Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ cơ sở

Bác Hồ nói chuyện với nông dân và xã viên HTX - NN Lai Sơn - Vĩnh Phúc ngày 30.3.1958Bác Hồ nói chuyện với nông dân và xã viên
Hợp tác xã nông nghiệp Lai Sơn – Vĩnh Phúc ngày 30/3/1958

Nhận thức rõ bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa ngay từ những ngày đầu chính quyền nhân dân mới được thành lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: Quyền lực của nhà nước là của nhân dân, Nhà nước là của dân, do dân, vì dân. Trong tổ chức bộ máy Nhà nước có thang, bậc, quyền hạn khác nhau nhưng đều là một công cụ thể hiện quyền lực nhân dân. Cán bộ từ trên xuống dưới làm đầy tớ cho nhân dân, phải xứng đáng là người công bộc trung thành của nhân dân. Người đặc biệt chú ý tới việc thực hiện quyền lực của nhân dân ở cơ sở. Điều đó được thể hiện ở nhiều bài viết, bài nói của Người với cán bộ và nhân dân ta. Chỉ bằng những mệnh đề đơn giản, hàm xúc, ngắn gọn mà đầy đủ ý nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát bằng cách riêng của mình những giá trị văn hóa dân chủ của nhân loại từ cổ đại đến hiện đại mà lại rất Việt Nam, cụ thể và thực tế, nên ai đọc cũng có thể cảm nhận được ngay.

Từ quan niệm “mọi lực lượng đều ở nơi dân”, nhìn thấy và tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân, nên Người yêu cầu phải “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”(1). Để nhân dân có điều kiện tham gia trực tiếp vào việc thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với tư cách là người chủ thực sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu cán bộ, đảng viên phải luôn luôn: Vì nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Người luôn ý thức rằng: Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết. Dân là gốc của nước. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Trong cuốn Đường Kách mệnh (1927), Người đã khẳng định: Kách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc môt hai người. Đó là tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ cơ sở nhận thức khoa học: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề đoàn kết tập hợp được đông đảo nhân dân. Đảng dù vĩ đại đến mấy cũng chỉ là một bộ phận của nhân dân, một bộ phận tiên phong, tiên tiến nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng: Dân chủ là vì dân, tất cả vì lợi ích của nhân dân. Người thường nói: “Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân ta hết sức tránh”. Đó cũng chính là mục đích của Người: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Dân chủ là tư tưởng cơ bản xuyên suốt quá trình cách mạng. Cái cốt lõi trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là lấy dân làm gốc. Bản chất dân chủ là quyền làm người. Người nói: “ Lãnh đạo một nước mà để cho nước mình lạc hậu, bị thiệt thòi trong hưởng hạnh phúc con người cũng là mất dân chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Người đánh giá rất cao về dân chủ: Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân. Thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc chúng ta: Nước lấy dân làm gốc, dân lấy cuộc sống làm đầu, chế độ ta là chế độ của dân, do dân. Dân theo Đảng đứng lên đánh đuổi kẻ thù giành lấy chính quyền mà có được. Các cấp chính quyền và đoàn thể từ trung ương đến địa phương, cơ sở là do nhân dân bầu cử ra. Do vậy, mỗi cán bộ phải vì dân, hết lòng phục vụ mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Theo người phương thức cơ bản của dân chủ cơ sở là “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”.

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc dân là chủ và phương pháp làm việc là phương pháp dân chủ chứ không phải là những thủ thuật chính trị. Người đã đưa ra một quy định làm việc khoa học như sau: Trước hết phải làm cho dân biết: “Phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi người dân hiểu rõ rằng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được” (2). Hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm khơi dậy sức mạnh của nhân dân bằng cách giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích và trách nhiệm, quyền hạn và bổn phận. Xuất phát từ lợi ích, coi lợi ích là động lực trực tiếp thúc đẩy mọi hành động chính trị của quần chúng, Người yêu cầu: “Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết”(3)  và “việc gì có lợi cho dân thì phải làm cho kỳ được. Việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh” (4). Lợi ích của mỗi người dân được đảm bảo ngày càng đầy đủ hơn và nhờ vào vị thế của họ đã giành được trong quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, hi sinh, mất mát để giành lấy Độc lập, Tự do, để trở thành người chủ và làm chủ xã hội. Người nói: Dân chủ có nghĩa dân là chủ và dân làm chủ. Vì vậy, trong nội hàm của khái niệm “dân hiểu”, Chủ tịch Hồ Chí Minh như muốn làm cho mọi người thấy rõ, hiểu thấu ý nghĩa lớn lao của vị thế “là chủ” đó, nhất là với nông dân là những người có trình độ học vấn thấp nhưng lại chiếm số đông trong xã hội “làm sao cho bà con hiểu mình là người chủ tập thể, làm chủ hợp tác xã, làm chủ Nhà nước” (5). Thấy rõ được vai trò, vị trí của nông dân, nông nghiệp, nông thôn đối với sự phát triển của nền dân chủ trong một nước nông nghiệp lạc hậu như ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Bao giờ nông thôn, nông dân thực sự nắm chính quyền, nông dân được giải phóng thì mới dân chủ thực sự” (6). Sau những diễn biến phức tạp của xã hội nông thôn Việt Nam xuất hiện những điểm nóng chính trị – xã hội ở nông thôn như năm 1998, 1999, 2011, 2012, chúng ta càng thấy ý nghĩa lớn lao trong chỉ dẫn đó của Người.

Thứ hai, khi dân đã được biết, được hiểu thì phải tạo điều kiện cho dân được bàn bạc thực sự, bàn tất cả mọi vấn đề và mọi người đều được tham gia bàn bạc: “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt ra kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương” (7).

Cần hiểu rõ nguyện vọng của dân. Họ muốn được tôn trọng, được bày tỏ ý kiến. Họ rất tốt, rất khôn khéo, họ biết rất nhiều điều mà chúng ta không biết. Hơn nữa: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do… Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý” và từ đó họ “tự do phục tùng chân lý” (8). Phải chăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của mọi công việc đều có nguồn gốc từ đây bởi ở đây, nhân dân đã phát huy được quyền dân chủ bằng năng lực và sức sáng tạo của mình.

Thứ ba, sau khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc và được xây dựng kế hoạch của địa phương mình, cơ sở mình, họ sẽ dùng chính sức lao động của họ vào những việc làm, hành vi, nhiệm vụ cụ thể một cách tự giác… Lúc này nhiệm vụ của lãnh đạo là “động viên và tổ chức cho toàn dân ta thi hành, phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân”, phải biết “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” có như vậy mới động viên được đông đảo nhân dân tích cực tham gia và thực hiện mọi kế hoạch của địa phương cơ sở.

Thứ tư, “Khi thi hành xong phải cùng với nhân dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng” (9). Đây là công đoạn cuối cùng của quy trình tiến hành thực hiện dân chủ của mỗi tổ chức, đơn vị, địa phương, cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng việc kiểm tra, rút kinh nghiệm là vô cùng quan trọng và cần thiết giúp chúng ta thực hiện tốt những nhiệm vụ khác. Dân kiểm tra cán bộ, cán bộ kiểm tra dân, dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt động và lề lối làm việc sao cho dân chủ , cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên, nhất là phê bình từ dưới lên. Kiểm tra chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện một cách nghiêm túc, được đánh giá một cách khách quan, được tiến hành bằng những giải pháp khéo léo, tinh tế mà Người gọi là “phải kín đáo”. Thanh tra chỉ có hiệu lực nếu được tiến hành một cách đột xuất hiện và bất ngờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm kiểu mẫu cho phương pháp kiểm tra, thanh tra khoa học và có hiệu quả ấy. Đồng thời với mong muốn của Chính phủ: “đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để cán bộ làm tròn nhiệm vụ… người đầy tớ trung thành, tận tụy của nhân dân” (10), Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên kêu gọi nhân dân giám sát công việc của Chính phủ từ Trung ương. Bằng tình cảm chân thành nhất, Người nói: “Từ ngày thành lập Chính phủ, trong nhân viên có nhiều khuyết điểm. Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ, chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân, phì gia… Xin đồng bào hãy phê bình giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ” (11).

Dân kiểm tra là một nội dung về quyền dân chủ nhằm dựa vào dân mà xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nuớc và các tổ chức đoàn thể nhân dân thật sự vững mạnh, trong sạch nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Việc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu, cậy thế, trái phép… chỉ có thể thực hiện hiệu quả nếu biết dựa vào sự kiểm tra, giám sát của quần chúng nhân dân.

Trong quá trình mở rộng và thực hiện quyền làm chủ nhân dân ở nước ta hiện nay. Đảng ta coi dân chủ cơ sở là khâu quan trọng nhất. Quan điểm đó được xây dựng trên cơ sở nền tảng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung, dân chủ cơ sở nói riêng và yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam hiện nay. Cở sở (xã, phường, cơ quan, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp…) là nơi trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, công tác và học tập. Cơ sở là nơi diễn ra sự tiếp xúc , mối quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân với Đảng bộ và chính quyền, với cán bộ công chức điều hành xử lý công việc hàng ngày.

Cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp kéo dài trước thời kỳ đổi mới đã hạn chế dân chủ, làm cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội có nguy cơ chệch hướng. Ngày nay, đông đảo nhân dân ở cơ sở có những yêu cầu bức xúc về dân chủ, có những nguyện vọng và lợi ích thiết thân trong cuộc sống hàng ngày. Họ đòi hỏi được biết, được bàn, được tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra ở cơ sở, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám sát những việc làm hàng ngày của cán bộ lãnh đạo. Lê-nin đã chỉ ra rằng: Không chỉ tuyên truyền về dân chủ, tuyên bố và ra sắc lệnh về dân chủ là đủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho “những người đại diện” nhân dân trong những cơ quan đại biểu là đủ. Cần phải xây dựng chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, sự tham gia thực sự của quần chúng vào mọi công việc của Nhà nước.

Thực tế cho thấy, ở đâu và lúc nào thực hiện tốt dân chủ cơ sở thì ở đó đoàn kết, tập hợp được quần chúng nhân dân, tích cực tham gia và đạt kết quả toàn diện, vững chắc. Ngược lại, nơi nào xem nhẹ dân chủ, để mất dân chủ, cán bộ xa rời quần chúng nhân dân, quan liêu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm, thiếu đạo đức, không lắng nghe, tôn trọng và không quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, lợi ích của quần chúng nhân dân… thì nơi ấy sẽ rất khó thực hiện đúng và đưa ra chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với người dân, sẽ không thể nào có kết quả cao.

