Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Mừng cho các cháu, Bác càng thương nhớ mẹ

Một lần trên đường đi thăm hợp tác xã trồng cây giỏi ở huyện Quảng Oai (Hà Tây), Bác Hồ đã nhắc đến mẹ Bác.

mung 1Bà Hoàng Thị Loan (1868 – 1901)
Thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hôm ấy khi xe ôtô đến Quảng Oai, một đoàn các em bé gái cổ quàng khăn đỏ, em mặc áo hoa, em mặc áo trắng, tay cắp sách vừa ở trong trường ra, líu ríu như chim sổ lồng. Nhìn thấy các cháu vui, Bác Hồ cũng vui theo. Người nói với chú Vũ Kỳ và các chú ngồi cùng xe:

– Này! Các chú thấy không, các cháu được ăn mặc đẹp, được đi học, cháu nào cũng vui vẻ phấn khởi, Bác mừng cho các cháu.

Rồi giọng Bác bỗng trầm hẳn xuống.

– Lúc này Bác rất nhớ mẹ của Bác. Mẹ Bác rất thông minh, lại là con gái ông đồ nho. Thế mà mẹ Bác lại không được đến lớp, đến trường đâu các chú ạ. Cũng như phụ nữ ngày xưa, từ nhỏ mẹ Bác đã phải lo việc nhà.

Mọi người cùng đi không nén nổi cảm xúc trước tình cảm của Bác đối với mẹ Bác là cụ Hoàng Thị Loan.

mung 2

Bác Hồ ra đời tại quê ngoại ở ngôi làng Hoàng Trù (tên nôm na là Cồn Trùa sau thành làng Chùa) huyện Nam Đàn, trong ngôi nhà tranh ba gian. Ngôi nhà nằm gần sát nhà cụ Hoàng Đường, được cụ dựng lên vào dịp lễ thành hôn của con gái Hoàng Thị Loan và ông Nguyễn Sinh Sắc vào năm 1883. 

Đây là gian thứ ba để bộ khung cửi dệt vải. Bà Loan thường khuya sớm dệt vải, dệt lụa giúp gia đình những lúc khó khăn, thiếu thốn. Sát bên là chiếc võng cói dài để bà tiện tay ru con những lúc đang đưa thoi dệt vải. Những lời ru ngọt ngào và âm thanh của khung cửi êm đềm là ký ức khó quên trong quãng thời thơ ấu của ba chị em cậu Nguyễn Sinh Cung ngày ấy.

(Theo Một số lời dạy và mẩu chuyện về
Tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh – NxbCTQG)
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 4 vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

QH  - canh veVòng hoa viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được chuẩn bị chu đáo

QH1Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dẫn đầu đoàn viếng

Nhân dịp khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, sáng 22/10/2012, các đồng chí: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm cùng hơn 500 đại biểu Quốc hội đã đến đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 4 – Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

DSC 0418Đoàn đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá XIII, kỳ họp thứ 4 vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII khai mạc vào ngày 22 tháng 10 tại Hà Nội và dự kiến bế mạc vào ngày 22/11/2012. Với tổng thời gian làm việc 26 ngày, Quốc hội sẽ tập trung xem xét, quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước.

Quốc hội sẽ xem xét, quyết định các vấn đề về kinh tế – xã hội, công tác giám sát… Quốc hội sẽ dành nhiều thời gian cho công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt là việc cho ý kiến về Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và một số Dự án luật quan trọng được đưa ra lấy ý kiến nhân dân.

Quốc hội sẽ nghiên cứu, thảo luận và xem xét, thông qua Nghị quyết về “việc thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai”.

Một vấn đề được cử tri quan tâm trong kỳ họp lần này là Quốc hội sẽ cho ý kiến về Nghị quyết lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Một nội dung quan trọng khác cũng được đặc biệt cử tri quan tâm đó là Quốc hội sẽ xem xét Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Việc ban hành Nghị quyết này nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng,” Nghị quyết số 271/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc hội về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Đây cũng là một bước cụ thể hóa các quy định hiện hành của Hiến pháp và luật, khắc phục những hạn chế, bất cập trong quy trình bỏ phiếu tín nhiệm, góp phần đưa các quy định của Hiến pháp và luật về bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn đi vào cuộc sống./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Bữa cơm gia đình

Khoảng cuối năm 1951, trong một lần đến thăm và nói chuyện với học viên lớp chính trị của quân đội ở Việt Bắc. Bác bảo anh Phương – chồng tôi là cán bộ phụ trách lớp.

– Chiều nay, chú cho Bác ăn bữa cơm, vì nói chuyện xong, tối, Bác còn phải đi họp với một chi bộ ở Định Hóa.

– Bấy giờ tôi cũng làm văn thư ở Hiệu bộ, nên anh Phương cử người nhắn tôi chuẩn bị.

Công việc của Bác xong xuôi, Bác về đến cơ quan thì cơm nước cũng đã sẵn sàng. Sinh hoạt ở rừng còn thiếu thốn, kham khổ. Anh em muốn “bồi dưỡng” cho Bác, để Bác khỏe, nhưng lại sợ. Nhưng rồi cũng quyết định thịt một con gà “tăng gia” kiếm ít măng rừng làm cơm mời Bác.

Bác ngồi vào bàn ăn, bảo anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), hai vợ chồng tôi và đồng chí cảnh vệ cùng ăn. Tôi cứ một mực từ chối:

– Thưa Bác cháu ăn rồi. Mời Bác và các anh, các chú xơi cơm đi…

Mãi sau, Bác mới đồng ý và bắt đầu dùng cơm. Vào bữa cơm Bác nói:

– Cô cho Bác xin quả ớt.

Tôi ngại quá, bèn nói thật:

– Thưa Bác, chúng cháu sợ Bác ăn ớt có hại sức khỏe nên không dám cho vào măng nấu ạ.

Bác quay sang anh Phương:

– Chắc chú lệnh cho cô văn thư chứ gì. Thế là chú quan liêu rồi…

Anh Văn chỉ tủm tỉm cười nói thêm:

– Ớt là “vi-ta-min-ơ” của Bác đấy.

Bữa cơm của Chủ tịch nước giản dị, vui vẻ, thân mật như bữa cơm trong một gia đình ấm cúng.

Cơm nước xong Bác hỏi tôi:

– Cô thư ký được mấy cháu, tên là gì?

Anh Phương đỡ lời tôi:

– Thưa Bác, được ba cháu gái đặt tên là Thu Thủy, Thu Thảo, Thu Vân.

Bác cười hiền từ, nói:

– Tôi có hỏi chú đâu! Sao đặt tên “văn chương” thế!

Gọi là “Thu Ngô, Thu Khoai, Thu Sắn” có hay không?

Mọi người cùng cười vui vì biết Bác liên hệ với phong trào tăng gia sản xuất, trồng thêm màu ngô, khoai, sắn… sản xuất nhiều lương thực đóng thuế nông nghiệp, nuôi bộ đội đánh giặc, mà Chính phủ mới phát động.

Lát sau, Bác lại bảo:

– Bác nói vui thế thôi. Những cái tên Việt Nam ấy rất đẹp.

Chưa kịp nghỉ ngơi, Bác đã chuẩn bị lên đường, Bác đeo balô đi trước, hai đồng chí cảnh vệ, anh Văn tiếp bước sau Bác. Mới đông mà sương chiều Việt Bắc đã xuống rất nhanh tụ thành những đám mây lụa mỏng trắng bìa rừng.

Chúng tôi nhìn theo Bác, ung dung, khoan thai như đi dạo cảnh thiên nhiên hùng vĩ, ngỡ ngàng như vừa được qua một giấc mơ đẹp trong một bữa cơm gia đình.

Theo http://www.nvhtn.org.vn

Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Bức tượng Hồ Chí Minh trên hòn đảo Châu Phi

Đêm. Gió biển thổi lồng lộng. Đứng trên bến cảng Toamashina của hòn đảo Madagascar, nhìn ra Ấn Độ Dương bao la, tôi hình dung hình ảnh người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đứng trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville dõi mắt xa xăm theo đại dương thăm thẳm, nhớ đến quê hương trên hành trình vạn dặm tìm con đường giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Sóng vỗ vào thân các con tàu trên bến khiến tôi bỗng nhớ câu thơ của Chế Lan Viên viết trong bài “Người đi tìm hình của nước”: “Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương”.

tuongTượng đồng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thủ đô Antananarivo.

Sử sách ghi lại người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba đã xin một chân phụ bếp trên tàu Đô đốc Latouche Tréville và đi qua các miền đất Châu Phi. Mỗi khi tàu cập cảng, người thanh niên ấy lại tranh thủ lên bờ, tìm hiểu cuộc sống của vùng đất mới đến.

Năm 2003, Madagascar đã đặt bức tượng Hồ Chí Minh tại Quảng trường cũng mang tên Hồ Chí Minh ở trung tâm Thủ đô Antananarivo. Bức tượng bằng đồng đặt trên bệ đá hoa cương, với tổng chiều cao 3,4m, tại một trong những quảng trường đẹp nhất của Thủ đô Antananarivo, phía bên dưới có tấm biển đồng khắc câu nói nổi tiếng của Người: Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Nhiều người bản xứ nói với tôi rằng, Madagascar dựng tượng đài Hồ Chí Minh không chỉ vì Người là anh hùng giải phóng dân tộc, Người đã nhóm lên ngọn lửa đấu tranh đòi tự do cho các dân tộc nô lệ, trong đó có Madagascar. Người dân Madagascar cũng biết rằng, Hồ Chí Minh từng là bạn chiến đấu của lãnh tụ cách mạng Madagascar Jean Ralaimongo trong những năm tháng hoạt động tại Pháp.

Trong Từ điển Bách khoa toàn thư mở có một câu viết: At the beginning of 1924 Ralaimongo was still in Paris meeting others of a socialist view including the future Ho Chi Minh (Đầu năm 1924 Ralaimongo vẫn còn ở Paris và gặp gỡ nhiều người theo quan điểm xã hội chủ nghĩa, trong đó có Hồ Chí Minh).

Giống như Việt Nam, Madagascar từng là thuộc địa của Pháp. Phong trào đấu tranh giành độc lập tại Madagascar bùng nổ sau khi các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi ở Việt Nam và một số nước Đông Nam Á. Đến năm 1947, các cuộc đấu tranh nhỏ lẻ tập hợp thành phong trào đấu tranh vũ trang. Người bản xứ Madagascar giao chiến với quân Pháp, kết quả 8.000 người tử thương. Chính phủ Pháp cố giải quyết và xúc tiến cải tổ hành chánh với Bộ luật Loi Cadre.

Năm 1958 nước Cộng hòa Malagasy ra đời nhưng chỉ được hưởng quy chế một nước tự trị trong cộng đồng Pháp (hậu thân của Liên hiệp Pháp). Thể chế này chấm dứt ngày 26-6-1960 khi Madagascar tuyên bố hoàn toàn độc lập theo Hiến pháp mới soạn thảo năm 1959.

Vào năm 1911, khi con tàu Đô đốc Latouche Tréville đi qua các cảng Châu Phi, quốc đảo này vẫn còn là thuộc địa của Pháp. Hình ảnh người dân nô lệ làm việc dưới đòn roi của những tên thực dân Pháp đã khiến người thanh niên Việt Nam rơi nước mắt khi anh nghĩ đến số phận những người dân mất nước giống như nhân dân mình.

Madagascar đã để lại dấu ấn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Từ rất sớm, bằng thực tiễn cuộc sống, trong đó có hình ảnh người nô lệ Madagascar, Người đã phát hiện một chân lý: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai loại người: Loại người bóc lột và người bị bóc lột”.

Trong thời gian sống tại Pháp, Người đã cùng các bạn châu Phi, trong đó có hai bạn người Madagascar là Jean Ralaimongo, nhà cách mạng yêu nước và Samuel Stephanie, tích cực tổ chức và tham gia lãnh đạo Hội Liên hiệp thuộc địa, tập hợp những người dân thuộc địa của Pháp (cuối tháng 11năm 1921), ra Báo Le Paria (Người cùng khổ) để mở rộng tuyên truyền đến các thuộc địa (tháng 4 năm 1922).

Ngay số đầu phát hành, Báo Le Paria đã khẳng định: Báo “ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Madagascar, ở Đông Dương, ở quần đảo Ăng Ti và Guy An”.

Trung tâm Thủ đô Antananarivo của Madagascar.

Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản tại Paris năm 1925, Bác Hồ với tên Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo hành động man rợ của đội quân viễn chinh Pháp ở Madagascar năm 1895. Người nhắc lại cuộc tàn sát đẫm máu mà thực dân Pháp đã gây ra cho nhân dân Madagascar: “Chúng đã thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, tàn sát một lúc 5.000 người của bộ lạc Sacavala trên bờ biển phía Tây của Madagascar”. Trong buổi trò chuyện với nhà thơ Xô Viết Osip Emilyevich Mandelstam, Nguyễn Ái Quốc cũng nhắc lại “những người anh em Madagascar”.

Giữa Thủ đô Antananarivo có 3 tượng đài: Một tượng đài tưởng niệm nhà yêu nước Madagascar Jean Ralaimongo, bức tượng của Lênin và bức tượng của Hồ Chí Minh. Xúc động nhất là rất nhiều người dân Madagascar mà tôi đã gặp trước tượng đài Hồ Chí Minh đều nói rằng họ biết về Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Dấu chân Người trên các bến cảng Châu Phi đã xóa nhòa vết tích theo thời gian, nhưng dấu chân Người trong tâm trí người dân Madagascar vẫn còn in đậm.

Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành là người đã đặt viên gạch đầu tiên cho mối quan hệ hai nước Việt Nam và Madagascar bằng tình bạn chiến đấu giữa Người với lãnh tụ cách mạng Madagascar Jean Ralaimongo. Việt Nam và Madagascar bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 18-12-1972.

Trong những năm qua, các hoạt động ngoại giao giữa hai bên diễn ra khá thường xuyên. Tháng 8 năm 2004 và tháng 10 năm 2008, lần lượt Đoàn Bộ trưởng Công nghiệp, Thương mại và Phát triển kinh tế tư nhân Madagascar và Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp sang thăm Việt Nam. Về phía Việt Nam, tháng 3 năm 2003 và tháng 11 năm 2003, lần lượt Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Phạm Quang Nghị và Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa cũng sang thăm Madagascar.

Việt Nam và Madagascar hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Về giáo dục, những năm 1980, Việt Nam có 45 chuyên gia giáo dục sang làm việc tại Madagascar.

Về nông nghiệp, năm 1999, Việt Nam đã cử 80 chuyên gia, kỹ thuật viên nông nghiệp và thủy sản sang làm việc tại Madagascar theo mô hình hợp tác 3 bên với sự tài trợ của Tổ chức Nông lương LHQ (FAO).

Hiện nay, Việt Nam còn 3 chuyên gia nông nghiệp đang làm việc tại Madagascar trong khuôn khổ hợp tác song phương. Hai nước cũng đã ký kết một số thỏa thuận song phương: Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học và công nghệ (tháng 11 năm 2003).

Về thương mại, kim ngạch thương mại hai chiều năm 2008 đạt hơn 10 triệu USD, năm 2009 đạt 5,8 triệu USD. Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng như: Sắt thép, dệt may, phân bón… và nhập từ Madagascar chủ yếu sắt thép phế liệu, sản phẩm chất dẻo, phụ liệu may, da giày…

(Tư liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam)

Theo sggp.org.vn
Thúy Hằng
(st)
bqllang.gov.vn

“Bác Hồ” – Tại sao lại gọi thế?

“Bác Hồ”, định ngữ này được dùng ở khắp nơi. Thời gian cùng những thử thách làm Cụ thêm uy nghiêm. Cùng với năm tháng, khuôn mặt thân thuộc, có thêm một hình ảnh thành kính. Năm 1958 đó là hình ảnh một chiến sĩ gần 60 tuổi mà người ta treo ở khắp nơi, giữa các tấm ảnh lãnh tụ Liên Xô và Trung Quốc.

BacHoChủ tịch Hồ Chí Minh

Từ nửa thế kỷ nay, Cụ đã đào luyện và hướng dẫn cách mạng Việt Nam giành độc lập và thống nhất. Trên góc độ Việt Nam, đó là một Lênin đã sống lâu để chiến thắng chủ nghĩa quốc xã, một Găngđi đã rời bỏ guồng kéo sợi để xây dựng nhà máy và lãnh đạo phong trào phản kháng. Danh tiếng quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, uy tín của Cụ, sự kính trọng của mọi người đối với Cụ trong các giới cộng sản ngoài nước và trong phần lớn các nước “Không liên kết”, đọc thấy rõ ràng. Một người như Nêru đã coi Cụ là bạn. Khi Cụ tham gia Hội nghị các Đảng Cộng sản ở Praha năm 1959, Cụ đã được bao quanh bởi một sự cảm phục khiến các chiến sĩ nước ngoài xúc động.

Cụ Hồ, trước hết là một phong cách và một kiểu quan hệ với nhân dân. Lời ăn tiếng nói mà Cụ đã dùng để nói chuyện với thiếu nhi và chiến sĩ; với cán bộ và phụ lão, người ta đã trích dẫn đủ. Đây là một trong những chìa khóa để hiểu được nhân vật, văn chương kỳ diệu, rõ ràng. Người ta không thấy giọng văn này ở cả Giôdép Xtalin lẫn Uynxtơn Sớcsin hoặc Sáclơ Đờ Gôn. Còn Cụ Hồ thì có thể vươn tới giọng nói của lịch sử. Từ đó có bản chất khác thường của các mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam. Những mối quan hệ có thể tóm tắt trong hai chữ mà báo chí và bộ máy tuyên truyền của Việt Nam hằng gắn liền với cái tên ông Hồ: “Cụ” và “Bác”. “Bác Hồ” tại sao gọi thế? Người ta có thể đi tìm sự giải thích trong sự việc là, đối với các bạn chiến đấu trẻ hơn Cụ chừng 20 tuổi thì xưng hô như vậy là thuận hơn cả. Gọi bằng “Ông” thì quá xa. Còn chữ “Anh” chỉ dùng cho những người bằng vai phải lứa. Chữ “đồng chí” là dùng với đảng viên. Nhưng cũng phải đặt chữ “Bác” vào trong tập tục xã hội Việt Nam xuất thân từ gốc gác Đạo Khổng của nó.

“Bác” là tiếng để gọi người anh của cha, người trong gia đình có tư cách và uy tín cao hơn cha. Khái niệm về tuổi tác là khái niệm rất quan trọng trong xã hội Việt Nam cũ. Người già đã và vẫn là nhân vật then chốt của một tổ chức xã hội lấy ruộng đất, làng mạc và gia đình làm cơ sở. Gia đình này được sắp xếp thứ bậc xung quanh bàn thờ tổ tiên. Đây là một di sản tinh thần cực kỳ sinh động mà cách mạng không hề đụng chạm tới.

Việc trìu mến gọi bằng “Bác Hồ” là có tính chất gia đình, biểu thị lòng yêu quý, và càng biểu thị lòng kính trọng. Thứ bậc, họ hàng có thể không hoàn toàn còn hiệu lực như trước đây nhưng nó vẫn là sự tham chiếu điển hình.

(Trích từ Hồi ký “Người là Hồ Chí Minh”, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995.)

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Ngôi nhà nhỏ và nhân cách lớn

Không một ai đến thăm nơi ở khiêm nhường của Bác mà không trào dâng niềm xúc cảm trước sự vĩ đại của một nhân cách văn hóa lớn đã trở thành huyền thoại ngay trong cuộc sống đời thường của mình. Với nếp sống thanh cao, giản dị trong một tầm suy nghĩ sâu sắc mãi mãi là bài học lớn cho mỗi người chúng ta.

Năm 1954, từ Việt Bắc trở về Hà Nội, từ chối không ở ngôi nhà của toàn quyền Đông Dương để dành làm nhà tiếp khách cho Đảng và Nhà nước, Bác Hồ chọn cho mình gian nhà cấp bốn của người thợ điện. Ngôi nhà 1 tầng khoảng 50m2, ẩm thấp, ở bên góc bờ ao trong Phủ Chủ tịch (cách ngôi nhà sàn hiện nay khoảng 100m). Nhà đổ mái bằng nên mùa hè rất nóng, còn mùa đông thì lạnh.

Mùa hè năm 1958, Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh, Cục trưởng Cục thiết kế Dân dụng, Bộ Kiến trúc (nay là Công ty TVXD dân dụng Việt Nam, Bộ Xây dựng) được giao thiết kế ngôi nhà ở cho Bác.

Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh kể lại: Lúc đó được giao thiết kế nhà ở cho Bác là điều mơ ước của một kiến trúc sư. Bác đã chịu nhiều gian khổ, nay hòa bình rồi, Bác cần phải sống trong một biệt thự sang trọng là điều đương nhiên, hình như Bác biết ý định đó Bác nói: “Bác không phải vua quan nên không thể ở trong những ngôi nhà sang trọng như chú vẽ đây. Chú thiết kế cho Bác ngôi nhà ở phía bên kia bờ ao, giống như nhà sàn Việt Bắc trước kia Bác đã ở. Chú xem nên làm thế nào thật đơn giản, chỉ cần một phòng ngủ và một phòng làm việc nhỏ thôi, không cao lắm, không cầu kỳ”.

Bác căn dặn kiến trúc sư rất cụ thể: Cần làm hành lang xung quanh để khi có các đồng chí lãnh đạo đến làm việc với Bác có lối đi và khi Bác làm việc, các đồng chí phục vụ đi lại không ảnh hưởng đến Người. Bác nói: Lợi dụng vách ngăn hai phòng làm một giá sách cho gọn, tiết kiệm và tiện sử dụng. Người nhắc nhở: Nhà làm bằng gỗ bình thường, gỗ loại một để dành làm tà vẹt đường sắt và trường học. Dưới tầng trệt, Bác bảo làm bệ xi măng thấp ở chung quanh, trên có lát ván tạo thành hàng ghế băng dài cho các cháu thiếu niên vào chơi có đủ chỗ ngồi.

Khi đó, Bác đã gần 70 tuổi, Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đề nghị đặt thêm khu vệ sinh trong nhà để sử dụng thuận tiện, nhưng Bác không đồng ý. Bác bảo: “Khu vệ sinh ở nhà cũ còn tốt, cứ để Bác dùng cho đỡ lãng phí, và tạo điều kiện để Bác đi lại cho khỏe mạnh”.

Sau khi được Bác góp ý, bản vẽ thiết kế đã nhanh chóng hoàn thành và đi vào thi công. Trong thời gian Bác đi công tác, đội thi công 30 chiến sỹ công binh đã khẩn trương xây dựng và hoàn thành ngôi nhà vào ngày 1-5-1958, sau khoảng một tháng. Khi công trình cơ bản đã xong, Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh mời Bác đi thăm nhà, một lúc sau dừng lại Bác cười nói: “Chú Kiến (Bác vẫn gọi thân mật Kiến trúc sư là chú Kiến – kiến trúc, kiến thiết) làm nhà cho Bác sang quá, còn hơn cả nhà quan tể tướng ngày xưa”. Vào dịp sinh nhật năm 1958, Bác Hồ đã chuyển sang ở ngôi nhà này cho tới ngày 17-8-1969.

Buổi khánh thành ngôi nhà sàn, Bác Hồ mặc bộ quần áo nâu, đi đôi guốc mộc. Bác chiêu đãi kiến trúc sư và thợ thi công bằng bữa “tiệc ngọt” tân gia, Bác nói vui: “Kẹo thuốc hôm nay là tiền nhuận bút của Bác bỏ ra mua, không phải của công đâu, Bác khao đấy, các chú cứ thoải mái, không hết thì mang về”. Trước khi về, Bác chờ bằng được “chú Kiến” ra ngồi ở giữa rồi mới chụp ảnh chung kỷ niệm.

Được một thời gian, nghe anh em cảnh vệ kể lại, những đêm làm việc khuya nghe tiếng phất muỗi của Bác, trong lòng thương Bác vô cùng, bởi đèn sáng giữa một khu vực nhiều cây cối và gần hồ nước nên nhiều muỗi. Đây cũng là điều mà Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh chưa thể lường hết được, ông vô cùng xúc động và ân hận. Sau nhiều lần bàn tính cuối cùng ông đã đưa ra phương án tối ưu là dùng lưới đồng nhỏ căng lên các ô cửa sổ, vừa ngăn muỗi mà vẫn có gió mát. Công việc trên làm khi Bác vắng nhà, vẫn sợ khi Bác về lại phê bình là tốn kém.

Ngôi nhà được thiết kế theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc với kích thước đã ở mức tối thiểu: Dài 10,15m rộng 6,82m, có hai tầng, tầng trên cao 2,62m có hai phòng: mỗi phòng rộng 13,50m2 dùng làm phòng ngủ và phòng làm việc về mùa đông. Tầng dưới cao thông thủy 2,20m là nơi Bác Hồ thường làm việc về mùa hè, nơi họp Bộ Chính trị quyết định nhiều vấn đề quan trọng của cách mạng Việt Nam, nơi tiếp khách thân mật. Cầu thang một nhịp 14 bậc đặt ở hướng tây nam, che được ánh nắng ban chiều dọi vào phòng ngủ.

Ngôi nhà sàn này Bác đã sống và làm việc trong 11 năm cuối đời, chỉ có những vật dụng rất đơn sơ: Một chiếc bàn, giá sách, tủ quần áo, giường gỗ cá nhân, tấm chăn đơn, chiếc chiếu cói, cây quạt cọ, chai nước lọc. Điều này đã được nhà thơ Tố Hữu khắc họa trong trường ca “Theo chân Bác”:

Nhà gác đơn sơ một góc vườn

Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn

Giường mây chiếu cói, đơn chăn gối

Tủ nhỏ, vừa treo mấy áo sờn…

Ngôi nhà sàn Bác Hồ không những có ý nghĩa về lịch sử mà còn là một công trình kiến trúc mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn. Một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao”.

Ngày 15-5-1975, ngôi nhà sàn Bác Hồ được xếp hạng là Di tích Lịch sử văn hóa đặc biệt của Quốc gia. Năm 2001, Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh (1908-1975) đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật, đợt 1 về cụm công trình kiến trúc: Lễ đài Ba Đình (1955), nhà sàn Bác Hồ (1958), Lễ đài Ba Đình (1960).

Nhiều năm đã trôi qua, những ngôi nhà ở của Bác Hồ mãi trở thành biểu tượng cho lối sống giản dị, trong sáng của đạo đức một con người Việt Nam chân chính – Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!

Theo Kiến trúc sư Nguyễn Huy Phách/ Báo Bắc Ninh

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Muốn lãnh đạo nhân dân phải lãnh đạo chính mình, cán bộ càng cao càng cần phải gương mẫu

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đánh giá cao tác dụng của sự nêu gương. Trong sự nghiệp trồng người, trong rèn luyện, giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác luôn luôn nhắc nhở đến vai trò của sự gương mẫu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:

“Nhân dân ta sẵn có truyền thống tốt đẹp là lao động cần cù, sinh hoạt giản dị, lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Chúng ta cần phát huy truyền thống và tinh thần ấy. Cán bộ phải ra sức tuyên truyền, giải thích và làm gương mẫu…”.

Có thể nói, nhiều lần, rất nhiều lần, Bác Hồ đã nhắc nhở chúng ta về sự gương mẫu.

7.muon lanh dao can phaiBác Hồ đến thăm hội nghị phổ biến máy cấy công cụ cải tiến ở
 Từ Liêm, Hà Nội, tháng 7 năm 1960. Ảnh Tư liệu.

Đọc các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta thấy Bác thường hay dùng hai từ: Gương mẫu và kiểu mẫu. Gương mẫu và kiểu mẫu cũng là những tấm gương mẫu mực, tốt đẹp để mọi người noi theo. Và theo Bác Hồ thì ai cũng phải cố gắng làm gương mẫu. Mỗi người, mỗi nhà, mỗi làng, mỗi cơ quan, mỗi tỉnh… đều phải phấn đấu trở thành gương mẫu. Và gương mẫu phải từ việc nhỏ đến việc lớn. Gương mẫu trong tư tưởng, trong đạo đức, trong sinh hoạt, trong cách ứng xử…

Đối với cán bộ, đảng viên, đoàn viên các đoàn thể thì không những tự mình phải gương mẫu thực hiện đúng Điều lệ Đảng, Nghị quyết của các đoàn thể, pháp luật của Nhà nước, hăng hái tham gia các phong trào thi đua, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, mà còn phải vận động, giáo dục cho gia đình mình, con cái mình cũng phải trở thành gương mẫu.

Phải giáo dục mọi người bằng chính tấm gương sống của mình trước đã, sau đó mới giáo dục bằng lời nói. Nói đến sự gương mẫu là nói đến trách nhiệm, nói đến sự hy sinh. Như Bác Hồ đã nói:

“Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào”.

Bác Hồ cũng thường nói với chúng ta, muốn làm cách mạng trước hết phải cách mạng tấm lòng, muốn cải tạo xã hội trước hết phải cải tạo bản thân mình trước đã. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu tấm gương sáng cho nhân dân noi theo, “đảng viên đi trước làng nước theo sau”.

Trong việc nêu gương, Bác Hồ luôn luôn nhấn mạnh đến viêc nêu gương về đạo đức, lối sống, vì Bác cho rằng đạo đức là cái gốc của một con người. Một người dù tài giỏi đến đâu mà không có đạo đức thì cũng không thể lãnh đạo được nhân dân.

Bác cũng đặc biệt nói đến sự nêu gương của những cán bộ lãnh đạo. Nhân dân chỉ quý mến, tin cậy ở những người có đạo đức cách mạng, chứ không phải vì mình là lãnh đạo mà người ta phải yêu quý. Muốn lãnh đạo nhân dân trước hết phải lãnh đạo chính mình, lãnh đạo gia đình mình, tu thân, tề gia rồi mới trị quốc được. Cán bộ càng cao càng cần phải gương mẫu, vì sự gương mẫu của cấp cao sẽ là tấm gương cho cán bộ lãnh đạo cấp dưới.

Nhiều người trên thế giới, thường đánh đồng sự lãnh đạo với quyền lực, coi chính trị là quyền lực. Nhưng Bác Hồ thì tác động vào xã hội, vào nhân dân bằng chính tấm gương đạo đức và sự nêu gương của chính mình.

Có thể nói, suốt đời Bác là sự nêu gương!

Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết:

“Trong mọi trường hợp, Hồ Chí Minh đã làm gương mẫu để xây dựng Đảng. Tấm gương của lãnh tụ được sự hưởng ứng tự nguyện và nhiệt tình của toàn Đảng, đã tạo nên khuôn phép chặt chẽ và thiêng liêng, để lại truyền thống tốt đẹp về Đảng và sự lãnh đạo của Đảng”.

Trong những ngày kháng chiến đầy hy sinh và gian khổ, noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng là sự vươn lên của cả dân tộc và của từng người để vượt qua những nguy cơ mất còn, giành lấy thắng lợi. Và khi Đảng với dân tộc là một, lãnh tụ với nhân dân là một, thì cách mạng không chỉ là những nỗ lực phi thường, mà còn là niềm vui, là “Tiếng hát át tiếng bom”, là “Đường ra trận mùa này đẹp lắm!”. Và đó cũng chính là một trong những nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Phạm Văn Đồng viết: “Ở gần Bác, tôi thấy một nét nổi bật của Bác là rất coi trọng phẩm chất con người, suốt đời chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân”.

Xã hội Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là xã hội đề cao các giá trị tinh thần, các quan hệ đẹp giữa người với người. Trong xã hội ấy, những con người tiêu biểu là những chiến sĩ dũng cảm bảo vệ Tổ quốc, những người lao động nhiệt tình xây dựng đất nước, những con người biết chăm lo cuộc sống và lợi ích chung của nhân dân… những con người có đức tính vị tha, thương yêu đồng bào, đồng chí.

Suốt đời gương mẫu, đồng cam cộng khổ với nhân dân, hoà mình vào đời sống của nhân dân – Đó là con người Hồ Chí Minh!

Trong lịch sử nước nhà, cũng đã có biết bao tấm gương lớn của những người lãnh đạo đất nước đã được ghi lại trong sử sách, những Lý Nhân Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tông…

Và Trần Thủ Độ người dựng nghiệp nhà Trần, trong chiến tranh chống Nguyên Mông đã từng có câu nói nổi tiếng: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Cũng là người đã từng nói: “… Để lời nói suông mà bảo đời sau thì sao bằng lấy chính thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì gương mẫu là một biểu hiện của đạo đức. Gương mẫu mạnh hơn lời nói. Và chính vì thế, Người suốt đời nêu gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời giản dị, khiêm tốn, gần gũi nhân dân, suốt đời vì nước, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng như pha lê. Và chính vì thế, Người được cả thế giới yêu mến và kính trọng.

Hiện nay, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng đang được tiến hành, đã tạo ra niềm tin và sự chờ đợi của toàn thể nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 đang được nhân dân hy vọng rất nhiều, nên nếu không làm được tốt thì dân sẽ mất lòng tin. Giống như ra trận, chúng ta phải quyết thắng, nếu không thắng ngay thì thắng từng bước, dù phải làm lâu dài, làm đi làm lại. Phải phát huy, giữ vững bản chất cách mạng của Đảng, khắc phục cho được những hạn chế, tiêu cực, đặc biệt là tham nhũng, hư hỏng trong Đảng và trong bộ máy.

Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh đến sự gương mẫu của cán bộ lãnh đạo. Đồng chí nói một cách thẳng thắn: “Cán bộ phải thực sự gương mẫu, chưa có quyền trong tay mà đã nghĩ đến chuyện chấm mút, đến lợi ích của mình, không đặt lợi ích của Đảng của dân lên trước thì sẽ không nói được ai, vì tay đã nhúng chàm. Tự mỗi người phải thấy khuyết điểm của mình để mà điều chỉnh, mà tự sửa, nếu không sửa thì sẽ có tổ chức, có pháp luật”.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, muốn lãnh đạo nhân dân phải lãnh đạo chính mình, lãnh đạo gia đình mình, con cái mình. Cán bộ càng cao, càng cần phải gương mẫu, vì sự gương mẫu của cấp trên sẽ là tấm gương cho cán bộ cấp dưới và cho toàn thể cán bộ, đảng viên.

Bác Hồ đã nói: “Nhân dân chỉ quý mến, tin cậy ở những người có đạo đức cách mạng, chứ không phải vì mình là lãnh đạo mà người ta phải yêu quý”./.

Theo Bùi Công Bính
Báo Nam Định online

Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Từ một lời tuyên bố của Bác Hồ

Trong phiên họp Quốc hội kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá I, ngày 31/10/1946, sau khi được Quốc hội giao trách nhiệm đứng ra thành lập Chính phủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ “tham quyền cố vị”. Chính phủ sau đây phải là Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Tuy trong quyết nghị không nói đến không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết…”. Đó là lời tuyên bố dõng dạc, công khai của người đứng đầu một Chính phủ độc lập đầu tiên của nước Việt Nam trước quốc dân đồng bào, trước Quốc hội và trước cả toàn thế giới.

Tôi có cảm giác, tất cả các đại biểu Quốc hội trong phòng họp sau khi nghe lời tuyên bố này của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì không có lý do gì để không tin tưởng vào người đứng đầu Chính phủ cũng như vào Chính phủ mà Hồ Chí Minh là vị Chủ tịch đầu tiên.

3.tu mot tuyen boẢnh Tư liệu

Những gì Bác Hồ nói trong buổi ra mắt Chính phủ giữa lúc nền độc lập Việt Nam mới tròn một năm tuổi là những cam kết về một Chính phủ sẽ trong sạch, liêm khiết, làm việc, đoàn kết và tập hợp lực lượng rộng rãi nhất. Nên nhớ, đó là thời điểm rất khó khăn của cách mạng Việt Nam, khi quân Tàu vào giải giáp quân Nhật thất trận đang gây ra một cơn bão những điều tệ hại ở miền Bắc Việt Nam, còn ở miền Nam Việt Nam, quân Pháp núp sau bóng Đồng minh đang quay trở lại hòng xâm chiếm nước ta một lần nữa.

Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu lúc ấy là một Chính phủ kiến quốc nhưng cũng là Chính phủ chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc kháng chiến sẽ lâu dài và gian khổ nếu nền hoà bình không được cứu vãn. Trong tình thế cực kỳ khó khăn, giữa một Quốc hội tập hợp nhiều đảng phái và không phải đã tìm ra ngay tiếng nói chung, thì lời tuyên bố dõng dạc, mạnh mẽ, đầy sức thuyết phục của Bác Hồ đã khiến cả Quốc hội đứng sát lại gần nhau, khiến quốc dân đồng bào tin tưởng và phấn khởi, khiến thế giới nhìn vào một nước Việt Nam độc lập non trẻ với cái nhìn tôn trọng.

Đó là lần đầu tiên mà hai chữ “liêm khiết” được người đứng đầu chính phủ Việt Nam công khai nhấn mạnh đến như thế! Là lần đầu tiên người đứng đầu Chính phủ công khai rằng mình không “tham quyền cố vị”. Là lần đầu tiên người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh đến tính chất tập hợp, đoàn kết toàn dân và trọng dụng nhân tài không đảng phái của Chính phủ mới.

Một Chính phủ như thế là một bảo đảm bằng “vàng” cho tinh thần đoàn kết dân tộc trong lúc đất nước cần nhất sự đoàn kết và thống nhất lực lượng nhằm kiến quốc và bảo vệ Tổ quốc. Bản lĩnh Hồ Chí Minh, sức mạnh công khai Hồ Chí Minh, sự liêm khiết tận nguồn Hồ Chí Minh đã khiến lời tuyên bố ấy trước Quốc hội trở thành lời thề của Chính phủ mới. Và trở thành lời thề của Quốc hội, của toàn thể quốc dân đồng bào.

Xin hãy tưởng tượng xem, không khí trên toàn cõi Việt Nam như thế nào khi người dân được nghe vị đứng đầu nhà nước, đứng đầu Chính phủ tuyên bố về bản chất của Chính phủ mới thuyết phục đến như vậy! Và đó còn là bài học, là một thông điệp mà Bác Hồ muốn gửi tới Quốc hội, Chính phủ và toàn dân Việt Nam hôm nay: Dân chủ, công khai, liêm khiết, đoàn kết và làm việc hết mình vì dân vì nước./.

Theo baoquangngai.com.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ vào thăm bộ đội giới tuyến

Đúng 14 giờ ngày 15-6-1957, xe của Bác đến Sư đoàn 325. Cùng đi có đồng chí Nguyễn Chí Thanh, đồng chí Trần Quốc Hoàn… Đồng chí Hoàng Văn Thái, Chính ủy kiêm Sư đoàn trưởng hô to: “Chúc Bác Hồ khỏe! Bác Hồ muôn năm!”. Cả đơn vị đang đứng thẳng hàng hai bên đường đón Bác, hô theo: “Bác Hồ muôn năm, muôn năm!”. Bác đưa tay vẫy chào, trìu mến.

BH tham bo doi gioi tuyenChủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ đội miền Nam tập kết

Bác nghỉ ngơi một lát, rồi làm việc với Sư đoàn. Làm việc xong, đồng chí Thái mời Bác và đoàn đi tắm biển. Từ nhà ra bãi tắm khoảng hơn 200m. Bác đi bộ thoăn thoắt trên bãi cát mịn. Đến nơi tắm, có cán bộ, chiến sĩ bảo vệ xuống biển trước, bơi vòng ngoài. Bác cởi quần dài, mặc quần đùi. Bác nói vui: “Ở đây, chúng ta đều là làng đực, hãy tắm cho thoải mái!”. Mọi người đều cười vui.

Bác có bộ ngực đẹp, toát lên vẻ khỏe mạnh của một người thường xuyên rèn luyện thể lực. Bác tắm khoảng 30 phút. Cán bộ bảo vệ mời Bác đến tắm nước ngọt. Bác nói: “Đã lâu, Bác chưa tắm biển, nay vào giới tuyến thăm và tắm biển là một kỷ niệm đối với Bác. Bác không tắm nước ngọt”. Thế là không có ai tắm lại nước ngọt. Bác lấy khăn lau và mặc quần áo. Bác mặc bộ quần áo lụa bà ba màu nâu.

Từ nơi tắm về, các đồng chí của Sư đoàn đi phía sau, đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Trần Quốc Hoàn đi phía trước. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh mặc quần đùi, áo vắt vai để lưng trần. Bác nhìn phía sau lưng đồng chí Thanh và nói: “Lưng của chú Thanh đúng như lưng của nông dân hè”. Đồng chí Hoàn nói: “Thưa Bác, anh Thanh là từ nông dân mà ra”. Mọi người đều cười vui vẻ.

Bác ngồi hóng mát trên hiên nhà nghỉ. Bác hỏi thăm quê quán những đồng chí ngồi xung quanh. Mấy cô văn công và cháu nhỏ xúm đến, ngồi sát bên Bác. Bác vuốt ve các cháu như một người ông thật sự. Đến giờ, đồng chí Thái mời Bác vào ăn cơm chiều. Bác ăn rất ngon miệng. Bác khen những món đặc sản ở Huế và Đồng Hới, như cá, mực, mắm nêm, cà, rau chuối chát, mắm tôm chua ăn với thịt lợn luộc, canh mướp đắng nấu với tôm bóc trần.

Đến 19 giờ 30 phút, Bác gặp cán bộ, chiến sĩ cơ quan Sư đoàn và đơn vị trực thuộc. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh tuyên bố lý do, rồi nói: “Hôm nay, Bác đến thăm vui chung với tất cả mọi người. Ai có thơ, ca, hò, vè thì lên hát vui với Bác. Bác nghe rồi sẽ có thưởng…”. Cơ quan đã chuẩn bị bánh kẹo và dưa hấu. Đồng chí Thanh đem ra một mâm đầy bánh kẹo phân phát cho các cháu. Bác mặc bộ đồ nâu. Bác không ngồi ghế mà ngồi trên nền xi măng. Bác vẫy các cháu bé đến ngồi cạnh Bác. Một cháu gái bé nhất được ngồi vào lòng Bác và được Bác cho nhiều kẹo. Các cháu khác cũng được Bác cho kẹo. Bác bảo: “Có chú nào ra hát ít bài cho vui”. Một số anh chị em lên hát, hò vè, ngâm thơ đều được Bác trực tiếp thưởng cho từ hai đến bốn cái kẹo. Một đồng chí ngâm bài: “Đêm nay Bác không ngủ”. Vừa ngâm xong, Bác nói: “Bác không ngủ nì!” và cho hai cái kẹo. Có đồng chí hò theo điệu “mái nhì Huế”:

“Nhà không có cột thì nhà xiêu

Cây không có gốc thì cây đổ,

Nay ta đã có Cụ Hồ

Dựng xây đất nước cơ đồ Việt Nam”.

Bác nói: “Giọng hò hay, Bác thưởng 2 kẹo. Nhưng nội dung chỉ được 2 câu trên, còn hai câu sau thì Bác phạt. Đáng lẽ được 4 kẹo, nhưng Bác trừ 2 còn 2”. Tất cả vỗ tay reo vui và rất xúc động vì Bác không nghĩ cho riêng mình.

Kết thúc buổi liên hoan, Bác nhắc mọi người công tác giỏi, không tự phụ, mỗi người trồng ba cây dương liễu để phủ xanh cái đồi trọc này.

Bộ Chính trị có điện khẩn đề nghị Bác ra ngay Hà Nội. Bác bảo đồng chí Sư đoàn trưởng: “Bác muốn gặp cán bộ, chiến sĩ cả Sư đoàn trước khi Bác về”. Sư đoàn báo các đơn vị sẽ có mặt tại thị xã Đồng Hới trước 4 giờ sáng ngày 16-6-1957.

Đúng giờ, Bác đến. Bác vẫy tay chào bộ đội và nói về tình hình nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ. Bác đặc biệt xúc động khi nhắc tới cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam đang diễn ra sôi sục ở bên kia sông Bến Hải, đòi địch phải nghiêm chỉnh thi hành hiệp nghị Giơ-ne-vơ, chống khủng bố, đàn áp những người kháng chiến cũ, đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống… Bác căn dặn sư đoàn phải nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu thật tốt. Phải ra sức học tập chính trị, quân sự, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân. Phải kiên quyết làm tròn nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Cuối cùng Bác nói: “Vì bận công việc, Bác phải ra ngay Hà Nội. Bác ủy nhiệm đồng chí Nguyễn Chí Thanh thay mặt Bác nói chuyện tiếp với các chú. Bác chúc các chú khỏe…”.

Đồng chí Hoàng Văn Thái hô to: “Chúng cháu xin hứa với Bác quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ”. Cả Sư đoàn hô to: “Xin hứa, xin hứa, xin hứa!”. Bác ngắm nhìn toàn đội hình của Sư đoàn ân cần trìu mến và vẫy tay chào tạm biệt.

Thiếu tướng Nguyễn Công Trang
Theo http://quangtri-ict.gov.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Dũng sĩ diệt Mỹ và câu chuyện lần đầu gặp Bác Hồ

“Bình Đông có tiếng đánh Tây, có gan đánh Mỹ bao vây quân thù/Giặc đốt nhà ngói ta làm lại nhà tranh, giặc đốt ghe mành ta sắm thúng đi câu…”. Lời dân ca bài chòi của miền quê Bình Sơn, mỗi lần nghe hát mà xao động trong lòng. Một trong những nhân vật trong bài hát này là chị Ngô Thị Tuyết, nữ dũng sĩ diệt Mỹ… mà cách mấy năm rồi, một lần tình cờ được gặp chị ở Đà Nẵng, tôi vẫn không quên câu chuyện cảm động của chị về lần đầu gặp Bác.

Chị Ngô Thị Tuyết sinh năm 1951, lớn lên ở một làng quê nghèo xã Bình Đông (Bình Sơn). Mới 10 tuổi Tuyết đã chứng kiến bao cảnh tang thương của gia đình mình, cha và anh trai bị giặc giết, mẹ bị giặc bắt tù đày, sau đó đã hy sinh trong một trận càn. Nước mắt đau thương hóa thành hành động cách mạng, cô bé Ngô Thị Tuyết đã tham gia làm nhiệm vụ liên lạc cho du kích, sau đó trở thành nữ chiến sĩ nhỏ tuổi gan dạ.

5.dung si diet my 1Chị Tuyết khi là du kích Bình Đông (Ảnh Tư liệu)

Nhờ mưu trí, dũng cảm, nhiều lần chị Tuyết đột nhập vào các căn cứ địch để lấy trộm súng đạn về cho du kích xã. Từ chỗ thiếu vũ khí, dần dần, đội du kích xã Bình Đông đã trở nên lớn mạnh, được mệnh danh là Trung đội “thép” trên “Vành đai diệt Mỹ”. Trong đó, có phần góp sức rất lớn của nữ du kích Ngô Thị Tuyết. Nhiều lần bí mật, bất ngờ, chị đã tiêu diệt nhiều tên địch. Tuổi thiếu niên, nhưng Ngô Thị Tuyết đã được nhận danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

Trong một trận đánh để giải thoát 3 cán bộ huyện vào năm 1965, chị Tuyết bị thương nặng. 2 năm sau, chị được cấp trên cho chuyển ra miền Bắc chữa bệnh. Chị cho biết đó là những tháng ngày đầy kỷ niệm, hạnh phúc của mình, vì được sống trong tình cảm bao la của nhân dân miền Bắc, đặc biệt là được gặp, được nghe lời Bác Hồ dặn dò, dạy bảo.

Chị bồi hồi nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác, đó là đầu năm 1968. Vừa gặp, chị đã được Bác hỏi thăm: “Cháu Tuyết đấy à? Cháu ngồi xuống đây kể chuyện đánh giặc ở miền Nam cho Bác nghe…”. Chị Tuyết chào Bác rồi được ngồi cạnh bên Người, chị kể những trận đánh của du kích quê mình cho Bác nghe. Bác gật đầu khen ngợi. Bác lại hỏi chuyện đi đường ra Bắc thế nào. Chị Tuyết như quên mất những vất vả, hiểm nguy của mình, chị chỉ nhớ đến các anh bộ đội trên đường hành quân vào Nam nhắn gửi những lời tha thiết: “Em ra miền Bắc gặp Bác Hồ nhớ cho các anh gửi lời thăm Bác, và hứa sẽ sớm giải phóng miền Nam để đón Bác vào thăm”. Chị thưa lại với Bác. Bác ngồi im và nước mắt rưng rưng…

Chị được ở lại dùng cơm trưa cùng Bác, bữa cơm rau dưa nhưng chị Tuyết luôn ghi nhớ trong lòng trước những lời dặn dò của Bác. Chị kể, khi thấy mình ăn chén cơm chưa sạch, đã định thôi không dùng nữa mà đặt xuống, Bác bảo: “Cháu cố gắng ăn cho hết những hạt cơm còn lại trong chén, đồng bào mình còn khổ lắm, chúng ta không nên lãng phí…”. Mãi đến giờ, dù không còn đói ăn, khát uống như xưa, chị vẫn khắc ghi lời Bác. Đó là bài học vì dân, vì nước, “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”.

Một buổi sáng đầu thu năm 1969, Bác gọi chị Tuyết vào căn dặn: “Cháu phải cố gắng vượt qua thương tật học tập thật tốt để sau này về giúp miền Nam”. Không ngờ đó cũng là lần cuối cùng chị được gặp Bác Hồ. Bác đi xa, nhưng đối với chị Tuyết, hình như Bác vẫn ở gần bên cạnh chúng ta, mỗi lần làm điều gì, chị đều nghĩ đến Bác, đến đồng bào, và thấy vui khi làm những điều có ích, vì chị nghĩ là mình đã làm đúng lời Bác dạy, như thấy Bác mỉm cười, động viên mình.

Nói về việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang được Đảng và Nhà nước ta phát động trở thành việc làm thường xuyên trong tất cả mỗi cán bộ, đảng viên và toàn dân, chị Tuyết tâm tình: “Chị rất buồn khi thấy nơi phố xá, thị thành chúng ta đầy cảnh xa hoa lãng phí; ở các quán xá, nhà hàng, có những lúc phung phí hàng chục triệu đồng cho mỗi cuộc tiếp khách; nhiều đám cưới vài trăm bàn tiệc dư thừa bỏ đi; chưa nói lãng phí thời giờ, điện nước của công…” Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người của nước ta còn thấp, đồng bào đang gặp bao khó khăn sau lũ lụt, thiên tai. Năm học mới, nhiều gia đình không đủ tiền để nộp cho con; Tết đến xuân về còn bao nhiêu đứa trẻ lang thang, nhiều công nhân không thể về quê với gia đình vì thiếu tiền tàu xe…Nhớ lại bữa cơm trưa lần đầu gặp Bác, nhớ lời Bác nhắc hãy ăn hết những hạt cơm còn sót trong chén, vì đồng bào mình còn khổ lắm, có lẽ mỗi chúng ta phải suy nghĩ về ý thức tiết kiệm, làm lợi cho xã hội, cho nhân dân, cho đất nước. Chúng ta đang hưởng ứng thực hiện việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Hãy bằng hành động thiết thực để làm theo lời Bác.

Theo baoquangngai.com.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Sống trong muôn vàn tình thương của Bác Hồ

Thoát khỏi cảnh ngục tù tăm tối, dã man của bọn xâm lược Mỹ, tôi được đưa ra miền Bắc chữa bệnh. Từ những ngày đầu tháng 11 năm 1958, tôi nằm điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô. Đã mấy lần Bác vào Bệnh viện thăm mà tôi cứ mê man không hay biết gì cả! Lúc tỉnh dậy, có chị thương tôi quá không giấu được nỗi vui mừng, luyến tiếc ấy, bèn kể lại là Bác đến thăm tôi. Tôi khóc òa lên như một đứa trẻ thơ xa mẹ. Một hôm, tôi vừa mở mắt ra, thì thấy một bác sĩ già khoác chiếc áo bờ-lu trắng đứng cạnh giường đang nhìn tôi âu yếm, với nụ cười hiền hậu. Sau giây phút ngỡ ngàng tôi nhận ra Bác, tôi nắm chặt bàn tay Bác và khóc nấc lên. Đúng Bác Hồ rồi, người mà các cô chú trong nhà tù và bà con ở miền Nam hằng ước mơ được gặp. Bác cúi hôn trán tôi. Tôi khóc to hơn và gọi: “Bác ơi, các cô chú trong nhà tù và đồng bào miền Nam mong nhớ Bác lắm!”. Tôi ngất lịm đi. Lúc tỉnh dậy, các chị kể lại là nhìn thấy tôi trong cơn mê sảng Bác không cầm được nước mắt. Đó là buổi tối ngày 14-11-1958, cái ngày không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi. Tình thương bao la của Bác luôn luôn sưởi ấm lòng tôi. Tôi thấy như thêm sức mạnh để chiến đấu với bệnh tật.

songThủ tướng Phạm Văn Đồng (bên trái), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Anh hùng lực lượng vũ trang Trần Thị Lý, năm 1975.

Thế là ước mơ được gặp Bác của tôi đã thành sự thật. Ước mơ đó, tôi ấp ủ từ ngày má tôi thường gọi là “bé Nhâm”. Hồi ấy, tôi ở trong hàng ngũ thiếu nhi cứu quốc. Tôi ước mơ được gặp Bác Hồ, như bạn tôi là Kim Phú được dâng hoa lên Bác ngày 2-9-1945, tại Thủ đô Hà Nội. Bạn Phú về kể lại cho tôi nghe chuyện Bác Hồ, người ông yêu quý của các cháu thiếu niên, nhi đồng. Từ đó, tôi có cảm giác Bác Hồ là người ông trong nhà.

Được sự quan tâm, săn sóc rất mực tận tình của Bác, của Đảng, được sống trong tình thương yêu ruột thịt không bờ bến của đồng bào miền Bắc, và cả sự chia sẻ đau thương của nhân dân thế giới, thân thể tôi lần lượt lành khỏi 42 vết thương do giặc gây ra, sức khỏe tôi dần dần hồi phục. Tôi được đưa về nghỉ dưỡng sức ở một nơi yên tĩnh. Thỉnh thoảng tôi được Bác gọi vào nơi Bác ở.

Bác hỏi về quê quán và bệnh tình của tôi. Bác hỏi thăm sức khỏe các cô chú, anh chị cùng ở nơi an dưỡng với tôi. Tôi kể Bác nghe tình hình đời sống và đấu tranh của chị em phụ nữ miền Nam. Bác cầm tay tôi và nhẹ nhàng xoa bóp các vết sẹo. Bàn tay Bác rung rung. Tôi nhìn Bác, định không kể lại sự tra tấn dã man của giặc, sợ Bác xúc động. Đột nhiên Bác hỏi:

– Chúng nó xâu tay cháu với bao nhiêu người khác?

Tôi giật mình. Sao Bác biết? Rồi tôi dè dặt thưa:

– Dạ, hơn bốn mươi chú…

Thấy tôi ngập ngừng, Bác lại nhắc:

– Cháu kể tiếp đi. Tôi thầm nghĩ, không thể giấu Bác được, tôi thưa:

– Sau những trận đòn tra tấn dữ dội, các chú chân bị cùm, tay bị xâu dây thép cùng với cháu, độ vài ngày sau lên cơn giật rồi chết dần, chết mòn… Chỉ còn lại một mình cháu. Cháu cũng không hiểu tại sao cháu lại không chết.

– Tại sao cháu bị chúng tra tấn dã man mà cháu cũng không khai?

– Cháu nghĩ là nếu cháu khai thì sẽ mất hết tình thương của cách mạng, của Bác và của các chú, các cô đã đùm bọc, dạy dỗ cháu lúc cháu ở trong tù. Cháu khai thì cháu có tội với đồng bào. Lúc nào cháu cũng thấy hình ảnh Bác ở trước mặt cháu. Có lúc cháu nằm mơ thấy Bác đứng hai tay chống nạnh trước quân thù, bọn chúng nhìn Bác hoảng sợ chạy hết và cháu được tự do, sung sướng… Có lúc cháu mơ thấy Bác lấy khăn chặm nước mắt khi Bác nhìn cảnh tra tấn cực kỳ tàn ác của giặc Mỹ và lũ tay sai đối với chúng cháu…

Nói đến đây, tôi úp mặt trong lòng bàn tay Bác, tôi khóc như một em bé. Bác nâng nhẹ đầu tôi lên. Bác rơm rớm nước mắt nói:

– Nghĩ đến cháu, mọi người đều căm thù sâu sắc chế độ Mỹ – Diệm ở miền Nam.

Mỗi lời nói, mỗi ánh mắt, mỗi cử chỉ nhỏ nhất của Bác khắc sâu vào tâm trí tôi. Trong giờ phút thiêng liêng này, tôi không thể không nhớ lại những lúc ở tù, gian khổ, đấu tranh với kẻ thù, chúng tôi chiến thắng được là nhờ có hình ảnh Bác trong trái tim. Bây giờ được thật sự ngồi bên Bác, càng nhìn Bác tôi càng nhớ đến các đồng chí ở trong Nam luôn luôn hướng về Bác để có thêm sức mạnh chiến đấu và chiến thắng. Biết bao nhiêu đồng chí bị tù đày, tra tấn, biết bao nhiêu cán bộ hoạt động trên khắp miền Nam chưa một lần được gặp Bác. Tôi có vinh dự lớn hôm nay là do bao xương máu của đồng bào miền Nam đã đổ xuống trên mảnh đất Thành đồng. Bác kể cho tôi nghe những mẩu chuyện lúc Bác hoạt động ở nước ngoài, những mẩu chuyện trong thời kỳ kháng chiến để động viên, cổ vũ tôi cũng như phụ nữ, thanh niên miền Nam dù hy sinh gian khổ đến mấy cũng luôn luôn phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc ta, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Bác căn dặn tôi phải luôn luôn vui vẻ, lạc quan để chiến thắng bệnh tật.

Tôi thường được các chú dặn: Hễ gặp Bác thì nhớ kể cho Bác nghe những chuyện vui, đừng kể những chuyện đau thương làm Bác xúc động. Nhưng tôi không tài nào giấu Bác được điều gì. Bác hỏi tỉ mỉ về tình hình gia đình, quê hương tôi. Bác biết tôi ra miền Bắc chữa bệnh xa mẹ hiền, người mẹ đã chịu nhiều đau khổ, đang khát khao được có ngày gặp lại con gái thân yêu, và xa bà con ruột thịt, xóm làng. Có lúc Bác thấy tôi ngồi thờ thẫn, dường như suy nghĩ điều gì. Bác liền hỏi:

– Sao cháu lại buồn? Cháu nhớ mẹ à?

Bác hỏi chuyện về chị Trần Thị Vân, một người vừa là chị vừa là bạn chiến đấu thân thiết của tôi. Trước đây, có nhiều tin là chị Vân đã hy sinh, sau khi bị địch tra tấn dữ dội. Nhưng thật ra, chị đã vượt qua mọi thử thách ác liệt, bám chắc lấy cuộc sống cho đến ngày trở về với phong trào. Tôi kể cho Bác biết chị Vân đã bị giặc bắt cùng với đứa cháu gái. Bọn chúng chưa nhận được ai là Trần Thị Vân trong hai người. Thế là cô cháu gái liền nhận mình là Vân. Địch giết người cháu gái và chị Vân đã thoát khỏi bàn tay đẫm máu của chúng. Nghe tôi kể, Bác xúc động nói:

– Hành động của các cháu thật anh hùng. Phụ nữ miền Nam rất anh hùng.

Sau này, chị Vân được ra thăm miền Bắc và ở lại chữa bệnh. Chị đã được gặp Bác Hồ.

Bác biết tôi cố gắng học văn hóa, nhưng còn kém về văn. Nhiều lần tôi vào thăm Bác, Bác dặn:

– Cháu kém về văn thì phải chăm xem sách, đọc báo, đọc xã luận, nghe các chú nói chuyện. Đọc báo có đoạn nào hay thì đánh dấu vòng lại. Lúc khác cần, đọc lại. Đó là một cách học. Học từ từ, kiên nhẫn.

Bác bảo tôi tập viết thư, viết cho Bác. Một lần đi điều trị ở nước ngoài, tôi nhận lá thư đầy tình nghĩa của Bác và tôi trân trọng viết thư về thăm Bác. Tôi chỉ viết được mấy dòng cụt ngủn: “Thưa Bác, hiện nay cháu đang điều trị. Sức khỏe cháu tốt. Các bác sĩ chuẩn bị mổ vết thương cho cháu. Nghe lời Bác dặn, cháu yên tâm chữa bệnh. Bác đừng lo cho cháu”… Tôi moi óc không biết viết thêm gì nữa cho Bác vui. Các chú cười: “Sao viết ngắn thế!”

Khi về nước, tôi đến thăm Bác, được Bác khen:

– Cháu viết, văn không lòng thòng, ngắn gọn, thế là tốt. Bác nghe các chú bảo là từ lớp hai tôi đã cố gắng khắc phục khó khăn về bệnh tật, học bổ túc văn hóa hết lớp 8. Bác mừng lắm. Nhưng Bác khuyên tôi là không nên học nhiều trong lúc sức khỏe chưa vững vàng. Bác bảo: Phải nghe lời bác sĩ, chữa lành bệnh rồi hãy học. Cháu không sợ lạc hậu đâu. Miễn là ta sẵn có tinh thần.

Mỗi lần tôi vào thăm Bác, Bác thường cho tôi ăn cháo đậu xanh vì tôi không ăn được cơm. Lần nào, Bác cũng thấy tôi ăn ít quá, nhìn tôi, Bác lo lắng, thương xót, và nói:

– Cháu ăn ít lắm, phải gắng ăn nhiều hơn. Cháu còn xanh quá, cháu cố gắng ăn nhiều cho chóng khỏe! Những bữa cơm của Bác thật thanh đạm, giản dị như bữa cơm của bao gia đình chúng ta. Nhiều lúc, Bác dắt tôi đi dạo chơi trong vườn Phủ Chủ tịch. Bác không đưa tôi đi trên những con đường sỏi vì Bác biết chân tôi dẫm trên sỏi thì ảnh hưởng đến vết thương trên đầu. Bác chỉ cho tôi những cây dừa, cây bưởi, cây cam Bác trồng.

Tôi thường đeo một sợi dây chuyền giấu kín trong cổ áo. Sợi dây chuyền không làm tăng vẻ đẹp, không che được những vết sẹo do địch gây nên trên cổ, trên vai tôi, nhưng đó là sợi dây gắn bó hai đứa chúng tôi trong cuộc chiến đấu chung, một mất một còn với quân thù xâm lược. Tôi thưa với Bác, tôi đã viết thư về nhắn với người yêu nhiều lần rằng: Anh hãy quên Lý đi vì thân thể Lý bị tàn phế rồi. Anh nên xây dựng gia đình với người khác để bảo đảm hạnh phúc…”. Nhưng anh không chịu. Anh vẫn đợi chờ! Bác dạy tôi rằng: – Ăn ở phải có tình, tình nhà, nghĩa nước, tình yêu thương giai cấp. Phải có tấm lòng chung thủy. Bác rất vui khi nói đến các mối tình chung thủy. Một hôm, Bác nghe tin người yêu của tôi đã ra miền Bắc, Bác tặng cho tôi hai trái táo để mang về cho người yêu một trái.

Có lần bác sĩ thấy bệnh tình của tôi kéo dài do vết thương ở bụng vẫn thường rỉ máu và cho biết nếu mổ dạ con thì đỡ ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi muốn mổ cho đỡ khổ nhưng nghe vậy Bác không đồng ý. Bác nghĩ đến tương lai hạnh phúc của đời tôi. Tình thương của Bác đối với tôi thật không bờ bến. Tôi hiểu rằng Bác dành tình thương đó không chỉ riêng cho tôi mà cho toàn thể phụ nữ, thanh niên và đồng bào miền Nam gian khổ đi trước về sau.
Tôi còn nhớ một chiều xuân 1968, tôi lại được vào thăm Bác. Các chú cho tôi đến trước giờ hẹn. Bác đang làm việc trên chiếc nhà sàn đơn sơ. Tôi rón rén vào đứng sau lưng Bác. Bác đã biết, nhưng không quay lại, Bác bảo:

– Lý đó à. Cháu chờ Bác làm việc xong, một tí thôi!

Tôi thưa với Bác: Thưa Bác! Bác làm việc nhiều quá. Tuổi Bác ngày càng cao. Bác giữ gìn sức khỏe để vào thăm đồng bào miền Nam… Bác xúc động nói:

– Bác phải làm việc nhiều thì miền Nam mau thống nhất, Bác sẽ vui nhiều, khỏe nhiều.

Tôi ứa hai hàng nước mắt và thẫn thờ ngồi nhìn Bác làm việc, lòng nghẹn ngào, không dám nói thêm với Bác một lời nào. Ôi, suốt cuộc đời của Bác, Bác đã đặt hết tâm lực vào cuộc đấu tranh giải phóng đất nước. Từng giờ, từng phút, Bác lo cho miền Nam. Bác đã hy sinh hạnh phúc cá nhân vì nghĩa cả dân tộc.

Theo Trần Thị Nhâm
(Tức Trần Thị Lý, Anh hùng LLVTND, trích từ sách Bác Hồ với đất Quảng, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2000, tr.170-178).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế nào?

Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương đầu tiên thành lập ngày 15/7/1950 theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch. Sau khi phục vụ chiến dịch Biên giới, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường quan trọng: Cao Bằng – Bắc Kạn – Thái Nguyên.

Đội đã tổ chức thành nhiều Liên phân đội rải quân dọc tuyến đường và nhận nhiệm vụ bám trụ những nơi hiểm yếu. Liên phân đội thanh niên xung phong 321 của chúng tôi được nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù (thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn), nằm trên tuyến đường từ thị xã Bắc Kạn đi Cao Bằng. Cầu Nà Cù lúc này không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi.

Trung tuần tháng 9 năm 1950, chúng tôi được tin báo có đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần) sẽ đến thăm đơn vị. Đêm hôm đó, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu để đón khách. Vừa trông thấy ánh đèn pin thấp thoáng từ ngoài cửa rừng đi vào, đoán là khách đã đến, tôi cho anh chị em vỗ tay hoan hô: “Hoan hô đồng chí Trần Đăng Ninh”. Khách vào tới nơi, định thần nhìn lại, tất cả chúng tôi đều sững sờ trước niềm vinh hạnh phúc thật bất ngờ: Bác Hồ đến thăm. Hàng ngũ của chúng tôi trở nên xáo động…, nhưng do việc giữ bí mật đã ăn sâu vào ý thức từng người nên trong hàng ngũ cũng chỉ truyền đi những tiếng reo khe khẽ: “Bác Hồ! Bác Hồ!”. Rõ ràng Bác đang ở trước mắt mà chúng tôi cứ ngỡ như một giấc chiêm bao! Bác vẫn giản dị với bộ quần áo bà ba màu nâu, chiếc khăn quàng cổ che kín cả chòm râu. Đi bên cạnh Bác là đồng chí Trần Đăng Ninh.

Bác tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu:

– Các cháu ngồi cả xuống.

Chúng tôi đều răm rắp nghe theo lời Bác, im lặng ngồi xuống.

Những câu đầu tiên Bác hỏi chúng tôi là những lời hỏi thăm ân cần về tình hình đời sống của đơn vị.

Bác hỏi:

– Các cháu ăn uống có đủ no không?

– Thưa Bác có ạ!

– Các cháu có đủ muối ăn không?

– Thưa Bác đủ ạ!

– Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không?

– Thưa Bác đủ ạ!

Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn thiếu thốn. Bác lại hỏi:

– Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không?

– Thưa Bác có ạ!

– Sau đó Bác lại hỏi tiếp:

– Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào?

Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng.

Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở:

– Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt.

Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp:

– Đào núi có khó không?

Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó, người sợ nói khó bị cho là tư tưởng ngại khó nên trả lời không khó.

Trả lời xong mà cứ nơm nớp sợ Bác hỏi thêm. Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi:

– Có ai dám đào núi không?

Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa:

– Thưa Bác có ạ! Thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ! (Hồi bấy giờ chúng tôi đào núi bằng cuốc, xẻng, không được cơ giới hoá như bây giờ). Nghe xong, Bác cười:

– Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì?

Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao” có người “cần kiên gan bền chí”, “cần vượt khó vượt khổ”, có người “cần xung phong dũng cảm”, toàn là những khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó.

Bác động viên chúng tôi:

– Các cháu trả lời đều đúng cả: Tóm lại việc gì khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. Tục ngữ ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày lên kim”. Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ:

Không có việc gì khó

                                            Chỉ sợ lòng không bền

                                            Đào núi và lấp biển

                                           Quyết chí ắt làm lên.

Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào.

Giữa rừng đêm khuya, dưới ánh lửa bập bùng, Bác cùng chúng tôi hoà nhịp theo bài ca “Nhạc tuổi xanh”. Chúng tôi hát hào hứng, say mê. Đến khi bài hát được hát lại lần thứ hai, nhìn lại thì không thấy Bác đâu nữa! Bác xuất hiện và ra đi như một ông tiên trong chuyện cổ tích huyền thoại. Đám thanh niên chúng tôi ngẩn ngơ nuối tiếc hồi lâu.

Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế đó. Rất mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc. Bài thơ là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong  chúng tôi lao vào cuộc kháng chiến và kiến quốc. Sau này mỗi khi gặp khó khăn, hình ảnh của Bác Hồ và bốn câu thơ của Bác lại được tái hiện trong lòng chúng tôi, tiếp cho chúng tôi thêm sức mạnh để vượt qua.

(Trích trong “Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

Theo www.baclieu.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn