Archive | 2012

Tân Trào – quê hương cách mạng

Cây đa Tân Trào. Ảnh: Internet

QĐND Online – Tân Trào giờ đây đã nổi danh cả nước bởi là một di tích lịch sử quý giá của dân tộc. Tân Trào vốn thuộc xã Kim Long huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang. Đây là một địa danh không chỉ đẹp vì cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ mà còn đắc địa về quân sự . Chẳng thế mà ở đây đã lưu truyền câu da dao : “ Kim Long đất hiểm tứ bề. Kẻ địch muốn chết thì về Kim Long

Kim Long đã được đổi tên thành Tân Trào (Trào lưu cách mạng mới) sau khi địa phương làm cuộc khởi nghĩa thành công, chính quyền nhân dân được thành lập vào ngày 11-3-1945. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước. Tại đây Bác Hồ đã ở và làm việc suốt từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1945. Ngày 4-6-1945, thực hiện chỉ thị của Bác Hồ, Khu giải phóng chính thức thành lập.Tân Trào được Bác Hồ chọn làm thủ đô của Khu giải phóng

Ngày 15-5-1945, Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các lực lượng vũ trang khác được hợp nhất mang tên mới do lãnh tụ Hồ Chí Minh đặt: Việt Nam Giải phóng quân. Khu giải phóng với Thủ đô Tân Trào đã trở thành căn cứ cách mạng chủ yếu, là ngọn cờ vẫy gọi, cổ vũ nhân dân cả nước, là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới sau này. Về mặt quân sự, đó là hậu phương vững chắc cho giải phóng quân xây dựng, phát triển lực lượng, chiến đấu và liên tục giành chiến thắng, bảo vệ và mở rộng Khu giải phóng .

Trong lúc không khí cách mạng đang sục sôi khắp cả nước thì ngày 7-5-1945, phát xít Đức- ý đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Ngày 8-8-1945, Hồng quân Liên Xô đập tan đạo quân Quan đông của phát xít Nhật ở đông bắc Trung Quốc, báo hiệu sự diệt vong tất yếu của phát xít Nhật.

Chủ động tạo thời cơ và đón thời cơ, từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị Toàn quốc của Đảng họp tại Đình Tân Trào dưới sự chủ trì của lãnh tụ Hồ Chí Minh, quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Đêm 13-8-1945, Uỷ ban khởi nghĩa do Tổng bộ Việt Minh thành lập ra Quân lệnh số 1, kêu gọi nhân dân cả nước vùng dậy giành quyền độc lập cho nước nhà.

Ngày 16-8-1945 Quốc dân Đại hội khai mạc tại Đình Tân Trào, nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, quy định Quốc kỳ, Quốc ca, thông qua mười chính sách lớn của Việt Minh, cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ của nước Việt Nam mới do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Vào hai giờ chiều ngày 16-8-1945, một đơn vị giải phóng quân đã tập họp dưới gốc đa Tân Trào, hướng về lá cờ đỏ sao vàng, làm lễ xuất phát tiến đánh thị xã Thái Nguyên, mở đầu cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Các đại biểu về dự Quốc dân Đại hội đều có mặt dưới gốc đa cổ thụ cạnh ngôi nhà Hội đồng cứu quốc xã để đưa bộ đội lên đường chiến đấu. Chưa bao giờ Tân Trào lại đón tiếp một đoàn người nhiều màu sắc như vậy. Cùng với màu chàm rừng núi quen thuộc, còn có màu nâu dày dạn của đồng bằng và những màu sắc tươi sáng của đô thị. Những chiến sĩ Giải phóng quân, quần áo đủ kiểu. Đồng chí chỉ huy Võ Nguyên Giáp mặc một bộ vét đã cũ, đội mũ phớt đứng đối diện với hàng quân , xếp thành đội ngũ chỉnh tề, lắng nghe như nuốt lấy từng lời bản Quân lệnh số 1 của Uỷ ban khởi nghĩa do đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc:

“ Hỡi quân dân toàn quốc!

Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến!

Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!…

Mang nhiệm vụ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa toàn quốc cho đến toàn thắng, Uỷ ban khởi nghĩa đã thành lập.

Hỡi các tướng sĩ và đội viên quân Giải phóng Việt Nam!

Dưới mệnh lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, các bạn hãy tập trung lực lượng, kíp đánh vào các đô thị và trọng trấn của quân địch, đánh chặn các đường rút lui của chúng, tước vũ khí của chúng! Đạp qua muôn trùng trở lực các bạn hãy kiên quyết tiến !

Hỡi quân dân toàn quốc!

Dưới mệnh lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, đồng bào hãy đem hết tâm lực ủng hộ đạo quân giải phóng, sung vào bộ đội, xông ra mặt trận đánh đuổi quân thù.

Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!

Tổ quốc đang đòi hỏi những hy sinh lớn lao của các bạn!

Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định về ta

Uỷ ban khởi nghĩa”

Lòng các chiến sĩ rạo rực lạ thường. Trước mắt lá cờ đỏ sao vàng như có vầng hào quang lấp lánh , lồng lộng in trên nền trời Việt Nam

Cây đa Tân Trào toả bóng mát che cho các vị đại biểu, đoàn quân giải phóng trước giờ xung trận.Những cành lá vươn xa như những cánh tay vẫy chào, tiễn biệt đoàn quân, chúc chiến sĩ giành toàn thắng ngay trong trận đầu.

Thực hiện quyết tâm sắt đá “ Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước vùng dậy, triệu người như một, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt đã làm cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Tấm ảnh Cây đa Tân Trào, nơi làm lễ xuất phát của đội Giải phóng quân ngày 16-8-1945 với số phim P 239 hiện đang được lưu giữ, trưng bày trong phần Cách mạng Tháng 8 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Nói đến Việt Bắc – căn cứ địa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là chúng ta nhớ ngay đến mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.

Mình về mình có nhớ ta

Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào

Vâng chúng ta không bao giờ quên và không được phép quên cái nôi cách mạng- Thủ đô gió ngàn, niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam.Trách nhiệm của chúng ta là phải gìn giữ các di tích lịch sử, giáo dục các thế hệ tương lai phát huy truyền thống và niềm tự hào về lịch sử cách mạng của Tân Trào nói riêng- chiến khu Việt Bắc nói chung, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.

Đoàn Thị Lợi
qdnd.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi Việt Nam

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến người cao tuổi. Trong suốt cuộc đời phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng của mình, dù bận nhiều việc nhưng Người vẫn luôn dành cho người cao tuổi Việt Nam những tình cảm ân cần và sự quan tâm sâu sắc. Những quan điểm nhất quán, có tính hệ thống của Người về vị trí xã hội, vai trò, trách nhiệm của người cao tuổi đối với Tổ quốc luôn đi trước thời đại. Đặc biệt, những tình cảm dành cho người cao tuổi biểu hiện rất đậm nét bản sắc văn hóa Việt Nam – văn hóa Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò, vị thế của người cao tuổi trong xã hội ta. Người luôn coi người cao tuổi là lực lượng quan trọng góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão” (6-1941), Bác viết: “Dẫu rằng tóc đã bạc, mắt đã hoa, tay run, chân mỏi, nhưng một lời nói của phụ lão có ảnh hưởng đến hưng bang, một hành động của phụ lão có ảnh hưởng đến giết giặc. Rút guốc mộc để ném vào đầu bọn bạo ngược, vung gậy trúc để đánh vào đầu bọn hung ác. Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão đã có trọng trách là bậc tôn trưởng, đối với làng xóm, đối với bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao. Phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng; phụ lão làm, nhân dân làm theo. Hô điều nên hô, làm việc nên làm. Người có của xuất của, người có sức dốc sức, góp gió thành bão, tụ hơi thành mây. Đồng bào cả nước đang ngẩng cao đầu mà trông chờ các bậc phụ lão”.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, người cao tuổi Việt Nam không chỉ là người lao động cần cù, sáng tạo trong xây dựng gia đình, quê hương, đất nước mà còn là những người dám quên mình chiến đấu hi sinh cho độc lập, tự do của dân tộc. Họ là những nhân chứng của lịch sử và rất nhiều người đã góp phần trực tiếp làm nên lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam, người cao tuổi đã đem bầu nhiệt huyết đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng, là lớp người từng đứng trong đạo quân hùng mạnh làm nên chiến thắng vĩ đại của hai cuộc kháng chiến thần thánh giải phóng dân tộc, giành lại chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Họ cũng là lớp người đi đầu trên con đường đổi mới, góp phần quyết định tạo ra những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đất nước. Già – trẻ cùng gắng sức vì một mục đích chung, đó là lời nhắn gửi của Người trong bài thơ “Tặng cụ Đinh Chương Dương: “Quan san muôn dặm gặp nhau đây/ Mục đích chung là đuổi Nhật, Tây/ Dân bị hai tròng vào một cổ/ Ta liều trăm đắng với ngàn cay/ Già dù sức yếu mang mang nhẹ/ Trẻ cố ra công gánh gánh đầy/ Non nước của ta ta lấy lại/ Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây”.

Hồ Chí Minh khẳng định: Trách nhiệm của người cao tuổi là phải yêu quý, dìu dắt, bồi dưỡng lớp trẻ. Người từng căn dặn: “Các đồng chí già là rất quý, là tấm gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ. Đồng chí già phải giúp đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa”. Không những thế, Người còn cho rằng, người cao tuổi phải tự mình học tập thường xuyên, phải nâng cao dân trí bởi “Công việc ngày càng nhiều, càng mới nên đảng viên già phải cố gắng mà học”, để “chẳng những làm kiểu mẫu, siêng năng cho con cháu mà còn tỏ rõ ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam”. Người cao tuổi Việt Nam sống, cống hiến theo tư tưởng Hồ Chí Minh, suy cho cùng chính là sự nêu gương sáng cho con cháu về lòng yêu nước, về đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh còn phê phán quan niệm “Lão lai tài tận, lão giả an chi” (tuổi già thì tài hết, tuổi già nên ở yên). Người chủ trương “vận động tất cả lực lượng của mỗi người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân”, trong đó người cao tuổi có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong kháng chiến chống Pháp, Người đã có những vần thơ mộc mạc, nôm na mà đầy hào khí “Tặng các cụ lão du kích Cao Bằng” bởi có thành tích góp phần đánh chặn bước tiến của giặc. “Người cũng nêu rõ: “Các cấp đảng bộ, mặt trận ở các địa phương ra sức giúp các cụ phụ lão tổ chức, củng cố và phát triển các đội Bạch đầu quân. Đó cũng là một lực lượng khá to trong công cuộc chống Mỹ cứu nước”. Người là tấm gương tuổi già mà “không chịu ngồi không”, “càng già càng quắc thước, càng già càng anh hùng”. Người luôn là tấm gương sáng về “tuổi cao chí khí càng cao”, suốt cuộc đời vì dân, vì nước, vì sự nghiệp cách mạng quên cả tuổi già, quên cả bản thân. Một con người mà “dù phải từ biệt thế giới này” vẫn không có điều gì phải hối hận, “chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một tấm gương về ứng xử đối với người cao tuổi. Dù là Chủ tịch nước, nhưng trong thư chúc thọ cụ Phùng Lục ở Ứng Hòa, Hà Tây (trước đây), Người đã viết: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ, trân trọng chúc cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khỏe để kêu gọi các con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến và cứu quốc. Cháu lại kính gửi cụ lời chào thân ái và quyết thắng”. Một vị Chủ tịch nước viết thư cho một công dân bình thường nhưng có tuổi thọ cao mà xưng hô như vậy quả là nét đặc trưng của văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh. Nét đặc trưng của văn hóa ứng xử ấy còn thể hiện rất rõ trong những câu chuyện nhỏ mà đầy thú vị: Khi được tin chiến thắng dồn dập từ Việt Bắc Thu – Đông 1947, Người đã viết một bài thơ tặng cụ Bùi Bằng Đoàn, một bậc nhân sĩ trí thức yêu nước, người đứng đầu Quốc hội nước ta hồi đó những vần thơ bằng chữ Hán rất mực trang trọng mà vẫn đầm ấm nghĩa tình. Có lẽ không ai lại không xúc động trước một lối ứng xử tuyệt vời của Bác với một cụ già cao tuổi từ vùng bị giặc chiếm đóng lặn lội lên Việt Bắc để được gặp và thăm Bác. Cụ già ấy được biết tên ngay trong nhan đề bài thơ của Người: “Tặng cụ Võ Liêm Sơn”… Có thể nói, đó cũng chính là biểu tượng sáng ngời về truyền thống “kính già” của dân tộc – một đạo lý đẹp đẽ mang tính nhân văn cao cả từ xưa đến nay.

Hiện nay, gần 10 triệu người cao tuổi trong cả nước ta đã và đang ra sức thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” bằng những phong trào thi đua thiết thực “Tuổi cao – gương sáng”. Đó cũng chính là một trong nhiều hình thức để phát huy những giá trị văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện tốt lời căn dặn của Người: “Tuổi cao chí khí càng cao”.

______________

Tài liệu tham khảo:
1. Danh nhân Hồ Chí Minh, NXB Lao động, H.2000.
2. Thông tin Tư liệu TTXVN, số 65.

Theo xaydungdang.org.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ quyền và nhân quyền

Cách đây hơn nửa thế kỷ, ngày 10-12-1948, tại Cộng hòa Pháp, Liên hợp quốc đã công bố bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền. Đây là một cột mốc lịch sử trong cuộc đấu tranh lâu dài của nhân loại vì các quyền tự do, dân chủ và các quyền cơ bản của con người. Lần đầu tiên, các quyền cơ bản của con người đã được cộng đồng quốc tế công nhận và được bảo đảm bằng một văn bản pháp lý chính thức. Bản Tuyên ngôn này tạo nền tảng pháp lý cho việc xây dựng các công ước quốc tế về quyền con người, hình thành nên hệ thống luật quốc tế về quyền con người hiện nay.

Được công bố vào thời điểm loài người vừa trải qua cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai hết sức tàn khốc với tội ác diệt chủng tày trời của chủ nghĩa phát xít, bản Tuyên ngôn gồm 30 điều khẳng định các quyền tự do, bình đẳng của con người trong các cộng đồng dân tộc, ghi nhận thành tựu đấu tranh vì phẩm giá con người. Điều đáng lưu ý là điều 29 của Tuyên ngôn nhấn mạnh đến các nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng để bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản ghi trong Tuyên ngôn. Như vậy, Tuyên ngôn không chỉ ghi nhận các quyền cá nhân, mà còn ghi nhận mối quan hệ qua lại giữa quyền cá nhân với các quyền của cộng đồng và điều kiện cụ thể của cộng đồng để thực hiện các quyền cá nhân.

Trong 56 năm qua, cuộc đấu tranh tại các diễn đàn quốc tế về vấn đề quyền con người đã diễn ra hết sức phức tạp và quyết liệt. Người ta nhận thấy một sự khác biệt sâu sắc trong quan niệm cũng như cách thức thực thi chính sách về quyền con người giữa phương Đông và phương Tây, giữa các nước nghèo và các nước tư bản phát triển.

Nhân quyền đang được Mỹ và phương Tây triển khai như cuộc chơi lớn trên cấp độ quốc tế. Cách mà họ đang đẩy tới cuộc tiến công về nhân quyền làm cho không ít người lo ngại rằng, trận địa này sẽ trở thành một “điểm nóng xung đột” gay gắt nhất về tư tưởng và văn hóa trong tương lai. Đối với những người đang tự cho mình có sứ mệnh vạch chương trình nghị sự cho cả thế giới, thì nhân quyền không chỉ là một chủ trương có tính nhất thời, mà là một quốc sách dài lâu, không chỉ là một mắt xích trong một chiến lược mà bản thân nó là một chiến lược để áp đặt các giá trị phương Tây, các giá trị Mỹ cho toàn thể nhân loại.

Kể từ sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, phương thức khống chế, thôn tính đơn thuần bằng vũ khí bạo lực đã trở nên quá lỗi thời, thì nhân quyền ngày càng trở thành một vấn đề tế nhị, nhạy cảm trong đời sống của nhiều quốc gia và nó đang lộ diện như một vấn đề có quy mô toàn cầu. Biết bao cuộc hội thảo quốc gia, khu vực và toàn cầu đã được tổ chức, và điều nổi cộm nhất, gay cấn nhất tại các diễn đàn này chính là cách thức mà những quyền con người được các quốc gia, các dân tộc khác nhau trên thế giới nhìn nhận, bênh vực và thực hiện.

Mấy năm qua, Oasinhtơn đã nhiều lần điều chỉnh chiến lược toàn cầu, nhưng có một điều không hề thay đổi là nhân quyền luôn luôn được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược đối ngoại của Mỹ thời hậu “chiến tranh lạnh”.

Nếu như lúc này, lúc khác vẫn còn những người đôi khi bị loá mắt bởi màu sắc sặc sỡ của “gánh hát dân chủ” mà Oasinhtơn cho lưu diễn om sòm khắp thế giới, thì các bản “báo cáo nhân quyền” hằng năm mà Bộ Ngoại giao Mỹ công bố đã phơi bày trước mắt họ: sự ngạo mạn và thói áp đặt thô bạo của người tự phong cho mình sứ mệnh đặt chương trình nghị sự cho cả thế giới. Mọi thứ màn che bóng lộn của chủ nghĩa cường quyền Mỹ đã tự giật tung!

Dày tới cả nghìn trang, các bản báo cáo này lên giọng phán xét về tình hình nhân quyền của 194 nước, nghĩa là chẳng có nước nào nằm ngoài tầm mắt coi ngó và sự “chăn dắt” của Mỹ. Thành tích nhân quyền của cả thế giới được Hoa Kỳ xếp loại theo nhiều thứ bậc. Cố nhiên,”sức nặng” của bản báo cáo dồn tụ vào những nước được coi là “đạt thành tích” kém cỏi về nhân quyền. Nước này được khen là “có chút ít tiến bộ” mặc dù tình hình chung còn tồi tệ, nước kia “giậm chân tại chỗ”, nước nọ có “bước thụt lùi nghiêm trọng…”. Chẳng cứ gì nước nhỏ, mà ngay như Ấn Độ cũng bị nhắc nhở, Trung Quốc bị công kích, Nga bị cảnh cáo,… Riêng đối với nước ta, các bản báo cáo này thường bịa ra rằng, “nhà cầm quyền Hà Nội tiếp tục hạn chế các quyền tự do căn bản trong các lĩnh vực chính trị và tôn giáo”.

Bản thân nhân quyền chẳng phải là một điều gì mới lạ, thế nhưng, điều nổi cộm nhất và gay cấn nhất chính là cách thức mà những quyền này được các quốc gia, dân tộc khác nhau trên thế giới nhìn nhận, bênh vực và thực hiện. Oasinhtơn vẫn thường nhấn mạnh rằng, họ coi nhân quyền là hòn đá tảng trong các mối quan hệ quốc tế, thế nhưng, họ cứ một mực đòi áp đặt cho cả thế giới quan điểm, tiêu chuẩn của Mỹ về nhân quyền. Họ hầu như chẳng thèm đếm xỉa đến sự khác biệt trong nhận thức của từng quốc gia, dân tộc về chủ quyền và nhân quyền xuất phát từ những đặc điểm về lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo… Không những thế, gần đây họ còn tung ra luận thuyết mới cực kỳ nguy hiểm, là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, lấy đó làm cớ để thực hiện “chủ nghĩa can thiệp mới”. Cơsôvô đã trở thành cuộc thử nghiệm đầu tiên cho thứ chủ nghĩa can thiệp mới này.

Nhiều nước đã khẳng định rằng, không chỉ về khía cạnh pháp lý quốc tế, mà còn cả về mặt thực tiễn thực thi nhân quyền, nước Mỹ hoàn toàn không đủ tư cách để lên lớp cho cả thế giới về nhân quyền. Ở Mỹ, hiện có tới 235 triệu khẩu súng thuộc sở hữu cá nhân. Mỗi năm ở nước này xảy ra hơn một triệu vụ giết người bằng súng. Ở vương quốc “tự do” này, hiện đang có tới sáu triệu người thụ án tù. Hệ thống chính trị ở Mỹ chỉ phục vụ cho quyền lợi của những kẻ có máu mặt, khiến dân chúng ngày càng tỏ ra chán chường về mặt chính trị. Như vậy, không phải ở đâu khác, mà chính trên đất Mỹ đang diễn ra tình trạng vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất như tệ phân biệt chủng tộc, bạo lực, bất công xã hội, quyền lực chính trị phục vụ thiểu số giàu có, tra tấn ngược đãi đối với tù nhân,… Chính Mỹ lại cũng là quốc gia thường xuyên gây chiến tranh, gieo rắc đau thương cho các dân tộc khác. Xâm hại độc lập, chủ quyền của các quốc gia khác chính là tội ác nhân quyền nghiêm trọng nhất.

Cộng đồng quốc tế bất bình không chỉ vì nội dung sai trái, bóp méo sự thật của các bản báo cáo mà còn vì tư cách pháp lý của người công bố cũng như thái độ trịnh thượng của “vị quan tòa” tự phong khi lên giọng phán xét về tình hình nhân quyền của các nước. Họ cứ làm như thể chỉ có nước Mỹ mới đủ trình độ, đủ tư cách để định ra những tiêu chí về nhân quyền, vạch ra con đường để các dân tộc, quốc gia trên thế giới đạt tới những tiêu chí ấy. Không những thế, họ đang sắm vai là người đôn đốc, kiểm tra, thẩm định và “đóng dấu chất lượng” cho cả thế giới về nhân quyền.

Trong phần nói về Việt Nam, các bản báo cáo này chỉ rặt một giọng điệu là “Việt Nam tiếp tục có những vi phạm nghiêm trọng và tình hình nhân quyền Việt Nam đang xấu đi”. Họ vu cáo “Việt Nam hạn chế quyền riêng tư của công dân”. Những kẻ đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động chống lại đất nước, bị tòa án Việt Nam xử phạt tù lại được họ phong cho là “những người đấu tranh quả cảm cho nền dân chủ và nhân quyền”. Ý đồ đen tối của Oasinhtơn đã lộ rõ khi bản báo cáo này cố tình dựng nên chuyện “Việt Nam đàn áp người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên”. Rõ ràng, các tác giả các bản báo cáo này tỏ ra rất “nhạy bén” với tình hình xảy ra ở Tây Nguyên do sự kích động, giật dây tổ chức của một số thế lực phản động và thù địch bên ngoài. Các thế lực này đã và đang theo đuổi mưu đồ tạo ra ở Tây Nguyên một “điểm nóng” xung đột về sắc tộc và tôn giáo. Họ rất mong Tây Nguyên rối loạn và bất ổn.

Các tác giả của bản báo cáo đã cố tình nhắm mắt trước một sự thật đanh thép là trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước phát triển cả về kinh tế và xã hội được dư luận rộng rãi trên thế giới đánh giá cao: năm 2003, GDP tăng trưởng 7,2% (đứng thứ hai thế giới), được đánh giá là nơi an toàn nhất châu Á – Thái Bình Dương, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, hệ thống luật pháp được hoàn thiện một bước. Đó là những điều kiện thuận lợi để Việt Nam thực hiện tốt quyền con người.

Người ta không thể không đặt câu hỏi phải chăng những người cho xuất xưởng những bản báo cáo bịa đặt này và những thế lực tìm cách thông qua “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” đang phối hợp chặt chẽ với nhau để chống Việt Nam trong màn kịch “nhân quyền”.

Xem xét nội dung của “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” cũng như cung cách và thời điểm thông qua nó, người ta thấy rõ toàn bộ ván cờ này đã được Hạ nghị viện Mỹ chuẩn bị một cách công phu nhằm thực hiện những mục đích chính trị rõ ràng. Một lần nữa cái công thức: kinh tế, chính trị + nhân quyền đã được Oasinhtơn hợp pháp hóa bằng những đạo luật đối với Việt Nam trong một mưu đồ duy nhất: dùng nhân quyền để ràng buộc, đặt điều kiện cho viện trợ kinh tế và thương mại. Đây là một cuộc tấn công hai gọng kìm của Oasinhtơn để dần dần đưa Việt Nam trượt vào quỹ đạo của luật chơi do Mỹ cài đặt. Đó là luật chơi của nền kinh tế thị trường tự do và luật chơi của nền “dân chủ tự do”. Bằng cuộc thập tự chinh này, Mỹ đã sắp đặt được trật tự tại nhiều khu vực trên thế giới. Một khi đã đánh mất chủ quyền, tự chủ về chính trị, các quốc gia rất khó thoát ra khỏi cạm bẫy của cuộc chơi này. Coi mình là người sắp đặt chương trình nghị sự cho cả thế giới, Mỹ ngang nhiên ban hành và áp đặt luật chơi. Trên thực tế, đây là một cuộc chiến tranh có tuyên bố. Trên mặt trận không có tiếng súng này, chiến lược chuyển hóa có khi được thực hiện bằng những biện pháp can thiệp thô bạo và trắng trợn có lúc lại bằng những mạch ngầm thẩm thấu êm dịu, nhiều khi người trong cuộc không thể nhận ra và nếu có cảm thấy thì dễ cho là vô hại.

Hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhưng đất nước ta vẫn nằm trong vòng ngắm các kế hoạch phá hoại, lật đổ của các thế lực thù địch ở Mỹ. Họ vẫn bị sự cay cú và lòng thù hận đốt nóng. Việc ký kết Hiệp định Thương mại phản ánh một xu thế không thể cưỡng lại được trong quan hệ hai nước cũng như trong đời sống quốc tế. Nhưng họ lại đang mưu toan dùng “Đạo luật nhân quyền” để ngăn trở việc thực hiện Hiệp định Thương mại, ngăn cản việc cải thiện, bình thường hóa hoàn toàn quan hệ hai nước. Không những thế, họ còn muốn sử dụng Hiệp định Thương mại để thực hiện cuộc tiến công dân chủ và nhân quyền.

Không ai ngạc nhiên khi thấy “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” cứ nằng nặc đòi Việt Nam phải từ bỏ chế độ “độc đảng” để tiến tới chế độ “đa đảng”. Chiêu bài “độc đảng” này không sao che đậy được tim đen của họ: tìm mọi cách xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ đang mưu toan đoạt lại chiến thắng trong thời bình mà họ đã để mất trong chiến tranh,…

Những “nghệ nhân” chuyên nhào nặn và bóp méo sự thật trong “Tổ chức theo dõi nhân quyền” (HRW) có trụ sở tại Mỹ còn tung ra cái gọi là “Bản phúc trình hằng năm về tình hình nhân quyền”. Bản phúc trình của HRW phán rằng “Việt Nam đã có bước thụt lùi về nhân quyền, đặc biệt, trong lĩnh vực tự do tín ngưỡng”. Làm sao có thể tin vào những “bằng chứng xác thực” cùng với những lời “đánh giá khách quan” trên đây khi người ta biết rằng, chưa một ai trong số các tác giả của bản phúc trình này đặt chân tới Việt Nam. Vậy thì nó lấy “chất liệu” cho bản phúc trình này từ đâu? Chẳng ở đâu khác ngoài những “bản báo cáo” hoàn toàn bịa đặt của một số tổ chức phản động thù địch với Việt Nam ở nước ngoài, trong đó, không thể không kể đến một số kẻ “vong quốc” chưa chịu tỉnh ngộ vẫn tiếp tục ngụp lặn trong dòng nước ngược chống lại quê hương, Tổ quốc mình. Không phải ai khác mà chính ông Chốc Xixi, một cựu binh từng tham chiến ở Việt Nam trước đây, hiện đang điều hành một chương trình nhân đạo ở Việt Nam, có trụ sở tại 172, phố Quán Thánh, Hà Nội, đã gửi một bức thư cho Thượng nghị sĩ Mắc Clêlan, trong đó, vạch rõ rằng “Những thực tế” (điều khoản 101) mà “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” lấy làm cơ sở bao gồm hầu như toàn bộ các báo cáo của một số nhóm Việt kiều hoạt động tại Mỹ. Những “thực tế” này không đúng sự thật, làm cho người ta lạc hướng,… Những ai đã từng đến Việt Nam, với cách nhìn khách quan đều thấy rằng, Nhà nước Việt Nam đã và đang làm hết sức mình để thực hiện và phát triển quyền con người. Đó là sự thật sáng rõ không ai có thể xuyên tạc. Bằng bản phúc trình bịa đặt và vu cáo trên đây, HRW đang tự bôi xấu mình.

Việt Nam là một đất nước có nhiều tôn giáo khác nhau với khoảng 20 triệu tín đồ, chiếm 1/4 dân số. Hiến pháp hiện hành của Việt Nam quy định “công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào và không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Không ai có thể bóp méo một sự thật rõ ràng là ở Việt Nam người theo đạo và người không theo đạo đoàn kết cùng phấn đấu để xây dựng và bảo vệ đất nước. Hoàn toàn không có việc ai đó bị giam giữ vì bày tỏ chính kiến hoặc vì lý do tôn giáo. Thực tế chỉ có những kẻ vi phạm pháp luật mới bị giam giữ và xét xử theo pháp luật. Không thể không vạch ra rằng, thời gian gần đây các thế lực phản động thù địch ra sức câu kết với nhau, đồng thời tìm cách khai thác ý kiến của những người có cách nhìn sai lệch, thiếu thiện chí để dựng lên một bức tranh u ám về Việt Nam.

Hiến pháp Việt Nam thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đã được toàn dân thảo luận rộng rãi và được Quốc hội thông qua. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được ghi ở Điều 4 của bản Hiến pháp chính là sự thừa nhận và là sự lựa chọn dứt khoát của toàn dân tộc Việt Nam. Những ông nghị Mỹ có thể không được am tường lịch sử Việt Nam để có thể hiểu rằng, trước năm 1930, có nhiều phong trào và tổ chức yêu nước, nhưng cuối cùng, chỉ có tổ chức cộng sản tồn tại và hoạt động được trong sự khủng bố điên cuồng của bọn đế quốc. Không ai có thể dùng bất cứ một thứ ảo thuật nào để có thể phủ nhận được rằng, chính Đảng Cộng sản đã luôn luôn đứng mũi chịu sào, lãnh đạo nhân dân giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vượt qua mọi khó khăn thử thách, giành được những thành tựu vĩ đại: tiến hành thành công Cách mạng Tháng Tám 1945, lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, tiến hành hai cuộc kháng chiến vĩ đại, đánh bại những kẻ xâm lược hùng mạnh nhất trong thế kỷ XX, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào năm 1975.

Là bộ tham mưu tài giỏi trong chiến tranh giải phóng, Đảng Cộng sản Việt Nam lại chính là người khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, biết khơi nguồn nội lực để nhân dân ta làm nên những kỳ tích mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đảng ta luôn luôn tỏ rõ một bản lĩnh chính trị vững vàng và một trí tuệ mãi mãi thanh xuân. Lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX đã làm chói sáng vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính bằng bản lĩnh và trí tuệ, mà ngay từ buổi ban đầu, Đảng ta đã khẳng định phải gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Chính bằng bản lĩnh và trí tuệ mà Đảng ta đã nhận rõ vận hội và thách thức. Cũng chính bằng bản lĩnh và trí tuệ mà Đảng đã đặt công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào vị trí chủ yếu cho sự cất cánh kinh tế của đất nước. Như thế, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam được kết tinh trong tài thao lược của Bộ Tham mưu vĩ đại là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cũng cần khẳng định thêm rằng, ở Việt Nam không hề có tù nhân tôn giáo, tù nhân chính trị, mà chỉ có những kẻ vi phạm luật pháp và bị xử lý theo pháp luật Việt Nam. Việt Nam là một đất nước tự chủ, chỉ có Chính phủ và nhân dân Việt Nam mới có quyền giải quyết những vấn đề nội bộ của Việt Nam. Không ai, với bất cứ danh nghĩa gì, có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của một đất nước có chủ quyền. Chỉ có nhân dân nước đó mới có quyền lựa chọn thể chế chính trị nào, cũng như ai là người lãnh đạo họ.

Liên tiếp trong nhiều năm qua, trong các báo cáo về tình hình dân chủ nhân quyền trên thế giới, các tác giả Mỹ không bao giờ quên đeo cặp kính đen đầy thiên kiến và thiếu thiện chí để nói về Việt Nam. Coi tôn giáo là một trong những hướng tấn công chủ yếu trên mặt trận dân chủ, nhân quyền, họ bao giờ cũng cố nặn ra “vấn đề tôn giáo”, rồi bơm phồng lên nhằm mô tả Việt Nam như một quốc gia thi hành chính sách “đàn áp tôn giáo”.

Không ai, bằng bất cứ thủ đoạn dối trá nào, có thể làm lu mờ được một sự thật sáng rõ rằng, cả mặt pháp lý cũng như thực tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của công dân. Điều 70, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Việc thực hiện tốt chính sách này trong suốt mấy chục năm qua đã được đồng bào tôn giáo hoan nghênh, góp phần quan trọng tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Bất cứ ai có sự nhìn nhận khách quan, khi tới Việt Nam đều thừa nhận rằng, ở những người theo tín ngưỡng, tôn giáo được tự do thờ cúng và tiến hành các hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật. Không có ai bị bắt giam vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, chỉ những người lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam thì đương nhiên họ phải bị xét xử theo pháp luật.

Những biến động lớn trong đời sống quốc tế mấy năm gần đây càng cho thấy rõ rằng, mâu thuẫn dân tộc và tôn giáo đang trở thành những vấn đề toàn cầu, có tác động rất lớn tới việc sắp xếp, bố cục quan hệ quốc tế trong thế kỷ XX. Vấn đề dân tộc, tôn giáo đang nổi lên mà nhiều nước phải đối phó, giải quyết. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa bá quyền và cường quyền chính trị là nguyên nhân gây ra các cuộc xung đột dân tộc và tôn giáo ngày nay. Dưới chiêu bài “nhân quyền” tự do tôn giáo, trên thực tế, Mỹ đang tiếp tay cho các thế lực cực đoan tôn giáo mở rộng không gian hoạt động, tạo ra mối hiểm họa đối với nhiều quốc gia. Đó là một trò chơi dao cực kỳ nguy hại.

“Tự do thông tin và dân chủ cho Việt Nam” là một món hàng “đáng giá” trong gánh hát nhân quyền mà các thế lực thù địch với Việt Nam tìm mọi cách đưa ra công diễn trong những năm gần đây. Họ không ngớt la lối rằng, ở Việt Nam “người dân không được quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí”.
Ở Việt Nam, quyền thông tin của nhân dân rất được coi trọng. Quyền này không chỉ được thể hiện trong Hiến pháp mà còn được bảo đảm đầy đủ trong thực tế. Nhiều người đến thăm Việt Nam đã không khỏi ngạc nhiên trước sự phát triển của báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng. Báo chí đã thật sự trở thành diễn đàn để mọi người dân có thể tự do bày tỏ ý kiến của mình về mọi lĩnh vực của đời sống đất nước. Tất cả các bộ, ngành, các tổ chức xã hội và cả Chính phủ đều thành lập bộ phận thu thập ý kiến của nhân dân thông qua báo chí. Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần đích thân chỉ thị các ngành, các cấp, các địa phương phải nghiêm chỉnh xử lý những vấn đề do báo chí nêu ra. Báo chí đã góp phần tạo bầu không khí lành mạnh trong xã hội, để mọi người dân có thêm niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, báo chí đã thật sự trở thành lực lượng quan trọng, có những đóng góp có hiệu quả vào công cuộc đổi mới đất nước, luôn luôn đi đầu trong công cuộc chống tiêu cực, tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác. Nhờ có sự tham gia tích cực của báo chí mà hàng loạt các vụ tiêu cực tham nhũng lớn liên quan đến cán bộ có chức có quyền trong bộ máy công quyền đã bị phơi bày ra ánh sáng và đưa ra xét xử trước pháp luật. Nếu ở một đất nước không có tự do thông tin thì báo chí không thể có những đóng góp như vậy.

Do trình độ kinh tế còn hạn chế, nên Việt Nam chưa phải là một nước đã phổ cập rộng rãi việc sử dụng Internet đến mọi đối tượng trong xã hội. Thế nhưng, bất cứ ai, ở đâu, nếu có điều kiện cũng có thể truy cập Internet một cách dễ dàng để có được những thông tin cần thiết. Khách nước ngoài đến Việt Nam đã đánh giá rằng, Việt Nam là một nước cởi mở, và người dân, tuỳ theo điều kiện kinh tế của mình, đã bắt đầu được hưởng những thành tựu của công nghệ thông tin hiện đại.

Nhưng cũng cần phải khẳng định rằng, trong khi cố gắng bảo đảm tốt quyền được thông tin của nhân dân, Việt Nam dứt khoát không cho phép truyền bá những thông tin xấu, độc, đi ngược lại lợi ích của đất nước và nhân dân, có hại cho việc xây dựng một xã hội lành mạnh, đặc biệt là những thông tin có hại cho việc giáo dục thế hệ trẻ như bạo lực, tình dục,… trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là qua mạng Internet. Luật pháp Việt Nam bảo đảm tự do thông tin, tự do báo chí, nhưng cũng kiên quyết không cho phép bất cứ ai sử dụng báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền bôi nhọ chế độ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, kích động bạo loạn chống lại chính quyền, làm mất ổn định chính trị của đất nước vốn được dư luận quốc tế đánh giá là một thành tựu nổi bật của Việt Nam trong một thế giới đầy bất ổn.
Cần phải vạch ra thói đạo đức giả của những kẻ nhào nặn ra món hàng “tự do thông tin cho Việt Nam”. Đây chỉ là ý đồ xấu xa để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, cố tạo ra ấn tượng rằng, Việt Nam là một “điểm nóng” về nhân quyền, để từ đó can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Bằng màn kịch vụng về này, họ muốn tiếp tay cho những phần tử chống đối, họ muốn các tài liệu chống chính quyền và nhân dân được tự do phát tán, tự do đưa ra nước ngoài; đồng thời những đống tài liệu xấu độc từ bên ngoài lại được tự do tuồn vào Việt Nam để thực hiện mưu đồ gây sụt lở chế độ từ bên trong của họ. Khi Việt Nam không cho phép họ làm điều đó thì họ lập tức la lối lên rằng, Chính phủ Việt Nam bóp nghẹt tự do thông tin, tự do báo chí.
Vì sao họ lại giành sự ưu tiên, sự quan tâm đặc biệt đối với Đài phát thanh châu á tự do như vậy? Đây chính là công cụ chủ lực của Oasinhtơn trong chiến lược nô dịch thông tin ở châu Á mà trước hết mũi dùi công kích được chĩa vào những quốc gia có chế độ chính trị không hợp khẩu vị của họ, bị họ xếp loại vào những nước có “thành tích bất hảo” về dân chủ và nhân quyền. Bị chính phủ và nhân dân các nước tẩy chay và vô hiệu hoá, kể từ khi ra đời đến nay, Đài phát thanh châu á tự do đã không thực hiện được những mục tiêu chính trị mà Oasinhtơn đặt ra.

Dự luật “Tự do thông tin cho Việt Nam” được tung ra trong bối cảnh các thế lực thù địch hay thiếu thiện chí ở Mỹ đang mưu toan đưa “Dự luật nhân quyền Việt Nam” ra để Hạ nghị viện Mỹ bỏ phiếu một lần nữa sau khi dự luật sai trái này đã bị Thượng nghị viện Mỹ trì hoãn không đưa ra bỏ phiếu. Đây là cuộc tiến công nhân quyền từ nhiều hướng rất thâm độc. Bằng việc đưa ra Hạ nghị viện những dự luật sai trái như vậy, các thế lực này đang mưu toan hợp pháp hoá mục tiêu chống phá và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bằng các văn bản pháp luật với những điều khoản bắt buộc.

Những hành động sai trái này đang cản trở, làm tổn hại đến việc phát triển quan hệ Việt – Mỹ vốn đã vượt qua được nhiều trở ngại để phát triển đáng khích lệ như hiện nay. Như vậy, có thể khẳng định rằng, đây không phải là thứ tự do thông tin đích thực cho Việt Nam, mà là thứ tự do can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam vì những mục tiêu chính trị đen tối.

Thật kỳ khôi là trong một thế giới mà việc tôn trọng chủ quyền độc lập của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau đang trở thành những nguyên tắc cơ bản nhất, thì Mỹ và phương Tây vẫn chủ trương coi nhân quyền là hòn đá tảng của các mối quan hệ quốc tế, và dường như không đếm xỉa gì đến sự khác biệt trong các giai đoạn phát triển kinh tế, những sự khác biệt trong nhận thức, quan điểm của từng quốc gia dân tộc về chủ quyền và nhân quyền xuất phát từ những đặc điểm về lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo,… cũng như trong việc ấn định những ưu tiên của quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể.

Thật chẳng có gì khó hiểu khi lãnh đạo một quốc gia đang lâm vào nạn đói phải quan tâm trước hết đến việc cho người dân không đứt bữa, hay một quốc gia đang lâm vào cảnh rối loạn phải tìm mọi cách để ổn định xã hội, chứ không phải là việc thực thi bằng mọi giá các biện pháp bảo đảm dân chủ mà lại theo hướng dẫn từ bên ngoài. Không còn là một hiện tượng hiếm hoi khi tại nhiều nước nghèo, dân chủ vô hạn độ đồng nghĩa với vô chính phủ, dẫn tới tranh chấp, xung đột, chết chóc và đói khát.

Nhân quyền là một giá trị tổng hợp trên cả khía cạnh tinh thần lẫn vật chất. Nó không chỉ bó hẹp đơn thuần ở các quyền tự do cá nhân như phương Tây thường nhấn mạnh và luôn luôn đặt nó ở vị trí độc tôn. Rất nhiều lúc, người ta đã cố tình lãng quên rằng, nhân quyền, trên hàm nghĩa bao quát nhất của nó, là quyền của các cộng đồng, dân tộc, quốc gia, trong đó có quyền tự quyết, quyền phát triển, quyền bình đẳng, quyền sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Chiến đấu để giành độc lập, tự do cho dân tộc là vì nhân quyền lớn nhất, thiêng liêng nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đúng vào thời điểm Liên hợp quốc công bố Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ và nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn đầy thử thách của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, giành những quyền con người cơ bản nhất, đó là quyền được sống trong độc lập, tự do và quyền dân tộc tự quyết. Thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc được loài người tôn vinh là chiến thắng của lương tri và chính nghĩa, đã đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh chung vì quyền con người cơ bản nhất trong thế kỷ XX.

Thử hỏi, quyền của các dân tộc nhỏ yếu ở đâu khi họ là nạn nhân của xâm lược áp bức, thôn tính, tước đoạt, phân biệt đối xử. Nếu quốc gia bị tước mất quyền cơ bản nhất là độc lập, chủ quyền dân tộc thì nhân quyền của những người dân nước đó sẽ ra sao và ai sẽ là người bảo đảm các quyền đó cho họ? Chẳng là nhân quyền gì ở chỗ quyền tự do cá nhân tuyệt đối (thực ra là chỉ của một số nhóm người) được bốc lên tận mây xanh, trong đó, có cả quyền sống dư thừa, trong lúc hàng tỉ người khác thì rên xiết trong đói nghèo và được “tự do” chết đói? Một khi dân tộc bị nô lệ, nhân dân mất quyền tự do thì làm sao người dân có được quyền tự do tuyệt đối!

Sẽ chẳng bao giờ có nhân quyền đích thực nếu chủ quyền dân tộc, quốc gia bị chà đạp. Chủ quyền dân tộc là nguyên tắc cốt lõi nhất cần phải được tôn trọng. Luật pháp Mỹ chỉ có giá trị trong biên giới nước Mỹ, không thể thay thế, không thể đứng trên hệ thống pháp lý quốc tế. Mang danh nhân quyền để chà đạp chủ quyền quốc gia đang tạo ra một nguy cơ thực sự trong thế giới hiện đại, áp đặt nhân quyền theo những tiêu chí và những mưu đồ riêng của mình, chính là sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhất.

Hội nghị quốc tế về nhân quyền tại Viên năm 1993 với sự tham gia của hàng trăm quốc gia đã long trọng xác nhận rằng, nhân quyền vừa có tính phổ biến (có người gọi là tính toàn cầu), vừa có tính đặc thù. Tất cả mọi sự phức tạp, nhạy cảm của vấn đề nhân quyền hôm nay có thể ẩn chứa trong việc giải bài toán có hai đặc tính tưởng như đối chọi này. Thực ra, tính phổ biến và tính đặc thù của vấn đề nhân quyền là hai mặt gắn bó hữu cơ và tác dụng qua lại trong một tổng thể những quyền gắn bó biện chứng với nhau. Đó là quyền của cá nhân và quyền của dân tộc và cộng đồng, quyền dân sự, chính trị, và quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền của cá nhân phải đi đôi với nghĩa vụ của họ đối với xã hội. Quyền con người không thể tách rời hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và phát triển.

Tính toàn cầu ở đây lẽ ra phải được hiểu như là tính nhân loại, có nghĩa rằng, đó là những giá trị chung nhất mà tất cả các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, dù với chế độ chính trị nào, tôn giáo nào, chủng tộc nào, trình độ phát triển ra sao cũng đều thừa nhận. Những giá trị chung nhất đó, trước hết phải là quyền của tất cả các dân tộc quốc gia được sống trong độc lập, tự do, bình đẳng với các quốc gia dân tộc khác. Những giá trị chung nhất đó còn là quyền của các cá nhân được phát triển hài hòa trong một trật tự xã hội được thiết lập theo những quy chuẩn chung, được hưởng những giá trị vật chất và tinh thần của nhân loại tương xứng và phù hợp với điều kiện khách quan của cộng đồng dân tộc mà mình chung sống.

Cần phải vạch ra một sự nhầm lẫn đáng tiếc, nếu không muốn nói đó là một sự áp đặt độc đoán của phương Tây. Họ mặc nhiên coi những giá trị phương Tây là giá trị chung của toàn nhân loại. Hễ ở đâu, có ai đó làm điều gì trái với ý họ là họ lên giọng phán xét ngay, đó là “sự vi phạm nhân quyền”(!). Trong canh bạc nhân quyền của họ, bao giờ cũng thấp thoáng, ẩn chứa những toan tính chính trị. Chẳng phải ngẫu nhiên mà các nước có chế độ chính trị – xã hội không hợp khẩu vị của Oasinhtơn đều bị họ mặc nhiên xếp vào những nước có “thành tích kém về nhân quyền”.

Như vậy, bảo đảm quyền con người trước hết thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia và không một ai với bất cứ tư cách gì, sứ mệnh gì được phép xâm phạm độc lập chủ quyền của quốc gia đó. Trong một thế giới hội nhập, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc, việc thúc đẩy thực hiện các quyền cơ bản của con người có sự hợp tác quốc tế đang được coi là một điều bình thường. Thế nhưng, không ai được lợi dụng vấn đề nhân quyền như một công cụ gây sức ép trong quan hệ quốc tế, gắn nhân quyền với viện trợ kinh tế và thương mại. Tuyệt đối không được thực hiện các mưu đồ chính trị khi xử lý các vấn đề nhân quyền.

Dù nhìn dưới góc độ nào, thì nhân quyền còn mãi mãi là một tổ hợp những vấn đề tế nhị và nhạy cảm vì cái căn nguyên sâu xa của nó bắt rễ trong phong cách sống cũng như nấc thang giá trị của từng dân tộc. Thế giới mà chúng ta đang sống vừa thống nhất, vừa đa dạng, phức tạp với bản sắc riêng của từng dân tộc. Tuy rất đặc thù, nhưng nhân quyền, cũng như các lĩnh vực khác, đang trở thành một bộ phận của đời sống quốc tế. Vì thế, thay vì áp đặt theo kiểu sen đầm quốc tế về nhân quyền, nên đưa nó vào trong tiến trình của cuộc đối thoại quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia.

Đó là sự hợp lý để thực hiện các điều khoản đã được ghi trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền một cách bình đẳng.

(Theo: Quang Lợi, Lẽ phải của chúng ta, NXB Chính trị Quốc gia, 2004)
cpv.org.vn

Đoàn đại biểu festival “ Sáng tạo trẻ ” báo công dâng Bác

DSC 0389Đoàn đại biểu festival “ Sáng tạo trẻ ” báo công dâng Bác

Sáng ngày 18/11/2012 tại Quảng trường Ba Đình, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn ra Lễ báo công của Đoàn đại biểu festival “ Sáng tạo trẻ”. Đây là một hoạt động thiết thực chào mừng thành công Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh các cấp tiến tới Chào mừng Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ X, nhằm khuyến khích, cổ vũ đoàn viên, thanh niên phát huy các ý tưởng sáng tạo, phát minh sáng chế, đề tài khoa học, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, làm chủ và ứng dụng khoa học công nghệ góp phần phát triển kinh tế – xã hội; tuyên dương những cán bộ công chức, viên chức trẻ đã có nhiều thành tích trong công tác góp phần xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; tôn vinh 10 công trình thanh niên tiêu biểu nhiệm kỳ 2007 – 2012.

Tham dự buổi Lễ báo công có Đồng chí Nguyễn Mạnh Dũng – Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đoàn, Trưởng ban Ban Thanh niên Công nhân và Đô thị Trung ương Đoàn. Các đại biểu về dự Đại hội đại diện cho hàng triệu thanh niên đang ngày đêm lao động hăng say, trên mọi miền của Tổ quốc, tụ hội về đây, trước anh linh của Bác, thành kính dâng lên Bác những bông hoa người tốt việc tốt, tự hào báo công với Bác những thành quả trong quá trình học tập, lao động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, thời cơ để thanh niên tham gia phát triển kinh tế là rất lớn, nhưng vẫn còn không ít những khó khăn, thách thức, nhất là những yêu cầu về chuyên môn, kỹ năng, văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp.

Để thực hiện được mục tiêu của Đảng, đẩy nhanh và vững chắc sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hơn lúc nào hết, thanh niên phải luôn năng động, sáng tạo, nhanh chóng tiếp cận và từng bước làm chủ kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tình nguyện tham gia đảm nhận những khâu then chốt, công trình trọng điểm. Mặc dù ở đất nước ta điều kiện sản xuất còn nhiều khó khăn, nhưng với ý chí và nghị lực của tuổi trẻ, với tinh thần lao động cần cù, chịu khó, ham học hỏi, nhiều bạn trẻ đã nỗ lực vượt qua khó khăn, không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, nắm bắt nhanh kỹ thuật công nghệ hiện đại, lao động sáng tạo, với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao viết nên những bản hùng ca của tuổi trẻ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

Tại buổi lễ, các đại biểu xin hứa trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, sẽ tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, không ngừng đổi mới, năng động, sáng tạo, không ngừng học tập, vươn lên làm giàu chính đáng cho gia đình và xã hội, quyết tâm lao động, sản xuất, học tập, xông pha tình nguyện, vượt qua mọi khó khăn thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

Kết thúc buổi lễ Đoàn đại biểu đã thành kính đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Bác./.

sang tao 3

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh suy nghĩ về vấn đề dân chủ

Để có một nền dân chủ thật sự, trước hết phải thực hành dân chủ, một trong những khía cạnh quan trọng của thực hành dân chủ là để mọi người được tham gia thảo luận, tranh luận một cách bình đẳng. Cho nên, tổ chức các cuộc họp, các cuộc Hội nghị ở cơ quan, đơn vị thực chất là để thực hiện sự lãnh đạo tập thể và nguyên tắc sinh hoạt dân chủ trong cơ quan cũng như trong tổ chức Đảng. Thế nhưng trong thực tế ở nơi này, nơi khác đã tổ chức nhiều cuộc họp, Hội nghị để bàn bạc những nội dung, những nhiệm vụ quan trọng của cơ quan, của tổ chức cơ sở đảng nhưng thực tế vẫn thiếu dân chủ, vẫn là dân chủ hình thức.

Bởi vì, mặc dù vấn đề được đưa ra bàn trong các cuộc họp, các cuộc Hội nghị, nhưng có những đồng chí lãnh đạo lại nghĩ rằng, cán bộ cấp dưới  là người chịu sự lãnh đạo của mình. Do đó, bàn thì cứ bàn cho phải phép, cho có vẻ dân chủ, để trên khỏi chê, dưới khỏi trách, thậm chí có những việc hệ trọng nhưng không cần bàn bạc trong ban lãnh đạo, cứ theo ý mình mà kết luận và quyết định. Mặt khác, trong điều hành đôi khi có nhiều vấn đề bị hợp thức hóa bằng tập thể lãnh đạo. Đây là vấn đề cần phải được chấn chỉnh.

Thực tế đã chỉ rõ, thực hành dân chủ là chìa khóa giải quyết mọi khó khăn và tìm ra nhiều giải pháp hay để phát triển xã hội, “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”(1), đồng thời, chỉ có tin tưởng gắn bó với nhân dân, với đồng nghiệp thì mới thấy ở đó những sáng kiến vĩ đại, những con đường, biện pháp, lực lượng để đổi mới, đem lại hiệu quả cao trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Chỉ có thực hành dân chủ, coi việc nước là việc chung, mọi người cùng lo toan thì sẽ tìm thấy sáng kiến hay và lòng hăng hái của mọi ngưới sẽ được nhân lên gấp bội.

Theo Bác, “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”(2) Vì thế, trong họp, Hội nghị có những ý kiến khác nhau là chuyện bình thường, bởi đoàn kết của chúng ta là đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh Chính trị và Điều lệ Đảng, do đó, không nên tìm lý do để gạt đi những ý kiến đối lập, càng không nên giữ thành kiến dai dẳng đối với những người đưa ra ý kiến đó, vì như vậy sẽ làm cho cái dân chủ trên thực tế bị hạn chế, từ đó trong những cuộc họp, Hội nghị ý kiến thảo luận, tranh luận sẽ trở thành tẻ nhạt, xuôi chiều, những suy nghĩ sáng tạo, có căn cứ khoa học và thực tiễn sẽ không được ủng hộ. Như thế, nội dung của các cuộc họp, Hội nghị mang tính một chiều, Nghị quyết chung chung thiếu tính cách mạng tiến công.

Thực tế cho thấy, đối với những cán bộ, đảng viên có bề dầy kinh nghiệm trong thực tiễn nếu biết khai thác, biết phát huy và được tập hợp lại chắc chắn sẽ là nguồn sức mạnh vô tận, tạo nên trí tuệ, sức sáng tạo chung của cơ quan, đơn vị. Là người lãnh đạo một cơ quan, đơn vị đòi hỏi phải có tâm, có tầm, phải nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và những quy định có tính nguyên tắc có liên quan đến lĩnh vực mà mình phụ trách; Phải nghiên cứu thật kỹ, phải xem xét và giải quyết đúng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn với mỗi giai đoạn phát triển cụ thể của từng sự vật và hiện tượng, từng con người cụ thể với những biện pháp hết sức cụ thể; Phải chịu khó lắng nghe ý kiến của mọi người chung quanh, nhất là những người kế cận; phải bàn bạc, cân nhắc thận trọng để đưa ra quyết định đúng đắn. Chúng ta đều biết trong thảo luận, tranh luận sẽ có những ý kiến không hoàn toàn giống nhau, và đó là cơ sở giúp cho lãnh đạo nhìn nhận sự vật, hiện tượng khách quan hơn, trên cơ sở đó đề ra kết luận chính xác hơn. Là cán bộ, đảng viên thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, đấu tranh là để đi đến sự thống nhất cao hơn trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, và đó là quy luật phát triển của Đảng.

Tuy nhiên, nội dung của thực hành dân chủ phải xuất phát từ động cơ trong sáng, công tâm, khách quan, có tình, có lý. Vì đây là lợi ích chung chứ không phải tìm cách soi mói. Cho nên, chúng ta cũng phê phán những ý kiến thiếu tinh thần xây dựng, những ý kiến lợi dụng phê bình để đả kích cá nhân, nói xấu lẫn nhau, những tranh luận không tôn trọng nguyên tắc, thiếu tình thương yêu đồng chí, đồng nghiệp, vì như vậy là trái với bản chất của vấn đề dân chủ, là vi phạm Điều lệ Đảng, là dân chủ quá trớn dân chủ cực đoan, dẫn đến tự do tùy tiện, xem thường tập thể. Vì thế, dân chủ trong Đảng là dân chủ có lãnh đạo, có tính nguyên tắc. Nói cách khác, dân chủ của ta là dân chủ có định hướng.

Do đó, trong mỗi tập thể dù nhỏ, muốn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất thật sự, phải thực hành tốt dân chủ, nếu lãnh đạo cơ quan, đơn vị thiếu tôn trọng Nghị quyết của Cấp ủy, coi thường kết luận của tập thể, điều hành  như thế thì bao công sức, trí tuệ của cán bộ, đảng viên đã góp ý trong cuộc họp trở thành vô nghĩa và như vậy cũng có nghĩa Nghị quyết, kế hoạch chỉ dừng lại trên trang giấy, không thực hiện hoặc thực hiện nhưng nội dung bị méo mó không còn nguyên vẹn. Như thế, cho dù có tổ chức nhiều cuộc họp nhưng vẫn cứ thiếu dân chủ.

Thực tiễn chứng minh, nơi nào không thực hiện tốt vấn đề dân chủ đều dẫn đến bất lợi cho tổ chức, đều cản trở bước tiến của cách mạng, nếu không dám nhìn thẳng vào sự thật để tìm cách khắc phục, dần dần nó sẽ triệt tiêu sức sáng tạo và tinh thần đấu tranh xây dựng của tập thể, tạo nên một lối sống an phận, nắng bề nào che bề nấy, đây là mảnh đất tốt để cho chủ nghĩa cá nhân phát triển và thực tế nơi nào thực hiện tốt phát huy dân chủ thật sự thì nơi đó sẽ động viên được tất cả mọi người tham gia đưa cách mạng đi đến thắng lợi. Do đó, cán bộ đảng viên phải chăm lo nhiều đến lề lối làm việc dân chủ, tác phong quan sát, sâu sát thực tế. Cho nên khi đã tổ chức cuộc họp, Hội nghị thì phải bàn cho ra lẽ, bàn xong phải có kết luận dứt khoát, phân định rõ đúng, sai. Trên cơ sở kết luận thông qua được tập thể đồng tình thì hình thành Nghị quyết. Khi chỉ đạo thực hiện, phải nói và làm theo đúng tinh thần của Nghị quyết. Nếu làm trái với Nghị quyết thì các cuộc hội, họp dẫu có bàn sâu đến đâu, kéo dài bao lâu đi chăng nữa cũng chỉ là dân chủ hình thức, dân chủ giả hiệu.

Chú thích:

(1): Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, Tập 6, tr 174

(2): Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd… t10, tr118).

Theo Phan Thị Hữu Hạnh
Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị
T
am trang (st)

bqllang.gov.vn

Người sưu tầm hiện vật về Bác Hồ ở Thái Lan

Hành trình tìm kiếm và thu thập kỷ vật về Bác Hồ giúp ông Ngô Vĩnh Bao, cán bộ hưu trí Hà Nội, từng sống ở Thái Lan, thấu hiểu tình cảm chứa chan của bà con kiều bào ở đây đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Không chỉ có một “Bảo tàng” những di vật của Bác Hồ tại Thái Lan, ông Bao còn chuẩn bị ra một tập sách ghi lại những kỷ niệm của bà con kiều bào với Bác.

Tìm đến nơi in dấu chân Bác

Ông Ngô Vĩnh Bao còn nhớ như in ngày ông đến nhà ông Bùi Bá Ba ở tỉnh Sa Kon NaKhon để xin chiếc phản gỗ của Bác sử dụng hồi năm 1929.

Là chủ sở hữu thứ 6 của chiếc phản, ông Ba đã cất giữ hơn 22 năm với niềm mong mỏi có ngày sẽ chuyển về nước. Khi ông Bao nói rõ ý định, ông Ba đột nhiên lên cơn nhồi máu cơ tim, khiến con cháu phải vội vàng đưa đi bệnh viện cấp cứu. Trái tim của một ông lão đã không chịu nổi niềm xúc động sau bao năm chờ đợi, cuối cùng đã có một người ở Việt Nam đến tìm ông. Năm 2002, ông Bao nhờ người chuyển chiếc phản qua Lào về Việt Nam.

New PictureÔng Ngô Vĩnh Bao bên tủ sách trong đó lưu giữ
một số cuốn sách tự biên soạn về Bác Hồ.

Từ năm 1999-2002, nhân thời gian làm việc ở Thái Lan, ông Bao đã thực hiện hơn 40 chuyến đi các tỉnh thành Thái Lan để tìm lại những hiện vật về Bác Hồ. Thời điểm đó, cứ vào thứ bảy, chủ nhật, ông Bao lại lên đường, tìm đến những địa danh Bác Hồ từng đi qua, tất cả là 9 tỉnh, thành phố. Đến đâu ông Bao cũng được bạn bè giúp đỡ để có thể tìm lại và tiếp nhận những kỷ vật về Bác, như tấm huy hiệu làm bằng sắt, hay bức chân dung bà con tự vẽ. Điều đáng khâm phục là trong mọi hoàn cảnh bà con kiều bào ở Thái Lan vẫn kiên trì cất giữ những hiện vật và kỷ vật về Bác Hồ và chờ ngày giao cho “người ở Việt Nam sang”, ông Bao kể.

Sưu tầm được nhiều hiện vật quý

Tin tức về một người Việt Nam chuyên tâm sưu tầm kỷ vật về Bác đã nhanh chóng lan truyền đến những nơi có kiều bào sống ở Thái Lan. Họ đã tự tìm đến ông Bao hoặc nhờ người nhắn với ông để trao kỷ vật vô giá mà cha mẹ họ để lại. “Tình cảm và mối tin cậy của họ làm tôi rất cảm kích. Tôi nguyện sẽ đem về Việt Nam, tái hiện quá trình hoạt động của Bác ở Thái Lan để góp phần làm phong phú hơn kho tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là tài sản vô giá của cả dân tộc”.

Sau khi rời gia đình ông Bùi Bá Ba, ông Bao đã thu thập thêm được viên gạch lát nền nhà của Bác ở bản Mạy, tỉnh Nakhon Phanom, tấm ảnh Bác tại một ngôi chùa ở Bangkok, cùng hơn 20 cuốn hồi ký của những người từng theo Bác hoạt động cách mạng hoặc nghe kể về Bác.

Nhớ lại ngày đầu tiên có ý định sưu tầm kỷ vật về Bác, ông Bao trầm ngâm: “Đó là năm 1969 khi Bác mất, tôi lặng lẽ cất chiếc băng tang của mình trong tủ. Dần dần, việc cất giữ những tấm hình, bài báo hay bất kỳ di vật gì về Bác đã trở thành niềm say mê của tôi”. Qua ngần ấy thời gian, giờ đây, ông Bao đang có trong tay 13 tập sách tự biên soạn với 100 tấm bản đồ, sơ đồ, hơn 2.000 bức ảnh, bài báo ghi lại chặng đường hoạt động cách mạng của Bác trong và ngoài nước.

Chia sẻ với Đất Việt sau khi Đảng ủy ngoài nước và Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài phát động cuộc vận động sưu tầm và sáng tác về Bác Hồ dành cho kiều bào, ông Bao nói: “Ngày ngày, tôi vẫn bổ sung tư liệu mới cho 13 tập sách”. Khi được hỏi sao chưa trao những tư liệu quý giá này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Bao băn khoăn: “Điều tôi lo ngại nhất là các bạn trẻ sẽ không có nhiều thời gian để nghiên cứu ở bảo tàng. Vì vậy, tôi rất muốn chúng được in thành sách. Để dễ xem và dễ nhớ, tôi đã biên soạn các phần thuyết minh, đi kèm với tranh ảnh minh họa. Tuy nhiên, hiện nay một mình thì chưa đủ sức tổ chức in ấn”.

Ông Bao cho biết thêm, độ chính xác của dữ liệu đã được ông đối chiếu với bộ Biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, kết hợp với thông tin của những người đã từng gặp Bác, những di vật và hồi ký… Điểm đặc biệt của bộ sưu tập này là nhiều hình ảnh và sơ đồ, ít chữ, giúp người xem tiếp cận tư liệu về Bác một cách sinh động.

Ông Ngô Vĩnh Bao dự kiến tổ chức một cuộc triển lãm các hiện vật và tư liệu về cuộc đời Bác Hồ do ông sưu tầm. Tại đó, ông sẽ trực tiếp kể lại những câu chuyện xung quanh cuộc hành trình thu thập kỷ vật về Bác của ông trên đất Thái Lan.

Báo Đất Việt
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu Người có công tỉnh Đồng Nai đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong không khí cả nước đang sôi nổi hướng tới kỷ niệm 68 năm Ngày Thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 23 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân… thực hiện kế hoạch công tác năm 2012 Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai đã tổ chức cho Đoàn đại biểu Người có công 60 người gồm các đồng chí thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và các cán bộ, nhân viên Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh ra thăm Thủ đô Hà Nội, vào Lăng viếng Bác, đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ, và tham quan một số danh lam thắng cảnh của Thủ đô và miền Bắc từ ngày 20/11/2012 đến ngày 25/11/2012. Đây là đoàn thứ 3 (trong số 3 Đoàn gồm 180 đại biểu) mà Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai đã tổ chức ra viếng Bác, đáp ứng được nguyện vọng của những Người có công của tỉnh Đồng Nai.

nguoi co cong dong naiĐồng chí  Lương Kỳ Hải thay mặt Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng
tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu

 Đón và tiếp Đoàn tại Nhà khách số 8 Hùng Vương, đồng chí Lương Kỳ Hải, Trưởng Ban Đón tiếp, đã giới thiệu với Đoàn về nhiệm vụ của đơn vị và quá trình giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu. Phát biểu tại buổi gặp mặt, đồng chí bày tỏ sự khâm phục  những công lao, sự cống hiến của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Nai nói chung, đối tượng chính sách, người có công của tỉnh nói riêng, đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thay mặt cán bộ, công nhân viên Ban Đón tiếp, đồng chí chúc sức khoẻ các thành viên trong Đoàn và mong muốn các đối tượng chính sách của tỉnh Đồng Nai luôn vượt lên khó khăn, sống vui, sống khoẻ và tiếp tục cống hiến, động viên lớp con cháu tiếp tục giữ vững truyền thống anh hùng của cha ông, bằng tấm gương và uy tín của mình giáo dục thế hệ trẻ tích cực lao động, học tập, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.

Các đại biểu người có công tỉnh Đồng Nai đã bày tỏ xúc động được ra thăm Thủ đô Hà Nội, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; cảm ơn sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, sự đón tiếp chu đáo, tận tình của cán bộ, công nhân viên Ban Quản lý Lăng đối với gia đình chính sách, người có công tỉnh Đồng Nai và khẳng định sẽ luôn là những tấm gương mẫu mực cho con cháu noi theo.

Thay mặt Đoàn đại biểu, đồng chí Nguyễn Thành Liễu (tức Nguyễn Anh Dung), thương binh 4/4 huyện Tam Hiệp, tỉnh Đồng Nai đã phát biểu: “Xin trân trọng cảm ơn Ban Quản lý Lăng đã nhiệt tình đón tiếp Đoàn. Chúng tôi rất xúc động khi được các đồng chí đến đón chúng tôi lúc 5 giờ sáng ở tận sân ga Hà Nội. Tháng 5 năm 1961, tôi lên đường trở về Nam chiến đấu. Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, tôi đã 6 lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Tôi vẫn ghi nhớ những lời Bác dạy, nguyện đi theo con đường của Bác, nguyện cống hiến hết sức mình vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu.”

Sau lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Đón tiếp sẽ phối hợp với các cán bộ của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai hướng dẫn Đoàn tham quan Khu Di tích K9, Bảo tàng Quân đội, Văn miếu Quốc tử giám…

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu dự Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VII đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 22/11/2012, hơn 1.100 đại biểu tham dự Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VII đã đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đoàn gồm Chư tôn Hòa thượng thành viên Hội đồng Chứng minh; Chư tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức thành viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam; đại biểu các Ban, Viện trực thuộc Trung ương Giáo hội; Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo; đại biểu tăng ni, phật tử Việt Nam ở hải ngoại.

anh hoi phat giaoĐoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ diễn ra trong 4 ngày (từ ngày 21 đến ngày 24/11/2012) tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt – Xô. Với chủ đề “Kế thừa – Ổn định – Phát triển”, Đại hội VII Giáo hội Phật giáo Việt Nam thực hiện các nhiệm vụ: Tổng kết công tác Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ VI (2007-2012); hoạch định chương trình hoạt động Phật sự nhiệm kỳ VII (2012-2017); thông qua sửa đổi Hiến chương lần thứ V; suy tôn thành viên Hội đồng Chứng minh, suy cử Hội đồng Trị sự và một số Phật sự quan trọng khác.

Ra đời cách đây 31 năm (07/11/1981), Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn phát huy tinh thần phụng đạo yêu nước, phát huy vai trò của mình để trở thành thành viên của khối đại đoàn kết, thực hiện hữu hiệu phương châm: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Điều này được thể hiện trong tất cả các hoạt động của đời sống xã hội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các tăng ni, phật tử đều có sự đóng góp tích cực.

Cùng với việc chăm lo phát triển đạo pháp, Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành, gắn bó với xã hội bằng những hành động cụ thể. Các hoạt động của Phật giáo luôn cổ vũ, lôi cuốn đông đảo tăng ni, Phật tử và người dân trong cả nước cùng tham gia.

Trong nhiều năm qua, các phong trào, các cuộc vận động thi đua yêu nước do Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động được Giáo hội tham gia tích cực góp phần quan trọng trong sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Nhớ lời Bác dạy phấn đấu không ngừng

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thúc Bá ở phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia cách mạng từ thuở thiếu niên, chưa tròn 20 tuổi đã trở thành y tá trưởng của Đại đội 1, Tiểu đoàn 72, tỉnh Quảng Nam và nổi bật bởi tinh thần chiến đấu bảo vệ thương binh, tử sĩ.

Có trận, ông ra vào cửa mở đến tám lần để cõng thương binh, tử sĩ về phía sau. Qua 65 trận đánh, ông tiêu diệt và bắt sống hơn 60 tên địch, thu nhiều chiến lợi phẩm, được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 17-9-1967. Ông Bá kể:

…Tháng 3 năm 1968, tôi và đồng chí Trần Đình ở Sư đoàn 2 được cử ra Bắc học tập. Cuối tháng 4 năm ấy, chúng tôi đến Thủ đô Hà Nội và nghỉ tại Trạm khách Bộ Quốc phòng ở 83 Lý Nam Đế. Sáng sớm ngày 19-5-1968, Trạm trưởng thông báo: “Hai đồng chí Bá và Đình 9 giờ đi công tác, mặc quần áo quân giải phóng”. Chúng tôi phấp phỏng đoán là sự kiện quan trọng, vì theo quy định, tất cả cán bộ miền Nam ở đây đều mặc thường phục.

…Chiếc ô tô chở chúng tôi chạy được một lát, anh cán bộ phụ trách mới phổ biến ngắn gọn: “Bác Hồ muốn gặp một số anh hùng ở miền Nam. Trạm chọn hai đồng chí vào báo cáo với Bác”. Chao ôi! Hai chúng tôi ngập tràn niềm vui mừng, hạnh phúc, vì được gặp Bác là điều mơ ước của biết bao đồng bào, chiến sĩ miền Nam!

nhoAnh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thúc Bá (người vuốt chòm râu Bác) và một số Anh hùng dũng sĩ miền Nam thăm Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch (3-1969)

Bác và đồng chí Vũ Kỳ đón chúng tôi tại vườn hoa bán nguyệt trong Phủ Chủ tịch. Không biết đã được báo trước nhân dạng, hay là do sự cảm nhận tài tình, mà vừa bắt tay tôi, Bác đã hỏi:

Chú là Huỳnh Thúc Bá?

– Dạ! – Tôi lễ phép thưa.

Bác tiếp tục bắt tay đồng chí Đình và bảo:

– Hai cháu là anh hùng của quê hương “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

Bác ân cần hỏi chúng tôi về việc ăn, nghỉ, sinh hoạt. Tôi cảm nhận rất rõ tình thương yêu của Bác khi Người hỏi về bệnh sốt rét và các vết thương của tôi. Bác âu yếm cầm tay tôi, thấy tay tôi gầy, nổi lên những đường gân xanh, Bác xúc động, rơm rớm nước mắt. Ôi! Bác là lãnh tụ thiên tài của dân tộc, mà sao gần gũi, hiền từ như người ông, người cha của mình. Bác dặn chúng tôi phải cố gắng ăn uống, nghỉ ngơi, dưỡng bệnh để có đủ sức khỏe học tập và nhớ phải bền bỉ phấn đấu không ngừng. Bác đãi bánh ga-tô và còn bảo chúng tôi mang về cho anh em trong Trạm.

Lần thứ hai, tôi được gặp Bác vào dịp kỉ niệm ngày Quốc khánh 2-9-1968. Tại hội trường Ba Đình, tôi và 50 anh hùng, dũng sĩ, cán bộ miền Nam được nghe Bác dặn dò, động viên phấn đấu, học tập cho tốt và sẵn sàng nhận nhiệm vụ trở về chiến đấu giải phóng quê hương.

Tháng 3 năm 1969, tôi lại được vinh dự gặp Bác trước khi trở vào miền Nam. Lần này, tôi là thành viên trong Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Khi Đoàn đang nghỉ tại nhà 103 phố Quán Thánh thì được thông báo đi gặp Bác. Đồng chí phụ trách căn dặn: “Sức khỏe của Bác hiện nay rất yếu, nhưng Bác muốn gặp các đồng chí. Yêu cầu tất cả ngồi xa, kẻo Bác mệt”. Hôm ấy, Bác Hồ và Bác Tôn cùng các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đón chúng tôi tại Phủ Chủ tịch. Nhớ lời dặn, chúng tôi ý tứ đứng xa, nhìn lên Bác. Vừa thấy tôi, Bác đã vẫy lại, trìu mến hỏi:

– Cháu Bá đã hết sốt chưa? Học tập có tốt không?

Quá xúc động, tôi không sao cầm được nước mắt. Bác bận biết bao công việc trọng đại mà vẫn nhớ đến bệnh sốt rét của tôi! Lần đó, cả Đoàn được chụp ảnh với Bác. Tôi hoàn toàn không ngờ đó là lần cuối cùng được nhìn thấy Bác!

Ba lần được gặp Bác Hồ là kỉ niệm sâu sắc, không thể nào phai mờ của Anh hùng Huỳnh Thúc Bá, là nguồn sức mạnh to lớn để ông tiếp tục chiến đấu, công tác, lập nhiều chiến công xuất sắc. Ông về hưu năm 2002, với quân hàm Đại tá. Nhớ lời Bác dạy “phải bền bỉ phấn đấu không ngừng”, ông hăng hái tham gia công tác địa phương và nhiều năm được bầu làm Bí thư Chi bộ. Ông đã dẫn dắt phong trào thi đua của khu phố đạt nhiều thành tích tiêu biểu.

Theo baomoi.com
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

“Dân chủ, nhân quyền” – chiêu bài đã lỗi thời của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam

Chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” đã được các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam sử dụng từ lâu, dù “nhai đi, nhai lại” họ vẫn không thể lừa bịp được nhân dân Việt Nam.

Trong lúc nhân dân Việt Nam đang phấn khởi, tự hào với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 20 năm đổi mới toàn diện đất nước, hăng hái thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì các thế lực thù địch tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Một trong những thủ đoạn của chúng là dùng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”.

Cái gọi là “dân chủ, nhân quyền” mà các thế lực thù địch thường rêu rao, đâu phải dân chủ, nhân quyền theo đúng nội hàm của khái niệm này. Đây là một mưu toan, một chiêu bài mà các lực lượng thù địch tuyên truyền, xuyên tạc, bôi nhọ Việt Nam trên trường quốc tế, gây rối, chia rẽ, tạo ra tình trạng mất đoàn kết trong nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, con bài “dân chủ, nhân quyền” còn được họ sử dụng như một công cụ trong chính sách đối ngoại, thông qua đó lấy cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Không ai có thể phủ nhận một thực tế: quyền con người là một giá trị phổ biến, có tính toàn cầu. Song, quyền con người còn là một giá trị lịch sử, gắn với điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi dân tộc, quốc gia, mỗi khu vực trên thế giới. Quan niệm của phương Tây về lợi ích cá nhân và quan niệm của phương Đông về lợi ích của dân tộc, của cộng đồng là những quan niệm rất khác nhau và do vậy, không thể áp đặt cho nhau.

Một số nước phương Tây đã và đang dùng chiêu bài quyền con người để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Họ tự cho mình có quyền “can thiệp nhân đạo” và quảng bá quan niệm “quyền con người không có biên giới”, “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để phủ nhận quyền của các dân tộc, nhất là quyền tự quyết định vận mệnh hay tự lựa chọn con đường phát triển của các dân tộc. Một điều đã trở thành chân lý: các quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền, và công việc nội bộ của mỗi quốc gia phải do quốc gia ấy tự quyết định, không thể có quốc gia nào đó tự coi mô hình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của mình là khuôn mẫu, rồi đem áp đặt “khuôn mẫu” này cho các quốc gia khác.

Chủ quyền là quyền thiêng liêng của mỗi quốc gia dân tộc. Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, người Việt Nam hiểu rất rõ giá trị đích thực của chủ quyền dân tộc, độc lập dân tộc và quyền tự do dân tộc. Công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam không ngoài mục đích đem lại độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho cộng đồng và đương nhiên là cho mỗi con người với giá trị cao nhất là quyền con người.

Trong “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Lời bất hủ ấy ở trong Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Thật vậy, con người không thể có quyền tự do, sung sướng, không thể được bảo đảm nhân quyền theo nghĩa đích thực của từ này, nếu như họ sống trong một đất nước chưa giành được độc lập, tự do. Nước không được độc lập, tất yếu dân không thể có tự do. Một dân tộc còn nằm dưới ách thống trị của ngoại bang thì tự do, hạnh phúc đối với dân tộc ấy chỉ là một ước mơ. Độc lập dân tộc là điều kiện, cơ sở cho việc bảo đảm quyền con người. Rõ ràng, quan niệm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là chiêu bài mà các thế lực thù địch thường dùng làm cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước có chủ quyền.

Nhân dân Việt Nam đã trải qua bao năm chiến tranh ròng rã, đã tốn biết bao xương máu để giành lại độc lập, tự do, dân chủ cho chính mình từ tay những kẻ xâm lược cùng bọn tay sai của chúng, không lẽ ngày nay lại dại dột trao lại quyền tự do, dân chủ cho chính những kẻ chiến bại và vẫn còn đang ôm hận thất bại ấy, để chúng quay trở lại tước quyền sống, quyền tự do, dân chủ của mình một lần nữa? Còn nhân quyền ư? Những kẻ đã trắng trợn, ngạo mạn chà đạp lên nhân quyền của nhân dân Việt Nam và nhân dân nhiều quốc gia khác đâu có đủ tư cách để phán xét về nhân quyền! Họ nói rằng mình là người tôn trọng độc lập, tự do, dân chủ, nhân quyền ư? Thực tế, đâu phải thế. Chính họ đã và đang nhúng tay vào việc lật đổ những chính quyền được nhân dân trực tiếp bầu ra một cách hợp hiến; chính họ đã và đang dùng vũ lực để tấn công vào các quốc gia độc lập, có chủ quyền, tàn sát những người dân vô tội chỉ vì chính quyền của các quốc gia ấy tỏ ra không phù hợp với “khẩu vị” của họ. Tất cả những điều đó đang phơi bày trước nhân dân toàn thế giới. Vì vậy, những luận điệu của họ không lừa bịp nổi ai, trừ một số kẻ vì tâm địa, mưu đồ đen tối mà không dám nhìn thẳng vào sự thật, không muốn thấy đúng sự thật mà thôi! Chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” mà những thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam cố bám lấy để chống phá cách mạng Việt Nam giờ đây đã trở nên quá lỗi thời.

Nhân dân Việt Nam đang được sống trong độc lập, tự do, dân chủ với tất cả quyền con người của mình. Nền dân chủ của Việt Nam đang được thực hiện thông qua Hiến pháp và pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nhà nước Việt Nam luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và dân là người quyết định thành quả lao động của mình. Người dân Việt Nam đã và đang tích cực triển khai thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển mọi tiềm lực của nhân dân để phát triển đất nước, phấn đấu “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại.

Bộ máy, cơ chế hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, đang được đổi mới gắn liền với cải cách hành chính, nhằm khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Tuy còn có những mặt hạn chế, còn nhiều thách thức mà nhân dân Việt Nam đang phải đối mặt và phấn đấu để vượt qua, nhưng tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, mặt thành tựu vẫn là cơ bản. Thế nhưng, các thế lực thù địch tiếp tục dấy lên chiến dịch “nhân quyền” với âm mưu xuyên tạc, bôi nhọ, phá hoại cách mạng Việt Nam. Thực chất, đó là hành động kích động, lừa phỉnh một số người nhẹ dạ, cả tin, tạo ra cớ để phê phán Việt Nam về dân chủ, nhân quyền.

Gần đây, dư luận xã hội Việt Nam đã phê phán những lời bình luận mang tính kích động về tình hình thực hiện dân chủ ở Việt Nam của Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ Lo-rét-ta Xan-chét và Nghị quyết liên quan đến một số đối tượng chống lại Nhà nước Việt Nam của Hạ viện Mỹ (ngày 2-5-2007). Dư luận cho rằng, những hành vi không phù hợp của bà L. Xan-chét trong thời gian ở thăm Việt Nam và nội dung của Nghị quyết nói trên là không có lợi cho sự phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.

Tiếp tục chính sách hận thù, các thế lực thù địch đã lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” để kích động một số phần tử cơ hội, biến chất trong nước gây rối, tạo cơ hội gây bạo loạn, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Đó là sự can thiệp thô bạo, trắng trợn và nghiêm trọng vào công việc nội bộ của Việt Nam – một quốc gia độc lập, có chủ quyền.

Từ quan niệm sai trái “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, các thế lực thù địch đã sử dụng chiêu bài “nhân quyền” để thực hiện mưu đồ thống trị, bá chủ thế giới. Tự cho mình là “quan tòa”, “cảnh sát quốc tế” đi dạy người khác về nhân quyền, song sự thực, họ đang sử dụng “nhân quyền” làm cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác.

Các quốc gia dân tộc đều có đặc điểm riêng về lịch sử, văn hóa, xã hội, truyền thống và bản sắc, trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau nên đều có quan niệm và tiêu chí về dân chủ, nhân quyền riêng của mình. Dân tộc Việt Nam từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thu được những thành tựu có ý nghĩa thời đại: từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; từ một nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, nay đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là những thành tựu vĩ đại, có tầm quan trọng chiến lược, mở ra thời kỳ phát triển mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó cũng chính là những thành tựu dân chủ, nhân quyền cơ bản nhất mà nhân dân Việt Nam đã giành được, không ai có thể phủ nhận.

Chúng ta luôn luôn khẳng định, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của cách mạng nước ta; mục tiêu ấy phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và nguyện vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam. Chúng ta hoàn toàn hy vọng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam sẽ bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Chúng ta tin tưởng chắc chắn vào thành tựu dân chủ, nhân quyền do chính mình xây dựng. Chúng ta coi trọng và biết ơn sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, đồng thời cũng cho rằng, đã qua lâu rồi thời kỳ những nước đang phát triển cần các nước phát triển đến “khai sáng”. Ai đó cũng như các lực lượng thù địch của cách mạng Việt Nam muốn “chọc gậy bánh xe”, muốn đi ngược dòng lịch sử, nhất định sẽ thất bại, nhất định sẽ bị lịch sử đào thải và lên án.

Theo Tapchicongsan dien tu
cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Một 22, 2012, in Chính luận.

Trưng bày hơn 800 cuốn sách, tư liệu về “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND Online – Hơn 800 cuốn sách, tư liệu xuất bản ở trong và ngoài nước viết về Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được triển lãm tại Thư viện Quân đội (Hà Nội) khai mạc vào sáng 21-11.Triển lãm trưng bày theo chuyên đề “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không bản hùng ca của thế kỷ XX” nhằm giúp bạn đọc có thêm tư liệu để hiểu sâu sắc và toàn diện hơn về chiến công vĩ đại của dân tộc. Đây cũng là dịp để thế hệ ngày nay ôn lại truyền thống hào hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cắt băng khai mạc triển lãm sách báo “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không bản hùng ca thế kỷ XX”

Cùng với sách báo, tư liệu trưng bày tại triển lãm, Thư viện Quân đội còn giới thiệu các hình ảnh, thư viện, thư mục, cơ sở dữ liệu điện tử, tài liệu viết về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Tại buổi khai mạc, Ban tổ chức còn giới thiệu cuốn sách “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” do Thư viện Quân đội thực hiện gồm những thư mục, sách báo, tạp chí, trích dẫn những lời đánh giá, bình luận về chiến dịch đã được công bố trong 40 năm qua.

Ngoài ra, trong dịp này, tại thư viện còn diễn ra các hoạt động giao lưu, tọa đàm, hội thảo về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Triển lãm mở cửa từ ngày 21-11 đến hết ngày 31-12.

Tin, ảnh: K.HUYỀN
qdnd.vn

Phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

(ĐCSVN) – Nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972- 12/2012), sáng 21/11, tại Hà Nội, Học viện Chính trị Quân sự ( Bộ Quốc phòng) tổ chức Hội thảo khoa học: Nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 – Giá trị lịch sử và hiện thực.

Hội thảo được tổ chức nhằm góp phần làm rõ hơn vai trò của nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, khẳng định tầm vóc, giá trị lịch sử, hiện tại, tương lai, vai trò, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm về xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972; trên cơ sở đó kế thừa, xây dựng niềm tin, ý chí, quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ; xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần của quân đội và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hội thảo khoa học Nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội
– Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 – Giá trị lịch sử và hiện thực 
(Ảnh: HN)

Cách đây 40 năm, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Quân và dân ta đã tiến hành một chiến dịch phòng không quy mô lớn chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B.52 chưa từng có trong lịch sử chiến tranh hiện đại. Chiến dịch này, ta đã giáng đòn quyết định đập tan ưu thế của lực lượng không quân chiến lược Hoa Kỳ, góp phần quyết định “đánh cho Mỹ cút”, tạo tiền đề “đánh cho ngụy nhào” vào mùa xuân 1975.Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một sự kiện có giá trị lịch sử và thời đại sâu sắc, biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; chiến thắng của đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, của bản lĩnh, ý chí và trí tuệ, văn hoá, truyền thống Việt Nam; đỉnh cao của nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp; là thắng lợi của tư tưởng chiến lược tiến công, tích cực, chủ động, mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta trong lịch sử chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.

Tại Hội thảo, các nhân chứng lịch sử, các nhà khoa học đã tập trung trao đổi, thảo luận về giá trị lịch sử, hiện tại, tương lai của nhân tố chính trị, tinh thần- một trong những nhân tố quyết định làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972; vai trò của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, các cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội trong và ngoài quân đội, từ trung ương đến cơ sở trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, công tác tư tưởng, tổ chức nhằm khơi dậy lòng căm thù giặc, xây dựng niềm tin, ý chí, dám đánh, quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược, mà nòng cốt là cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân; làm rõ thành công và những bài học kinh nghiệm về xây dựng và phát huy nhân tố chính trị – tinh thần trong chiến tranh; xây dựng con người và tổ chức; nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm tiến hành công tác đảng, công tác chính trị; xây dựng niềm tin, ý chí chiến đấu; tinh thần sẵn sàng hy sinh, vượt mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Bên cạnh đó, các tham luận khẳng định việc phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. Đặc biệt, chỉ rõ tính cấp thiết, yêu cầu vận dụng kinh nghiệm lịch sử của chiến dịch để xác định nội dung, giải pháp xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; phát huy nhân tố chính, trị tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đề xuất phương hướng, yêu cầu, nội dung nghiên cứu khoa học nhằm cung cấp những luận cứ, tạo cơ sở, tiền đề cho xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp của quân đội. Các tham luận cũng đánh giá đúng, làm rõ những đóng góp và trách nhiệm của Học viện Chính trị trong đào tạo đội ngũ cán bộ chính trị đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Kết luận Hội thảo, Trung tướng, TS. Nguyễn Tiến Quốc, Giám đốc Học viện Chính trị Quân sự khẳng định: Tất cả các ý kiến tại Hội thảo đều có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc, góp phần cung cấp thêm nhiều luận cứ khoa học. Trên cơ sở kết quả của Hội thảo lần này, Đảng uỷ, Ban Giám đốc Học viện, các nhà khoa học, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý sẽ tiếp tục nghiên cứu, khẳng định những giá trị lịch sử và hiện thực của nhân tố chính trị, tinh thần và việc phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vào xây dựng, huy động tiềm lực chính trị, tinh thần trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới. Kết quả Hội thảo sẽ là cơ sở để vận dụng vào giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở Học viện trong thời gian tới.

HN
cpv.org.vn