Chủ quyền và nhân quyền

Cách đây hơn nửa thế kỷ, ngày 10-12-1948, tại Cộng hòa Pháp, Liên hợp quốc đã công bố bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền. Đây là một cột mốc lịch sử trong cuộc đấu tranh lâu dài của nhân loại vì các quyền tự do, dân chủ và các quyền cơ bản của con người. Lần đầu tiên, các quyền cơ bản của con người đã được cộng đồng quốc tế công nhận và được bảo đảm bằng một văn bản pháp lý chính thức. Bản Tuyên ngôn này tạo nền tảng pháp lý cho việc xây dựng các công ước quốc tế về quyền con người, hình thành nên hệ thống luật quốc tế về quyền con người hiện nay.

Được công bố vào thời điểm loài người vừa trải qua cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai hết sức tàn khốc với tội ác diệt chủng tày trời của chủ nghĩa phát xít, bản Tuyên ngôn gồm 30 điều khẳng định các quyền tự do, bình đẳng của con người trong các cộng đồng dân tộc, ghi nhận thành tựu đấu tranh vì phẩm giá con người. Điều đáng lưu ý là điều 29 của Tuyên ngôn nhấn mạnh đến các nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng để bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản ghi trong Tuyên ngôn. Như vậy, Tuyên ngôn không chỉ ghi nhận các quyền cá nhân, mà còn ghi nhận mối quan hệ qua lại giữa quyền cá nhân với các quyền của cộng đồng và điều kiện cụ thể của cộng đồng để thực hiện các quyền cá nhân.

Trong 56 năm qua, cuộc đấu tranh tại các diễn đàn quốc tế về vấn đề quyền con người đã diễn ra hết sức phức tạp và quyết liệt. Người ta nhận thấy một sự khác biệt sâu sắc trong quan niệm cũng như cách thức thực thi chính sách về quyền con người giữa phương Đông và phương Tây, giữa các nước nghèo và các nước tư bản phát triển.

Nhân quyền đang được Mỹ và phương Tây triển khai như cuộc chơi lớn trên cấp độ quốc tế. Cách mà họ đang đẩy tới cuộc tiến công về nhân quyền làm cho không ít người lo ngại rằng, trận địa này sẽ trở thành một “điểm nóng xung đột” gay gắt nhất về tư tưởng và văn hóa trong tương lai. Đối với những người đang tự cho mình có sứ mệnh vạch chương trình nghị sự cho cả thế giới, thì nhân quyền không chỉ là một chủ trương có tính nhất thời, mà là một quốc sách dài lâu, không chỉ là một mắt xích trong một chiến lược mà bản thân nó là một chiến lược để áp đặt các giá trị phương Tây, các giá trị Mỹ cho toàn thể nhân loại.

Kể từ sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, phương thức khống chế, thôn tính đơn thuần bằng vũ khí bạo lực đã trở nên quá lỗi thời, thì nhân quyền ngày càng trở thành một vấn đề tế nhị, nhạy cảm trong đời sống của nhiều quốc gia và nó đang lộ diện như một vấn đề có quy mô toàn cầu. Biết bao cuộc hội thảo quốc gia, khu vực và toàn cầu đã được tổ chức, và điều nổi cộm nhất, gay cấn nhất tại các diễn đàn này chính là cách thức mà những quyền con người được các quốc gia, các dân tộc khác nhau trên thế giới nhìn nhận, bênh vực và thực hiện.

Mấy năm qua, Oasinhtơn đã nhiều lần điều chỉnh chiến lược toàn cầu, nhưng có một điều không hề thay đổi là nhân quyền luôn luôn được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược đối ngoại của Mỹ thời hậu “chiến tranh lạnh”.

Nếu như lúc này, lúc khác vẫn còn những người đôi khi bị loá mắt bởi màu sắc sặc sỡ của “gánh hát dân chủ” mà Oasinhtơn cho lưu diễn om sòm khắp thế giới, thì các bản “báo cáo nhân quyền” hằng năm mà Bộ Ngoại giao Mỹ công bố đã phơi bày trước mắt họ: sự ngạo mạn và thói áp đặt thô bạo của người tự phong cho mình sứ mệnh đặt chương trình nghị sự cho cả thế giới. Mọi thứ màn che bóng lộn của chủ nghĩa cường quyền Mỹ đã tự giật tung!

Dày tới cả nghìn trang, các bản báo cáo này lên giọng phán xét về tình hình nhân quyền của 194 nước, nghĩa là chẳng có nước nào nằm ngoài tầm mắt coi ngó và sự “chăn dắt” của Mỹ. Thành tích nhân quyền của cả thế giới được Hoa Kỳ xếp loại theo nhiều thứ bậc. Cố nhiên,”sức nặng” của bản báo cáo dồn tụ vào những nước được coi là “đạt thành tích” kém cỏi về nhân quyền. Nước này được khen là “có chút ít tiến bộ” mặc dù tình hình chung còn tồi tệ, nước kia “giậm chân tại chỗ”, nước nọ có “bước thụt lùi nghiêm trọng…”. Chẳng cứ gì nước nhỏ, mà ngay như Ấn Độ cũng bị nhắc nhở, Trung Quốc bị công kích, Nga bị cảnh cáo,… Riêng đối với nước ta, các bản báo cáo này thường bịa ra rằng, “nhà cầm quyền Hà Nội tiếp tục hạn chế các quyền tự do căn bản trong các lĩnh vực chính trị và tôn giáo”.

Bản thân nhân quyền chẳng phải là một điều gì mới lạ, thế nhưng, điều nổi cộm nhất và gay cấn nhất chính là cách thức mà những quyền này được các quốc gia, dân tộc khác nhau trên thế giới nhìn nhận, bênh vực và thực hiện. Oasinhtơn vẫn thường nhấn mạnh rằng, họ coi nhân quyền là hòn đá tảng trong các mối quan hệ quốc tế, thế nhưng, họ cứ một mực đòi áp đặt cho cả thế giới quan điểm, tiêu chuẩn của Mỹ về nhân quyền. Họ hầu như chẳng thèm đếm xỉa đến sự khác biệt trong nhận thức của từng quốc gia, dân tộc về chủ quyền và nhân quyền xuất phát từ những đặc điểm về lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo… Không những thế, gần đây họ còn tung ra luận thuyết mới cực kỳ nguy hiểm, là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, lấy đó làm cớ để thực hiện “chủ nghĩa can thiệp mới”. Cơsôvô đã trở thành cuộc thử nghiệm đầu tiên cho thứ chủ nghĩa can thiệp mới này.

Nhiều nước đã khẳng định rằng, không chỉ về khía cạnh pháp lý quốc tế, mà còn cả về mặt thực tiễn thực thi nhân quyền, nước Mỹ hoàn toàn không đủ tư cách để lên lớp cho cả thế giới về nhân quyền. Ở Mỹ, hiện có tới 235 triệu khẩu súng thuộc sở hữu cá nhân. Mỗi năm ở nước này xảy ra hơn một triệu vụ giết người bằng súng. Ở vương quốc “tự do” này, hiện đang có tới sáu triệu người thụ án tù. Hệ thống chính trị ở Mỹ chỉ phục vụ cho quyền lợi của những kẻ có máu mặt, khiến dân chúng ngày càng tỏ ra chán chường về mặt chính trị. Như vậy, không phải ở đâu khác, mà chính trên đất Mỹ đang diễn ra tình trạng vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất như tệ phân biệt chủng tộc, bạo lực, bất công xã hội, quyền lực chính trị phục vụ thiểu số giàu có, tra tấn ngược đãi đối với tù nhân,… Chính Mỹ lại cũng là quốc gia thường xuyên gây chiến tranh, gieo rắc đau thương cho các dân tộc khác. Xâm hại độc lập, chủ quyền của các quốc gia khác chính là tội ác nhân quyền nghiêm trọng nhất.

Cộng đồng quốc tế bất bình không chỉ vì nội dung sai trái, bóp méo sự thật của các bản báo cáo mà còn vì tư cách pháp lý của người công bố cũng như thái độ trịnh thượng của “vị quan tòa” tự phong khi lên giọng phán xét về tình hình nhân quyền của các nước. Họ cứ làm như thể chỉ có nước Mỹ mới đủ trình độ, đủ tư cách để định ra những tiêu chí về nhân quyền, vạch ra con đường để các dân tộc, quốc gia trên thế giới đạt tới những tiêu chí ấy. Không những thế, họ đang sắm vai là người đôn đốc, kiểm tra, thẩm định và “đóng dấu chất lượng” cho cả thế giới về nhân quyền.

Trong phần nói về Việt Nam, các bản báo cáo này chỉ rặt một giọng điệu là “Việt Nam tiếp tục có những vi phạm nghiêm trọng và tình hình nhân quyền Việt Nam đang xấu đi”. Họ vu cáo “Việt Nam hạn chế quyền riêng tư của công dân”. Những kẻ đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động chống lại đất nước, bị tòa án Việt Nam xử phạt tù lại được họ phong cho là “những người đấu tranh quả cảm cho nền dân chủ và nhân quyền”. Ý đồ đen tối của Oasinhtơn đã lộ rõ khi bản báo cáo này cố tình dựng nên chuyện “Việt Nam đàn áp người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên”. Rõ ràng, các tác giả các bản báo cáo này tỏ ra rất “nhạy bén” với tình hình xảy ra ở Tây Nguyên do sự kích động, giật dây tổ chức của một số thế lực phản động và thù địch bên ngoài. Các thế lực này đã và đang theo đuổi mưu đồ tạo ra ở Tây Nguyên một “điểm nóng” xung đột về sắc tộc và tôn giáo. Họ rất mong Tây Nguyên rối loạn và bất ổn.

Các tác giả của bản báo cáo đã cố tình nhắm mắt trước một sự thật đanh thép là trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước phát triển cả về kinh tế và xã hội được dư luận rộng rãi trên thế giới đánh giá cao: năm 2003, GDP tăng trưởng 7,2% (đứng thứ hai thế giới), được đánh giá là nơi an toàn nhất châu Á – Thái Bình Dương, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, hệ thống luật pháp được hoàn thiện một bước. Đó là những điều kiện thuận lợi để Việt Nam thực hiện tốt quyền con người.

Người ta không thể không đặt câu hỏi phải chăng những người cho xuất xưởng những bản báo cáo bịa đặt này và những thế lực tìm cách thông qua “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” đang phối hợp chặt chẽ với nhau để chống Việt Nam trong màn kịch “nhân quyền”.

Xem xét nội dung của “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” cũng như cung cách và thời điểm thông qua nó, người ta thấy rõ toàn bộ ván cờ này đã được Hạ nghị viện Mỹ chuẩn bị một cách công phu nhằm thực hiện những mục đích chính trị rõ ràng. Một lần nữa cái công thức: kinh tế, chính trị + nhân quyền đã được Oasinhtơn hợp pháp hóa bằng những đạo luật đối với Việt Nam trong một mưu đồ duy nhất: dùng nhân quyền để ràng buộc, đặt điều kiện cho viện trợ kinh tế và thương mại. Đây là một cuộc tấn công hai gọng kìm của Oasinhtơn để dần dần đưa Việt Nam trượt vào quỹ đạo của luật chơi do Mỹ cài đặt. Đó là luật chơi của nền kinh tế thị trường tự do và luật chơi của nền “dân chủ tự do”. Bằng cuộc thập tự chinh này, Mỹ đã sắp đặt được trật tự tại nhiều khu vực trên thế giới. Một khi đã đánh mất chủ quyền, tự chủ về chính trị, các quốc gia rất khó thoát ra khỏi cạm bẫy của cuộc chơi này. Coi mình là người sắp đặt chương trình nghị sự cho cả thế giới, Mỹ ngang nhiên ban hành và áp đặt luật chơi. Trên thực tế, đây là một cuộc chiến tranh có tuyên bố. Trên mặt trận không có tiếng súng này, chiến lược chuyển hóa có khi được thực hiện bằng những biện pháp can thiệp thô bạo và trắng trợn có lúc lại bằng những mạch ngầm thẩm thấu êm dịu, nhiều khi người trong cuộc không thể nhận ra và nếu có cảm thấy thì dễ cho là vô hại.

Hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhưng đất nước ta vẫn nằm trong vòng ngắm các kế hoạch phá hoại, lật đổ của các thế lực thù địch ở Mỹ. Họ vẫn bị sự cay cú và lòng thù hận đốt nóng. Việc ký kết Hiệp định Thương mại phản ánh một xu thế không thể cưỡng lại được trong quan hệ hai nước cũng như trong đời sống quốc tế. Nhưng họ lại đang mưu toan dùng “Đạo luật nhân quyền” để ngăn trở việc thực hiện Hiệp định Thương mại, ngăn cản việc cải thiện, bình thường hóa hoàn toàn quan hệ hai nước. Không những thế, họ còn muốn sử dụng Hiệp định Thương mại để thực hiện cuộc tiến công dân chủ và nhân quyền.

Không ai ngạc nhiên khi thấy “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” cứ nằng nặc đòi Việt Nam phải từ bỏ chế độ “độc đảng” để tiến tới chế độ “đa đảng”. Chiêu bài “độc đảng” này không sao che đậy được tim đen của họ: tìm mọi cách xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ đang mưu toan đoạt lại chiến thắng trong thời bình mà họ đã để mất trong chiến tranh,…

Những “nghệ nhân” chuyên nhào nặn và bóp méo sự thật trong “Tổ chức theo dõi nhân quyền” (HRW) có trụ sở tại Mỹ còn tung ra cái gọi là “Bản phúc trình hằng năm về tình hình nhân quyền”. Bản phúc trình của HRW phán rằng “Việt Nam đã có bước thụt lùi về nhân quyền, đặc biệt, trong lĩnh vực tự do tín ngưỡng”. Làm sao có thể tin vào những “bằng chứng xác thực” cùng với những lời “đánh giá khách quan” trên đây khi người ta biết rằng, chưa một ai trong số các tác giả của bản phúc trình này đặt chân tới Việt Nam. Vậy thì nó lấy “chất liệu” cho bản phúc trình này từ đâu? Chẳng ở đâu khác ngoài những “bản báo cáo” hoàn toàn bịa đặt của một số tổ chức phản động thù địch với Việt Nam ở nước ngoài, trong đó, không thể không kể đến một số kẻ “vong quốc” chưa chịu tỉnh ngộ vẫn tiếp tục ngụp lặn trong dòng nước ngược chống lại quê hương, Tổ quốc mình. Không phải ai khác mà chính ông Chốc Xixi, một cựu binh từng tham chiến ở Việt Nam trước đây, hiện đang điều hành một chương trình nhân đạo ở Việt Nam, có trụ sở tại 172, phố Quán Thánh, Hà Nội, đã gửi một bức thư cho Thượng nghị sĩ Mắc Clêlan, trong đó, vạch rõ rằng “Những thực tế” (điều khoản 101) mà “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” lấy làm cơ sở bao gồm hầu như toàn bộ các báo cáo của một số nhóm Việt kiều hoạt động tại Mỹ. Những “thực tế” này không đúng sự thật, làm cho người ta lạc hướng,… Những ai đã từng đến Việt Nam, với cách nhìn khách quan đều thấy rằng, Nhà nước Việt Nam đã và đang làm hết sức mình để thực hiện và phát triển quyền con người. Đó là sự thật sáng rõ không ai có thể xuyên tạc. Bằng bản phúc trình bịa đặt và vu cáo trên đây, HRW đang tự bôi xấu mình.

Việt Nam là một đất nước có nhiều tôn giáo khác nhau với khoảng 20 triệu tín đồ, chiếm 1/4 dân số. Hiến pháp hiện hành của Việt Nam quy định “công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào và không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Không ai có thể bóp méo một sự thật rõ ràng là ở Việt Nam người theo đạo và người không theo đạo đoàn kết cùng phấn đấu để xây dựng và bảo vệ đất nước. Hoàn toàn không có việc ai đó bị giam giữ vì bày tỏ chính kiến hoặc vì lý do tôn giáo. Thực tế chỉ có những kẻ vi phạm pháp luật mới bị giam giữ và xét xử theo pháp luật. Không thể không vạch ra rằng, thời gian gần đây các thế lực phản động thù địch ra sức câu kết với nhau, đồng thời tìm cách khai thác ý kiến của những người có cách nhìn sai lệch, thiếu thiện chí để dựng lên một bức tranh u ám về Việt Nam.

Hiến pháp Việt Nam thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đã được toàn dân thảo luận rộng rãi và được Quốc hội thông qua. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được ghi ở Điều 4 của bản Hiến pháp chính là sự thừa nhận và là sự lựa chọn dứt khoát của toàn dân tộc Việt Nam. Những ông nghị Mỹ có thể không được am tường lịch sử Việt Nam để có thể hiểu rằng, trước năm 1930, có nhiều phong trào và tổ chức yêu nước, nhưng cuối cùng, chỉ có tổ chức cộng sản tồn tại và hoạt động được trong sự khủng bố điên cuồng của bọn đế quốc. Không ai có thể dùng bất cứ một thứ ảo thuật nào để có thể phủ nhận được rằng, chính Đảng Cộng sản đã luôn luôn đứng mũi chịu sào, lãnh đạo nhân dân giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vượt qua mọi khó khăn thử thách, giành được những thành tựu vĩ đại: tiến hành thành công Cách mạng Tháng Tám 1945, lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, tiến hành hai cuộc kháng chiến vĩ đại, đánh bại những kẻ xâm lược hùng mạnh nhất trong thế kỷ XX, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào năm 1975.

Là bộ tham mưu tài giỏi trong chiến tranh giải phóng, Đảng Cộng sản Việt Nam lại chính là người khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, biết khơi nguồn nội lực để nhân dân ta làm nên những kỳ tích mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đảng ta luôn luôn tỏ rõ một bản lĩnh chính trị vững vàng và một trí tuệ mãi mãi thanh xuân. Lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX đã làm chói sáng vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính bằng bản lĩnh và trí tuệ, mà ngay từ buổi ban đầu, Đảng ta đã khẳng định phải gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Chính bằng bản lĩnh và trí tuệ mà Đảng ta đã nhận rõ vận hội và thách thức. Cũng chính bằng bản lĩnh và trí tuệ mà Đảng đã đặt công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào vị trí chủ yếu cho sự cất cánh kinh tế của đất nước. Như thế, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam được kết tinh trong tài thao lược của Bộ Tham mưu vĩ đại là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cũng cần khẳng định thêm rằng, ở Việt Nam không hề có tù nhân tôn giáo, tù nhân chính trị, mà chỉ có những kẻ vi phạm luật pháp và bị xử lý theo pháp luật Việt Nam. Việt Nam là một đất nước tự chủ, chỉ có Chính phủ và nhân dân Việt Nam mới có quyền giải quyết những vấn đề nội bộ của Việt Nam. Không ai, với bất cứ danh nghĩa gì, có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của một đất nước có chủ quyền. Chỉ có nhân dân nước đó mới có quyền lựa chọn thể chế chính trị nào, cũng như ai là người lãnh đạo họ.

Liên tiếp trong nhiều năm qua, trong các báo cáo về tình hình dân chủ nhân quyền trên thế giới, các tác giả Mỹ không bao giờ quên đeo cặp kính đen đầy thiên kiến và thiếu thiện chí để nói về Việt Nam. Coi tôn giáo là một trong những hướng tấn công chủ yếu trên mặt trận dân chủ, nhân quyền, họ bao giờ cũng cố nặn ra “vấn đề tôn giáo”, rồi bơm phồng lên nhằm mô tả Việt Nam như một quốc gia thi hành chính sách “đàn áp tôn giáo”.

Không ai, bằng bất cứ thủ đoạn dối trá nào, có thể làm lu mờ được một sự thật sáng rõ rằng, cả mặt pháp lý cũng như thực tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của công dân. Điều 70, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Việc thực hiện tốt chính sách này trong suốt mấy chục năm qua đã được đồng bào tôn giáo hoan nghênh, góp phần quan trọng tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Bất cứ ai có sự nhìn nhận khách quan, khi tới Việt Nam đều thừa nhận rằng, ở những người theo tín ngưỡng, tôn giáo được tự do thờ cúng và tiến hành các hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật. Không có ai bị bắt giam vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, chỉ những người lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam thì đương nhiên họ phải bị xét xử theo pháp luật.

Những biến động lớn trong đời sống quốc tế mấy năm gần đây càng cho thấy rõ rằng, mâu thuẫn dân tộc và tôn giáo đang trở thành những vấn đề toàn cầu, có tác động rất lớn tới việc sắp xếp, bố cục quan hệ quốc tế trong thế kỷ XX. Vấn đề dân tộc, tôn giáo đang nổi lên mà nhiều nước phải đối phó, giải quyết. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa bá quyền và cường quyền chính trị là nguyên nhân gây ra các cuộc xung đột dân tộc và tôn giáo ngày nay. Dưới chiêu bài “nhân quyền” tự do tôn giáo, trên thực tế, Mỹ đang tiếp tay cho các thế lực cực đoan tôn giáo mở rộng không gian hoạt động, tạo ra mối hiểm họa đối với nhiều quốc gia. Đó là một trò chơi dao cực kỳ nguy hại.

“Tự do thông tin và dân chủ cho Việt Nam” là một món hàng “đáng giá” trong gánh hát nhân quyền mà các thế lực thù địch với Việt Nam tìm mọi cách đưa ra công diễn trong những năm gần đây. Họ không ngớt la lối rằng, ở Việt Nam “người dân không được quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí”.
Ở Việt Nam, quyền thông tin của nhân dân rất được coi trọng. Quyền này không chỉ được thể hiện trong Hiến pháp mà còn được bảo đảm đầy đủ trong thực tế. Nhiều người đến thăm Việt Nam đã không khỏi ngạc nhiên trước sự phát triển của báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng. Báo chí đã thật sự trở thành diễn đàn để mọi người dân có thể tự do bày tỏ ý kiến của mình về mọi lĩnh vực của đời sống đất nước. Tất cả các bộ, ngành, các tổ chức xã hội và cả Chính phủ đều thành lập bộ phận thu thập ý kiến của nhân dân thông qua báo chí. Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần đích thân chỉ thị các ngành, các cấp, các địa phương phải nghiêm chỉnh xử lý những vấn đề do báo chí nêu ra. Báo chí đã góp phần tạo bầu không khí lành mạnh trong xã hội, để mọi người dân có thêm niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, báo chí đã thật sự trở thành lực lượng quan trọng, có những đóng góp có hiệu quả vào công cuộc đổi mới đất nước, luôn luôn đi đầu trong công cuộc chống tiêu cực, tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác. Nhờ có sự tham gia tích cực của báo chí mà hàng loạt các vụ tiêu cực tham nhũng lớn liên quan đến cán bộ có chức có quyền trong bộ máy công quyền đã bị phơi bày ra ánh sáng và đưa ra xét xử trước pháp luật. Nếu ở một đất nước không có tự do thông tin thì báo chí không thể có những đóng góp như vậy.

Do trình độ kinh tế còn hạn chế, nên Việt Nam chưa phải là một nước đã phổ cập rộng rãi việc sử dụng Internet đến mọi đối tượng trong xã hội. Thế nhưng, bất cứ ai, ở đâu, nếu có điều kiện cũng có thể truy cập Internet một cách dễ dàng để có được những thông tin cần thiết. Khách nước ngoài đến Việt Nam đã đánh giá rằng, Việt Nam là một nước cởi mở, và người dân, tuỳ theo điều kiện kinh tế của mình, đã bắt đầu được hưởng những thành tựu của công nghệ thông tin hiện đại.

Nhưng cũng cần phải khẳng định rằng, trong khi cố gắng bảo đảm tốt quyền được thông tin của nhân dân, Việt Nam dứt khoát không cho phép truyền bá những thông tin xấu, độc, đi ngược lại lợi ích của đất nước và nhân dân, có hại cho việc xây dựng một xã hội lành mạnh, đặc biệt là những thông tin có hại cho việc giáo dục thế hệ trẻ như bạo lực, tình dục,… trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là qua mạng Internet. Luật pháp Việt Nam bảo đảm tự do thông tin, tự do báo chí, nhưng cũng kiên quyết không cho phép bất cứ ai sử dụng báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền bôi nhọ chế độ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, kích động bạo loạn chống lại chính quyền, làm mất ổn định chính trị của đất nước vốn được dư luận quốc tế đánh giá là một thành tựu nổi bật của Việt Nam trong một thế giới đầy bất ổn.
Cần phải vạch ra thói đạo đức giả của những kẻ nhào nặn ra món hàng “tự do thông tin cho Việt Nam”. Đây chỉ là ý đồ xấu xa để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, cố tạo ra ấn tượng rằng, Việt Nam là một “điểm nóng” về nhân quyền, để từ đó can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Bằng màn kịch vụng về này, họ muốn tiếp tay cho những phần tử chống đối, họ muốn các tài liệu chống chính quyền và nhân dân được tự do phát tán, tự do đưa ra nước ngoài; đồng thời những đống tài liệu xấu độc từ bên ngoài lại được tự do tuồn vào Việt Nam để thực hiện mưu đồ gây sụt lở chế độ từ bên trong của họ. Khi Việt Nam không cho phép họ làm điều đó thì họ lập tức la lối lên rằng, Chính phủ Việt Nam bóp nghẹt tự do thông tin, tự do báo chí.
Vì sao họ lại giành sự ưu tiên, sự quan tâm đặc biệt đối với Đài phát thanh châu á tự do như vậy? Đây chính là công cụ chủ lực của Oasinhtơn trong chiến lược nô dịch thông tin ở châu Á mà trước hết mũi dùi công kích được chĩa vào những quốc gia có chế độ chính trị không hợp khẩu vị của họ, bị họ xếp loại vào những nước có “thành tích bất hảo” về dân chủ và nhân quyền. Bị chính phủ và nhân dân các nước tẩy chay và vô hiệu hoá, kể từ khi ra đời đến nay, Đài phát thanh châu á tự do đã không thực hiện được những mục tiêu chính trị mà Oasinhtơn đặt ra.

Dự luật “Tự do thông tin cho Việt Nam” được tung ra trong bối cảnh các thế lực thù địch hay thiếu thiện chí ở Mỹ đang mưu toan đưa “Dự luật nhân quyền Việt Nam” ra để Hạ nghị viện Mỹ bỏ phiếu một lần nữa sau khi dự luật sai trái này đã bị Thượng nghị viện Mỹ trì hoãn không đưa ra bỏ phiếu. Đây là cuộc tiến công nhân quyền từ nhiều hướng rất thâm độc. Bằng việc đưa ra Hạ nghị viện những dự luật sai trái như vậy, các thế lực này đang mưu toan hợp pháp hoá mục tiêu chống phá và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bằng các văn bản pháp luật với những điều khoản bắt buộc.

Những hành động sai trái này đang cản trở, làm tổn hại đến việc phát triển quan hệ Việt – Mỹ vốn đã vượt qua được nhiều trở ngại để phát triển đáng khích lệ như hiện nay. Như vậy, có thể khẳng định rằng, đây không phải là thứ tự do thông tin đích thực cho Việt Nam, mà là thứ tự do can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam vì những mục tiêu chính trị đen tối.

Thật kỳ khôi là trong một thế giới mà việc tôn trọng chủ quyền độc lập của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau đang trở thành những nguyên tắc cơ bản nhất, thì Mỹ và phương Tây vẫn chủ trương coi nhân quyền là hòn đá tảng của các mối quan hệ quốc tế, và dường như không đếm xỉa gì đến sự khác biệt trong các giai đoạn phát triển kinh tế, những sự khác biệt trong nhận thức, quan điểm của từng quốc gia dân tộc về chủ quyền và nhân quyền xuất phát từ những đặc điểm về lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo,… cũng như trong việc ấn định những ưu tiên của quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể.

Thật chẳng có gì khó hiểu khi lãnh đạo một quốc gia đang lâm vào nạn đói phải quan tâm trước hết đến việc cho người dân không đứt bữa, hay một quốc gia đang lâm vào cảnh rối loạn phải tìm mọi cách để ổn định xã hội, chứ không phải là việc thực thi bằng mọi giá các biện pháp bảo đảm dân chủ mà lại theo hướng dẫn từ bên ngoài. Không còn là một hiện tượng hiếm hoi khi tại nhiều nước nghèo, dân chủ vô hạn độ đồng nghĩa với vô chính phủ, dẫn tới tranh chấp, xung đột, chết chóc và đói khát.

Nhân quyền là một giá trị tổng hợp trên cả khía cạnh tinh thần lẫn vật chất. Nó không chỉ bó hẹp đơn thuần ở các quyền tự do cá nhân như phương Tây thường nhấn mạnh và luôn luôn đặt nó ở vị trí độc tôn. Rất nhiều lúc, người ta đã cố tình lãng quên rằng, nhân quyền, trên hàm nghĩa bao quát nhất của nó, là quyền của các cộng đồng, dân tộc, quốc gia, trong đó có quyền tự quyết, quyền phát triển, quyền bình đẳng, quyền sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Chiến đấu để giành độc lập, tự do cho dân tộc là vì nhân quyền lớn nhất, thiêng liêng nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đúng vào thời điểm Liên hợp quốc công bố Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ và nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn đầy thử thách của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, giành những quyền con người cơ bản nhất, đó là quyền được sống trong độc lập, tự do và quyền dân tộc tự quyết. Thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc được loài người tôn vinh là chiến thắng của lương tri và chính nghĩa, đã đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh chung vì quyền con người cơ bản nhất trong thế kỷ XX.

Thử hỏi, quyền của các dân tộc nhỏ yếu ở đâu khi họ là nạn nhân của xâm lược áp bức, thôn tính, tước đoạt, phân biệt đối xử. Nếu quốc gia bị tước mất quyền cơ bản nhất là độc lập, chủ quyền dân tộc thì nhân quyền của những người dân nước đó sẽ ra sao và ai sẽ là người bảo đảm các quyền đó cho họ? Chẳng là nhân quyền gì ở chỗ quyền tự do cá nhân tuyệt đối (thực ra là chỉ của một số nhóm người) được bốc lên tận mây xanh, trong đó, có cả quyền sống dư thừa, trong lúc hàng tỉ người khác thì rên xiết trong đói nghèo và được “tự do” chết đói? Một khi dân tộc bị nô lệ, nhân dân mất quyền tự do thì làm sao người dân có được quyền tự do tuyệt đối!

Sẽ chẳng bao giờ có nhân quyền đích thực nếu chủ quyền dân tộc, quốc gia bị chà đạp. Chủ quyền dân tộc là nguyên tắc cốt lõi nhất cần phải được tôn trọng. Luật pháp Mỹ chỉ có giá trị trong biên giới nước Mỹ, không thể thay thế, không thể đứng trên hệ thống pháp lý quốc tế. Mang danh nhân quyền để chà đạp chủ quyền quốc gia đang tạo ra một nguy cơ thực sự trong thế giới hiện đại, áp đặt nhân quyền theo những tiêu chí và những mưu đồ riêng của mình, chính là sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhất.

Hội nghị quốc tế về nhân quyền tại Viên năm 1993 với sự tham gia của hàng trăm quốc gia đã long trọng xác nhận rằng, nhân quyền vừa có tính phổ biến (có người gọi là tính toàn cầu), vừa có tính đặc thù. Tất cả mọi sự phức tạp, nhạy cảm của vấn đề nhân quyền hôm nay có thể ẩn chứa trong việc giải bài toán có hai đặc tính tưởng như đối chọi này. Thực ra, tính phổ biến và tính đặc thù của vấn đề nhân quyền là hai mặt gắn bó hữu cơ và tác dụng qua lại trong một tổng thể những quyền gắn bó biện chứng với nhau. Đó là quyền của cá nhân và quyền của dân tộc và cộng đồng, quyền dân sự, chính trị, và quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền của cá nhân phải đi đôi với nghĩa vụ của họ đối với xã hội. Quyền con người không thể tách rời hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và phát triển.

Tính toàn cầu ở đây lẽ ra phải được hiểu như là tính nhân loại, có nghĩa rằng, đó là những giá trị chung nhất mà tất cả các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, dù với chế độ chính trị nào, tôn giáo nào, chủng tộc nào, trình độ phát triển ra sao cũng đều thừa nhận. Những giá trị chung nhất đó, trước hết phải là quyền của tất cả các dân tộc quốc gia được sống trong độc lập, tự do, bình đẳng với các quốc gia dân tộc khác. Những giá trị chung nhất đó còn là quyền của các cá nhân được phát triển hài hòa trong một trật tự xã hội được thiết lập theo những quy chuẩn chung, được hưởng những giá trị vật chất và tinh thần của nhân loại tương xứng và phù hợp với điều kiện khách quan của cộng đồng dân tộc mà mình chung sống.

Cần phải vạch ra một sự nhầm lẫn đáng tiếc, nếu không muốn nói đó là một sự áp đặt độc đoán của phương Tây. Họ mặc nhiên coi những giá trị phương Tây là giá trị chung của toàn nhân loại. Hễ ở đâu, có ai đó làm điều gì trái với ý họ là họ lên giọng phán xét ngay, đó là “sự vi phạm nhân quyền”(!). Trong canh bạc nhân quyền của họ, bao giờ cũng thấp thoáng, ẩn chứa những toan tính chính trị. Chẳng phải ngẫu nhiên mà các nước có chế độ chính trị – xã hội không hợp khẩu vị của Oasinhtơn đều bị họ mặc nhiên xếp vào những nước có “thành tích kém về nhân quyền”.

Như vậy, bảo đảm quyền con người trước hết thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia và không một ai với bất cứ tư cách gì, sứ mệnh gì được phép xâm phạm độc lập chủ quyền của quốc gia đó. Trong một thế giới hội nhập, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc, việc thúc đẩy thực hiện các quyền cơ bản của con người có sự hợp tác quốc tế đang được coi là một điều bình thường. Thế nhưng, không ai được lợi dụng vấn đề nhân quyền như một công cụ gây sức ép trong quan hệ quốc tế, gắn nhân quyền với viện trợ kinh tế và thương mại. Tuyệt đối không được thực hiện các mưu đồ chính trị khi xử lý các vấn đề nhân quyền.

Dù nhìn dưới góc độ nào, thì nhân quyền còn mãi mãi là một tổ hợp những vấn đề tế nhị và nhạy cảm vì cái căn nguyên sâu xa của nó bắt rễ trong phong cách sống cũng như nấc thang giá trị của từng dân tộc. Thế giới mà chúng ta đang sống vừa thống nhất, vừa đa dạng, phức tạp với bản sắc riêng của từng dân tộc. Tuy rất đặc thù, nhưng nhân quyền, cũng như các lĩnh vực khác, đang trở thành một bộ phận của đời sống quốc tế. Vì thế, thay vì áp đặt theo kiểu sen đầm quốc tế về nhân quyền, nên đưa nó vào trong tiến trình của cuộc đối thoại quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia.

Đó là sự hợp lý để thực hiện các điều khoản đã được ghi trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền một cách bình đẳng.

(Theo: Quang Lợi, Lẽ phải của chúng ta, NXB Chính trị Quốc gia, 2004)
cpv.org.vn