Dân chủ cơ sở cũng là một trong những tư tưởng cơ bản xuyên suốt trong tư tưởng dân chủ của chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng dân chủ của Người luôn xoay quanh cái cốt lõi: Dân là gốc. Dân là gốc thì dân phải là chủ và dân phải làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Người đánh giá rất cao về dân chủ: Dân chủ là thứ quý báu nhất của nhân dân. Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn. Điều đáng mừng là, hiện nay, chúng ta đang thực hiện dân chủ ở cơ sở, thông qua việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đã và đang thực hiện tốt hơn chức năng và nhiệm vụ của mình theo đúng đường lối của Đảng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhiều nội dung và hình thức phong phú, đạt được nhũng kết quả tốt.

Chú thích:

(1.2). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN.2000 Tập. 5, tr.698.
(3.4). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.6, Tr90,88
(5). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.10, tr.404.
(6). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.7, tr25.
(7). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.5, tr.698-699.
(8). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.8, tr.216.
(9). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.5, tr.699.
(10). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.7, tr361-362.
(11). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.5, tr61.

Theo Nguyễn Văn Công
PGĐ Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Kim Yến

bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch – Vị anh hùng không nghĩ tới mình

U. Bớcsét (Ôxtrâylia)

Nói tới một con người mà cả cuộc đời đã để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hồ Chủ tịch - Vị anh hùng không nghĩ tới mình

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều ân hận là Người đã qua đời trước khi hoàn thành sự nghiệp cách mạng và đạt được mục đích giành độc lập hoàn toàn cho một nước Việt Nam thống nhất mà Người đã cống hiến cả đời mình, nhưng ít nhất thì Người cũng đã ra đi với một lòng tin tưởng vào thắng lợi không còn bao xa nữa.

Hồ Chí Minh là một người đã cảm hóa tất cả mọi người Việt Nam từ già đến trẻ. Người là một con người thẳng thắn, khiêm tốn, giản dị. Hình ảnh anh hùng không nghĩ tới mình trước sau như một của Người, từ cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh trước đây đến cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt cộng (Mặt trận Dân tộc giải phóng) ngày nay, đã cổ vũ, trở thành tấm gương cho hàng chục vạn thanh niên Việt Nam thà chết, không chịu làm nô lệ.

Từ khi bắt đầu ném bom miền Bắc, Mỹ đã dùng mọi cách tàn phá những công trình công nghiệp, y tế, giáo dục – tất cả đều được xây dựng sau khi thắng Pháp – hầu như tất cả những di sản của tổ tiên để lại cũng đều bị bom đạn Mỹ biến thành những đống gạch vụn, nhưng toàn thể nhân dân miền Bắc Việt Nam đều tuân theo lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, dù có bị tàn phá nặng nề đến như thế nào, dù cả Hà Nội và Hải Phòng cũng bị tàn phá chăng nữa.

Trong thời gian miền Bắc bị ném bom ác liệt nhất, một nông dân Việt Nam đã nói với tôi: “Ném bom quả là đáng sợ thật, nhưng so với ách chiếm đóng của bọn thực dân thì không nghĩa lý gì. Có bị tàn phá thì chúng tôi lại xây dựng lại”.

Làm việc ở ngoài hiên

Một chuyện điển hình về Hồ Chủ tịch là sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Người đã đặt Văn phòng Chủ tịch ở một căn nhà nguyên là chỗ ở của những nhân viên phục vụ Phủ toàn quyền của Pháp trước đây. Còn Phủ toàn quyền, Người chỉ chuyên dành cho các cuộc tiếp đãi chính thức.

Khi tôi hỏi Người: “Văn phòng của Chủ tịch đâu?”. Câu trả lời của Người làm cho tôi kinh ngạc: “Lúc nào trời tối thì ở ngoài hiên, khi trời mưa thì ở trong buồng ngủ”.

Sự thực là Người không có một ngôi nhà nào khác. Khi tôi đến thăm Người, với bộ quần áo vải nâu mà những người nông dân thường mặc và đôi dép cao su lốp ô tô, Người ra đón tôi như đón một người quen cũ. Tác phong giản dị, không cầu kỳ đó, Hồ Chủ tịch suốt đời không thay đổi.

Một con người ít nói

Một đặc điểm nữa của Hồ Chủ tịch là Người trình bày những sự việc hết sức phức tạp bằng những lời lẽ rất ngắn gọn, dùng những hình ảnh hết sức trong sáng khiến cho ai cũng có thể hiểu được.

Sau khi Mỹ đưa quân đội chiến đấu vào miền Nam Việt Nam, có dư luận cho rằng chúng sẽ tiến công ra miền Bắc. Tôi hỏi Hồ Chủ tịch là nếu quân Mỹ làm như vậy thì kết quả sẽ ra sao?

Hồ Chủ tịch đã để cho tôi liên tưởng tới chuyện: “Con cáo bị mắc bẫy một chân” rồi trả lời tôi: “Nếu cứ giãy giụa lung tung định hòng thoát bẫy thì còn chân kia cũng sẽ mắc nốt. Nếu Mỹ dám tiến công miền Bắc thì kết quả rồi sẽ như vậy”.

Lần đầu tiên được gặp Hồ Chủ tịch, tôi cũng đã được thấy những hình ảnh tả thực, được nghe những câu nói ngắn gọn như những lời tiên tri như vậy. Đó là vào đầu tháng 3 năm 1954. Tuy mới đặt chân lên đất nước Việt Nam, nhưng trên đường tới đây tôi đã được nghe Đài Phát thanh Hà Nội – lúc này vẫn đang ở trong tay người Pháp – đưa tin về tình hình hoạt động của quân Pháp ở phía sau quân “Việt Minh” từ căn cứ Điện Biên Phủ. Khi đó tên Điện Biên Phủ mới bắt đầu được nói tới trong cuộc chiến tranh, do đó tôi đã hỏi Hồ Chủ tịch về Điện Biên Phủ. Hồ Chủ tịch đặt ngửa chiếc mũ lên bàn, chỉ vào đáy mũ và nói: “Đây là Điện Biên Phủ, một thung lũng có núi bao bọc xung quanh”. Sau đó Người vòng tay theo vành mũ, nói tiếp: “Quân viễn chinh Pháp ở dưới thung lũng này, chúng tôi từ trên núi ở xung quanh bao vây chúng. Chúng nhất định không thể thoát được”.

Đó là xu thế tất nhiên và lịch sử đã chứng minh rằng Hồ Chủ tịch đã nói đúng.

Khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, tôi lại hỏi Hồ Chủ tịch là Người nghĩ như thế nào đối với việc Mỹ tuy thừa nhận là chúng không thể thắng trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam nhưng lại huênh hoang là bằng cách ném bom miền Bắc chúng sẽ có thể thắng được. Hồ Chủ tịch trả lời: “Mỹ đã tính lầm nếu cho rằng dựa vào việc tàn phá miền Bắc bằng bom đạn, chúng sẽ có thể thắng ở miền Nam”, “chúng tôi quyết không ngừng chiến đấu, dù là 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Cuộc chiến đấu của chúng tôi là chính nghĩa, chúng tôi sẽ được sự ủng hộ của nhân dân toàn thế giới kể cả nhân dân Mỹ. Chúng tôi sẽ thắng”.

Ấn tượng nổi bật nhất mà bất cứ ai lần đầu tiên gặp Hồ Chủ tịch cũng đều cảm thấy là trí tuệ tập trung ở đôi mắt đen ngời sáng của Người, là lòng nhân đạo và sức hấp dẫn làm cho người tới thăm thấy gần gũi ngay với Người. ấn tượng thứ hai là khả năng đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề bằng những lời lẽ ngắn gọn và rất đúng. Điều này chứng tỏ Người nắm rất chắc một cách toàn diện nội dung bàn luận. Người không những biết sử dụng rất nhiều thứ tiếng Âu, Á mà đồng thời còn rất hiểu tình hình trong nước của những người khách đến thăm.

Lịch sử sẽ dành cho Người vinh dự của một vị lãnh tụ vĩ đại mà thế kỷ XX đã sinh ra. Nhân dân Việt Nam sẽ mãi mãi ca ngợi Người.

(Trích từ sách: Người là Hồ Chí Minh, (Tập hồi ký), Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 1995).

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong trái tim Việt kiều ở Udonthani

Udonthani.1Mỗi năm Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tỉnh Udonthani
đón hàng nghìn đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan,
tìm hiểu những tháng ngày Bác Hồ hoạt động cách mạng tại Thái Lan.

Làng Noọng Ôn, xã Xiêng Phin, huyện Mương, tỉnh Udonthani (Thái Lan) là nơi 84 năm về trước (năm 1928), Nguyễn Ái Quốc, lúc đó có tên gọi Thầu Chín, hay ông già Chín, từ Châu Âu về Thái Lan hoạt động cách mạng.

Mặc dù chỉ ở đây một thời gian ngắn nhưng Nguyễn Ái Quốc đã để lại ấn tượng không bao giờ phai mờ trong lòng bà con Việt kiều.

Thầu Chín đã chủ trương mở rộng tổ chức; làm cho nhân dân Thái Lan có cảm tình hơn với người Việt và cách mạng Việt Nam; giáo dục Việt kiều tôn trọng phong tục, tập quán của nhân dân Thái Lan; đẩy mạnh việc học chữ Việt, chữ Thái… Năm 1929, Thầu Chín đã rời Udonthani, tiếp tục đi các địa phương khác hoạt động nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước trong bà con kiều bào ở Thái Lan.

Năm 2003, để ghi nhận giá trị lịch sử của mảnh đất này, chính quyền tỉnh Udonthani và Hội Người Việt Nam tỉnh Udonthani đã khởi công xây dựng Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên diện tích gần 1ha tại làng Noọng Ôn. Hiện Khu Lưu niệm đã hoàn thành gồm 2 phần chính: Khu nhà ở của Bác được tái tạo và Khu nhà đa năng mới xây kiên cố làm nơi thờ phụng, đọc sách, chiếu phim và trưng bày các kỷ vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh…

Udonthani.2Gặp gỡ giao lưu giữa bà con Việt kiều ở Udonthani với du khách

Udonthani.3Khu tưởng niệm gồm 2 phần chính: Khu nhà ở của Bác
được tái tạo và khu nhà đa năng làm nơi thờ phụng, đọc sách,
chiếu phim và trưng bày các kỷ vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Udonthani.4Một góc bàn làm việc của Bác tại Khu nhà ở của Bác được tái tạo

Udonthani.5Những hiện vật được lưu giữ tại Khu nhà ở của Bác được tái tạo.

Udonthani.6.1Góc giường ngủ của Bác trong Khu nhà ở của Bác được tái tạo

Udonthani.6Trưng bày hình ảnh hoạt động của Bác Hồ ở Thái Lan.

Udonthani.8Ông Vũ Mạnh Hùng (bên phải), đang giới thiệu với du khách về những ngày tháng Bác Hồ hoạt động cách mạng ở Thái Lan

Theo laodong.com.vn
Phương Thúy
(st)
bqllang.gov.vn

Tôi đã làm Thư ký cho Hồ Chủ tịch

Đalila Caxenli (Pháp)

Trong đời hoạt động cách mạng của tôi (43 năm), tôi đã có hạnh phúc được ở gần năm chiến sĩ cộng sản lỗi lạc: Mácxen Casanh, Pôn Vayăng Cutuayriê, Môrixơ Tôrê, Giắc Đuyclô, và Hồ Chí Minh. Một trường học phong phú biết bao đối với một chiến sĩ cách mạng.

toi lam thu kyBác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Pa-ris năm 1946

Một trong những dịp mật thiết là dịp cho phép tôi cộng tác với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tôi là Thư ký của Người suốt thời gian cuộc thương lượng ở Phông-ten-nơ-blô, năm 1946. Chúng tôi ở khách sạn Ngôi Sao. Hàng ngày tôi sắp xếp báo chí mà Người theo dõi. Chúng tôi thảo luận về những diễn biến của cuộc đàm phán. Qua những lúc trò chuyện, tôi cảm thấy Người yêu quý đất nước của mình hơn hết, và Người âu yếm biết bao các cháu thiếu nhi. Người nhắc đến những cái đó với biết bao nhân ái. Gương mặt Người rạng rỡ lên.

Người hiền hòa, lanh lợi, rất tế nhị, đồng thời rất kiên quyết. Người ân cần thăm hỏi sức khỏe của cha mẹ già tôi, nhất là cha tôi. Và mỗi lần như thế, mắt Người lại tươi cười, vì tôi đã kể một giai thoại về cha tôi cho Người nghe. Thật thế, khi cha tôi làm thợ giầy ở Lôdan, ông đã được biết Lê-nin. Ông nom thấy Lê-nin bước vào cửa hàng của mình với vẻ lo lắng, vì Lê-nin đem đến cho ông đôi giầy độc nhất bị hỏng gần như không sửa chữa được. Nhưng Lê-nin tỏ ra đáng mến và trông Người thiếu thốn đến nỗi cha tôi – bản chất ông cũng là người tốt – phải nén một tiếng thở dài và bắt tay vào sửa đôi giầy. Câu chuyện đó làm Hồ Chủ tịch cười hoài, vì Người cũng đã trải qua những lúc khó khăn như vậy.

Cuộc đàm phán có nhiều trở ngại, và Hồ Chủ tịch lại rất muốn giảm bớt sự đau khổ cho nhân dân nên Người có ý lo nghĩ.

Người tiếp khách nhiều. Một hôm Người cử tôi đến nói với Ximon Têry – viết Báo Nhân đạo – hãy vui lòng tiếp chuyện Người. Tôi còn nhớ, Ximon Têry cần dậy sớm – trong khi làm báo bà ta lại ngủ muộn. Tuy vậy, việc đó là một niềm hân hoan đối với Ximon Têry.

Một hôm khác, Người cử tôi đến nói với Ilya Êrenbua, nhà văn Xôviết vừa ghé qua Pa-ris, vui lòng gặp Người, nhưng kín đáo một chút, vào một giờ rất sớm.

Tôi gặp lại Ilya Êrenbua trong căn phòng rộng của khách sạn, thú vị với giờ giấc đã được ấn định. Ông vui vẻ cho biết, ông không thể biến thành màu sắc của bức tường, dù là lúc sáng sớm, nhưng ông rất hoan hỉ đến chỗ hẹn. Đấy là một chút bí mật mà Hồ Chủ tịch mong muốn.

Rõ ràng là cần phải thận trọng. Căn nhà này có nhiều bóng người qua lại, những cái tai tọc mạch lê la khắp mọi nơi, và những cuộc thảo luận về chính trị quan trọng nhất đã diễn ra trong phòng Người..

Trích từ sách: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1981

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Tổ chức đặt đá quý trang trí khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thực hiện Quyết định số 2341/QĐ-TTg ngày 22/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án: “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới”. Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đang triển khai thực hiện trang trí cảnh quan khu vực Lăng Bác để phục vụ đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan khu vực Lăng.

Được sự nhất trí của Thường vụ Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, ngày 19/7/2011, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp nhận 3 khối đá quý do Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An tặng. Sau một thời gian chế tác, ngày 20/10/2012, Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Môi trường cùng với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng đã tổ chức trang trí 3 khối đá trên tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh theo kế hoạch, bảo đảm tuyệt đối an toàn.

Việc trao tặng ba khối đá quý trên để trang trí khu vực Lăng đã thể hiện tình cảm và lòng biết ơn vô hạn của Đảng bộ, nhân dân tỉnh Nghệ An đối với Bác Hồ kính yêu, vị Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh.

1Cẩu và đặt đá tại vườn số 8

2Xe nâng chuyển đặt đá tại Nhà khách quốc tế

4Các khối đá quý sau khi được đặt tại vườn số 1 và vườn số 8
Khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đỗ Long Văn
bqllang.gov.vn

Tự phê bình và phê bình theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Trải qua hơn 80 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, với bản lĩnh của một đảng cách mạng chân chính, dạn dày kinh nghiệm, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng.

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, gần đây nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI : Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đang được Ban chấp hành Trung ương Đảng quán triệt và triển khai thực hiện. Nghị quyết đã đánh giá tình hình công tác xây dựng Đảng trong những năm qua và chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản đẫn đến những hạn chế, yếu kém. Trong đó nhấn mạnh nguyên nhân: nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát.

Vấn đề này dã được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm, nhắc nhở cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, trong di chúc để lại cho Đảng, cho nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: ” Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(1). Vậy làm thế nào để Đảng ta có được điều đó? Bác đã chỉ ra : ” Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”(1). ở Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình đã trở thành một nguyên tắc không thể thiếu trong phong cách lãnh đạo của Người. Dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất, Người vẫn thực hành tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, nêu tấm gương sáng về đức tính trung thực, thẳng thắn, về thái độ và phương pháp phê bình cho cán bộ, đảng viên noi theo.

Từ một quan niệm hết sức giản dị nhưng bao hàm tính triết lý và biện chứng sâu sắc: người đời không phải là thần thánh, không ai tránh khỏi khuyết điểm, Bác chỉ ra rằng:” Tổ chức đảng cũng vậy, Đảng không phải trên trời rơi xuống, ” Đảng là người, nên có sai lầm”, tức là cũng có lúc khoẻ mạnh, lúc ốm đau, bệnh tật. Đó là lẽ thường tình, không vì thấy ốm đau mà phát sinh tư tưởng lo sợ, bi quan, tuyệt vọng, giấu giếm bệnh tật trong mình”(2). Do đó, theo Bác có bệnh thì phải mạnh dạn, chủ động, khẩn trương, kiên trì chạy chữa. Hồ Chí Minh chỉ ra liều ” thần dược” để chữa trị các chứng bệnh trong cơ thể của tổ chức Đảng và mỗi cá nhân đảng viên là tự phê bình và phê bình : ” Tự phê bình là phương thuốc trị bệnh cứu mình, phê bình là phương thuốc trị bệnh cứu người”. Người nói: Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình cũng như có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc, để đến nỗi bệnh càng nặng, không chết cũng “la lết quả dưa”(2).

Bác yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên ” mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”. Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như con người cần không khí, không có không khí con người sẽ chết, không có tự phê bình và phê bình Đảng khó lòng mà tồn tại. Chủ tich Hồ Chí Minh khẳng định: ” Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Đảng cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình “để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng”(2).

Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất giúp Đảng ta ngày càng thêm mạnh, ngày càng phát triển, càng nâng cao hơn nữa năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Tự phê bình và phê bình giúp ta sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, tiến bộ không ngừng. Bởi vậy, theo Bác, trong Đảng muốn đoàn kết chặt chẽ, ” ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”. Có thực hành dân chủ rộng rãi thì tự phê bình và phê bình mới trở thành nền nếp thường xuyên trong sinh hoạt Đảng. Trong tác phẩm ” Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), Bác viết: “Nếu cách lãnh đạo của ta không được dân chủ thì đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ không dám phê bình”.

Tự phê bình và phê bình là nhu cầu nội tại của tổ chức Đảng và đảng viên. Song sử dụng nó phải đúng mục đích thì mới có tác dụng, hiệu quả cao. Nếu sử dụng không đúng mục đích thì dù đó là vũ khí sắc bén cũng không tiêu diệt được kẻ thù, là “thần dược” cũng không trị được bệnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: ” Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Vì vậy phê bình mình cũng như phê bình người phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người”. Do đó, tự phê bình và phê bình tức là gột rửa những thói hư tật xấu, những cái nhơ bẩn lây bám, xâm nhập vào con người chứ không phải cắt bỏ thân thể con người. Tư tưởng nhân văn, đề cao yếu tố con người của Hồ Chí Minh ở đây thật bao la, sâu sắc và chan chứa tình người. Bác Hồ đã từng phê phán: ” Ai hợp với mình thì người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng, nó làm hại đến sự thống nhất”.

Từ quan điểm xuất phát thể hiện tính dân chủ và nhân đạo cao cả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra phương pháp, hình thức và những yêu cầu để tiến hành tự phê bình và phê bình đạt hiệu quả cao nhất:

Trước hết, phê bình phải đi đôi với tự phê bình và phê bình phải gắn liền với sửa chữa, với biểu dương khen thưởng. Nếu chỉ phê bình người khác mà không tự phê bình thì chẳng khác nào ” thầy thuốc chỉ đi chữa bệnh người khác mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa”. Tại buổi Lễ bế mạc lớp Bổ túc trung cấp (10/1947), Hồ Chí Minh đã nói: “Tự phê bình rồi lại phải phê bình người khác nữa…Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người…Thấy cái xấu của người mà không phê bình là một khuyết điểm rất to. Không phê bình, tức là để cho cái xấu của người ta phát triển”.

Tự phê bình và phê bình phải gắn với sửa chữa, tức là phải chỉ rõ ưu, khuyết điểm và phương hướng để phát huy hoặc khắc phục. Đồng thời phải gắn với động viên, khen thưởng, xử phạt rõ ràng.

Thứ hai, tự phê bình và phê bình phải đạt tới cái đích là làm rõ đúng, bảo đảm tính khách quan, trung thực, thẳng thắn và chân tình. Tự phê bình cũng như phê bình phải trung thực, không nể nang, không thêm bớt. Bác nhắc nhở: ” Phê bình phải nghiêm chỉnh, chắc chắn, phụ trách, nói có sách, mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn, xây dựng, ” trị bệnh cứu người”, chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm. Khi phê bình, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Trong lúc phê bình, khuyết điểm phải vạch rõ ràng, mà ưu điểm cũng phải nhắc đến. Một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”.

Thứ ba, Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải bảo đảm tính dân chủ, công khai. Công khai phân tích, nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm của mình, đồng chí mình và tổ chức đảng trước hội nghị, phê phán nghiêm khắc tình trạng ” ngồi lê đôi mách”, ” việc gì cũng không phê bình trước mặt mà để nói sau lưng”. Bác cho rằng: ” Kiểu phê bình như vậy là biểu hiện của bệnh “cá nhân””.

Tự phê bình và phê bình muốn đạt kết quả cao thì phải được tiến hành trong bầu không khí thật dân chủ, bình đẳng. Chỉ có dân chủ rộng rãi thì mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân mới tích cực, chủ động, nói thẳng, nói thật. Song mở rộng dân chủ trong tự phê bình và phê bình không có nghĩa là muốn nói gì thì nói, muốn phê thì phê. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì một cuộc tự phê bình và phê bình nghiêm túc là: ” Trong lúc thảo luận, mọi người được tự do hoàn toàn phát biểu ý kiến , dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh”. ở đây, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt rất quan trọng, như Bác đã dạy: cán bộ cao cấp phải gương mẫu tự phê bình và phê bình trước.

Thứ tư, tự phê bình và phê bình phải được tiến hành thường xuyên, phê bình từ trên xuống và từ dưới lên, nhất là từ dưới lên, có như vậy mới đạt hiệu quả cao. Bởi vì, nếu chỉ phê bình một chiều thì như Bác so sánh cũng giống như người ” đi một chân, không thể đi được”.

Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải đảm bảo đúng nguyên tắc, song cách thức tiến hành phải mềm dẻo, khéo léo. Nếu chỉ dùng phương pháp cứng rắn, mệnh lệnh, ép buộc thì rất khó tiếp thu. Phê bình không đúng lúc, đúng chỗ, không khôn khéo sẽ có tác dụng ngược lại thậm chí còn gây ra hậu quả khó lường bởi lẽ lời chê như một mồi lửa, lòng tự ái, kiêu căng của con người giống như một kho thuốc súng. Ngày xưa,Trang Tử cũng đã từng nói: Người chê ta phải là thầy ta, người khen ta phải là bạn ta, người nịnh hót ta là kẻ thù của ta.

Thứ năm, người và tổ chức được phê bình phải có thái độ thành khẩn, vui lòng để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí hoặc oán ghét. Hết sức tránh thái độ ” giấu bệnh sợ thuốc”, bị phê bình thì im lặng, không tìm cách sửa đổi. Hồ Chí Minh gọi đó là “thái độ không thật thà, không đúng đắn” và thái độ đó sẽ dẫn đến hậu quả hết sức nghiêm trọng, bệnh ngày càng nặng thêm, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.

Trong bất kỳ một tổ chức đảng nào, cho dù là tổ chức đảng cấp trên hay tổ chức đảng cấp dưới, bất kỳ một cá nhân đảng viên ở cương vị nào nếu không thấm nhuần tư tưởng tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cũng sẽ phạm phải những sai lầm lớn. Thực tế hiện nay, một số tổ chức đảng và đảng viên đã làm tốt công tác tự phê bình và phê bình, trong các cuộc họp đã dám nói thẳng, nói thật ưu, khuyết điểm giúp tổ chức đảng và đồng chí mình phát huy, sửa chữa. Song bên cạnh đó, vẫn còn một số tổ chức đảng chưa phát huy tốt tinh thần phê và tự phê. Trong các cuộc hội nghị, cán bộ, đảng viên không dám góp ý kiến, đặc biệt là góp ý cho cấp trên, cho lãnh đạo vì sợ bị trù dập, không được thăng chức, nâng lương…Một số tổ chức đảng và đảng viên không góp ý cho tổ chức, cho đồng chí mình ngay trong cuộc họp mà lại đi nói sau lưng có tính chất ” kích động”, làm mất uy tín người khác. Bên cạnh đó vẫn còn một số cán bộ, đảng viên lợi dụng tinh thần phê và tự phê để chỉ trích, phê phán người khác với thái độ không thiện cảm, vì mục đích cá nhân” vạch lá tìm sâu”, ” chuyện bé xé ra to”, làm cho người bị phê bình không nhận ra được sai lầm để sửa hoặc có nhận ra họ cũng khó lòng mà sửa được. Bởi vậy, chúng ta học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải bằng hành động thực tế, không nên hô hào, chỉ nói mà không làm hoặc nói nhiều làm ít.

Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng nâng cao trí tuệ, phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn trong Đảng, là quy luật sinh tồn và phát triển của Đảng. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi phải có tính Đảng và tính nguyên tắc cao, phải đảm bảo tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường được mối quan hệ chặt chẽ giữa đảng và quần chúng. Chủ tich Hồ Chí Minh đã tiếp thu, nghiên cứu, vận dụng và bổ sung sáng tạo quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về vấn đề tự phê bình và phê bình một cách hết sức cụ thể và độc đáo. Chính vì vậy, Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng nước ta đi đến thành công, xứng đáng và làm tròn vai trò lãnh tụ chính trị của giai cấp và của dân tộc. Ngày nay, khi toàn Đảng đang quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng, chúng ta càng thấm nhuần hơn tư tưởng tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này sẽ giúp chúng ta thực hiện thành công Nghị quyết của Đảng, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc tới thắng lợi vẻ vang.

* Tài liệu dẫn và tham khảo:
1/ Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh- NXB Chính trị quốc gia- Hà Nội- 1999.
2/ Hồ Chí Minh: Về tự phê bình và phê bình- NXB Sự thật- Hà Nội- 1986.
3/ Hồ Chí Minh toàn tập- NXB Chính trị quốc gia- Hà Nội- 1996.
4/ Xây dựng Đảng, rèn luyện đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh- NXB Quân đội nhân dân- Hà Nội- 2003.
5/ Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.

Đặng Thanh Vững
Phòng Đào tạo
truongleduan.quangtri.gov.vn


Xem Bài 1

Tổng thống nước Cộng hòa Panama đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Anh hùng liệt sỹ

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Ngài Ricardo Martinelli Berrocal – Tổng thống nước Cộng hòa Panama và Phu nhân đã sang thăm chính thức nước ta từ ngày 24/10/2012 đến ngày 27/10/2012. Trong khuôn khổ chuyến thăm của Ngài Tổng thống và Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Panama, sáng ngày 25/10/2012, Ngài Tổng thống, Phu nhân và các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Kính viếng các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam”. Sau đó Đoàn đã đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt hoa tưởng niệm Người, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

DSC 0047Tổng thống nước Cộng hòa Panama và Đoàn đại biểu cấp cao nước
Cộng hòa Panama đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên ở cấp Nguyên thủ Nhà nước Panama kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (28/8/1975). Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Ricardo Martinelli và Phu nhân diễn ra trong bối cảnh hai nước đạt được những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế. Panama là một nước ở khu vực Trung Mỹ. Nền kinh tế Panama chủ yếu dựa vào ngành dịch vụ (chiếm 79,2% GDP); thu nhập phần lớn từ các dịch vụ của kênh đào Panama (bảo hiểm, cảng kho, đăng ký cờ tàu), ngân hàng, Khu Tự do thương mại Colon và du lịch. Tại các diễn đàn đa phương và khu vực, hai nước thường xuyên trao đổi ủng hộ lẫn nhau. Panama là một trong những nước sớm ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và bỏ phiếu bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc khóa 2008-2009. Năm 2010, Panama đã công nhận Quy chế Kinh tế thị trường cho Việt Nam.

Đây cũng là dịp lãnh đạo hai nước trao đổi các khả năng và biện pháp tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của mỗi bên; triển khai thực hiện các thỏa thuận đã ký kết trong các lĩnh vực như nông nghiệp, khoa học – kỹ thuật, hàng hải… thiết thực phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển ở mỗi nước.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Triết lý sống Hồ Chí Minh

Triết lý sống là giá trị nội tại, quan niệm về sự cống hiến và hưởng thụ nhu cầu vật chất, tinh thần, như là mục đích cuối cùng của đời người. Triết lý sống nằm trong đạo đức nhưng là phần “chìm”, phần tinh túy của đạo đức, có chức năng tự điều chỉnh đời sống tư tưởng, tình cảm và hành động của con người.

 Có thể lấy những câu C. Mác trả lời con gái là một ví dụ về triết lý sống:

– Hỏi: Đức tính mà cha yêu quý nhất? – Trả lời: Giản dị.

– Hỏi: Quan niệm của cha về hạnh phúc? – Trả lời: Đấu tranh.

– Hỏi: Đặc điểm chủ yếu ở Cha? – Trả lời: Mục đích trước sau như một.

– Hỏi: Tính xấu mà cha ghét nhất? – Trả lời: Xun xoe, quỵ lụy

– Hỏi: Câu cách ngôn mà cha thích nhất? – Trả lời: “Không có cái gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi”.

Qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Việt Nam đã hình thành nên những giá trị nhân sinh đặc sắc, trong đó có triết lý sống. Điều này được biểu hiện ở những danh nhân và anh hùng dân tộc. Đức Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), một trong những vị vua anh minh trong lịch sử Việt Nam; là người sáng lập Thiền phái Phật giáo Trúc lâm (một giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc của dân tộc), ngay khi đang ở đỉnh cao của vinh quang và quyền lực, Ông đã để lại đằng sau tất cả những ham muốn trần tục, bước vào đời sống tu hành nhằm mưu cầu quốc thái dân an. Nguyễn Trãi (1380 – 1442), tác giả của Bình Ngô đại cáo luôn khẳng định: “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân”. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa mà còn phát triển triết lý sống cao đẹp của dân tộc lên tầm cao mới; đó là triết lý sống của cá nhân gắn liền với đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản chủ nghĩa.

Từ khi chế độ XHCN ra đời (1917) đến nay, xã hội XHCN do các đảng cộng sản lãnh đạo, cầm quyền đã phải đương đầu với biết bao hiểm nguy, gian khổ. Vừa phải đấu tranh chống lại sự bao vây, cấm vận, tiến công xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít; vừa phải xây dựng chế độ mới, nhưng chế độ XHCN vẫn tồn tại và phát triển. Không ai có thể phủ nhận được rằng, với xã hội XHCN, loài người đã có thêm một sự lựa chọn lịch sử mới về con đường phát triển của nhân loại. Con đường mà ngày nay nhân dân lao động và những người tôn trọng sự bình đẳng và công bằng xã hội đang được đặt ra ở chính ngay những nước tư bản phát triển (mà “Phong trào Chiếm phố Uôn” là một ví dụ). Tuy nhiên chế độ XHCN, với mô hình Liên Xô – Đông Âu đã rơi vào khủng hoảng, sụp đổ trong những năm 80, đầu năm 90 của thế kỷ XX. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó có sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên (CB,ĐV) trong các đảng cộng sản cầm quyền.

Vì sao có hiện tượng này? Để trả lời câu hỏi đó, không chỉ phân tích những sai lầm, khuyết điểm trong quan điểm, đường lối chính sách của các đảng cộng sản cầm quyền, mà còn phải phân tích những vấn đề nằm sâu ở chính con người. Trong công trình “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel”, C. Mác đã viết “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí…; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng. Lý luận có thể thâm nhập vào quần chúng, khi nó chứng minh ad hominem (chứng minh ứng dụng vào con người; lấy một con người để chứng minh) và nó chứng minh ad hominem khi nó trở thành triệt để… Nhưng gốc rễ của con người, chính là bản thân con người”1. Chỉ dẫn của C. Mác có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự phân tích tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, nhất là đạo đức, lối sống của CB,ĐV ở nước ta hiện nay.

Thực tế cho thấy, những ham muốn vô độ về vật chất, tiền bạc, tài sản, quyền lực là khởi điểm dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống. Sự khác biệt giữa con người với các sinh vật là ở nhận thức và theo đuổi lợi ích của mình. Lợi ích đó bao gồm lợi ích tinh thần và lợi ích vật chất. Đây là nguồn gốc thúc đẩy sự vận động của lịch sử xã hội và cũng là nguồn gốc triết lý sống. Có những nhận thức chung và sự khác biệt trong triết lý sống ở mỗi người. Những nhận thức chung có thể là: cuộc sống của mỗi người là hữu hạn, rút cuộc ai cũng phải “ra đi”, trở về với cát bụi; những nhu cầu cơ bản của con người là tự do, bình đẳng, lòng thương yêu người thân, gia đình, đồng loại… Sự khác biệt trong nhận thức ở mỗi người (về các giá trị vật chất, tinh thần) có thể là: có người xem quyền lực, của cải, sự giàu có hơn người là niềm hãnh diện, là mục đích cuối cùng của đời người; có người lại xem mục đích cuối cùng của một đời người là sự hy sinh, cống hiến cho xã hội, cho dân tộc, là mong được nhìn thấy hạnh phúc của con cháu, người thân, nói rộng ra là hạnh phúc của nhân dân. Với Hồ Chí Minh, triết lý sống và đạo đức cách mạng luôn gắn liền với nhau và có vai trò quan trọng đặc biệt đối với người cộng sản. Người thường dùng mệnh đề “Tự mình phải” hoặc “đối với việc, đối với người, đối với mình”. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (tài liệu để Hồ Chí Minh đào tạo lý luận Mác – Lê-nin cho lớp cán bộ trẻ ở Quảng Châu, được xuất bản năm 1927), Người đặt lên hàng đầu việc giáo dục đạo đức cho những người cộng sản trẻ tuổi. Ngay ở chương đầu của tác phẩm này, Người viết về “Tư cách một người cách mệnh”; trong đó, đòi hỏi người cách mạng phải “giữ chủ nghĩa cho vững”, đặc biệt là “Ít lòng tham muốn về vật chất”2.

Nói đến đạo đức, triết lý sống không thể không nói đến khái niệm lương tâm, đó là sự tự phán xét đối với hành động và cả trong suy nghĩ của mỗi người. Sự tự phán xét, không phải về mặt trách nhiệm chính trị hay pháp lý mà về trách nhiệm đạo đức – rằng điều đó có phù hợp với triết lý sống hay không? và rút cuộc những việc mình làm sẽ góp phần đưa xã hội đến đâu, đem lại những giá trị gì cho chính mình? Ngụy biện đối với cơ quan, tổ chức và cả với chính mình thường là nơi trú ngụ của những hành vi sai trái, những việc làm tổn hại đến lợi ích của nhân dân, của chế độ xã hội. Ngày nay, ở nước ta, tham nhũng thường thông qua lợi ích cục bộ, “lợi ích nhóm”. Lý lẽ biện hộ của họ thường được giải thích bằng những “quyết định tập thể” hoặc do “cơ chế” để lẩn tránh trách nhiệm cá nhân. Không phủ nhận môi trường chính sách, pháp luật, cơ chế… của chúng ta cần tiếp tục được hoàn thiện, bởi vẫn còn những “khoảng trống” nào đó, nhất là trên lĩnh vực kinh tế, nhưng điều đó không phải là không có người chịu trách nhiệm. Ở đây, lương tâm, triết lý sống sẽ là sự phán xét trước hết đối với mỗi người.

Nói đến triết lý sống là nói tới nhận thức, quan niệm về vinh quanghổ thẹn. Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất thiết hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến, ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”3. Như vậy, với Hồ Chí Minh, những giá trị cao đẹp của mỗi cá nhân, của đảng cầm quyền, thậm chí của cả một dân tộc cũng có thể thay đổi, nếu không biết bảo vệ, phát triển những giá trị đó. Còn nhớ, sau khi V.I. Lê-nin, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và của các dân tộc bị áp bức qua đời (năm 1924), Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã viết “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính sự coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao đến các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người không gì ngăn cản nổi”4. Những điều Hồ Chí Minh ca ngợi V.I. Lê-nin, đặc biệt là đức tính coi khinh sự xa hoa, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị… cũng là quan niệm về triết lý sống và phẩm chất của Người.

Triết lý sống Hồ Chí Minh không phải là sống khổ hạnh, càng không phải là diệt dục, mà là một quan niệm sống hài hòa, giản dị, khiêm nhường, thanh cao về tinh thần và vật chất. Với Người, cách sống đẹp là sự hài hòa giữa con người với tự nhiên, giữa cá nhân với đồng bào, đồng chí. Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi nói về nếp sống giản dị, cần, kiệm, liêm, chính của Người, đã nhấn mạnh: là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh không thể sống khác như vậy được! Vào đầu năm 1946, sau thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch chính thức của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khi trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”5. Với Người, cương vị trọng trách không phải là quyền lực, quyền lợi mà là nghĩa vụ, trách nhiệm được giao nhằm phục vụ cho hạnh phúc của nhân dân. Còn nhu cầu có tính chất riêng tư thì đó là một cuộc sống giản dị, hòa nhập với nhân dân và hài hòa với tự nhiên.

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng (khoá VII), tháng 01-1994, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra khái niệm “nguy cơ” đối với cách mạng Việt Nam. Đại hội XI của Đảng (tháng 01-2011) đã xác định những nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ CB,ĐV, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”6. Trong những nguy cơ trên, Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) của Đảng xác định, sự suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ CB, ĐV “là nguy cơ lớn nhất đối với một đảng cầm quyền, như V.I. Lê-nin và Bác Hồ đã từng cảnh báo”7. Có nhiều giải pháp để phòng, chống, đẩy lùi những nguy cơ trên; trong đó, các tổ chức, các lực lượng trong hệ thống chính trị và toàn dân, trước hết là đội ngũ CB, ĐV các cấp cần coi việc nâng cao hơn nữa hiệu quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một giải pháp cơ bản, thường xuyên và cấp bách trong tình hình hiện nay.

Triết lý sống Hồ Chí Minh là phần tinh túy trong tư tưởng đạo đức của Người. Học tập và làm theo triết lý sống của Người không chỉ vì lợi ích của xã hội, của cách mạng Việt Nam, mà còn vì sự hoàn thiện nhân cách và hạnh phúc của mỗi người./.

TS. CAO ĐỨC THÁI
tapchiqptd.vn

___________

1- Các Mác, Phri-đích Ăng-ghen – Toàn tập, Tập 1, Nxb ST, H. 1978, tr. 27.

2- Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 2. Nxb CTQG, H. 2000, tr. 260.

3- Sđd – Tập 12, tr. 557.

4- Sđd – Tập 1, tr. 295.

5- Sđd- Tập 4, tr. 161.

6- ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011. tr. 29.

7- Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), ngày 28 tháng 02 năm 2012.

Pa Pa Hồ với Chậu Xu-pha-nu-vông: Câu chuyện vượt thế kỷ…

Những năm 60 của Thế kỷ 20, tôi công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Mát-xcơ-va, may mắn được ít lần đưa đón Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Sau này ông Vũ Kỳ kể thêm nhiều chuyện, chúng tôi rút ra nhận định: Từng lời nói, việc làm của Bác Hồ đều là những bài học, lời răn dạy quí báu cho các thế hệ con cháu Việt Nam trong quan hệ Việt-Lào.

Bác Hồ đoàn kết Việt – Lào – Cam-pu-chia

Bác Hồ không chỉ lo cho độc lập, thống nhất đất nước và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới mà Người còn quan tâm đặc biệt tới khối đại đoàn kết ba nước Việt – Lào – Cam-pu-chia. Người không tán thành ý tưởng thành lập “Liên bang Đông Dương” chắc hẳn chỉ với tư tưởng chủ đạo: Tôn trọng quyền độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia dân tộc, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa nước lớn. Người chủ trương đặt tên Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ năm 1930. Năm 1951 tại Đại hội II, chủ trương đổi tên Đảng Lao động Việt Nam và đề xuất hai nước Cam-pu-chia, Lào thành lập đảng riêng ở mỗi nước của Bác được đại diện hai nước anh em rất hoan nghênh. Chính Sta-lin và Mao Trạch Đông được Bác thông báo tháng 1-1950 cũng rất tán đồng sáng kiến này.

Hiện nay còn lưu giữ trong kho tư liệu của Trung ương biên bản viết tay lời giải thích thêm của Bác, đại ý, lúc này – năm 1951, mà nói đến giai cấp vô sản chuyên chính, lập chính quyền Xô Viết v.v.. ở Miên (Cam-pu-chia), Lào là chống lại chủ nghĩa Mác(1). Được biết, chính Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (Chậu Xu-pha – tên gọi thân mật trong Hoàng cung) cũng rất tán thành với Bác Hồ rằng Hoàng thân “chưa vội” vào Đảng thì có lợi hơn cho cách mạng.

Sau Đại hội II “giải thể” Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập đảng riêng ở 3 nước, đã tiến hành Hội nghị liên minh để thành lập khối liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương(2) Chậu Xu-pha là đồng Chủ tịch của Khối.

pa pa 1Bác Hồ với gia đình Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Ảnh tư liệu.

Ông Vũ Kỳ giải thích, sự kiện lịch sử chứng tỏ Bác Hồ từ khi còn là anh thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã có tầm nhìn xuyên thấu ba nước Đông Dương phải dựa vào nhau mới tránh được “mũi dao thọc sườn” của kẻ thù từ bên ngoài trong mưu thâm “chia để trị” của đủ loại ngoại xâm. Rõ nhất là từ năm 1928 Người về Thái Lan đã qua Lào “một công đôi việc”: Tổ chức hoạt động yêu nước trong Việt Kiều, đồng thời qua đây, tìm hiểu, gây mầm trong các dân tộc Lào, đặc biệt trong dòng tộc của Phó vương Bun Khoống qua nhiều đời đều có tư tưởng chống ngoại bang xâm lược.

Năm 1941 về nước, Bác chỉ thị “bắt mối” gây dựng cơ sở yêu nước cách mạng trong các bộ tộc Lào. Từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, với tư cách đại biểu dự Hội nghị Trung ương VIII tại Pác Bó, Cao Bằng, Người chỉ đạo hội nghị thông qua Nghị quyết khẳng định: Nhật, Pháp ngày nay không phải chỉ là kẻ thủ của công nông mà là kẻ thù của cả các dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương thoát khỏi ách của giặc Pháp Nhật… (3)

Việt Minh bí mật bảo vệ ông Hoàng

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, kỹ sư Chậu Xu-pha đang trông coi thi công cầu Yên Xuân – Nghệ An. Chủ tịch Ủy ban hành chính Đà Nẵng Lê Văn Hiến nhận lệnh bổ sung vào Đoàn đại diện Chính phủ dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại, sau đó đón ông ta ra Hà Nội và qua Vinh thì mời ông bà Hoàng thân cùng đi chuyến xe. Dọc đường xe ông bà bị hỏng, được mời sang xe Bảo Đại. Bà Hoàng không muốn ngồi cùng xe với ông vua bị hạ bệ đầy tai tiếng, nên đề nghị ở lại sửa xe, ra sau, nhưng mặt khác, lại lo cho ông Hoàng ra Hà Nội sẽ ăn, ở đâu, Chính phủ Cụ Hồ đối đãi thế nào…?

Bà nóng lòng tìm gặp cho được chồng mình. Người cần vụ lễ phép dẫn bà vào Dinh Khâm sai, qua vài phòng cửa đóng then cài vắng teo, bà càng nghi ngại, nóng ruột. Một anh khác vội chạy tới báo: Hoàng thân đang dùng bữa dưới bếp – bà Hoàng càng chẳng hiểu ra làm sao, vội bước theo xuống… bếp. Tới cửa bà sững lại: Đúng là Chậu Xu-pha cùng Cụ Hồ y chang trong ảnh – đang ăn cơm vui vẻ. Hai vị buông đũa bát. Cụ Chủ tịch nhanh nhẹn đứng lên đỡ bà tới ngồi cạnh ông: Cô ăn cơm luôn! Bà chưa kịp định thần, dạ, dạ như một cái máy…

Theo lệnh Chủ tịch, một đĩa ruốc được bưng ra. Cụ nói: “Món đặc sản này đồng bào Hà Nội vừa cho tôi, chúng tôi đã dùng, cô ăn nhiều đi cho hồi sức mấy ngày đi đường mệt…”. Nghe lời Cụ Chủ tịch chân tình, giản dị quá, cổ bà cứ nghẹn lại, cố giữ cho nước mắt khỏi ứa ra… Anh cần vụ xới bát cơm đặt trước mặt bà. Cơm gạo đỏ rẻ tiền, muối mè, dưa chua và chút xì dầu như bữa ăn nơi cửa thiền. Vậy mà là bữa cơm ngon lành, hạnh phúc trong đời bà và chắc hẳn cả ông, chưa bao giờ cảm nhận được như thế!

papa 1Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Vương quốc Lào
Su-va-na Phu-ma ký tuyên bố chung Việt Nam – Lào tại Hà Nội (1962).
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Xu-pha-nu-vông đứng sau chứng kiến. Ảnh tư liệu.

Cơm nước xong, Cụ Hồ chủ động mời: Để Chậu đưa cô đi nghỉ… Trên gác hai, một phòng rộng sang trọng, chiếc giường to quá cỡ còn phủ nguyên khăn trải giường phẳng phiu, trắng muốt. Trên nền sàn gỗ giữa phòng trải chiếc chiếu mộc, một gối mây dài hơn một mét. Ông Hoàng cho biết: Mấy đêm rồi, Cụ và ông ngủ chung, cùng gối cái gối này. Ông mừng quá “lộ” bí mật với bà về chuyện còn giật mình nữa kia mà không hay biết.

– Chuyện chi lạ dữ vậy mình? – bà vội hỏi

Thì ra, từ lâu, hai kẻ thù Nhật, Pháp gầm ghè tranh miếng mồi Đông Dương, ở Lào, các nhà yêu nước như anh em Hoàng thân Phết-xa-lạt, Xu-pha-nu-vông đều là mục tiêu hàng đầu trong sổ đen của chúng. Do đó, Việt Minh đã theo sát, bảo vệ anh em Hoàng thân mà người chỉ huy trực tiếp chính là Trần Đăng Khoa – bạn thân, đồng nghiệp của ông. “Và, Cụ Hồ… mình đã hay… là ai chưa? Cụ Nguyễn Ái Quốc đấy!…” Bà Hoàng thốt lên: “-Trời đất ơi! Bà con ta đồn đại không sai: Cụ Hồ là vị thánh sống, vị cứu tinh của các dân tộc Đông Dương…”.

Ông Hoàng còn nói, Cụ lo cả khả năng xấu từ phía “người… mình” tự phát trong những ngày sục sôi cách mạng nên “giấu kín” ông, ông “đâm lo”… (Hoàng thân quen dùng từ “mình” cả khi nói với chúng tôi: mỏ than Hồng Quảng của mình, cảng Tu-ran của mình v.v..)

Song, điều ông vui mừng nhất muốn khoe với bà là chỉ mới ít ngày gần Cụ mà lòng dạ, tầm nhìn ở ông đã sáng ra, đổi mới, hứa hẹn một tương lai mới cho các bộ tộc Lào và nhân dân anh em ba nước Đông Dương. Ông chưa thấy có sách báo nào, bậc vĩ nhân nào nêu được tấm gương chân thực như Cụ Hồ về lý tưởng độc lập tự do cho dân tộc, đạo đức, nhân cách lớn của con người. Ông khẳng định sẽ học tập, đi theo con đường của Cụ và đề nghị bà cùng gọi cụ là Pa Pa Hồ. Bà mừng: Sao mình nói trúng ý em thế…. Người Việt ta đã gọi “Hồ Chí Minh – vị cha già dân tộc… Người Lào cũng sẽ gọi PaPa Hồ…”.

Ba anh em phải chung lưng đấu cật

Một lần, Hoàng thân cùng dịp Thủ tướng Chu Ân Lai qua Mát-xcơ-va đi Thụy Sĩ chuẩn bị họp Hội nghị Giơ-ne-vơ về Lào, ông Chu mời Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô Cu-dơ-nhét-xốp (sau là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô) cùng Hoàng thân dự cơm thân mật. Đại biện lâm thời Sứ quán ta Nguyễn Hữu Ngô cũng được mời, tôi tháp tùng. Trong chuyện vui, ông Cu-dơ-nhét-xốp ví Chính phủ Lào hiện tại giống như mùa đông ba anh em đắp chung một cái chăn. Người nằm giữa – chỉ Hoàng thân trung lập Phu-ma không phải co kéo gì vẫn luôn được ấm, trong khi hai bên tả-hữu: Xu-pha-nu-vông và Hoàng thân Bun-ùm (thân phương Tây) – bên này kéo được ấm thì bên kia hở bị lạnh.

Hôm tôi dẫn Hoàng thân và nhà văn Xi-xa-nạ Xa-văn đi Ôs-tan-ki-nô thăm Triển lãm thành tựu kinh tế quốc dân Liên Xô, Hoàng thân chậm rãi nói: – Bác Hồ mình có hình tượng ba anh em tựa lưng vào nhau chống thù ngoài. Đó là Việt – Cam-pu-chia – Lào ba nước tựa vào dãy Trường Sơn… Bác nói sau Đại hội II, hôm đó có cả đại biểu Sơn Ngọc Minh của Cam-pu-chia cũng rất tán thưởng. Trong ngôn ngữ ba nước đều có câu chung ý nghĩa: “một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”- đó cũng chính là nội dung một học thuyết cơ bản của Hồ Chí Minh: Đoàn kết đại đoàn kết, thành công đại thành công.

Chuyện cho nghìn năm sau

Ông Vũ Kỳ theo dõi từ đầu đến cuối một chuyện lạ, sau đó hỏi thêm tướng Lê Chưởng tháp tùng hai vị lãnh đạo Bạn cho trọn vẹn. Ấy là vào đầu năm 1963, Hồ Chủ tịch tiếp Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và Tổng Bí thư Đảng cách mạng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Từ hôm trước, Bác chỉ bảo ông Vũ Kỳ chuẩn bị cho hai chiếc khăn len quàng cổ, không nói để làm gì.

Khách vừa an tọa, chủ thân mật hỏi: Ở Lào không rét như bên này thì phải. Sang đây các đồng chí có rét lắm không? Sao các đồng chí không quàng khăn cổ cho ấm?

– Dạ thưa, khi sang Hà Nội thì trời chưa trở gió mùa Đông Bắc ạ!

– Thế thì rét lắm! Có khăn quàng cổ đấy! Nói đoạn, Bác đứng lên vào phía trong lấy ra hai chiếc khăn mới, chậm rãi đặt xuống bàn, rồi cởi chiếc khăn đang quàng cổ ra, nói:

– Đồng chí Xu-pha-nu-vông và tôi tuổi cao, già cả nên hai chiếc khăn mới này dành cho chúng tôi mỗi người một cái. Người trao tay một chiếc cho Hoàng thân, một chiếc tự quàng cổ, rồi cầm chiếc khăn cũ đi lại bên phía đồng chí Cay-xỏn, nói: – Đồng chí Cay-xỏn, Bác trao lại chiếc khăn này của Bác cho đồng chí!

Có lẽ trong cuộc tiếp kiến còn nhiều chuyện, tới khi ngồi trong xe trên đường về, hai vị khách mới hồi tưởng không thể vô tình về 3 chiếc khăn. Hoàng thân bỗng quay sang đồng chí Bảy Cay – xỏn nói to:

– Chà, Bác Hồ với tôi, hai người già hai khăn mới…

– Còn tôi, tôi được “kế thừa” khăn Bác Hồ…

Không hiểu sao chỉ nói được đến đó, Tổng Bí thư Đảng anh em bỗng im lặng, trầm ngẫm suy nghĩ, hẳn là về hai chữ KẾ THỪA…

——————–

(1) GS. Trịnh Nhu. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Kỷ niệm 60 năm Đại hội II của Đảng. Tháng 2/2011 tại Kim Bình, Chiêm Hóa, Tuyên Quang.

(2) Hồ Chí Minh toàn tập. T.6. Trang 186. NXB CTQG. 2006.

(3) Văn kiện Đảng 1930 – 1945. Tập 3. Trang 195-196.

Trịnh Tố Long
Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tình cảm Bác Hồ dành cho phụ nữ Việt Nam

“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta
trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”
– Hồ Chí Minh

Bác hồ với đại biểu phụ nữ dân tộc ít ngườiBác Hồ và đại biểu phụ nữ dân tộc ít người
tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III, tháng 3 năm 1961
.

Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ vĩ đại, một con người tiêu biểu cho lòng yêu nước, yêu thương con người. Người có một tấm lòng yêu thương rộng mở với tất cả lớp người cùng khổ trên thế gian. Trong đó người đặc biệt dành tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng cho trẻ em và phụ nữ. Người cho đó là lớp người khổ nhất trong những người khổ cực.

Ngay từ khi bôn ba nơi đất khách quê người, tìm đường cứu nước, Bác của chúng ta cũng luôn quan tâm đến sự khổ cực, bất công mà phụ nữ ở các nước thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng phải chịu đựng. Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” Người đã thẳng thắn lên án bọn cai trị đã đối xử hết sức bất công tàn bạo với phụ nữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định rằng: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội”. Và không chỉ đánh giá đúng vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội, trong quá trình đấu tranh giành độc lập, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Bác Hồ luôn là nguồn động viên, cổ vũ cho phụ nữ Việt Nam phấn đấu vươn lên, khẳng định vị thế và những đóng góp của mình cho xã hội.

Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với con đường cứu nước của Lênin vĩ đại. Từ bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, ý thức sâu sắc rằng, cứu nước là công việc chung của tất cả mọi người, hơn ai hết, Bác Hồ hiểu và đồng cảm với thân phận của người phụ nữ Việt Nam, để từ đó đánh giá đúng về họ, tin vào họ. Là người Việt Nam đầu tiên đặt nhiệm vụ giải phóng phụ nữ trong nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Người khẳng định: Phụ nữ là một lực lượng hùng hậu trong sự nghiệp cách mạng qua mọi thời đại. Người coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ cũng là một mục tiêu của cách mạng. Theo Người, sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có ý nghĩa thực sự khi giải phóng được phụ nữ, bởi vì: “Phụ nữ chiếm một nửa nhân loại, nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng xã hội chủ nghĩa chỉ một nửa”.

Quan điểm nam nữ bình quyền của Bác được xác định ngay trong bản Cương lĩnh đầu tiên của Đảng và mục tiêu này cũng được Người đưa vào chương trình hoạt động của Việt Minh năm 1941… Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Bác cũng khẳng định với toàn thể đồng bào và tất cả bạn bè thế giới về quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam với nam giới. Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa chị em phụ nữ Việt Nam cũng được xếp ngang hàng với nam giới không phân biệt trong việc ứng cử cũng như bầu cử. Ngày 20 tháng 10 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam để tập hợp phụ nữ Việt Nam thành một khối thống nhất.

Suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Người luôn đề cao vai trò của phụ nữ. Trong diễn ca “Lịch sử nước ta” Bác đã khẳng định:

“Phụ nữ ta chẳng tầm thường
Đánh đông dẹp Bắc lắm gương để đời”

Và vì thế Người luôn tự hào rằng “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng… Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng”, cả trong kháng chiến chống Pháp. Rồi chống Mỹ “ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ”. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, với những đóng góp to lớn của họ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Từ trước đến nay phụ nữ Việt Nam ta đã có nhiều đóng góp cho cách mạng, phụ nữ ta rất đáng kính, phụ nữ ta đã có rất nhiều tiến bộ”. Tuy nhiên, hiểu rất rõ rằng cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ không thể kết thúc một sớm, một chiều được, một mặt động viên chị em tự mình khắc phục khó khăn, cố gắng phấn đấu, mặt khác Người cũng “mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa”. Bởi theo Người, muốn giải phóng phụ nữ, muốn biến sự bình đẳng nam nữ thành hiện thực sinh động trong cuộc sống thường ngày, thì phải có sự tiến bộ về nhiều mặt: Kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội…Đấu tranh để giải phóng phụ nữ thực sự là một cuộc đấu tranh to và khó, vì “trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại, vì nó đã ăn sâu trong đầu mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”. Khó nhưng không có nghĩa là không thể thực hiện được, và từ trong thực tiễn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phụ nữ Việt Nam đã ngày mỗi ngày một tiến bộ. Họ đã tỏ rõ vai trò người chủ, “xứng đáng mình là một phần tử trong nước Việt Nam mới”.

Đáp lại tấm chân tình của Bác giành cho phụ nữ Việt Nam, các thế hệ phụ nữ Việt Nam ta đã góp phần làm nên những chiến công hiển hách, xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ trao tặng: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đangTrong thời chiến, chị em không hề thua kém cánh nam giới mà tham gia kháng chiến chống giặc cứu nước mạnh mẽ hơn, hiên ngang hơn, với hừng hục khí thế, sẳn sàng chống lại mọi bom đạn, ngục tù của quân thù… để kháng chiến thành công giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Hòa bình lập lại tất cả phụ nữ Việt Nam lại cùng chung vai, chung sức với nam giới để bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta ngày càng giàu đẹp hơn, văn minh hơn.

Ngày 20 tháng 10 hàng năm là dịp để tôn vinh phụ nữ Việt Nam cũng là cơ hội để chị em tỏ lòng biết ơn với Bác kính yêu, cũng như nhìn lại những chặng đường lịch sử đã qua của dân tộc để cảm thấy tự hào về những gì mà phụ nữ Việt Nam đã làm. Đó là những tấm gương anh hùng lao động, những chiến sỹ thi đua, những tấm huân chương, những giải thưởng khoa học là bằng chứng ghi nhận công lao đóng góp của chị em phụ nữ, dấu ấn ghi đậm truyền thống phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà. Để từ đó nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Chứng minh rằng phụ nữ Việt Nam không chỉ là người mẹ hiền đảm đang giữ gìn hạnh phúc gia đình, mà còn là những nhà khoa học, những vị lãnh đạo tài năng có những cương vị cao trong các cơ quan Đảng và Nhà nước từ cơ sở đến Trung ương, xứng đáng với sự quan tâm và tin tưởng của Bác Hồ kính yêu./.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Nhân cách và tài trí của Người trong việc tiếp khách phụ nữ quốc tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài mà còn là một nhà ngoại giao kiệt xuất. Nhiều chính khách nguyên thủ quốc gia khi tiếp xúc với Bác đều cảm thấy quý mến và nể trọng. Đặc biệt, các vị khách quốc tế đã được gặp Bác, dù chỉ một lần, đều có sự cảm phục sâu sắc.

Trong lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, xin kể lại một số mẩu chuyện tiếp khách phụ nữ quốc tế của Bác nhằm giúp bạn đọc tăng thêm niềm tự hào, tôn kính đối với Người – một danh nhân văn hóa của nhân loại…

Đầu năm 1958, nhận lời mời của Tổng thống nước In-đô-nê-xi-a, Bác Hồ đã sang thăm quốc đảo này trong thời gian 10 ngày. Vợ chồng Tổng thống Xu-các-nô đón Bác hết sức trọng thể về mặt quốc gia, nhưng lại thân tình như người anh cả trong đại gia đình. Cả hai vợ chồng luôn tháp tùng cùng Bác đi thăm nhiều nơi trên đất nước có hơn 3.000 đảo dừa xinh đẹp.

Xu-các-nô là vị Tổng thống tài hoa, từng đạo diễn phim, soạn nhạc và cả chỉ huy dàn nhạc. Ông có khá nhiều vợ trên một số hòn đảo, vì vậy mà đệ nhất phu nhân không khỏi nổi máu Hoạn Thư. Thời gian Bác Hồ ở thăm, Bác đã có các cuộc gặp riêng vợ chồng Tổng thống và có nhiều ý kiến phân giải rất sâu sắc. Về sau, bà Xu-các-nô đã nói: “Tôi lấy làm biết ơn anh cả Hồ”.

Bác mời ông bà Tổng thống sang thăm nước ta, vợ chồng Tổng thống vui vẻ và nhận lời. Nhưng không hiểu sao lần sang thăm Việt Nam của Tổng thống Xu-các-nô sau khi Bác Hồ thăm lại In-đô-nê-xi-a lại không có bà Tổng thống đệ nhất phu nhân Xu-các-nô. Nhà nước ta đón tiếp cực kỳ trọng thể. Có 24 phát đại bác đón và tiễn; có chiếu lót đường và thảm đỏ trải trước Dinh Chủ tịch nước. Khi lên máy bay, một lần nữa Tổng thống In-đô-nê-xi-a phát biểu: “Xin tạm biệt anh cả Hồ Chí Minh”.

Hai tháng sau, bà Xu-các-nô lại sang thăm nước ta cùng với một số bà khác với tư cách Phu nhân Tổng thống. Thông báo ngoại giao đưa tin trên báo, nhân dân ta xôn xao: Ai ra đón bà? Chủ tịch Hội Phụ nữ, bà Thập chăng? Nhưng khi máy bay của bà Xu-các-nô đáp xuống phi trường Gia Lâm thì đã thấy Bác Hồ cầm hoa đón bà. Sau khi tặng hoa, bắt tay bà Tổng thống và các bà trong đoàn, Bác đến máy phóng thanh, không đọc diễn văn mà nói vài lời vắn tắt: “Nhân dân ta vừa đón Tổng thống nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a Xu-các-nô đem tới cho chúng ta tình đoàn kết, hòa bình, hữu nghị, thì lần này, nhân dân và phụ nữ Hà Nội lại đón thím Xu-các-nô. Tôi thân ái chào mừng và chúc thím trong thời gian ở thăm Hà Nội, Việt Nam tự nhiên như ở trên đất nước mình. Phụ nữ Hà Nội rất mến khách và cảm tình với phụ nữ In-đô-nê-xi-a và phụ nữ thế giới.”

Hàng ngàn người có mặt vỗ tay và cười vui khi nghe Bác gọi bà Tổng thống bằng thím. Vậy đó, với một Tổng thống nước đông dân In-đô-nê-xi-a và phu nhân, Bác Hồ của chúng ta đã được họ tôn vinh là người anh cả. Không phải ngẫu nhiên mà Bác gọi đệ nhất Phu nhân Tổng thống Xu-các-nô bằng thím.

Với nữ ký giả Pháp – bà Mađơlen Ríepphê, Hồ Chủ tịch là người cha thân yêu, hễ nữ ký giả này đến Hà Nội là xin vào gặp Bác, được Bác tiếp chuyện, mời cơm. Bác hỏi thăm nước Pháp, các đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp và những người bạn của Bác nay ai còn ai mất. Mađơlen coi Bác như người cha của mình.

Còn con gái Thủ tướng Nê-ru (Ấn Độ) theo cha sang thăm Việt Nam, Bác Hồ đã dành thì giờ trò chuyện thân tình như đối với con cháu. Sau này, bà thay cha lên làm Thủ tướng nước Ấn Độ, có dịp gặp đoàn Việt Nam là bà bày tỏ lòng kính trọng với Bác Hồ. Theo bà thì Bác Hồ thật vĩ đại bởi Bác vô cùng giản dị. Bà noi gương Bác Hồ về phong cách gần gũi nhân dân.

Đặc biệt, cô con gái luật sư Lô-zơ-bai cùng cha sang Hà Nội thăm Bác Hồ, cô yêu quý Bác và bắt Bác chiều cô như khi Bác ở trong nhà cô tại Hồng Kông. Hồi ấy, Bác hoạt động bí mật, bị nhà cầm quyền Hồng Kông bắt, định nộp cho Pháp. Luật sư Lô-zơ-bai và cả gia đình đã giúp Bác thoát khỏi nanh vuốt kẻ thù. Năm 1969, khi nghe tin Bác qua đời, cô con gái ông bà luật sư khóc nức nở và cùng với cả gia đình đã để tang Bác như đối với một người ruột thịt…

Hồng Nhung
Theo http://www.vhttcs.org.vn

Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Người phụ nữ đặc biệt và bữa cơm với Hồ Chủ tịch

Mái tóc dài buông xõa, đôi hàng lông mày cong cong, khóe miệng tươi ghi dấu một thời xuân sắc, gặp bà Trương Thị Khuê ít ai có thể nghĩ trong cái thời “ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam” người phụ nữ ấy kiên gan cầm súng canh giữ từng tấc đất Vĩnh Linh. Bà đã cùng đồng đội sáu lần bắn rơi máy bay địch, ba lần vinh dự gặp mặt Bác Hồ…

Bắn rơi 6 máy bay địch

Nơi đầu sóng ngọn gió của thời kỳ chống Mỹ, năm 1945, Trương Thị Khuê sinh ra trong một gia đình nông dân xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Mảnh đất khói lửa ấy đã sớm được hun đúc nên một cá tính mạnh mẽ và quả cảm.

Mới lên chín tuổi thì mẹ mất, tới 18 tuổi bố bị bom Mỹ giết hại, hoàn cảnh gia đình đã rèn cho cô bé Khuê tính tự lập, đảm đang, không chỉ trong gia đình mà ở các hoạt động của cộng đồng như phụ trách đội thiếu nhi, đội du kích…

Năm 1965, ở tuổi 20, Trương Thị Khuê đã trở thành Xã đội phó kiêm Trung đội trưởng pháo 12 ly 7 xã Vĩnh Thủy, khu vực Vĩnh Linh. Trong thời gian này bà đã cùng đơn vị dũng cảm, tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Bà cùng đồng đội từng bắn rơi sáu chiếc máy bay địch, bắt giữ hàng chục lính Ngụy. Tuy nhiên khi nói về những thành tích này, bà chỉ khiêm tốn nói “của đơn vị đấy, chứ tôi có làm được gì đâu.”

Bởi bà tâm niệm giản dị rằng: “Đừng ai nói với tôi là sao bà lại có thể như thế này, như thế kia. Không phải là người phụ nữ Việt Nam thích chiến đấu đâu. Đơn giản là vì Mỹ mang quân đến Việt Nam xâm lược nên mình phải đánh trả lại thôi.”

Với những thành tích trong chiến đấu, bà Trương Thị Khuê đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và Huy hiệu Bác Hồ. Đặc biệt, tháng 8 năm 1968, dân quân xã Vĩnh Thủy đã được tuyên dương đơn vị Anh hùng, bản thân bà cũng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất và được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang.

Và bữa trưa với Bác…

Tuy nhiên, khi được hỏi trong chặng đường chiến đấu và kiên trung bảo vệ Tổ quốc phần thưởng cao quý nhất với bà là gì, bà Khuê nói, đó là những  lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, được ăn cơm cùng Bác, được kể chuyện chiến đấu cho Bác nghe, được hát phục vụ Bác.

“Tôi không bao giờ có thể quên, bây giờ những hình ảnh ấy vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Bác kể chuyện, đem kẹo cho chúng tôi ăn. Nhưng cảm động nhất là bữa cơm được ăn cùng Bác có đĩa cá tre mà trong tôi gọi là cá hẹ kho, đĩa gà luộc, đĩa rau muống luộc, cà muối. Bữa trưa có thế thôi nhưng ấm áp vô cùng,” bà Khuê bồi hồi nhớ lại.

Nhắc đến đây bà Khuê rưng rưng nói: “Cảm động nhất là Bác tự tay chia phần cơm cho chúng tôi khiến chúng tôi nghẹn ngào không ăn được. Vì nghĩ hoàn cảnh mình là trẻ mồ côi không có ai chăm sóc, nhìn Bác gần gũi và giản dị giống như ông nội, ông ngoại của mình thôi, chứ không giống một vị Chủ tịch nước.”

Cũng trong năm đó, bà Khuê được Bác Hồ cho phép ở lại Hà Nội học tập phục vụ xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nhưng với tình yêu quê hương mãnh liệt, cùng mong muốn được kề vai sát cánh cùng đồng đội bảo vệ mảnh đất Vĩnh Linh khói lửa, bà lại trở về phục vụ kháng chiến. Chỉ đến khi hòa bình lập lại, bà mới rời tay súng tham gia công tác Hội Phụ nữ địa phương.

Hai lần được gặp Bác Hồ sau đó đều trở thành những dấu ấn, để lại nhiều bài học về lối sống cũng như nhân cách cao đẹp của vị lãnh tụ đáng kính và có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời bà Trương Thị Khuê.

Năm 1997, bà được tín nhiệm bầu là ủy viên Đảng đoàn – Phó Chủ tịch rồi đến Phó Chủ tịch thường trực, Phó Bí thư Đảng đoàn Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, nhiều năm liền bà là Đại biểu Quốc hội.

Trong gần 30 năm làm công tác Hội Phụ nữ, bà luôn tâm huyết và có trách nhiệm trước các phong trào của Hội. Bà trăn trở về thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa của phụ nữ vùng sâu, vùng xa, những vấn đề còn bức xúc về lao động nữ trong các khu công nghiệp, sự bất bình đẳng giới diễn ra ở nhiều nơi.

Bởi trong mắt bà, vị thế của người phụ nữ cũng cần được củng cố và nâng cao trong cả gia đình và xã hội. Bà trở thành tấm gương sáng cho các cán bộ phụ nữ của cả nước và ngay tại quê hương mình.

Đến nay, khi đã bước vào tuổi “thất thập cổ lai hy,” cái tuổi lẽ ra đã được an nhàn vui vầy cùng con cháu thì bà Khuê vẫn cần mẫn tham gia các công tác xã hội địa phương. Bà tâm niệm “mình từng là cán bộ, phải gương mẫu chứ.”./.

Theo Xuân Mai (Vietnam+)
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn