Thư viện

Em là đội viên mắt sáng

Hơ Nin nǎm nay lên chín rồi. Ngày em mới lên ba, mắt em đau nặng. Mẹ em đi hái lá thuốc trong rừng sâu, lấy nước suối trên khe xa, đào rễ cây trong hang núi đất hết lòng chạy chữa. Nhưng mắt em vẫn không khỏi. Em thành người tàn tật.

Cha Hơ Nin là du kích bị Pháp bắt giết trong một trận chống càn nǎm ngoái. Nhà chỉ còn mẹ và Hơ Nin, nên em phải vất vả. Em làm suốt ngày, ít nói, ít cười. Trong buôn ai cũng khen em: “Con bé Hơ Nin chǎm làm, hát hay mà mù lòa, tội nghiệp”.

em doi vien mat sang ảnh minh hoaẢnh minh họa

Một tối, thiếu nhi trong buôn họp, đang bàn bạc sôi nổi thì em đến. Các bạn đã giao hẹn với nhau ngày 19-5 vừa qua chưa làm lễ kỷ niệm Ngày sinh Oa Hồ được. Ngày lễ mừng Oa Hồ sẽ làm chung với Ngày Quốc tế Thiếu nhi sắp tới. Đến ngày đó, mỗi đội viên phải có 50 cây chông. Hơ Nin chưa vào đội. Em ngồi một góc không ai để ý, xin nói:

– Tôi có phải vót không các bạn?

– Vót cũng được, không cũng được.

Một bạn khác bảo: Thôi mày là con gái, con mắt mày không sáng, tìm cái cây trong rừng không ra, cầm cán dao không chắc, đừng vậy. Tan họp về nhà, Hơ Nin nhớ lại: Hôm qua anh bộ đội Ma Trang Lơng đến, nói chuyện về Oa Hồ. Anh nói nhiều chuyện lắm: Oa Hồ suốt đời chịu khổ để lấy lại nước cho đồng bào Kinh, đồng bào Thượng, Oa Hồ yêu nhân dân lắm. Oa Hồ chỉ bảo mọi người cách đánh Pháp. Nhất là chuyện Oa Hồ yêu thương sǎn sóc trẻ em… Anh nói tiếp: “Các em cứ ngoan ngoãn, cố gắng giúp đỡ người lớn đánh Pháp. Bao giờ cả nước độc lập, thống nhất thế nào Oa Hồ cũng vào chơi… chưa biết chừng có em còn được Oa bế vào lòng, có em được vuốt râu Oa, được nhìn thấy mắt Oa sáng như sao trên trời”. Các bạn vui quá, bàn tán sôi nổi. Rồi anh bộ đội lại giảng giải về Ngày Quốc tế Thiếu nhi .

Anh dịch bài báo dài “Ngày 1-6 nǎm nay” từ tiếng Kinh ra cho các bạn nghe. Rồi anh đọc tiếp: Quốc tế là nhiều làng, nhiều nước bên phía mặt trời mọc, nhiều làng, nhiều nước bên phía mặt trời lặn, nhiều làng, nhiều nước bên Liên Xô, bên Pháp, bên Mỹ xa xôi hợp lại; là nhiều con suối con nhỏ, nhiều con suối lớn, nhiều con sông, nhiều khu rừng, nhiều trái núi, nhiều cái làng ít người như buôn Đờ Rết, nhiều cái làng lắm người có cái da đen, có cái da trắng, da vàng. Họ ở khắp trên rẫy, khắp trên mặt đất, họ đoàn kết nhau lại… Họ đều muốn làm cho trẻ em không bị đói khát, không bị dốt, không bị bệnh tật, không có người đánh đập, giành giật nhau nữa.

Nhiều em ngơ ngác…- Ô hay, cả cái thằng Pháp, cả cái thằng Mỹ đem trái bom thả, cũng đoàn kết à? Thiếu nhi bên kia phía mặt trời mọc, mặt trời lặn, có ǎn cơm, có uống nước suối, đốt cái rẫy, bẫy con hươu, con mang, bắt con cá, con chim như mình không?

Cha, thằng Pháp, thằng Mỹ chúng nó đi giết đồng bào Kinh, bắn đồng bào Thượng kia mà?

Bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu thắc mắc dồn dập làm cho anh bộ đội Oa Hồ phải sắp xếp, cắt nghĩa thế nào là Pháp Mỹ giết người, ǎn cướp, thế nào là nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ yêu tự do, hòa bình…

Hơ Nin hỏi mẹ:

– Bao giờ làm cái lễ mừng tuổi Oa Hồ và cái lễ của thiếu nhi nhiều nước hở mẹ?

– Du kích bảo còn nǎm đêm nữa – Bà tiếp.

– A` Hơ Nin, đêm ấy con có đi…

Bà định bảo Hơ Nin đi “xem” cho vui, nhưng như một chiếc gai mắt mèo đâm vào tim bà, bà đau đớn nhìn con. Rồi bà nói lại:

– Con đi cho vui chứ?

– Thôi con ở nhà nằm nghe hát cũng được mẹ ạ!

Thế là suốt cả nǎm ngày, ngày nào em cũng dậy sớm hơn mọi bận, lấy nước, lấy củi, cho con gà, con chó ǎn no. Chờ mẹ đi rẫy, Hơ Nin lại trốn mọi người men ra bìa rừng sờ soạng chặt từng cây mò o nhỏ. Chiều đến, mẹ về mẹ hỏi:

– Hơ Nin có lấy nhiều nước không?

– Có chớ? Lấy ba bầu lớn bên suối nước trong mẹ ạ.

– Con gái mẹ có cho con heo nái mới đẻ ǎn no không?

– No, no lắm.

– Tre nứa đâu nhiều vậy?

– Con xin đấy.

Hơ Nin vẫn giấu mẹ. Mấy hôm liền em ngồi một chỗ kín để vót chông, ba cây, rồi nǎm cây, rồi bảy cây, rồi mười một cây Rồi nhiều, nhiều lắm. Em không đếm được con số to nên nó lộn phèo lên.

Chiều hôm sau, sau nữa. Đồng bào trong buôn đi rẫy về. Mẹ em cũng về. Bộ đội du kích kéo đến rất đông. Trong buôn ồn ào xôn xao. Họ nhảy múa quanh đống lửa. Họ hát bài hát bằng tiếng Ê đê.

Bập bập, bập bùng

Đồng bằng với buôn xanh

Kinh, Thượng ta xông lên

Tiêu diệt lũ đế quốc

Quyết gìn giữ non sông

Tiếng hát vang lên, dội vào vách núi đá, trào lên lớp cây rừng, vượt ra ngoài con suối, chảy theo dòng sông Ba rồi lan đi xa, xa mãi…

Lửa trong đêm hội bùng sáng to. Chủ tịch buôn khai mạc lễ mừng Ngày sinh nhật Hồ Chủ tịch và Ngày Quốc tế Thiếu nhi. Người ta thấy có mặt Hơ Nin đêm nay. Em ì ạch mang theo bó chông to. Em đang loay hoay nhẩm đi tính lại, không biết có đủ nǎm mươi cây chông không? Em tìm một anh du kích nộp chông. Em vui mừng nói: “Phần em mừng Oa Hồ mạnh khỏe sống lâu. Em đoàn kết nắm chặt cái tay với thiếu nhi nhiều nước đấy?”

Mẹ thương Hơ Nin quá. Bà ôm chặt con vào trong lòng. Nhiều người chǎm chú nhìn em cảm phục, nhất là các đội viên thiếu niên. Rồi ngay khuya hôm ấy, bộ đội, du kích mang chông chôn khắp ngả đường Pháp đi, và phục xung quanh đồn Mờ Lá. Sáu mươi sáu cây chông của Hơ Nin và ngàn ngàn, vạn vạn cây của đội thiếu niên, của các mẹ, các chị, cộng với máu và nước mắt cǎm thù của bao nhiêu người, thằng Pháp nhất định phải thua to.

Tin Hơ Nin vót chông đánh giặc không mấy chốc lan đi khắp làng, khắp huyện và biến thành một cuộc vận động lớn. Thế là du kích có thừa chông để giam chân quân giặc, góp phần chiến thắng cho chiến dịch xuân – hè Liên khu V và Điện Biên Phủ. Từ đó các anh bộ đội kể cho nhau nghe chuyện em. Nhiều người không nhớ rõ tên. Họ chỉ gọi em là “Em đội viên mắt sáng”.

Theo báo camau.gov.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Những bức thư của Bác Hồ gửi các cháu thiếu nhi nhân Ngày Quốc tế Thiếu nhi 1-6

Bác Hồ là người luôn quan tâm, chăm sóc giáo dục thiếu niên nhi đồng. Những lời dạy và bài viết của Người dành cho lứa tuổi thiếu nhi được xem như là một trong những di sản vô giá của dân tộc và của thế hệ trẻ nước ta. Đó cũng chính là những quan điểm, phương hướng mà Đảng, Nhà nước và các cấp có thẩm quyền đã, đang và sẽ lấy đó làm phương châm để giáo dục và rèn luyện thế hệ măng non của đất nước.

hcm doi song van hoaBác Hồ với các cháu thiếu niên, nhi đồng (Ảnh: Tư liệu)

Còn nhớ, tháng 7 năm 1926, Bác đã có ý định gửi một số gương mặt thiếu nhi tiêu biểu của nước ta sang đào tạo ở Liên Xô (cũ). Trong một bức thư gửi Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin. Người đã quan tâm đến một vấn đề rất nhỏ, Người hỏi các bạn Liên Xô rằng “Đến tháng nào thì ở Mátxcơva bắt đầu rét?”. Chỉ vì lý do là thiếu nhi nước ta đã quen với khí hậu khô nóng. Quả thật, tấm lòng đó của Bác đối với tuổi thơ đã gây những xúc động đặc biệt cho mọi người.

Những năm tháng trước Cách mạng Tháng Tám 1945, trong hoàn cảnh “vận nước gian nan”, Người đã đau lòng trước cảnh “Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng/ Học hành, giáo dục đã không/ Nhà nghèo lại phải làm công, cày bừa/ Sức còn yếu, tuổi còn thơ/ Mà đã khó nhọc cũng như người già/ Có khi lìa mẹ, lìa cha/ Đi ăn ở với người ta bên ngoài…”. Và mong muốn lớn của Bác lúc bấy giờ là “Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây/ Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng” … Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Người cũng có rất nhiều bài viết, ý kiến dưới rất nhiều hình thức đề cập đến tuổi thơ Việt Nam.

Trên báo Sự Thật, số 134 ra ngày 1/6/1950, đăng bức thư gửi thiếu  nhi  toàn  quốc  nhân  ngày 1-6. Bức thư với lời lẽ âu yếm, giản dị, dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc đã thể hiện được sự quan tâm, thương yêu hết mực của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta đối với tuổi thơ. Mở đầu bức thư, Người viết: “Các cháu yêu quý! Ngày 1-6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới. Đáng lẽ tất cả các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như trẻ con ở Liên Xô…”. Và Người đã vạch rõ: “Song ở các nước tư bản, cha mẹ là người lao động bị bóc lột, thì trẻ con cũng bị bóc lột, phải chịu cực khổ”. Người còn nêu ra những dẫn chứng cụ thể: “Ví dụ: Mỹ là một nước nhiều tiền bạc nhất, có những nhà đại phú, ngồi mát ăn bát vàng. Nhưng con nhà lao động thì lên 5, lên 6 tuổi đã phải đi làm thuê, làm mướn. Ở nước Việt Nam ta thì, vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người, cướp của. Vì vậy, người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến”. Đặc biệt, chúng ta vô cùng cảm động trước tình cảm, lời hứa và trách nhiệm của Người dành cho thiếu nhi: “Bác thương các cháu lắm. Bác hứa với các cháu rằng: đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công, thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cùng cố gắng làm cho các cháu cùng được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng…”.

Một năm sau, vào ngày 29/5/1951, trên Báo Cứu Quốc số 1828, Bác lại có “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân Ngày Quốc tế Thiếu nhi”. Cũng lời lẽ trìu mến, đầm ấm, thiết tha như năm nào, Bác đã gửi lời thân ái đến toàn thể nhi đồng cả nước. Bác nhắc đến ngày 1-5, ngày của những người lao động thế giới tỏ tình đoàn kết, đấu tranh. Còn ngày 1-6 “là ngày của các cháu nhi đồng trong thế giới tỏ tình đoàn kết và sức đấu tranh của mình…”. Hình thức đấu tranh của các cháu nhi đồng mà Người đưa ra rất cụ thể, thiết thực. Đó là, các cháu cần phải “Thi đua học tập, thi đua tăng gia sản xuất; thi đua giúp đỡ các gia đình thương binh, tử sĩ. Thế là các cháu đấu tranh”. Bác còn có lời khuyên nhủ chí tình: “Các cháu phải đoàn kết, thương yêu nhau” và là đoàn kết, thương yêu giữa nhi đồng trong nước với nhau, cũng như bạn bè thiếu nhi trên thế giới. Bác gọi “Đó là tinh thần quốc tế”. Mà đã có tinh thần quốc tế thì khi lớn lên, thế giới sẽ không có áp bức, không có chiến tranh, không có xung đột mà chỉ có tình thân ái, giúp đỡ, giữ gìn và hưởng thụ hạnh phúc, hòa bình và dân chủ. Chao ôi, tình của Bác thật dạt dào cao cả, ý của Bác thì vô cùng sâu sắc, nhìn xa, thấy rộng. Cho đến bây giờ, những lời căn dặn, khuyên nhủ, dạy bảo của Bác năm nào cho đến bây giờ vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi và giá trị thiết thực của nó.

Năm 1952, Bác không có thư cho Ngày Quốc tế Thiếu nhi, nhưng lại có thư Trung thu gửi các cháu thiếu nhi. Vẫn tình cảm vô cùng dạt dào nồng thắm ấm tình người, Bác thổ lộ tâm tình: “Ai yêu các nhi đồng/ Bằng Bác Hồ Chí Minh”; Bác căn dặn các cháu : “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tùy theo sức của mình”, để mãi mãi xứng đáng “Cháu Bác Hồ Chí Minh”. Năm 1953, trên Báo Nhân  Dân  số 115, từ ngày 1 đến ngày 5/6/1953, Bác gửi đăng bức “Thư gửi nhi đồng trong nước và ngoài nước nhân Ngày 1-6”. Lần này, Bác lại thể hiện tình thân ái, ân cần, trìu mến và thân thương nhất không chỉ đối với các cháu nhi đồng trong nước mà cả với “nhi đồng các nước bạn và nhi đồng thế giới”. Bác còn đặc biệt “gửi lời khen ngợi các cháu trong vùng bị tạm chiếm đã hăng hái tham gia kháng chiến”.

Ngày 7/5/1954, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta. Đất nước còn bộn bề khó khăn và công việc, Bác và Trung ương vẫn chưa về tiếp quản Thủ đô, nhưng Bác vẫn không quên gửi bức thư ngắn cho các cháu nhi đồng toàn quốc nhân Ngày 1-6. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Bác vẫn căn dặn các cháu phải ngoan ngoãn, chú ý rèn luyện cả về nhân cách và thể lực để trở thành công dân có sức khoẻ và tiến bộ. Năm 1955, nhân Ngày 1- 6, Bác liên tiếp có hai bài viết, một gửi cho các cháu và cán bộ các trường miền Nam (Theo tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh); một đăng trên báo Nhân Dân số 445, ra ngày 1/6/1955. Lần này, Bác lại vẫn nhắc đến vấn đề đoàn kết. Và trong hoàn cảnh cụ thể  lúc  bấy  giờ,  Bác  nhấn mạnh rằng: “Trước hết, các cháu phải thương  yêu  giúp đỡ nhau, phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết giữa các cháu lớn và các cháu bé… giữa các cháu vùng này với các cháu vùng khác… giữa các cháu và các cô, các chú cán bộ”. Bác nhắc các cháu thiếu nhi các trường miền Nam phải “yêu lao động, giữ kỷ luật. Chớ tự do phóng túng, phải tự lực cánh sinh… thi đua học tập, thi đua trong mọi việc…”. Không những thế, Bác còn căn dặn các cô, các chú cán bộ “phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình” để chăm nom, bồi dưỡng các cháu – những người chủ tương lai của nước nhà”. Bác nhấn mạnh rằng : “Ngày 1-6 nhắc nhủ người lớn (trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo, Đoàn thanh niên) nhiệm vụ của mình đối với nhi đồng”, “Yêu quí các em” là phải lấy “tinh thần dân chủ mới mà giáo dục các em “5 điều yêu”: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu quí của công”, và nuôi dạy các em phát triển sức khỏe, trí óc, “thành trẻ em có “4 tính tốt”: hoạt bát, mạnh dạn, chất phác, thật thà”… và có “tư cách của con người mới: Không sợ khó, không sợ khổ, bạo dạn, bền gan”. Bác nhấn mạnh rằng: “8, 9 năm qua, chúng ta kiên quyết kháng chiến; hiện nay chúng ta kiên quyết đấu tranh cho hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước – cũng nhằm mục đích xây dựng cho con cháu chúng ta một đời sống sung sướng, vui tươi, thái bình, hạnh phúc. Đồng thời chúng ta phải khéo giáo dục để mai sau nhi đồng trở thành công dân có tài, có đức”, xứng đáng là người chủ của nước nhà.

Ba tháng trước lúc Người đi xa, cũng nhân dịp Ngày 1-6, Bác đã có lời căn dặn toàn Đảng, toàn dân cần “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” (Báo Nhân Dân, số 5526, ngày 1/6/1969). Bác khẳng định: “Nói chung trẻ con ta rất tốt”, Bác nhắc đến các cháu thiếu nhi ở hai miền Nam, Bắc thi đua làm nghìn việc tốt như thế nào, thành tích ra sao. Tuy nhiên, “vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn”. Nói thế là Bác muốn nhắc đến vai trò và trách nhiệm của người lớn đối với các em. Người luôn cho rằng: “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ…”. Bác kêu gọi mọi người: “Vì tương lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”. Chuẩn bị cho ngày đi gặp các cụ Các Mác, Lênin, trong di chúc của mình, Người lại nói: “… Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Ôi, lời Bác, tình Bác đã, đang và sẽ là hành trang cho bao thế hệ trẻ bước vào đời và đang vĩnh hằng cùng năm tháng…

Nguồn: Báo Đồng Nai
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên

(GD&TĐ) – Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân ta luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò của đoàn viên, thanh niên, Người luôn dành tình cảm, sự quan tâm chăm lo, bồi dưỡng, động viên đến các thế hệ thanh niên của nước nhà.

Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên Đán năm 1946, Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Bởi theo Người, đoàn viên, thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay yếu, suy hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục đạo đức cho đoàn viên, thanh niên. Nhìn nhận đoàn viên, thanh niên một cách toàn diện, thấy rõ vị trí, vai trò “Là người tiếp sức cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai.” Do vậy, Người đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên thanh niên thành đội xung kích cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc.

Người yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Đi đôi với việc giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, mỗi đoàn viên, thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng bởi theo Người: “Thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì lợi ích cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người”. Đạo đức cách mạng ấy là sự triệt để trung thành với cách mạng, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, sẵn sàng xả thân cho đất nước, điều đó được thể hiện ở ngay trong suy nghĩ và hành động hàng ngày của mỗi đoàn viên, thanh niên.

Bác Hồ với đoàn viên, thanh niênBác Hồ với đoàn viên, thanh niên

Để tuổi trẻ trở thành người cách mạng chân chính, những con người mới XHCN, Người nhấn mạnh việc cần thiết phải giáo dục đoàn viên, thanh niên tính trung thực, ngay thẳng, tác phong khiêm tốn, giản dị, tinh thần lao động tích cực, siêng năng, táo bạo và sáng tạo. Đoàn viên, thanh niên phải luôn có tinh thần cố gắng vươn lên, sống cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, phải thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Không những thế, Người còn yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải chống tâm lý tự ti, tự lợi, chỉ lo vun vén cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình, chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay…đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của đoàn viên, thanh niên.

Thương yêu hết lòng và đặt niềm tin trọn vẹn vào đoàn viên, thanh niên, Người nhấn mạnh: “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi mới thật là thanh niên “. Trước lúc đi xa, Người đã để lại cho đoàn viên, thanh niên “Muôn vàn tình thương yêu”,

Người đánh giá: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”; và căn dặn “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng”vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Từ bức thư tâm huyết gửi thanh niên Việt Nam hồi đầu thế kỷ đến lời “Di chúc” cuối cùng, Bác Hồ luôn dành cho đoàn viên, thanh niên tình cảm thương yêu, trìu mến, sự chăm sóc ân cần.

Không chỉ chăm lo và giáo dục, cổ vũ đoàn viên, thanh niên học tập và phấn đấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một mẫu mực của tấm gương đạo đức cách mạng, cần kiêm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng và nhân dân. Suốt đời phấn đấu vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của đoàn viên, thanh niên. Coi đây là lực lượng xung kích, là đội dự bị tin cậy của Đảng và coi công tác thanh niên là vấn đề được đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn phụ thuộc vào lực lượng đoàn viên, thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên. Do vậy, phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng – sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích…của đoàn viên, thanh niên  trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”, tuổi trẻ cả nước đã phát huy truyền thống của thế hệ trước, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào: “Xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Đồng hành cùng thanh niên lập thân lập nghiệp”, tích cực tham gia các diễn đàn: “Tuổi trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Tiếp lửa truyền thống – Mãi mãi tuổi hai mươi”, “Thanh niên sống đẹp sống có ích”…

Những tình cảm, sự quan tâm, chăm lo, dìu dắt của Bác Hồ dành cho đoàn viên, thanh niên luôn là nguồn động lực cổ vũ, khích lệ tuổi trẻ cả nước nói chung, tuổi trẻ Yên Bái nói riêng hăng hái, xung kích cùng toàn dân xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như Bác kính yêu hằng mong muốn.

Phạm Thị Duyên
gdtd.vn

Tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bài học cho thế hệ trẻ

(GD&TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại nhiều bài học quý giá cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Có những bài học được Người dạy trực tiếp hoặc lập ngôn, trước tác để lại, tuy nhiên cũng có những bài học mà thế hệ sau rút ra được từ tư tưởng, hành động của Người. Chẳng hạn từ tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể rút ra bài học về định hướng tương lai và hành động cho thế hệ trẻ.

Dưới chân tượng đài Bác Hồ (ảnh do đoàn cung cấp)Đoàn tình nguyện Hành trình xanh chụp ảnh lưu niệm nơi tượng đài Bác Hồ trong chương trình “Hành trình xuyên Việt 2011- từ Làng Sen đến Bến Nhà Rồng” (ảnh do đoàn cung cấp)

Có thể thấy, tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ thuở nhỏ, khi còn là cậu bé Nguyễn Sinh Cung, được giáo huấn lòng yêu nước, gần dân của gia đình; được thừa hưởng nền văn hóa truyền thống đấu tranh bất khuất của xứ Nghệ, lại tiếp thu truyền thống chống ngoại xâm hàng nghìn năm của dân tộc để rồi hình thành ở Người lòng yêu nước thương nòi.

Đặc biệt khi được hầu chuyện cha với các sĩ phu yêu nước đồng thời là thầy học của mình như Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, Trần Thân, Phan Bội Châu… Người dần hiểu được thời cuộc và nỗi ưu tư của các bậc thầy, cha chú trước cảnh nước mất nhà tan. Những câu chuyện đàm đạo đó đã truyền lửa tới tâm hồn Người. Và, vốn có tư chất thông minh, tư duy độc lập, Người đã ôm ấp chí lớn cứu nước, cứu dân. Với nghị lực phi thường, không chịu đi theo lối cũ của các bậc tiền bối, Người đã quyết chí đi sang phương Tây để thấy tận mắt đất nước của những kẻ đã tới thôn tính dân tộc mình, mong tìm con đường giải phóng dân tộc.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì Tổ quốc, vì dân tộc là mối quan tâm hàng đầu, trở thành tư tưởng trung tâm, cốt lõi trong hệ thống tư tưởng của Người. Và tất cả những suy nghĩ, những lời nói, mọi hành động trong suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhằm để thực hiện lý tưởng, hoài bão đó.

Năm 1911, với tên Văn Ba, Người ra đi tìm đường cứu nước. Tất cả những việc làm như phụ bếp, bồi bàn đến dọn tuyết, …, Người đều không từ nan để thực hiện lý tưởng. Trong suốt thời gian đó, hễ có cơ hội là Người thể hiện quan điểm, tư tưởng của mình. Như tại Đại hội Tours cuối năm 1920 của Đảng Xã hội Pháp, đến lúc biểu quyết, gia nhập Đệ Tam hoặc ở lại Đệ Nhị Quốc tế thì với tên Nguyễn Ái Quốc, Người bỏ phiếu cho Đệ Tam Quốc tế. Bởi vì Người hiểu rõ một điều Quốc tế thứ 3 rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Quốc tế thứ 3 nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Người nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu.” .

Tìm con đường giải phóng dân tộc cứ canh cánh trong lòng Nguyễn Ái Quốc, như một lực hấp dẫn, chiêu cảm mạnh mẽ, để rồi dẫn đường Người tới với Sơ thảo luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa là “cái cần cho chúng ta, là con đường giải phóng chúng ta”.

Trở về nước năm 1941, Người chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam, trong thư Kính cáo đồng bào, Người khẳng định và chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thẩy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng” . Thế rồi cách mạng tháng Tám thành công, chính Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập và tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và thật sự đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” .

Rõ ràng, Tổ quốc và nhân dân là mối quan tâm thường hằng tạo nên những trăn trở thường xuyên trong tâm khảm Người. Trả lời các nhà báo, Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” .

Cuối tháng 5 năm 1946, nhận lời mời đi thăm hữu nghị nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử cụ Huỳnh Thúc Kháng làm quyền Chủ tịch Chính phủ trong thời gian Người đi vắng (4 tháng). Trước khi đi Người đã nói chuyện với đồng bào: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân […]. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân” . Và Người nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng rằng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ “Dĩ bất biến ứng vạn biến””. Đó chính là một triết lý, là mối quan hệ giữa cái không thay đổi và cái thay đổi, giữa bản thể và hiện tượng,… là vấn đề trung tâm của triết học xuyên suốt từ cổ chí kim. Dĩ bất biến ứng vạn biến tức là lấy cái bất biến (không thay đổi) mà ứng phó với cái vạn biến (cái luôn thay đổi). Ý nghĩa triết lý trên là ở chỗ dù mọi sự vật hiện tượng có muôn hình vạn trạng, có thiên sai vạn biệt, phong phú, đa dạng, biến hóa khôn lường nhưng đều xoay quanh trục của nó. Ở đây cái bất biến của dân tộc Việt Nam trong lúc “ngàn cân treo sợi tóc” là Tổ quốc độc lập, dân tộc tự do. Chính với phương châm triết lý đó, ở nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nghiêm khắc trừng trị bọn Quốc dân Đảng gây rối, cũng như các thế lực chống phá Nhà nước Việt Nam non trẻ, giữ vững được nền độc lập dân tộc.

Nhưng chỉ sau một năm tuyên bố độc lập cho Tổ quốc trước toàn thể quốc dân đồng bào và quốc tế, thì thực dân Pháp định cướp nước ta một lần nữa. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đanh thép tuyên bố: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!” . Và, chính bằng quyết tâm thực hiện tư tưởng chủ đạo đó, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quân và toàn dân ta đã đánh thắng giặc Pháp xâm lược, làm nên một Điện Biên chấn động địa cầu.

Để giành và bảo vệ độc lập Tổ quốc, tự do dân tộc, nhân dân ta hết kháng Pháp lại kháng Mĩ. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, ngày 17/7/1966, lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện câu nói bất hủ, cũng là nguyên lý, nguyên tắc đầu tiên và trên hết trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” . Đó là đỉnh cao của lý luận, được đúc rút từ thực tế đất nước Việt Nam, trong suốt cuộc đời hoạt động của Người và đã trở thành chân lý vĩnh hằng…

Như vậy, bài học mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại thật nhiều. Có những bài học đã trở thành giá trị văn hóa có ảnh hưởng không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại. Từ tư tưởng chủ đạo và hành động suốt cuộc đời của Người, có thể rút ra nhiều bài học, nhưng nổi bật hai bài học quan trọng cụ thể là:

Thứ nhất bài học mang tính thực tiễn không chỉ dành cho lớp trẻ mà cho mỗi người dân đất Việt đó là: luôn có một tình yêu đối với Tổ quốc, với dân tộc, với đồng bào, với gia đình. Tình yêu đó phải thường trực mới có thể trở thành con người không bị thất cước, không mất đi cái bản thể, cái gốc của mình.

Thứ hai là bài học mang tính lý luận. Chúng ta thấy Người đã thực hiện theo đúng quy luật của tự nhiên, của triết học về mối quan hệ của bản thể và hiện tượng, giữa cái bất biến và cái vạn biến, giữa cái không thay đổi và cái thay đổi. Bởi hoài bão, định hướng cứu nước, cứu dân trở thành bản thể cho tất cả những biểu hiện hành động của Người. Điều này cho mỗi người trẻ một bài học rằng cần có một lý tưởng, một mục đích tốt làm gốc cho sự phát triển cuộc đời.

Đành rằng mỗi người sẽ có một ý chí, một hướng đi khác nhau trong đời, nhưng điều quan trọng hàng đầu là sớm xác định cho mình một hướng đi đúng, một lý tưởng đẹp, một mục đích cao cả để từ đó làm cái đích hướng tới cho những hành động cụ thể trong cuộc đời của mình. Bởi chỉ có thể định hướng rõ kết hợp với tư duy thường trực và thường xuyên hành động thì mới sớm đạt được đích, gặt hái thành công.

Nguyễn Cảnh Chương
gdtd.vn

——————————

Tài liệu tham khảo:

Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb. Trẻ, 2005 (Bản PDF 11/2/2007), tr. 44.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 198.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 12.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 379.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 568.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 1018.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 110.

Thư gửi thanh niên công trường đá Sơn Tây (10-1955)

Thân ái gửi các cháu nam nữ thanh niên công trường đá Sơn Tây,

Bác đã nhận được báo cáo của các cháu (4-10),

Các cháu đã cố gắng tǎng nǎng suất và tiết kiệm. Kết quả tính ra tiền là hơn 6 triệu đồng.

Thế là tốt.

Nhưng đồng thời các cháu còn phạm khuyết điểm tham ô, lãng phí, tính ra tiền là độ 3 triệu đồng. Thế là khác nào các cháu đã tự làm hỏng một nửa thành tích của mình!

Bác mong các cháu từ nay thi đua làm đúng những lời hứa hẹn trong báo cáo, tức là:

– Nâng cao tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, Nam cũng như Bắc.

– Nâng cao tinh thần trách nhiệm, thi đua tǎng nǎng suất và tiết kiệm.

– Nâng cao cảnh giác, chống tham ô, lãng phí.

Các cháu nên nhớ rằng: làm việc ở công trường hoặc ở nơi khác đều là tham gia vào công cuộc củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, để tiến đến thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước, cũng đều là nhiệm vụ và vinh dự của thanh niên.

Bác biếu các cháu 5 cái huy hiệu làm giải thưởng thi đua từ nay đến cuối nǎm.

Chúc các cháu mạnh khoẻ và cố gắng tiến bộ.

Tháng 10 nǎm 1955
BÁC HỒ

——————————

Báo Nhân dân, số 611, ngày 4-11-1955.
cpv.org.vn

Thư gửi thiếu nhi nhân dịp Tết Trung thu (18-9-1956)

Nhân dịp Tết Trung thu
Thân ái chúc các cháu:
Vui vẻ, mạnh khoẻ,
Đoàn kết chặt chẽ.
Thi đua học hành,
Tiến bộ mau lẹ.

Bác Hồ

 

————————–

Báo Nhân dân, số 927, ngày 18-9-1956.
cpv.org.vn

Bài học về ý chí quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nguyên giá trị với tuổi trẻ hôm nay

Tuổi trẻ thế hệ Hồ Chí Minh. (Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Bài học về nghị lực và ý chí quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên giá trị đối với tuổi trẻ Việt Nam hôm nay. Bài học ấy nhắc nhở tuổi trẻ rằng, để xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, còn phải vượt qua nhiều khó khăn thử thách, đòi hỏi thanh niên phải phát huy tốt vai trò xung kích…

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước, mặc dù biết rằng sẽ rất khó khăn, vất vả và cả hiểm nguy. Lúc đó có người khuyên anh không nên đi và hỏi nếu đi ra nước ngoài thì sống thế nào? Nguyễn Tất Thành đã xòe hai bàn tay ra và nói: Đây, sẽ sống bằng chính cái này! Điều đó đã cho thấy nghị lực và ý chí quyết tâm của Người ngay từ buổi đầu của hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân.

Rời Bến cảng Sài Gòn, Người xuống làm phụ bếp trên con tàu của Pháp với một tên mới là Ba. Hàng ngày, anh Ba phải làm việc từ 4 giờ sáng, công việc vất vả suốt cả ngày, đến 9 giờ tối mới xong. Sau khi làm xong mọi việc, anh tranh thủ học tập, đọc hoặc viết đến 11, 12 giờ đêm mới nghỉ, để 4 giờ sáng hôm sau lại bắt tay vào những công việc của một ngày mới. Sau một tháng lênh đênh trên biển, ngày 6/7/1911, tàu cập cảng Mác-xây, một thành phố lớn của nước Pháp. Anh ngạc nhiên thấy ở Pháp cũng có những người nghèo khổ như ở nước mình.

Đầu năm 1912, Nguyễn Tất Thành từ Pháp qua Châu Phi sau đó sang Mỹ. Tại đây anh có dịp hiểu rõ được cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ với bản Tuyên ngôn Độc lập nổi tiếng. Giữa năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ để sang Anh, mới đầu anh xin làm chân quét tuyết cho một trường học, sau đó làm đốt lò ở trung tâm sưởi ấm của thành phố Luân Đôn. Đây là một công việc rất nặng nhọc, trong hầm hết sức nóng, ngoài trời vô cùng lạnh nhưng anh không có đủ quần áo ấm để mặc. Với số tiền ít ỏi dành dụm được, không đủ trang trải cho cuộc sống nên anh phải đến làm thuê cho một khách sạn, với những công việc như rửa nồi, chảo, bát đĩa và phụ bếp. Anh vừa lao động vừa học tập và tham gia Hội những người lao động hải ngoại ở Luân Đôn.

Những năm tháng làm việc vô cùng vất vả ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã tích luỹ thêm được những hiểu biết về chế độ chính trị của xã hội tư bản, về đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc và thuộc địa; đồng thời tự trang bị cho mình một trình độ kiến thức khá vững vàng về tiếng Anh – một công cụ giao tiếp rất quan trọng trong sinh hoạt và đấu tranh chính trị.

Giữa năm 1916, Nguyễn Tất Thành quay trở lại nước Pháp và hoà mình với quần chúng lao động nghèo giữa thành phố Pa-ri tráng lệ, sau đó gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Ở Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc sống chủ yếu bằng nghề in phóng ảnh, do việc làm không ổn định, đời sống gặp nhiều khó khăn nên phải nhận thêm việc vẽ quạt, lọ hoa và chao đèn. Từ khi gửi “Bản yêu sách tám điểm” tới Hội nghị Véc-xây thì sự tìm kiếm việc làm của anh càng khó khăn, nên khi có bất cứ việc gì kiếm được tiền anh đều phải tranh thủ làm và hết sức tiết kiệm chi tiêu để đề phòng những lúc thất nghiệp hay ốm đau. Anh ăn uống rất tằn tiện; về mùa đông giá lạnh, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, anh để viên gạch vào cạnh lò bếp, chiều về lấy ra bọc vào trong những tờ báo cũ để xuống giường nằm cho đỡ rét.

Tháng 7 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô. Sau đó, Người sang Quảng Châu bắt liên lạc với nhóm trung kiên để xây dựng các tổ chức cách mạng. Hoạt động ở Trung Quốc được gần ba năm, Nguyễn Ái Quốc quay trở lại Mát-xcơ-va, sau đó bí mật trở lại Pháp và một số nước khác.

Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm đến Hương Cảng để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cảnh sát Anh, Pháp ráo riết truy tìm Nguyễn Ái Quốc. Ngày 6/6, cảnh sát Anh bắt được Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Kông và đưa về giam giữ tại nhà tù Vích-to-ri-a. Bị kẻ thù giam cầm hơn một năm, trong điều kiện sống vô cùng khó khăn, thiếu thốn nên sức khoẻ của Nguyễn Ái Quốc ngày càng suy giảm, bệnh tình tái phát. Song, được sự giúp đỡ nhiệt tình của Luật sư Lô-dơ-bai, kẻ địch buộc phải trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc.

Từ Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc trở lại Mát-xcơ-va để tham gia các hoạt động của Quốc tế Cộng sản. Cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục bí mật trở lại Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức đảng ở hải ngoại và tìm đường về nước để trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Ngày 28/1/1941, khi sương mù còn phủ dày đặc trên các đỉnh núi, Nguyễn Ái Quốc đã rời Nậm Quang – Trung Quốc lên đường về nước. Giây phút đầu tiên đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng, nơi địa đầu Tổ quốc, xiết bao cảm động với người con đã bao năm xa nước. Phút giây đó, sau này Người kể lại: “Xa Tổ quốc đã hơn 30 năm. Đã mất bao thời gian và sức lực tìm liên lạc mà không được. Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động”(1).
Trở về Tổ quốc sau hơn 30 năm xa cách, Bác lại cùng với các đồng chí lãnh đạo của Đảng tiếp tục vượt qua những khó khăn thử thách mới để chèo lái con thuyền cách mạng tiến lên. Tuy nhiên, tình hình cách mạng lúc này có những bước phát triển mới đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế để chống đế quốc. Vì vậy, ngày 13/8/1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên mới là Hồ Chí Minh lại lên đường đi Trung Quốc. Sau 15 ngày đi bộ trên đất Quảng Tây, ngày 27/8/1942, Người bị Nhà đương cục Tĩnh Tây bắt giam, kẻ địch đã đối xử hết sức tàn bạo với Người, có những lúc cái chết cận kề nhưng Người vẫn bình tĩnh tự tin vào lý tưởng và con đường cứu dân, cứu nước mà mình đã chọn. Một lần nữa sức mạnh của nghị lực, ý chí quyết tâm đã giúp Người đạp bằng mọi hiểm nguy, mưu trí đấu tranh thoát khỏi được nanh vuốt của kẻ thù để trở về với đồng chí, đồng bào, lãnh đạo cách mạng tiến lên giành thắng lợi.

Người đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đã để lại cho chúng ta, nhất là thanh niên Việt Nam những bài học quý giá về nghị lực và ý chí quyết tâm trong hành trình tìm đường cứu nước.

Bằng chính sự trải nghiệm của mình, Người hiểu rất rõ vai trò và sức mạnh của thanh niên. Người chỉ rõ: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình” (2).

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo giáo dục, đào tạo các thế hệ thanh niên Việt Nam ngày càng phát triển trưởng thành về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Hiện nay trước yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đại đa số thanh niên nước nhà đã và đang nắm bắt được thời cơ vận hội, chủ động vượt qua mọi khó khăn thử thách, ra sức học tập, rèn luyện phấn đấu vươn lên, cống hiến cho đất nước. Song, cũng còn một bộ phận không nhỏ thanh niên phai nhạt lý tưởng cách mạng, ngại khó khăn gian khổ, thiếu nghị lực và ý chí phấn đấu vươn lên, bị tiêm nhiễm bởi văn hoá độc hại của phương Tây, chạy theo vật chất tầm thường, sống ích kỷ hẹp hòi, chỉ đòi hỏi được hưởng thụ mà quên đi trách nhiệm, nghĩa vụ của tuổi trẻ đối với Tổ quốc, với non sông đất nước. Để khắc phục tình trạng đó và phát huy ngày càng tốt hơn vai trò xung kích của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các cấp cần tiếp tục quan tâm chăm lo giáo dục, nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng cho thanh niên, trong đó cần tập trung làm tốt một số nội dung, giải pháp sau đây:

Thứ nhất, các cấp cần tiếp tục quán triệt nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với công tác thanh niên cũng như giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Bởi, thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc, là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, đề cao vai trò của thanh niên, xác định thanh niên là lực lượng xung kích, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc.

Tuy nhiên, hiện nay một số địa phương, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, còn biểu hiện xem nhẹ công tác thanh niên, nhất là ở những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các đơn vị kinh tế tư nhân. Để khắc phục tình trạng đó và từng bước “hình thành lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc của sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đẩy mạnh CHN, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN”(3), các cấp cần phải “đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống…”(4) cho thanh niên. Đó là trách nhiệm của toàn xã hội, mà trước hết là của cấp uỷ đảng, cùng với sự nỗ lực phấn đấu rèn luyện của chính mỗi đoàn viên, thanh niên.

Hai là, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên thông qua các phong trào hoạt động, gắn với đẩy mạnh thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên là đòi hỏi khách quan, là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quan trọng trong tình hình hiện nay.

Từ khi có Đảng lãnh đạo, thanh niên Việt Nam đã phát huy tốt vai trò xung kích. Từ những Thanh niên cứu quốc, đến phong trào như: Thanh niên Ba sẵn sàng, Năm xung phong; Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác; Thanh niên quân đội thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh bộ đội Cụ Hồ… Đó chính là những môi trường tốt để tập hợp, động viên, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đến các phong trào hoạt động của thanh niên, chưa tạo môi trường thuận lợi cho tuổi trẻ vui chơi giải trí, để thông qua đó định hướng tư tưởng và hành động cho thanh niên.

Khẳng định vai trò của môi trường vui chơi giải trí lành mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong vui chơi cũng có giáo dục, cần có những thú vui chơi văn hoá, thể dục có tính chất tập thể và quần chúng” (5). Vì vậy, các cấp cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức tốt các phong trào và hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh của thanh niên, nhất là khi điều kiện đời sống của các tầng lớp nhân dân ngày càng được nâng cao. Đồng thời, trong tình hình hiện nay, việc giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên phải gắn với đẩy mạnh triển khai thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Bởi, lý tưởng cách mạng là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết quả thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là thước đo sự giác ngộ lý tưởng cách mạng của thanh niên, đồng thời trách nhiệm của thanh niên là phải xung kích đi đầu trong triển khai thực hiện, qua đó rèn luyện có được nghị lực, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng và Nhà nước ta đặt trọn niềm tin vào thế hệ trẻ, song cũng đòi hỏi “Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn gian khổ để tiến mãi không ngừng”(6). Tương lai của đất nước, của dân tộc đang nằm trong tay thế hệ trẻ. Chúng ta có thể vượt ra khỏi đói nghèo để trở thành quốc gia giàu có, phát triển về mọi mặt được hay không? Tất cả đang trông chờ vào ý chí, nghị lực, bản lĩnh, hành động và việc làm của tuổi trẻ; phụ thuộc vào sự quan tâm giáo dục, đào tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Để họ có thể hiểu rõ hơn ai hết: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì? mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào”(7).

Ba là, tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, bảo đảm tính toàn diện, gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn. Trong những năm qua, Đảng, nhà nước và các tổ chức đoàn đã từng bước cụ thể hoá nội dung giáo dục phù hợp với sự vận động phát triển của nhiệm vụ cách mạng, với từng lĩnh vực, đối tượng cụ thể, vì thế chất lượng ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, trước sự phát triển mau lẹ của tình hình thế giới, khu vực, trong nước; sự phát triển của khoa học – công nghệ; đặc biệt, trước những âm mưu thủ đoạn thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, thì việc tiếp tục đổi mới nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên đang đặt ra cấp thiết. Để làm sao cho tuổi trẻ dễ tiếp thu, không cảm thấy máy móc, trừu tượng hoặc “công thức” hoá, gắn được lý luận với thực tiễn và định hướng hành động cho tuổi trẻ, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tính Đảng.

Nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng không chỉ là xây dựng cho thanh niên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; phát huy tinh thần yêu nước và chế độ, mà còn có phẩm chất đạo đức lối sống trong sạch lành mạnh; không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tức là phải trên cơ sở giáo dục toàn diện, khẳng định điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”(8).

Phải gắn đổi mới nội dung với đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục để đạt hiệu quả cao nhất. Phải đa dạng hoá hơn nữa hình thức, phương pháp giáo dục thông qua các hoạt động xã hội, hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh của thanh niên. Cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các hoạt động và có các cơ chế, chính sách phù hợp, nhằm động viên thanh niên học tập phấn đấu vươn lên. Phải phát huy tốt vai trò trách nhiệm và sự nêu gương của các thế hệ đi trước để thông qua đó giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh niên. Thế hệ đi trước phải vững tin ở tuổi trẻ, thế hệ trẻ phải luôn biết ơn và khiêm tốn học tập các thế hệ đi trước, để tất cả “Những người cộng sản chúng ta không được một phút nào quên được lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho CNXH hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên thế giới”(9).

Phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn các cấp thực sự trong sạch vững mạnh về mọi mặt, là lực lượng nòng cốt trong các phong trào hoạt động của tuổi trẻ. Đồng thời phải phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các tổ chức Đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn các cấp đối với công tác thanh niên. Khẳng định điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trung ương Đoàn cần phải tăng cường hơn nữa việc giáo dục tinh thần yêu nước, giác ngộ giai cấp và đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên”(10). Như vậy chắc chắn các thế hệ thanh niên nước ta sẽ vững bước tiến lên, kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của cha anh trong thời kỳ mới.

Chúng ta vô cùng tự hào về Người. “Chính Người đã làm rạng rỡ non sông đất nước ta”, để chúng ta có được như ngày hôm nay. Trong bối cảnh của thời đại hội nhập và phát triển, thanh niên nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận hội mới để phát triển phấn đấu vươn lên, đóng góp sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài học về nghị lực và ý chí quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên giá trị đối với tuổi trẻ Việt Nam hôm nay. Bài học ấy nhắc nhở tuổi trẻ rằng, để xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, còn phải vượt qua nhiều khó khăn thử thách, đòi hỏi thanh niên phải phát huy tốt vai trò xung kích, ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; có được nghị lực và ý chí quyết tâm, không ngừng nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng, để “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”; hoàn thành xuất sắc sứ mệnh vẻ vang của tuổi trẻ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Theo Phạm Thắng
Tạp chí Tuyengiao.vn
Tâm Trang (st)

_______________________

(1) Tiểu sử Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 270.
(2), (7) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập 4, tr.185, 65.
(3), (4) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI – Báo Nhân dân, ngày 19/3/2011.
(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập 3, tr. 75.
(6), (10) Sđd, tập 5, tr. 112, 114.
(8) Sđd, tập 10, tr. 306.
(9) Sđd, tập 7, tr. 445.

cpv.org.vn

Những đoàn viên cộng sản đầu tiên

Tìm về nguồn cội

Thẻ đại biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV (15/7/1924) tại Mát-xcơ-va (Liên Xô). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp.

Bác Hồ đã dạy: “Khi nói đến lịch sử Đoàn chúng ta nên đi ngược lên đến năm 1925”. Và cũng chính vì vậy khi nói đến những đoàn viên đầu tiên do Bác trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo chúng ta phải tìm về nguồn cội…

Mùa hè năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Nga dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V.

Những người lãnh đạo Quốc tế Thanh niên cộng sản (tổ chức này do V.I.Lênin trực tiếp sáng lập từ năm 1919) tha thiết mời Nguyễn Ái Quốc tham gia ban trù bị Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV. Giữa bộn bề công việc đang đến với mình nhưng Nguyễn không thể từ chối.

Người yêu cầu lập ngay một nhóm làm việc trong đó có các đồng chí như Đa Lin, Phó Trưởng Ban quốc tế của Quốc tế Thanh niên cộng sản; Trương Thái Lôi, người anh hùng của Công xã Quảng Châu (Trung Quốc) sau này v.v…

Điều làm cho Nguyễn Ái Quốc hết sức trăn trở nhiều năm nay là tình trạng “Thiếu tổ chức và người tổ chức” ở các thuộc địa tuy “luồng gió mới” của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã làm dấy lên tinh thần đấu tranh ở những nơi còn phải chìm đắm trong đêm đen nô lệ; nhưng chỉ với tinh thần thôi mà “thiếu tổ chức, thiếu người tổ chức” thì liệu những người đang bị đọa đày ấy sẽ làm được điều gì ?

Ngày 15/7/1924, Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV diễn ra trọng thể tại hội trường Công đoàn ở Mát-xcơ-va.

Nguyễn Ái Quốc với tư cách là Ủy viên Đoàn Chủ tịch lãnh đạo Đại hội mang thẻ đại biểu số 94, đại biểu duy nhất của thanh niên Đông Dương và cũng là đại biểu duy nhất của toàn thể thanh niên các nước thuộc địa từ Á sang Phi đã phát biểu nhiều lần tại các phiên họp chung ở hội trường.

Song, giờ phút đáng nhớ và gây xúc động nhất chính là lúc Nguyễn Ái Quốc trình bày bản dự thảo “Luận cương về thanh niên thuộc địa” do chính Người chủ trì soạn thảo(1).

Chỉ một năm sau, tác giả chính của “Luận cương về thanh niên thuộc địa”(2) nổi tiếng ấy có mặt ở Quảng Châu. Tại “Thủ đô cách mạng của Châu Á” này, Nguyễn Ái Quốc đã mở trường, cho xuất bản báo để bồi dưỡng, đào tạo các lớp thanh niên yêu nước Việt Nam từ tổ quốc mình dũng cảm vượt qua vòng vây của kẻ thù đi tìm chân lý cứu nước.

Từ giờ phút này (giữa năm 1925), Nguyễn Ái Quốc bắt đầu quá trình chuẩn bị sáng lập một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam cùng một tổ chức thanh niên cộng sản Việt Nam làm đội hậu bị cho Đảng, làm lực lượng nòng cột cho phong trào thanh niên yêu nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chính vì vậy Bác Hồ đã dạy: “Khi nói đến lịch sử Đoàn chúng ta nên đi ngược lên đến năm 1925”(3) và cũng chính vì vậy khi nói đến những đoàn viên đầu tiên do Bác trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo chúng ta phải tìm về nguồn cội.

—————————-

(1) (2) “Nguyễn Ái Quốc là tác giả chính bản luận cương về thanh niên thuộc địa” – trích luận án phó tiến sĩ sử học mã số 50304 của Văn Tùng công bố trên báo Nhân dân số ra ngày 8/4/1990 nhân tiến tới kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5/1990.

(3)“Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam”, NXBTN-2004-tr.5.


Từ 8 thiếu niên ngày ấy

Đồng chí Hồ Tùng Mậu (thứ 4 hàng 2 từ phải sang) người thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở lại Thái Lan (năm 1926) chọn một số thiếu niên sang Quảng Châu đào tạo. Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp.

Từ những năm 1924 đến 1926, phong trào yêu nước của nhân dân ta, đặc biệt là của tuổi trẻ có sự phát triển gây cho bọn thực dân và phong kiến không ít hoang mang, lo sợ. Tiếng bom Sa Diện mưu sát toàn quyền Đông Dương Méc Lanh (Merlin) của người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tuy không thành nhưng như Trần Dân Tiên nhận định: “Nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”.

Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Hội Cách mạng thanh niên Việt Nam (trước đây gọi là “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội”), tổ chức tiền thân của Đảng ta. Đây là sự kiện quan trọng trong lịch sử của Đảng và dân tộc. Trường Huấn luyện chính trị do chính Người chủ trì cùng các đồng chí cộng sự Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn… ra đời thu hút nhiều lớp thanh niên yêu nước vượt biên giới đến học rồi trở về nước hoạt động, xây dựng tổ chức.

Với cương vị là người theo dõi phong trào cách mạng các nước châu Á, Nguyễn Ái Quốc biết được lúc này ở vùng Đông Bắc Thái Lan đang có nhiều đồng bào ta do bị thực dân Pháp khủng bố phải lánh sang nước bạn. Họ là những người yêu nước từng tham gia hoặc ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp do các sĩ phu lãnh đạo. Họ luôn canh cánh trong lòng tinh thần phục quốc, họ mở trường học cho con em, mời các thanh niên từng “Đông Du” ở Nhật về dạy.

Mùa hè năm 1926, Nguyễn Ái Quốc, lúc này mang bí danh là Lý Thụy cử Hồ Tùng Mậu, người đồng chí thân thiết của mình trở lại Thái Lan chọn một số thiếu niên con em các gia đình yêu nước đưa sang Quảng Châu đào tạo nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng Thanh niên Cộng sản Đoàn. Đến Thái Lan, Hồ Tùng Mậu liên lạc được với cụ Tú Đặng tức Đặng Thúc Hứa, một sĩ phu chủ chốt trong “Quang phục Hội” truyền đạt ý kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Việc lựa chọn được thực hiện rất thận trọng, duy có một học sinh làm mọi người băn khoăn vì còn nhỏ tuổi quá (mới 12). Song cuối cùng, xét về cả tư chất và thân nhân, Hồ Tùng Mậu quyết định đưa vào danh sách. Đó chính là Lê Hữu Trọng.

Nhóm thiếu niên học sinh đầu tiên người Việt từ Đông Bắc Thái Lan đến Quảng Châu rất sung sướng, vui mừng được gặp ngay đồng chí Lý Thụy. Đúng hơn, đây có thể coi là một cuộc “đoàn tụ” giữa những người thân trong gia đình. Để bảo đảm tính hợp pháp và nguyên tắc bí mật, cả nhóm có bí danh và đều mang họ Lý.

Đó là: Lê Hữu Trọng mang bí danh Lý Tự Trọng; Đinh Chương Long mang bí danh Lý Văn Minh; Vương Thúc Thoại mang bí danh Lý Thúc Chất; Hoàng Tự mang bí danh Lý Anh Tự (có lúc đọc lệch là Tợ); Ngô Trí Thông mang bí danh Lý Trí Thông; Ngô Hậu Đức mang bí danh Lý Phương Đức (nữ); Nguyễn Thị Tích mang bí danh Lý Phương Thuận (nữ); Nguyễn Sinh Thản mang bí danh Lý Nam Thanh./.


Kế hoạch đào tạo lâu dài

Ngôi nhà 13A đường Văn Minh, Quảng Châu, Trung Quốc, nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của Người đã tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên và 8 thiếu niên (từ năm 1925 - 1927). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp

Tại tầng hai ngôi nhà 13A phố Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc), đồng chí Lý Thụy yêu cầu Tổng bộ Hội Cách mạng thanh niên mà cụ thể là đồng chí Lê Hồng Sơn tổ chức một lớp học chính trị ngắn ngày…

Sau khi thành lập, hầu như tuần nào đồng chí Lý Thụy cũng đến thăm lớp. Người thường kể về các tấm gương anh hùng của dân tộc như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Quang Trung và cả Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám cho học sinh nghe. Người còn yêu cầu tổ chức cho học sinh tham quan cảnh đẹp, thăm mộ Phạm Hồng Thái… và sinh hoạt văn nghệ.

Những tháng hè và thời gian học chính trị qua nhanh. Thực hiện chủ trương đào tạo có hệ thống của đồng chí Lý Thụy, các đồng chí trong Tổng bộ đã liên hệ đưa 8 học sinh vào học tại trường Trung học Trung Sơn (Quảng Châu) trong lúc chờ đợi việc tiếp tục học tập tại Liên Xô.

Ngày 22/7/1926, đồng chí Lý Thụy gửi một bức thư cho Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin: “Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu niên Việt Nam… các em còn nhỏ nhưng đã đau khổ nhiều, các em đã để cha mẹ ở nhà hàng ngàn cây số để bí mật đến Trung Quốc…”.

Thư đề nghị bạn nhận đào tạo những “Thiếu niên cộng sản đầu tiên của Việt Nam” này thành những “chiến sỹ Lêninnít trẻ tuổi” và đề xuất kế hoạch tiếp nhận rất cụ thể, chi tiết. Dưới thư ký tên: Nguyễn Ái Quốc và ghi địa chỉ của Người: “Nilốpxki – Hãng thông tấn Rôxta Quảng Châu, Trung Quốc”.

Cùng ngày, đồng chí Lý Thụy còn gửi cho đồng chí đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp tại Quốc tế Thanh niên Cộng sản về việc Người đã gửi thư cho Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đề nghị tiếp nhận một số thiếu niên Việt Nam để đào tạo cùng lời yêu cầu đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp liên hệ với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin ủng hộ chủ trương của Người.

Dưới thư ký tên: Nguyễn Ái Quốc, nhưng ghi địa chỉ với tên là Lưu (không phải là Nilốpxki) cùng cơ quan là Thông tấn xã Rôxta- Quảng Châu, Trung Quốc.
Qua hai bức thư này chúng ta càng thấy rõ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm và kiên trì chủ trương đào tạo, bồi dưỡng, lớp thiếu niên học sinh Việt Nam đầu tiên nhằm chuẩn bị tiến tới xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản ở nước ta đến mức nào.

Lời đề nghị của Người đã được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đáp ứng thuận lợi. Tuy nhiên, khi kế hoạch đưa các học sinh Việt Nam sang Liên Xô đang được chuẩn bị triển khai thì ngày 15/4/1927, sau khi Tôn Trung Sơn mất, phái hữu (phản động) trong Quốc dân đảng Trung Quốc phá vỡ sự hợp tác Quốc – Cộng, làm đảo chính ở Quảng Châu.


Vượt qua thử thách trở thành đoàn viên

Lý Tự Trọng (dấu +) cùng các học viên Trường Võ bị Hoàng Phố viếng mộ liệt sỹ Phạm Hồng Thái tại Hoàng Hoa Cương (Trung Quốc)

Không chịu khuất phục trước sự phản bội hèn hạ của bọn phản động Quốc dân đảng, ngày 11/12/1927, một cuộc khởi nghĩa làm chấn động thế giới đã nổ ra ở Quảng Châu.

Theo lời kêu gọi của Ban Chấp hành Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Trung Quốc tỉnh Quảng Đông và chủ trương của Tổng bộ Hội Cách mạng Thanh niên, 8 học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn cùng với hầu hết học viên Việt Nam Trường Võ bị Hoàng Phố đã sát cánh với các chiến sỹ cộng sản Trung Quốc cùng đội ngũ công nhân và quần chúng cách mạng chiến đấu quyết liệt với quân đội của bọn phản động.

8 học sinh Việt Nam Trường Trung Sơn chia thành từng nhóm gia nhập các đội tuyên truyền, liên lạc, tiếp vận … phục vụ quân khởi nghĩa. Đây là cuộc thử thách quyết liệt đầu tiên đối với họ. Lúc đầu Lý Phương Đức và Lý Tự Trọng tham gia vào Đội Liên lạc, nhưng sau đó Trọng xin cấp vũ khí và tham gia Đội Tự vệ công nhân trực tiếp chiến đấu trên các chiến lũy dựng lên khắp các đường phố.

Song, khởi nghĩa Quảng Châu sớm bị dìm trong bể máu do lực lượng và trang bị chênh lệch. Quân khởi nghĩa rút ra khỏi thành phố. Rất nhiều chiến sỹ cách mạng Trung Quốc và Việt Nam có mặt ở Quảng Châu, trong đó có các học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn bị bọn phản động bắt giam, tra tấn… Lý Tự Trọng, Lý Phương Đức và các anh chị khác đều khảng khái hỏi lại chúng: “Chúng tôi chỉ là học sinh, các ông bắt chúng tôi về tội gì?”. Không một ai hé ra nửa lời, kiên cường chịu đựng đòn roi.

Các cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa bị lộ đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống khủng bố đòi trả tự do cho những người bị bắt. Với tinh thần quốc tế, các đồng chí đã tìm các luật sư có tiếng lúc ấy bảo vệ cho các đồng chí Trung Quốc và Việt Nam.

Không có bằng chứng nên cuối cùng bọn phản động phải trả tự do cho các đồng chí ta trong đó có hầu hết học viên Trường Võ bị Hoàng Phố và học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn do trong hồ sơ đều ghi rõ là quê ở Quảng Đông. Một bộ phận các đồng chí cách mạng Việt Nam đã học ở Hoàng Phố chuyển về căn cứ địa Đông Giang tham gia xây dựng Hồng quân công nông Trung Quốc như Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn …

Bộ phận khác phân tán đi vào quần chúng làm công tác vận động cách mạng. 8 học sinh Trường Trung Sơn buộc phải thôi học và cũng thực hiện việc phân tán theo các chiến sỹ cách mạng Việt Nam.

Qua thử thách trong đấu tranh thực tiễn, 8 học sinh Việt Nam đều lần lượt được kết nạp vào Đoàn. Lý Tự Trọng là người đoàn viên thứ tám do đến năm 1929, Trọng mới đủ 15 tuổi.

Trước yêu cầu mới, Trọng rời Quảng Châu sang Hương Cảng làm công nhân ở bến tàu giúp các đồng chí ta nối đường dây liên lạc về trong nước và đi các nước. Một số đoàn viên khác trong lớp 8 đồng chí đầu tiên về sau tìm được cách sang Liên Xô tiếp tục học tập theo chủ trương của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trước đây.


Họ đã sống và chiến đấu như thế

Ban Bí thư Trung ương Đoàn gặp mặt thân mật 2 nữ đoàn viên trong số 8 đoàn viên thuộc lớp đầu tiên nhân kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Đoàn: Lý Phương Thuận (thứ 2 hàng 2 từ phải sang), Lý Phương Đức (thứ 2 hàng 3 từ phải sang). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ

Trước bọn quan toà thực dân, Lý Tự Trọng ngẩng cao đầu dõng dạc tuyên bố: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không có con đường nào khác”…

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở lại Hương Cảng để chuẩn bị chủ trì Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Lý Tự Trọng được đồng chí Ung Văn Khiêm đưa về Sài Gòn hoạt động. Số đoàn viên còn lại (trong 8 đồng chí nêu trên) tiếp tục công tác ở Quảng Châu và tại tỉnh Quảng Đông cùng các đồng chí cách mạng Việt Nam trong số đó có nữ đoàn viên Lý Phương Thuận lúc này lấy tên là Lý Tam hay còn gọi là cô Ba.

Sau Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng thành công tốt đẹp, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, rèn luyện với chính cương, sách lược, điều lệ … mở ra thời kỳ mới cho cách mạng nước ta.

Do một sơ suất từ bên ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lúc này lấy tên là Tống Văn Sơ bị mật thám Anh bắt giữ và đứng trước nguy cơ bị chúng trao cho mật thám Pháp theo sự dàn xếp, đeo bám của thực dân Pháp.

Cùng bị bắt với Tống Văn Sơ có đoàn viên Lý Phương Thuận (Lý Tam). Mặc dù bị tra hỏi và đe doạ gắt gao kể cả đòn roi, Lý Phương Thuận nhất mực không khai báo nửa lời, giữ tròn khí tiết của người đoàn viên thanh niên cộng sản.

Luật sư Lô-dơ-bai nổi tiếng đã vượt qua nhiều khó khăn cứu thoát Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù với lòng cảm phục nhà lãnh đạo cách mạng lớn của Việt Nam.

Ông bà Lô-dơ-bai đã hết lòng giúp Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ trở lại Liên Xô … Lý Tam vô tội trở lại với đội ngũ chiến đấu của mình và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về nước công tác.

Ngày 17/4/1931, Lý Tự Trọng bị thực dân Pháp kết án tử hình do trước đó (ngày 8/2/1931), anh đã bắn chết tên mật thám Pháp cáo già khét tiếng tàn bạo Lơ-gơ-răng trên đường phố Sài Gòn nơi có sân bóng đá La-ray-nie.

Trước bọn quan toà thực dân, Lý Tự Trọng ngẩng cao đầu dõng dạc tuyên bố: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không có con đường nào khác”.

Các thế hệ trẻ Việt Nam tiếp bước theo anh và các đồng chí của anh coi đó là bản Tuyên ngôn bất diệt trên con đường đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

10 năm sau, kể từ ngày 17/4/1931, quân đội của phát xít Đức tiến sát Thủ đô Mát-xcơ-va trong đại chiến thế giới lần thứ 2.

Lý Nam Thanh, Lý Thúc Chất, Lý Anh Tự (tức Tợ), ba trong số 8 đoàn viên đầu tiên cùng các đồng chí Việt Nam khác đang học tập và làm việc tại Liên Xô tình nguyện tham gia sư đoàn quốc tế bảo vệ Liên Xô.

Cả ba đồng chí đã hy sinh anh dũng tại mặt trận phía Nam Mát-xcơ-va và đều được Nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương Vệ quốc cao quý.

Trong các cuốn biên niên sử của Đoàn ta, Đội ta, 8 đoàn viên ấy – “tám cháu hiếm hoi từ bước đầu” do Bác Hồ kính yêu bồi dưỡng, đào tạo mãi mãi là 8 đoá hoa ngát hương trong rừng hoa rực rỡ của triệu, triệu chiến sỹ cách mạng trẻ tuổi nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân vì lý tưởng của Đảng, của Bác. Hãy nhận lấy và nhân lên niềm tự hào và sự vinh quang không dễ gì có được này.


Đoàn ta ra đời

Thẻ đại biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV (15/7/1924) tại Matxcơva (Liên Xô). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp

Tại Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng tháng 2/1930 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, Người và các đại biểu đặc biệt quan tâm đến công tác vận động thanh niên. Cùng với việc thông qua Chính cương, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng, Hội nghị đã thông qua Điều lệ Thanh niên Cộng sản Đoàn.

Trong Điều lệ của Đảng ghi một điều quan trọng: “Người dưới 21 tuổi phải vào Thanh niên Cộng sản Đoàn”. Hội nghị còn nêu rõ trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với công tác xây dựng Đoàn.

Quán triệt tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và của Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng, tháng 10/1930, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất đã thảo luận và thông qua một văn kiện mang ý nghĩa lịch sử mở ra thời kỳ mới trong quá trình xây dựng tổ chức Đoàn.

Đó là “Án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động”. “Án nghị quyết” đã chỉ rõ nhiệm vụ cần kíp của tất cả các đảng viên cộng sản bằng một câu khẳng định như sau: “… Phải làm cho hết thảy đảng viên hiểu rằng công việc thanh niên cộng sản Đoàn là một việc cần kíp, quan trọng như việc Đảng vậy…”.

Ngày 20/4/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta nhận được một bức thư quan trọng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài gửi về trong đó Người nhắc nhở Trung ương về việc phải khẩn trương xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn.

Đặc biệt, trong thư Người đã thông báo cho Trung ương biết số lượng đoàn viên trong cả nước đến lúc ấy là 942 đồng chí (trừ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đang bị địch khủng bố ác liệt sau khi bùng nổ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh – chú thích của người viết).

Cuối thư Người chỉ thị: “Tôi đề nghị cần kíp nhất là thống nhất Thanh niên Cộng sản Đoàn… làm cho họ có sinh hoạt độc lập”. Ý kiến chỉ đạo của lãnh tụ rất phù hợp và thống nhất với chủ trương của Trung ương về quá trình xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn, làm tăng thêm tầm quan trọng, tính khẩn trương của vấn đề.

Vào mùa xuân năm 1931, ở thời điểm từ ngày 20 đến ngày 26/3/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta tiến hành Hội nghị lần thứ 2. Tại Hội nghị này Trung ương đã dành nhiều thời gian trong những ngày cuối để thảo luận và tiếp tục có những quyết định quan trọng về công tác thanh vận như chính thức chỉ định một đồng chí trong Ban Thường vụ trực tiếp phụ trách công tác vận động thanh niên.

Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ hai vạch rõ: “…lập tức các Đảng bộ địa phương phải mau mau tổ chức ra Đoàn, đốc xuất chi bộ tổ chức cơ quan báo chương về việc vận động của Đoàn…”.

Trước đây, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất (2/1950) quyết định lấy ngày 20/4 hàng năm làm ngày kỷ niệm Ngày thành lập Đoàn. Đó là ngày ra đời của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba (1961), Ban Bí thư Trung ương Đoàn (khóa II) quyết định thành lập Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Đoàn trực thuộc Trung ương Đoàn nhằm từng bước làm sáng rõ những vấn đề quan trọng trong lịch sử Đoàn và phong trào thanh niên nước ta trong đó có việc xác định một cách khách quan, khoa học thời điểm ra đời của Đoàn phù hợp với thực tiễn lịch sử.

Được Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba họp từ ngày 22 đến 25/3/1961 đã thảo luận và biểu quyết lấy ngày 26/3/1931, một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai làm ngày kỷ niệm thành lập Đoàn hàng năm đúng với thực tiễn lịch sử đã diễn ra.

Theo Văn Tùng (Nhà sử học)
Phương Thúy (st)

cpv.org.vn

Gặp em bé được Bác Hồ đặt tên

Ảnh minh họa

(Dân trí) – Sinh thời Bác Hồ luôn dành tình cảm đặc biệt cho các cháu thiếu nhi. Có một em bé may mắn được Người đặt tên nay đã là Phó phòng quan hệ Quốc tế – Trường ĐH Xây Dựng Hà Nội.

Nhà văn Đào Vũ (tác giả “Cái sân gạch”, “Vụ lúa chiêm” được giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật) sinh con gái đầu lòng năm 1958, nhưng chưa biết đặt tên con là gì. Mấy hôm sau, nhà văn chợt loé lên rồi bàn với vợ: Xin Bác Hồ đặt tên cho con. Nghĩ là làm, ông bèn viết thư gửi Bác. Thư gửi đi rồi vợ chồng nhà văn hồi hộp chờ đợi.

Họ không ngờ rằng, tuy bận trăm công nghìn việc, nhưng ngay hôm sau người cần vụ của Bác đã chuyển đến gia đình một bức thư, ngoài phong bì ghi rõ “đưa đến tận nhà”. Vợ chồng nhà văn rưng rưng xúc động đọc thư Bác. Trong thư có đoạn: Cả nước đang chuyên tâm tăng gia sản xuất và thực hiện tiết kiệm, bác đặt tên cho cháu là Tăng Kiệm – Đào Tăng Kiệm.

Để cảm ơn tấm thịnh tình của Bác Hồ, nhà thơ đã viết bài thơ “Bác đặt tên cho cháu là Tăng Kiệm”: “…Chính người đã âu lo suốt đời cho núi sông. Hai vai người gánh giang sơn trời biển. Người vẫn còn chăm chút từng cháu sơ sinh… Xin Bác an tâm. Nôi cháu đã buông mùng.”

Bé Tăng Kiệm hay ăn chóng lớn, và rất ngoan. Năm học lớp 1, Kiệm viết thư báo cáo với Bác về thành tích học tập, hứa sẽ học thật giỏi để xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ. Hình ảnh Bác luôn hiện lên trong giấc mơ của Tăng Kiệm, bé mơ ước sẽ có ngày được gặp Bác.

Ngày 1/6/1969, Kiệm cùng các Bạn học sinh vinh dự được gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. May mắn, em được xếp ngồi ngay sau Bác. Kiệm rất muốn khoe với Bác: “Cháu là Đào Tăng Kiệm. Tên cháu chính là do Bác đặt cho đấy ạ”. Miệng mấp máy nhưng không sao thốt lên được. Khi tất cả các bạn hát bài “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên, nhi đồng” của nhạc sĩ Phong Nhã, mắt Kiệm long lanh, ao ước được xà vào lòng Bác. Cái khoảng khắc ấy đến nhưng Kiệm không sao nói được nên lời để rồi Bác chỉ còn trong tâm tưởng mình.

Ngày muôn triệu người tiễn biệt vị cha già kính yêu của dân tộc, hai chị em Kiệm được bố đưa vào viếng Bác. Trước anh linh Người, Tăng Kiệm nguyện sẽ học thật giỏi để góp sức nhỏ của mình đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc trên thế giới như niềm mong mỏi của Bác.

7 năm học piano ở trường Âm nhạc Việt Nam, cùng lớp với nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn, tưởng chừng tiếng đàn hút hồn cô bé sải chân bước vào con đường nghệ thuật của gia đình. Nhưng Kiệm tự thấy âm nhạc không phải là con đường đi của đời mình. Kiệm đã rời Nhạc viện để theo nghề xây dựng. Tại thời điểm đó, đây là một quyết định táo bạo với phận nữ nhi. Sau khi tốt nghiệp, cô đã được nhà trường giữ lại làm giảng viên.

Ở đó cô được phân công giảng dạy bộ môn tin học – ngành còn khá mới khi ấy ở Việt Nam. Cùng đồng nghiệp, cô đã xóa mù tin học cho nhiều thế hệ sinh viên, viết giáo trình và đi dạy ở các công ty xây dựng…

Hiện nay, cô là Phó phòng đối ngoại trường ĐH Xây Dựng. Cô hồ hởi khoe mới đưa về cho trường 3 dự án do EU tài trợ, mỗi dự án trị giá khoảng 300.000 euro. Dự án được thực hiện với hi vọng đưa Đại học xây dựng Việt Nam đứng đầu khu vực Đông Nam Á về lĩnh vực công nghệ thông tin.

Trần Gia Bảo
dantri.com.vn

Di chúc của Bác Hồ về quyền của trẻ em

(Dân trí) – Trong bản di chúc của mình, Bác Hồ 2 lần nhắc đến nhi đồng. Một lần ở đoạn mở đầu và một lần ở đoạn kết thúc. Bác viết: “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp 2 miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.

Ở đoạn kết thúc Bác lại viết: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng”.

Xưa nay, ở nước ta và ngay cả trên thế giới quả hiếm có vị lãnh tụ nào dành nhiều tình cảm, suy nghĩ và cả thời gian quý báu cho các cháu thiếu niên, nhi đồng như Bác Hồ, cho đến khi sắp từ biệt thế giới này Bác đã hai lần nhắc đến các cháu “Nhi đồng yêu quý của chúng ta”. Suốt một đời chăm lo những việc lớn của đất nước, Bác vẫn là người quan tâm hơn bất cứ ai đến việc chăm sóc con trẻ, đến việc trồng người. Tình yêu trẻ thơ của Bác không đơn giản chỉ là một tình cảm thông thường.

Đó là một tình cảm sâu sắc, rộng lớn xuất phát từ một chủ nghĩa nhân đạo cao cả với ý thức rõ rệt, là cháu sẽ là những người tiếp tục sự nghiệp của cha ông, những người trực tiếp xây dựng xã hội tương lai. Tình yêu đó, sự quan tâm đặc biệt đó còn bắt nguồn từ lý tưởng cao đẹp của Người: suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp vĩ đại: giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ở Người, quan điểm về bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đã sớm trở thành một bộ phận của tư tưởng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội văn minh, dân giàu, nước mạnh. Dân tộc không được giải phóng thì trẻ em không được bảo vệ, chăm sóc, không được hưởng các quyền lợi cơ bản của mình. Đất nước không được giàu mạnh thì trẻ em không được ấm no, hạnh phúc.

Thật hết sức xúc động khi đọc bài viết của Bác trước khi từ biệt thế giới này để gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, Bác viết: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ… Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.

Là một nhà giáo dục vĩ đại, Bác Hồ coi trọng việc giáo dục thế hệ trẻ không chỉ ở nội dung mà cả phương pháp dạy học và giáo dục. Nói chuyện với lớp cán bộ đào tạo mẫu giáo, Bác nhắc nhở: “…làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ như trồng cây non. Trông cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này cháu trở thành người tốt”. “Trong lúc học cẩn phải làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học…”

Về nội dung giáo dục ở các cấp học, Bác nhắc nhở nhiều lần: “Cần chú trọng hơn nữa về mặt đức dục; Dạy cho các cháu đạo đức cách mạng, biết yêu Tổ Quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, yêu lao động và người lao động, thật thà,dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động và bảo vệ Tổ Quốc”. Những điều Bác dạy về nhi đồng, về việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ toát lên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Thanh Hoàng
Tham khảo Các tư liệu về Hồ Chủ Tịch
cpv.org.vn

Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thiếu nhi dịp Tết Trung thu và 1/6

(DVT.vn) – Trung thu đến gần, đọc lại những bức thư này khiến chúng ta thêm nhớ và hiểu về Bác. Người cả cuộc đời luôn quan tâm và yêu thương thiếu nhi.

Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện đang lưu giữ khá nhiều bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thiếu niên nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu và ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6. Những bức thư này do Văn phòng Trung ương Đảng chuyển giao cho Bảo tàng từ trước năm 1959.

Đáng chú ý là cuốn sách có nhan đề Tập thư Bác Hồ, tập hợp một số bức thư Bác gửi cho thiếu nhi từ năm 1945 đến năm 1954, của Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cứu quốc Liên khu V, miền Nam Trung Bộ.

Năm 1954, cuốn sách đã được in ra thành nhiều bản để phát hành và tuyên truyền vào dịp Tết Trung thu với mong muốn “Các em sẽ chăm chỉ đọc ôn lại các bức thư của Bác, ghi sâu và làm theo lời Bác dạy để xứng đáng là cháu yêu của Bác”.

Sách có kích thước 14,5 x 10 cm, gồm 18 trang, in 2000 quyển và được kiểm duyệt theo giấy phép in số 493 của Ban Ấn loát miền Nam Trung Bộ.

Bác Hồ vui tết Trung thu với các cháu thiếu nhi Hà Nội và Quốc tế, ngày 27/9/1958.

Năm 1945, nhân dịp Tết Trung thu độc lập đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho thiếu niên nhi đồng cả nước. Với tình cảm thương yêu trìu mến nhất, Người hòa mình với các em: “Các em vui cười hớn hở, già Hồ cũng vui cười hớn hở với các em. Đố các em biết vỡ sao? Là vì… Trung thu năm nay đã được tự do và các em đã thành những tiểu quốc dân của một nước độc lập”. Người gửi tới các cháu “trăm cái hôn thân ái”.

Tiếp đến là Thư Trung thu 1948. Đó là năm đất nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ nên thư của Người cũng chất chứa bùi ngùi thương xót.

Người thấu hiểu những khó khăn mà thiếu nhi phải chịu đựng: “Nhiều cháu phải xa cha mẹ đến núi đỏ rừng xanh. Nhiều cháu chịu khó nhọc, hăng hái giúp các anh bộ đội. Nhiều cháu ở hậu phương thấy đồng bào hi sinh cực khổ, không nỡ ăn Tết Trung thu vui sướng một mình”, và Người thấy “áy náy”, thấy “căm giận bọn thực dân phản động Pháp”. Người đã thay mặt toàn thể đồng bào hứa với các cháu: “Sớm đuổi bọn thực dân phản động để trường kỳ kháng chiến sớm thắng lợi”. Cuối thư, Người khuyên các cháu “ra sức học hành” và không quên “gửi lời hôn các cháu”.

Bác Hồ cùng các cháu thiếu nhi quốc tế trong đêm liên hoan mừng ngày Quốc tế thiếu nhi tổ chức tại Phủ Chủ tịch, ngày 31/5/1960.

Năm 1949 là năm kháng chiến thứ ba và cũng là Trung thu thứ ba các cháu thiếu nhi “phải ăn Tết thiếu thốn hơn trước”. Đó cũng là ý đầu tiên trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ và chia sẻ. Dù vậy, Người vẫn chúc các cháu “vui hơn”.

Bằng lời lẽ giản dị phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi, Người phân tích để thiếu nhi thấy những thành tích cụ thể, thiết thực mà các cháu đã làm được trong khó khăn của cuộc kháng chiến, qua đó biểu dương và khen ngợi. Từ sâu thẳm lòng mình, Người bộc bạch: “Trung thu năm nay, Bác cũng chưa có quà gì biếu các cháu, nhưng Bác chắc chắn rằng sau này các cháu sẽ có Tết Trung thu linh đình là Tết Trung thu kháng chiến hoàn toàn thắng lợi. Bây giờ các cháu hãy nhận cái hôn Bác Hồ”.

Nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6/1950, Người cũng có thư gửi các cháu. Vẫn là sự băn khoăn “Đáng lẽ các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như con trẻ Liên Xô”, Người phân tích cho thiếu nhi hiểu dân tộc ta kháng chiến thắng lợi thì các cháu “sẽ đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”. Dù còn nhiều khó khăn, vui buồn, Người vẫn không quên “gửi các cháu nhiều cái hôn”.

Trung thu 1951, Người mở đầu thư bằng bốn câu thơ:

Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Sau đây Bác viêt mấy dòng
Gửi thăm các cháu tỏ lòng nhớ nhung.

Sau khi thông báo đã nhận được thư của nhi đồng vùng tạm bị chiếm và thư của nhi đồng các nơi báo cáo thành tích thi đua, Người giải thích về ý nghĩa của ngày 1/6 và căn dặn thêm các cháu những việc nên làm, phải làm trong sinh hoạt đội, trong học tập và cả khi vui chơi để trở thành người có ích cho Tổ quốc.

Bác Hồ và các cháu thiếu nhi Hà Nội và Quốc tế vui tết Trung thu, tại vườn hoa Phủ Chủ tịch.

Trung thu 1952 là năm đất nước đang bước vào thời kỳ kháng chiến cam go. Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ niềm thương nhớ thiếu nhi ở mọi vùng đất nước. Lời lẽ trong thư Người ẩn chứa nỗi buồn lo cho các cháu. Người biểu dương tinh thần tiến bộ của thiếu nhi, “đã biết yêu nước, ghét giặc, đều chăm học, siêng làm… biết đoàn kết, thương yêu cha mẹ, giúp đỡ bộ đội và thương binh, giúp tăng gia sản xuất và tiêt kiệm”. Đặc biệt, Người tỏ lòng thương xót khi thấy tinh thần chiến đấu hi sinh dũng cảm của các cháu ở vùng tạm chiếm “đã giữ bí mật để giúp đỡ các cán bộ và bộ đội”. Cuối thư, Người lại có bài thơ:

Ai yêu các nhi đồng, bằng Bác Hồ Chí Minh.
Tính các cháu ngoan ngoãn. Mặt các cháu xinh xinh…

Năm 1952, nhân ngày 1/6, Người gửi thư cho thiếu nhi, nhấn mạnh tinh thần Quốc tế để các cháu hiểu rõ và cùng nhau giữ gìn hòa bình, dân chủ.

Trung thu 1953, Người lại có bài thơ gửi cho các cháu với mong muốn “Thu sau so với thu này vui hơn”.

1/6/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng tới toàn thể thiếu nhi trong nước và quốc tế. Người mong các cháu “ngoan ngoãn, mạnh khỏe, vui vẻ, tiến bộ”.

Có thể nói, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu niên nhi đồng chiếm một mảng lớn trong tâm hồn của Người. Thực tế, chúng ta thấy, ở đâu và lúc nào bên cạnh Người cũng có các cháu. Không chỉ thiếu nhi trong nước mà thiếu nhi quốc tế cũng luôn quây quần quanh Bác .

Năm 1954, nước ta được hưởng nền hòa bình sau chín năm kháng chiến chống Pháp. Điều trước tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ đến là các cháu thiếu niên nhi đồng. Người viết thư (khi là văn xuôi, khi bằng những vần thơ) để khen ngợi, biểu dương tinh thần của các cháu trong cuộc kháng chiến trường kỳ. Đồng thời, Người cũng bày tỏ lòng thương yêu, nhớ nhung thiếu nhi ở cả hai miền Nam, Bắc. Người viết cho các cháu bằng cả tấm lòng thương yêu vô hạn: “Trăng thu trong đẹp, sáng rọi khắp nơi, từ Nam đến Bắc. Cũng như lòng Bác yêu quý tất cả các cháu miền Bắc và miền Nam“.

Tình cảm bị kìm nén bấy lâu, đến năm 1954 Người mới được thỏa lòng vì thiếu nhi miền Bắc đã được sống trong cảnh hòa bình. Trong thư, Người tỏ ý xin lỗi “Vì bận việc quá” nên “không rảnh làm thơ gửi các cháu“. Cuối thư, Người không quên chúc các cháu “Vui mạnh khỏe, ngoan ngoãn và cố gắng thi đua học hành“, để:

Đến ngày Nam Bắc vui chung
Các cháu xúm xít thì lòng ta vui.

Nhưng, niềm vui của Người chưa trọn vẹn vì Người còn một điều trăn trở. Một nửa đất nước chưa được độc lập. Người vẫn còn một nỗi niềm khi nhớ đến các cháu thiếu nhi miền Nam. Các cháu vẫn còn phải sống trong hoàn cảnh chưa có hòa bình, chưa có tự do. Từ xúm xít được Người thể hiện trong hai câu thơ kết của bức thư làm chúng ta cũng xúc động theo Người.

Ước vọng đó của Người ngày nay chúng ta đã làm được: Bắc, Nam đã liền một dải. Đất nước hòa bình thịnh vượng đang sánh vai tiến bước cùng các nước trong khu vực và toàn cầu. Thiếu niên nhi đồng Việt Nam cũng đang được hưởng một nền giáo dục tiên tiến, được cả xã hội quan tâm và yêu thương.

Vui Tết Trung thu, đọc lại những bức thư này của Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến chúng ta thêm nhớ và hiểu về Người. Người cả cuộc đời luôn quan tâm và yêu thương thiếu nhi. Người được cả thế giới ngưỡng mộ và gọi bằng cách thân mật là Bác Hồ! Bác Hồ kính yêu!

Lê Minh Độ

dvt.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên (Phần C)

>> Phần B

TP – Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức thanh niên và xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản

Chăm lo cho thế hệ trẻ là một trong những tư tưởng xuyên suốt của Bác HồChăm lo cho thế hệ trẻ là một trong những tư tưởng xuyên suốt của Bác Hồ.

Từ năm 1925, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Hồ Chí Minh đặt vấn đề phải xây dựng một tổ chức thanh niên cộng sản ở Việt Nam. Sau một thời gian do Người trực tiếp chuẩn bị và đề nghị với Trung ương Đảng, ngày 26-3-1931, Thanh niên Cộng sản Đoàn ra đời. Đó là thời điểm mang nhiều ý nghĩa đặc biệt trong phong trào thanh niên yêu nước theo xu hướng tiến bộ ở nước ta.

Đối với Hồ Chí Minh, tổ chức, đoàn kết, tập hợp thanh niên là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam. Muốn phát huy sức mạnh của thanh niên thì phải thông qua tổ chức, không có tổ chức thì Đảng không nắm được thanh niên.

Trong thư gửi thanh niên Việt Nam năm 1925, Hồ Chí Minh vạch rõ ở Đông Dương có đủ cơ sở vật chất (hầm mỏ, hải cảng, đồng ruộng…) chỉ “thiếu tổ chức và người tổ chức” (19). Đây là một nhận định hết sức sáng suốt. Vì lẽ đó, Hồ Chí Minh coi công tác vận động thanh niên là nhiệm vụ trọng tâm của mình, và sau khi dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ V và Đại hội Quốc tế thanh niên cộng sản lần thứ IV (1924), Người dốc sức tiến hành công tác tổ chức, lập ra Việt Nam Thanh niên cách mệnh Đồng chí hội.

Chính Hồ Chí Minh là người trực tiếp tuyển chọn, bồi dưỡng đồng chí hội. Chính Hồ Chí Minh là người trực tiếp tuyển chọn, bồi dưỡng những hạt giống đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản ở nước ta.

Năm 1944, Đảng và Bác Hồ thành lập tổ chức Đội Thiếu niên tiền phong.

Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh chỉ thị trực tiếp cho các xứ ủy, tỉnh ủy, thành ủy tổ chức các Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc và thống nhất hệ thống Đoàn từ cơ sở lên đến Trung ương. Tháng 6-1946, Người chủ trương lập Mặt trận thanh niên rộng rãi (do Đoàn Thanh niên Cứu quốc làm nòng cốt), lấy tên là Liên đoàn Thanh niên Việt Nam và trực tiếp dự Đại hội lần thứ nhất của Liên đoàn tại chiến khu Việt Bắc.

Hồ Chí Minh là người sáng lập các tổ chức thanh niên Việt Nam trực tiếp cho ý kiến cụ thể về dự thảo Điều lệ Đoàn (trình Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III năm 1961). Người khẳng định vai trò, vị trí của Đoàn trong hệ thống chính trị của đất nước; khẳng định những chức năng cơ bản của Đoàn Thanh niên Cộng sản.

Việc lập Mặt trận thanh niên, “đoàn kết và tổ chức thanh niên một cách rộng rãi và vững chắc” do Đảng lãnh đạo và Đoàn Thanh niên Cộng sản làm nòng cốt, tạo ra những loại hình tập hợp thích hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, với từng trình độ, đặc điểm và tâm lý thanh niên là một sáng tạo lớn, một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên.

Xin nêu mấy điểm chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản, trong đó có những điểm xin trích nguyên văn lời của Người.

Về chức năng, nhiệm vụ của Đoàn, Hồ Chí Minh chỉ rõ Đoàn Thanh niên là tổ chức thanh niên cộng sản, là đội dự bị tin cậy của Đảng, là người đại diện của thanh niên, là hạt nhân đoàn kết, giáo dục và phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là người phụ trách, dìu dắt thiếu niên, nhi đồng. Tất cả những điều đó được thể hiện ở huy hiệu Đoàn.

Hồ Chí Minh kết luận: “Huy hiệu của thanh niên ta là: “Tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, đồng thời phải vui vẻ và hoạt bát. (20)

Trong mối quan hệ giữa Đoàn với Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng về đường lối chính trị thì thanh niên theo Đảng chỉ huy, nhưng việc làm thì thanh niên độc lập; trong mọi công việc, đảng viên và đoàn viên thanh niên phải gương mẫu để lôi cuốn nhân dân cùng tiến bộ; mọi công việc đều vì lợi ích của nhân dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân, đó là những tổ chức của dân, “phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ”. (21)

Về mối quan hệ giữa Đoàn với thanh niên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đoàn phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với các tầng lớp thanh niên. Phải quan tâm đến đời sống, công tác và học tập của thanh niên, phải tránh thành kiến, hẹp hòi, cô độc. Phải thật thà, đoàn kết với anh chị em thanh niên trong Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam. (22).

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng củng cố, phát triển Đoàn và tổ chức phong trào thanh niên. Người chỉ rõ:

“Phải củng cố tổ chức của Đoàn. Phải đoàn kết nội bộ chặt chẽ, và phải đoàn kết rộng rãi với các tầng lớp thanh niên”.

“Cần phát triển Đoàn hơn nữa, nhưng phải chọn lọc cẩn thận, trọng chất lượng hơn số lượng”.

“Muốn củng cố và phát triển Đoàn thì tất cả đoàn viên phải làm gương mẫu: Phải giữ vững đạo đức cách mạng; phải khiêm tốn, cần cù, hăng hái, dũng cảm.

Phải tránh tư tưởng kiêu ngạo, công thuần, tự tư tự lợi. Phải xung phong trong mọi công tác; xung phong là đi trước, làm trước để lôi cuốn quần chúng chứ không phải là xa rời quần chúng. Phải cố gắng học tập chính trị, văn hóa, nghề nghiệp để tiến bộ mãi, để sẵn sàng trở thành cán bộ tốt, đảng viên tốt. Phải rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh”.

Về phương pháp công tác, phương pháp vận động thanh niên của Đoàn, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

“Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm. Và đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi”. “Thi đua phải lâu dài và rộng khắp”.

“Phong trào cần phải liên tục và có nội dung thiết thực. Không nên chỉ có hình thức, càng không nên “đầu voi đuôi chuột”.

“Việc gì cũng cần phải thiết thực: nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ chỗ nhỏ dần dần đến to, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hiện được hẳn hoi là một trăm chương trình to tát mà làm không được”.

Đối với cán bộ Đoàn, Hồ Chí Minh đòi hỏi: “Cán bộ lãnh đạo cần phải chống bệnh quan liêu, chống cách lãnh đạo chung chung. Cần phải đi sâu đi sát điều tra nghiên cứu. Cần phải khuyến khích, thu góp, bổ sung và phổ biến rộng rãi những sáng kiến hay, những kinh nghiệm tốt của quần chúng”. “Cần phải đi sâu vào đời sống, hiểu rõ tâm lý của các lớp thanh niên và giúp đỡ họ giải quyết các vấn đề một cách thiết thực”.

Đoàn thanh niên với nhiệm vụ giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ

Căn cứ vào nhiều kết luận của các đại hội Đảng và một số thành tựu nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, bước đầu có thể nêu lên một số nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là:

Tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người;

Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Tư tưởng về phương pháp cách mạng, nghệ thuật chỉ đạo chiến lược và sách lược;

Tư tưởng về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước kiểu mới, xây dựng quân đội nhân dân; về đại đoàn kết và về dân vận (trong đó có vận động thanh niên).

Tư tưởng về đạo đức cách mạng… Một mặt, cần nghiên cứu để hiểu sâu hơn, có hệ thống hơn những di sản quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại. Mặt khác, rất quan trọng là làm sao đưa được tư tưởng Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh đến từng cán bộ đảng viên, đoàn viên và nhân dân để tạo ra động lực tinh thần và soi sáng cho tư duy, hành động của mỗi người trong thời kỳ mới.

Xin vắn tắt nêu một số suy nghĩ về Đoàn Thanh niên với việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho thanh niên trong thời gian tới.

Một là , thông qua sinh hoạt Đoàn, Hội thanh niên và các phương tiện thông tin đại chúng, Đoàn cần phổ biến, truyền đạt tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là những lời chỉ bảo của Bác Hồ đối với thanh niên một cách thường xuyên, liên tục.

Hai là, các cấp bộ Đoàn, Hội cần tổ chức cho cán bộ học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên; quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong thời kỳ đổi mới.

Có thể nói, mọi đối tượng thanh niên (công nhân, nông dân, bộ đội, cán bộ KHKT, học sinh, sinh viên…) đều tìm thấy trong những lời chỉ dẫn ân cần của Bác Hồ các giá trị định hướng cho suy nghĩ và hành động của mình trong tình hình hiện nay.

Ba là, hiện nay đang phát triển mạnh phong trào Thanh niên lập nghiệp, Tuổi trẻ giữ nước, thanh niên tình nguyện, 4 đồng hành và 5 xung kích, các chương trình hành động của Đòan… Những điển hình tiên tiến cá nhân và tập thể xuất hiện ngày càng nhiều.

Đây chính là những tấm gương Người tốt việc tốt mà sinh thời Hồ Chí Minh luôn cổ vũ và khen ngợi. Các tỉnh, thành Đoàn cần mở rộng các hình thức cổ vũ phong trào người tốt, việc tốt, tuyên truyền, giáo dục thanh niên rèn luyện và cống hiến qua việc giới thiệu thường xuyên những điển hình tiên tiến.

Bốn là, cần hình thành bộ môn Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên trong hệ thống trường Đoàn từ Trung ương đến địa phương. Muốn làm việc này phải chuẩn bị đồng thời cả hai mặt: đào tạo đội ngũ cán bộ và chuẩn bị giáo trình.

Cuối cùng, chúng tôi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên đã được Đảng ta quán triệt trong nhiều nghị quyết của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên, trong nhiều văn bản của Nhà nước ta đã ban hành. Vì vậy, quá trình nghiên cứu, học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh cần kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện có kết quả các chủ trương của Đảng về đổi mới công tác thanh niên.

Các ngành, các cấp xây dựng được chương trình, kế hoạch hành động để thực hiện nghị quyết của Đảng cũng là quán triệt và thực hiện những tư tưởng, chỉ dẫn của Bác đối với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ.

Đoàn Thanh niên phải tích cực, chủ động hơn trong việc phối hợp với các ngành, đoàn thể nhằm giáo dục tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho thế trẻ, đề xuất với Đảng và Nhà nước ban hành các thể chế, chính sách cụ thể theo tư tưởng Hồ Chí Minh (như đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, chính sách giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội của thanh niên, bồi dưỡng tài năng trẻ … nhằm tạo ra những điều kiện và môi trường thuận lợi cho quá trình giáo dục và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong thanh thiếu niên.

Hồ Đức Việt
Nguyên Bí thư thứ nhất BCH T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

(19) Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.30
(20) Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên , Sđd, tr.100, 166
(21) (22) Hồ Chí Minh tuyển tập, t.5, NXB Sự thật, Hà Nội 1985, tr. 393

tienphong.vn