Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 3)

Nói về người cách mạng và Đảng cách mạng, nhà đại văn hào Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ:

“Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ, Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu”.

Xin tạm dịch là:

“Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ,

Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”.

“Nghìn lực sĩ” có nghĩa là những kẻ địch mạnh, thí dụ: Lũ thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ. Cũng có nghĩa là những sự khó khăn gian khổ.

“Các nhi đồng” nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành, đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích quốc, lợi dân.

Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”.

“Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam”, 3/3/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.184-185).

“…người đảng viên, dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp – ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng.

Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo.

Mà muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ.

Đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam.

Vì vậy, mỗi đảng viên phải luôn luôn cố gắng”.

(“Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải thế nào?”, 25/3/1951, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.189-190).

“Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội. Trong mấy chiến dịch vừa qua, nói chung bộ đội ta đã biết giúp đỡ dân, thương yêu dân. Nhưng cũng còn có chú dọa nạt dân, mượn của dân không trả, mua rẻ của dân. Phải sửa chữa những khuyết điểm ấy. Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

(“Bài nói tại Hội nghị kiểm thảo chiến dịch đường số 18”, 04/5/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.207).

“Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng. Thí dụ trong một cái đồng hồ, những cái kim thì chạy suốt ngày đêm, những chữ số thì suốt đời đứng một chỗ. Nếu những chữ số cũng muốn chạy như cái kim, hay là cái kim cũng muốn đứng lại như chữ số thì không thành cái đồng hồ nữa”.

(“Thư gửi lớp cán bộ cung cấp”, 02/9/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.296).

“Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau. Nói như vậy là lầm to. Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều.

Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời. Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân”.

 (“Bài nói chuyện tại Trường Chính trị trung cấp quân đội”, 25/10/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.320-321).

“Để thực hiện chính sách, làm trọn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải bàn bạc với quần chúng, hỏi han ý kiến, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình…Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân.

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm”.

(“Tinh thần trách nhiệm”, 13/12/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.346).

“Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác.

Quân đội ta biết rằng: Cơm quân đội ăn, áo quân đội mặc, vũ khí quân đội dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân tăng gia sản xuất, đóng thuế nông nghiệp mà có. Nhân dân thức khuya dậy sớm, ăn gió nằm sương, để đắp đường sửa cầu cho bộ đội đi. Nhân dân không quản trèo đèo lội suối, không quản khó nhọc gian lao, để chuyên chở súng đạn cho bộ đội đánh giặc. Tóm lại, quân đội sinh trưởng, thắng lợi, là nhờ nhân dân ra sức giúp đỡ. Vì thế, bộ đội rất biết ơn và yêu mến nhân dân.

Về phía nhân dân thì ai cũng biết rằng: Có quân đội đánh giặc và giữ làng giữ nước, mình mới được yên ổn làm ăn, Tổ quốc mới được thống nhất, độc lập. Trong công cuộc kháng chiến cứu nước, nhân dân hy sinh là hy sinh một phần của cải và thời giờ. Của cải hết, có thể lại làm ra; thời giờ qua, thời giờ lại đến. Nhưng bộ đội hy sinh là hy sinh xương máu, có khi hy sinh cả tính mệnh. Cụt chân, gẫy tay, chân tay không thể mọc lại; người chết không thể sống lại. Đó là một sự hy sinh tuyệt đối. Đồng bào biết rằng: Các chiến sỹ trong bộ đội ai cũng có cha mẹ anh em, ai cũng có gia đình thân thích. Nhưng họ đã không ngại rời cha mẹ, xa quê hương, ra xông pha bom đạn, để phụng sự đại gia đình dân tộc gồm cả gia đình của mỗi đồng bào. Do đó nhân dân rất biết ơn và yêu mến bộ đội”.

(“Tình đoàn kết quân dân ngày thêm bền chặt”, 3/3/1952, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.426-427).

“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là nhân công làm đày tớ cho dân.

Đó là vinh dự cao nhất. Nếu có thành tích gì thì Chủ tịch và người nấu cơm phải chia nhau cái vinh dự ấy. Tóm lại không có việc sang, hèn. Công việc gì làm tròn, bổ ích cho kháng chiến, cho nhân dân đều là công việc sang, công việc gì bên ngoài có vẻ loè loẹt mà không làm tròn là công việc xấu”.

(“Bài nói tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất”, tháng 6 năm 1952, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.515).

“Quần chúng rất nhiều sáng kiến, họ hiểu biết rất mau, nhất là những cái thuộc về quyền lợi của họ. Cán bộ phải tìm hiểu quần chúng, phải học hỏi quần chúng để lãnh đạo quần chúng. Cán bộ phải kiên nhẫn, quyết tâm, phải chí công vô tư. Nếu tự tư, tự lợi, lập trường không vững, tư tưởng không thông, thì tài giỏi gì cũng vô dụng, vì quần chúng rất thông minh. Ai ra sức phục vụ, ai tự tư, tự lợi, họ biết ngay, không giấu được họ”.

(“Bài nói tại Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc”, 5/2/1953, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.7, tr.28).

“Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân”.

(“Lời kêu gọi nhân dân Ngày Thủ đô giải phóng”, 10/10/1954, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.7, tr.361-362).

“Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do. Nhưng nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ăn no, mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ăn no, mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm, như thế mới đúng. Muốn như vậy, phải ra sức công tác, ra sức lao động sản xuất.

Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ chung của dân tộc”.

(“Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, tháng 6 năm 1957, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.8, tr.396).

…Đảng viên và cán bộ ta nói chung là trung thành, tận tụy, hăng hái. Nhưng một số đảng viên và cán bộ còn có bệnh công thần, suy tị, ỷ lại, tiêu cực không gương mẫu, đầy rẫy chủ nghĩa cá nhân.

Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ phải thường thường ôn lại, tự liên hệ và giữ đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên:

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình.

Phải giữ đúng những tiêu chuẩn đó mới xứng đáng là người đảng viên”.

(Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18/1/1960, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.10, tr. 33-34).

Phải thấu suốt chính sách của Đảng và Chính phủ. Phải đi đúng đường lối quần chúng.

Phải thật sự gần gũi nhân dân, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân.

Phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của quần chúng.

Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân.

Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ.

Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô lãng phí.

Phải làm đúng những điều đó mới xứng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ”.

(Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18/1/1960, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.10, tr. 36).

“Những người được cử vào Quốc hội khóa II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”.

(Lời phát biểu tại Đại hội nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hộitại Hà Nội ra mắt cử tri”, 14/4/1960, Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, tr. 132).

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn


>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)

Đoàn đại biểu dự Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Công an báo công dâng Bác

Sáng ngày 25/10/2012, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 đại biểu là những cán bộ Đoàn, đoàn viên đại diện cho 300 đại biểu ưu tú của lực lượng Công an nhân dân về dự Đại hội đã đến báo công dâng Bác.

Doan CAND bao congĐoàn đại biểu đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong giờ phút trang nghiêm và thành kính, các đại biểu đã dành phút tưởng nhớ anh linh các Anh hùng liệt sỹ, anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện suốt đời sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại.

Thay mặt đoàn đại biểu, đồng chí Thiếu tá Nguyễn Thanh Tuấn, Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Công an khóa XIX đã báo công với Bác về những thành tích của tuổi trẻ Công an nhân dân đã và đang thi đua lập thành tích hướng tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X, nỗ lực phấn đấu lập công chào mừng 65 năm học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân; những kết quả đạt được trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên nhiệm kỳ XIX. Đồng thời khẳng định tuổi trẻ Công an nhân dân đã thực sự phát huy vai trò xung kích trên các mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, là lực lượng đi đầu, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa, địa bàn trọng điểm và qua đó đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, những công trình, phần việc thanh niên hiệu quả, được Trung ương Đoàn tặng Cờ cho đơn vị dẫn đầu công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi toàn quốc 5 năm liền.

Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Công an lần thứ XX là sự kiện quan trọng, ngày hội lớn của tuổi trẻ lực lượng Công an nhân dân. Với tinh thần “Đoàn kết – sáng tạo – trách nhiệm – hiệu quả”, Đại hội có nhiệm vụ đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Công an lần thứ XIX, xác định mục tiêu, phương hướng công tác Đoàn và phong trào thanh niên nhiệm kỳ 2012-2017, nâng cao chất lượng tổ chức Đoàn, tăng cường bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, cổ vũ tuổi trẻ Công an nhân dân thi đua học tập, rèn luyện, xung kích, sáng tạo, tình nguyện, chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ, góp phần cùng toàn lực lượng, giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và xây dựng Công an nhân dân ngày càng trong sạch, vững mạnh; đồng thời bầu Ban Chấp hành nhiệm kỳ 2012-2017.

Với niềm vinh dự, tự hào là người đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong lực lượng Công an nhân dân, dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, truyền thống vẻ vang của lực lượng, các đại biểu đã xin hứa với Bác nguyện đoàn kết một lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng lớp thanh niên Công an nhân dân trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, chấp hành nghiêm pháp luật, điều lệnh CAND; có trí tuệ, văn hóa, kỷ cương và trách nhiệm./.

Lan  Hương
bqllang.gov.vn

Người chụp ảnh Bác Hồ bỏ lá phiếu đầu tiên

Bác từ trong phòng ghi phiếu quay ra, trên tay Bác cầm lá phiếu, Bác chững chạc đi thẳng đến hòm bỏ phiếu, lúc này ai nấy đều căng mắt nhìn bàn tay Bác bỏ lá phiếu đầu tiên vào hòm phiếu. Khi Bác Hồ bỏ phiếu, tôi đã may mắn chụp được, sau này chính bức ảnh Bác Hồ bỏ phiếu là độc nhất vô nhị chỉ mình tôi là tác giả chụp.

Những nghệ sĩ nhiếp ảnh có vinh dự được chụp ảnh Hồ Chủ tịch không nhiều, trong đó phải kể đến tên tuổi như Đinh Đăng Định, Vũ Đăng Năng, Vũ Đình Hồng, Kim Côn… Ngoài ra còn có số phóng viên nhiếp ảnh Thông tấn xã Việt Nam, các tờ báo Trung ương và Đài Tiếng nói Việt Nam. Phóng viên nhiếp ảnh Báo Tiền Phong Mai Nam là người có nhiều dịp được gần và chụp ảnh cho Bác Hồ, hiện tại ông còn lưu giữ bộ ảnh rất quý giá chụp Hồ Chủ tịch với gần 200 bức hình được nghệ sĩ Mai Nam gìn giữ như một báu vật.

Nghệ sĩ Mai Nam kể lại: Có một kỷ niệm cách đây đã hơn 50 năm, tôi vẫn còn nhớ mãi, đó là lần tôi bấm máy chụp bức ảnh Hồ Chủ tịch – Người công dân số 1 bỏ lá phiếu đầu tiên Quốc hội khóa II ngày 8/5/1960.

Sáng sớm ngày 8/5/1960, tôi đến cơ quan Báo Tiền Phong thì được tòa soạn giao nhiệm vụ đến điểm bỏ phiếu số 1 phố Cửa Bắc số nhà 67 (nay là Trường Trung học phổ thông Cửa Bắc, Hà Nội) có các vị lãnh đạo Nhà nước đến bỏ phiếu (không nói có Bác Hồ vì để giữ bí mật). Đúng 7h sáng tôi có mặt tại điểm bỏ phiếu. Không khí nơi đây như một ngày hội, băng rôn, cờ, hoa đỏ rực, hai bên cổng vào quần chúng nhân dân, thanh niên ai nấy quần áo chỉnh tề đang chờ đón giờ phút trọng đại đang đến gần.

nguoi chup a1Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa II (1960)

Một lúc sau thì thấy Bác Hồ xuất hiện, cùng đi có ông Trần Danh Tuyên là Bí thư Thành ủy Hà Nội lúc bấy giờ đi vào trong khu nhà bỏ phiếu. Lúc này mọi tầng lớp nhân dân đều xôn xao vui mừng phấn khởi lần đầu tiên nhìn thấy vị lãnh tụ kính yêu đến bỏ phiếu ở khu vực mình, tiếng vỗ tay không ngớt, có nhiều người từ vòng ngoài cũng cố chen vào tận trong để tận mắt ngắm nhìn Bác Hồ kính yêu.

Tâm trạng tôi lúc này cũng hòa cùng không khí vui tươi với mọi người và tự hào là người vinh dự được giao trọng trách chụp ảnh cho Người bỏ lá phiếu đầu tiên, vị lãnh đạo Nhà nước cao nhất tại điểm bỏ phiếu số một này. Có sự may mắn lần này tôi được Tòa báo giao cho chiếc máy ảnh mới nguyên của Tiệp Khắc tặng cho Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam, sau Trung ương Đoàn tặng lại cho Báo Tiền Phong và tôi là người được sử dụng đầu tiên. Máy chụp cỡ phim 6×6.

Khi Bác Hồ và các vị lãnh đạo thành phố đi vào khu bỏ phiếu, tôi đã bấm được mấy kiểu ảnh cho đến khi Bác khuất trong phòng ghi phiếu thì thấy anh Văn Lượng – Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam  và anh Phan Trọng Quỳ, nhà quay phim tài liệu Xưởng phim Việt Nam xuất hiện. Tất cả chỉ có ba người chúng tôi, các phóng viên báo khác không thấy ai cả.

Có một tình tiết làm tôi nhớ đến tận bây giờ về công việc tác nghiệp của cánh nhà báo cũng lắm chuyện cười ra nước mắt: Chúng tôi cùng mọi tầng lớp nhân dân đều hồi hộp chờ đợi Bác từ trong phòng ghi phiếu quay ra, trên tay Bác cầm lá phiếu, Bác chững chạc đi thẳng đến hòm bỏ phiếu, lúc này ai nấy đều căng mắt nhìn bàn tay Bác bỏ lá phiếu đầu tiên vào hòm phiếu.

Tôi thấy anh Văn Lượng – Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam  nhảy ngay lên chiếc ghế mà trước đó anh Phan Trọng Quỳ đã chuẩn bị đồ nghề, đặt máy quay phim chỉ chờ lúc Bác quay ra là bấm máy. Anh Văn Lượng vừa nhảy lên ghế định giơ máy ảnh lên chụp, không hiểu sao chiếc ghế đổ làm anh Văn Lượng ngã chổng kềnh, may là có số người chung quanh kịp đỡ, không thì cả người và máy ảnh sẽ không biết xảy ra chuyện gì…

nguoi chup a2Tại Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội, thanh niên và nhân dân Thủ đô Hà Nội mít tinh, nồng nhiệt chào mừng các vị lãnh đạo Quốc hội và Nhà nước vừa đắc cử tại Quốc hội khóa II. Ảnh: Mai Nam

Khi Bác Hồ bỏ phiếu, tôi may mắn chụp được, sau này chính bức ảnh Bác Hồ bỏ phiếu là độc nhất vô nhị chỉ mình tôi là tác giả chụp. Khi rời điểm bỏ phiếu, tôi đạp xe ngay về Tòa soạn báo (lúc này Báo Tiền Phong ở tòa nhà Bệnh viện Hoàng Thụy Ba, phố Phùng Hưng bây giờ) để tráng phim. Khi tráng xong phim treo lên dây, nhìn thấy phim trong vắt, hình ảnh Bác Hồ hiện lên rất rõ, tôi mới thở phào nhẹ nhõm.

Kinh nghiệm cho thấy kể cả những người cầm máy lâu năm khi chụp máy phim cũng không thể tin tưởng 100% những bức ảnh vừa chụp không có sự cố. Với tôi lại là lần đầu sử dụng chiếc máy ảnh mới bằng phim 6×6, tác nghiệp trong hoàn cảnh sự kiện quan trọng làm gì không có cảm giác hồi hộp.

Phim vừa tráng xong còn treo trên dây thì tôi nhận được cú điện thoại từ Thông tấn xã Việt Nam: Mai Nam phóng ngay cho tôi một tấm ảnh 13×18 để phát cho các Báo. Vì yêu cầu gấp mà phim vẫn còn ướt, sau tôi nghĩ ra sáng kiến nhúng vào cồn lau khô rồi đưa lên máy phóng 2 tấm ảnh cỡ 13×18, tôi giữ một tấm để đăng ngay trên Báo Tiền Phong, còn một tấm gửi cho Thông tấn xã Việt Nam.

Về sau có vài tờ báo xin lại tấm ảnh Bác Hồ đang bỏ phiếu, tôi mang phim ra làm thì phim đã bị chảy do tội tôi nhúng phim vào cồn, tôi lại nhờ Thông tấn xã Việt Nam chụp lại bức ảnh để lấy phim phóng ra ảnh. (Như vậy bức hình Bác Hồ tôi chụp lúc Bác bỏ phiếu có hai phim – một phim chảy hỏng và một phim chụp lại qua ảnh).

Sau này bức ảnh tôi chụp Bác đang bỏ phiếu đã được anh em đồng nghiệp đánh giá rất cao ở thời điểm đúng lúc Bác đang bỏ 2/3 lá phiếu, nếu chụp sớm quá cũng không được mà bấm máy chậm lá phiếu đã vào thùng rồi thì mất tính chất thời sự, ngoài ra trên thùng phiếu còn rõ chữ ngày 8/5/1960.

Trên đây là câu chuyện tôi kể lại một kỷ niệm trong đời cầm máy chụp được bức ảnh vị Chủ tịch nước bỏ phiếu trong ngày bầu cử Quốc hội khóa II năm 1960 đối với tôi là niềm vinh dự và tự hào.

Duy Ngọc
Theo http://www.cand.com.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Làm gương và nêu gương – cốt lõi trong tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh không bàn nhiều về đạo đức dưới dạng lý thuyết, mà chủ yếu nói về thực hành đạo đức bằng cách làm gương và nêu gương. Bài học đó có ý nghĩa thực tiễn lớn lao và vẫn còn nguyên giá trị đối với chúng ta hôm nay.

Thực hành đạo đức là vấn đề quan trọng trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mà Đảng ta đã phát động từ nhiều năm nay. Hồ Chí Minh từng dạy: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần tiết kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương cả về ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: Quyết tâm, trí tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công”(1). Hồ Chí Minh cho rằng, con người nói chung, đặc biệt là người phương Đông, coi trọng thực tiễn hơn lý thuyết. Chính vì thế, Người nhắc nhở đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Tự mình phải chính trước, mới giúp người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”(2).

Sau Cách mạng Tháng Tám, để khắc phục hậu quả nạn đói, một loạt giải pháp đã được đưa ra, trong đó có giải pháp tiết kiệm và Hồ Chí Minh là người đi tiên phong trong phong trào “Hũ gạo tiết kiệm”. Người đã nói những lời chân tình và cảm động: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(3)Người đứng đầu đất nước, đứng ra phát động phong trào, rồi đi đầu làm gương, bởi vậy được cả nước hưởng ứng và phong trào thành công: Nạn đói đã được chặn lại. Thực hành nói đi đôi với làm là điều nói dễ, làm khó. Người đã chỉ ra một thực tế là có những kẻ miệng thì nói phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, nhưng lại bị vật chất cám dỗ mà phạm vào tham ô, lãng phí, hại đến Tổ quốc, nhân dân. Bởi vậy, mọi cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ cương vị lãnh đạo, phải bằng hành động của mình làm gương cho quần chúng noi theo. Nếu họ lợi dụng chức, quyền để làm lợi cho cá nhân, làm hại đến Tổ quốc và sự nghiệp cách mạng, thì phải có hình thức kỷ luật thích đáng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, vụ án Đại tá Trần Dụ Châu là điển hình cho sự nghiêm minh về kỷ luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là một cán bộ Quân đội, trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, nhưng Trần Dụ Châu đã tha hóa, biến chất, làm tổn hại đến thanh danh của Đảng, của Quân đội, bởi vậy, Người đã chuẩn y mức án tử hình đối với bị cáo. Tại thời điểm đó, Báo Cứu Quốc của Mặt trận Việt Minh, số ra ngày 27-9-1950, đã viết Xã luận: “Nó (vụ án) cho chính quyền, đoàn thể ta nhiều kinh nghiệm trong việc dùng cán bộ, giáo dục và kiểm soát cán bộ. Trong khi đó, có người còn e ngại: Chúng ta mở toang vụ án này, công khai vạch rõ những tội lỗi nhơ bẩn của Trần Dụ Châu và bè lũ, có thể làm một số dân chúng chê trách, hay kẻ địch bám vào đấy để nói xấu chính quyền, đoàn thể ta. Không! Chúng ta không sợ phê bình và tự phê bình những khuyết điểm của ta. Chúng ta khác bọn phản động và hơn hẳn chúng ở chỗ đó… Đấy là một sự khuyến khích nhân dân thẳng thắn, phê bình những sai lầm của cán bộ, của chính quyền, của đoàn thể vì họ đã hiểu chính quyền, đoàn thể ta là chính quyền, đoàn thể của họ và họ nhất định không chịu tha thứ những kẻ nào đi ngược quyền lợi của họ… Chúng ta phải thẳng tay vạch mặt và trừng trị những bọn ấy, những kẻ tham ô, hoang phí, những kẻ mưu sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của người khác, để tiến tới xây dựng một nền tảng chính quyền nhân dân thật vững vàng”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc tự mình làm gương, mà luôn quan tâm đến việc nêu nhiều tấm gương người tốt, việc tốt để đảng viên và quần chúng noi theo. Người luôn theo dõi những điển hình tiên tiến được phản ánh trên các báo, cả Báo Trung ương, địa phương, các ngành, Bản tin Việt Nam Thông tấn xã để tổng hợp và tìm cách nhân rộng. Theo thống kê, từ tháng 02 năm 1956 đến tháng 12 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xem và đánh dấu hơn hai nghìn bài viết về người tốt, việc tốt trên các báo và có bút tích thưởng Huy hiệu; được cắt ra và đóng lại thành 20 tập. Trước khi đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với đồng chí Hà Huy Giáp, Thứ trưởng Bộ Văn hóa tuyển chọn những gương tiêu biểu để xuất bản thành sách Người tốt, việc tốt. Trong Lời giới thiệu cuốn sách, Người viết: Nêu gương “những người bình thường hằng ngày có những hành động bình thường mà anh hùng, xứng đáng được học tập, ai ai cũng có thể làm theo”.

Sau khi Bác mất, các nhà xuất bản trên cả nước, tùy theo đối tượng và mục đích của mình tiếp tục cho ra loại sách đó với những tên gọi khác nhau. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản loại sách “Vì nước, vì dân”, nhằm tiếp tục tôn vinh những người tốt, việc tốt; qua đó, thực hiện một nguyên tắc quan trọng trong thực hành đạo đức là xây đi đôi với chống. Nghĩa là, phải tạo dựng một mẫu hình con người mới: Vừa hồng, vừa chuyên, để đối lập và đi đến triệt tiêu những con người lấy chủ nghĩa cá nhân làm phương tiện và cứu cánh của cuộc sống.

Xây – chống trong ứng xử đạo đức lấy cái thiện làm trung tâm, là một quá trình phấn đấu bền bỉ không có điểm kết thúc trong đời sống của mỗi con người, của một xã hội. Ở đâu và lúc nào không quan tâm đến thực hành đạo đức, thì ở đó, lúc đó, cái ác sẽ lấn át cái thiện và muốn trở về cái thiện đòi hỏi một quá trình lâu dài, phức tạp. Hiểu rõ tầm quan trọng của đạo đức trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, Đảng ta đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Cuộc vận động đã đi vào cuộc sống, làm chuyển biến một bước về nhận thức và thực hành đạo đức trong cán bộ, đảng viên và quần chúng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, Cuộc vận động chưa đủ sức ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận đảng viên, đặc biệt, những đảng viên có chức, có quyền. Vì thế, mới đây Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Nghị quyết đề ra 4 nhóm giải pháp, để “tạo bước chuyển mới trong công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh”(4) ; trong đó, yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu từng cơ quan, đơn vị, địa phương phải tự giác trong tự phê bình và phê bình, thực sự gương mẫu trong lời nói và việc làm, tích cực đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, làm cho xã hội ta ngày càng lành mạnh hơn… Hy vọng rằng, với quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI), Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, và mới đây là kết luận của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất định chúng ta sẽ tạo được bước chuyển biến mạnh mẽ trong xã hội; mọi cán bộ, đảng viên đều làm gương và nêu gương, làm cho cái thiện sẽ lấn át cái ác, tham nhũng và lãng phí sẽ bị đẩy lùi…, xã hội ta ngày càng tiến bộ, văn minh, đất nước giàu mạnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc, như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn./.

__________

1 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 150.

2 – Sđd, Tập 5, tr. 552, 644.

3 – Sđd, Tập 4, tr. 31.

4 – ĐCSVN – Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ­ương khoá XI, Nxb CTQG, H. 2012, tr. 40.

Theo PGS, TS. PHẠM XANH/ Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Những “lát cắt” đặc biệt về giải phóng phụ nữ trong tư tưởng Hồ Chí Minh

“Nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội. Vậy nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người, nếu phụ nữ chưa được giải phóng, thì xã hội chưa được giải phóng, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”. Đó là câu nói có tầm ảnh hưởng lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nữ giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò to lớn và tầm quan trọng của nữ giới trong đời sống xã hội. Dù ở bất kỳ thời đại nào hay một xã hội nào đi nữa, thì trong đấu tranh giải phóng đân tộc, không thể không giải phóng phụ nữ!

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu nữ tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, tháng 9-1960.
Ảnh tư liệu

Quan điểm giải phóng phụ nữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ. Người từng nói: “Có người nghĩ rằng Bác không có gia đình, chắc không hiểu gì mấy về vấn đề này. Bác tuy không có gia đình riêng, nhưng Bác có một đại gia đình rất lớn, đó là giai cấp công nhân trên toàn thế giới, là nhân dân Việt Nam. Từ gia đình lớn đó, Bác có thể suy đoán được gia đình nhỏ… Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động. Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ…”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ có giá trị nhân văn to lớn và triết lý nhân sinh cao cả. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người đặc biệt quan tâm tới phụ nữ. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng giải phóng con người, trong đó, theo Người không thể không giải phóng phụ nữ, không giải phóng một phần nửa xã hội, thì không thể xây dựng và đi lên chủ nghĩa xã hội. Người nói: “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo… Theo gương các bà, các mẹ và các chị anh hùng, nhiều cháu thiếu niên nhi đồng gái cũng rất ngoan… Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật là anh hùng…”.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trên khắp mọi miền của đất nước Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam khắc lên 8 chữ Vàng “Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang”, trở thành những “Tượng đài bằng đá” khắc ghi vào ký ức của mỗi người dân Đất Việt. Tượng đài đó đã được tự do, thoát khỏi xiềng xích và áp bức bóc lột, thoát khỏi sự bất bình đẳng, chế độ hà khắc của phong kiến và sự đàn áp của thực dân… Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, hàng triệu người phụ nữ nước Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà, đã đứng lên giành chính quyền và đòi độc lập tự do cho dân tộc. Tại Lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ngày 19-10-1966, Người nêu giá trị truyền thống yêu nước của người phụ nữ Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc”.

Với Người, vai trò của người phụ nữ là rất quan trọng, dù họ là người nông dân hay họ là nhà tri thức, khoa học, kỹ sư…, đều bình đẳng như nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống; dù công việc nặng hay nhẹ, người phụ nữ đều là chiến sĩ trên mọi mặt trận. Người nói: “Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ. Phụ nữ tham gia ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Thế là dưới chế độ tốt đẹp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ nữ đã thật sự làm chủ nước nhà”.

Bác Hồ với đại biểu phụ nữ vùng cao. Ảnh tư liệu

Bên cạnh những tuyên dương, Người lại luôn yêu cầu và nhắc nhở chị em phụ nữ cần chú trọng: “Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng xã hội chủ nghĩa. Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ phải xóa bỏ tâm lý tự ti và ỷ lại, phải có ý chí tự cường tự lập, phải nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật”. Người đã thấy rõ phụ nữ là một lực lượng căn bản, một nhân tố phát triển của xã hội, việc giải phóng phụ nữ phải trên cả 2 lĩnh vực hoạt động sản xuất xã hội và trong hôn nhân gia đình, cần phải gắn nhiệm vụ với quyền lợi của người phụ nữ, phải bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn, nâng cao trình độ kiến thức cho phụ nữ, cất nhắc, đề bạt họ vào các chức vụ quản lý kinh tế và xã hội….

Với phụ nữ, Người đã dành trọn vẹn tình cảm cho họ. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người đã căn dặn toàn Đảng, toàn dân: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”. Người phụ nữ trong gia đình luôn được coi trọng. Họ là nhân tố chính gây dựng tổ ấm hạnh phúc gia đình – tế báo của xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội. Xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải chú ý đến hạt nhân cho tốt…”.

Phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Họ có một thiên chức mà không ai có thể thay thế được. Chính vì lẽ đó, giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng như giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay. Từ những quan điểm nêu trên, nội dung tư tưởng của Người về phụ nữ có thể phân tích hai lát cắt như sau:

Một là, giải phóng phụ nữ phải gắn liền với giải phóng dân tộc. Muốn giải phóng phụ nữ, theo Người, phải giải quyết ba mặt trong một vấn đề:

Thứ nhất, giải phóng về chính trị: Giải phóng phụ nữ là một bộ phận của giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng phụ nữ. Giải phóng được phụ nữ là đã giải phóng được một nửa hệ thống chính trị. Dân tộc được giải phóng, chính quyền được giải phóng, thì phụ nữ cũng phải được giải phóng.

Thứ hai, giải phóng về xã hội: Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc tham gia công việc xã hội, đồng thời bình đẳng trong hôn nhân. Người bác bỏ tư tưởng tư sản, trọng nam khinh nữ, đồng thời phải nâng cao vai trò và thiên chức của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Người nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ… Muốn có nhiều sức lao động để sản xuất thì phải giải phóng sức lao động phụ nữ…”.

Thứ ba, giải phóng tâm lý con người: Thật sự phải giải phóng được tư tưởng, tình cảm, tâm tư, năng lực để người phụ nữ vươn lên làm chủ chính mình, gia đình và làm chủ xã hội. Họ phải được tôn vinh giá trị to lớn mà tạo hóa cho họ cái gọi là “thiên chức” là người duy trì và phát triển nòi giống.

Hai là, giải phóng phụ nữ phải toàn diện, đồng bộ và triệt để.

Thứ nhất, giải phóng phụ nữ không chỉ là giải phóng thân thể, giải phóng tư duy, mà giải phóng cho họ cái gọi là quyền bình đẳng. Họ có quyền tham gia vào các hoạt động xã hội, phải tạo điều kiện để họ tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thì mới đảm bảo quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ. Người khuyên giới nữ phải tự đấu tranh với bản thân mình, tự mình phải biết tôn trọng mình mới làm nên mọi việc. “Phụ nữ phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập…”.

Thứ hai, phải tôn trọng phụ nữ, Đảng và Chính phủ cần có những chủ trương, chính sách phù hợp để phụ nữ tham gia vào các công việc của xã hội theo khả năng của mình. Vị trí và vai trò của phụ nữ phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Đảng ta đánh giá cao khả năng và sự cần thiết tham gia của phụ nữ, coi đó là yếu tố quan trọng bảo đảm sự thành công của cách mạng, sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Thứ ba, quan điểm, đường lối của Đảng phải bảo đảm và phát huy vai trò tham gia của phụ nữ vào mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, bởi các quan điểm và đường lối này là những tuyên bố chính thức làm cơ sở bảo đảm hành lang pháp lý cho sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động của đời sống xã hội. Mặt khác, các quan điểm đó đều khẳng định một cách xuyên suốt nhất quán, phụ nữ có quyền bình đẳng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội.

Thứ tư, Đảng và Nhà nước phải đưa ra những chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp để phát huy mọi khả năng, tiềm năng của người phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, làm cho phụ nữ được được sống trong những quan hệ xã hội bình đẳng, tự do, dân chủ và có triển vọng phát triển lâu dài cả về đời sống vật chất, sinh hoạt văn hóa và tinh thần.

Những “Bông hồng vàng” thời hội nhập

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trao tặng kỷ niệm chương cho những “Bông hồng Vàng” năm 2010

Ngày nay, xây dựng và phát triển nhân tố phụ nữ trong xã hội tương xứng với vai trò to lớn của họ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược của Ðảng. Phải khẳng định rằng, 82 năm qua, kể từ ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930) đến nay (20/10/2012), Nhà nước đã đặc biệt quan tâm và đánh giá cao sự cống hiến của phụ nữ trong quá trình phát triển xã hội. Phụ nữ đã nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Họ không chỉ là người mẹ hiền đảm đang giữ gìn hạnh phúc gia đình, mà còn là những nhà khoa học, nhà giáo, nhà lãnh đạo tài năng ở cương vị cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước. Họ là chủ những doanh nghiệp, là những doanh nhân ưu tú, những “Bông hồng vàng” trong vườn hoa khoe sắc. Đúng như lời dạy của Bác về việc nêu gương người tốt việc tốt “Mỗi người tốt, việc tốt là một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”.

Trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu hiện nay, với bản năng và đức tích năng động, chịu thương, chịu khó, những “bông hoa” doanh nhân đã luôn tìm tòi sáng tạo để tìm hướng đi và khẳng định vị thế của mình. Nhiều doanh nghiệp do người phụ nữ làm chủ đã thực sự thành công trên thương trường. Đó là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động trên nhiều lĩnh vực như: kinh doanh, thương mại, dịch vụ, sản xuất, chế biến…

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, hơn bao giờ hết, chúng ta mà đặc biệt là chị em phụ nữ cần vận dụng và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực tiễn và càng phải quán triệt, thực hiện có hiệu quả hơn nữa lời dạy của Người. Đó chính là lời hứa, đồng thời cũng là việc làm có ý nghĩa thiết thực nhất để thực hiện sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nữ giới trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

ThS. Hoàng Anh Tuấn
dddn.com.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)

>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)

38

(Ảnh nguồn: Internet)

“Muốn dân chúng thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ phải thành tâm, phải chịu khó, phải khéo khơi cho họ nói. Do ý kiến và đề nghị lẻ tẻ của dân chúng, ta phải khéo gom góp lại, sắp đặt lại cho có ngăn nắp, thứ tự rồi cùng dân chúng ra sức thi hành. Như vậy, vừa nâng cao trình độ của dân chúng, mà cũng nâng cao kinh nghiệm của mình.

Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh.

Họ so sánh bây giờ và họ so sánh thời kỳ đã qua. Họ so sánh từng việc và  họ so sánh toàn bộ phận. Do sự so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thuẫn. Rồi lại do đó, họ kết luận, họ đề ra cách giải quyết.

Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy.

Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình.

Đối với cán bộ cũng vậy. Cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu, cán bộ nào có lầm lỗi mà có thể sửa đổi, ai làm việc gì hay, việc gì quấy, dân chúng cũng do cách so sánh đó, mà họ biết rõ ràng.

Vì vậy, để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Đồng thời, do sự dùi mài của dân chúng, cán bộ và dân chúng đều tiến bộ, lại do đó, cán bộ và dân chúng đoàn kết chặt chẽ thêm.

Cố nhiên, dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu.

Tuy vậy, khi đem vấn đề ra bàn trước dân chúng, họ đem các ý kiến khác nhau so sánh. So đi sánh lại, sẽ lòi ra một ý kiến mà mọi người đều tán thành, hoặc số đông người tán thành. Ý kiến đó, lại bị họ so sánh tỉ mỉ từng đoạn, họ thêm điểm hay vào, bỏ điểm dở đi. Ý kiến đó trở nên ý kiến đầy đủ, thiết thực.

Sau khi bàn bạc, so sánh, thêm thắt thành một ý kiến đầy đủ, ý kiến đó tức là cái kích thước nó tỏ rõ sự phát triển trình độ của dân chúng trong nơi đó, trong lúc đó. Theo ý kiến đó mà làm, nhất định thành công. Làm không kịp ý kiến đó, là đầu cơ, nhút nhát. Làm quá ý kiến đó là mạo hiểm, hẹp hòi, “tả”.

Có nhiều cách hỏi ý kiến dân chúng. Nói chuyện với từng người. Nói chuyện với đông người. Khai hội, nói chuyện với tầng lớp này, nói chuyện với tầng lớp khác, với mọi tầng lớp.

Nếu ta chịu khó, chịu suy nghĩ, bất kỳ nói chuyện với ai cũng có ích cho tư tưởng của ta. Cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo. Người cán bộ cũng phải dùng cách so sánh của dân chúng mà tự mình so sánh. Nghĩa là đem các ý kiến khác nhau để so sánh kỹ, phân tích kỹ các nội dung của các tầng lớp xã hội có cái ý kiến đó. Tìm ra mối mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau đó. Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai. Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng.

Thế gọi là: Tập trung ý kiến, ra sức thi hành. So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học. Mỗi công việc, chúng ta đều phải làm như thế. Làm như thế mới tránh khỏi cái độc đoán, mới tránh khỏi sai lầm.

Nghĩa là: Nói chuyện và bàn bạc với cán bộ như thế cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng. Nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với nhân dân. Đó là một vấn đề rất trọng yếu cho cách làm việc của Đảng.

Từ trước đến nay, nhiều nơi công việc không chạy, chính vì cán bộ không thực hành theo nguyên tắc đó. Nếu không làm theo nguyên tắc đó, thì dù chính sách hay trăm phần trăm, cũng hóa ra vô dụng.

Chúng ta phải kiên quyết bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh. Chúng ta phải kiên quyết thực hành theo nguyên tắc sau đây:

1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.

2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.

3. Chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”. Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó, và lúc đó, đưa ra tranh đấu.

4. Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng. Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa nó thành cách chỉ đạo nhân dân.

5. “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”.

Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr.295-298).

“Tư cách người công an cách mệnh là :

Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tụy.

Đối với địch, phải cương quyết, không khéo.

(“Tư cách người công an cách mệnh”,Tháng 3 năm 1948, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.2, tr.406-407).

“Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

(“6 điều không nên và 6 điều nên làm”, 05/4/1948, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.410).

“Trong mọi việc, chúng ta chỉ có một mục đích, là phụng sự đồng bào, phụng sự Tổ quốc. Chúng ta chỉ có một phương châm, là chí công vô tư”.

“Thư gửi các ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, các tỉnh, quận và xã ở Nam Bộ”, 15/9/1948, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.498).

“Học để làm việc, làm người, làm cán bộ.

Học để phụng sự Đoàn thể, “giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”.

Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”.

(“Lời ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương”, tháng 9 năm 1949, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.684).

“NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

(“Dân vận”, 15-10-1949, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.698).

“Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng: Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn”.

“Nói về công tác huấn luyện và học tập”, tháng 5 năm 1950, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.50).

“Thang thuốc chữa bệnh quan liêu:

Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.

Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.

Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.

Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”.

“Phải tẩy sạch bệnh quan liêu”, 2/9/1950, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.498).

“Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Những người mà:

– Giàu sang không thể quyến rũ,

– Nghèo khó không thể chuyển lay,

– Uy lực không thể khuất phục.

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Tặng phim Bác Hồ với Tây Nguyên cho Bảo tàng Hồ Chí Minh

 Chiều 16/10, Bộ trưởng Bộ TT-TT Nguyễn Bắc Son đã trao bộ phim tài liệu “Bác Hồ với Đồng bào Tây Nguyên” cho Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai – Kon Tum.

Bộ phim tài liệu “Bác Hồ với Đồng bào Tây Nguyên được Cục Báo chí và hợp tác Quốc tế của Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện trong thời gian 6 tháng. Dù Bác Hồ khi còn sống chưa bao giờ đến với mảnh đất Tây Nguyên nhưng Người vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho mảnh đất này.

Các nhà làm phim đã phải rất vất vả khi tìm lại những lá thư, những kỉ vật mà thời còn sống vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc đã dành cho Tây Nguyên. Những thước phim cũng ghi lại những tài liệu về các làng bản Tây Nguyên, những con người đang sống giữa mảnh đất này dù chưa một lần gặp được Bác nhưng đã đổi sang họ Hồ để thể hiện sự kính trọng với Người.

Có mặt tại buổi lễ, Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son đã trao tặng bộ phim tài liệu này cho Bảo tàng Hồ Chí minh chi nhánh Gia Lai – Kon Tum. Ông hy vọng bộ phim sẽ được trình chiếu ở nhiều nơi.

Bộ phim tài liệu được thuyết minh sang 5 thứ tiếng khác nhau như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc và sẽ được trình chiếu tại những đài truyền hình của Tây Nguyên cùng với những buổi chiếu phim miễn phí cho Đồng bào Tây Nguyên ngay tại làng bản.

Vĩ Lam
vietnamnet.vn

Bác Hồ với điện ảnh Việt Nam

Ngành điện ảnh Cách mạng Việt Nam đã được Bác Hồ quan tâm, chú trọng từ những ngày còn trong trứng nước. Khi điều kiện có thể, Người đã quyết định thành lập Doanh nghiệp Quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam. Những bộ phim đầu tiên ra đời, Bác Hồ luôn dành thời gian xem phim. Đáp lại, Điện ảnh nước nhà cũng đã ghi lại được rất nhiều hình ảnh quý báu về Người trong những năm tháng kháng chiến… Và Điện ảnh cũng đã ở bên Bác trong những giờ phút cuối cùng trước khi Người vĩnh biệt chúng ta… 

Ngày 20/10/1946, chiến hạm Daymôngđuêcvin cập bến Hải Phòng đưa Bác trở về sau khi Người sang Pháp “làm thượng khách”. Bác dành nhiều phần “quà” cho điện ảnh. Bác nói: “có bột sẽ gột nên hồ”. Phần quà gồm: Hai bộ phim do Kiều bào Võ Quý Huân và Mai Trung Thứ quay: Phái đoàn Phạm Văn Đồng tại hội nghị Phôngtennơblô và Sức sống 25.000 kiều bào tại Pháp cùng bộ máy chiếu lưu động 16 ly Pallné và Débrie, bộ máy ghi tiếng vào đĩa mềm hiện đại. Hai bộ phim này đã được Ban ĐANA (điện ảnh, nhiếp ảnh ban đầu chỉ có 2 anh em Phan Nghiêm, Hoàng Thái sau thêm 4 người) đem chiếu lưu động suốt miền Bắc và miền Trung.

Toàn quốc kháng chiến, Ban ĐANA còn nằm trong Nha thông tin tuyên truyền trực thuộc Bộ Thông tin dời lên hang Chùa Trầm. Đúng giao thừa tết kháng chiến đầu tiên năm 1947, Bác đến thăm Ban ĐANA, Ban Vô tuyến điện, động viên anh em khắc phục thiếu thốn, đoàn kết nhau một lòng. Chợt Bác nhìn sang kỹ sư Pham Nghiêm – Người được giao xây dựng Ban ĐANA thấy anh mặc một chiếc áo vét tông có miếng rách ở vai đang điều khiển máy ghi âm. Bác chỉ vào chỗ rách và hỏi nhỏ Trần Kim Xuyến: “ở đây có cháu gái nào không?”…

Bác Hồ góp ý về nghiệp vụ cho nghệ sĩ điện ảnh cũng rất khéo léo và sâu sắc. Tại chiến khu Việt Bắc, có lần đạo diễn Phạm Văn Khoa đi quay tài liệu Bác Hồ thăm bà con ở Thái Nguyên. Đạo diễn bố trí xong mời Bác ra nói chuyện với bà con ở bên chiếc chõng tre có để sẵn nải chuối, ấm nước. Rất tự nhiên, Bác tới chiếc chõng và vui vẻ nói: “Đạo diễn mời Bác cháu ta đóng phim đấy!”. Nhưng rồi, máy quay trục trặc. Bác vui vẻ nói với bà con: chúng ta chiều chú Khoa làm lại lần nữa. Sau khi xong việc, Bác gọi đạo diễn tới: “Các chú có biết người làm nghề này ở Pháp họ gọi là gì không? Họ gọi là người săn hình ảnh. Đã săn thì phải sẵn sàng. Có cảnh tốt là quay, còn bố trí sẽ mất tự nhiên”.

Bác Hồ cũng đã từng làm người thuyết minh “chữa cháy” cho điện ảnh. Đó là dịp đạo diễn Vũ Phạm Từ và Nguyễn Hùng đem phim chiếu phục vụ Lớp Chỉnh huấn Trung cao tại Tân Trào. Hý hửng vì có một bộ phim nước ngoài, hai nghệ sĩ đem phim ra chiếu. Phim chưa có thuyết minh nên người xem chẳng hiểu gì. Bác bình tĩnh xem xong cuốn 1 rồi nói đưa micro cho Bác. Bác bắt đầu thuyết minh: đây là bộ phim Hoa bông của Liên Xô… cứ vậy khi chiếu hết từng cuốn Bác lại thuyết minh. Cuối buổi, Bác tới bên hai nghệ sĩ đang dọn máy: “Hôm nay Bác nghe được tiếng Nga nên thuyết minh giúp. Từ nay nếu chưa rõ nội dung phim thì đừng chiếu. Đầu bếp thì phải biết mình làm món gì chứ!”.

Theo sát những bộ phim tài liệu, những bộ phim truyện đầu tiên nhưng không bao giờ Bác “phê phán” hay áp đặt ý kiến chủ quan của mình. Nhiều nghệ sĩ như: Vũ Năng An, Vũ Phạm Từ, Bùi Đình Hạc, Lý Thái Bảo… khi đem phim lên chiếu phục vụ Bác, đều kể: Bác ngồi xem rất chăm chú. Trong khi đó, các nghệ sĩ lại chăm chú quan sát xem thái độ của Bác như thế nào. Hết phim, các nghệ sĩ đều nhao nhao xin Bác nhận xét. Đáp lại, Người quay sang hỏi những chiến sĩ bảo vệ, những người cùng xem… cảm tưởng của họ. Rồi Bác nói: “Các chú làm phim là để chiếu cho nhân dân xem. Phải lắng nghe ý kiến của nhân dân để làm cho hay cho tốt. (Bác cười vui vẻ). Nếu chỉ chờ nghe ý kiến của Bác thì… Bác khen các chú tự mãn, Bác chê thì các chú buồn”.

Đoàn kết là lời căn dặn của Bác không chỉ với các chiến sĩ. Với các nghệ sĩ điện ảnh, ngay từ những buổi đầu còn là học sinh Bác cũng rất quan tâm. Đó là khoá học của những nghệ sĩ tên tuổi sau này: Trà Giang, Lâm Tới, Trần Nga, Phi Nga, Lịch Du, Minh Châu, Ngọc Điệp… do giáo sư chuyên gia Azidaibe Paghimôp – đạo diễn Công huân của nước Cộng hoà Adécbaidan, giảng dạy. Khi tiễn Bác ra cổng, Người chưa lên xe ngay mà quay lại hỏi: “cháu nào hãy nói cho Bác nghe chiếc xe Bác đi đây, bộ phận nào quan trọng nhất?”. Học sinh trả lời: người thì nói cái đầu máy, người thì nói xăng dầu, bốn cái lốp… rồi chẳng ai chịu ai cứ nhao nhao lên. Cuối cùng tất cả quay lại nhờ bác phân định. Bác cười, chỉ tay vào những chiếc đinh vít ở bánh xe hỏi: “nếu không có những cái này xe có chạy được không? Như vậy có quan trọng không?”. Rồi Bác ôn tồn: “Ngôi sao sáng nhờ có trời tối. Nếu không có quay phim, không có những người sản xuất ra phim, không có những người ánh sáng thì ai thấy được các cháu là ngôi sao màn bạc. Vậy thì không có lý do gì những ngôi sao sáng kia lại xem thường một vòm trời tối. Rồi đây, các cháu sẽ thể hiện những con người mới để dân noi theo, những con người xấu để dân soi mình tránh. Nếu các cháu không khiêm tốn học hỏi để làm tốt, làm đúng thì dân sẽ bảo là bọn xướng ca vô loài. Các cháu học tốt tới đâu mà dân còn nói như vậy thì Bác sẽ không thấy vui…”.

Bác Hồ quan tâm, chăm lo nhiều đến ngành điện ảnh cũng là điều dễ hiểu. Ngay từ những năm bôn ba nước ngoài, Người đã hiểu sức mạnh của một ngành nghệ thuật mới. Ngoài ra, ít ai biết, Bác còn là bạn thân với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng trên thế giới như: Hăngri Bác buýt, hoạ sĩ Picatxô, Pôn Vayăng Cutuyariê… và đặc biệt với vua hề Sác Lô từ cuối năm 1911 tại Mỹ…

Trong bài viết này, chúng tôi không thể nói hết được những quan tâm của Bác Hồ với ngành điện ảnh Việt Nam, Nhưng những gì Bác đã dạy bảo sẽ in đậm mãi trong trái tim các thế hệ nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam.

Nguyễn Thắng (CTV)
cpv.org.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)

38

“Lãnh đạo nhân dân vì sức mạnh của họ không thể thiếu được đối với sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Dân chúng vốn ít học, ngây thơ, dễ bị lừa và bị mua chuộc. Vậy người cách mạng mẫu mực phải giáo dục họ, sửa chữa cho họ và chiếm được sự tin cậy của dân chúng để có thể sử dụng sức mạnh của họ đúng lúc.

… Xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội sinh ra đố kỵ và hận thù và là nguyên nhân của những hành động chỉ điểm, phản bội làm tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng.

… Không cục bộ, bởi vì cách mạng phải vì lợi ích của dân tộc chứ không phải của một cá nhân. Vì vậy, nếu một người cách mạng tìm cách cục bộ thì tham vọng của anh ta sẽ khiến anh ta hành động vì mình chứ không vì mọi người.

… Không kiêu ngạo. Kẻ kiêu ngạo thì xa lánh nhân tâm quần chúng và tạo cho mình kẻ thù. Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình.

… Kiên trì và nhẫn nại. Sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và nguy hiểm. Nếu người cách mạng thiếu kiên trì và nhẫn nại, thì những khó khăn sẽ làm anh ta thối chí và sẽ đào ngũ giữa trận tiền”.

(“Người cách mạng mẫu mực”, 18/9/1926, Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, tr.450).

“Người xưa nói: quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì tránh.

Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui vào lọt vào các Ủy ban đó.

Ủy ban nhân dân là Ủy ban có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng tinh thần tự do dân chủ đó”.

“Chính phủ là công bộc của dân”, 19/9/1945, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, tr.22-23).

“Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý.

Ngoài ra, đối với tất cả mọi người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có thái độ mềm dẻo khôn khéo, biết nhân nhượng, biết trọng nhân cách người ta. Phải tỏ cho mọi người biết rằng công việc là công việc chung, thiếu người ra gánh vác thì mình ra, nếu có người thay, mình sẽ nghỉ để làm việc khác, sẵn sàng nhường lại cho ai muốn làm và làm được.

Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”.

“Sao cho được lòng dân”, 12/10/1945, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, tr.47-48).

“Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.

… Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc. Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải theo đúng phương châm.

Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.

Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.

Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

(“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, 17/10/1945.Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, tr.56-57).

“Đối với nhân dân: Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân. Nhưng cũng có việc dân không muốn mà phải làm như tản cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích cho dân rõ. Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân.

Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết”.

(“Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa”, 20/2/1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.55).

“Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Vì vậy, những người làm trong các công sở càng phải làm gương đời sống mới cho dân bắt chước.

Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.

(“Đời sống mới”, 20/3/1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.104).

“Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.

… Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng.

Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.249).

“Lợi ích của dân tộc, gồm có lợi ích của Đảng. Lợi ích của Đảng, gồm có lợi ích của đảng viên. Vì vậy, sự phát triển và thành công của Đảng, một mặt tức là thành công của dân tộc, một mặt tức là thành công của đảng viên. Vì vậy, chỉ có khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi. Chính vì vậy mà đảng viên cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng.

Không ai bắt buộc ai vào Đảng làm chiến sĩ xung phong. Đó là do sự “tự giác”, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ xung phong. Đã vậy, thì mỗi người đảng viên phải cố gắng cho xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc.

Nhất là những người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc. Càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.253).

““Chẳng những phải lãnh đạo quần chúng, mà lại phải học hỏi quần chúng”.

Câu đó nghĩa là gì ?

Nghĩa là: Người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình.

Nghĩa là một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng.

Nghĩa là phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng””.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.2, tr.258).

“Làm theo cách quần chúng. Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân chúng vui lòng ra sức làm.

Như thế hơi phiền một chút, phiền cho những người biếng học hỏi và giải thích. Nhưng việc gì cũng nhất định thành công.

Có người nói rằng: Mọi việc họ đều phụ trách trước Đảng, trước Chính phủ. Thế là đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Họ phụ trách trước Đảng và Chính phủ, đồng thời họ phải phụ trách trước nhân dân. Mà phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ vì dân mà làm các việc, và cũng phụ trách trước nhân dân. Vì vậy, nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ.

Nếu trong những chính sách, những chỉ thị, những khẩu hiệu của cấp trên, có gì khuyết điểm, cán bộ phải có tinh thần phụ trách trước nhân dân mà đề nghị những chỗ nên sửa đổi. Không làm như vậy, tức là cán bộ không phụ trách trước nhân dân, mà cũng không phụ trách trước Đảng và Chính phủ.

Việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân. Thế là phụ trách trước nhân dân.

Trái lại việc gì cũng dùng cách quan liêu, cũng chỉ ra mệnh lệnh, thế là không phụ trách trước nhân dân. Thế là đem hai chữ “mệnh lệnh” làm thành một bức tường để tách rời Đảng và Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Chính phủ.

Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân chúng, không để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh. Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi. Họ chỉ làm theo ý kiến của họ. Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất mãn.

Làm cách đó, thì dù việc đó có lợi cho dân chúng, nhưng một là vì không có ý kiến và lực lượng của dân chúng giúp đỡ nên làm rõ, nên việc đó không được lâu dài, bền vững.

Vì vậy, việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc, và giải thích cho dân chúng.

Có người thường cho dân là dốt không biết gì, mình là thông thái tài giỏi. Vì vậy, họ không thèm học hỏi dân chúng, không thèm bàn bạc với dân chúng.

Đó là một sự sai lầm nguy hiểm lắm. Ai có sai lầm đó, phải mau mau sửa đổi. Nếu không sẽ luôn luôn thất bại”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr. 294-295).

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Muốn thành cán bộ tốt phải có tinh thần tự chỉ trích

Là người học trò, người cộng sự gần gũi và tin cậy, nhiều năm được sống và làm việc bên Bác Hồ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã viết:

“Xem một đôi bức ảnh Hồ Chủ tịch, có người nói mắt Người có hai con ngươi và tin rằng vì chỗ đó Người là một ông thánh. Làm gì có chuyện hoang đường như thế! Mắt Hồ Chủ tịch cũng như mắt mọi người, sáng hơn mắt mọi người nhiều lắm đã đành, nhưng sáng hơn vì Người biết nhìn, nên nhìn thấy những điều người khác không nhìn thấy: Hiện tại, tương lai…”.

Là người sáng lập và xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trước những điều mà một đảng cầm quyền nếu không quyết tâm rèn luyện, giáo dục, nếu không thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình thì rất dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân, làm hại cho sự nghiệp cách mạng.

Không biết bao nhiêu lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, đã viết, đã căn dặn chúng ta về phê bình và tự phê bình. Bác nói: “Trước ta nói phê bình và tự phê bình, bây giờ ta phải nói tự phê bình và phê bình. Nói như thế nghĩa là phải chú trọng phê bình mình trước, phê bình người sau, phê bình mình là chính”.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” tháng 10 năm 1947, Bác Hồ đã viết:

“Ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người, mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công.

Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.

Và Bác nhấn mạnh:

“Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó”.

Nói về tư cách của một đảng chân chính cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra 12 điều. Trong đó, điều thứ 8 là: “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”. Điều thứ 10 là: “Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hoá ra ngoài”.

Cũng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết:

“Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư, mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những tính tốt ngày càng thêm ra”.

Và những tính tốt ấy theo Bác Hồ gồm có 5 điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.

1. Nhân: Là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà cương quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân… Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền.

Những người đã không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải, họ đều làm được.

2. Nghĩa: Là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

3. Trí: Vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng. Biết xem người, biết xét việc, vì vậy biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

4. Dũng: Là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc.

5. Liêm: Là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Học tập và nghiên cứu các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Bác luôn luôn coi trọng phẩm chất con người. Đồng thời chúng ta cũng thấy Người luôn luôn có thái độ dứt khoát, kiên quyết, thể hiện một quyết tâm chính trị lớn trước những tệ nạn quan liêu, tham ô, lãng phí và những biểu hiện của những suy thoái đạo đức khác. Không bao giờ thấy Bác nói “Đẩy lùi tham nhũng” mà chỉ thấy Bác nói: Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù hung ác của chủ nghĩa xã hội. Tham ô, lãng phí là một tội ác, là kẻ thù của nhân dân, người cách mạng phải tiêu diệt nó.

Song Bác Hồ cũng nói:

“Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo” lên lợi ích cá nhân, nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể. Lợi ích của cá nhân luôn gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với lợi ích của tập thể thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”.

Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI của Đảng đề ra là hợp với lòng dân. Nhân dân ta đang hy vọng và chờ đợi. Tất nhiên đây là một công việc khó khăn, song dù khó khăn cũng phải phấn đấu làm cho thành công, vì xây dựng Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và chế độ ta.

Một Đảng cách mạng, một người cách mạng phải luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng!

Mác đã từng nói: “Hạnh phúc chân chính của con người là phải hoà nhịp với hạnh phúc của hàng triệu người khác”.

Còn Lê-nin trong những ngày khó khăn của Cách mạng Tháng Mười, Hội đồng dân uỷ được phân phối mỗi người một pút khoai tây. Khi đọc bảng phân phối thấy ghi: “Lê-nin 2 pút, Crupxcaia 1 pút” Crupxcaia là vợ Lê-nin. Lê-nin đã lấy bút chữa lại: “Lê-nin 1 pút, Crupxcaia 0” và ông ghi Crupxcaia không ở Hội đồng dân uỷ.

Những người cách mạng chân chính bao giờ cũng biết quên mình vì hạnh phúc của nhân dân. Và để trở thành những người cán bộ tốt, đảng viên tốt, chúng ta hãy nhớ lời Bác căn dặn: “Muốn thành cán bộ tốt phải có tinh thần tự chỉ trích”.

Một nhà thơ đã viết:

“Ta hãy tự trả lời ta – Bạn hỡi

Khi ta vui và cả lúc ta buồn

Tâm hồn ta có trong sáng đẹp hơn

Trước phút đi xa, Bác Hồ căn dặn

Không đáng sợ kẻ thù trước mặt

Sợ nhất kẻ thù ẩn náu trong ta!”.

Theo Bùi Công Bính/ baonamdinh.com.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

‘‘Ao cá Bác Hồ’’ trên cao nguyên

Giữa núi rừng đất đỏ, trong cái nắng mùa khô như thiêu như đốt, hồ nước mang hình con thuyền khổng lồ vẫn đầy ăm ắp, trong xanh, mát rượi. Những hàng cây buông tán lá tựa những mái tóc dài. Từng đàn cá tung tăng bơi lội vui mắt. “Ao cá Bác Hồ” như một con rồng nước nối liền hai xã Tân Khai và Thanh Bình, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước không chỉ là nơi nuôi cá mà còn là một danh thắng trên cao nguyên…

Huyền tích ‘‘Ao cá Bác Hồ’’

Sau hơn nửa ngày hành trình đường rừng mệt lử trên chiếc xe U-oát, chúng tôi mới tới được doanh trại của Ban Chỉ huy quân sự huyện Hớn Quản. Huyện mới tái lập, doanh trại còn đơn sơ, nhà tranh vách tôn nhưng trên con đường đất đỏ dẫn vào cổng doanh trại, một không gian xanh mát, trữ tình mở ra. Đó là một cái ao, đúng hơn là một cái hồ rộng gần 38.000m2, trong đó diện tích mặt nước hơn 24.000m2, phía đầu bờ có chiếc cổng gắn tấm bảng đã ngả màu thời gian với dòng chữ đắp nổi: Ao cá Bác Hồ. Khung cảnh ở đây sơn thủy hữu tình, tạo ấn tượng sâu đậm cho khách từ xa tới. Thiếu tá Nguyễn Xuân Thụy, Chính trị viên phó Ban Chỉ huy quân sự huyện Hớn Quản cho hay, “Ao cá Bác Hồ” vừa mới được Ủy ban nhân dân huyện bàn giao quyền quản lý, sử dụng, khai thác cho Ban Chỉ huy quân sự huyện, tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ cải thiện đời sống. Đây là công trình thanh niên được xây dựng ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trải qua gần 36 năm, “Ao cá Bác Hồ” đã được cải tạo, tu bổ nhiều lần, nhưng những dấu ấn của thời kỳ đầu “mở đất” thì vẫn còn nguyên vẹn.

Vùng đất này xưa được gọi là xứ Bình Long. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, lực lượng thanh niên xung phong, công nhân xứ Bình Long nô nức bắt tay vào công cuộc kiến thiết quê hương, đẩy mạnh lao động, tăng gia sản xuất. Một trong những công trình thanh niên trọng điểm được chính quyền huyện Bình Long phát động là đào, đắp một ao thả cá lớn, tạo nguồn cung cấp thực phẩm thủy sản cho các nông trường trong khu vực. Việc đào ao thả cá ở vùng rừng núi được coi là một quyết định lớn, thể hiện quyết tâm sắt đá của thế hệ thanh niên cao nguyên lúc bấy giờ. Bà Năm Thị Gái kể: “Năm 1976, tôi được tuyển vào làm công nhân Nông trường cao su Sa Trạch. Thanh niên các tổ chức Đoàn từ các nông trường, địa phương được vận động đóng góp công sức, kinh phí để xây dựng ao thả cá. Hàng nghìn đoàn viên thanh niên đã tham gia lao động trong nhiều tháng. Để tạo động lực cho thanh niên hăng say lao động, những người tổ chức đã đặt tên cho công trình là “Ao cá Bác Hồ”. Những ngày lao động, thanh niên cắm cờ, treo khẩu hiệu, làm việc rất khí thế. Cái tên ấy trở thành tên gọi đầy thiêng liêng, tự hào của lớp thanh niên chúng tôi ngày đó”.

Đất đào ao được đắp thành một con đê chạy dọc theo chiều dài công trình. Sau khi hoàn thành, “Ao cá Bác Hồ” là niềm tự hào của tuổi trẻ Bình Long. Lãnh đạo huyện đã chỉ đạo tổ chức nuôi cá mang lại nguồn lợi kinh tế cao. “Ao cá Bác Hồ” là một trong những mô hình tăng gia sản xuất có hiệu quả nhất thời kỳ đó ở miệt rừng cao nguyên. Điều thú vị là bà Năm Thị Gái, một trong những nữ đoàn viên thanh niên tham gia xây dựng “Ao cá Bác Hồ” ngày đó, chính là vợ của ông Phan Văn Năm, người quản lý “Ao cá Bác Hồ” từ năm 1990 đến nay. Sự sát cánh, hỗ trợ của bà giúp ông Năm có thêm niềm tin, nghị lực và tình yêu đối với công việc thầm lặng suốt hơn hai thập kỷ qua.

Hơn hai thập kỷ bên ‘‘Ao cá Bác Hồ’’

Ông Đặng Lịch, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chơn Thành, nguyên cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện Bình Long kể: “Năm 1990, phòng Nông nghiệp được Ủy ban nhân dân huyện Bình Long giao quản lý “Ao cá Bác Hồ”. Là cán bộ nông nghiệp có nhiều kinh nghiệm về nuôi trồng thủy sản, ông Phan Văn Năm là lựa chọn số một của Phòng Nông nghiệp huyện đảm nhiệm nhiệm vụ này.

Ông Năm tiếp chuyện chúng tôi trong căn nhà cấp 4 đơn sơ được dựng ngay trên bờ ao. Đây là mái ấm của gia đình ông hơn hai mươi năm nay. Ông và vợ con sinh sống giữa một không gian toàn cây và cá. Khoảng sân trước nhà cũng được ông be bờ, quây bạt làm nơi nuôi và cung cấp cá giống. Ông kể: “Sau khi nhận nhiệm vụ cấp trên giao, tôi về vận động vợ con đến dựng nhà sinh sống cạnh bờ ao để tiện cho việc quản lý, nuôi cá. Hàng ngày, bên cạnh việc chăm sóc ao cá, tôi cùng vợ con ươm cây trồng dọc triền đê và xung quanh bờ ao”.

Những hàng cây, vườn cây, ông Năm và gia đình trồng đã tạo nên một không gian xanh đẹp mắt, trữ tình. Ao cá dài và rộng nên công tác chăm sóc, quản lý, bảo vệ khá vất vả. Những năm đầu, việc nuôi cá diễn ra thuận lợi. Về sau, do thời tiết biến đổi, vùng cao nguyên xuất hiện nhiều trận lũ quét, lũ ống. “Ao cá Bác Hồ” nhiều lần bị ngập, tràn đê. Nhìn đàn cá bị dòng lũ cuốn đi, ông Năm đau như cắt từng khúc ruột. Nhiều người khuyên ông từ bỏ ao cá, đi làm rẫy có thu nhập ổn định hơn, nhưng ông Năm không thể rời bỏ. “Công trình đã mang tên “Ao cá Bác Hồ” thì dù khó khăn, gian khổ đến mấy cũng phải giữ gìn, bảo vệ” – ông nói.

Việc nuôi cá ngỡ như bình lặng, vậy mà vợ chồng ông Năm đã không ít lần bị đe dọa cả mạng sống. Nhắc đến những kỷ niệm hơn hai mươi năm gắn bó với “Ao cá Bác Hồ”, bà Gái kể, giọng bổi hổi: “Năm 1992, trong một lần cuốc dọn bờ ao, tôi đào trúng một quả đạn to như nắm tay của Mỹ sót lại từ thời chiến tranh. Một tiếng nổ rung chuyển cả mặt ao, làm đổ một cây mít cạnh đó. Tôi bị hất văng ra xa mấy mét, nằm ngất lịm. Cứ tưởng tan xác rồi nhưng nhờ trời, tôi chỉ bị thương nhẹ. Sức ép từ vụ nổ làm tôi bị ảnh hưởng thần kinh, đau đầu trong một thời gian dài”.

Nghĩa tình và tâm nguyện

Những năm gần đây, do lũ lụt, thiên tai liên miên nên mỗi năm ông Năm chỉ thả nuôi cá một vụ, thu hoạch trước mùa mưa. Dẫn chúng tôi rảo bộ dọc bờ ao, ông Năm hồ hởi nói về ý tưởng xây dựng “Ao cá Bác Hồ” thành một điểm đến của du lịch sinh thái, giải trí trên cao nguyên. Muốn vậy, cảnh quan xung quanh hồ nước cần phải cải tạo, nâng cấp, xây dựng một số công trình phục vụ du khách hai bên bờ. “Gần một phần ba đời người gắn bó với “Ao cá Bác Hồ”, tôi coi đây là niềm tự hào, hạnh phúc của bản thân và gia đình. Nhưng sức tôi có hạn, trong lúc “Ao cá Bác Hồ” đang rất cần được tu bổ, gia cố để phát triển. Lâu nay, tôi vẫn mong muốn có cơ quan, đơn vị nào đó đứng ra đảm nhiệm công việc này. Nay, Ủy ban nhân dân huyện Hớn Quản quyết định bàn giao “Ao cá Bác Hồ” cho Ban Chỉ huy quân sự huyện, tôi rất mừng. Tôi tin các chú bộ đội sẽ chăm lo chu đáo “Ao cá Bác Hồ”. Tôi mong muốn được một lần ra Hà Nội, vào Lăng viếng Bác và đến thăm Ao cá Bác Hồ. Giá như có thể đưa được giống cá từ Ao cá Bác Hồ ở Hà Nội đem vào thả nuôi ở cái ao này thì tuyệt vời biết bao. Đó sẽ là một ý tưởng rất hay để đưa “Ao cá Bác Hồ” trở thành một điểm du lịch hấp dẫn và độc đáo ở miệt rừng cao nguyên này” – ông Năm tâm sự.

Phan Tùng Sơn
Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm lần đầu Bác Hồ về thăm biển

Ngày 30-3-1959, lần đầu tiên Bác về thăm Hải quân.

Ngày đó, tôi là Hiệu trưởng Trường Huấn luyện bờ bể (sau đổi tên Trường Sĩ quan chỉ huy Kỹ thuật Hải quân, nay là Học viện Hải quân). Giữa tháng 3 năm 1959, tôi được triệu tập lên Bộ Tổng Tham mưu để nhận một nhiệm vụ đặc biệt: “Chuẩn bị kế hoạch đưa Bác Hồ đi thăm biển, đảo tại Hải Phòng và Quảng Ninh”. Nhiệm vụ này yêu cầu phải được giữ bí mật. Trên đường về, lòng tôi vô cùng bồi hồi chờ đến ngày đón Bác.

Trời hôm đó thật đẹp. Nắng ấm. Đúng tám giờ sáng, đoàn xe của Bác dừng tại cổng trường. Cán bộ, chiến sĩ đều bất ngờ khi nhìn thấy Bác Hồ bước ra. Bác đội mũ cát trắng, mặc bộ quần áo bà ba màu gụ, chân đi dép cao su giản dị. Những tiếng reo hò vang dậy. “Bác Hồ! Bác Hồ! Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Cờ hoa rực rỡ phấp phới bay trên các tàu.

Tôi chấn chỉnh lại hàng ngũ, đi nghiêm, định đến báo cáo với Bác mọi việc đã sẵn sàng cho chuyến đi, kính chúc Bác và đoàn mạnh khỏe. Bác vẫy tôi lại gần, nhẹ nhàng: “Đi công tác với Bác lần này, Bác miễn cho các chú mọi thủ tục và nghi lễ chính quy nhé!”.

ky niemBác Hồ chụp ảnh kỷ niệm với cán bộ, chiến sĩ Trường Huấn luyện bờ bể (đồng chí Nguyễn Thế Trinh thứ 2 từ phải sang-hàng ngồi). Ảnh tư liệu

Nhiều đồng chí xúc động, rưng rưng nước mắt, lần đầu được gặp Bác, được nghe Bác nói chuyện, dạy bảo. Như Người cha lâu ngày về gặp gỡ đàn con, Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe mọi người. Ở mỗi nơi đến thăm, Người luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Bác nhắc nhở: “Cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên phải coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ huy, phục vụ tốt chăm lo cải thiện đời sống tinh thần, vật chất của đơn vị; giáo viên, học viên của trường thực hiện dạy tốt, học tốt, nâng cao chất lượng trong tiếp thu kỹ thuật tàu thuyền”. Bác còn căn dặn mọi người dù ở cương vị nào cũng phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu không ngừng để bản thân tiến bộ và xây dựng Hải quân mau chóng trưởng thành. Thăm nơi ở, bếp ăn, Bác nhắc nhở: “Nuôi quân là quan trọng lắm, quân có khỏe thì mới học tập được”.

Tàu 154 thuộc Đại đội 3 được giao nhiệm vụ đưa Bác và các đồng chí cán bộ cao cấp đi thăm và kiểm tra một số đơn vị trên vùng biển Hạ Long. Bác đã truyền lại kinh nghiệm đi biển cho các cán bộ, chiến sĩ trên tàu, từ cách chống sào, cuộn dây mồi sao cho đẹp, cho chặt mới ném đi được xa và cả những động tác của người thủy thủ khi tàu rời bến, cập bến. Ai cũng biết rằng, Bác Hồ của chúng ta đã từng là một thủy thủ trên con tàu ra đi tìm đường cứu nước năm xưa nên đã truyền lại kinh nghiệm đi biển cho các chiến sĩ.

Ngày 31 tháng 3, tàu đưa Bác đến thăm trận địa pháo trên đảo Hòn Rồng. Đây là một trận địa pháo của Đại đội 34, thời gian này thuộc Quân khu Tả Ngạn, làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển Hạ Long. Tàu vừa tới đảo buông neo, Bác nhanh nhẹn bước xuống chiếc xuồng nhỏ vào sát bờ rồi lội lên bãi cát. Bác tươi cười rảo bước nhanh về phía các chiến sĩ đang hò reo chạy xuống đón Bác. Với giọng ân cần Bác nói: “Bác và anh Cả (đồng chí Nguyễn Lương Bằng) thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra thăm các chú”. Không chờ đơn vị báo cáo tình hình, Bác hỏi ngay: “Các chú thiếu nước ngọt và sách báo lắm phải không?”. Các chiến sĩ trả lời: “Thưa bác, vâng ạ!”. Bác quay lại bảo đồng chí cán bộ Tổng cục Hậu cần về nghiên cứu bảo đảm sao cho mỗi tuần anh em có thể tắm hai lần nước ngọt. Bác dặn dò anh em phải biết tiết kiệm điện, nước: “Vì những thứ này trên tàu quý lắm”. Sau đó, đi xem nơi ăn ở sinh hoạt, nấu nướng, Bác vui vẻ hỏi: “Củi đun các chú lấy ở đâu?”. Một chiến sĩ trả lời: “Thưa Bác, chúng cháu tăng gia đấy ạ!”. Bác nói vui: “Không phải, trời tăng gia đấy, các chú chỉ chặt về đun thôi”. Mọi người cười vang. Các chiến sĩ đã biếu Bác trứng gà và su su của đơn vị tăng gia được.

Khi đơn vị đã ngồi quây quần xung quanh Bác ở sân doanh trại, Bác bắt đầu hỏi chuyện về đảo. Chuyện học tập, công tác, chuyện hậu phương, Bác khuyên nhủ cán bộ, chiến sĩ cố gắng khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, tích cực học tập chính trị, quân sự, văn hóa: “Không được chủ quan, thỏa mãn; phải đoàn kết nội bộ; đoàn kết quân dân; giữ gìn vũ khí trang bị máy móc…”. Trong việc xây dựng lực lượng, Người nhấn mạnh: “Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng không quên những truyền thống đánh giặc xưa kia của tổ tiên. Các chú phải nhớ xây dựng Hải quân của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam chứ không phải Hải quân của thế giới”. Bác hỏi: “Các chú chưa có đài phải không? Bác sẽ gửi tặng các chú một chiếc!”. Mọi người reo lên sung sướng, khi đồng chí phóng viên đề nghị Bác chụp ảnh lưu niệm, toàn đơn vị tập trung ngồi bên Bác, ai cũng muốn ngồi thật gần Bác và muốn giữ mãi giây phút thiêng liêng, tự hào đó. Nghe các chiến sĩ thì thầm với đồng chí phóng viên, Bác hiểu ý và nói với đồng chí phóng viên: “Chú gửi tặng mỗi người một tấm”.

Khi Bác quay về, các học viên Trường chúng tôi tặng Bác bông hoa đá, Bác nhắc nhở nhẹ nhàng: “Hoa đá đẹp mà không ăn được. Giá các chú biếu Bác quả bầu, quả bí trồng được để Bác mang về nấu canh, rồi mời các đồng chí trong Trung ương cùng ăn thì Bác càng vui hơn”. Lời nhắc nhở của Bác thật tinh tế, nhẹ nhàng, là một bài học sâu sắc về tính thực tế cho đơn vị.

Theo Báo Quân đội nhân dân 
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn