Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tấm lòng Bác Hồ đối với thương binh, gia đình liệt sỹ

Luôn dành tình cảm, sự quan tâm sâu sắc đến những người con của các gia đình liệt sỹ, ngay từ tháng 11 năm 1946, giữa bộn bề công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những chiến sỹ đã hy sinh, “gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sỹ”, “nhận con các liệt sỹ làm con nuôi”(1), đồng thời đề nghị Ban Hành chính các địa phương toàn quốc phải báo cáo về các trường hợp con liệt sỹ, và sau khi xác định đúng sự thật thì đóng dấu chứng nhận rồi gửi ngay về Văn phòng Chủ tịch ở Hà Nội.

Đối với những thương binh, bệnh binh, Người khẳng định: Lòng yêu nước, chí kiên quyết của các chiến sỹ thật là đáng quý! Họ “thật xứng đáng với Tổ quốc, và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên những người con yêu quý như thế”… Tuy nhiên, Người cũng căn dặn, chớ nên công thần, ỷ lại và cũng tránh mặc cảm, tự ti để luôn cố gắng vươn lên “tàn mà không phế”. Trên tinh thần đó, Người biểu dương: Đồng chí Trần Chút (ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh), dù mất một tay, đã bốn lần liền được bầu làm Chiến sỹ nông nghiệp trong tỉnh, được cử đi dự Đại hội Anh hùng, Chiến sỹ thi đua toàn quốc. Đồng chí Nguyễn Văn Hơn (miền Nam), mất một tay, về sản xuất ở xã Liên Thành đã được bầu làm Chiến sỹ nông nghiệp tỉnh Nghệ An. Đồng chí Phạm Hữu Hoạt, mất một chân, là Chiến sỹ xuất sắc về ngành Chăn nuôi. Đồng chí Phạm Văn Tiêm, ở Nông trường quốc doanh Đông Hiếu, 12 lần được khen thưởng, được bầu làm Chiến sỹ thi đua toàn ngành, v.v. cùng nhiều chiến sỹ gương mẫu khác nữa. Quyết định chọn ngày 27 tháng 7 hàng năm là Ngày Thương binh – Liệt sỹ, “lòng Bác và Chính phủ cùng toàn thể quân đội và nhân dân” đã luôn ở bên cạnh, tiếp sức, chia sẻ với những đau thương mất mát của các thương binh, gia đình liệt sỹ. Người xung phong gửi một chiếc áo lót lụa,… một tháng lương… một bữa ăn của mình và các nhân viên tại Phủ Chủ tịch với tổng cộng là 1.127 đồng để giúp các chiến sỹ bị thương. Người động viên và hoan nghênh đồng bào tùy hoàn cảnh mà gửi thư, tặng quà hoặc quyên giúp quà tặng cho những thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ. Không chỉ “nghiêng mình trước linh hồn các chiến sỹ và các đồng bào đã hy sinh vì Tổ quốc”, mong họ “chí quyết thắng ngày càng vững chắc”, Người còn nhiều lần tặng những món quà, như khăn mặt, áo quần mà đồng bào các nơi đã gửi biếu, hoặc gửi lương của Người, tặng Huy hiệu v.v… đến cho các thương binh, bệnh binh, đồng thời nhờ Bộ trưởng Bộ Thương binh, cựu binh chuyển lời thân ái của Người “an ủi những chiến sỹ và đồng bào hoặc bị thương”, chia sẻ, động viên gia đình thân nhân các liệt sỹ. Nhân ngày Ngày Thương binh – Liệt sỹ năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho Ban Tổ chức chiếc áo lụa mà chị em phụ nữ đã biếu Người để bán đấu giá gây quỹ giúp thương binh. Thể hiện lòng biết ơn đối với thương binh, nhiều tập thể và cá nhân muốn mua chiếc áo ấy. Cuối cùng, Liên hiệp Công đoàn Bắc Kạn đã mua được với giá cao nhất: 46.700 đồng Đông Dương. Trong khi đó, ở Nam Bộ, ông Cao Triều Phát cũng vận động bà con tín đồ đạo Cao Đài mua chiếc áo ấy với giá 100.000 đồng Đông Dương, nhưng do giao thông khó khăn cho nên bức điện của ông đến Ban Tổ chức quá muộn. Nhận được điện do Ban Tổ chức chuyển đến, Liên hiệp Công đoàn tỉnh Bắc Kạn quyết định gửi tặng chiếc áo này cho ông Cao Triều Phát và tín đồ đạo Cao Đài ở Nam Bộ. Sau khi nghe Ban Tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc báo cáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư cho ông Cao Triều Phát. Cùng với bức thư, Người cũng gửi tặng ông tấm ảnh của mình làm kỷ niệm. Tấm ảnh này được in trên giấy ảnh cũ, trên đầu bức ảnh có dòng chữ viết tay mực tím “Tặng ông Cao Triều Phát. Đoàn kết – Kháng chiến – Thống nhất – Độc lập”. Phía dưới bức ảnh ở bên trái có ghi dòng chữ viết tay mực tím “10-47”, bên phải có chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng mực tím ở trên dấu triện vuông của Người. Áo, thư và ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh được giao cho ông Bùi Thái Dương mang vào Nam Bộ trao trực tiếp cho ông Cao Triều Phát. Nhưng lúc đó ông Cao Triều Phát đang bận công tác, nên ông Thái Dương đành viết thư xin cáo lỗi và nhờ Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ chuyển tới ông và quý đạo hữu tín đồ thư và quà tặng của Người. Ông Cao Triều Phát đã giữ gìn chiếc áo, bức thư và tấm ảnh của Người rất trân trọng. Đó là những kỷ vật ông luôn mang theo bên mình như những báu vật trong suốt những năm kháng chiến. Khi tập kết ra Bắc, ông đem theo các kỷ vật đó và sau khi ông qua đời, gia đình đã trao những báu vật ấy cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam lưu giữ. Một lần khác, nhận được bốn chiếc chiếu của thương binh, bệnh binh Trại Dệt chiếu của tỉnh Tuyên Quang, Người rất vui lòng. Xúc động trước tình cảm của các thương binh, Người hỏi thăm cặn kẽ: Học dệt được chiếu cần bao nhiêu ngày tháng? Trung bình, dệt được một chiếc chiếu thường cần mấy giờ, và bao nhiêu vốn? Bán một chiếc được bao nhiêu lời? Với nghề dệt chiếu, có thể đủ ăn đủ mặc không? Sau đó, Người gửi biếu một chiếc áo do chị em phụ nữ tặng để làm “Giải thưởng thi đua trong Trại”. Suốt cuộc đời, Bác Hồ luôn luôn hết lòng yêu thương con người, đặc biệt là đối với những người đã dâng hiến một phần cuộc đời mình cho Tổ quốc và nhân dân. Bác đã gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh, cựu binh “30.600 đồng do một kiều bào ở Trung Quốc gửi tặng và một tháng lương là 45.000 đồng để cụ làm quà cho anh em”, v.v. Đêm giao thừa năm 1956, Người đến thăm Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội, hỏi thăm tình hình sức khỏe, cuộc sống, công việc của các thương binh và căn dặn: “Các chú tàn mà không phế”. Sự khuyến khích, lời động viên của Người đã trở thành khẩu hiệu sống, lao động và học tập của bao thế hệ thương binh, bệnh binh. Trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta (bản thảo viết năm 1968), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành những dòng tâm huyết để căn dặn chúng ta những vấn đề liên quan đến việc quan tâm, chăm sóc những thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, và chính sách đối với những người có công với cách mạng: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sỹ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng Hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

Cùng với thời gian, những chủ trương, chính sách cụ thể, những phong trào như: Đền ơn đáp nghĩa, Đi tìm đồng đội, Phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, chính sách đối với những người có công, v.v. của Đảng và Nhà nước, của toàn dân ta ngày càng sôi nổi và phong phú. Trong những năm từ 1997 đến 2003, từ 2005 đến 2008 trong phạm vi cả nước, chúng ta đã trao tặng 231.373 nhà tình nghĩa và 628.927 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách, giúp đỡ các gia đình chính sách phát triển sản xuất, giải quyết nhà ở, học hành, dạy nghề, tạo việc làm, chữa bệnh, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần. Đồng thời với việc đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả giải quyết những chính sách, chế độ sau chiến tranh, Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền đã tăng cường chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ từ Trung ương xuống địa phương với lực lượng vũ trang và nhân dân để tổ chức tìm kiếm, quy tập mộ liệt sỹ, tu sửa, nâng cấp, quản lý tốt các Nghĩa trang, Đài tưởng niệm, Bia ghi tên liệt sỹ, v.v… Làm tốt những điều đó, chúng ta không chỉ tri ân những người đã khuất, cổ vũ động viên người còn sống, thấm sâu đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, mà còn góp phần xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Cùng nhau ôn lại tình cảm, sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các thương binh, bệnh binh, các gia đình liệt sỹ, cũng là một cách thiết thực để chúng ta thắp nén tâm nhang trước anh linh các liệt sỹ, đồng thời góp phần làm cho tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tỏa sáng trong thực tiễn.

TS Văn Thị Thanh Mai
Theo 
baomoi.com

Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

 

 

 

Thương yêu, chăm sóc thiếu nhi

Sinh thời, cứ vào những ngày kỷ niệm Quốc tế thiếu nhi 1.6, Tết Trung thu, Ngày khai trường hoặc mỗi khi các cháu thiếu niên nhi đồng làm được những việc tốt, đạt thành tích xuất sắc, Bác Hồ thường có thư khen ngợi, tặng quà, tặng danh hiệu Cháu ngoan Bác Hồ. Khi sắp đi xa, trong Di chúc  Người “để lại muôn vàn tình thân yêu cho các cháu thanh niên và nhi đồng”…

Thương yêu thiếu niên, nhi đồng là tình cảm thường trực trong Bác. Bác đặt niềm tin, ân cần khuyên nhủ, nhẹ nhàng chỉ bảo “tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Tùy theo sức của mình”; biểu dương, khen ngợi kịp thời khi các cháu đạt thành tích xuất sắc, một hình thức giáo dục nêu gương, một cách nhân điển hình hiệu quả nhất. Bác chăm lo, dạy dỗ các cháu từ việc nhỏ đến việc lớn “việc gì có ích cho kháng chiến, có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm. Tuổi các cháu còn nhỏ. Nhiều công việc nhỏ cộng lại thành công việc to”… Năm điều Bác Hồ dạy đã trở thành tiêu chuẩn đạo đức của trẻ em Việt Namphấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện để trở thành cháu ngoan Bác Hồ.

Bác khuyên người lớn và các nhà giáo dục trẻ em phải nắm được tâm lý trẻ em, những điều cần dạy và cách dạy trẻ em “cách dạy phải nhẹ nhàng, đừng dạy các em trở thành những ông cụ non. Đối với trẻ em phải giáo dục như thế nào cho các cháu biết đoàn kết, ham học, ham làm, nhưng phải làm sao cho trẻ có kỷ luật nhưng vẫn vui vẻ hoạt bát chứ không phải khúm núm đặt đâu ngồi đấy”. Bác đặc biệt nhấn mạnh, điều quan trọng nhất là người giáo dục trẻ em phải là tấm gương sáng cho các em noi theo: “Trẻ em hay bắt chước cho nên thầy giáo, cán bộ phụ trách phải gương mẫu, từ lời nói đến việc làm. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”. Bác chỉ thị công việc giáo dục trẻ em là công việc không phải chỉ một số người trực tiếp giáo dục trẻ em mà phải là công việc của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội.

Bác dạy: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Bác thực sự gương mẫu thực hiện hai lợi ích trồng cây và trồng người. Mỗi khi các cháu đạt thành tích xuất sắc, dù bận trăm công nghìn việc của cách mạng, của Đảng, của Nhà nước, Bác vẫn không quên biểu dương, khen ngợi các cháu kịp thời. Để giáo dục và khích lệ các cháu, Bác thường nêu những tấm gương điển hình của thiếu nhi trong lịch sử và trong đời sống cụ thể hàng ngày.

Bác Hồ với một tình thương yêu bao la, một tầm nhìn sâu rộng, là người đầu tiên phát hiện và chỉ ra vai trò của thiếu nhi trong sự nghiệp cứu nước và xây dựng đất nước và cũng là lần đầu tiên khẳng định thiếu nhi là lực lượng cách mạng trong công cuộc giải phóng đất nước, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

  • Vũ Minh Quân

baobinhdinh.com.vn

Hướng về nhân dân

Hướng tới nhân dân là định hướng hành động suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng một Nhà nước vì nhân dân phục vụ là một trong những tư tưởng chính trị đạo đức lớn của Người.

Ngay từ 1941, khi mới về nước, thành lập thí điểm Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh Hội, Bác Hồ đã có chủ trương: “Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới, không phải thuộc quyền riêng của giai cấp nào mà là của chung, của toàn thể dân tộc, chỉ trừ bọn tay sai của đế quốc Pháp, Nhật và những bọn phản quốc…”. Khi thời cơ đến, chuẩn bị tổng khởi nghĩa, Bác Hồ tính đến việc thành lập Chính phủ lâm thời bằng một Quốc dân Đại hội ở Tân Trào.

Ngay sau ngày “Tuyên ngôn độc lập” 2.9.1945, ngày 3.9 Bác chủ trì phiên họp Chính phủ để giải quyết hàng loạt những khó khăn cực kỳ phức tạp được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”. Chính việc tổ chức Tổng tuyển cử bầu ra Nghị viện nhân dân Quốc hội khóa I và việc thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của dân tộc ta đã khẳng định địa vị pháp lý đầy đủ của Nhà nước Dân chủ nhân dân Việt Nam.

Nhà nước Dân chủ nhân dân Việt Nam ra đời là thành quả của cả dân tộc ta trong quá trình kháng chiến chống ngoại xâm dựng nước và giữ nước, đặc biệt là sự chiến đấu hy sinh anh dũng của đồng bào, cán bộ đảng viên, Đảng ta từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Nhân ngày Tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác đã chỉ rõ: “Việc xây dựng Nhà nước do đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ, là quyền lợi của mỗi người dân Việt Nam”. Theo tư tưởng của Bác, Nhà nước được xây dựng trên đất nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân: “Tất cả quyền bính đều thuộc về nhân dân, những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia do nhân dân phán quyết”. Dân bầu ra người đại diện cho mình và có quyền bãi miễn nếu họ không còn xứng đáng. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đổi Chính phủ”. Bác còn chỉ rõ: Phải xây dựng một nền chính trị liêm khiết, kiên quyết đấu tranh với 3 thứ giặc nội xâm là tham ô, lãng phí, quan liêu.

Một nhà nước pháp quyền và đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhà nước mà ở đó: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân/Chính quyền từ xã, đến Chính phủ, Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đó là một nhà nước hướng tới bảo vệ và phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, đồng thời với việc trừng trị một cách nghiêm khắc những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của dân tộc, của nhân dân.

  • Hoàng Mai

baobinhdinh.com.vn

Người thầy của báo chí cách mạng

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết rất nhiều bài báo với nhiều bút danh khác nhau.

Điều đặc biệt ở “nhà báo Hồ Chí Minh” là văn phong báo chí của Người luôn giản dị, ngắn gọn nhưng sinh động, dễ hiểu. Trong đó, tính đại chúng được thể hiện rất đậm nét. Bác nói: “Kinh nghiệm của tôi thế này. Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì, viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc?”. Mỗi lần đi xuống cơ sở, Bác thường khai thác thông tin mọi mặt về đời sống của nhân dân rất kỹ nên những bài báo của Người luôn có “tương cà, mắm muối” và những công việc thường ngày của quần chúng nhân dân lao động. Việc sử dụng ngôn ngữ báo chí của Bác thể hiện tình cảm, thái độ của Người đối với văn hóa dân tộc. Người nói: ‘‘Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc”. Do đó trong khi viết, Bác thường dùng lối so sánh ví von hoặc ca dao, tục ngữ, thành ngữ dân gian.

Người đòi hỏi cán bộ đảng viên khi nói, viết sao cho giản dị, dễ hiểu cốt để quần chúng hiểu ngay và làm được, nắm cái thần của sự vật, đi ngay vào cái cốt lõi của vấn đề. Người cũng yêu cầu các nhà báo khi nói, khi viết: “Phải học cách nói quần chúng. Chớ nói như giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng… Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng có thể hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình…’’. Người nói: ‘‘Một tấm gương tốt còn có tác dụng hơn một trăm bài diễn văn”.

Một điều đặc biệt nữa là, trong khi viết báo, Bác thường yêu cầu mọi người xung quanh đọc lại bản thảo xem có từ ngữ nào khó hiểu để sửa lại văn phong cho trong sáng, từ ngữ giản dị, ý tứ sâu sắc. Khi viết bài báo ‘‘Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân’’ (đăng trên báo Nhân dân số 5409 ra ngày 3.2.1969), trước khi gửi đến Tòa soạn Bác đã cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia ý kiến. Hiện nay, đọc lại bài báo này của Bác, chúng ta thấy bài viết có bố cục rất chặt chẽ, câu chữ vô cùng sâu sắc, và đặc biệt là nội dung đề cập vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi.

Đối với những người làm báo, phong cách, tư tưởng, quan niệm… làm báo chí cách mạng của Bác là một tài sản vô cùng quý báu. Người mãi mãi là người thầy, người đồng nghiệp của các thế hệ những người làm công tác báo chí cách mạng Việt Nam.

  • Ngọc Tuyền

baobinhdinh.com.vn

Phòng, chống “giặc” nội xâm

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn, giặc nội xâm là thứ giặc nguy hiểm, “gian giảo và xảo quyệt”. Nó luôn giấu mặt vô hình nhưng có thể xuất hiện ở mọi nơi, mọi chỗ, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đó chính là chủ nghĩa cá nhân “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết… không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình””.Theo Người, chủ nghĩa cá nhân “đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó. Những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”. Cũng như con người, nếu cơ thể khỏe mạnh thì ít có vi trùng xâm nhập, khi sức đề kháng kém, thì bệnh tật bùng phát.

Trong bài viết cho tạp chí Học tập số 12 năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kẻ địch gồm ba loại: Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm. Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to… Loại thứ ba là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp-hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi-để ngóc đầu dậy. Nó là bạn đồng minh của hai kẻ địch kia”. Ngày nay, trong điều kiện quá trình hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, thì kẻ địch thứ ba này trở nên cực kỳ nguy hiểm, nó không chỉ là bạn đồng minh, đồng hành mà còn như một thứ công cụ đắc lực trợ giúp cho các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta. Tình trạng tham ô, tham nhũng thường xảy ra trong các lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; chi tiêu thường xuyên bằng vốn ngân sách nhà nước; quản lý sử dụng nguồn vốn ODA; thực hiện các dự án, các chương trình mục tiêu quốc gia…

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã tích cực phòng, ngừa tham nhũng. Tuy nhiên, kết quả chưa được như mong đợi, tình hình tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng và ngày càng diễn biến phức tạp, trở thành vấn đề xã hội quan tâm, lo ngại, bức xúc nhất hiện nay. Sở dĩ như vậy là do năng lực và sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị cơ sở còn hạn chế; một số người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa thực sự quyết tâm đi đầu trong phòng ngừa tham nhũng; trên một số lĩnh vực, cơ chế, chính sách còn sơ hở, thiếu đồng bộ và chưa được khắc phục kịp thời; tính tiền phong gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên không những chưa được phát huy mà còn không ít trường hợp vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống. Bên cạnh đó, đối tượng tham nhũng thường rơi vào những người có chức, quyền trong xã hội, hành vi tham nhũng tinh vi nên không ít khó khăn trong việc phát hiện, xử lý.

Thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chúng ta cần và nhất thiết phải học tấm gương “Dĩ công vi thượng” của Bác, đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết. Nếu thiếu sâu sát thực tế và gần gũi quần chúng, không thật sự tôn trọng nhân dân thì “giặc” nội xâm càng có đất sinh sôi nảy nở. Chính vì vậy, việc tăng cường giáo dục đảng viên về đường lối, chính sách, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên đi đôi với duy trì nghiêm kỷ luật trong Đảng là rất quan trọng. Bên cạnh đó, các chế độ sinh hoạt, kiểm tra, tự phê bình và phê bình trong Đảng phải thường xuyên, nghiêm túc. Mỗi đảng viên cần phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự điều chỉnh mình để tiến bộ; giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với tập thể. Phòng ngừa, đấu tranh với “giặc” nội xâm là góp phần làm cho Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”.

  • Nguyễn Sinh

baobinhdinh.com.vn

Xây dựng lực lượng, thế trận toàn dân

Không chỉ là một nhà chính trị kiệt xuất, một danh nhân văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nhà chiến lược quân sự thiên tài. Nét nổi bật trong nghệ thuật quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nghệ thuật xây dựng lực lượng và thế trận toàn dân.

Người chỉ rõ việc tạo lực cách mạng như lúc mới bắt đầu “nhóm lửa”. Đây là công việc rất khó, nhưng biết cách làm, biết cách dựa vào dân thì chắc chắn làm được. Do đó, người cách mạng phải có “tín tâm” và “quyết tâm”, biết đi vào quần chúng để thức tỉnh họ; tổ chức, đoàn kết, huấn luyện họ; làm cho dân ta ai cũng biết “đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong điều kiện cụ thể của nước ta, lực lượng để tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng không chỉ đơn thuần dựa vào lực lượng vũ trang, quân đội, mà trước hết và quan trọng nhất là lực lượng chính trị của quần chúng được giác ngộ, được tổ chức chặt chẽ và rộng khắp; phải bắt đầu bằng việc xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, rồi trên cơ sở đó xây dựng và phát triển lực lượng mọi mặt của cách mạng.

Lực lượng chính trị quần chúng không chỉ là nền tảng vững chắc và nguồn tiếp sức vô hạn cho việc phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn là một lực lượng trực tiếp tiến công địch, tiến hành công tác binh vận, địch vận, làm tan rã hàng ngũ địch. Theo Người, lực lượng của cách mạng, của kháng chiến không ngừng được phát huy, phát triển trong quá trình thực hiện đường lối “khởi nghĩa toàn dân” và “chiến tranh nhân dân”. Đường lối đó lôi cuốn được hết thảy mọi người Việt Nam yêu nước tham gia, “người có tiền góp tiền”, “người có sức góp sức”, mỗi người dân là một chiến sĩ, đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, tiến công địch ở khắp mọi lúc, mọi nơi, cả ở tiền tuyến và hậu phương. Nhờ đó, đã huy động và tạo thành sức mạnh to lớn của toàn dân đánh giặc.

Trong chỉ đạo thực tiễn, để tạo lực lượng cho cách mạng, từ năm 1941 khi về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, thúc đẩy việc xây dựng các tổ chức cách mạng của quần chúng, hình thành các đạo quân chính trị ngày càng hùng hậu. Trên cơ sở đó, Người chỉ thị tổ chức các đội du kích, thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đồng thời chăm lo xây dựng các vùng căn cứ địa và chính quyền cách mạng ở các địa phương. Nhờ thế mà khi thời cơ đến, với lực lượng cách mạng được chuẩn bị sẵn sàng và chu đáo, nhân dân ta trên mọi miền đất nước đã vùng lên giành toàn bộ chính quyền bằng cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Kế đó, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, ra sức phát triển kinh tế để bồi dưỡng sức dân, tăng thực lực kháng chiến. Người và Đảng ta chăm lo chỉ đạo công tác xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương kháng chiến vững mạnh về mọi mặt, xem đó là một nhân tố thường xuyên, quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến.

Vận dụng tư tưởng, nghệ thuật quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn chủ động xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975 là những mốc son chói lọi của cách mạng Việt Nam và cũng là những mẫu mực về nghệ thuật quân sự Việt Nam dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

  • Việt Quân

baobinhdinh.com.vn

Tôi đã làm theo lời Bác dạy

Kết quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong lực lượng dân quân tự vệ đã xuất hiện nhiều cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến, một trong những gương mặt đó là anh Lê Trung Thứ, Xã đội phó xã Mỹ An (Phù Mỹ).

Sinh ra ở một vùng đất “chưa nóng đã khô, chưa mưa đã úng”, Lê Trung Thứ là con thứ 10 trong một gia đình nghèo. Tuổi thơ chìm trong gian lao, vất vả đã hình thành trong anh tính tiết kiệm tự bao giờ. Tốt nghiệp THPT anh xung phong lên đường làm nghĩa vụ quân sự và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Anh Lê Trung Thứ

Sau khi rời quân ngũ, anh được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm gửi đi đào tạo ở Trường Quân sự tỉnh và được bổ nhiệm chức vụ Xã đội phó. Trên cương vị mới, anh luôn trăn trở suy nghĩ phải làm cách nào để cùng với Chi bộ quân sự tập trung xây dựng lực lượng dân quân tại chỗ vững mạnh, làm nòng cốt cho cấp ủy, chính quyền, địa phương. Được phân công phụ trách công tác huấn luyện dân quân, hàng năm phải chuẩn bị vật chất huấn luyện lên đến vài ba triệu đồng, trong khi ngân sách đầu tư của địa phương có hạn, anh đã tận dụng những tấm tôn méo mó cải tạo thành bia phục vụ cho huấn luyện bắn súng, nhờ vậy, hàng năm đã tiết kiệm được hơn 1 triệu đồng.

Cơ sở vật chất đã thiếu thốn, quân trang lại càng khó khăn hơn, tiêu chuẩn 5 năm/bộ/người, nếu bảo quản không tốt thì không có quần áo cho anh em huấn luyện. Anh khắc phục bằng cách, sau mỗi đợt huấn luyện thì thu về một mối, trực tiếp chỉ đạo cho anh em giặt sạch quần áo, giày, mũ rồi là phẳng từng bộ một, bộ nào rách thì khâu lại, bảo quản thật kỹ cho những đợt huấn luyện sau. Sự miệt mài, cẩn thận của anh luôn được chỉ huy các cấp khen ngợi. Kết quả huấn luyện của lực lượng dân quân xã luôn dẫn đầu cụm 6 xã phía bắc của huyện.

Không chỉ tận tụy với công việc, anh Thứ còn sáng tạo trong cách làm giàu. Với số tiền ít ỏi được hỗ trợ học nghề sau khi xuất ngũ, anh đã vay mượn thêm và đầu tư vào nuôi bò lai, hàng năm cho thu nhập hơn 50 triệu đồng. Tấm gương của anh đã góp phần giáo dục cho lực lượng dân quân về thực hành tiết kiệm và sự vượt khó vươn lên làm giàu từ hai bàn tay trắng.

Là đảng viên trẻ nhất được Đảng ủy xã biểu dương tại Hội nghị sơ kết Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2009, anh Thứ tâm sự: “Tôi chỉ là một trong hàng triệu người dân Việt Nam đã làm theo lời Bác dạy”.

  • Phan Văn Hổ

baobinhdinh.com.vn

Đảng cầm quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, năm 1951, khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, Bác viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Và trong Di chúc- tác phẩm cuối cùng của đời mình, khi nói về Đảng, một lần nữa Bác viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Theo tư tưởng của Bác Hồ và của Đảng ta từ trước đến nay, khái niệm Đảng “nắm chính quyền” hay “cầm quyền” là đồng nghĩa với Đảng lãnh đạo chính quyền.

Năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Năm 1960, trong bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Người nhấn mạnh: “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

Năm 1968, làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng về việc xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”, Bác nói: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, nói chung và về Đảng cầm quyền nói riêng luôn được Đảng ta trung thành, vận dụng sáng tạo và phát triển. Nói Đảng cầm quyền hoàn toàn không có nghĩa là Đảng tự biến mình thành chính quyền, một mình mình nắm giữ chính quyền và làm chức năng của chính quyền. “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là cơ chế vận hành của chế độ ta. Theo cơ chế ấy, Đảng, Nhà nước và nhân dân đều là những chủ thể của quyền lực, nhưng quyền lực của mỗi chủ thể ấy lại không giống nhau. Quyền lực của Đảng là quyền lãnh đạo, bao gồm cả quyền lãnh đạo chính quyền, nhưng bản thân Đảng lại không phải là chính quyền nhà nước, không làm thay cho Nhà nước. Quyền lực nhà nước bao gồm các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng quyền lực ấy không phải do Nhà nước tự có mà là do nhân dân giao phó cho những cơ quan quyền lực do mình cử ra. Quyền lực của nhân dân là quyền của người làm chủ đất nước, như Bác Hồ từng nêu lên trong bài báo “Dân vận” viết năm 1949: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Cương lĩnh năm 1991 của Đảng và những điều bổ sung, phát triển các quan điểm về Đảng và Đảng cầm quyền qua các kỳ Đại hội của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; thống nhất lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Đại hội X của Đảng, khi đề cập nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối”. Đại hội cũng chủ trương, về mặt lý luận, phải tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về xây dựng Đảng và về đảng cầm quyền. Điều quan trọng hơn nữa là để xứng đáng là đảng cầm quyền, Đảng phải làm những gì và làm như thế nào?

Cương lĩnh năm 1991 của Đảng, trong khi nêu lên những bài học lớn, đã khẳng định: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

  • N.Dân

baobinhdinh.com.vn

Quyền hành là ở nơi Dân

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, năm 1951, khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, Bác viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Và trong Di chúc- tác phẩm cuối cùng của đời mình, khi nói về Đảng, một lần nữa Bác viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Năm 1960, trong bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Người nhấn mạnh: “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

Quan điểm xuyên suốt trong các tác phẩm của Bác là Đảng và cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Muốn vậy, Đảng và cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Năm 1953, trong thư gửi Lớp chỉnh Đảng Liên khu 5, Bác viết: “Mục đích chỉnh Đảng là để dùi mài cán bộ và đảng viên thành những chiến sĩ xứng đáng là người đầy tớ của nhân dân”.  Bởi theo Bác: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, nói chung và về Đảng cầm quyền nói riêng luôn được Đảng ta trung thành, vận dụng sáng tạo và phát triển. Quyền lực của Đảng, xét cho cùng, là tư tưởng Bác Hồ từng nêu lên trong bài báo “Dân vận” viết cách đây 61 năm: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Đại hội X của Đảng, khi đề cập nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối”. Cương lĩnh năm 1991 của Đảng, trong khi nêu lên những bài học lớn, đã khẳng định: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và về Đảng cầm quyền sẽ tiếp tục được làm sáng tỏ hơn nữa trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng sắp tới.

  • Trần Thanh

baobinhdinh.com.vn

Tiết kiệm theo gương Bác

Với các cán bộ, công chức Kho bạc Nhà nước (KBNN) tỉnh – đơn vị có nhiệm vụ quản lý Quỹ ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh – tiêu chí trọng tâm và xuyên suốt được lựa chọn để hưởng ứng Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Với nội dung học tập này, KBNN tỉnh đã có những biện pháp hữu hiệu và có sự phối hợp nhịp nhàng giữa cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể để triển khai nhằm tạo sự đồng thuận cao trong ý thức và việc tổ chức thực hiện của tập thể đơn vị. Cụ thể, để thực hành tiết kiệm, KBNN tỉnh đã ban hành Quy chế quản lý tài chính, tài sản nội ngành. Theo đó, hệ thống KBNN tỉnh chú trọng các hình thức giao khoán đến từng đơn vị, từng phòng, bộ phận và có hình thức động viên, khuyến khích các đơn vị tiết kiệm kinh phí hoạt động. Bình quân hàng năm, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống KBNN tỉnh tiết kiệm trên 500 triệu đồng (tương đương 2% tổng kinh phí hoạt động).

Số tiền tiết kiệm này là từ việc sử dụng điện, nước, điện thoại, xăng xe… hiệu quả. Ví dụ, để sử dụng xăng xe tiết kiệm, KBNN tỉnh đã xây dựng quy chế sử dụng xe công. Theo đó, việc đi công tác của các phòng phải có chương trình cụ thể và được lãnh đạo thông qua; phải có sự phối hợp giữa các phòng để có tối thiểu 4 người cùng đi mới được sử dụng xe công. Đối với việc tiết kiệm trong thông tin, báo cáo, ngoài việc giao khoán định mức sử dụng điện thoại, KBNN tỉnh yêu cầu cán bộ trong ngành sử dụng thành thạo mạng nội bộ (intranet) và mạng internet, coi đây là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực của cán bộ… Những khoản tiết kiệm này được bổ sung vào quỹ thi đua khen thưởng, hỗ trợ các đoàn thể, bổ sung thu nhập… nên được sự đồng thuận cao của các tập thể và cá nhân trong đơn vị.

Với KBNN tỉnh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng là tiêu chí để các đơn vị trong hệ thống ngành xây dựng các đoàn thể chính trị vững mạnh và xây dựng người cán bộ công chức “Trung thành, sáng tạo, tận tụy, gương mẫu”, phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao.

  • Minh Khương

baobinhdinh.com.vn

Tàn nhưng không phế

Sau hơn ba chục năm bôn ba khắp năm châu tìm đường cứu nước, cho đến ngày Tổng khởi nghĩa thành công, Bác Hồ từ chiến khu lần đầu tiên mới về tới Hà Nội. Đón Tết độc lập đầu tiên ấy, đêm giao thừa thì Bác “vi hành” đi thăm, chúc Tết các gia đình “khá”, gia đình “trung bình” và gia đình nghèo… Nhưng rồi kháng chiến trường kỳ với chiến thắng Điện Biên Phủ, kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình lập lại trên miền Bắc, Bác Hồ từ chiến khu trở về sống và làm việc ở Hà Nội. Đón “Tết hoà bình” đầu tiên ấy, đêm giao thừa Bác Hồ chỉ đi thăm một nơi, đó là đến thăm anh chị em ở Trường Thương binh hỏng mắt ở Hà Nội.

 Thuongbinhtan nhung khong phe

Bác Hồ đến thăm, động viên anh em thương binh ở Trường Thương
binh hỏng mắt Hà Nội

Trường Thương binh hỏng mắt là ngôi trường được thành lập sau ngày đất nước có hoà bình, vào đúng ngày kỷ niệm lần thứ 65 Ngày sinh của Bác 19/5/1955. Trường được thành lập để đón nhận những anh chị em từ các chiến trường, trận địa… cảnh ngộ khác nhau về đây cùng sống, học tập. Đón giao thừa năm ấy, Nhà trường đã chuẩn bị để tổ chức một buổi họp mặt với tất cả các anh chị em học viên để đón Tết – mừng xuân, liên hoan văn nghệ và cùng chờ đón nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ qua làn sóng phát thanh lúc giao thừa. Đêm ấy, giữa lúc mọi người đang vui với các tiết mục văn nghệ “cây nhà lá vườn” thì bỗng có tiếng một người nào đó vang lên: “Bác, Bác Hồ đến thăm anh em ơi!”. Thế là cả hội trường đang ồn ào sôi động bỗng trở nên im lặng, rồi dường như tất cả cùng vỗ tay như sấm dậy reo mừng. Mọi người, nhất là các đồng chí nữ xô ghế, tìm lối đi lên phía trước. Những tiếng hô: “Bác Hồ muôn năm!” như sóng trào lên không dứt…

Giữa không khí náo nhiệt, ồn ào ấy, anh thương binh hỏng mắt Hoàng Văn Vượng, một nghệ sĩ đàn vi-ô-lông trong Ban Văn nghệ của trường, bỗng nghe tiếng nói của Bác Hồ ấm áp bên cạnh:

– Thôi, thôi, các chú, các cô đừng hoan hô nữa! Các cô, các chú ngồi xuống cả đi…

Khi mọi người trong hội trường đã ngồi xuống, yên lặng, thì Bác bắt đầu hỏi thăm sức khỏe và việc chuẩn bị đón Tết của anh chị em thương binh: Tết này có bánh chưng không? Có kẹo, có mứt không? Việc học tập qua chữ nổi có khó lắm không?… Rồi bỗng Bác hỏi nhỏ một đồng chí:

– Các chú đã nhận được con cá trắm các cháu nhi đồng miền Nam tặng Bác chưa?

Một đồng chí trong Ban Giám hiệu nhà trường thưa với Bác là con cá trắm rất to ấy đã được làm thịt nấu ăn bữa chiều nay rất ngon và xin cảm ơn Bác.

Một nữ thương binh học viên đứng dậy xin phép Bác được phát biểu:

– Thưa Bác, hồi này Bác có khỏe không ạ?

Nghe vậy, Bác hiền từ hỏi lại:

– Thế các cô, các chú có muốn Bác khỏe không?

Mọi người đồng thanh: “Thưa Bác, có ạ !”. Bác lại nói tiếp:

– Thế thì các cô, các chú phải giữ gìn sức khỏe. Các cô, các chú tàn nhưng không phế…

Anh chị em thương binh đêm ấy nghe Bác nói những lời động viên, lời dạy đầy ân tình ấy của Bác, tất cả đều lặng đi, ai cũng ứa nước mắt sung sướng, xúc động…

Một thương binh đứng dậy, giọng ngắt quãng vì xúc động:

– Thưa Bác, chúng cháu được nghe Bác nói nhưng không nhìn… thấy Bác được. Bác cho phép cháu… nắm tay của Bác ạ…

Từ lúc nghe người học viên thương binh nói như vậy thì đôi mắt của Bác như nhoà đi… Rồi giọng Bác nhẹ nhàng, âu yếm:

– Thế các cô, các chú định giữ Bác ở lại đây đến hết giao thừa hay sao? Phải để cho Bác đi chúc Tết các nơi khác nữa chứ…

Sau khi chúc Tết anh chị em thương binh lần nữa, Bác bước nhanh đi ra. Lên xe, Bác nói ngay với đồng chí bảo vệ: “Về nhà thôi…”. Anh em biết Bác đang rất xúc động, nhìn thấy mắt Bác vẫn nhoè lệ nghẹn ngào… Đêm giao thừa năm ấy, Bác không đi thăm đâu nữa. Cũng từ lời Bác dặn đêm giao thừa ấy, không chỉ anh chị em thương binh hỏng mắt như được Bác đem lại ánh cuộc đời, mà từ ngày ấy anh chị em thương binh luôn thực hiện lời dạy của Bác: “Tàn nhưng không phế…”, sống học tập, lao động có ích tiếp tục góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Mỹ Hạnh
Theo tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

“Dân là gốc”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần làm chủ của dân là cốt lõi của vấn đề “dân là gốc”. Người thường nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ”.

Biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải tin ở dân, gần gũi dân, biết dựa vào dân. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn biến đường lối chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng, thành sức mạnh cách mạng thì Đảng phải có đường lối đúng đắn; cán bộ đảng viên “phải liên lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”. Cán bộ, đảng viên còn phải học hỏi dân, “nếu không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”, mà “muốn hiểu biết, học hỏi dân thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm”. Người cũng yêu cầu: người làm chủ trước hết phải làm tròn bổn phận công dân, tức là phải tuân theo kỷ luật lao động; giữ gìn trật tự chung; nộp thuế đúng kỳ, bảo vệ tài sản công cộng; bảo vệ Tổ quốc. “Phải chăm lo việc nước như việc nhà”, “phải biết tự mình lo toan gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”; “làm chủ sao cho ra làm chủ, không phải làm chủ là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, làm bao nhiêu thì làm”.

Từ thực tiễn cuộc sống, Hồ Chí Minh lưu ý: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém… Người lãnh đạo phải dụng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do hạng hăng hái đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém lên”. Phải học hỏi dân chúng, nhưng “không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”; phải “tìm ra mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau, xem cái nào đúng, cái nào sai” để vận dụng.

Do đó, thiết thực nhất của việc bồi dưỡng “cái gốc” là phải thường xuyên chăm lo đời sống cho dân, chăm lo lợi ích chính đáng của dân. Người thường nhắc tới những câu của người xưa “có thực mới vực được đạo”, “dân dĩ thực vi thiên”. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Đối với nhân dân không thể lý luận suông”. Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đời sống của dân. Nếu “dân đói”, “dân rét”, “dân dốt”, “ dân ốm” là “Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm dân là gốc là quan điểm khoa học, toàn diện. Đó là sự kế thừa những tinh hoa dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

  • Hòa Thanh

baobinhdinh.com.vn