh đạo nói về chiến thắng Điện Biên Phủ trên không nói “chúng ta nối dài tên lửa để đánh được máy bay” trên ti vi. Ông đi truy tìm, có người bảo do cô giáo dạy, trong sách Lịch sử lớp 11. Ông tìm mãi không ra.

Giọng ông trầm buồn: “Đó là điều không đúng, không chính xác. Thế nên lịch sử chỉ có một mà viết mãi vẫn không đúng. Có người vẫn nói sai”.

Nhân câu chuyện chiến thắng năm xưa, Thiếu tướng Thố cho rằng: “Có nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề ý thức hiểu biết lịch sử của thế hệ trẻ ngày nay. Với tư cách là giáo viên quân sự, nhà khoa học quân sự và người chỉ huy tôi tin tưởng vào thế hệ trẻ.

Lịch sử là truyền thống của dân tộc, đất nước và của một lớp người. Khi đất nước có xâm lăng thì cành cây ngọn cỏ, con ong cái kiến cũng trở thành lực lượng để chống ngoại xâm. Lắm lúc đánh giá chưa chính xác về thế hệ trẻ. Họ sẽ làm được những điều chúng ta đang suy nghĩ và trăn trở”.

Muốn thổi tình yêu lịch sử, theo Thiếu tướng Thố: “Phải bắt đầu từ gia đình và những người lãnh đạo. Xây dựng xã hội tốt đẹp phải chọn người lãnh đạo giỏi, đất nước phải có phong tục tập quán, nề nếp gia phong và có nhiều gia đình tốt”.

Dạy Lịch sử theo ông có thể bằng nhiều cách, đơn giản nhất là qua thơ ca, ca dao, văn chương hay những điệu múa. “Trẻ từ 10 tuổi trở xuống nhớ rất lâu. Hãy gieo vào lòng các cháu tình yêu ấy từ nhỏ. Học Lịch sử cũng như “năng nhặt chặt bị”, cuốc cày rèn rũa mãi cũng sáng nhưng không thể nhồi nhét kiểu học vẹt”.

Thiếu tướng Vũ Anh Thố trăn trở: “Dạy học và dạy học Lịch sử hiện nay không toàn diện, thiếu gắn kết vai trò của gia đình nên hiệu quả chưa cao”.

  • Văn Chung

vietnamnet.vn

Sư đoàn 361 kỷ niệm chiến dịch Điện Biên Phủ trên không

(VOV) -Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, cán bộ chiến sĩ sư đoàn 361 tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Hòa chung khí thế của quân và dân cả nước, sáng 20/12, Sư đoàn phòng không 361 (Sư đoàn phòng không Hà Nội) tổ chức Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Diễn văn của Đại tá Nguyễn Quang Tuyến – Sư đoàn trưởng Sư đoàn 361 đã ôn lại mốc son chói lọi của thắng lợi trong chiến dịch Hà Nội 12 ngày đêm và khẳng định “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là thắng lợi của ý chí dám đánh, quyết đánh và đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

12 ngày đêm, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, riêng Sư đoàn Phòng không Hà Nội bắn rơi 25 chiếc B52 (16 chiếc rơi tại chỗ), diệt và bắt sống nhiều giặc lái.

Trong thắng lợi vĩ đại đó, nhiều tập thể, cán bộ, chiến sỹ của Sư đoàn đã nêu cao tinh thần đoàn kết, sáng tạo, vượt lên mọi hy sinh mất mát để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đó là Trung đoàn 257, Trung đoàn 261 với nhiều tiểu đoàn tên lửa lập công xuất sắc, đánh giỏi, bắn rơi nhiều máy bay; là tấm gương hy sinh anh dũng sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng của trắc thủ kính ngắm quang học Nghiêm Xuân Danh của Tiểu đoàn 77.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Đại tá Nguyễn Quang Tuyến nói: Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cán bộ chiến sĩ sư đoàn đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tập trung xây dựng đơn vị vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vu sẵn sàng chiến đấu…/.

Huy Nam/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Tiếp nối khúc quân hành

(VOV) – Chương trình nhằm kỷ niệm 68 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Tối 21/12, tại Hà Nội, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tổ chức chương trình nghệ thuật “Tiếp nối khúc quân hành”. Chương trình nhằm kỷ niệm 68 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2012) và kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Chương trình nghệ thuật mở màn bằng bài hát “Tổ quốc gọi tên mình” và “Khát vọng tuổi trẻ” đã nêu bật truyền thống vẻ vang của Quân đội thể hiện sự tiếp nối giữa hai thế hệ để tiếp tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, vì Tổ quốc giàu mạnh, văn minh.

Mưu đồ đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá của Nixon đã bị đập tan bởi sự anh dũng và quật cường của quân và dân ta. Trong ảnh, các chiến sỹ tên lửa bên “Rồng lửa” SAM 2

Tại chương trình còn diễn ra buổi giao lưu giữa những cựu chiến binh trong hai cuộc chống Mỹ với thanh niên hôm nay thông qua những câu chuyện thời chiến, thời bình.

Có mặt tại chương trình nghệ thuật, Đại tá Nghiêm Đình Tích, bồi hồi nhớ lại những ngày này cách đây 40 năm, khi đó, ông đang công tác tại Đại đội Ra-đa 45 ở Nghệ An. Chính ông là người phát thông báo đầu tiên “B52 đang hướng về Hà Nội”. Đó là thông báo quý báu và kịp thời, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử.

Chia sẻ những cảm xúc khi được chứng kiến sự tiếp nối thế hệ trẻ, Đại tá Nghiêm Đình Tích nói: “Giây phút này tôi bồi hồi nhớ lại thời trẻ của chúng tôi được tiếp bước cha anh lên đường đi đánh Mỹ, hy sinh tuổi trẻ của mình vì dân, vì nước, mọi sự riêng tư để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tự hào kế tục cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Chúng tôi đã phát hiện được B52 từ xa để báo cho Hà Nội. Như vậy, Bộ đội Ra-đa của chúng tôi không để Tổ quốc bị bất ngờ trước chiến dịch tập kết đường không quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng”./.

Lại Hoa/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

“Em bé Hà Nội” và ký ức ám ảnh về năm 1972

(VOV) -Những kỷ niệm về Hà Nội trong 12 ngày đêm hứng chịu bom B52 vẫn sống động trong tâm trí NSND Lan Hương dù khi ấy chị mới gần 10 tuổi.

PVLà nhân vật chính trong phim “Em bé Hà Nội”, cũng đã từng trải qua những ngày tháng Hà Nội bị ném bom B52, chị nhớ gì về những ngày tháng ấy?

NSND Lan Hương: Năm 1972 tôi mới 9 tuổi, đang học lớp 4 trường tiểu học Thụy Khuê. Không biết với đứa trẻ 9 tuổi khác thế nào chứ tôi thì rất sợ hãi. Bà ngoại tôi chỉ có 2 người con là mẹ và bác ruột tôi. Bà đẻ 9 người chết 7 nên cả nhà luôn luôn ko rời  nhau, có một quan điểm chết là chết cùng. Gia đình tôi đi sơ tán rất gần, chỉ ngay qua Hà Đông một tí thôi, có hiện tượng gì là chạy về Hà Nội ngay. Nhưng không được phép ở Hà Nội vì lúc đấy người già, trẻ con ở lại Hà Nội là bị kỷ luật nên nhà nán nán ở HN, thỉnh thoảng lại về quê.

Đêm đầu tiên bị ném bom B52 là cả nhà đang ở Hà Nội, ở 72 Hoàng Hoa Thám. Phải nói là mưa bom chớp giật kinh hoàng, chỉ nghe thấy tiếng rú, tiếng hét xung quanh. Lúc bấy giờ Hà Nội rất nhỏ, chỉ loanh quanh mấy phố, tiếng hét ở đâu cũng có cảm giác nghe thấy rất rõ. Hôm sau, 4h sáng, cả nhà cơm đùm cơm nắm quấn vội mấy cái quần áo chạy về Hà Đông, Bình Đà. Không được chứng kiến cảnh bom đạn ở mấy địa điểm như Khâm Thiên nhưng tôi nghe thấy, nhìn thấy bom trên trời. Lúc bấy giờ ở đấy chỉ có mấy cái hầm cá nhân nhỏ nhỏ, lúc xuống là nhảy bổ vào đầu nhau mà xuống, còn chả kịp kéo nắp hầm lại đâu, cứ người lớn ôm lấy trẻ con như thế.

Bộ phim “Em bé Hà Nội” là viên gạch đầu tiên trong sự nghiệp nghệ thuật của NSND Lan Hương

PVGia đình đi sơ tán gần, lại thường xuyên quay về Hà Nội, chắc là trong 12 ngày đêm Hà Nội bị thả bom chị đều sống trong cảnh nguy hiểm cận kề?

NSND Lan Hương: Trong những ngày đó bom thả liên tục, chỉ ngưng 1,2 ngày gì đó. Hồi đó tôi rất sợ nên thấy người lớn bàn luận gì là ngồi nghe. Tôi không giống những đứa trẻ con khác quên được ngay những chuyện đấy, đi ra chơi đâu. Tôi nghe ông ngoại nói hôm nay không đánh đâu thì hôm đó chỉ nghe thấy ì ì từ xa, mọi người thở phào nhẹ nhõm, coi như thoát được một hôm.

Nhà tôi sơ tán ở đường Bình Đà, chỗ ấy bộ đội đóng rất nhiều: cao xạ pháo, cao xạ tầm cao, kho xăng, quân nhu. Mọi người bảo dại thế đi sơ tán phải tránh xa  nơi quân đội đóng vì rất nguy hiểm nhưng cả nhà bảo thôi cứ gần nhà, đây là quê từ thời xa xưa, đây là một dịp quay trở về quê, cho nên sống chết cứ ở đây.

Hôm ấy nghe nói đánh bom ở chỗ đường này, cả nhà vào nhà họ hàng ở chỗ sông Đáy, cách mặt đường đấy dăm bảy cây. Đi bộ vào đấy tưởng yên tâm, tối hôm đấy nó đánh đúng đê sông Đáy. Thì ra là nó ném bom lệch, định ném bom ở tâm điểm này thì ném vào đúng chỗ mình chạy đến đấy.  Hầm chữ A tốc hết, cây chuối cây xoan phạt ngổn ngang, che kín cả hầm mình. Khói khét mù mịt, tiếng hét, tiếng khóc kinh hoàng.

Mỗi khi vào hầm bà ngoại tôi có cái dây thừng buộc chặt cả 5 người vào với nhau gồm hai ông bà ngoại, 2 anh trai con ông bác ruột và tôi. Khi hết bom, khói còn nghi ngút, mọi người đang nhốn nháo thì cả nhà gỡ dây, chạy về chỗ sơ tán, cách dăm bẩy cây, hai bên là bom nổ chậm, cứ thế là chạy. Tôi không bao giờ quên được nỗi kinh hoàng đấy.

Đôi mắt biết nói là dấu ấn mạnh mẽ nhất trong diễn xuất của “em bé Hà Nội”

PVNhững trải nghiệm đó giúp ích gì cho chị trong quá trình đóng phim “Em bé Hà Nội”?

NSND Lan Hương: Khi đóng phim, chỉ cần đạo diễn bảo nhớ lại những ngày tháng ấy, những lúc Hà Nội bị ném bom thì nỗi sợ hãi và giận dữ sống lại trong tôi, rất thật. Tôi cũng đã trải qua chiến tranh những năm 1965, 1966, khi ấy mới 3,4 tuổi nhưng tôi vẫn nhớ nỗi sợ hãi luôn thường trực. Từ bé tôi đã nghĩ tại sao mình phải trốn, trốn tránh suốt ngày, ngày ngủ đêm thức để chạy như thế.

PV: Bộ phim được quay trong gần 2 năm trời, kỷ niệm nào khiến chị nhớ nhất?

NSND Lan Hương: Đóng phim rất vất vả vì mùa hè nắng gắt mà lại mặc đồ mùa đông vì bối cảnh của phim vào tháng 12 mà. Nhưng mùa hè mới có nắng, quay cảnh ngoài trời mới đẹp, mùa đông chỉ quay nội cảnh. Tôi bệnh phổi, bệnh phế quản, cứ nóng quá, mồ hôi ra là ho. Mấy năm đấy ho liên tục nhưng đi quay thì hết ho, về nhà lại ho. Tinh thần mà, yêu việc diễn lắm, cứ như lên đồng. Ngay từ bé mọi người đã nhận xét bình thường lười lắm, không bao giờ tự làm gì, nhưng trước ống kính bảo ngã là ngã, bảo chạy là chạy. Giờ lên sân khấu cũng thế, diễn như lên đồng, nhưng không lười nữa (cười)

Gần 50 tuổi, NSND Lan Hương vẫn thường được gọi là “em bé Hà Nội”

PV: Có cảnh quay nào ám ảnh chị cho đến bây giờ không?

NSND Lan Hương: Có một cảnh rất xúc động là khi Ngọc Hà năn nỉ người bán hàng đừng gạch tên mẹ và em mình trong sổ tem phiếu. Thực ra lúc ấy bác Hải Ninh bảo khóc thì tôi khóc chứ thực ra chả hiểu lắm, thật tình không hiểu. Bác Hải Ninh cũng giải thích cắt thế này là mẹ chết rồi thì mình bảo chết rồi thì cứ cắt chứ có sao. Thực sự không hiểu lắm, nếu giờ ba hoa là lúc đấy xúc động nọ kia là nói dối. Chỉ hiểu là mẹ Ngọc Hà chết rồi nhưng đừng xóa tên, có cái tên bên cạnh là được rồi. Sau này mới thấu hiểu.

Khi con gái tôi 5 tuổi, tôi gửi cháu đi nước ngoài. Khi ấy tôi rất nghèo nhưng gia đình có thể đi nước ngoài, tôi không đi, chỉ gửi con sang với chồng. Hồi ấy kiểm tra nhân sự, hộ khẩu rất khắt khe nhưng tôi vẫn cố gắng giữ tên con bé ở hộ khẩu cho đến bây giờ, gần 30 năm rồi. Tôi cố giữ vì khi có tên con trong sổ nhà mình, có cảm giác con đang đi đâu xa mấy ngày, chứ không có cảm giác nó đi lâu lâu, mãi không thấy về.

Tôi mới vận lại mới hiểu được à, Ngọc Hà bảo không gạch tên mẹ nó, em nó vì nếu còn cái tên thì cảm giác giống như mẹ nó, em nó còn tồn tại bên cạnh mình, vẫn có thể trở về…

PV: Xin cảm ơn NSND Lan Hương về cuộc trò chuyện này./.

Việt Hòa/VOV online
vov.vn


Vkyno hân hạnh giới thiệu tới bạn đọc bộ phim: Em bé Hà nội

Chuyên gia Mỹ nói về thất bại trên không ở Hà Nội năm 1972

(VOV) -Mỹ đã sai lầm trong chiến thuật cũng như xem thường khả năng phòng không của không quân Việt Nam.

TS John Prados – Giám đốc các dự án tư liệu Việt Nam và Tình báo thuộc Trung tâm Lưu trữ An ninh Quốc gia Mỹ trả lời phỏng vấn phóng viên Đài TNVN về góc nhìn của ông về thất bại của Mỹ trong chiến dịch 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”.PV: Thưa TS Prados, lý do nào khiến Chính phủ Mỹ quyết định ném bom tàn phá miền bắc Việt Nam vào cuối tháng 12/1972?

TS John Prados: Vào đầu năm 1965, Chính phủ Mỹ bắt đầu hình thành ý tưởng ném bom khu vực Hà Nội, nhưng không nhất thiết phải sử dụng B52. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1965-1966, Tham mưu trưởng liên quân Mỹ lên tiếng đề xuất cái gọi là một “đòn nặng” vào thủ đô của Việt Nam.

Mặc dù không được cụ thể hóa bằng văn bản nhưng đề xuất này có thể được hiểu hoặc suy luận rằng, họ đang ám chỉ các vụ tấn công bằng B52.

Tiến sỹ John Prados:

Dù phương án này bị bác bỏ vào thời điểm đó nhưng ý định ném bom Hà Nội, Hải Phòng luôn bất biến trong các quyết định của Chính phủ Mỹ, thể hiện qua chiến dịch không kích mang tên “Sấm Rền” xuống miền bắc Việt Nam kéo dài cho đến năm 1968.

Sau chiến dịch “Nguyễn Huệ” của quân giải phóng miền Nam đầu năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã lần đầu tiên đề cập đến kế hoạch ném bom Hà Nội.

Ông Nixon nêu vấn đề này vào đầu tháng 4/1972, thời điểm giao tranh trên bộ ở miền nam Việt Nam đang lên đến đỉnh điểm.

Lúc này cũng đang diễn ra tiến trình đàm phán giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với một loạt các cuộc thảo luận giữa Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger và phái đoàn Việt Nam do ông Lê Đức Thọ dẫn đầu.

Vào mùa thu năm 1972, cuộc đàm phán này gần như đã mang lại một thỏa thuận, trong đó bao gồm một lệnh ngừng bắn, chấm dứt giao tranh ở miền nam Việt Nam.

Thời điểm đó, người Mỹ đang ở trong tình thế vừa đang tiến gần tới một hiệp định với miền bắc Việt Nam, vừa bất đồng với đồng minh ở miền nam Việt Nam. Trong bối cảnh đó, kế hoạch ném bom Hà Nội bằng B52 được khôi phục lại.

PV: Trong chiến dịch ném bom miền bắc Việt Nam, không quân Mỹ đã thiệt hại nặng với hàng chục “Pháo đài bay” B52 bị bắn rơi – điều chưa từng xảy ra đối với loại máy bay này cho đến thời điểm đó. Ông có thể đánh giá những nguyên nhân dẫn đến thất bại của phía Mỹ? 

Tiến sỹ John Prados: Tôi cho rằng, miền bắc Việt Nam đã đánh giá một cách hợp lý về những hành động mà người Mỹ có thể thực hiện.

Họ đã chuẩn bị phòng thủ khu vực Hà Nội và tiến hành sơ tán dân thường, góp phần hạn chế thương vong trong chiến dịch ném bom cuối năm 1972.

Lực lượng phòng không miền bắc Việt Nam đã luyện tập kỹ lưỡng với tình huống Mỹ có thể sẽ đánh phá khu vực Hà Nội, Hải Phòng.

Ngoài ra, hệ thống phòng không của miền Bắc khá mạnh vào thời điểm đó và ứng phó hiệu quả với máy bay Mỹ.

Về phía Mỹ, các chỉ huy quân đội đã phạm nhiều sai lầm trong chiến dịch ném bom Hà Nội. Họ đã không xây dựng được một kế hoạch thấu đáo, không tính toán được khả năng phòng thủ mạnh đến như vậy của miền bắc Việt Nam.

Một vấn đề nữa là việc sử dụng lẫn lộn các loại máy bay chiến đấu. Mỹ đã sử dụng hai loại máy bay B52 và một trong số đó dễ bị tổn thương trước mạng lưới phòng không của Việt Nam hơn loại kia. Ngoài việc sử dụng lẫn lộn các loại máy bay thì phía Mỹ còn để đối phương dễ đoán được ý đồ khi không thay đổi phương thức tấn công trong các vụ oanh kích.

PV: Dù thiệt hại nặng nhưng phía Mỹ khi đó vẫn cho rằng chiến dịch ném bom Hà Nội đã thành công. Ông nhận xét thế nào về quan điểm này?

Tiến sỹ John Prados: Người Mỹ cho rằng, chiến dịch ném bom miền Bắc là một thắng lợi quân sự của họ. Một số quan chức và nhà quan sát quân sự Mỹ còn lập luận rằng, hệ thống phòng không của miền bắc Việt Nam đã tự hủy hoại mình bằng cách sử dụng toàn bộ kho tên lửa đất đối không.

Tôi cho rằng, việc miền bắc Việt Nam đã sử dụng toàn bộ tên lửa SAM hay chưa thì cũng không quan trọng vì ném bom Hà Nội không phải là điều mà người Mỹ có thể dễ dàng lặp lại hoặc tiến hành trong một khoảng thời gian dài như đã làm trong giai đoạn 1965-1968.

Ngoài ra, Mỹ không có đủ dữ liệu cụ thể để chứng tỏ rằng lực lượng phòng không miền bắc Việt Nam đã sử dụng hết tên lửa trong chiến dịch ném bom Giáng sinh (Linebacker II).

Một điểm đáng chú ý nữa là hành động mang tính chiến lược của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong việc chuyển nhiều máy bay chiến đấu xuống miền Nam trước khi chiến dịch ném bom xảy ra cũng có nghĩa là Hà Nội vẫn còn các nguồn lực dự phòng để có thể sử dụng trong trường hợp cần thiết. Vì vậy, chiến dịch ném bom này chỉ mang lại một hiệu quả hạn chế về chiến thuật chứ không tạo ra một tác động lớn về chiến lược.

PV: Ông có thể cho biết về phản ứng của dư luận Mỹ đối với chiến dịch ném bom Hà Nội khi đó?

Tiến sỹ John Prados Không lâu trước khi qua đời, ông Alexander Haig, cấp phó kỳ cựu của Henry Kissinger và cũng là người rất gần gũi với Tổng thống Nixon đã nói rằng, ông ta nhận thấy triển vọng thắng lợi tại Việt Nam vào thời điểm chiến dịch ném bom Giáng sinh.

Theo ông Haig, lúc đó, Hà Nội đang gục ngã và sẽ bị khuất phục hoàn toàn nếu Mỹ tiếp tục kéo dài chiến dịch này cho đến mùa Xuân năm 1973.

Lập luận của ông Haig là không khả thi chút nào trong bối cảnh nước Mỹ khi đó, chưa nói đến sức mạnh của miền bắc Việt Nam.

Quốc hội Mỹ đã bắt đầu quay lưng lại với cuộc chiến tranh Việt Nam và đang chuẩn bị cắt giảm ngân sách cho cuộc chiến.

Hơn nữa, chiến dịch ném bom Hà Nội, Hải Phòng đã châm ngòi cho một làn sóng chỉ trích chính quyền Nixon trong giới truyền thông Mỹ. Cơn bão chỉ trích ngày càng mạnh và ảnh hưởng tới dư luận Mỹ vốn đang phản đối cuộc chiến ở Việt Nam và ủng hộ thỏa thuận ngừng bắn.

Công chúng Mỹ đang rất hy vọng vào một hiệp định hòa bình khi Kissinger tuyên bố “Hòa bình đã ở trong tầm tay” nên chiến dịch ném bom chính là cái tát thẳng vào mặt người dân Mỹ.

PV: Chiến dịch ném bom Hà Nội đã gây ra hai luồng ý kiến trái chiều về ảnh hưởng của chiến dịch này đối với Hiệp định Paris năm 1973. Một số người cho rằng cuộc không kích đã buộc Hà Nội trở lại bàn đàm phán trong khi một số khác lại có quan điểm trái ngược, ông nhận xét thế nào về vấn đề này?  

Tiến sỹ John Prados: Đây là vấn đề trọng tâm của lịch sử trong giai đoạn này. Phần lớn các sử gia Mỹ cho rằng chiến dịch ném bom B52 đã buộc miền bắc Việt Nam quay trở lại bàn đàm phán.

TS John Prados là Giám đốc các dự án tư liệu Việt Nam và Tình báo thuộc Trung tâm Lưu trữ An ninh Quốc gia Mỹ. Ông bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam vào năm 1967 và là tác giả của nhiều cuốn sách viết về cuộc chiến tranh Việt Nam như “In Country: Remembering the Vietnam War”, “Vietnam: The History of an Unwinnable War”, “The Hidden History of the Vietnam War”, “Valley of Decision: The Siege of Khe Sanh”.

Nhưng theo quan điểm của tôi, trước khi vụ ném bom xảy ra, Washington và Hà Nội đã khá thống nhất với nhau về những bước đi tiếp theo đối với Hiệp định hòa bình.Nếu nhìn vào nội dung bản dự thảo thỏa thuận mà hai bên đã thống nhất vào tháng 10/1972 và Hiệp định được ký kết tại Paris vào tháng 1/1973, chúng ta có thể thấy rằng chúng khá giống nhau.

Tôi nghĩ chính sự cần thiết phải củng cố lòng tin của chính quyền Sài Gòn đối với Mỹ đã dẫn đến việc Washington quyết định ném bom miền bắc để chứng tỏ sức mạnh mà họ sẵn sàng sử dụng nếu Hà Nội vi phạm thỏa thuận ngừng bắn mà hai bên đang thúc đẩy.

Vì vậy, ảnh hưởng thực chất của chiến dịch ném bom Giáng sinh đối với phương thức tiếp cận của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong vấn đề hiệp định hòa bình là rất nhỏ, nếu không muốn nói là không hề có./.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nhật Quỳnh-Huy Hoàng/VOV-Washington
vov.vn