Nhớ một thời đạn bom – thêm một lần cảm tạ

QĐND – Tri ân những người từng giúp đỡ mình đã trở thành lẽ sống, cũng là nét văn hóa đặc trưng của người Việt cả ngàn đời nay. Vẫn biết rằng, tri ân bao nhiêu cũng không đủ dù người giúp không đòi hỏi, nhưng người Việt vẫn, đã và đang tiếp tục làm. Trong số những bạn bè quốc tế mà chúng ta luôn biết ơn, có hàng nghìn cựu chuyên gia và cố vấn quân sự – những người con ưu tú của các dân tộc và quân đội Xô-viết đã từng được cử sang “chia lửa” với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, góp phần quan trọng làm nên chiến thắng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, nhất là trong Chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ Hà Nội cách đây đúng 40 năm.

Thượng tướng A. Khiu-pê-nen kể chuyện Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Được tới Mát-xcơ-va tham dự các hoạt động kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, 68 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam và 23 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, do Đại sứ quán Việt Nam và Hội người Việt Nam tại LB Nga tổ chức, lại một lần nữa tôi được “mắt thấy tai nghe” và cảm nhận những tình cảm ấm áp mà người Việt dành cho các cựu chuyên gia Xô-viết nói riêng và dân tộc Nga nói chung. Cũng lại thêm một lần tôi được chứng kiến sự chân tình và trong sáng mà các cựu chuyên gia, cố vấn quân sự Xô-viết dành cho Quân đội ta, dân tộc ta.

Trong giá rét bất thường của mùa đông nước Nga, hơn 100 cựu chuyên gia, cố vấn quân sự Nga đã từng công tác tại Việt Nam, nay tuổi đã cao, sức đã yếu, có người đi một mình, có người được người thân tháp tùng, cũng lại có người phải chống nạng… nhưng tất cả họ đều háo hức đến dự cuộc gặp mặt – vốn đã trở thành truyền thống, để chào mừng 40 năm chiến thắng của nhân dân Việt Nam, chào mừng QĐND Việt Nam. Sự đón tiếp chu đáo và nồng hậu của Đại sứ Phạm Xuân Sơn, đội ngũ cán bộ, nhân viên sứ quán và Tùy viên Quốc phòng Vũ Văn Xim cùng các sĩ quan, học viên quân sự Việt Nam đang công tác, học tập tại Nga cũng như cộng đồng người Việt tại Nga dường như đã khiến cho cái lạnh của mùa đông xứ Bạch Dương “vơi” đi rất nhiều . Và, qua những lời phát biểu, những câu chuyện dành cho nhau và dành cho thế hệ hôm nay, ký ức về cuộc chiến đấu và chiến thắng của nhân dân ta, quân đội ta với sự trợ giúp chân tình của đội ngũ chuyên gia-cố vấn quân sự Xô-viết trước đây, cứ dần hiện về, như những nét vẽ tuyệt đẹp, tô thắm hơn bức tranh tình cảm Việt-Nga, Nga-Việt.

Các cựu chuyên gia – cố vấn quân sự họp mặt tại Mát-xcơ-va kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Tôi bỗng có cảm giác nghẹn ngào và chợt nhận ra khái niệm khoảng cách bỗng trở thành vô nghĩa khi chứng kiến họ, những chuyên gia – cố vấn quân sự Nga, dân tộc Nga và rộng hơn là những người Xô-viết vui mừng gặp lại nhau, gặp lại những người anh em Việt. Tình cảm ấy đã làm tôi nhớ tới bầu không khí ấm áp của những cuộc gặp hằng năm vào các ngày lễ của Việt Nam, trên đất Việt Nam, với những thầy cô, những người bạn, những chuyên gia – cố vấn quân sự đã từng giúp đỡ đất nước ta, do lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng hoặc những cơ quan, đoàn thể, thậm chí cả những cá nhân ở Việt Nam tổ chức. Những cuộc gặp mà tôi đã từng được tham dự trong suốt những năm tháng đã qua, cũng như cuộc gặp này, có lẽ sẽ đi theo tôi mãi suốt cuộc đời.

Dù là có hàng chục, hàng trăm thậm chí là hàng nghìn cuộc gặp như thế, thì chúng vẫn đều có một đặc điểm chung. Ấy là trong khi người Việt luôn bày tỏ lời cảm ơn, ca ngợi các chuyên gia – cố vấn quân sự Xô-viết, thì hầu như không ai trong số các chuyên gia – cố vấn kể công hoặc nhận các chiến công ở Việt Nam thuộc về mình. Với đức tính khiêm tốn, họ chỉ kể những kỷ niệm sâu sắc về các cuộc gặp, làm việc với các nhà lãnh đạo Việt Nam, cùng sống và chiến đấu bên cạnh bộ đội và những người dân Việt Nam trong thời gian họ có mặt tại Việt Nam. Họ coi những chiến công ấy thuộc về QĐND Việt Nam.

Trong cuộc gặp tại Mát-xcơ-va vừa rồi, khi kể chuyện chiến thắng của Việt Nam cách đây 40 năm, Thượng tướng A-na-tô-li Khiu-pê-nen, nguyên trưởng đoàn chuyên gia – cố vấn quân sự Xô-viết tại Việt Nam từ năm 1972 đến 1975, dường như chỉ nói về sự tàn bạo của quân đội Mỹ, đồng thời hết lời ca ngợi sự thông minh, sáng tạo của lãnh đạo, chỉ huy cũng như đội ngũ sĩ quan, chiến sĩ QĐND Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ông tự hào rằng, vũ khí tối tân khi ấy của Liên Xô đã được trao đúng cho những người biết sử dụng và sử dụng một cách sáng tạo trong một cuộc chiến tranh nhân dân độc đáo vì độc lập dân tộc ở Việt Nam. Ông coi vũ khí tối tân là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là yếu tố con người sử dụng loại vũ khí ấy. Ông so Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của Việt Nam với Chiến thắng Xta-lin-grát (Stalingrad) của Liên Xô trước đây, bởi hai chiến thắng này đều mở ra bước ngoặt của hai cuộc chiến tranh, dẫn tới thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và dẫn tới chiến thắng của nhân dân Xô-viết trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại trước đây. Ông cũng thể hiện sự hãnh diện của mình vì đã được sống, chiến đấu với những người anh em Việt Nam trong giai đoạn ác liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, tại diễn đàn này ông bày tỏ niềm tin sâu sắc rằng, với những gì ông được chứng kiến và hiểu biết về nhân dân và QĐND Việt Nam thì không một thế lực nào có thể giành được chiến thắng khi tiến hành chiến tranh với Việt Nam trên đất nước Việt Nam.

Không chỉ Thượng tướng A.Khiu-pê-nen mà cả ông Cô-le-xníc Nhi-cô-lai Nhi-cô-lai-e-vích, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Nga từng công tác tại Việt Nam; ông Vla-đi-mia Bui-a-nốp, Chủ tịch Hội hữu nghị Nga – Việt, hoặc các cựu chuyên gia Ép-ghê-ni Nô-ven-cô, Vla-đi-mia Pê-tơ-rô-vích, Nhi-cô-lai Giơ-va-nốp, Vla-đi-mia Ti-sen-cô và rất nhiều cựu chuyên gia – cố vấn quân sự Xô-viết khác đã lần lượt được thể hiện sự khâm phục của mình đối với nhân dân và QĐND Việt Nam. Họ luôn ghi nhận “sự không quên” mà các thế hệ lãnh đạo đất nước, Bộ Quốc phòng hay các tổ chức, đoàn thể của Việt Nam trân trọng dành cho sự giúp đỡ của nhân dân và quân đội Xô-viết trước đây đối với Việt Nam. Họ vui mừng vì được chứng kiến sự phát triển đến kinh ngạc của Việt Nam ngày nay sau mỗi lần thăm lại chiến trường “chia lửa” xưa. Họ coi việc họ được đóng góp tuổi thanh xuân của mình cho nhân dân Việt Nam chỉ là những viên gạch nhỏ xây đắp tình hữu nghị, quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai dân tộc ngày nay.

Nhân dân Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác mãi mãi biết ơn Liên Xô và LB Nga, trong đó có các cựu cố vấn và chuyên gia – những người với tinh thần của chủ nghĩa quốc tế trong sáng đã không tiếc tuổi xuân, không sợ hy sinh gian khổ, đã chiến đấu và không ít trong số họ đã hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam như của chính dân tộc mình. Việt Nam mãi luôn trân trọng những sự hy sinh và giúp đỡ đó, mỗi một lần nhớ tới, sẽ thêm một lần cảm tạ.

Bài và ảnh: KIM TÔN
qdnd.vn

Sự ủng hộ tinh thần lớn lao đối với Việt Nam trong chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”

Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam diễn ra rầm rộ ở nhiều nước trên thế giới. Nguồn: Internet

QĐND – Một trong những nhân tố góp phần giúp cho quân và dân Việt Nam làm nên kỳ tích “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972, đập tan nỗ lực quân sự cuối cùng của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam chính là sự động viên, cổ vũ về mặt chính trị tinh thần của nhiều bạn bè trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.

Suốt 12 ngày đêm cuối năm 1972, dưới mưa bom, lửa đạn và chịu nhiều tổn thất, hy sinh trong đối chọi với máy bay B-52, nhân dân Việt Nam đã nhận được rất nhiều bức điện, lời động viên khích lệ tinh thần chân thành từ nhiều nguyên thủ quốc gia, của các cơ quan, đoàn thể, tổ chức và chính khách tiến bộ khắp các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của Vụ Tổng hợp, Bộ Ngoại giao Việt Nam, Việt Nam đã nhận được tuyên bố ủng hộ cấp chính phủ của 4 nước; tuyên bố ủng hộ cấp bộ ngoại giao của 10 nước; phát ngôn của chính phủ của 3 nước; tuyên bố của quốc hội và mặt trận yêu nước của 2 nước; thông tấn xã 5 nước ra tuyên bố; nguyên thủ, thủ tướng, phó thủ tướng của 30 quốc gia trên thế giới ra tuyên bố; 13 bộ trưởng bộ ngoại giao và một số bộ khác của các nước ra tuyên bố; khối các nước không liên kết cũng ra tuyên bố phản đối mạnh mẽ cuộc ném bom của Mỹ…

Việt Nam không chỉ nhận được những lời đồng tình, ủng hộ, động viên chân thành của các nước bạn bè trong phe xã hội chủ nghĩa mà còn nhận được rất nhiều lời động viên, khích lệ từ phía Chính phủ và nhân dân những nước đồng minh của Mỹ, kể cả các chính khách và nhân dân tiến bộ Mỹ.

Ngày 27-12-1972, đồng chí Rô-lăng-lơ-roa, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp phát biểu: Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp sẽ làm hết sức mình cùng với các tổ chức dân chủ, hòa bình ở Pháp tăng cường hơn nữa sự ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam về mọi mặt tinh thần và vật chất. Hội nghị lần thứ 9 Trung ương Đảng Cộng sản Nhật Bản ngày 26-12-1972 cũng ra lời kêu gọi nhân dân thế giới hãy “phát huy mọi sức mạnh có thể có, để giúp đỡ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm thực hiện hòa bình và quyền tự quyết dân tộc”. Ngày 6-1-1973, Liên minh toàn quốc hành động vì hòa bình Mỹ ra lời kêu gọi: Nhân dân Mỹ phải hành động kiên quyết, nhằm buộc chính quyền Ních-xơn phải chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác. Trước đó, ngày 21-12-1972, 17 nghị sĩ Mỹ đã chất vấn Tổng thống “rằng nếu ngài không thể hoặc không muốn đưa chúng tôi ra khỏi Việt Nam thì Quốc hội sẽ phải thi hành nghĩa vụ của mình để làm việc đó…”.

Ngày 28-12-1972, Liên đoàn Công đoàn thế giới tuyên bố đòi Mỹ chấm dứt ngay các cuộc ném bom và ký ngay không chậm trễ bản hiệp định giữa Mỹ và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 20-10-1972, kêu gọi lao động và công đoàn các nước đẩy mạnh vận động đòi Ních-xơn chấp nhận những điều khoản đã thỏa thuận. Bức điện ngày 22-12-1972 của Liên đoàn các nhà khoa học thế giới gửi tới Tổng thống Ních-xơn yêu cầu “chấm dứt tức khắc những cuộc tiến công phản phúc và vô liêm sỉ này và sớm ký bản hiệp định đã thỏa thuận trước cuộc tuyển cử Tổng thống Mỹ…”. Sau này, nhớ lại những ngày cuối năm 1972, chính H. Kít-xinh-giơ cũng phải thừa nhận rằng nước Mỹ đã nhanh chóng bị chìm ngập trong làn sóng thịnh nộ đang dâng lên trước cuộc ném bom…

Chính những lời tuyên bố, phát ngôn lên án Mỹ mạnh mẽ, kiên quyết và quyết liệt của bạn bè quốc tế đã góp phần cảnh cáo, răn đe, kiềm chế bản tính hung hăng, hiếu chiến của chính quyền Mỹ; khiến cho Mỹ hết sức lúng túng, bị động, bị cô lập và chịu áp lực lớn từ nhiều phía cả trong nước lẫn trên bình diện quốc tế, buộc phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào đàm phán một cách thực chất, cam kết rút khỏi Việt Nam.

Như vậy, quân và dân Việt Nam đã kiên cường chiến đấu với bom, đạn, máy bay B-52 Mỹ với niềm tin chiến thắng và sự hậu thuẫn, ủng hộ to lớn không chỉ về vật chất mà cao hơn cả là về chính trị tinh thần của bạn bè trên thế giới. Chính tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh cộng với sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn đó đã làm nên thắng lợi vĩ đại có một không hai trong lịch sử không quân thế giới thế kỷ XX.

Trung tá Nguyễn Văn Quyền
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
qdnd.vn

Món đồ 40 năm và câu chuyện về lòng vị tha

QĐND – Tính ra đã 40 năm, ông Nguyễn Xuân Thao giữ bên mình những đồ vật ấy: Chiếc áo khoác ba lỗ màu xanh đã ngả màu cùng tấm bản đồ bị mối xông thủng lỗ chỗ. Một nửa đời người chầm chậm trôi qua, những món đồ của một viên phi công Mỹ bỏ lại nơi Bệnh viện huyện Vĩnh Tường năm nào, giờ đã trở thành một phần trong cuộc đời của người bác sĩ già. Bởi lẽ, chúng nhắc ông nhớ tới câu chuyện về lòng vị tha trong một thời máu lửa mà hào hùng của dân tộc.

Ông Thao với chiếc áo của phi công Mỹ.

Ký ức

Sinh ra và lớn lên ở vùng đất của máu và lửa Quảng Trị, trong ký ức của ông Thao, hình ảnh những năm tháng chiến tranh ác liệt chưa bao giờ phai nhạt. Hơn 20 tuổi, ông rời xa quê hương ra Hà Nội quyết tâm theo học ngành y, với mơ ước trở thành bác sĩ để có thể tận tay cứu chữa cho đồng bào gặp nạn. Có lẽ, ông Thao cũng chẳng bao giờ ngờ được mình lại tự tay cấp cứu cho những phi công Mỹ – những người đã lái máy bay B-52 ném bom tàn phá Hà Nội.

Đêm 28-12-1972, một chiếc máy bay B-52 của Mỹ rơi ngay bến đò Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ba phi công Mỹ nhảy dù thoát chết và bị dân quân bắt được. Thời kỳ đó, ông Thao làm Phó giám đốc Bệnh viện huyện Vĩnh Tường. Ông kể: “Khoảng 10 giờ hơn ngày 28, bệnh viện được tin báo rằng giặc lái rơi. Nghe tới đó thì tôi phấn khởi lắm. Từ trước tới giờ, tôi mới nghe tin ta bắn B-52 nhưng rơi nhiều nơi khác, kỳ này lại nghe bắn rơi ngay tại chỗ mới biết quân ta quả thật tài tình, dũng cảm”. Những ký ức ùa về trong tâm trí người bác sĩ già như những cơn gió ấm áp xua tan cái lạnh giá của mùa đông. Dù đã 40 năm trôi qua, nhưng mỗi lần nhắc lại quá khứ, ánh mắt ông vẫn luôn sáng lên niềm tự hào.

Khoảng 11 giờ, Bệnh viện huyện Vĩnh Tường đột nhiên phải tiếp nhận những bệnh nhân “đặc biệt”. “Trong những trường hợp như vậy, bệnh nhân thường được chuyển lên tuyến trên. Không thể ngờ tới, hai phi công của địch lại được chuyển đến chỗ tôi. Người thứ ba thì bị giải về huyện ngay gần bệnh viện. Có lẽ lịch sử đã sắp đặt để tôi phải đối diện với những con người ấy”, ông Thao trầm ngâm kể lại.

Câu chuyện về lòng vị tha

Đêm đó, ông Thao là vị bác sĩ trực tiếp khám và chỉ đạo chữa trị cho những phi công Mỹ. “Lúc những người này xuất hiện, tôi tự nhiên nảy sinh mâu thuẫn. Mặc dù bản thân là thầy thuốc, có trách nhiệm phải cứu người, nhưng lòng tôi vẫn vô cùng tức giận. Tôi đã nghĩ sao mình có thể chữa trị cho chính những kẻ đã gây nên tội ác với đồng bào mình, với máu thịt mình được. Nhưng dường như, lòng vị tha và nhân ái chính là bản năng của người Việt Nam. Tôi đã dẹp bỏ suy nghĩ “địch, ta”, xác định rằng đấy là bệnh nhân và mình phải có bổn phận cứu chữa cho họ”, ông tâm sự.

Sau khi khám cho hai viên phi công Mỹ tại bệnh viện, ông Thao phát hiện người nằm trên băng-ca đã bị thương ở chân, nhiều khả năng là gãy chân. Người còn lại khá trẻ, mặt luôn cúi gằm, ngồi ngay tại cửa phòng bệnh nhưng không có vết thương nào. Đột nhiên trong huyện báo: “Yêu cầu bác sĩ đến kiểm tra phi công bị ướt trong huyện để có biện pháp cấp cứu luôn”. Nghĩ đến thời tiết giá lạnh, ông Thao tức tốc cầm áo quần bệnh nhân rồi đạp xe đến đó. Viên phi công trong huyện bị ướt, cởi trần, mặc quần soóc. Anh ta không bị thương nặng, chỉ là va đập khiến một bên vai đau nhức. Anh ta ngồi cúi đầu, quay mặt vào trong. Ông Thao chỉ có thể thấy tấm lưng rất lớn đang run rẩy. “Vì quần áo bệnh nhân cầm trên tay lại khá hẹp, người to lớn như vậy không thể mặc vừa, nên tôi đã khoác chiếc áo lên lưng viên phi công Mỹ rồi tức tốc đạp về bệnh viện kiếm chiếc chăn để mang lại. Lúc đó tôi chỉ có một suy nghĩ là cứu giúp bệnh nhân”, người bác sĩ già kể.

Món đồ “niên đại” 40 năm

Về lại bệnh viện, sau khi tìm thấy chiếc chăn, ông Thao bắt mạch, đo huyết áp lại lần cuối để truyền dịch cho bệnh nhân trên băng-ca. Bỗng ông nhận được tin báo phải rời bệnh nhân đi ngay, không được chậm trễ. Chiếc ô tô đã chờ sẵn mang theo ba phi công Mỹ phóng vút đi ngay trong đêm hôm đó. Quay trở về phòng bệnh, ông phát hiện chiếc áo khoác ba lỗ màu xanh cùng tấm bản đồ của một trong ba phi công Mỹ để lại. Người bác sĩ đã giữ những món đồ ấy với suy nghĩ giản đơn là “bảo quản đồ vật của bệnh nhân”. Nhưng theo thời gian, chúng cũng dần trở nên gắn bó với ông Thao.

Có lẽ, chúng đã trở thành một phần của ký ức về những năm tháng chiến tranh ác liệt, hoặc giả, chúng là “nhân chứng” trong một câu chuyện về lòng vị tha của người Việt Nam. Tháng năm qua đi, những dấu tích một thời bom đạn cũng dần phai mờ theo quy luật của thời gian, nhưng những ký ức về cái đêm mùa đông năm đó vẫn luôn in sâu trong tâm trí ông. Trong suốt 40 năm, mỗi lần cầm trên tay chiếc áo, hình ảnh tấm lưng to bản run rẩy cùng khuôn mặt cúi gằm của những viên phi công Mỹ lại hiện ra trong tâm trí ông Thao.

Từ bấy đên nay, ông Thao chưa bao giờ giặt chiếc áo của viên phi công Mỹ. Thảng có hôm nắng to thì mang ra phơi, xong lại gấp gọn gàng bỏ vào cặp. Ông cũng từng nghĩ tìm cách trả lại món đồ cho chủ nhân của nó, chỉ là để nhắc nhở cho họ – những người từng lái máy bay tàn phá Việt Nam, một câu chuyện về lòng vị tha. “Tôi mong muốn, việc trao trả sẽ là một dấu ấn nhắc nhở, để không chỉ viên phi công khi đó mà tất cả người Mỹ đều biết rằng, thời kỳ họ đem máy bay sang đây bắn phá, gây tội ác, khi họ rơi xuống đất, vẫn được người dân, người thầy thuốc ta nhân đạo cứu giúp”, ông Thao chân thành bày tỏ.

Bài và ảnh: NGỌC THƯ
qdnd.vn

Không quên quá khứ, sống cho nên người (Bài 3)

Ký ức nhân chứng 40 năm Ngày Khâm Thiên bị B-52 đánh bom

QĐND – “Dọc các con ngõ đều đụng xác người chết. Căn nhà số 47 phố Khâm Thiên, mọi người tìm thấy trong hầm thi thể hai mẹ con. Lúc đưa ra, người mẹ vẫn ôm siết đứa con vài tháng tuổi, hai mái đầu chụm vào nhau. Người mẹ chết rồi nhưng gương mặt, ánh mắt vẫn toát lên vẻ lo âu cho con trẻ. Tôi và những người có mặt trước cửa hầm không cầm được nước mắt. Chúng ta đang đứng ngay trên miệng căn hầm ngày xưa đó”. Nói rồi, anh Trần Đình Long cùng chúng tôi thắp hương, nghiêng mình trước Đài tưởng niệm Khâm Thiên, nơi có tượng người mẹ bế con trên tay.

Anh Trần Đình Long (sinh ra và lớn lên tại số nhà 48 ngõ Lệnh Cư, phố Khâm Thiên) hồi tưởng: “Gia đình tôi ngày đó có 6 người đều không sơ tán. Mẹ vừa sinh em bé nên cả nhà quyết định ở lại. Lúc đó tôi 11 tuổi. Tối 26-12-1972, còi báo động vang lên, mọi người chui nhanh xuống hầm. Do hiếu kỳ, nên tôi chạy ra ngoài nghe còi báo động. Bố chạy ra, lôi tôi vào hầm. Chưa đầy một phút sau, tiếng nổ liên hồi vang lên. Nhà tôi tưởng chừng sập đến nơi. Tiếng bom nổ kèm theo bùn đất, bê tông, mái ngói, gỗ, ống nước kẽm tung lên khỏi mặt đất, phát ra những âm thanh ghê rợn. Vừa dứt bom, tôi chạy ra khỏi hầm, men ra đằng sau nhà. Thật khủng khiếp, một quả bom rơi đúng hồ Chùa (hồ nằm cạnh chùa, nên người dân gọi là hồ Chùa), tạo thành một hố sâu thẳm như hố tử thần, miệng hồ bị bom giội toác ra. May sao quả bom rơi xuống hồ, nếu không cả nhà tôi và dân ngõ Lệnh Cư khó lòng sống sót.

Bác Trần Đức Vinh thường xuyên đến Đài tưởng niệm Khâm Thiên để thắp hương tưởng nhớ những người đã khuất.

Đêm đó, không ai chợp được mắt, cứ lo máy bay địch quay lại. Gần sáng, tiếng kêu khóc thảm thiết. Tôi đi ra ngoài, thấy bộ đội công binh tập trung rất đông ở một ngôi nhà. Nghe kể, đêm qua, bom rơi trúng căn nhà nhưng chưa nổ, nên gọi bộ đội đến xử lý. Sau đó mọi người được giải thích, do nhà máy kem gần đấy bị trúng bom, nên bình ô-xy bay lên, rơi trúng nhà dân, chứ không phải bom. Trời tối, trải qua trận bom kinh hoàng, nên mọi người tưởng là bom. Nếu là bom, thì “đi” cả khu rồi”.

Cùng ra thắp hương ở Bia căm thù, có bác Trần Đức Vinh (sinh năm 1953, nhà trong ngõ Lệnh Cư). Chứng kiến “vụ ném bom thế kỷ” tại Khâm Thiên, trải qua 40 năm, những gì xảy ra buổi tối 26-12-1972 vẫn còn ám ảnh trong trí nhớ bác. “19 giờ tối ngày 26-12-1972, chúng tôi (dân phòng) được thông báo, máy bay B-52 chuẩn bị đánh Hà Nội nên phải chuẩn bị sẵn sàng ứng phó mọi tình huống. Còi báo động rú liên tục. Chúng tôi vội xuống hầm. Gần 23 giờ, chỉ nghe thấy những tiếng “hịch, hịch”, mặt đất rung chuyển, đất dưới chân như muốn sụt xuống. Hai mẹ con tôi ngồi trong hầm chỉ biết ôm đầu, bịt tai. Khói bom ken đặc trong hầm, hai mẹ con ho sặc sụa. Ngớt tiếng đạn phòng không, chúng tôi vội lên khỏi hầm, nháo nhác gọi tên người thân, hàng xóm xem ai còn, ai mất. Tiếng gào khóc khiến tôi sởn gai ốc, lạnh sống lưng. Nghĩ lại, vẫn thấy gai người.

Trời tảng sáng, cảnh tượng dần rõ nét. Hoang tàn. Đổ nát. Chết chóc. Bom san phẳng cả khu phố. Đứng giữa phố cũng nhìn thấy ngã tư Ô Chợ Dừa. Sợ máy bay ném bom nữa, tôi đưa mẹ đi sơ tán ở Ba La – Bông Đỏ. Từ ngõ Lệnh Cư ra đến đầu ngõ chợ Khâm Thiên, xác người la liệt. Quan tài chưa có, người chết được phủ bằng những tấm chiếu rách te tua. Đưa bà cụ đi sơ tán xong, tôi đạp xe quay về Khâm Thiên, thấy một vài cỗ quan tài đóng vội.

Thanh niên được huy động, đào bới bằng tất cả những gì còn lại, từ cuốc, xẻng cho đến đòn gánh, thanh sắt, củi, thậm chí bằng tay. Cứu người trong hầm là ưu tiên số 1 nhưng đa phần những người vô tội đều đã chết. Đa phần hầm tăng xê đều đầy nước, người chết đã trương lên, phải lấy đòn gánh, buộc vào hai cánh tay, dùng sức của 5, 6 thanh niên mới kéo lên được. Giờ nghĩ lại vẫn thấy sợ, không hiểu sao hồi đấy chúng tôi có thể vượt qua được những cảnh tượng kinh hoàng đó…”.

Ngày ngày, đi qua Đài tưởng niệm Khâm Thiên, anh Trần Đình Long, bác Trần Đức Vinh và người dân phố Khâm Thiên đều nghiêng mình cúi đầu. Bác Long tâm sự: “Tôi vẫn thường xuyên nhắc con cháu trong nhà, nếu không bận việc thì ra đài tưởng niệm thắp nén hương, dọn dẹp vệ sinh. Phải ghi nhớ những mất mát, hy sinh trong quá khứ, để sống sao cho nên người, có ích cho xã hội. Đó là điều thế hệ trẻ hôm nay nên trân trọng và gìn giữ”.

Bài và ảnh: HỒNG ANH và ĐÌNH HÙNG
qdnd.vn

Nỗi ám ảnh (Bài 1)
Sinh linh bé bỏng (Bài 2)

Sinh linh bé bỏng (Bài 2)

Ký ức nhân chứng 40 năm ngày Khâm Thiên bị B-52 đánh bom

QĐND – …Cái chết của rất nhiều sinh linh bé nhỏ đã được ghi lại bằng phim ảnh trong hệ thống lưu trữ của Hà Nội. Một trong những bằng chứng đau lòng nhất là đoạn phim được thực hiện ngay sau trận ném bom phố Khâm Thiên.

Đoạn phim đặc tả sự tàn phá khủng khiếp của đợt không kích. Phố Khâm Thiên chỉ còn sót lại vài ngôi nhà. Nhà cửa bị nghiền nát. Khi máy quay đang tố cáo sự tàn phá, mắt người xem chợt dừng lại trước một cảnh tượng thảm khốc.

Nhô ra dưới đống gạch đổ là phần thân trên của một em bé. Một bé trai chừng chín, mười tuổi bị đống đổ nát đè bẹp cả cơ thể bất động.

Bàn tay của em nhỏ vươn ra…

Đôi tay cậu mở rộng ra, có vẻ như đang ôm vật gì đó vào thời điểm trước khi chết. Khi máy quay tiếp tục lướt qua, người ta đã biết được cậu bé đang cố làm gì vào thời khắc cuối cùng trong cuộc đời ngắn ngủi ấy. Trên mặt đất, cách đôi tay cậu bé chừng nửa mét là một chiếc lồng chim bị giập nát. Trong khi các khối bê tông đổ xuống đã giết chết cậu bé, thì hai con chim yến nhỏ vẫn còn sống trong khoảng lồng còn lại.

Nỗ lực cuối cùng của cậu bé là một hành động của yêu thương-cố sức cứu sống hai chú chim yến nhỏ (Chân trần chí thép, tác giả James G. Zumwalt, NXB Tổng hợp TP HCM, 2011).

May mắn hơn, cậu bé Trần Dũng, ở ngõ Lệnh Cư, phố Khâm Thiên, sinh ngày 9-12-1972 vẫn được ở bên gia đình sau trận bom B-52 rải thảm đó.

Nhớ lại thời điểm con trai được hơn tuần tuổi, ông Trần Đình Thược cho chúng tôi hay: “Lần đầu nghe tiếng bom nổ, Dũng co rúm lại, khóc váng lên. Đấy là hai bác đã lấy bông nhét chặt vào tai Dũng rồi. Sau đó vài bữa thì Dũng quen dần với tiếng bom”.

Thậm chí ở trong hầm, bé trai đỏ hỏn vẫn cố rít vài giọt sữa ngọt ngào của mẹ. Ngày đó khó khăn trăm bề, quần áo sơ sinh không có, gia đình phải lấy chăn, màn, quần áo cũ lót thành tã, quấn vào giữ ấm cho Dũng. Dành dụm, chắt bóp, nhờ vả, ông Trần Đình Thược mới mua được ít sữa bò về cho con ăn.

Em bé bị bê tông, gạch đè chết sau trận bom

Chiến tranh quả là ác mộng, ông Trần Đình Thược thắp một nén nhang cho vợ, rồi kể tiếp chuyện: “Mẹ thằng Dũng khi sinh con chẳng có gì ăn, nhịn đói đi đẻ. Khai hoa nở nhụy xong, bác gái như cây chuối già xơ đét lại. Thương vợ sức yếu, tôi quyết định không đi sơ tán. Cứ mỗi khi loa phóng thanh báo động có máy bay, cả nhà 6 người lại xuống ngay hầm trú ẩn lòng đầy lo lắng. Ngày 26-12-1972, tôi vẫn làm lạ vì bữa đó cu Dũng không khóc gì cả. Có đòi ăn thì cũng chỉ ọ ọe cựa mình. Đêm tối, tiếng bom nổ như ngày tận thế. Dũng vẫn nằm yên trong lòng mẹ. Hai vợ chồng nhìn nhau, nhìn các con, ứa nước mắt… May sao, nhà tôi không bị trúng bom nhưng bước chân lên cửa hầm, nhìn ra bên ngoài, tôi bắt gặp vô số ánh mắt điên dại. Chỉ kịp dặn vợ con cẩn thận, tôi cầm lấy xẻng, chạy bổ sang nhà hàng xóm đào bới, cứu người. Đến tận bây giờ, tôi không thể nào quên ánh mắt mờ đục, tê dại của ông Nguyễn Văn Tùng, người cùng phố, khi mất đi người con trai, con dâu sau trận bom khủng khiếp đó…”.

… Khi ông Tùng (Nguyễn Văn Tùng-PV) vừa được kéo ra, đã có mặt ba người con trai ở đấy. Họ bảo rằng không thấy vợ chồng Giang ở đâu. Ông Tùng nhìn về phía căn hầm nơi Giang cùng vợ đã chui vào. Ông kinh hãi khi thấy nó đã bị phá hủy hoàn toàn.

“Có tới hai hố bom, một hố ngay trên nóc hầm. Tôi cùng ba người con tìm kiếm dấu vết của những người trú ẩn trong hầm đó. Nhưng chả tìm được gì”.

Ông Tùng và các con tiếp tục tìm kiếm xung quanh và phát hiện ra một điều khủng khiếp. “Tôi bắt gặp một thi thể nằm cách căn hầm mà Giang đã nấp chừng một trăm thước”, ông Tùng kể. “Dù khuôn mặt người chết đã bị phá nát nhưng qua vóc dáng và chiếc đồng hồ trên tay, tôi có thể nhận ra con mình”.

“Chúng tôi mang thi thể nó về nhà, liệm vào trong quan tài do chính quyền cấp và sau đó đưa đi an táng”.

hi thể người con dâu của ông-cũng như phần lớn những người trú ẩn trong căn hầm đó-đến nay vẫn chưa được tìm thấy; sức nổ của hai quả bom đã nghiền nát và thổi bay xương thịt họ. Người ta nói rằng có tới hai mươi bảy người trong căn hầm vào thời điểm nó bị trúng bom.

Điều đau đớn hơn nữa đối với ông Tùng là người con dâu đã có thai sáu tháng, sắp sinh đứa cháu đầu tiên cho ông (Chân trần chí thép).

Gấp lại cuốn sách “Chân trần chí thép”, anh Trần Dũng tâm sự: “Lớn lên, đọc sách báo tôi biết có hàng chục trẻ em đã chết sau trận bom đêm 26-12-1972 giội xuống Khâm Thiên. Tôi là đứa trẻ thực sự may mắn”.

Ngồi bên, ông Thược vít người Dũng xuống, xoa đầu con, bảo: “Dại mồm, ngày đó vợ con có mệnh hệ gì, chắc tôi không sống nổi”.

Bài và ảnh: HỒNG ANH và ĐÌNH DÙNG
qdnd.vn

Nỗi ám ảnh (Bài 1)

Bài 3: Không quên quá khứ, sống cho nên người

Nỗi ám ảnh (Bài 1)

Ký ức nhân chứng sau 40 năm Khâm Thiên bị B-52 đánh bom

QĐND – Khâm Thiên, 22 giờ 15 phút ngày 26-12-1972, còi báo động nổi lên, loa phóng thanh thông báo: Máy bay địch còn cách Hà Nội…

22 giờ 25 phút, ông Lê Đình Thịnh (số nhà 12 ngõ Hồ Cây Sữa, trong ngõ Chợ Khâm Thiên) nắm tay con rể tương lai Lê Văn Quang: “Ở lại, bố bảo mẹ kiếm chút gì nhắm rượu”.

Gần 23 giờ, căn hầm chữ A nhà ông Thịnh dính liền hai quả bom.

Khâm Thiên phút chốc tan hoang.

Thời điểm đó, hầm nhà ông Thịnh có 7 người trú ẩn, sau khi hứng chịu sức công phá khủng khiếp của hai quả bom nổ cách hầm 2m, thì 2 người chết tại chỗ. Đó là vợ ông Thịnh – bà Mai Thị Lý và con gái Lê Thị Liễu.

Bác Lê Văn Quang nhớ lại: “Khi quả bom đầu tiên phát nổ, hầm sập xuống, phía trên là sức nặng của hàng tấn gạch, ngói, bê tông đè lên. Mọi người trong hầm đều nghĩ: Chết”.

Quả bom thứ hai nổ ngay sau đó vài giây, gần vị trí quả bom thứ nhất nổ, thổi bay lớp gạch, bê tông vùi trên căn hầm.

Bác Lê Thị Sành (bên trái) vẫn gặp những cơn ác mộng về trận bom hủy diệt năm 1972

Người nhà ông Thịnh dùng tay, gậy, chạy đua với thời gian, đào bới điên cuồng. Bác Lê Thị Sành, vợ cựu chiến binh Lê Văn Quang hồi tưởng: “Ập vào mắt tôi là cảnh nhà cửa tan hoang, xác người nằm la liệt. Bố tôi cùng chiếc xe đạp được tìm thấy cách nhà 20m. Ông mất mà không vẹn xác. Khoảng hai tháng sau, chúng tôi phát hiện ra điều kinh khủng, chân ông nằm dưới một khối bê tông, cách nhà một quãng xa”.

Toàn bộ 6 khối phố ở Khâm Thiên hầu như bị xóa sạch trong đêm 26-12-1972. Bom Mỹ đã giết chết 287 người, trong đó có 40 cụ già, 55 em nhỏ; 290 người bị thương. Nhiều gia đình không ai sống sót.

Ngồi bên vợ, bác Lê Văn Quang tiếp lời: “Thật may hôm đó bố mẹ vợ tương lai giữ lại, chứ tôi chỉ ra đến đầu ngõ Chợ Khâm Thiên (để về nhà ở số 26 ngõ Văn Hương), là cầm chắc chết. Gia đình hai bên tổ chức ăn hỏi vào tháng 11-1972, dự định qua Noel tổ chức lễ cưới cho bọn tôi. Nào ngờ bom trút xuống vào buổi tối định mệnh. Người chết, nhà cửa không còn, hạt bí, gạo nếp chuẩn bị cho đám cưới cũng tung tóe, vương vãi khắp nơi…”.

Mọi người tiếp tục hì hục, cuống cuồng đào bới. Đến 3 giờ sáng 27-12, thì nghe thấy tiếng rên yếu ớt vọng từ dưới đống đổ nát trong nhà. Bác Lê Thị Sành nhảy vào giữa đống gạch, áp tai nghe ngóng, gào lên: “Bà nội còn sống”. Khi bom nổ, bà Hoàng Thị Còm (khi đó 88 tuổi) vẫn đang nhai trầu, lẩn ngay xuống tấm phản. Căn nhà đổ ập xuống, tấm phản dưới sức công phá của bom thù, vỡ làm đôi, nhưng lại vô tình thành “hầm chữ A” cứu sống bà Còm.

Rạng sáng 27-12, bà Hoàng Thị Còm được con cháu trong nhà đặt lên tấm cửa, khiêng ra ngoài đường. Đúng lúc xe Chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội đi kiểm tra tình hình đến. Đồng chí Chủ tịch Trần Duy Hưng kêu lái xe:

– Đưa cụ đi cấp cứu ngay (đến Bệnh viện Việt Nam – Cu-ba)!

Ba năm sau, cụ Hoàng Thị Còm về với tổ tiên do bệnh nặng. Cụ từng nói: Bà đã lớn tuổi, có chết cũng không sao. Hầm là để dành cho “lá xanh”. Bà có tấm phản che chở rồi, nếu địch rải bom thì lánh ngay dưới phản. Quả thật, tối 26-12-1972, như có phép màu, tấm phản vỡ đôi, bao bọc lấy thân già.

Chuyện thật như đùa, ba hôm sau, trong lúc đào bới vườn nhà, gia đình bác Lê Thị Sành phát hiện hai con lợn… vẫn còn sống. “Có chắc ba ngày sau lợn vẫn còn sống không bác?”. “Chắc chắn. Người lo cứu người. Ai hơi đâu để ý đến gà, lợn”.

…Cầm bức ảnh bố mẹ trên tay, bác Lê Thị Sành ngấn lệ: “Bố mẹ tôi không còn bức ảnh nào nữa, còn mỗi tấm hình này thôi. Điềm báo trước thì phải. Tết Nguyên đán 1972, ông bà bảo các con đi Công viên Thống Nhất chụp ảnh. Mải chơi chẳng đứa nào nghe, ông bà đi bộ ra công viên chụp ảnh kỷ niệm. 40 năm rồi còn gì! Anh chị hỏi sao không sơ tán? Đi làm sao được. Ông cụ cùng tôi khi đó làm ở Xí nghiệp Xe đạp Thống Nhất. Em gái Lê Thị Liễu công tác ở Công ty may Thăng Long. Mẹ ở tổ phục vụ ngay đầu ngõ chợ Khâm Thiên. Đi làm ca ba, chạy xuống hầm trú ẩn là chuyện bình thường”.

Trong câu chuyện, vợ chồng bác Lê Văn Quang, Lê Thị Sành bùi ngùi cho hay: “Nhà hàng xóm thật bất hạnh. Chết 10 người, sống duy nhất cô con dâu. Sau này người con dâu đi đâu cũng không ai hay biết”.

Tiễn chúng tôi ra về, bác Lê Thị Sành ngước mắt buồn nhìn cuốn lịch trên tường, lẩm nhẩm như người mất hồn: “40 năm rồi, bao giờ thoát được nỗi ám ảnh này…”.

Bài và ảnh: HỒNG ANH VÀ ĐÌNH HÙNG
qdnd.vn

(Bài 2: Sinh linh bé bỏng)

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh

QĐND – Thắng lợi vĩ đại của quân và dân Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được ví như một cuộc “chiến đấu thần kỳ” và trở thành biểu tượng của lương tri và phẩm giá con người. Mỗi chiến công trong cuộc chiến đấu ấy là một kỳ tích. “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” 40 năm trước là một chiến công như thế – tiêu biểu cho khí phách anh hùng, tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Trong cuộc đụng đầu với không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời thủ đô Hà Nội 12 ngày đêm cuối năm 1972, quân và dân Việt Nam chẳng những không bị khuất phục trước sức mạnh “không thể tưởng tượng nổi” của không lực Hoa Kỳ mà còn làm cho hàng chục “pháo đài bay B-52”, “con ma”, “thần sấm” phải phơi xác ngay trên mảnh đất thiêng Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Thắng lợi giòn giã của quân và dân Việt Nam làm nức lòng bạn bè quốc tế, khiến cho dư luận thế giới ngỡ ngàng, thán phục và liên tưởng đến một “Điện Biên Phủ thứ hai – Điện Biên Phủ trên không”. Như vậy, Mỹ cũng như Pháp 18 năm trước đó (5-1954), dù đã đẩy nỗ lực quân sự lên mức cao nhất nhằm cứu vãn tình thế trong cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng cuối cùng, phải chịu thất bại trước ý chí, quyết tâm ngoan cường, trí tuệ, sức sáng tạo và bản lĩnh của quân và dân Việt Nam. Thắng lợi của 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cùng với thắng lợi trên chiến trường cả nước đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân viễn chinh về nước, làm thay đổi căn bản cục diện chiến tranh, mở ra thời cơ chiến lược để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Phát huy truyền thống “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, các đơn vị thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân đang ra sức thi đua huấn luyện giỏi, SSCĐ cao. Trong ảnh: Máy bay Trung đoàn Không quân 935, Sư đoàn Không quân 370 xuất kích thực hiện nhiệm vụ. Ảnh: Xuân Cường

Chiến công oanh liệt “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã cách đây bốn thập kỷ. Tuy nhiên, độ lùi thời gian chẳng thể làm mờ ký ức của một thời lửa đạn, mà càng làm cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về sự kiện lịch sử trọng đại này; về những nhân tố làm nên một trong những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vừa là dịp để chúng ta cùng nhau ôn lại chiến công hào hùng của quân và dân ta, đồng thời, thêm một lần khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đặc biệt, đây cũng là dịp để chúng ta đi sâu tìm tòi, nghiên cứu về những nhân tố làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, cuộc đọ sức 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 nói riêng; qua đó, làm sáng tỏ thêm sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc trong thời đại mới, mà nhân lõi của nó được biểu hiện bằng tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Từ thực tiễn lịch sử phong phú và tầm vóc, ý nghĩa to lớn của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng ta cùng nhau suy ngẫm về những vấn đề chủ yếu sau:

Một là, về nhãn quan chiến lược nhạy bén của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong dự báo, tổ chức chuẩn bị mọi mặt để đối phó với âm mưu, thủ đoạn và các bước phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ.

Binh pháp người xưa có câu: “Biết địch biết ta, trăm trận không nguy”. Kế thừa và phát huy truyền thống, kinh nghiệm dụng binh của người xưa, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở nhìn nhận đánh giá tình hình trong nước, quốc tế, nhận rõ bản chất đối tượng của cách mạng Việt Nam, tương quan so sánh lực lượng, đã hoạch định đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, phù hợp với điều kiện của đất nước. Đó là điều kiện tiên quyết để khi bước vào cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chủ động, bình tĩnh điều hành, xử lý và thực hiện các tình huống chiến lược, giữ vững và tăng cường thế tiến công.

Từ đầu năm 1965, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những dự báo về âm mưu, thủ đoạn leo thang và mở rộng chiến tranh của Mỹ. Đối với hậu phương miền Bắc, Đảng xác định, trong khi đề cao khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến lớn miền Nam, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa bằng không quân và hải quân của địch, chuẩn bị sẵn sàng để đánh bại địch trong trường hợp chúng đưa cuộc chiến tranh phá hoại đến một trình độ ác liệt gấp bội, hoặc chuyển nó thành một cuộc “chiến tranh cục bộ” ở cả miền Nam lẫn miền Bắc[1].

Đi đôi với xác định nhiệm vụ chiến lược của miền Bắc, Đảng đã chỉ đạo đẩy mạnh toàn diện các mặt công tác ở hậu phương, nhất là công tác tư tưởng và tổ chức trong điều kiện chiến tranh lan rộng ra cả nước. Đối với công tác tư tưởng, Đảng đặt ra yêu cầu: Cần phải làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhận rõ âm mưu và hành động mới của Mỹ, nhận rõ chỗ mạnh và chỗ yếu, thuận lợi và khó khăn của ta và của địch; nhận rõ ta đang chiến thắng, nhất định sẽ thắng, Mỹ đang thất bại và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Trên cơ sở đó xây dựng ý chí, niềm tin quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược; sẵn sàng đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của chúng, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, xây dựng tinh thần tự lực cánh sinh, chống chủ quan khinh địch.

Cùng với công tác tư tưởng, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan của Nhà nước, Quân đội mở các hội nghị phòng không nhân dân, xây dựng kế hoạch tác chiến phòng không, sơ tán, bảo vệ các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, kho tàng, bến bãi, trọng điểm giao thông. Lực lượng đánh máy bay và tàu chiến Mỹ với nòng cốt là Quân chủng PK-KQ và Quân chủng Hải quân đã được tăng cường về nhiều mặt, cả về người và vũ khí trang bị, cả kế hoạch tổ chức hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng khác, tạo thế trận liên hoàn của “chiến tranh nhân dân đất đối không, đất đối biển”.

Có thể nói, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quân và dân miền Bắc đã cùng cả nước bước vào cuộc trường chinh chống Mỹ và đương đầu với sự đánh phá ác liệt của không quân, hải quân Mỹ trên tư thế hiên ngang, chỉ biết ngẩng cao đầu. Ý chí và niềm tin tất thắng đã tạo ra và nhân lên sức mạnh vô cùng to lớn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn đánh phá của kẻ thù. Hậu phương miền Bắc chẳng những trụ vững trước mưa bom bão đạn của địch, mà vẫn tăng cường và đẩy mạnh hoạt động chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Với tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho phép quân và dân ta trên miền Bắc chủ động trong mọi tình huống; không bị bất ngờ trước quy mô và thủ đoạn đánh phá của địch. Trải qua hai cuộc chống chiến tranh phá hoại (1965-1968; 1972), quân và dân miền Bắc đã được tôi luyện mọi mặt và bởi vậy, khi quân Mỹ mở cuộc tập kích bằng không quân chiến lược vào thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, chúng đã bị giáng trả mạnh mẽ, đích đáng. Lưới lửa phòng không nhiều tầng của quân và dân miền Bắc trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã hợp thành thế trận “thiên la địa võng” đón đánh và tiêu diệt lực lượng không quân chiến lược và chiến thuật của Mỹ.

Rõ ràng, thắng lợi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mà quân và dân ta giành được đã chứng tỏ nhãn quan chiến lược nhạy bén, sâu rộng của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc đụng đầu với không quân chiến lược Mỹ cuối năm 1972 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán từ cuối năm 1967, rằng: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống, càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”[2].

Hai là, về xây dựng tổ chức lực lượng và thế trận nhằm phát huy sức mạnh, hiệu quả của tác chiến phòng không nhân dân trong chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ thủ đô Hà Nội.

Trong suốt quá trình của chiến tranh và nhất là trong cuộc đọ sức giữa mặt đất và bầu trời 12 ngày đêm với không lực Mỹ trên bầu trời Hà Nội cuối năm 1972, nếu chỉ bằng con số thông thường khi so sánh tương quan lực lượng, vũ khí trang bị, người ta khó có thể lý giải vì sao, thắng lợi cuối cùng lại thuộc về bên có trang bị ít hơn, kém hiện đại hơn. Câu trả lời: Chính là nhờ chúng ta dám đánh, biết đánh, với bản lĩnh Việt Nam đã xây dựng, tổ chức được lực lượng và thế trận độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, đã phát huy tối đa sức mạnh, hiệu quả của tác chiến phòng không.

Công tác xây dựng, tổ chức, bổ sung, phát triển lực lượng tác chiến phòng không đã có quá trình chuẩn bị và rèn luyện lâu dài, ngay từ khi Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, đầu năm 1965. Trong những năm này, lực lượng cao xạ từ 12 trung đoàn và 14 tiểu đoàn phát triển thành 21 trung đoàn, 41 tiểu đoàn, trong đó có 8 trung đoàn cơ động, hình thành một mạng lưới phòng không tầm thấp và tầm trung mạnh ở các yếu địa, đồng thời có khả năng cơ động, tạo thành những cụm pháo cao xạ bảo vệ từng khu vực. Ngày 1 tháng 5 năm 1965, bộ đội tên lửa phòng không ra đời (Trung đoàn 236 – Trung đoàn Sông Đà) và chỉ một tháng sau, lực lượng này phát triển thành hai trung đoàn (thêm Trung đoàn 238). Lớp cán bộ đầu tiên của hai trung đoàn được chọn từ nhiều quân binh chủng, phần đông được thử thách trong thực tế chiến đấu và công tác. Công tác huấn luyện binh chủng kỹ thuật hiện đại của lực lượng phòng không được tiến hành bài bản, hết sức khẩn trương với sự hướng dẫn của chuyên gia Liên Xô. Bộ đội không quân cũng phát triển từ một trung đoàn lên 3 trung đoàn, sử dụng hai loại máy bay chiến đấu MiG 17 và MiG 21. Bộ đội ra-đa phát triển từ 2 trung đoàn lên 4 trung đoàn thuộc Quân chủng PK-KQ[3].

Các lực lượng tác chiến phòng không của quân đội ta vừa ra đời đã bước vào cuộc thử lửa trước không quân hiện đại Mỹ. Ngay từ những trận đầu ra quân, bộ đội không quân xuất kích bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa, đầu tháng 4-1965), bộ đội tên lửa phóng quả đạn đầu tiên từ trận địa Suối Hai (Hà Tây, ngày 24-7-1965) đã giành thắng lợi giòn giã, bắn rơi máy bay hiện đại Mỹ. Thực hiện phương châm vừa huấn luyện, vừa chiến đấu, vừa rút kinh nghiệm, chúng ta đã từng bước phát triển, trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt, nhất là kỹ thuật chiến đấu và khả năng tác chiến hiệp đồng giữa các lực lượng. Bộ đội tên lửa có quá trình bám đánh B-52 trên chiến trường Khu 4. Ngày 17-9-1967, Trung đoàn tên lửa H38 (SAM2) đã bắn hạ một B-52 giữa đất thép Vĩnh Linh (Quảng Trị). Kinh nghiệm chiến đấu được phổ biến và nhân rộng, đặc biệt, xuất hiện những cuốn sách nhỏ (Phương án tháng 9[4], Hội nghị tháng 10[5], Cẩm nang bìa đỏ[6]), những hình thức tuyên truyền phổ biến kinh nghiệm chiến đấu hết sức sinh động (Gánh hát rong[7]). Trải qua quá trình chiến đấu, lực lượng tác chiến phòng không của quân đội phát triển, trưởng thành nhanh chóng, thực sự là nòng cốt cho thế trận phòng không nhân dân. Sự phối hợp, hiệp đồng giữa chiến đấu và bảo đảm chiến đấu giữa các lực lượng ngày càng chặt chẽ, hiệu quả.

Song song với công tác tổ chức và bảo đảm lực lượng chiến đấu, quân đội phối hợp với nhân dân làm tốt công tác phòng không, sơ tán, bảo đảm an toàn về người và vật chất. Đây là công việc rất lớn, đòi hỏi các ngành, các cấp, các lực lượng phải vào cuộc. Nhiều trường học, nhà trẻ, bệnh viện, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp được di dời khỏi trọng điểm đánh phá, được bố trí dưới hầm sâu, địa đạo là những hình ảnh quen thuộc của miền Bắc trong những tháng năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ.

Có thể nói, quá trình tổ chức, xây dựng mọi mặt trong những tháng năm trước đó là bước chuẩn bị kỹ càng để khi bước vào chiến dịch phòng không cuối năm 1972, quân và dân ta đã có được một lực lượng và thế trận chủ động, giáng trả mạnh mẽ lực lượng không quân Mỹ ngay từ giờ phút đầu tiên chúng bay vào ném bom, đánh phá Hà Nội (18-12-1972). Để giành và giữ thế chủ động trong cuộc đối đầu với cuộc tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ, trong công tác tổ chức lực lượng, Quân chủng PK-KQ – lực lượng chủ công được bổ sung và tăng cường một số lượng lớn cán bộ, chiến sĩ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, biên chế trong đội hình của 26 trung đoàn phòng không, 41 tiểu đoàn tên lửa, 4 trung đoàn không quân, 36 đại đội ra-đa. Trên địa bàn thủ đô Hà Nội, lực lượng cơ động của Bộ cùng với lực lượng tại chỗ và các đơn vị, tổ đội DQTV tại khu phố, phường, xã, quận, huyện, nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện… đã phối hợp tổ chức thế trận hiệp đồng chiến đấu nhiều tầng, nhiều lớp, với 30 trận địa tên lửa, 100 trận địa pháo cao xạ, hàng trăm trận địa súng pháo bắn máy bay tầm thấp được đặt trên các nóc nhà, các vị trí xung yếu.

Trong quá trình chiến đấu, với thế trận bố trí khoa học, hợp lý, các lực lượng phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả, vừa tập trung được hỏa lực nhưng đồng thời, vừa có thể đánh địch từ xa đến gần. Theo phân công, bộ đội tên lửa và không quân tập trung đánh tiêu diệt lực lượng không quân chiến lược (B-52) ở tầm bay cao; các lực lượng khác đánh tiêu diệt không quân chiến thuật. Như vậy, ở tầng nào cũng có lực lượng đánh tiêu diệt không quân địch. Lưới lửa của lực lượng ba thứ quân và thế trận phòng không nhân dân “thiên la địa võng” khiến cho không quân Mỹ lúng túng, bị động. Ở đâu, ở tầm bay nào chúng cũng bị bám đánh bằng các loại đạn từ đạn tên lửa của bộ đội chủ lực cho đến đạn súng trường của lực lượng DQTV. Với lực lượng và thế trận hoàn chỉnh, sự phối hợp chiến đấu nhịp nhàng, linh hoạt, hiệu quả, quân và dân thủ đô Hà Nội cùng quân và dân miền Bắc, nòng cốt là Quân chủng PK-KQ đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ, bắn rơi nhiều máy bay hiện đại, trong đó có 34 “pháo đài bay” B-52.

Như vậy là, sức mạnh chiến đấu không phải chỉ ở số lượng và tính hiện đại của vũ khí trang bị, mà điều quan trọng là việc bố trí lực lượng và thế trận, khả năng phối hợp hiệp đồng trong quá trình chiến đấu và bảo đảm chiến đấu. Lực lượng và thế trận của chiến tranh nhân dân trên miền Bắc đã chứng tỏ sức mạnh, hiệu quả trong tác chiến với lực lượng không quân Mỹ, mà đỉnh cao là chiến dịch 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 trên bầu trời thủ đô Hà Nội.

Lực lượng và thế trận của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, trên hết và hơn hết biểu hiện cho ý chí ngoan cường, dũng cảm, trí tuệ và sức sáng tạo của con người Việt Nam, của nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo, thể hiện trong phương châm chiến lược “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn” và thắng địch bằng “Mưu, Kế, Thế, Thời”.

Ba là, về nhân tố con người và khả năng làm chủ vũ khí trang bị, kỹ thuật.

Chúng ta đều biết, Mỹ là cường quốc hàng đầu trên thế giới, với sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật vượt trội. Sức mạnh của Mỹ đã được phô diễn trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng những sư đoàn kỵ binh (máy bay trực thăng), lữ đoàn dù, trung đoàn thiết giáp, “siêu pháo đài bay” B-52… Thế nhưng, mọi kỹ thuật hiện đại của vũ khí, trang bị, phương tiện chiến đấu, cùng với hơn nửa triệu quân Mỹ và tiền của được đổ vào chiến trường Việt Nam đã không mang tới thắng lợi cho Mỹ. Dù đã áp dụng ba chiến lược chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, Việt Nam hóa), sử dụng mọi vũ khí có trong tay (trừ bom hạt nhân), nhưng kết cục Mỹ vẫn không xoay chuyển được tình thế. Con bài cuối cùng trong nỗ lực chiến tranh của Mỹ chính là mở cuộc tập kích ồ ạt bằng không quân vào thủ đô Hà Nội, sử dụng hàng trăm “siêu pháo đài bay” B-52 để uy hiếp và phá hủy tiềm lực của hậu phương miền Bắc, hòng tạo thế mạnh trên bàn Hội nghị Pa-ri… rồi cũng thất bại nốt. Nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, trong các trận đọ sức trên chiến trường, theo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ (1962-1968) Mắc Na-ma-ra là do Mỹ không hiểu con người và nền văn hóa Việt Nam. Thật vậy, con người Việt Nam, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đã thực sự tỏa sáng trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 nói riêng.

Đặc điểm nổi bật của cuộc đối đầu giữa quân và dân ta với không quân Mỹ là tính chất, hàm lượng khoa học kỹ thuật, khả năng làm chủ vũ khí, khí tài. Mỹ đã tung vào cuộc tập kích chiến lược những phương tiện chiến đấu và vũ khí tối tân (B-52, bom điều khiển, máy tạo nhiễu), trong lúc đó, vũ khí quân ta có trong tay chỉ dừng ở mức tương đối hiện đại, đó là máy bay MiG 21, tên lửa SAM 2, pháo phòng không cỡ nòng 100mm, ra-đa P35. Chỉ riêng việc so sánh về tính năng của vũ khí, khí tài đã thấy một sự chênh lệch lớn giữa ta và địch. Thế nhưng, bước vào chiến đấu, những vũ khí bầu trời và mặt đất của quân và dân Việt Nam đã phát huy tác dụng, bám đánh và tiêu diệt nhiều máy bay hiện đại Mỹ, trong đó có B-52. Ở đây, yếu tố trung tâm, quyết định chính là con người. Con người Việt Nam, một thế hệ mới – thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh, được lớn lên, học tập và trưởng thành trong môi trường của chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa, những con người Việt Nam mới ấy được giáo dục, bồi đắp lòng yêu nước, căm thù giặc, được truyền thụ kiến thức toàn diện về tự nhiên, xã hội, có lý tưởng cách mạng, có tinh thần, bản lĩnh sẵn sàng nhận hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc, nhân dân và Đảng giao phó. Vào quân đội, họ trở thành lính bộ binh, lính pháo, xe tăng, tên lửa, ra-đa, phi công… Dù ở binh chủng nào, nhờ có kiến thức, khả năng tìm tòi và óc sáng tạo, họ đã sớm làm quen, thuần thục và thực sự làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật.

Cuộc chiến đấu sinh tử với “giặc trời” Mỹ trong 12 ngày đêm, một lần nữa minh chứng cho khối óc sáng tạo phi thường, trí thông minh và bản lĩnh của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Ra-đa P35 “vạch nhiễu tìm thù”, máy bay tiêm kích MiG bé nhỏ bắn rơi B-52, tên lửa SAM 2 và cả khẩu súng trường bắn rơi “con ma”, “thần sấm”. Con người Việt Nam bằng ý chí học hỏi vươn lên, với lòng dũng cảm, trí thông minh và sức sáng tạo đã làm cho tất cả vũ khí có trong tay đều phát huy tác dụng. Không dừng lại ở kỹ thuật sử dụng đơn thuần mà phát triển thành nghệ thuật phối hợp các loại vũ khí, tạo ra “lưới lửa” phòng không dày đặc, nhiều tầng, nhiều lớp, vòng trong, vòng ngoài, khiến cho đối phương bất ngờ, khiếp đảm và phải chịu trận. Có thể nói, thắng lợi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thực sự là nét tiêu biểu cho phẩm chất mới của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Bốn là, về sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bạn bè quốc tế và của nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Chúng ta luôn luôn ghi nhớ, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn về tinh thần, vật chất, vũ khí, trang bị kỹ thuật của chính phủ và nhân dân các nước, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc. Không chỉ giúp về vật chất, các nước bạn còn giúp đào tạo cán bộ, sĩ quan, nhân viên kỹ thuật, cử chuyên gia hướng dẫn, tham mưu, trực tiếp chiến đấu và chịu đựng gian khổ, hy sinh cùng quân và dân ta. Sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả của bè bạn là những vốn quý để tăng cường sức mạnh của công cuộc kháng chiến, tăng cường tiềm lực quân sự, khả năng và nghệ thuật tác chiến của quân đội. Đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi trong từng trận đánh, từng chiến dịch và toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chúng ta cũng ghi nhận sự ủng hộ to lớn của nhân dân và các lực lượng yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới và cả nhân dân tiến bộ Mỹ đã lên tiếng, xuống đường phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Với truyền thống và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, chúng ta luôn ghi tạc sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình trên tinh thần quốc tế vô sản của Liên Xô, Trung Quốc, các nước anh em và bạn bè thế giới.

40 năm đã qua, trở lại với một sự kiện lịch sử mà tầm vóc, ảnh hưởng và ý nghĩa của nó không chỉ đối với Tổ quốc – dân tộc Việt Nam mà còn vang vọng khắp năm châu bốn biển, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” gợi mở nhiều vấn đề cần nghiên cứu. Chúng ta cần phải tiếp tục tìm tòi, làm sáng tỏ thêm về sự kiện lịch sử này, đúc rút những kinh nghiệm quý, những bài học hay, vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là đội quân mang bản chất nhân dân sâu sắc, luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, gắn bó máu thịt với nhân dân. Trong chiến dịch 12 ngày đêm, quân đội, mà trực tiếp là lực lượng của Quân chủng Phòng không – Không quân đã cùng với quân và dân thủ đô Hà Nội, quân và dân miền Bắc lập nên chiến công vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Kỳ tích của ngày hôm qua là thực tiễn sinh động, tiêu biểu cho ý chí, nghị lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, tiêu biểu cho thắng lợi của đường lối, tư tưởng chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời thể hiện sự kế thừa, phát triển văn hóa giữ nước, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới – thời đại Hồ Chí Minh.

Đại tướng PHÙNG QUANG THANH
Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

———————

[1] Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập II (1954-1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 296.

[2] Hồ Chí Minh: Biên niên sự kiện và tư liệu quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 203.

[3] Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, Tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 223-225.

[4] Là phương án đánh B-52 tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng mà Bộ Tham mưu Quân chủng chuẩn bị, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng duyệt và được cấp trên phê chuẩn vào tháng 9-1972.

[5] Là hội nghị nhằm tổng kết những kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ở các đơn vị, bằng những luận cứ khoa học và trên cơ sở thực tiễn được đúc rút thành lý luận, sự tin tưởng vào bộ đội tên lửa, về khả năng bắn rơi tại chỗ máy bay B-52.

[6] Là cuốn sách hướng dẫn cách đánh B-52, có bìa màu đỏ, do Phòng Tác huấn tên lửa và Phòng Khoa học quân sự biên soạn…

[7] Hình thức phổ biến, truyền đạt kinh nghiệm chiến đấu ngay tại trận địa.

Về nơi siêu pháo đài bay B-52 phơi xác (xem clip)

QĐND Online – Trên thế giới không hiếm các hình thức bảo tàng, nhưng chỉ ở Việt Nam mới có Bảo tàng Chiến thắng B-52. Nằm trên phố Đội Cấn, quận Ba Đình (Hà Nội), bảo tàng là nơi lưu giữ những hiện vật từ cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn của miền Bắc nước ta trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972. Đó là đài ra đa P-35 phát hiện, thông báo sớm B-52 bay vào Hà Nội; là đài điều khiển tên lửa hạ gục chiếc B-52 đầu tiên trên bầu trời Thủ đô; là đống xác của các siêu pháo đài bay B-52 – “Niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ” bị quân, dân miền Bắc quật cổ…cùng nhiều hiện vật khác.

Bộ đội tên lửa đã tiêu diệt 29 máy bay B-52 trong 12 ngày đêm tháng 12-1972.

Hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”, Bảo tàng Chiến thắng B-52 đã tiến hành tu sửa, nâng cấp để phục vụ tốt nhất khách tham quan. Trong những ngày này, Bảo tàng thu hút đông đảo khách du lịch tới tham quan mỗi ngày. Trong đó phần lớn là các cựu chiến binh, thanh niên, học sinh. Khách tham đều có chung cảm xúc tự hào trước chiến công oanh liệt quả quân và dân Hà Nội trong 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972.

Trong những ngày cuối tháng 12 năm 1972, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới lo lắng hướng về Hà Nội- nơi sẽ trở thành “túi bom” hứng chịu các đợt rải thảm bằng B-52 của không quân Mỹ. Và cả thế giới đã kinh ngạc khi biết nhiều “siêu pháo đài bay” B-52 đã bị bắn rơi tại chỗ. Trong những ngày này, nhiều du khách nước ngoài đã tìm đến Bảo tàng Chiến thắng B-52 để được hiểu rõ hơn về chiến thắng của đất nước Việt Nam cách đây đúng 40 năm. Một du khách người Canada cho biết: “Nếu chỉ đọc sách và xem ti-vi sẽ không thể hình dung ra sự hủy diệt và sự tàn khốc của cuộc chiến. Tôi nghĩ người Việt Nam rất mạnh mẽ và có tình cảm chân thành. Thành thật mà nói tôi không hiểu nhiều về những gì đã xảy ra ở đây, nhưng những hiện vật này cho tôi cảm nhận về ý chí của người Việt Nam trong cuộc chiến năm xưa”.

Những mảnh xác máy bay B-52 được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng B-52.

Sử dụng hàng trăm lần chiếc B-52 rải hàng ngàn tấn bom xuống Thủ đô Hà Nội và nhiều vùng lân cận, song đế quốc Mỹ đã thất bại cay đắng. Quân và dân Hà Nội đã làm nên một trận Điện Biên Phủ trên không lừng lẫy.

Hoạt động của Bảng tàng Chiến thắng B-52 trong dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”:

Thực hiện: HOÀNG HÀ-THU HÀ
qdnd.vn

Quân khu 7: Khai mạc triển lãm ảnh “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”

QĐND Online – Sáng ngày 26-12, tại Bảo tàng LLVT miền Đông Nam Bộ, Cục chính trị Quân khu 7 khai mạc triển lãm ảnh 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.Triển lãm gồm 85 bức ảnh in trên 17 pa-nô, 10 tranh cổ động và 3 tranh sơn dầu thể hiện khí thế hào hùng của quân và dân ta trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Đồng thời, các bức ảnh còn thể hiện quá trình củng cố, xây dựng lực lượng của Bộ đội Phòng không – Không quân không ngừng lớn mạnh của quân đội ta.

Đông đảo cán bộ chiến sĩ, học sinh tham quan triển lãm

Dự kiến, triển lãm sẽ trưng bày tới hết ngày 10-1-2013 và sau đó sẽ trình diễn lưu động phục vụ bộ đội và nhân dân các tỉnh trên địa bàn Quân khu 7.

Tin, ảnh: TUYẾT KHOA
qdnd.vn

Trận “Điện Biên Phủ trên không” trong ký ức các cựu chuyên gia Liên Xô (Kỳ cuối)

QĐND – Có mặt tại Việt Nam với nhiệm vụ phó trưởng đoàn chuyên gia phòng không, phụ trách công tác chính trị trong đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, Thiếu tướng A-na-tô-li Pô-dơ-đê-ép (Anatoli Pozdeev) cũng như những đồng nghiệp của mình, không thể quên những năm tháng ở Việt Nam. Sâu nặng hơn, ông “không thể tha thứ” cho những kẻ đã gieo bom đạn lên mảnh đất yêu hòa bình Việt Nam. Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép chia sẻ: “Tôi không bao giờ có thể quên những làng quê bình dị, những khu sinh thái tươi đẹp đã bị bom đạn tàn phá. Không biết bao nhiêu triệu gia đình Việt Nam đã có người thân thiệt mạng, hy sinh trong cuộc chiến. Rồi những em nhỏ vô cùng đáng thương trong cảnh bom đạn, giết chóc ở miền Trung Việt Nam. Tôi là người chứng kiến những điều đó và không bao giờ có thể tha thứ, nhưng không phải là đối với nhân dân Mỹ mà là những thế lực đã điều lính Mỹ tới gây chiến tranh ở Việt Nam…”. Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép tâm sự: “Những người từng chứng kiến các cảnh tượng đó như chúng tôi đã không thể sống bình yên, dù đã 40 năm trôi qua”.

Những kỷ vật liên quan tới Việt Nam được Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép gìn giữ cẩn thận

“Tôi đã hiểu được vì sao Việt Nam thắng lợi khi chứng kiến những cụ già, phụ nữ nghèo khổ ở địa phương nhưng luôn sẵn sàng chắt chiu, dành dụm tất cả cho tiền tuyến. Cũng chính bởi những điều đó mà tôi phải nói lên lời cảm ơn đối với những người dân bình thường Việt Nam, đối với những chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Xin bày tỏ niềm khâm phục đối với nhân dân Việt Nam, những người đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, bảo vệ Tổ quốc mình. Tôi đã gặp Anh hùng phi công Phạm Tuân, người đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ B-52 trên không”. Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép luôn cảm thấy bồi hồi mỗi khi nhắc lại những kỷ niệm mà ông còn nhớ gắn với từng địa danh, từng con người ở mảnh đất hình chữ S. Ông vẫn giữ gìn cẩn thận những bức ảnh, những kỷ vật mang về từ Việt Nam thời ấy và có dịp lại mang ra cho mọi người cùng hồi tưởng…

Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép năm nay đã ngoài 80 tuổi. Ông về hưu đã lâu, nhưng không cho phép mình nghỉ ngơi mà vẫn tiếp tục tham gia công tác trong Hội Hữu nghị Xô-Việt, rồi sau này là Hội Hữu nghị Nga-Việt. Hiện ông là Phó chủ tịch Hội Hữu nghị Nga-Việt và hằng ngày ông vẫn đến văn phòng trụ sở Hội đặt tại Học viện Kinh tế và Pháp luật Mát-xcơ-va. Như ông tâm sự, ông “đến để được sống với một miền ký ức thật sâu đậm và đầy tính nhân văn”.

Những hình ảnh về một dân tộc anh hùng, về một cuộc đấu tranh không cân sức nhưng hết sức ngoan cường của quân và dân thủ đô Hà Nội trong trận “Điện Biên phủ trên không” năm 1972 cũng đã được những cựu chuyên gia Liên Xô ghi lại trong cuốn sách nhan đề “Chiến tranh Việt Nam là thế đó (1965-1973)”, xuất bản vào năm 2005. Dịp đó, mặc dù là kỷ niệm tròn 60 năm chiến thắng phát-xít Đức, nhưng những người cựu binh từng ở Việt Nam lại quyết định phát hành cuốn sách này để “những người trong cuộc” như họ có dịp viết ra, hay in lại những ký ức, những phân tích, đánh giá về một cuộc chiến và cũng là để tỏ lòng ngưỡng mộ về một dân tộc anh hùng. Cuốn sách tập hợp 29 bài viết về những trải nghiệm rất sâu sắc, rất sống động và bổ ích ở Việt Nam của các cựu chuyên gia. Những bài viết với những tựa đề khác nhau đã thể hiện được rất rõ những khía cạnh đáng nhớ của cuộc chiến đầy gian khổ, khốc liệt nhưng cũng rất oai hùng của dân tộc Việt Nam.

Đó là các bài viết “Những hồi ức về cuộc chiến tranh Việt Nam” của Thiếu tướng Bê-lốp; “Khẩu đội chiến đấu của chúng tôi” của Thiếu tướng Ca-na-ép; “Giai đoạn kết thúc của cuộc chiến tranh trên không” của Thượng tướng Khiu-pê-nhen, Chủ tịch Hội đồng Thống nhất Liên hiệp Cựu chiến binh của binh chủng Phòng không; “Đã có bao điều trải qua ở Việt Nam…” của Thiếu tướng Đem-sen-kô; “Thử lửa” của Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép; “300 ngày trên đất nước Việt Nam anh hùng” của Đại tá Sô-dơ-ra-nốp; “Cuộc chiến tranh Việt Nam qua sự đánh giá của người đã tham gia” của Đại tá Cô-na-cốp; “Những năm tháng không thể nào quên” của nữ quân nhân Rô-xli-a-cô-va; v.v.. Vào năm 2007, được sự đồng ý của các tác giả, cuốn sách đã được dịch ra tiếng Việt và năm 2008 đã ra mắt bạn đọc Việt Nam. Đây cũng là một cách thiết thực tỏ lòng tri ân đất nước và nhân dân Liên Xô đã gửi những người con thân yêu của mình sang giúp đỡ nhân dân Việt Nam chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược.

Bài và ảnh: THU THANH (từ LB Nga)

Trận “Điện Biên Phủ trên không” trong ký ức các cựu chuyên gia Liên Xô (Kỳ 1)

Trận “Điện Biên Phủ trên không” trong ký ức các cựu chuyên gia Liên Xô (Kỳ 1)

QĐND – Nhắc tới chiến thắng oanh liệt của trận “Điện Biên Phủ trên không” trong 12 ngày đêm của quân và dân ta không thể không nhắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình của các chuyên gia quân sự Liên Xô trước đây. Vào những năm tháng bom đạn ác liệt ấy, nhờ sự truyền đạt và hướng dẫn tận tình của những người bạn tới từ nước Nga, quân và dân ta đã nhanh chóng làm chủ và sử dụng hiệu quả các vũ khí, khí tài trang bị cho lực lượng phòng không-không quân. Đã có hàng nghìn tướng lĩnh, sĩ quan, binh sĩ và hạ sĩ quan của Liên Xô tới làm việc tại Việt Nam vào thời kỳ ấy. Nay, khi chiến tranh đã lùi xa gần ngót nửa thập kỷ, những cựu chuyên gia này vẫn gặp nhau vào những dịp đặc biệt để cùng ôn lại những năm tháng “biết bao nghĩa tình” cùng sống, làm việc và chiến đấu với quân và dân Việt Nam.

Một cuộc gặp gỡ của các cựu chuyên gia quân sự Liên Xô từng làm việc tại Việt Nam

Các cựu chuyên gia Liên Xô ngày đó giờ đây đang cùng tham gia sinh hoạt tại “Tổ chức Xã hội liên khu vực của các cựu chiến binh tại Việt Nam”. Hằng năm, vào những dịp kỷ niệm chiến thắng lịch sử của quân và dân Việt Nam như ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), Ngày Quốc khánh (2-9) hay Ngày truyền thống của lực lượng không quân, hải quân Việt Nam, họ lại cùng nhau họp mặt. Mỗi lần gặp là họ cùng nhau ôn lại truyền thống hào hùng của nhân dân Việt Nam, đánh giá mối quan hệ hữu nghị hai nước Việt – Nga và cùng nhau thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp này bằng những việc làm thiết thực. Vì vậy, dù nhiều chục năm đã qua đi, ký ức về những năm tháng “không thể nào quên” ấy trong mỗi người dường như vẫn vẹn nguyên. Vào những ngày này, khi Việt Nam đang tưng bừng trong không khí kỷ niệm tròn 40 năm Chiến thắng lịch sử “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, các cựu chuyên gia Liên Xô lại gặp nhau và cùng sống lại những ký ức về chiến thắng lịch sử, vang dội thuở nào.

Tất cả họ không thể nào quên những hình ảnh tang thương ở Việt Nam khi Mỹ tiến hành chiến dịch bắn phá miền Bắc, với nhà cửa bị tàn phá, người dân vô tội bị giết hại. Tình hình lúc ấy hết sức cam go cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Và điều để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong mỗi người chính là ý chí bất khuất và tinh thần chiến đấu quả cảm của một dân tộc có truyền thống yêu nước, đã góp phần đem tới chiến thắng lẫy lừng của trận “Điện Biên Phủ trên không”.

Thượng tướng A-na-tô-li Khiu-pê-nhen là người giữ cương vị Trưởng Đoàn cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam giai đoạn cuối cùng và trong thời gian lâu nhất (12-1972/1-1975). Trước ông lần lượt có 5 vị tướng đã đảm nhiệm cương vị này từ năm 1965, khi không quân Mỹ bắt đầu tăng cường ném bom miền Bắc Việt Nam. Ông Khiu-pê-nhen nhận định: “Rất đúng khi gọi sự kiện tháng 12-1972 là trận Điện Biên Phủ trên không của Việt Nam. Mà Điện Biên Phủ của Việt Nam cũng giống như trận Xta-lin-grát của Liên Xô… Điện Biên Phủ của Việt Nam đã kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Điện Biên Phủ trên không đã buộc Đế quốc Mỹ phải rút hết về nước. Khi đó, cuộc đàm phán giữa Mỹ và Việt Nam ở Pa-ri về chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam đang hết sức căng thẳng. Phía Mỹ đã đưa ra những điều kiện mà Việt Nam không thể chấp nhận… Và thế là những trận dội bom xuống Hà Nội đã diễn ra với mưu đồ hủy diệt một đất nước, khuất phục một dân tộc. Nhưng chúng đã không thể đạt được mưu đồ. Bằng truyền thống lịch sử đánh thắng nhiều giặc ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã tiếp tục giành thắng lợi”.

Với ông Phi-líp-pốp (Philippov), một chuyên gia phòng không dày dạn kinh nghiệm đã cùng các chiến sĩ Việt Nam chiến đấu ở khu 4 thời kỳ 12 ngày đêm năm 1972, hình ảnh những người lính Cụ Hồ, những người dân Việt Nam trong chiến đấu đã để lại rất nhiều ấn tượng và sự cảm phục. Ông luôn nhắc đi nhắc lại câu “cảm ơn nhân dân Việt Nam” bởi chính thời gian có mặt ở Việt Nam đã cho ông nhiều trải nghiệm bổ ích. Ông kể: “Vào thời điểm khi tôi sang Việt Nam, các đồng chí Việt Nam đã nắm khá tốt các kỹ thuật quân sự. Trước một cuộc tấn công bằng đường không, các chiến sĩ quân đội Việt Nam luôn sẵn sàng trong tư thế giáng trả… Nhờ các đồng chí Việt Nam, chúng tôi đã rút ra được những kinh nghiệm về việc sử dụng các loại vũ khí để chống lại các phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ. Chính vì thế, chúng tôi cũng phải nói “cảm ơn các bạn Việt Nam”.

Ký ức về những ngày tháng chiến đấu anh dũng của quân và dân Việt Nam dưới bầu trời Hà Nội cũng in đậm trong tâm trí bác sĩ quân y Vích-to Ma-nhi-tren-cô (Victor Marnhitrenko). Ông kể: “Tôi vẫn nhớ rất rõ mọi chuyện trong những năm tháng ở Việt Nam. Ấn tượng sâu đậm về Việt Nam sẽ còn theo tôi đến hết cuộc đời. Đó là những hồi còi và hiệu lệnh báo động, rồi máy bay Mỹ liên tục giội bom… Tôi vẫn thường kể cho các đồng chí của mình về những ký ức của cuộc chiến tranh mà tôi đã có dịp chứng kiến. Nhân dân Việt Nam thật ngoan cường, họ đã chịu đựng không biết bao nhiêu hy sinh, gian lao, vất vả. Tôi tin thế hệ trẻ Việt Nam sau này lớn lên đều sẽ hiểu và trân trọng những hy sinh của những thế hệ cha ông đi trước”.

Bài và ảnh: THU THANH
(từ LB Nga)
qdnd.vn

Không chiến dũng mãnh, hạ cánh tuyệt vời

Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa (*)

QĐND – Tháng 12-1972, trước khí phách quật cường của quân và dân ta, đế quốc Mỹ phải sử dụng đến ván bài cuối cùng là dùng máy bay chiến lược B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng. B-52 là loại phương tiện tác chiến không quân tối tân, hiện đại nhất của Mỹ lúc bấy giờ, được mệnh danh là “siêu pháo đài bay”, có thể mang từ 18 đến 30 tấn bom. Với đội hình 3 chiếc, B-52 trở thành những giàn pháo đài bay có sức tàn phá khủng khiếp.

Phi đội trưởng Nguyễn Văn Nghĩa sau chiến công ngày 23-12-1972. Ảnh do nhân vật cung cấp

Ngày 23-12-1972, tôi được lệnh xuất kích chiến đấu cùng phi công Lê Văn Kiền. Trận không chiến diễn ra tại vùng trời phía Bắc của tỉnh Thanh Hóa. Với ý đồ tiêu diệt lực lượng không quân ta, hôm đó, không quân Mỹ có 24 máy bay F4 (chia làm 6 tốp), ta vẫn sử dụng biên đội 2 chiếc MiG-21. Trước đó, ngày 22-12, nhân dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, biên đội của các anh Nguyễn Đức Soát và Nguyễn Thanh Quý đánh một trận không thành công, nhưng may mắn Nguyễn Thanh Quý nhảy dù an toàn. Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Nhị giao nhiệm vụ trực tiếp cho tôi tham gia đánh trận ngày hôm sau (thời gian này, tôi đã được điều động sang Đại đội 11 để bay huấn luyện cho phi công trẻ mới về nước). 14 giờ ngày 23-12-1972, biên đội được lệnh vào cấp 1 và ngay lập tức nhận được lệnh “Ấp Bắc – Cờ Hồng” (mật mã mở máy – cất cánh). Chúng tôi tăng lực lấy độ cao ngay lên 8000m, hướng bay 200, sau đó 290, tốc độ 1.200km/h. Tôi hiểu tình huống rất khẩn cấp, trận chiến sẽ phức tạp vì ý đồ của Không quân Mỹ đã rõ ràng. Quả đúng như vậy, biên đội được thông báo “Quạ đen 6 tốp, bên phải 45 độ, cự ly 25km, độ cao 6000m”. Tôi nhắc số 2 giữ cự ly, bám chặt biên đội và chú ý quan sát. Trong chốc lát, tôi phát hiện bên phải có một tốp 4 chiếc F4, cự ly khoảng 20km, cùng lúc số 2 hô “ Bên trái 4 chiếc”. Tôi hiểu lực lượng địch đông gấp nhiều lần ta; phải đánh ra sao đây? Tôi quyết định chọn hướng đánh thẳng vào tốp bên phải và ra lệnh “Số 2 tấn công tốp bên trái!”. Trong tình thế gay go, địch vòng trong, vòng ngoài, chúng tôi vừa tránh đạn vừa lừa thế đánh, chọn một tình thế thật chắc chắn mới phóng tên lửa. Người bắt đầu vã mồ hôi, mặt phù lên vì liên tục phải chịu tải gia trọng lớn; máy bay có lúc bị chấn động bởi tên lửa đối phương. Tưởng chừng đã bất lực, nhưng liền sau đó tiếng chỉ huy của anh Nguyễn Hồng Nhị vang lên trong máy: “Kiên quyết tấn công. Đánh nhanh, rút nhanh”. Đó cũng là lúc tôi chiếm lĩnh được vị trí tấn công có lợi nhất. Đưa một chiếc F4 vào vòng ngắm, chớp thời cơ, tôi ấn nút phóng tên lửa. Máy bay “con ma” bốc cháy. Số 2 của tôi reo vang trong máy. “Cháy rồi !”. Tôi kéo máy bay lên cao và lật úp máy bay lại, phát hiện phía dưới, bên trái một chiếc F4 đang vòng phải, tôi nhanh chóng để tăng lực vòng gấp chiếm bán cầu phía sau chiếc F4, chỉnh điểm ngắm và phóng quả tên lửa còn lại ở cự ly 1000m, rồi giật mạnh cần lái để thoát ly gấp, không kịp quan sát điểm nổ. Liền sau đó, tôi gọi số 2 và nghe Lê Văn Kiền trả lời “Nghe tốt!”. Tôi vui mừng khôn xiết vì số 2 của tôi vẫn an toàn.

Tôi lệnh cho số 2 thoát ly về sân bay Đa Phúc. Gần về đến sân bay Đa Phúc thì được thông báo tất cả các sân bay đều bị máy bay Mỹ phong tỏa và đánh phá đường băng. Lượng dầu của máy bay cạn dần. Sở chỉ huy ra lệnh cho chúng tôi bay về khu vực Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc, giữ độ cao 4000m để nhảy dù, bảo toàn tính mạng, nhưng tôi quyết định không nhảy dù và điều khiển máy bay bay về sân bay Đa Phúc, quyết tâm phải hạ cánh bằng được, cho dù phải hạ ở đường lăn, hoặc kéo dắt máy bay đi sơ tán. Tôi nghĩ lực lượng phi công của ta còn ít, nếu tôi nhảy dù, ít nhất phải 3 đến 4 tháng sau mới bay lại được. Hạ cánh, cho dù máy bay bị hỏng, tôi vẫn có thể lên máy bay khác tiếp tục chiến đấu. Với suy nghĩ đó, tôi quyết định phải hạ cánh bằng bất cứ giá nào. Và tôi đã hạ cánh thành công xuống đường lăn sân bay trong trạng thái đất đá văng tứ tung do bom đạn từ máy bay Mỹ đánh phá đường băng trước đó. Khi tiếp đất xuống đường lăn, nhiều máy bay Mỹ vẫn tiếp tục khống chế, chúng dùng súng Miligan 20mm bắn vào máy bay của tôi, nhưng rất may là tôi vẫn đưa máy bay vào ụ sơ tán an toàn.

Chiếc máy bay F4 tôi bắn rơi ngày 23-12-1972 là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” bị Không quân ta bắn hạ. Với những thành tích trong chiến đấu, tôi đã được tặng thưởng 6 Huy hiệu của Bác Hồ, 6 Huân chương Chiến công các loại.

PHAN TÙNG SƠN (ghi)
qdnd.vn

————————————–

(*) Anh hùng LLVT nhân dân, nguyên Phi đội trưởng tiêm kích MiG 21; nguyên Phó sư đoàn trưởng Chính trị Sư đoàn không quân 370; nguyên Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam.