Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

VI – Sửa đổi lối làm việc – Chống thói ba hoa

1. Thói ba hoa là gì?

Chúng ta chống bệnh chủ quan, chống bệnh hẹp hòi, đồng thời cũng phải chống thói ba hoa. Vì thói này cũng hại như hai bệnh kia. Vì ba thứ đó thường đi với nhau. Vì thói ba hoa còn, tức là bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi cũng chưa khỏi hẳn.

Thói ba hoa từ đâu ra?

Vì chúng ta trước kia học chữ Hán, sau này học chữ Pháp, cho nên khi nói khi viết, hay dùng chữ Hán và theo cách Pháp. Thành thử dài dòng mà khó hiểu, khó nghe. Lại cũng vì chủ quan và hẹp hòi.

Thói ba hoa tỏ ra nhiều vẻ.

a) Dài dòng, rỗng tuếch – Nhiều anh em hay viết dài. Viết dòng này qua dòng khác, trang này qua trang khác. Nhưng không có ích cho người xem. Chỉ làm tốn giấy tốn mực, mất công người xem. Khác nào vải bǎng bó mụn lở, đã thối lại dài.

Viết làm gì dài dòng và rỗng tuếch như thế? Chỉ có một cách trả lời: là quyết không muốn cho quần chúng xem. Vì đã dài lại rỗng, quần chúng trông thấy đã lắc đầu, ai còn dám xem nữa? Kết quả chỉ để cho những ai vô công rồi nghề xem, và người xem cũng mắc phải thói xấu như người viết.

Trong lúc kháng chiến này, chiến sĩ trước mặt trận phải đánh giặc, đồng bào ở hậu phương phải tǎng gia sản xuất. Ai có thời giờ đâu mà xem những bài dài quá.

Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài.

Thế những sách lý luận, hoặc cuốn sách này chẳng hạn, không phải dài sao?

Phải. Nó dài, nhưng mỗi câu, mỗi chữ có một ý nghĩa, có một mục đích, không phải rỗng tuếch.

Tục ngữ nói: “Đo bò làm chuồng, đo người may áo”. Bất kỳ làm việc gì cũng phải có chừng mực. Viết và nói cũng vậy. Chúng ta chống là chống nói dài, viết rỗng. Chứ không phải nhất thiết cái gì cũng phải ngắn mới tốt.

Viết và nói cố nhiên phải vắn tắt. Song trước hết phải có nội dung. Phải chữa cho hết bệnh nói dài, viết rỗng.

b) Có thói “cầu kỳ” – Trên các báo, sách, bức tường, thường có những bức vẽ, những khẩu hiệu, nhiều người xem không ra, đọc không được.

Họ cho thế là “mỹ thuật”. Kỳ thực, họ viết, họ vẽ, để họ xem thôi.

Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem.

Nhiều người tưởng: mình viết gì, nói gì, người khác cũng đều hiểu được cả. Thật ra, hoàn toàn không như thế. Dùng cả đoạn chữ Hán, dùng từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây, mỗi câu dài dằng dặc, thì quần chúng hiểu sao được?

Tục ngữ nói “gẩy đờn tai trâu” là có ý chế người nghe không hiểu. Song những người tuyên truyền mà viết và nói khó hiểu, thì chính người đó là “trâu”.

Muốn làm bạn, phải hiểu nhau. Nếu không hiểu nhau, không thành bạn. Người tuyên truyền không điều tra, không phân tách, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại.

c) Khô khan, lúng túng – Nói đi nói lại, cũng chẳng qua kéo ra những chữ “tích cực, tiêu cực, khách quan, chủ quan”, và một xốc danh từ học thuộc lòng. Thậm chí những danh từ đó dùng cũng không đúng. Chỉ làm cho quần chúng chán và ngủ gật.

Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới nói lọt tai quần chúng.

Tục ngữ có câu: “Học ǎn, học nói, học gói, học mở”. Nói cũng phải học, mà phải chịu khó học mới được. Vì cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất giản đơn. Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi viết, khi nói, khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực.

Tiếng ta còn thiếu, nên nhiều lúc phải mượn tiếng nước khác, nhất là tiếng Trung Quốc. Nhưng phải có chừng có mực. Tiếng nào ta sẵn có thì dùng tiếng ta.

Có nhiều người có bệnh “dùng chữ Hán”, những tiếng ta sẵn có không dùng mà dùng chữ Hán cho bằng được. Thí dụ: ba tháng không nói ba tháng mà nói “tam cá nguyệt”. Xem xét, không nói xem xét mà nói “quan sát”, v.v..

Nhưng sẽ “tả” quá nếu những chữ Hán đã hoá thành tiếng ta, ai cũng hiểu, mà cố ý không dùng. Thí dụ: Độc lập mà nói “đứng một”, du kích thì nói “đánh chơi”. Thế cũng là tếu.

Chúng ta không chống mượn tiếng ngoại quốc để làm cho tiếng ta đầy đủ thêm. Nhưng chúng ta phải chống cách mượn không phải lối, mượn đến nỗi bỏ cả tiếng ta, đến nỗi quần chúng không hiểu.

Chẳng những các người phụ trách tuyên truyền, những người viết báo, viết sách, những người nghệ sĩ là người tuyên truyền, mà tất cả cán bộ, tất cả đảng viên, hễ những người có tiếp xúc với dân chúng đều là người tuyên truyền của Đảng. Vì vậy, ai cũng phải học nói nhất là học nói cho quần chúng hiểu.

Nhiều người, trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại cái mình đã nói rồi. Lúng túng như gà mắc tóc. Thôi đi thì trẽn. Nói nữa thì chán tai.

d) Báo cáo lông bông – Một là báo cáo giả dối. Thành công ít, thì suýt ra nhiều. Còn khuyết điểm thì giấu đi, không nói đến. Thành thử cấp trên không hiểu rõ tình hình mà đặt chính sách cho đúng. Hoặc báo cáo chậm trễ. Thành thử khi cấp trên nhận được báo cáo, thì việc đã trễ rồi, không đối phó kịp.

Hai là trong báo cáo chỉ thấy 1, 2, 3, 4 hoặc a, b, c, v.v.. Không nêu rõ vấn đề ra. Không phân tách, không đề nghị cách giải quyết các vấn đề. Không nói rõ tán thành hoặc phản đối.

Sao gọi là vấn đề ? Khi việc gì có mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết, tức là có vấn đề. Khi đã có vấn đề, ta phải nghiên cứu cho rõ cái gốc mâu thuẫn trong vấn đề đó là gì. Phải điều tra, phải nghiên cứu cái mâu thuẫn đó. Phải phân tách rõ ràng và có hệ thống, phải biết rõ cái nào là mâu thuẫn chính, cái nào là mâu thuẫn phụ. Phải đề ra cách giải quyết.

Gặp mỗi vấn đề, đều phải kinh qua ba bước: đề nó ra, phân tách nó (điều tra, nghiên cứu, sắp đặt), giải quyết nó.

Khi viết một bài hoặc khi diễn thuyết cho khỏi rỗng tuếch, cũng phải như thế.

đ) Lụp chụp cẩu thả – Những tệ kể trên, một phần vì thiếu kinh nghiệm, mà một phần vì tính lụp chụp, cẩu thả.

Một thí dụ rất rõ ràng: mỗi ngày, chúng ta ai cũng rửa mặt. Rửa mặt rồi, thì chải đầu. Nhiều người chải đầu rồi, còn soi gương xem đã sạch, đã mượt chưa. Nếu viết bài và diễn thuyết cũng cẩn thận như thế thì chắc không đến nỗi có nhiều khuyết điểm.

Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết.

Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn.

Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo, hoặc thảo một bài diễn vǎn, nhất định phải đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu những chữ thừa, vô ích bỏ đi.

Rửa mặt phải kỳ xát vài ba lần mới sạch. Viết vǎn, diễn thuyết cũng phải như vậy.

e) Bệnh theo “sáo cũ” – Chẳng những viết, nói, có thói ba hoa, mà huấn luyện, khai hội cũng mắc chứng đó.

Mở lớp huấn luyện là một việc rất tốt, rất cần. Nhưng phải hiểu rằng: học cốt để mà làm. Học mà không làm được, học mấy cũng vô ích.

Vì vậy huấn luyện phải thiết thực, sao cho những người đến học, học rồi, về địa phương họ có thể thực hành ngay. Nhiều đồng chí ta không hiểu cái lẽ rất giản đơn đó. Cho nên họ đã đưa “thặng dư giá trị” nhồi sọ cho thanh niên và phụ nữ nông dân. Họ đã đưa “tân dân chủ chủ nghĩa” nhồi sọ các em nhi đồng. Họ đã đưa “biện chứng pháp” nhồi sọ công nhân đang học quốc ngữ.

Chỉ trong một cuộc khai hội ở địa phương, chúng ta đã có thể thấy rất nhiều khuyết điểm.

1. Kém chuẩn bị – Đảng viên đến chỗ khai hội rồi, mà cũng chưa biết vì việc gì mà khai hội. Đến khi chủ tịch mời mọi người phát biểu ý kiến thì quần chúng ai có sẵn ý kiến mà phát biểu ?

2. Nói mênh mông – Thường thường đại biểu cấp trên đến khai hội với cấp dưới, trong lúc khai hội, chỉ một mình “ông” đại biểu, hay “bà” đại biểu nói, nói hàng hai, ba giờ đồng hồ. Nói mênh mông trời đất. Nói gì cũng có. Nhưng chỉ chừa một điều không nói đến là những việc thiết thực cho địa phương đó, những việc mà dân chúng ở đó cần biết, cần hiểu, cần làm, thì không nói đến!

3. Không đúng giờ – Hẹn khai hội tám giờ thì chín, mười giờ mới đến. Làm mất thời giờ của những người khác. Họ không hiểu rằng: giữ đúng thời giờ là một tính tốt của người cách mạng, nhất là trong lúc kháng chiến này.

4. Giữ nếp cũ – Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, cũng khư khư giữ theo nếp cũ:

1. Tình hình thế giới.

2. Tình hình Đông Dương.

3. Báo cáo công tác.

4. Thảo luận.

5. Phê bình.

6. Giải tán.

Hiểu biết tình hình thế giới và trong nước, cố nhiên là việc hay, việc cần. Nhưng khổ thay! Nếu có đại biểu cấp cao đến, thì ông ấy kéo hàng giờ nào kế hoạch Mácsan, nào xứ Paragoay, nào gì gì, mà bà con không hiểu chi hết ! Nếu chỉ cán bộ cấp xã, thì biết đâu tình hình thế giới mà nói. Thế mà điểm thứ nhất cứ phải là “tình hình thế giới”.

Kết quả là việc thiết thực, việc đáng làm thì không bàn đến.

g) Nói không ai hiểu – Đảng thường kêu gọi khoa học hoá, dân tộc hoá, đại chúng hoá. Khẩu hiệu đó rất đúng. Tiếc vì nhiều cán bộ và đảng viên, có “hoá” gì đâu! Vẫn cứ chứng cũ, nếp cũ đó. Thậm chí, miệng càng hô “đại chúng hoá”, mà trong lúc thực hành thì lại “tiểu chúng hoá”. Vì những lời các ông ấy nói, những bài các ông ấy viết, đại chúng không xem được, không hiểu được. Vì họ không học quần chúng, không hiểu quần chúng.

Nhiều tờ truyền đơn, nhiều bản nghị quyết, nhiều khẩu hiệu của Đảng, mục đích và ý nghĩa rất đúng. Nhưng viết một cách cao xa, mầu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu.

Thí dụ: vừa rồi đây, đi đến đâu cũng thấy dán những khẩu hiệu:

“Chống cô độc”

“Chống chủ quan”

“Chống địa phương”.

Nhưng khi hỏi kỹ, thì hơn chín phần mười cán bộ cấp dưới không hiểu gì hết. Họ nói: cấp trên bảo dán cứ phải dán, chứ thật ra chúng tôi không hiểu. Thậm chí có người luôn miệng đọc là “chống quan địa phương”.

Than ôi! Khẩu hiệu cách mạng của Đảng mà hoá ra lá bùa của thầy cúng. Lỗi đó tự ai ? Thế mà bảo “đại chúng hoá”, “dân tộc hoá” thì hoá cái gì?

Mỗi khẩu hiệu của Đảng phải là cái ý nguyện và mục đích của hàng ức đảng viên và của hàng triệu dân chúng. Mà muốn như thế, phải làm cho dân chúng đều hiểu, phải học cách nói của dân chúng. Nếu không hàng vạn khẩu hiệu cũng vô ích.

h) Bệnh hay nói chữ – Tiếng ta có thì không dùng, mà cứ ham dùng chữ Hán. Dùng đúng, đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu. Nhiều người biết không rõ, dùng không đúng, mà cũng ham dùng, cái hại lại càng to.

Thí dụ: Pháp và Việt gian bắt buộc đồng bào đi biểu tình, mà một tờ báo nọ của đoàn thể viết là những “cuộc biểu tình tự động”. Dùng quân đội quét một vùng, tiếng Trung Quốc gọi là tảo đãng, mà một tờ báo của đoàn thể viết là “tảo đảm”. Lại có tờ viết là”tảo đảng”!

Tục ngữ nói: “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”. Cái bệnh nói chữ đó đã lây ra, đã làm hại đến quần chúng. Vì vậy, có người đã nói:

“Chúng tôi xin thông phong” (xung phong).

“Các đồng chí phải luyến ái nhau” (thân ái nhau), v.v.. Trong một cuộc khai hội phụ nữ, có chị cán bộ nọ lên nói: “Thưa chị em, tôi xin bá cáo kinh nguyệt của tôi trong tháng này”.

Không, đó không phải là những chuyện cười, đó là những chuyện thật. Những chuyện thật đáng đau lòng, do bệnh hay nói chữ sinh ra hoặc do bệnh dốt sinh ra.

2. Cách chữa thói ba hoa.

Trên đây đã kể qua những chứng ba hoa. Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ đều phải ra sức sửa chữa bệnh đó. Nếu không, sẽ có hại to cho công việc của Đảng.

Sau đây là liều thuốc chữa thói ba hoa. Mọi người phải hiểu, phải nhớ, phải thực hành:

1. Phải học cách nói của quần chúng. Chớ nói như cách giảng sách.

Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng.

2. Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu.

3. Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe”?

4. Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết.

5. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: “Chó ba quanh mới nằm. Người ba nǎm mới nói”.

Sau khi viết rồi, phải xem đi xem lại ba, bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi xem lại chín, mười lần.

Làm được như thế – đảng viên và cán bộ ta quyết phải làm như thế – thì thói ba hoa sẽ bớt dần dần cho đến khi hoàn toàn hết sạch mà công việc của Đảng, tư cách của cán bộ và đảng viên sẽ do đó mà tǎng thêm.

Viết xong tháng 10-1947.
Ký tên: X.Y.Z.
Nxb. Sự thật xuất bản lần đầu tiên nǎm 1948, xuất bản lần thứ 7, nǎm 1959.
Theo sách xuất bản lần thứ 7, nǎm 1959.
cpv.org.vn

Hình ảnh màu hiếm về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Phần 2)

Khi xem lại những bức hình về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu dù được tô màu lại, mỗi người Việt Nam đều có cảm giác như Bác vẫn đang ở rất gần.

hinh anh mau hiem 2.1

Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng cụ Tôn Đức Thắng được bầu làm Phó Chủ tịch nước tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá II (tháng 7/1960).Long Hy (Sưu tầm)

hinh anh mau hiem 2.2

Bác Hồ với các Anh hùng, chiến sĩ thi đua miền Nam (1965) – Ảnh Vũ Đình Hồng.

 

hinh anh mau hiem 2.3

Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957. Long Hy (Sưu tầm)

hinh anh mau hiem 2.4

Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch 1969. Long Hy (Sưu tầm)

hinh anh mau hiem 2.5

Ảnh chụp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch năm 1969. Long Hy (Sưu tầm)

hinh anh mau hiem 2.6

Bác Hồ thăm hỏi đồng bào. Long Hy (Sưu tầm)

 

hinh anh mau hiem 2.7

Bác Hồ tại Chiến dịch Biên giới 1950. Long Hy (Sưu tầm)

 

hinh anh mau hiem 2.8. jpeg

Bác Hồ làm việc trong vườn ở Phủ Chủ tịch. Long Hy (Sưu tầm)

 

hinh anh mau hiem 2.10

Bác Hồ với thiếu nhi. Long Hy (Sưu tầm) Long Hy (Sưu tầm)

 

hinh anh mau hiem 2.11

Bác Hồ tự làm vườn trong Phủ Chủ tịch. Long Hy (Sưu tầm)

hinh anh mau hiem 2.12

Bác Hồ tại nhà sàn trong Phủ Chủ tịch. +Long Hy (Sưu tầm)

 

Theo Báo Giáo dục Việt Nam
Huyền Trang (st)

Gửi các cháu nhi đồng cả nước (27-9-1947)

Tết Trung thu là của các cháu. Trǎng thu soi xuống các cháu êm ái như một người mẹ lành.

Nhưng trong thời kỳ nô lệ, các cháu không được ǎn Tết Trung thu.

Từ ngày nước ta được độc lập, các cháu được ǎn Tết Trung thu vui vẻ.

Nǎm nay vì thực dân hung ác, muốn cướp nước ta, chúng ta phải ra sức kháng chiến để giữ lấy Tổ quốc, để các cháu khỏi phải làm nô lệ. Người lớn kháng chiến, trẻ con cũng kháng chiến.

Vì vậy nǎm nay nhiều cháu xa cha rời mẹ, tản cư đến núi đỏ rừng xanh. Nhiều cháu chịu khó nhọc hǎng hái giúp việc các anh trong bộ đội. Các cháu ở hậu phương, thấy đồng bào hy sinh cực khổ, không nỡ ǎn Tết Trung thu vui sướng một mình.

Thấy các cháu không được ǎn Tết, lòng Bác rất áy náy, và thêm cǎm giận bọn thực dân phản động Pháp. Chắc các cháu cũng vậy nhỉ?

Bác hứa với các cháu : Các bác, các chú, toàn cả đồng bào, sẽ ra sức tranh đấu, để sớm đuổi bọn thực dân phản động, để trường kỳ kháng chiến sớm thắng lợi, thống nhất độc lập sớm thành công, để các cháu được ǎn Tết Trung thu vui vẻ như nǎm kia, nǎm ngoái. Và Bác sẽ ǎn Tết vui vẻ với các cháu, gửi kẹo bánh cho các cháu.

Bác khuyên các cháu ra sức học hành, làm việc. Nǎm nay chúng ta không ǎn Tết, nǎm sau chúng ta sẽ ǎn Tết linh đình hơn.

Bác hôn các cháu
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 713,
ngày 27-9-1947.
cpv.org.vn

Trả lời nhà báo Mỹ S. Êli Mâysi (9-1947)(1)

1. Hỏi : Thưa Chủ tịch, vấn đề Việt Nam có nên coi như một vấn đề quốc tế không? hay chỉ nên coi như là một vấn đề Việt – Pháp trong khối Liên hiệp Pháp?

Đáp : Cái đó còn tuỳ hoàn cảnh sau này. Nếu chiến sự cứ tiếp tục, vấn đề Việt Nam nhất định trở nên vấn đề quốc tế. Nhưng nếu hai bên Việt và Pháp có thể thoả thuận với nhau để mau chấm dứt cuộc chiến tranh, vấn đề Việt Nam chỉ còn giữa nước Pháp và Việt Nam thôi.

2. Hỏi : Ngài có cho rằng giữa nước Việt Nam và Chính phủ Pháp còn có thể thoả hiệp được không?

Đáp: Rất có thể có sự thoả hiệp, với điều kiện là nước Pháp thành thực công nhận thống nhất và độc lập của nước Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp.

3. Hỏi: Nếu có một cuộc điều đình với nước Pháp, thì Việt Minh sẽ sẵn sàng hợp tác với những phần tử Việt Nam nào?

Đáp : Cuộc kháng chiến là một vấn đề sinh tử của dân tộc Việt Nam. Đó không phải là một vấn đề đảng phái. Chính phủ Việt Nam gồm một đa số các người không đảng phái và một thiểu số đại biểu các đảng ái quốc trong số đó Việt Minh chiếm con số rất nhỏ.

4. Hỏi : Theo ý Ngài, ông Vĩnh Thụy có đủ tư cách để điều đình với người Pháp không?

Đáp: Ông Vĩnh Thuỵ là Cố vấn trong Chính phủ Dân chủ Cộng hoà Việt Nam đã tuyên thệ trung thành trước Quốc hội, trước chính phủ và trước quốc dân. Ông ta chỉ có tư cách đứng ra điều đình khi nào được Chính phủ Cộng hoà Việt Nam uỷ quyền.

5. Hỏi : Trước những tin đồn rằng Bảo Đại hiện nay chịu ảnh hưởng người Mỹ, Ngài nghĩ sao?

Đáp : Tôi chả nghĩ gì cả. Những tin đồn là những tin đồn. Xin để người Pháp kiểm soát lại những tin đồn đó.

6. Hỏi : Tại sao từ trước tới nay, Ngài không thử đem vấn đề Việt Nam ra trước Liên hợp quốc?

Đáp : ấy vì chúng tôi còn tin tưởng vào sự khôn ngoan của dân chúng Pháp.

7. Hỏi: Nếu cuộc điều đình không tiếp tục lại một ngày gần đây, Chính phủ Ngài sẽ định thái độ ra sao?

Đáp: Chúng tôi sẽ tiếp tục tranh đấu cho tới khi nào giành được thống nhất và độc lập cho Tổ quốc chúng tôi.

8. Hỏi: Ngài có tin rằng nước Việt Nam độc lập có thể làm tròn nhiệm vụ do địa thế quân sự rất quan trọng của nước Ngài tại Đông Nam á châu đặt ra không?

Đáp : Tôi hoàn toàn chắc chắn làm được.

9. Hỏi : Ngài cho biết những đại cương chính sách đối ngoại của nước Việt Nam (thứ nhất là dựa theo tình thế quốc tế hiện giờ)?

Đáp : Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai.

10. Hỏi : Thưa Chủ tịch, thật là một điều đại vinh hạnh cho tôi đã được Chủ tịch trả lời những câu hỏi trên đây. Nhân tiện tôi xin tỏ lòng cảm ơn Ngài, cũng tỏ lòng thành kính đối với Ngài, lòng thành kính mà tôi đã có từ ngày gặp Ngài trên đất Pháp, tại khách sạn Môngxô.

Đáp : Tôi gửi Ngài lời chào thân ái.

Trả lời tháng 9-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.42-43.
cpv.org.vn

——————————

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Điện vǎn trả lời chi bộ Đảng xã hội Pháp ở Sài Gòn (1-10-1947)

Lập trường của chúng tôi vẫn như trước, không thay đổi, ấy là nền độc lập và sự thống nhất của nước Việt Nam, ấy là tinh thần hữu hảo, sự tin cậy và sự hợp tác giữa hai dân tộc Việt – Pháp. ấy là chính sách đã được Thủ tướng Lêông Blum và Hội nghị Liông bênh vực. Thế mà, để trả lời cho chính sách ấy, bộ chỉ huy Pháp vừa mở một cuộc tấn công mùa đông rộng lớn, và người ta tìm cách giấu không cho nhân dân Pháp biết rõ sự thật ấy. Chính phủ và nhân dân Việt Nam lúc nào cũng sẵn sàng chấm dứt cuộc xung đột, và đặt lại nền hoà bình một khi mà nước Pháp trịnh trọng tuyên bố nhìn nhận nền độc lập và sự thống nhất của chúng tôi.

Chào thân ái
Tháng 10 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 221.
cpv.org.vn

Lời nói chuyện trong buổi lễ bế mạc lớp bổ túc trung cấp (10-10-1947)

Hôm nay tôi không muốn làm diễn vǎn. Tôi chỉ hỏi các chú một vài câu. Ai trả lời được thì giơ tay lên.

Mục đích của toàn dân và bộ đội trong giai đoạn này là gì?

Một học viên đáp:

– Thưa Cụ, mục đích của dân và bộ đội trong giai đoạn này là phải kháng chiến.

– Muốn kháng chiến có thắng lợi phải thế nào?

Một học viên khác trả lời :

– Muốn kháng chiến thắng lợi cán bộ phải cho tốt.

– Muốn thành cán bộ tốt phải thế nào?

Vấn đề này các chú chưa thạo.

Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sự giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây:

Trí – Tín – Nhân – Dũng – Liêm.

Nói rõ nghĩa:

Trí : Là sáng suốt, biết địch biết mình, biết người tốt thì nâng đỡ, biết người xấu thì không dùng, biết cái tốt của mình mà phát triển lên, biết cái xấu của mình để mà tránh.

Tín : Nói cái gì phải cho tin – nói và làm cho nhất trí – làm thế nào cho dân tin – cho bộ đội tin ở mình.

Nhân : Là phải có lòng bác ái – yêu nước, yêu đồng bào, yêu bộ đội của mình.

Dũng: Là phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều. Phải có kế hoạch, rồi kiên quyết làm ngay. Nguy hiểm cũng phải làm. Nghĩa là phải có lòng dũng cảm trong công việc.

Liêm: Là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, hy sinh cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa, thì không tham gì hết. Các chú phải nhớ lấy 5 điều trên.

– Người ta ai cũng có tính tốt và tính xấu. Muốn sửa tính xấu phải làm thế nào?

– Tự phê bình rồi lại phải phê bình người khác nữa. Ví dụ: tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người. Trong số các đồng chí có hơn 50 người nếu mỗi người có một khuyết điểm, thì đã có một số khuyết điểm lớn. Trong những bức thư tôi nhận được của các đồng chí về việc kiểm điểm những lầm lỗi của mình, tôi tìm được 150 khuyết điểm. Thấy cái xấu của người mà không phê bình là một khuyết điểm rất to. Không phê bình, tức là để cho cái xấu của người ta phát triển.

– Các đồng chí là một đoàn thể, một gia đình thì phải thật thà đoàn kết. Đoàn kết và kỷ luật làm cho bộ đội mạnh, đoàn thể mạnh. Nếu ta không trọng kỷ luật, thì ta làm cho bộ đội yếu đi, đoàn thể yếu đi. Một mệnh lệnh gì từ trên xuống, của Bộ Quốc phòng hay Bộ tổng chỉ huy đều phải đến khu, đến các trung đoàn, các đoàn thể và phải xuống tới tận người đội viên. Nếu mệnh lệnh đến khu rồi mắc nghẽn không xuống dưới nữa, tức là khu không theo kỷ luật. Bộ đội sẽ kém sức mạnh. Mệnh lệnh cũng như dòng

máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà mắc nghẽn, thì tay bại. Tay bại người sẽ yếu đi. Các đồng chí cũng biết thời gian là quý. Dụng binh thắng bại nhiều lúc quyết định trong nǎm, mười phút. Vậy các đồng chí phải làm sao cho những mệnh lệnh ở trên xuống được nhanh chóng và thi hành chu đáo.

– Người cán bộ muốn tốt thì phải có đạo đức cách mạng, phải biết phê bình và tự phê bình, phải biết kỷ luật. Tôi nói mấy lời trên, các đồng chí có giữ được không?

Báo Vệ quốc quân,
số 15, ngày 10-10-1947.
cpv.org.vn

Thư khen ngợi hai cụ già du kích Kiến An (21-10-1947)

Kính gửi hai cụ,

Hai cụ thật xứng đáng với tổ tiên oanh liệt của ta, các phụ lão đời Trần đời Lê, chẳng những kêu gọi con cháu, mà tự mình hǎng hái tay chống gậy, tay cầm dao giết giặc cứu nước.

Ngày 21 tháng 10 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 222.
cpv.org.vn

Thư gửi những người Nam Bộ trong quân đội Pháp (10-1947)

Đồng bào Nam Bộ có tiếng rất yêu nước, rất anh hùng. Cuộc kháng chiến anh dũng hơn hai nǎm nay đã chứng rõ điều đó.

Có những đồng bào Nam Bộ muốn giúp nước bởi một con đường khác: Họ theo vào quân đội Pháp, để giúp ta bên trong. Đó là một khổ tâm mà tôi biết rõ, vì tôi đã nhận được nhiều chứng thực.

Vậy, những đồng bào đó, lúc còn ở trong bộ đội địch, thì cần phải tìm đủ mọi cách để giúp quân đội ta. Khi có cơ hội thì lập tức chạy qua với bộ đội ta. Chính phủ và đồng bào luôn luôn sẵn sàng hoan nghênh các bạn.

Tháng 10 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1949, t.2, tr.44.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Giám đốc và toàn thể nam nữ giáo viên bình dân học vụ khu III (10-11-1947)

Ngày 10 tháng 11 nǎm 1947

Tôi rất vui lòng nhận được báo cáo rằng trong tháng vừa rồi toàn khu đã có:

2.030 làng hoạt động 7.768 lớp học

8.153 giáo viên 328.308 học trò

42 lớp huấn luyện cho giáo viên và 1.182 giáo viên dự bị.

Tôi lại đặc biệt khen ngợi tỉnh Hải Dương đã có 6 làng mà tất cả nhân dân đều biết chữ, là những làng Vǎn Lâm, Lai Cầu, Vǎn Xương, Hạnh Tân, Đông Đào, Thống Đô.

Được thành tích tốt đó, là nhờ sự chỉ đạo khôn khéo của ông giám đốc và sự hǎng hái cố gắng của toàn thể anh chị em giáo viên.

Tuy vậy theo báo cáo thì khu III đang còn hơn 381.000 đồng bào chưa biết chữ. Tôi mong rằng ông giám đốc, các giáo viên và các cơ quan đoàn thể cố gắng làm thế nào để chừng tháng 6 nǎm sau toàn thể nhân dân khu III từ 8 tuổi trở lên đều biết chữ. Đó sẽ là một cuộc thắng lợi, mà khu III sẽ là một khu kiểu mẫu.

Đồng thời tôi mong rằng các lớp bình dân học vụ chẳng những dạy cho đồng bào học chữ, làm tính mà dạy thêm về công cuộc kháng chiến, cứu nước, tǎng gia sản xuất, giúp mùa đông binh sĩ, giúp đồng bào tản cư, khoa học thường thức.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn và khen ngợi ông giám đốc và tất cả nam nữ giáo viên đã xung phong dũng cảm trên mặt trận vǎn hoá và chắc rằng ở mặt trận này chúng ta sẽ thắng lợi như mọi mặt trận khác.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 223-224.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào xã Duyên Trang, huyện Tiên Hưng, Thái Bình (13-11-1947)

Tôi nhận được báo cáo rằng sau kỳ thi ngày 6-9 nǎm nay, toàn dân xã Duyên Trang từ tám tuổi trở lên đều thoát nạn mù chữ.

Về mặt vǎn hoá, đó là một cuộc đại thắng lợi của dân ta, nhất là cho đồng bào làng ta. Tôi rất sung sướng thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi đồng bào toàn xã, và cảm ơn các vị phụ lão thân hào đã ra sức giúp đỡ, các cán bộ bình dân học vụ đã cố gắng dạy dỗ.

Nhưng học hành là vô cùng. Học càng nhiều biết càng nhiều càng tốt, vậy tôi khuyên đồng bào trong xã gắng học thêm thường thức như làm tính, lịch sử, địa dư, chính trị, vệ sinh. Đồng thời cố gắng tǎng gia sản xuất ủng hộ kháng chiến.

Đồng thời tôi khuyên đồng bào các xã xung quanh phải theo gương vẻ vang của xã Duyên Trang gắng sức học hành, để tiêu diệt giặc dốt, làm cho huyện Tiên Hưng thành một huyện kiểu mẫu.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 13 tháng 11 nǎm 1947

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr.225.
cpv.org.vn

Lời tuyên bố với các nhà báo về cuộc gặp gỡ Bảo Đại – Bôlae (8-12-1947) (1)

Trong lúc toàn thể đồng bào hy sinh tranh đấu đòi thống nhất và độc lập thì Cố vấn Vĩnh Thuỵ trú ở nước ngoài không hiểu rõ tình hình trong nước. Vả lại Cố vấn Vĩnh Thuỵ ở xa, không khỏi bị những thám tử Pháp như bọn Cutxô (Cousseau) bưng bít và những người vô xỉ như Nguyễn Hải Thần, Lê Vǎn Hoạch, v.v. bao vây, cho nên Cố vấn Vĩnh Thuỵ rất có thể nghe những lời hứa hẹn suông của bọn thực dân Pháp, mà đi gặp chúng.

Nếu Cố vấn Vĩnh Thuỵ biết rõ tình hình trong nước thì chắc Cố vấn không bị chúng lừa bịp.

Cố vấn Vĩnh Thuỵ cũng thừa hiểu rằng: Thực dân phản động Pháp rất mực xảo quyệt, khi còn ở ngoài vòng thì gì chúng cũng hứa, một khi đã vào tròng thì sẽ bị chúng thắt chặt. Lúc đó phàn nàn thì đã trễ rồi.

Chính phủ ta và nhân dân ta rất mong Cố vấn Vĩnh Thuỵ không có những hành động trái ngược với những lời Cố vấn đã thề trước Tổ quốc và trước đồng bào, trái với nguyện vọng của dân tộc. Dù sao vận mệnh của dân tộc sẽ không vì một người, hoặc một nhóm người mà thay đổi.

Chính phủ ta, toàn thể đồng bào và toàn thể tướng sĩ ta đã đồng tâm nhất trí, kiên quyết kháng chiến, tranh cho kỳ được thống nhất và độc lập thật sự. Bất kỳ mưu mô gì, bất kỳ lực lượng nào cũng quyết không thể lừa gạt hoặc giảm bớt lòng kiên quyết của dân ta hoặc trở ngại cuộc thắng lợi cuối cùng của dân ta.

Nói ngày 8-12-1947.
Báo Sự thật, số 88,
ngày 19-12-1947.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Điện gửi Giám mục Lê Hữu Từ (8-12-1947)

Gửi Giám mục Lê Hữu Từ
Phát Diệm – Ninh Bình,

Nhân dịp Lễ Nôen, tôi kính chúc cụ mọi sự lành để phụng sự Đức Chúa và để lãnh đạo đồng bào công giáo tham gia kháng chiến, đặng tranh lại thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Tôi nhờ cụ chuyển lời tôi chúc phúc cho toàn thể đồng bào công giáo.

Ngày 8 tháng 12 nǎm 1947
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh
lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn