Thư viện

Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Trong Di chúc, Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sán xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng”

GS, TS Nguyễn Lân Dũng

Trong một lần trả lời phỏng vấn Đài phát thanh BBC (Anh) nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ tại Việt Nam. Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc, nhân loại và từ đó giải phóng chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai. Người xác định rõ, bất bình đẳng nam nữ không đơn thuần là bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng lạc hậu mà chủ yếu là do chế độ kinh tế xã hội. Hồ Chí Minh là lãnh tụ Việt Nam đầu tiên kêu gọi “Thực hiện nam nữ bình quyền”, coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ là mọt mục tiêu của cách mạng.

Đồng chí Vũ Kỳ nhớ lại: “Một lần, tới dự Hội nghị, nhìn dọc Hội trường Bác hỏi: này các chú, phụ nữ đâu không thấy ngồi hàng đầu ? Bác hỏi tiếp: Các cô có đấy không ? Có ạ. Vậy mời lên đây ngồi. Ngay việc ngồi cũng không bình đẳng. Phụ nữ muốn bình đẳng không phải bảo Đảng, Chính phủ hay nam giới mời ngồi mà phải tự đấu tranh để giành lấy.

Đó là lời dặn mà cũng là mong muốn của Bác. Bác thường nhắc: Lực lượng phụ nữ không nhỏ, có khi còn đông hơn nam giới. Ở Việt Nam nói riêng và Châu Á, Châu Phi nói chung, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ rất rõ rệt. Do ý thức hệ phong kiến đã đè nặng lên tư tưởng phụ nữ từ bao đời nay. Vì thế, mọi đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ bao giờ cũng phải chú ý đến phụ nữ…

Bác còn trực tiếp đào tạo nhiều người trở thành cán bộ cách mạng. Hãy đọc lại hồi ký của bà Nông Thị Trưng viết về Bác: “Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm, người giữ trạm đầu nguồn đưa chúng tôi đến gặp ông Ké. Đến nơi, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Bên bờ suối có một cái lán, trong lán, một ông cụ đang ngồi đọc sách. Tôi chấp tay: Cháu chào cụ ạ. Ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện. Cụ bảo 2 lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên: “Từ nay cháu đã có gia đình lớn là cách mạng, đừng nên luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu có cặm cụi làm ăn cũng không đủ nộp sưu thuế. Mình lấy lại được nước rồi sẽ khác”. Bác đặt cho tôi tên Trưng cũng là vì muốn tôi noi theo gương của bà Trưng khi xưa.

Từ đấy, tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ học tập Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản đến cả những cách ứng xử hàng ngày: Đừng làm việc gì khiến dân mất lòng tin. Mượn 1 cái kim, 1 con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi… Tám tháng được Bác chỉ dạy, tôi học được nhiều hơn mấy chục năm học lý luận tập trung sau này”.

Khi bàn về việc bầu Chủ nhiệm HTX nông nghiệp, Bác đề nghị bầu nhiều phụ nữ vào cương vị này bởi: “Phụ nữ làm chủ nhiệm đâu có đánh chén. Chủ nhiệm nữ thật thà, phải đưa nhiều phụ nữ tham gia làm chủ nhiệm”.

Trong Di chúc, Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sán xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng”.

Theo Nhịp cầu đầu tư
Người đưa tin: NBC

haugiang.gov.vn

Nguyễn Ái Quốc với Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3

Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển tột bậc, nhất là ở Mỹ và các nước Tây Âu, nhiều phụ nữ và trẻ em phải làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, bị chủ tư bản bóc lột và trả lương rẻ mạt, đời sống vô cùng cực khổ, khó khăn. Căm phẫn trước sự áp bức đó, ngày 8-3-1899, tại hai thành phố Chi-ca-gô và Niu-óoc (Mỹ) một cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nữ công nhân ngành dệt may đã nổ ra đòi tăng lương, giảm giờ làm và cuối cùng buộc bọn chủ tư sản phải nhượng bộ.

Tháng 2-1909, lần đầu tiên phụ nữ khắp nơi trên nước Mỹ tổ chức mít tinh “Ngày Phụ nữ”, biểu tình rầm rộ đòi quyền bình đẳng. Những cuộc đấu tranh đầu tiên của nữ công nhân Mỹ đã có tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của phụ nữ lao động trên toàn thế giới. Trong phong trào đấu tranh lúc bấy giờ, xuất hiện nữ chiến sĩ cách mạng lỗi lạc người Ðức là bà Cơ-la-ra Det-kin. Cơ-la-ra Det-kin sinh ra trong một gia đình nhà giáo ở vùng nông thôn Ai-xuê nước Đức, lớn lên Cơ-la-ra học tại một trường tư thục ở Lai-xích.

Cơ-la-ra Det-kin

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Cơ-la-ra Zet-kin hoạt động trong phong trào công nhân và sau đó gia nhập Đảng xã hội dân chủ Đức. Vì bị khủng bố và truy lùng, từ năm 24 tuổi, Cơ-la-ra sang nước ngoài hoạt động, trở thành một chiến sĩ cộng sản, chủ bút của tạp chí Bình đẳng do chính bà sáng lập năm 1890.

Năm 1907, Đại hội Phụ nữ quốc tế được triệu tập theo đề nghị của Cơ-la-ra Det-kin, sau đó một tổ chức quốc tế của phụ nữ ra đời và Cơ-la-ra được bầu làm Bí thư đầu tiên. Năm 1910, theo sáng kiến của bà, Hội nghị Phụ nữ quốc tế họp tại Cô-pen-ha-ghen (Đan Mạch) đã lấy ngày 8-3 hằng năm làm ngày đấu tranh cho quyền tự do, bình đẳng của phụ nữ trên toàn thế giới.

Trong thời kỳ diễn ra nhiều hoạt động đấu tranh sôi nổi của phụ nữ thế giới nhằm giành quyền bình đẳng, Nguyễn Tất Thành đang bôn ba ở hải ngoại tìm đường cứu nước, Người phải làm thuê nhiều công việc nặng nhọc để kiếm sống ở các nước Mỹ, Anh, Pháp.

Tháng 10-1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội Tua và gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Tại Đại hội này, Cơ-la-ra Det-kin với cương vị là Ủy viên Đoàn Chủ tịch của Quốc tế Cộng sản đã đọc một bài diễn văn quan trọng. Bài diễn văn của Cơ-la-ra đã làm cho Nguyễn Ái Quốc hiểu thêm về Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười Nga, cũng như mối hiểm họa mà bọn cơ hội đang rắp tâm gây ra cho giai cấp vô sản thế giới; đồng thời cũng giúp Người biết thêm tình hình thế giới, phong trào phụ nữ quốc tế và những thành quả sau mười năm thành lập. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã làm quen với Cơ-la-ra. Với tình hữu ái vô sản và nhất là sự cảm phục tấm lòng yêu nước của Người, bà đã giúp Nguyễn Ái Quốc học tiếng Đức và trao đổi nhiều vấn đề về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của giai cấp công nhân và nhân dân hai nước Đức, Việt.

Năm 1913, Nguyễn Ái Quốc gặp lại Cơ-la-ra tại Mát-xcơ-va, hai chiến sĩ cộng sản đã kể cho nhau nghe chặng đường hoạt động cách mạng đầy gian khó nhưng vinh quang của mình, càng thêm gắn bó hơn về trách nhiệm của mỗi người đối với Quốc tế Cộng sản và phong trào công nhân thế giới. Giữa thập niên 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc sang hoạt động cách mạng ở Liên Xô, Trung Quốc, từ những trao đổi cùng Cơ-la-ra, Người đã tích lũy được nhiều tư liệu quý để viết bài về “Phụ nữ quốc tế” với 3 nội dung: Vì sao lập ra Phụ nữ quốc tế? Lịch sử Phụ nữ quốc tế thế nào? Cách tổ chức của Phụ nữ quốc tế ra sao?

Phần đầu của bài “Phụ nữ quốc tế”, Người đã viết những lời thật giản dị mà thấm thía:

“Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tấn bộ ra thế nào”.

Ông Lênin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”…

Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia. Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sác-lốt Coóc-đây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, bà Luy Mi-sen ra giúp tổ chức Pa-ri Công xã. Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1.854 người. Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào. Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước”.(*)

Tại Đại hội Phụ nữ Quốc tế lần thứ 3 ở Mát-xcơ-va năm 1924, với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đến dự, đại diện cho ý chí và nguyện vọng quần chúng lao động xứ Đông Dương, Người đã gặp lại Cơ-la-ra Dét-kin và nhiệt liệt chúc mừng bà được bầu làm Tổng Bí thư của Phụ nữ quốc tế. Bà Cơ-la-ra còn được Hội nghị lần thứ nhất của Hội quốc tế Cứu tế đỏ bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương của Hội, ngoài việc cứu tế nạn nhân chiến tranh, thiên tai, Hội còn bênh vực cho các chiến sĩ cách mạng từ nhiều nước khác nhau. Sau này, chính Hội quốc tế Cứu tế đỏ do Cơ-la-ra đứng đầu đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc cứu Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nhà tù đế quốc Anh ở Hương Cảng.

Sau những năm tháng đấu tranh không biết mệt mỏi, năm 1933, Cơ-la-ra Dét-kin, người sáng lập ra Ngày quốc tế Phụ nữ 8-3 đã trút hơi thở cuối cùng trên quê hương Xô-viết anh hùng. Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm các nước Đông Âu, trong buổi gặp đồng chí Vin-hem Pích, Chủ tịch Đảng Xã hội thống nhất Đức, Người đã kể lại với tấm lòng khâm phục vô hạn về tinh thần chiến đấu kiên cường vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ của bà Cơ-la-ra Dét-kin, người phụ nữ Đức dũng cảm đã dành trọn cuộc đời tranh đấu vì nhân loại cần lao.

——

(*) HCM toàn tập, NXBCTQG-ST, Hà Nội 2002, tập 2, tr 288.

Nguyễn Thanh Hoàng
Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ

xaydungdang.org.vn

Hồ Chủ tịch và quyền bình đẳng của phái nữ

“Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Hồ Chí Minh

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập đã đánh dấu một bước chuyển biến cơ bản trong đời sống của người phụ nữ. Từ nay chị em thực sự trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh mình cùng nam giới chung lo bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Như vậy, họ đẫ bình đẳng với nam giới trên cả hai mặt: nghĩa vụ và quyền lợi.

Cuộc đấu tranh thực hiện quyền bình đẳng nam nữ

Tháng 10-1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính thức được ban hành, quyền bình đẳng giữa nam và nữ được công nhận. Hồ Chủ tịch nói: “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”.

Khi quyền nam nữ bình đẳng được công bố và thừa nhận, có người lầm tưởng rằng việc giải phóng phụ nữ như vậy đã được giải quýet, do đó thi hành luật pháp có thể là dễ dàng, thuận lợi. Hồ chủ tịch đã sáng suốt chỉ ra rằng, con đường đấu tranh để thực hiện quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ khó khăn và lâu dài.

“Nhiều người lầm tưởng đó là việc dễ chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát, thế là bình đẳng, bình quyền. Lầm to!

Đó là một cuộc cách mạng to và khó”.

Vì vấn đề giải phóng phụ nữ là một vấn đề xã hội to lớn đòi hỏi về mặt quan tâm của tất cả mọi người. Đây không chỉ là giải quyết những mâu thuẩn tranh chấp giữa hai giới nam và nữ, cành không phải là việc riêng của phụ nữ.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn giải phóng người phụ nữ không chỉ thực hiện một sự phân công mới, bình đẳng giữa vợ và chồng trong những công việc gia đình, mà cái căn bản là phải có sự phân công, sắp xếp lại lao động của toàn xã hội,đưa phụ nữ tham gia vào nhiều ngành nghề như nam giới. Cần tổ chức lại đời sống công nông cũng như sinh hoạt gia đình để phụ nữ giảm nhẹ công việc bếp núc, chăm lo con cái, có điều kiện tham gia sản xuất, học tập nâng cao trình độ mọi mặt. Từ đó, chị em mới có đủ khả năng làm nhiều công việc chuyên môn và đảm nhiệm được những chức vụ công tác ngang hàng với nam giới. Đó là một cuộc cách mạng thực sự lớn.

“Vì không thể dùng vũ lực mà tranh đấu…vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân. Dù to và khó phải nhất định thành công”.

Trước đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ đã cùng toàn dân đứng lên lật đỗ chính quyềt đế quốc và phong kiến tay sai, giành lại độc lập, tự do và thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân. Chính quyền mới do nhân dân lập ra, bảo đảm quyền tự do, dân chủ cho người lao động và bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ. Vì vậy, ngày nay chị em hết sức ủng hộ chính quyền cách mạng là lẽ tất nhiên.

Những muốn biến quyền bình đẳng giữa nam nữ, từ một luật lệ trở thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, biến ý thức tôn trọng phụ nữ thành nếp sống đạo đức của mọi người thì đòi hỏi sự nỗ lực hết sức to lớn của toàn dân, của tất cả phụ nữ để xây dựng một xã hội mới, một kiểu người mới xã hội chủ nghĩa. Hồ Chủ tịch nêu rõ: Muốn thực hiện tốt quyền bình đẳng của phụ nữ phải có sự tiến bộ về kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật của nước ta. Phụ nữ phải hi sinh xương máu, lao động gian khổ, góp phần đẩy mạnh sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp, giáo dục và y tế, xây dựng một đất nước giàu mạnh, phồn vinh, một nền văn hóa, khoa học tiên tiến.

Đấu tranh giải phóng phụ nữ cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng lâu dài, khó khăn để xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ còn tồn tại dai dẳng trong nhân dân ta.

“Vì trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại, vì nó ăn sâu trong đầu óc mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”

Chính từ những nhận định sáng suốt trên, khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới được thành lập, Hồ chủ tịch đã kêu gọi phụ nữ hăng hái cùng toàn dân tham gia ba phong trào cách mạng lớn là: diệt giặc dốt, giặc đói và giặc xâm lăng.

Để khắc phục hậu quả ghê gớm do thực dân Pháp và phát xít Nhật để lại, Hồ Chủ tịch phát động phong trào toàn dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Người đã nhắc nhở tất cả mọi người, trong đó lực lượng chính là phụ nữ thi đua sản xuất “tấc đất, tấc vàng” thực hành tiết kiệm để đảm bảo lương thực cho gia đình và đóng góp nuôi quân.

Suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, phụ nữ Việt Nam đặc biệt là phụ nữ công nông, đã nhiệt liệt hưởng ứng lời Bác Hồ dạy. Đảm đang việc sản xuất, chăm lo việc gia đình để chồng con đi chiến đấu. Chị em hàng ngày còn chú ý tiết kiệm lương thực, lập ra những hủ gạo nuôi quân để tiếp tế cho bộ độ. Phụ nữ ra sức thâm canh, tăng năng suất, tăng sản lượng để làm nghĩa vụ bán thóc cho Nhà nước. Những hạt thóc vàng do mồi hôi công sức phụ nữ làm ra, đóng góp cho Tổ quốc để góp phần tạo nên chiến thắng thực dân Pháp và củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân.

Về nhiệm vụ diệt giặc dốt, nhằm xóa bỏ tình trạng dốt nát của nhân dân ta do chính sách ngu dân của thực dân Pháp để lại, Hồ Chủ tịch rất quan tâm đến phụ nữ, Người đã khuyến khích chị em chịu khó học tập để có khả năng làm chủ đất nước đảm nhiệm những công việc như nam giới. Trong Lời kêu gọi chống nạn thất học tháng 10-1945, Người đã nói: “Mọi người Việt Nam phải hiểu hết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm. Đây là lúc các chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu và ứng cử”.

Người rất vui mừng khi thấy phong trào Bình dân học vụ, phụ nữ đã tham gia tích cực làm người dạy học cũng như làm học trò. Người đặc biệt khen ngợi các cụ bà ham học đã làm gương, khuyến khích cho thanh niên noi theo: “Nhiều cụ, tuy tuổi tác đã cao, vẫn cố gắng học chữ, học làm tính. Thật là đáng kính, đáng quý”.

Hồ Chủ tịch đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Pháp, người động viên chị em phát huy truyền thống chiến đấu dũng cảm của Bà trưng, Bà Triệu, Người tỏ lòng kính trọng các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, luôn luôn gởi lời thăm hỏi các bà mẹ bộ đội, các gia đình liệt sĩ.

Trong bức thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ 8-3-1952, Hồ Chủ tịch đã viết:

“Nhân dịp 8-3 tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sỹ đã hi sinh cho Tổ quốc. Tôi kính chúc các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ. Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng”.

Người rất xúc động trước tinh thần yêu thương chiến sĩ của các bà, các cụ trong các Hội chiến sĩ ở các địa phương. Người tỏ lòng biết ơn và nhắc nhở các chiến sĩ phải hiếu với mẹ nuôi bằng cách giết giặc lập công.

Trong thư gửi các Hội mẹ chiến sĩ, Người viết: “Các chiến sĩ thì sẵn sàng hy sinh gia đình, hy sinh tính mệnh đi giết giặc cứu nước, bảo vệ đồng bào. Các cụ, các bà thì thương yêu săn sóc chiến sĩ như con cháu ruột thịt. Thế là các cụ, các bà cũng trực tiếp tham gia kháng chiến… Chẳng những các chiến sĩ mà tôi và Chính phủ cũng biết cám ơn các cụ, các bà”.

Người động viên, ca ngợi tinh thần dũng cảm chiến đấu không quản nguy hiểm khó khăn của các nữ du kích, cũng như thành tích của hàng vạn phụ nữ Kinh, Tày, Nùng, Mán, Mèo, tạm gác việc nhà xung phong đi dân công, xông pha lửa đạn để giúp đỡ bộ đội trong mọi việc. Người nhắc đến câu chuyện nhỏ, nhưng có ý nghĩa rất to lớn: “Bà cụ Nam (Cao Bằng), 83 tuổi xung phong sửa đường. Cán bộ khuyên bà cụ nghỉ thì bà cụ nói: “Càng già càng phải giúp kháng chiến, sửa đường cho bộ đội đi cho mau, giết cho nhiều giặc, thắng cho nhiều trận”.

Sự hoạt động hăng hái của các tầng lớp phụ nữ khắp toàn quốc trên các mặt trận sản xuất, chiến đấu, văn hóa xã hội trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp đã xứng đáng với lời ca ngợi của Hồ Chủ tịch:

“Non sông gấm vóc Việt Nam, do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Quá trình phụ nữ nước ta tham gia tích cực vào ba phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, giặc xâm lăng cũng là quá trình chị em đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ bản thân mình, phụ nữ ngày càng khẳng định rõ vai trò, khả năng của mình.

Cùng với sự phát triển của công cuộc kháng chiến và kiến quốc, quyền bình đẳng của phụ nữ trên nhiều mặt được dần dần thực hiện. Trong cải cách ruộng đất, phụ nữ nông dân đã được chia ruộng đất như nam giới; trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, phụ nữ làm việc ngày càng đông và được hưởng quyền lợi ngang hàng nam giới; trong các ngành y tế, văn hóa, giáo dục, khoa học phụ nữ được học tập, đào tạo bồi dưỡng rộng rãi, không có sự hạn chế nào ngăn cản việc phát triển tài năng của chị em. Nhưng cũng phải thấy rằng phụ nữ còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền bình đẳng của chị em do trình độ phát triển chung của cách mạng Việt Nam.

Trích “Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam”, NXB Phụ nữ

haugiang.gov.vn

Bác Hồ nói về công tác phụ nữ

Phát biểu tại lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (19-10-1966), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến truyền thống yêu nước đầy tự hào của người phụ nữ Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó ta có câu tục ngữ rất hùng hồn: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”.

Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam, Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”.(1) Nói chuyện tại đại hội liên hoan phụ nữ “Năm Tốt” vào ngày 30-4-1964, Bác Hồ đã giúp phụ nữ nhận thức rõ: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ ta đã góp phần khá lớn làm cho cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi vẻ vang. Ngay từ lúc đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông”.(2)

Bác không chỉ quan tâm đến quyền bình đẳng của nữ giới trong mọi quan hệ xã hội mà còn lo cho hạnh phúc của nữ giới trong quan hệ vợ chồng, khuyên giới nữ ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình để tự đấu tranh giải phóng mình khỏi những ràng buộc phi lý kiểu “chồng chúa vợ tôi”. Trong dịp gặp gỡ với cán bộ tỉnh Hà Tây vào ngày 10-2-1967, Bác phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật: ”Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”.(3)

Tại buổi nói chuyện với lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện vào ngày 18-1-1967, Bác đã nghiêm khắc phê phán những thành kiến hẹp hòi ở một số cán bộ: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai… Bác mong rằng các đồng chí hãy thật sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ…”. (4) Bác đã chỉ ra cho chúng ta thấy, phụ nữ không thua kém nam giới khi được tạo mọi điều kiện thuận lợi: “Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ. Phụ nữ ta tham gia ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Thế là dưới chế độ tốt đẹp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ nữ đã thật sự làm chủ Nhà nước”.(5)

Bác đã biểu dương những đóng góp to lớn của phụ nữ trong công cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm: “Miền Nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ. Họ rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ và gọi họ là “đội quân tóc dài”. Phó Tổng Tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”.(6) Phụ nữ nước ta còn được Bác khen tặng bởi những thành tích trong học tập, rèn luyện và đóng góp trong mọi lĩnh vực… “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo… Theo gương các bà, các mẹ và các chị anh hùng, nhiều cháu thiếu niên nhi đồng gái cũng rất ngoan… Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật là anh hùng…”.(7)

Bác khuyên giới nữ phải tự đấu tranh với bản thân mình, tự mình phải biết tôn trọng mình mới làm nên mọi việc. Bác đã nói: “Phụ nữ phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập. (8) Bác đã nhắc nhở Đảng, Nhà nước phải quan tâm đến công tác phụ nữ. Di chúc thiêng liêng của Người ghi rõ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên.

Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.(9) Ngày nay, phụ nữ nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Họ không chỉ là người mẹ hiền đảm đang giữ gìn hạnh phúc gia đình, mà còn là những nhà khoa học, những vị lãnh đạo tài năng có những cương vị cao trong các cơ quan Đảng và Nhà nước từ cơ sở đến Trung ương, xứng đáng với sự quan tâm và tin tưởng của Bác Hồ.

(1.2.3.4.5.6.7.8.9: Theo Hồ Chí Minh toàn tập)
MAI BỬU MINH

haugiang.gov.vn

Nghĩ về tình cảm của Bác Hồ với Phụ nữ Việt Nam

Suốt cả cuộc đời mình, Bác đã để lại cho đời nhiều thứ quý giá, trong đó có một suối nguồn tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng mà Bác đã dành cho nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam.

443.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hội nghị phụ nữ tham gia công tác chính quyền. Ảnh: Tuấn Anh

“Bác sống như trời đất của ta / Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa / Tự do cho mỗi đời nô lệ / Sữa để em thơ, lụa tặng già” (Bác ơi – Tố Hữu). Suốt cả cuộc đời mình, Bác đã để lại cho đời nhiều thứ quý giá, trong đó có một suối nguồn tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng mà Bác đã dành cho nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam.

Còn nhớ, trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, trong những vấn đề Người quan tâm, Người đặc biệt chú ý đến trẻ em và phụ nữ ở các thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng, Người cho đó là những lớp người khổ nhất trong những người khổ cực.

Người căm ghét bọn thống trị luôn “đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người phụ nữ… và xúc phạm tới phong hóa, trinh tiết và đời sống của họ” (Bản án chế độ thực dân). Mỗi một phụ nữ, một trẻ em bị đánh, bị giết đều làm tác giả đau đớn. Người đã từng thốt lên: “Một em bé bị lột trần truồng, một thiếu nữ ruột gan lòi ra, cánh tay trái cứng đờ giơ nắm tay lên chĩa vào ông trời vô tình”.

Có gì xúc động hơn, khi thấy nỗi lòng Người đồng cảm với nỗi lòng của những người mẹ mất con, người vợ mất chồng trong vụ Pháp giết hại những người Việt Nam tại Khám lớn Sài Gòn. Người đã từng lên tiếng vạch trần những hành động dã man của lũ mặt người dạ thú với những người phụ nữ “Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược của bọn người xâm lược…”, chúng “mắng một phụ nữ Nam An là con đĩ, con bú dù… Ngay giữa chợ Bến Thành ở Sài Gòn… bọn gác chợ người Âu cũng không ngần ngại dùng roi gân bò, dùi cui đánh người phụ nữ bản xứ…”.

Có phải chăng đó chính là tình cảm, là động lực giúp Người vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong cuộc hành trình 30 năm trời tìm đường cứu nước để rồi, khi trở về đất Mẹ, Người không phút ngơi nghỉ để cùng Ðảng và nhân dân ta làm nên sự tích thần kỳ: Lật nhào chế độ phong kiến thực dân, dựng nên một nước Việt Nam độc lập dân tộc và dân chủ tiến bộ.

Ngay trong cuộc Tuyển cử phổ thông đầu phiếu ngày 6-1-1946, Người vui sướng nhận ra rằng “Phụ nữ là tầng lớp đi bỏ phiếu hăng hái nhất”. Sau khi đã trở thành Chủ tịch nước, Người vẫn luôn hướng tình cảm của mình đối với những người phụ nữ. Năm 1952, nhân kỷ niệm Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế phụ nữ, Người đã gửi thư ngợi khen: “Non sông gấm vóc Việt Nam do Phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Những năm tháng tại đầu nguồn Pác Bó, trong diễn ca “Lịch sử nước ta”, Người đã khẳng định: “Phụ nữ ta chẳng tầm thường / Ðánh Ðông, dẹp Bắc làm gương để đời”; “Hai Bà Trưng có đại tài / Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian / Ra tay khôi phục giang san / Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta”. Và hình ảnh Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng cũng được Người khắc họa: “Tỉnh Thanh Hóa có một bà / Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi / Tài năng dũng cảm hơn người / Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương”. Người từng căn dặn: “Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang là dũng cảm kháng chiến…”, thì: Phụ nữ Việt Nam ta cũng phải xứng đáng là con cháu Hai Bà.

Và vì thế Người luôn tự hào rằng “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng… Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng”, Cả trong kháng chiến chống Pháp. Rồi chống Mỹ “ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ”. “Từ trước đến nay phụ nữ Việt Nam ta có rất nhiều đóng góp cho cách mạng, phụ nữ ta rất đáng kính, phụ nữ ta đã có nhiều tiến bộ”. Tuy nhiên, “Bác còn mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa”.

Người còn chỉ ra rằng “Hiện nay, trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít. Ðảng và Chính phủ rất hoan nghênh, sẵn sàng cất nhắc và giao cho phụ nữ những chức trách quan trọng”. Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải: Gắng học tập, chính trị, học tập văn hóa kỹ thuật; nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ XHCN; Hăng hái thi đua thực hiện “Cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình”. Chúc chị em phụ nữ cố gắng học tập, tiến bộ nhiều, tiến bộ mãi để xứng đáng làm chủ nước nhà” (Bài nói chuyện tại Ðại hội phụ nữ tích cực Thủ đô lần thứ hai-8-3-1960).

Với Người, việc cất nhắc và giao trọng trách cho phụ nữ phải gắn liền với việc giải phóng phụ nữ, bởi “Ðể xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”. Thế nhưng “Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti…phải có ý chí tự cường tự lập”. Bởi vậy, những gì trái với quy tắc nam nữ bình đẳng Người đều có thái độ kiên quyết phản đối.

Chuyện rằng, tháng 1-1963, trong phiên họp của Bộ Chính trị để bàn về những vấn đề quan trọng của cách mạng, Người đã đọc một bức thư của một phụ nữ trong cuộc họp này, đó là bức thư một nữ cán bộ cách mạng ở Vĩnh Phúc bị chồng đối xử đánh đập tàn tệ mà không được chính quyền đoàn thể can thiệp, cán bộ đảng viên thì lẩn tránh. Bác xem đó là tội ác, là tàn dư còn lại tồi tệ nhất của chế độ cũ và yêu cầu cuộc họp ưu tiên giải quyết trường hợp này trước.

Những người phụ nữ Việt Nam thật sự xúc động và tri ân Người khi biết rằng, vào những năm tháng cuối cùng của đời mình, Người đã để lại cho chúng ta bản Di chúc quý giá, trong đó có những dòng viết riêng cho phụ nữ Việt Nam.

Sinh thời, bác Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại rằng: “Vào tháng 5-1968, Bác Hồ đọc lại bản Di chúc và thấy cần phải viết thêm mấy điểm về phụ nữ”. Thế rồi, trong bản Di chúc Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” (Di chúc). Chỉ thế thôi, nhưng đó vừa là tình cảm tràn đầy, vừa là huấn thị thiêng liêng của Bác.

Trong tác phẩm “Ðường Kách mệnh”, Bác cũng từng viết: “Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi: “ông Lê-nin nói: Ðảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công…”. Ôi, những dấu ấn đó của Người vẫn còn in mãi trong ta…

 Nguyễn Thị Thọ.

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, nhà tư tưởng lớn của thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống hoàn chỉnh những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đó là những quan điểm nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ con người và cũng trở lại về với con người. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và vì quần chúng, trong đó, phụ nữ là một lực lượng quan trọng. Người viết “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà, con gái tham gia” và “An Nam cách mạng cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”.

Trong một lần trả lời phỏng vấn Đài Phát thanh BBC (Anh), nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ tại Việt Nam. Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc, nhân loại và từ đó giải phóng chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai”.

Trong quá trình hoạt động của mình, Nguyễn Ái Quốc đã dành nhiều bài báo tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, đồng thời vạch rõ tình cảnh bị áp bức, bóc lột và đàn áp thậm tệ của nhân dân các nước thuộc địa, đặc biệt Người đã nhấn mạnh rằng ở các nước thuộc địa, phụ nữ chính là những người bị bóc lột tàn bạo và bị áp bức dã man nhất và chiếm số đông nhất. Trong bài “Những kẻ đi khai hóa” (Le Paria, ngày 1-7-1922) và bài “Phụ nữ Việt Nam và chế độ thực dân Pháp” (Le Paria, ngày 1-8-1922), Nguyễn Ái Quốc đã dựng lên một bức tranh cho người đọc thấy tình cảnh của phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp. Đó là hình ảnh về những người phụ nữ lao động nghèo khổ làm nghề gánh muối có thể bị giết chết, bị đánh đập dã man, hoặc chỉ vì một lý do rất nhỏ là làm mất giấc ngủ của một viên Nhà đoan hay dám bày tỏ bất công của mình với chủ. Đó là việc những người phụ nữ bất kể bà già, trẻ em, phụ nữ có thai hay đang cho con bú đều có thể bị hãm hiếp hoặc tra tấn một cách man rợ mà không một người có lương tri nào có thể hình dung nổi.

Nguyễn Ái Quốc cũng vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam, và đặc biệt đối với phụ nữ trong nhiều bài viết khác. Người đã không chỉ nêu lên cho người đọc thấy phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp bị áp bức rất dã man, mà còn vạch rõ sự bất công, không có công lý dưới chế độ thuộc địa. Do đó, phải giải phóng phụ nữ khỏi áp bức, bất công và công cuộc giải phóng đó phải gắn liền với công cuộc giải phóng dân tộc. Người chỉ ra rằng, nếu nước nhà được độc lập thì nhân dân mới được tự do, trong đó có cả phụ nữ: “…đàn bà, con gái cũng nằm trong nhân dân, nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do…”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở sự tố cáo tội ác của chế độ thực dân – phong kiến đối với người phụ nữ, mà còn động viên, tổ chức cho phụ nữ tham gia công cuộc giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” được tập hợp từ những bài giảng tại các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) giữa những năm 20 của thế kỷ XX, Người viết: “Ông C.Mác nói rằng: Ai biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội không có phụ nữ giúp vào thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ như thế nào”. Theo Người, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, phụ nữ không chỉ được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột mà phải được giải phóng khỏi những tàn dư của hủ tục, định kiến hẹp hòi của tư tưởng phong kiến; vươn lên đóng góp sức mình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ. Người luôn đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ. Người nói rằng: “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lê-nin dạy chúng ta: Phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ”. Người luôn yêu cầu Đảng, Chính phủ và các tổ chức đoàn thể tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia hoạt động và Người cũng nghiêm khắc nhắc nhở chị em phải cố gắng tự vươn lên trong lao động, học tập và công tác.

Trước lúc đi xa, trong bản “Di chúc”, Người biểu dương tinh thần chiến đấu, hy sinh và căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta phải quan tâm, chăm sóc phụ nữ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”.

Ngày nay, trong thời kỳ hiện đại, người phụ nữ đã có sự năng động hơn, được tham gia vào công việc xã hội nhiều hơn trước đây. Thực hiện bình đẳng giới đã tạo điều kiện khích lệ phụ nữ vươn lên trong mọi lĩnh vực. Phụ nữ ngày nay về cơ bản không còn bị ràng buộc bởi những định kiến, những quy ước lạc hậu, cổ hủ ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc. Tuy nhiên, ở nông thôn, phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi bởi đời sống còn khó khăn, nhận thức của gia đình cũng như thôn xóm còn hạn chế về quyền bình đẳng nam nữ. Vì vậy, phát huy vai trò tích cực các tổ chức Hội Phụ nữ ở nông thôn để chị em có điều kiện giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm là điều vô cùng cần thiết. Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm hơn nữa để phụ nữ được thực hiện một cách toàn diện về quyền bình đẳng của mình như lời căn dặn cuối cùng trong bản “Di chúc” của Bác Hồ kính yêu.

T.D

CMH Theo baoanhdatmui

sogddt.camau.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu nữ trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, tháng 9-1960

Phụ nữ chiếm một nửa dân số trên thế giới. Lịch sử đã chứng minh phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trước kia, phụ nữ ở nhiều quốc gia chủ yếu làm công việc nội trợ. Ngày nay, phụ nữ đã vươn lên về mọi mặt, đóng góp to lớn trên mọi lĩnh vực khoa học và xã hội. Từ năm 1910, thế giới tiến bộ lấy ngày 8-3 là “Ngày Đàn bà và con gái”, sau đổi là “Ngày Phụ nữ Quốc tế”.

Ở nước ta hiện nay, đội ngũ cán bộ nữ được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước. Phong trào phụ nữ đã có bước phát triển, các tầng lớp phụ nữ tỏ rõ có năng lực, phẩm chất, nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo trong học tập, lao động sản xuất và công tác, đạt những thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đội ngũ cán bộ nữ đã có bước trưởng thành rõ rệt. Số lượng và chất lượng cán bộ nữ phát triển không ngừng. Trong các cấp uỷ đảng và ở các vị trí lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở đều có cán bộ nữ tham gia.

Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều cấp uỷ đảng chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ quan điểm của Đảng về công tác cán bộ nữ, chưa thực sự coi cán bộ nữ là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ, chưa thấy hết tiềm năng, vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ nữ nên việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, chính sách đối với cán bộ nữ chưa đầy đủ, còn có biểu hiện định kiến, khắt khe, cầu toàn, chưa quan tâm đến yếu tố giới nên đội ngũ cán bộ nữ phát triển chưa vững chắc, mất cân đối, thiếu đồng bộ, phân bố không đồng đều ở các địa phương, các lĩnh vực. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp uỷ, chính quyền còn thấp, nhất là ở cơ sở.

Nghiêm trọng hơn, hiện nay, tình trạng buôn bán phụ nữ qua biên giới, nạn bạo hành trong gia đình mà nạn nhân là phụ nữ đang gây nhức nhối trong xã hội. Đó là biểu hiện của sự bất bình đẳng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới vị trí, vai trò của người phụ nữ, đặc biệt là trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), coi chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ nữ là một nhiệm vụ quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến một nửa số dân, đến từng gia đình trong cộng đồng xã hội.

Chính vì thế, những tư tưởng của Người về công tác phụ nữ trong xây dựng CNXH cần được quán triệt một cách sâu sắc và toàn diện, nhằm giúp cho mọi người có nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của phụ nữ. Qua đó, các cấp uỷ đảng đề ra nhiều biện pháp cụ thể hơn, tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy hết tiềm năng của mình. Đồng thời, đối với phụ nữ Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước, đây là một dịp tốt nhằm ôn lại và thực hiện những di huấn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cùng nhân dân cả nước hoàn thành các nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra.

Mấy nét chính trong tư tưởng của Người về công tác phụ nữ

Thấm nhuần truyền thống văn hoá dân tộc đồng thời tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh rất hiểu và đặc biệt quan tâm đến vai trò, vị thế của người phụ nữ trong phong trào cách mạng. Người không chỉ nêu lên tình cảnh khổ nhục của người phụ nữ dưới chế độ thực dân phong kiến mà còn chỉ ra khả năng cách mạng của họ.

Trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập), trong tổng số 1.941 bài nói và viết, đã có nhiều bài Người nhắc đến phụ nữ. Trong bài Phụ nữ Phương Đông, Người viết: “Phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ tham gia bảo vệ đất nước chống sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Phụ nữ Ấn Độ vùng lên chống sự đô hộ của Anh. Phụ nữ Trung Quốc tham gia cuộc cách mạng năm 1912. Phụ nữ Triều Tiên đã và đang đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc. Phụ nữ Nhật Bản đã buộc Chính phủ phải huỷ bỏ đạo luật cấm phụ nữ tham gia đời sống chính trị và v.v.

Trong đời sống kinh tế những “bông hồng” của phương Đông bắt đầu tỏ cho chủ nghĩa tư bản thấy ở họ có những chiếc gai nhọn. Những cuộc bãi công của nữ công nhân ở các nhà máy và xưởng dệt lụa không còn là hiện tượng hiếm nữa”.

Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người đã chỉ ra rằng cách mệnh Pháp dạy cho chúng ta, đàn bà và trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều.

Trong tác phẩm này, Người cũng dành một phần nói về “Phụ nữ quốc tế”. Trong đó, Người nói: “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà, con gái tham gia. Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sáclốt Coócđây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, như bà Luy Misen ra giúp tổ chức Pari Công xã. Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1854 người. Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà, con gái hết sức giùm vào. Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà, con gái công nông các nước”. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN,1995, t.2, tr.288).

Người nêu gương chiến đấu của bà Trưng Trắc và kêu gọi: như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết cách mệnh. Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!

Người nói với đại biểu phụ nữ các nước rằng: lúc kháng chiến, chị em phụ nữ hăng hái tham gia. Từ ngày dân Việt Nam tranh được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến sĩ, tăng gia sản xuất. Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ vàng, Đời sống mới, v.v, việc gì phụ nữ cũng hăng hái.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng phong phú của mình, Người luôn quan tâm tới các phong trào của phụ nữ. Dù bận trăm công ngàn việc khác nhau, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc vẫn dành thì giờ tham dự nói chuyện tại các hội nghị và đại hội của tổ chức phụ nữ, ít nhất Người cũng gửi thư căn dặn với tấm lòng của một người Cha, người Bác thân yêu trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Nhiều chị em là cán bộ lãnh đạo, là anh hùng, chiến sĩ thi đua trong lao động và chiến đấu, là dũng sĩ từ tiền tuyến lớn miền Nam… đã được Người ân cần đón tiếp, tặng hoa và quà, được ăn cơm hoặc xem văn nghệ cùng Người.

Hồ Chí Minh luôn khẳng định: lực lượng phụ nữ là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng, một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm mọi thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Người tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Người nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Đó cũng là lời khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ là rất to lớn trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

Cần có kế hoạch thiết thực trong việc giúp đỡ phụ nữ

Trong nhiều bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức phải tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia hoạt động.

Trong Thư gửi Hội nghị Nông dân cứu quốc toàn quốc lần thứ hai, Người kêu gọi Hội Nông dân cứu quốc phải thiết thực, tổ chức rộng rãi và chặt chẽ nhất là kết nạp thanh niên và phụ nữ nông thôn vào hội làm cho hội đông thêm, mạnh thêm và hăng hái thêm.

Khi nói chuyện tại Đại hội Giáo dục phổ thông toàn quốc, Người chỉ ra rằng sau này công tác giáo dục phần nhiều phải do phụ nữ đảm nhiệm. Muốn phụ nữ đảm nhiệm, thì phải bồi dưỡng cho phụ nữ.

Nói chuyện tại Đại hội Chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất, Người nhắc nhở: “đoàn thể phụ nữ, cơ quan phụ trách cần chú ý dìu dắt, giúp đỡ hơn nữa để nhiều chị em có thể thay cho nam giới trong công việc buôn bán”.

Nói chuyện tại Hội nghị Các đại biểu phụ nữ tham gia công tác chính quyền toàn miền Bắc, Người căn dặn: từ nay, các cấp đảng, chính quyền địa phương, khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ nhiều hơn nữa.

Người quan tâm đến những phụ nữ có con nhỏ và để tạo điều kiện cho họ lao động sản xuất, Người đã chỉ ra: muốn cho người mẹ sản xuất tốt thì cần tổ chức tốt những nơi gửi trẻ và những lớp mẫu giáo.

Người rất quan tâm đến phụ nữ các dân tộc thiểu số, Người nhắc nhở đảng uỷ các cấp ở miền núi cần phải ra sức phát triển đảng viên và đoàn viên phụ nữ, cần phải đào tạo và giúp đỡ cán bộ phụ nữ các dân tộc.

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo.

Như vậy, trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm, nhắc nhở Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức chính trị – xã hội phải tạo điều kiện để phụ nữ tham gia đóng góp sức nhằm xây dựng CNXH thành công ở nước ta.

Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm nhưng cũng có yêu cầu cao đối với phụ nữ. Người luôn khuyên bảo chị em phải tự cố gắng vươn lên để khẳng định mình chứ không phải chờ Đảng, Chính phủ đề ra các chủ trương, chính sách.

Người kêu gọi:

Chị em phụ nữ nông thôn THI ĐUA góp sức hoàn thành tốt cải cách ruộng đất và lập những tổ đổi công tốt.

Chị em công nhân và công chức THI ĐUA làm tròn nhiệm vụ của mình.

Chị em trí thức THI ĐUA góp phần vào việc phát triển văn hoá.

Nữ thanh niên tuỳ theo cương vị của mình, THI ĐUA học và hành, xung phong trong mọi công việc.

Người chỉ rõ cấp trên có cất nhắc cán bộ phụ nữ nhưng chưa mạnh dạn, tức là còn phần nào chưa coi trọng trí tuệ, tài năng của phụ nữ. Vậy phụ nữ phải làm sao cho người ta thấy phụ nữ giỏi, lúc đó cán bộ không cất nhắc, anh chị em công nhân sẽ cử mình lên.

Nói chuyện tại Hội nghị Cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình, Người nói: Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Quốc tế Phụ nữ, Người khen ngợi phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù. Trong kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc cứu nước. Nhưng phụ nữ ta cần phải cố gắng nhiều để theo kịp chị em các nước bạn, góp phần nhiều hơn nữa trong việc xây dựng CNXH.

Tại Hội nghị Phụ nữ lao động tiên tiến và chiến sĩ thi đua toàn thành phố Hà Nội lần thứ hai, Người chỉ rõ: “Hiện nay, trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít. Đảng và Chính phủ rất hoan nghênh, sẵn sàng cất nhắc và giao cho phụ nữ những chức trách quan trọng. Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải:

Gắng học tập chính trị, học tập văn hoá, kỹ thuật.

Nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ xã hội chủ nghĩa.

Hăng hái thi đua thực hiện “cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình.

Đoàn kết chặt chẽ, ra sức tham gia sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và giữ gìn hoà bình thế giới” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.89).

Nói chuyện tại Hội nghị Các đại biểu phụ nữ tham gia công tác chính quyền toàn miền Bắc, Người phê bình: “Phụ nữ ta còn một số nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình; mặt khác, phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái. Muốn giải quyết khó khăn không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn của phụ nữ trong công tác chính quyền”.

Người căn dặn: tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng CNXH. Muốn làm trọn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xoá bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hoá, kỹ thuật.

Trong Hội nghị Cán bộ phụ nữ miền núi, Người căn dặn chị em phải cố gắng học tập. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được.

Người luôn khuyến khích chị em tự mình cố gắng vươn lên khẳng định mình. Điều đó thể hiện sự quan tâm, thương yêu và đầy tinh thần trách nhiệm của một vị lãnh tụ luôn theo sát, cổ vũ các phong trào của phụ nữ.

Đấu tranh cho quyền bình đẳng nam nữ

Theo Hồ Chí Minh, công tác phụ nữ trong xây dựng CNXH, một trong những nội dung quan trọng là phải đấu tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ.

Người chỉ rõ: “Đảng và Chính phủ ta luôn luôn chú ý nâng cao địa vị của phụ nữ. Hiến pháp định rõ “nam nữ bình đẳng” và luật lấy vợ lấy chồng, v.v. đều nhằm mục đích ấy”.

Trong bài Phải thật sự tôn trọng quyền lợi của phụ nữ, Người viết: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng CNXH thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ. Hiến pháp và pháp luật của nước ta đã quy định rõ điều đó”.

Người nhắc nhở là phải kính trọng phụ nữ. “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lênin dạy chúng ta: phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ”.

Những lời dạy đó của Người thể hiện sự quan tâm sâu sắc, đồng thời cũng tỏ rõ rằng Người luôn đấu tranh để cho phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới.

Gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với sự nghiệp xây dựng CNXH.

Trong Hội nghị Cán bộ thảo luận dự thảo Luật hôn nhân và gia đình, Bác nói: “Bây giờ toàn dân ta ai cũng muốn xây dựng CNXH. Muốn xây dựng CNXH phải làm gì? Nhất định phải tăng gia sản xuất cho thật nhiều. Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động. Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ.

Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.

Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng CNXH chỉ một nửa”. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.523).

Trong xây dựng CNXH, phụ nữ phải được giải phóng khỏi những tàn dư của hủ tục, định kiến hẹp hòi của tư tưởng phong kiến; vươn lên đóng góp sức mình xây dựng CNXH.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ. Người luôn đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ, yêu cầu Đảng, Chính phủ và các tổ chức đoàn thể tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia hoạt động, nghiêm khắc nhắc nhở chị em phải cố gắng tự vươn lên trong học tập và công tác. Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực nhằm phát huy khả năng của phụ nữ trong công cuộc xây dựng đất nước.

Phụ nữ Việt Nam ta đã luôn làm theo lời dạy của Người, cố gắng học tập, công tác và đang dần khẳng định vị thế của mình trong xã hội. Trong 4 kỳ đại hội toàn quốc của Đảng gần đây đều có cán bộ nữ tham gia Bộ Chính trị hoặc Ban Bí thư. Nhiệm kỳ khoá X, số Uỷ viên Trung ương là nữ có 16/181 người, chiếm tỷ lệ 8,83%. Trong các cấp chính quyền, phụ nữ cũng đã có mặt ở tất cả các vị trí lãnh đạo, cương vị phó chủ tịch nước, phụ nữ vẫn duy trì trong cả hai khoá. Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội tăng từ 18,5% ở khoá IX lên 26,2% ở khoá X và 27,3% ở khoá XI. Đặc biệt, phụ nữ giữ cương vị chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội tăng nhanh từ 22,2% ở khoá IX lên 33,3% ở khoá X và đến khoá XI có tỷ lệ khá cao 40%. Tỷ lệ đảng viên nữ tăng đều theo từng năm. Năm 1994 chỉ có 16,4% đảng viên nữ. Năm 1999 có 19,3%; nếu năm 2002 là 21,7% thì năm 2005 tỷ lệ này là 25%. Điều đó nói lên vai trò của phụ nữ ngày càng quan trọng.

Người phụ nữ hiện đại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá rất cần sự quan tâm của gia đình và xã hội. So với nam giới, phụ nữ đã bị chi phối nhiều thời gian và công sức vào công việc gia đình. Thực hiện bình đẳng giới đã tạo điều kiện khích lệ phụ nữ vươn lên trong mọi lĩnh vực. Phụ nữ ngày nay về cơ bản không còn bị ràng buộc bởi những định kiến, những quy ước lạc hậu, cổ hủ ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc. Tuy nhiên, ở nông thôn, phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi bởi đời sống còn khó khăn, nhận thức của gia đình cũng như thôn xóm còn hạn chế về quyền bình đẳng nam nữ. Vì vậy, phát huy tính tích cực của tổ chức hội phụ nữ ở nông thôn để chị em có điều kiện giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm là điều vô cùng cần thiết.

Tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia trên mọi lĩnh vực của xã hội, đó là trách nhiệm của toàn xã hội. Phụ nữ chiếm một nửa dân số, phụ nữ là người nuôi dạy trực tiếp các thế hệ tương lai của đất nước. Nếu như người phụ nữ được học hành, được nâng cao kiến thức về mọi mặt sẽ tác động tích cực tới chất lượng thế hệ tương lai. Phụ nữ có thể hoàn thành nhiệm vụ tốt hay không, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào người chồng trong mỗi gia đình. Chỉ khi nào có sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ của gia đình thì người phụ nữ mới có điều kiện hoàn thành mọi công việc với hiệu quả cao nhất.

Nguyễn Thị Bích Thúy
Khoa Xây dựng Đảng Học viện Chính trị – Hành chính khu vực IV

xaydungdang.org.vn

Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược của Đảng ta

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong cuộc sống thường ngày, phụ nữ Việt Nam có vị trí và vai trò to lớn. Nhận rõ vị trí, vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm tới việc bồi dưỡng và phát triển khả năng to lớn của phụ nữ. Ngay từ năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Nguyễn ái Quốc đã khẳng định: “Muốn thế giới cách mệnh thành công thì phải vận động đàn bà” và “An nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành công”.

Sau cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng là phải giải phóng phụ nữ. Người nói “Phụ nữ là phần nửa của xã hội, nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người”(2).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phụ nữ cả nước có nhiều phong trào động viên chị em hăng hái tham gia sản xuất, chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh cho chiến trường đánh thắng… Điển hình là phong trào “5 tốt” của phụ nữ miền Nam, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ miền Bắc. Ở miền Nam, nơi trực tiếp đương đầu với Mĩ – Nguỵ, nhiều chị em đã tích cực tham gia lực lượng vũ trang. Đến cuối năm 1961, toàn miền Nam có 28.000 nữ du kích. Trong lực lượng dân quân du kích ở miền Nam, có thời điểm nữ du kích chiếm 2/3 quân số. Ở mọi hình thức đấu tranh, chị em đều chiếm tỷ lệ cao. Chị em còn phát huy “sở trường” trong công tác binh vận; đấu tranh theo phương pháp hoà bình của “đội quân tóc dài”; trong công tác bảo vệ cơ sở, bảo vệ Đảng nhằm giữ gìn lực lượng, đưa phong trào cách mạng vượt qua những năm khó khăn ác liệt.

Trong khi đó, chị em phụ nữ miền Bắc, ngoài số trực tiếp tham gia quân đội và lực lượng vũ trang nói chung, đông đảo chị em tham gia phong trào “Ba đảm đang” nổi tiếng: đảm đang sản xuất và công tác, thực hành tiết kiệm, thay thế nam giới đi chiến đấu; đảm đang việc gia đình, khuyến khích chồng con, anh em ra chiến trường; đảm đang phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.

Tính đến cuối tháng 5/1965, đã có 1.700.000 phụ nữ ghi tên phấn đấu đạt danh hiệu phụ nữ “Ba đảm đang”. Đây thực sự là một phong trào to lớn, có ý nghĩa sâu sắc, thu hút đông đảo chị em đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Có thể nói, chưa có khi nào trong lịch sử dân tộc, phụ nữ nước ta lại thể hiện rõ vai trò, sức mạnh của mình như trong thời đại Hồ Chí Minh, làm rạng rỡ thêm truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” của phụ nữ Việt Nam.

Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, phụ nữ tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lao động sản xuất, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh. Tới giữa năm 1984, từ phong trào cách mạng của quần chúng, phụ nữ một đội ngũ cán bộ nữ đông đảo đã phát huy vai trò tích cực trên mọi lĩnh vực hoạt động. Đáng chú ý là lực lượng nữ cán bộ khoa học kỹ thuật tăng nhanh, chiếm tỷ lệ khá cao: 50% trong số cán bộ có trình độ trung cấp; 30% trong số cán bộ có trình độ đại học.

Song trên thực tế, ở không ít ngành, địa phương và ở cộng đồng, nhận thức về vị trí, vai trò của nữ giới vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tạo điều kiện cần và đủ để chị em được phát triển toàn diện. Vì vậy, ngày 7-6-1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Chỉ thị số 44-CT/TW “Về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ”. Cùng với việc đánh giá những thành tựu của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước; những việc đã làm được của các cấp, các ngành trong bồi dưỡng, phát huy khả năng của phụ nữ, Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng chỉ ra những hiện tượng đáng quan tâm như: tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý và lãnh đạo giảm sút, nhất là trong các cơ quan quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước; cán bộ nữ hiện đang giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở cấp tỉnh, thành và Trung ương phần nhiều lớn tuổi, nhưng diện cán bộ kế cận rất ít; tỷ lệ đảng viên nữ ở nhiều nơi cũng giảm. Nhiều xã ở một số tỉnh miền Nam, ở miền núi chưa có đảng viên nữ…

Trong phương hướng tăng cường cán bộ nữ, Chỉ thị nêu rõ: Vấn đề cán bộ nữ phải được đặt trong việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ nói chung của Đảng và Nhà nước ta. Phải tuyển chọn cán bộ nữ từ những người ưu tú trong công nhân, nông dân, trí thức xã hội chủ nghĩa, nhất là trong công nhân đã trải qua rèn luyện trong thực tế phong trào cách mạng của quần chúng. Phải quyết tâm và có kế hoạch cụ thể đào tạo, bồi dưỡng để chị em có đủ năng lực, phẩm chất trên cơ sở đề bạt một cách vững chắc…

Quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, theo dõi công tác bồi dưỡng, phát triển giới nữ để có định hướng và những chính sách, bước đi phù hợp. Ngày 12-7-1993, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 04-NQ/TW “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Nghị quyết khẳng định: “Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò và vị trí quan trọng. Giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển đất nước. Bồi dưỡng lực lượng phụ nữ, phát huy sức mạnh và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ nữ là nhiệm vụ thường xuyên, rất quan trọng của Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng”. “Trong những năm qua, các tầng lớp phụ nữ nước ta phát huy truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, đã đoàn kết, đổi mới, sáng tạo trong lao động, công tác, đạt nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội…”

Nghị quyết cũng chỉ rõ: “Trong khó khăn của đất nước, phụ nữ đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Một bộ phận đáng kể phụ nữ không có hoặc không đủ việc làm, thu nhập thấp. Nhiều chị em còn phải làm việc trong các điều kiện nặng nhọc, độc hại. Sức khoẻ phụ nữ nói chung giảm sút… Phụ nữ còn bị phân biệt đối xử dưới nhiều hình thức… Là nạn nhân của nhiều tệ nạn xã hội đang có chiều hướng phát triển như: mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, mê tín dị đoan… Những khó khăn trên đang ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phụ nữ, của thế hệ tương lai.”

Nghị quyết 04-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng đề ra 3 quan điểm và 6 công tác lớn nhằm tăng cường việc chăm lo, bồi dưỡng, vận động và phát triển phụ nữ trong tình hình mới.
Ngày 29-9-1993, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 28-CT/TW về thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị: “Đổi mới, tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Bản chỉ thị yêu cầu các cấp uỷ Đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng uỷ các khối Trung ương cần nắm vững những nhiệm vụ sau:

1. Làm cho toàn Đảng, toàn dân thấy rõ vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam, sự cần thiết đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ; quán triệt 3 quan điểm và 6 công tác lớn, quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị.

2. Thể chế hoá, cụ thể hoá Nghị quyết bằng các chủ trương, chính sách, pháp luật, chương trình của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; tổ chức thực hiện có kết quả thiết thực.

3. Chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể thực hiện từng việc phù hợp với điều kiện thực tế ở từng đơn vị, địa phương; có kiểm tra, đôn đốc, sơ kết và tổng kết.

Không đầy một năm sau, Ban Bí thư Trung ương Đảng lại có Chỉ thị số 37-CT/TW (ngày 16-5-1994) “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”, đặt ra việc: Tiếp tục nâng cao nhận thức, quan điểm của Đảng về vấn đề cán bộ nữ ; có quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ; nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp, các ngành; xây dựng chính sách, tạo điều kiện cho cán bộ nữ làm việc và khuyến khích tài năng nữ phát triển; đẩy mạnh công tác phát triển đảng trong phụ nữ.

Trong các văn kiện đại hội toàn quốc của Đảng, Đảng ta cũng nhiều lần đặt vấn đề phải thường xuyên quan tâm, bồi dưỡng và phát triển lực lượng phụ nữ trong các giai đoạn cách mạng. Và trên thực tế trong sự nghiệp đổi mới đất nước những năm vừa qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng phụ nữ Việt Nam đã không ngừng vươn lên trên các lĩnh vực lao động, sản xuất, đặc biệt là việc nâng cao dân trí, chiếm lĩnh đỉnh cao của khoa học-công nghệ. Theo số liệu mới được thống kê gần đây (báo Quốc tế, ra thứ năm hàng tuần từ 3/3/2005 – 9/3/2005), phụ nữ Việt Nam chiếm tỷ lệ : 61% những người có trình độ cao đẳng; 34% những người có trình độ tiến sĩ; 4% những người là tiến sĩ khoa học; 40% tham gia hoạt động khoa học-công nghệ; 6,3% là cán bộ của các cơ sở nghiên cứu; 10% là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước.

Như vậy, có thể thấy công tác bồi dưỡng, phát triển, vận động phụ nữ đã trở thành hệ thống có tính lý luận và thực tiễn, là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược của Đảng ta trong mọi thời kỳ cách mạng. Quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nói chung, Đảng ta luôn quan tâm tới sự phát triển của phụ nữ, không chỉ vì phụ nữ là một nửa của xã hội, mà còn là vì phụ nữ nước ta thực sự có vị trí và vai trò to lớn trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc. Đó là điều đã được Đảng ta khẳng định. Nhưng không phải lúc nào, giai đoạn nào cũng được các cấp uỷ, chính quyền điạ phương, đơn vị nhận thức một cách đầy đủ và thực hiện hiệu quả.

Để thực hiện tốt chiến lược phát triển “Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam”- như Đại hội Đảng lần thư VIII đề ra – theo chúng tôi, nhiệm vụ này cần được đặt trong chương trình công tác thường kỳ của cấp uỷ, chính quyền các cấp, các ngành, đơn vị với những chính sách, quy định cụ thể để công tác bồi dưỡng, phát triển, vận động phụ nữ thường xuyên đi vào cuộc sống. Và trong thời gian tới, cần:

– Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về giới để mọi người nhận thức ngày càng đúng đắn, sâu sắc về vị trí, vai trò, khả năng to lớn của người phu nữ trong xã hội, đi tới loại bỏ về căn bản những định kiến về giới, nhất là tư tưởng coi thường phụ nữ vẫn còn tồn tại ở các giai tầng xã hội. Đây là công việc phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, vì những nhận thức xưa cũ đã tồn tại lâu đời, không phải chỉ trong một thời gian chúng ta có thể dễ dàng thay đổi được.

– Vấn đề bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ phải được thể chế bằng những chính sách, việc làm cụ thể. Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ là sự bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì vậy phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội, để họ có điều kiện phát huy tài năng, trí tuệ và sức lực của mình cho sự phát triển xã hội.

– Có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao dân trí, trình độ chính trị, chuyên môn cho phụ nữ nói chung, nhất là đối với phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa, dân tộc ít người, điều kiện mọi mặt còn nhiều khó khăn; quan tâm tới lực lượng cán bộ nữ trẻ có năng lực, đạo đức và khả năng quản lý để đào tạo họ trở thành cán bộ lãnh đạo ở các cấp; có nhiều loại hình lớp bồi dưỡng, tập huấn giúp phụ nữ ngày càng hiểu rõ hơn đường lối, quan điểm của Đảng vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam để họ tự tin, không ỷ lại, trông chờ, vươn lên trong cuộc sống.

– Quan tâm tới bồi dưỡng, phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ là trách nhiệm của toàn Đảng, cấp uỷ, chính quyền các cấp, nhưng trước hết và trực tiếp là Hội liên hiệp phụ nữ các cấp. Hội vừa là cơ quan tham mưu của Đảng, chính quyền về công tác phụ nữ, vừa là đại diện, cầu nối giữa quần chúng phụ nữ với Đảng, vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện việc bồi dưỡng, giáo dục và tổ chức các phong trào cách mạng do phụ nữ thực hiện. Vì vậy Hội liên hiệp phụ nữ các cấp giữ một vai trò rất quan trọng trong thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, “vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam”./.

Lê Ngọc Toàn
Tạp chí Tư tưởng – văn hoá

cpv.org.vn

Phụ nữ miền Nam và “đồng bạc Cụ Hồ”

Những "đồng bạc Cụ Hồ" được đồng bào Nam Bộ gìn giữ trong suốt những năm đất nước bị chia cắt. Ảnh: Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ.

Sinh thời, với niềm thương nhớ khôn nguôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam ruột thịt. Người nói: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”… Bác Hồ cũng luôn mong muốn được vào thăm nhân dân miền Nam và đã nhiều lần đề nghị Bộ Chính trị ý nguyện thiêng liêng đó.

Nhưng rồi, vì điều kiện sức khỏe, ý nguyện ấy của Người không được thực hiện. Trước lúc đi xa, Người nắm chặt tay đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Trung ương Cục miền Nam ra công tác ở miền Bắc như muốn nói rằng “Miền Nam mãi mãi ở trong trái tim tôi”. Cũng với tấm lòng như vậy, tình cảm nhân dân miền Nam dành cho Bác thật hết sức thiêng liêng. Chỉ riêng “đồng bạc Cụ Hồ” mà thấm đẫm nghĩa nhân, được cất giữ, bao bọc giữa triệu triệu tấm lòng…

Chuyện đổi tiền “đặc biệt”

Trong quá trình đi tìm tư liệu thực hiện công trình “Phụ nữ Long An – Truyền thống và lịch sử”, tôi vô cùng ngạc nhiên, thú vị khi được gặp những nhân chứng vô cùng sống động. Một trong những nhân chứng kể lại nhiều câu chuyện gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi là bà Ðặng Thị Diềm, nguyên Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Long An, hiện đang sống ở thị xã Tân An.

Bà Diềm kể: Năm 1943, khi bị Nhật “chia sẻ” quyền kiểm soát Ðông Dương, để đáp ứng nhu cầu vật chất cho quân Nhật, Pháp cho in giấy bạc JDEO 100 đồng mà bà con quen gọi là “giấy xăng đỏ” để nuôi quân Nhật. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tiền này tập trung vào nội cứ Long An nhiều nhất, vì lúc đó ta chưa in giấy bạc Cụ Hồ, nên phải tạm xài tiền ấy. Quân khu Ðông Thành (Quân khu 7) cắt tiền “giấy xăng đỏ” ra làm hai, đóng dấu Quân khu Ðông Thành cho nhân dân lưu hành trong chiến khu, xem như tiền độc lập của Việt Minh, còn ở nội thành, Pháp in bạc khác, không thừa nhận “giấy xăng đỏ” ấy.

Ðến khi đồng bạc Cụ Hồ ra đời, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ không thừa nhận, không chịu đổi tiền ấy bằng tiền Cụ Hồ. Dân quân Ðông Thành chết đứng, chết ngồi. Lúc ấy tôi trong Ban Chấp hành Phụ nữ tỉnh Tân An. Chị em phụ nữ quân khu Ðông Thành xuống bàn với chúng tôi, nhờ can thiệp với ngân khố tỉnh và ngân khố Nam Bộ cho đổi bạc “giấy xăng đỏ” ra tiền Cụ Hồ, vì đó là mồ hôi nước mắt của bà con.

Chúng tôi chạy qua Tỉnh ủy bàn. Tỉnh ủy không dám cho đổi vì phải đợi sự thương lượng với Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ. Chúng tôi bèn đi tìm anh Hà Huy Giáp, lúc ấy là Chủ nhiệm Kỳ bộ Việt Minh, cũng không quên gặp anh Bảy Chiếm (Cao Ðăng Chiếm) ở Sở Công an Nam Bộ, lại nhờ anh Ung Văn Khiêm, Ủy viên Nội vụ Nam Bộ. Chúng tôi cắt nghĩa cho ba anh nghe là: Pháp đã giựt của dân. Trước sự bức xúc lưu thông tiền tệ, quân khu 7 đã đóng dấu lên bạc JDEO, thừa nhận đồng “giấy xăng đỏ” như đồng bạc Cụ Hồ, nay Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ không thừa nhận đồng tiền này thì ta thất tín với dân và dân sẽ nói: “Việt Minh cũng như Pháp thôi, cũng hại dân chớ không giúp dân” thì ta nghĩ sao về mặt uy thế chính trị. Chúng tôi khẩn khoản yêu cầu Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ giải quyết thỏa đáng cho dân và báo cáo rõ về Trung ương. Ba anh suy nghĩ lâu lắm, cùng chúng tôi kéo qua Sở Tài chính Nam Bộ. Trước vấn đề trọng đại này, ông Kha Vạn Cân lúc ấy đang nắm giữ Sở Tài chính Nam Bộ cũng không dám tự quyết định, mà phải điện hỏi ý kiến của Xứ ủy Nam Bộ

Chúng tôi cùng chờ ý kiến Xứ ủy. Tới chiều, Xứ ủy liên hệ với Quân khu 7 và Tân An quyết định cho Tân An xuất ngân khố, đổi liền số bạc mà Quân khu Ðông Thành đã đóng dấu lên tờ giấy JDEO cắt làm hai là 50 đồng, còn bạc nguyên, bạc mới không đổi vì sợ giặc lợi dụng sơ hở của ta, luồn tiền vào phá hoại ngân khố cách mạng. Các cơ quan của Tân An hợp tác với Sở Công an Nam Bộ kiểm tra, lập biên bản kiểm kê toàn bộ “giấy xăng đỏ” ở Quân khu Ðông Thành, ở Ðồng Tháp Mười. Trên cơ sở đó, Sở Tài chính Nam Bộ cùng kho bạc Tân An mới xuất tiền xuống tận xóm ấp để đổi cho dân. Qua việc đó, nhân dân rất vui mừng, phấn khởi, càng có thêm niềm tin vào Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ.

Giữ lấy giá trị “đồng bạc Cụ Hồ”

Ði đôi với biện pháp vơ vét của cải nhân dân, quân Pháp tăng cường phá hoại kinh tế kháng chiến bằng các thủ đoạn như độc quyền thương mại, hạ giá đồng bạc Ðông Dương, phá hoại và cướp lương thực của nhân dân. Vào năm 1952-1953, địch dùng thủ đoạn tung bạc giả – loại giấy 100 đồng có hình Chủ tịch Hồ Chí Minh, thường được gọi là “đồng bạc Cụ Hồ” vào vùng giải phóng, hoặc phát không cho số người hay ra vào giữa vùng giải phóng và vùng địch, chủ yếu là thương nhân Hoa kiều; thậm chí dùng máy bay rải trong vùng giải phóng của ta, làm đồng bạc của ta mất giá. Trong vai trò sĩ quan phiên dịch của phòng Nhì, cơ quan tình báo của Pháp, chi nhánh Long Xuyên, điệp viên Trần Hiến kể: “Một Hoa kiều bị bắt đưa vào Long Xuyên, đi trên chiếc xe lôi, chở ba bao tải đầy bạc Cụ Hồ giả. Qua hỏi cung, tôi được biết số bạc đó do một thiếu tá Pháp bán, hắn mua lại tại Chợ Lớn chở về nhà số 36 đường Phan Thanh Giản – Long Xuyên để chờ đưa vào vùng kháng chiến… Sau tra hỏi, thấy không khai thác được gì thêm, người Hoa kiều ấy được tha về”. Tên trưởng chi nhánh phòng Nhì ở Long Xuyên tha hắn về vì đó là “chiến hữu”, tay chân của quân Pháp phá hoại nền kinh tế kháng chiến nhưng Ban hành động Cần Thơ đã trừng trị hắn vì tội trạng “phá hoại nền kinh tế”, quyết giữ đúng giá trị “đồng bạc Cụ Hồ” mà nhân dân rất tín nhiệm, tự hào và trân trọng.

Bằng mọi cách cất giữ những đồng tiền in hình Bác

Biết bao nhiêu người mẹ, người chị miền Nam đã đương đầu với nguy hiểm để giữ lấy những gì liên quan đến Bác. Khi Bác Hồ mất, nhiều đền thờ tưởng niệm Bác đã được dựng lên ngay giữa vùng địch chiếm đóng. Trong nội thành, phụ nữ Sài Gòn tổ chức đám giỗ nghi trang để truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Huyện, Giám đốc Viện Dục Anh đã mặc hai chiếc áo dài đen và trắng liên tục trong ba năm để tang Bác Hồ. Trong nhà tù Chí Hòa, nữ tù chính trị đã để tang Bác Hồ trong một tuần lễ, sau đó bị đàn áp khốc liệt, bị đày đi Côn Ðảo…

Bà Phan Thị Mai (Việt Nữ), nguyên Bí thư Ðảng ủy Sở Y tế Nam Bộ đã kể câu chuyện cảm động về một bà mẹ khi bị giam chung với bà trong tù.

Chuyện kể rằng: “Có một bà lúc trước ở vùng giải phóng, bán quán nhỏ bên đường. Khi ta tập kết, bà còn lại một số tiền Cụ Hồ. Có ai mách với giặc, một buổi sáng bà đi chợ, lính ở bót kéo đến phá cửa vào chòi của bà lục lấy số bạc Cụ Hồ mà bà đã trân trọng cất giữ từ lâu. Khi bà về, mọi người đến cho bà hay sự việc và hối bà đi trốn. Bà bỏ đi. Ai cũng tưởng bà đi trốn nên yên tâm, nào ngờ bà đến bót lấy số tiền đó. Ðịch bắt bà bỏ tù. Trong tù, chị em hỏi: “Sao bà không trốn đi, đến bót làm chi cho nó bắt?”. Bà nói: “Bỏ tù thây kệ nó chớ. Thứ đồ ăn cướp, giữa ban ngày đến lấy tiền của người ta”. Ai cũng cười mà rưng rưng nước mắt, vì thấy người dân trong vùng địch trân trọng giữ gìn hình ảnh Bác Hồ, mặc dù biết phải nguy hiểm”.

Những “đồng bạc Cụ Hồ” tuy chỉ được lưu hành mấy năm trong vùng kháng chiến nhưng đó là đồng tiền được lưu giữ trong lòng nhân dân lâu bền nhất. Với tấm lòng kính yêu hướng về Bác, nhiều người mẹ, người chị đã hy sinh, chấp nhận tù đày, bằng mọi cách cất giữ những đồng tiền in hình Bác giữa vùng địch chiếm đóng. Cho đến nay, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ đã có bộ sưu tập hàng trăm “đồng bạc Cụ Hồ” được tìm thấy từ khắp các tỉnh thành./.

Theo Trầm Hương
Nhân dân cuối tuần
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch và sự bình đẳng của phái nữ

“Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội”. (Hồ Chí Minh)

Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập đã đánh dấu một bước chuyển biến cơ bản trong đời sống của người phụ nữ. Từ nay chị em thực sự trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh mình cùng nam giới chung lo bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Như vậy, họ đã bình đẳng với nam giới trên cả hai mặt: Nghĩa vụ và quyền lợi.

Cuộc đấu tranh thực hiện quyền bình đẳng nam nữ

Tháng 10-1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa chính thức được ban hành, quyền bình đẳng giữa nam và nữ được công nhận. Hồ Chủ tịch nói: “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”.

Khi quyền nam nữ bình đẳng được công bố và thừa nhận, có người lầm tưởng rằng việc giải phóng phụ nữ như vậy đã được giải quyết, do đó thi hành luật pháp có thể là dễ dàng, thuận lợi. Hồ Chủ tịch đã sáng suốt chỉ ra rằng, con đường đấu tranh để thực hiện quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ khó khăn và lâu dài.

“Nhiều người lầm tưởng đó là việc dễ chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát, thế là bình đẳng, bình quyền. Lầm to!

Đó là một cuộc cách mạng to và khó”.

Vì vấn đề giải phóng phụ nữ là một vấn đề xã hội to lớn đòi hỏi về mặt quan tâm của tất cả mọi người. Đây không chỉ là giải quyết những mâu thuẫn tranh chấp giữa hai giới nam và nữ, càng không phải là việc riêng của phụ nữ.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn giải phóng người phụ nữ không chỉ thực hiện một sự phân công mới, bình đẳng giữa vợ và chồng trong những công việc gia đình, mà cái căn bản là phải có sự phân công, sắp xếp lại lao động của toàn xã hội,đưa phụ nữ tham gia vào nhiều ngành nghề như nam giới. Cần tổ chức lại đời sống công nông cũng như sinh hoạt gia đình để phụ nữ giảm nhẹ công việc bếp núc, chăm lo con cái, có điều kiện tham gia sản xuất, học tập nâng cao trình độ mọi mặt. Từ đó, chị em mới có đủ khả năng làm nhiều công việc chuyên môn và đảm nhiệm được những chức vụ công tác ngang hàng với nam giới. Đó là một cuộc cách mạng thực sự lớn.

“Vì không thể dùng vũ lực mà tranh đấu…vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân. Dù to và khó phải nhất định thành công”.

Trước đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ đã cùng toàn dân đứng lên lật đổ chính quyềt đế quốc và phong kiến tay sai, giành lại độc lập, tự do và thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân. Chính quyền mới do nhân dân lập ra, bảo đảm quyền tự do, dân chủ cho người lao động và bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ. Vì vậy, ngày nay chị em hết sức ủng hộ chính quyền cách mạng là lẽ tất nhiên.

Những muốn biến quyền bình đẳng giữa nam nữ, từ một luật lệ trở thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, biến ý thức tôn trọng phụ nữ thành nếp sống đạo đức của mọi người thì đòi hỏi sự nỗ lực hết sức to lớn của toàn dân, của tất cả phụ nữ để xây dựng một xã hội mới, một kiểu người mới xã hội chủ nghĩa. Hồ Chủ tịch nêu rõ: Muốn thực hiện tốt quyền bình đẳng của phụ nữ phải có sự tiến bộ về kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật của nước ta. Phụ nữ phải hi sinh xương máu, lao động gian khổ, góp phần đẩy mạnh sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp, giáo dục và y tế, xây dựng một đất nước giàu mạnh, phồn vinh, một nền văn hóa, khoa học tiên tiến.

Đấu tranh giải phóng phụ nữ cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng lâu dài, khó khăn để xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ còn tồn tại dai dẳng trong nhân dân ta.

“Vì trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại, vì nó ăn sâu trong đầu óc mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”

Chính từ những nhận định sáng suốt trên, khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa mới được thành lập, Hồ chủ tịch đã kêu gọi phụ nữ hăng hái cùng toàn dân tham gia ba phong trào cách mạng lớn là: Diệt giặc dốt, giặc đói và giặc xâm lăng.

Để khắc phục hậu quả ghê gớm do thực dân Pháp và phát xít Nhật để lại, Hồ Chủ tịch phát động phong trào toàn dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Người đã nhắc nhở tất cả mọi người, trong đó lực lượng chính là phụ nữ thi đua sản xuất “tấc đất, tấc vàng” thực hành tiết kiệm để đảm bảo lương thực cho gia đình và đóng góp nuôi quân.

Suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, phụ nữ Việt Nam đặc biệt là phụ nữ công nông, đã nhiệt liệt hưởng ứng lời Bác Hồ dạy. Đảm đang việc sản xuất, chăm lo việc gia đình để chồng con đi chiến đấu. Chị em hàng ngày còn chú ý tiết kiệm lương thực, lập ra những hũ gạo nuôi quân để tiếp tế cho bộ đội. Phụ nữ ra sức thâm canh, tăng năng suất, tăng sản lượng để làm nghĩa vụ bán thóc cho Nhà nước. Những hạt thóc vàng do mồ hôi công sức phụ nữ làm ra, đóng góp cho Tổ quốc để góp phần tạo nên chiến thắng thực dân Pháp và củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân.

Về nhiệm vụ diệt giặc dốt, nhằm xóa bỏ tình trạng dốt nát của nhân dân ta do chính sách ngu dân của thực dân Pháp để lại, Hồ Chủ tịch rất quan tâm đến phụ nữ, Người đã khuyến khích chị em chịu khó học tập để có khả năng làm chủ đất nước đảm nhiệm những công việc như nam giới. Trong Lời kêu gọi chống nạn thất học tháng 10-1945, Người đã nói: “Mọi người Việt Nam phải hiểu hết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm. Đây là lúc các chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu và ứng cử”.

Người rất vui mừng khi thấy phong trào Bình dân học vụ, phụ nữ đã tham gia tích cực làm người dạy học cũng như làm học trò. Người đặc biệt khen ngợi các cụ bà ham học đã làm gương, khuyến khích cho thanh niên noi theo: “Nhiều cụ, tuy tuổi tác đã cao, vẫn cố gắng học chữ, học làm tính. Thật là đáng kính, đáng quý”.

Hồ Chủ tịch đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Pháp, người động viên chị em phát huy truyền thống chiến đấu dũng cảm của Bà trưng, Bà Triệu, Người tỏ lòng kính trọng các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, luôn luôn gởi lời thăm hỏi các bà mẹ bộ đội, các gia đình liệt sĩ.

Trong bức thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ 8-3-1952, Hồ Chủ tịch đã viết:

“Nhân dịp 8-3 tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sỹ đã hi sinh cho Tổ quốc. Tôi kính chúc các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ. Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng”.

Người rất xúc động trước tinh thần yêu thương chiến sĩ của các bà, các cụ trong các Hội chiến sĩ ở các địa phương. Người tỏ lòng biết ơn và nhắc nhở các chiến sĩ phải hiếu với mẹ nuôi bằng cách giết giặc lập công.

Trong thư gửi các Hội mẹ chiến sĩ, Người viết: “Các chiến sĩ thì sẵn sàng hy sinh gia đình, hy sinh tính mệnh đi giết giặc cứu nước, bảo vệ đồng bào. Các cụ, các bà thì thương yêu săn sóc chiến sĩ như con cháu ruột thịt. Thế là các cụ, các bà cũng trực tiếp tham gia kháng chiến… Chẳng những các chiến sĩ mà tôi và Chính phủ cũng biết cảm ơn các cụ, các bà”.

Người động viên, ca ngợi tinh thần dũng cảm chiến đấu không quản nguy hiểm khó khăn của các nữ du kích, cũng như thành tích của hàng vạn phụ nữ Kinh, Tày, Nùng, Mán, Mèo, tạm gác việc nhà xung phong đi dân công, xông pha lửa đạn để giúp đỡ bộ đội trong mọi việc. Người nhắc đến câu chuyện nhỏ, nhưng có ý nghĩa rất to lớn: “Bà cụ Nam (Cao Bằng), 83 tuổi xung phong sửa đường. Cán bộ khuyên bà cụ nghỉ thì bà cụ nói: “Càng già càng phải giúp kháng chiến, sửa đường cho bộ đội đi cho mau, giết cho nhiều giặc, thắng cho nhiều trận”.

Sự hoạt động hăng hái của các tầng lớp phụ nữ khắp toàn quốc trên các mặt trận sản xuất, chiến đấu, văn hóa xã hội trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp đã xứng đáng với lời ca ngợi của Hồ Chủ tịch:

Non sông gấm vóc Việt Nam, do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Quá trình phụ nữ nước ta tham gia tích cực vào ba phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, giặc xâm lăng cũng là quá trình chị em đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ bản thân mình, phụ nữ ngày càng khẳng định rõ vai trò, khả năng của mình.

Cùng với sự phát triển của công cuộc kháng chiến và kiến quốc, quyền bình đẳng của phụ nữ trên nhiều mặt được dần dần thực hiện. Trong cải cách ruộng đất, phụ nữ nông dân đã được chia ruộng đất như nam giới; trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, phụ nữ làm việc ngày càng đông và được hưởng quyền lợi ngang hàng nam giới; trong các ngành y tế, văn hóa, giáo dục, khoa học phụ nữ được học tập, đào tạo bồi dưỡng rộng rãi, không có sự hạn chế nào ngăn cản việc phát triển tài năng của chị em. Nhưng cũng phải thấy rằng phụ nữ còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền bình đẳng của chị em do trình độ phát triển chung của cách mạng Việt Nam.

Theo www.haugiang.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn