Archive | Tháng Mười Hai 2012

Đường đến “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thể hiện truyền thống càng đánh càng mạnh của quân đội ta trong quá trình vừa xây dựng, vừa chiến đấu, đánh bại chiến tranh công nghệ, chiến tranh điện tử quy mô lớn của Mỹ. Trước hết, đó là kỳ tích về chiến đấu và lao động của từng chiến sĩ phòng không-không quân (PK-KQ) trực tiếp đối đầu với địch ở cấp chiến thuật, nhất là các kíp chiến đấu của các tiểu đoàn hỏa lực và các cán bộ kỹ thuật đã dũng cảm, sáng tạo từng bước đánh bại tất cả các thủ đoạn tinh vi của không quân Mỹ…

“Bửu bối” B-52?

Đầu năm 1972, để hỗ trợ cho quân ngụy đang thua ở Quảng Trị và để gây sức ép với ta trong bế tắc ở Hòa đàm Pa-ri, Mỹ đã mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân lần thứ 2 đánh phá miền Bắc Việt Nam.

Lần đầu tiên Mỹ đã dùng B-52 leo thang đánh rộng ra từ Quảng Bình, Vinh, Thanh Hóa đến Hải Phòng và uy hiếp thủ đô Hà Nội. Bộ đội Tên lửa Hải Phòng bắn nhiều đạn, nhưng B-52 không rơi.

Lầu Năm góc vội chủ quan, tuyên bố: “Bằng kỹ thuật điện tử hiện đại, không lực Hoa Kỳ đã bịt mắt được toàn bộ hệ thống phòng không Bắc Việt. Giờ đây B-52 có thể ném bom vào bất cứ mục tiêu nào trên lãnh thổ miền Bắc, B-52 là bất khả xâm phạm”.

Bộ đội Phòng không băn khoăn lo lắng về thủ đoạn mới của địch và khả năng đánh trả của ta, trăn trở với nhận định của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng: “Khả năng sớm muộn gì Mỹ sẽ sử dụng B-52 đánh lớn vào Hà Nội để gây sức ép với ta, đang trở thành hiện thực”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thông qua cách đánh B-52. Ảnh tư liệu.

Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ quán triệt quyết tâm của Bác Hồ năm xưa: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52, hay “bê” gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”, phát động cuộc thi mới: “Quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, đi sâu nghiên cứu địch, thực hiện lời Bác dạy”.

Tư lệnh Phòng không Lê Văn Tri giao cho Bộ Tham mưu, trực tiếp là tôi, bấy giờ là Tham mưu phó phụ trách nghiên cứu và huấn luyện chuyên về tên lửa: “Đồng chí hãy tập hợp anh em có trình độ chuyên môn và có quyết tâm cao, để nghiên cứu xây dựng tài liệu về cách đánh B-52 của tên lửa, càng sớm càng tốt”.

Tôi rất lo lắng, vì nhiệm vụ này không dễ dàng gì. Là một trong ba con át chủ bài về phương tiện tấn công chiến lược của Mỹ, B-52 là loại máy bay ném bom hiện đại nhất, thường bay ở độ cao trên 10.000m, mỗi chiếc có thể mang đến 30 tấn bom, được trang bị đến 15 máy gây nhiễu các loại và được bảo vệ chặt chẽ.

Đường đến “Điện Biên Phủ trên không”

Tôi còn nhớ ngay từ năm 1962, Bác Hồ đã chỉ thị cho đồng chí Phùng Thế Tài, lúc đó là Tư lệnh Quân chủng Phòng không, cần quan tâm đầu tư nghiên cứu loại máy bay này để không bị bất ngờ.

Vào đầu năm 1966, khi Mỹ lần đầu tiên dùng B-52 đánh ra đèo Mụ Giạ (Quảng Bình), Bác đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Đặng Tính, Chính ủy Bộ đội PK-KQ: Đã đến lúc phòng không phải tìm cách đánh B-52. Chấp hành chỉ thị của Bác, Trung đoàn 238 – trung đoàn tên lửa thứ 2 mới ra quân đã được đưa vào khu vực Vĩnh Linh để nghiên cứu quyết đánh B-52. Bộ Tham mưu quân chủng đã cử một số cán bộ tác chiến, quân báo, đội trinh sát nhiễu, dưới sự lãnh đạo của Phó tư lệnh Hoàng Văn Khánh, vào Vĩnh Linh để cùng Trung đoàn 238 nghiên cứu nhiễu của địch và tìm cách đánh B-52.

Kết quả, ngày 17-9-1967, Trung đoàn 238 đã bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên trên miền Bắc nước ta.

Vào năm 1969, từ những kinh nghiệm, Trung đoàn 238 đã hình thành tài liệu đánh B-52 đầu tiên của tên lửa nhưng do điều kiện lúc đó nên tài liệu còn sơ khai, cần phải bổ sung nhiều.

Theo chỉ đạo của Bộ tư lệnh, Bộ Tham mưu chúng tôi đã bắt đầu thành lập ra Ban nghiên cứu biên soạn tài liệu đánh B-52 của tên lửa. Ban biên soạn gồm các cán bộ đầu ngành và cán bộ chủ chốt của Bộ Tham mưu và Trường Sĩ quan Phòng không. Tùy theo chủ đề, chúng tôi tranh thủ sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô; huy động sự đóng góp của một số cán bộ của Sư đoàn Phòng không Hà Nội, của Viện Khoa học kỹ thuật quân sự Bộ Quốc phòng; tranh thủ ý kiến cả của các cơ quan có liên quan của Bộ Tổng tham mưu; dựa vào tư liệu của Bộ và của chuyên gia Liên Xô, các tài liệu thu được của địch, kể cả khai thác các lời cung của tù binh phi công Mỹ. Nhưng thiết thực hơn, đã nghiên cứu các bản sơ kết, tổng kết kinh nghiệm của cả các trận đánh thành công lẫn thất bại của tên lửa từ khi ra quân đánh máy bay cường kích, ném bom các loại, nhất là B-52… Xuất phát từ những trận đánh B-52 của Trung đoàn 238 tại Vĩnh Linh năm 1966-1967 đến các trận đánh B-52 ở các cửa khẩu 559, Đường 9 – Nam Lào, Chiến dịch Trị Thiên năm 1972… Khảo sát kinh nghiệm đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng, chống nhiễu của các trận chống tập kích quy mô lớn của địch vào Hà Nội năm 1966-1967, nhưng sốt dẻo nhất là các trận đánh B-52 của tên lửa những ngày tháng 4-1972.

Bộ Tham mưu Quân chủng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề khá sôi nổi.

Về nghiên cứu địch, đã đi sâu phân tích các thủ đoạn mới về kỹ, chiến thuật của địch, nhất là về các nhiễu điện tử, nhiễu ngoài đội hình, nhiễu tiêu cực, nhiễu tích cực trong đội hình, thủ đoạn phóng tên lửa Shrike chống ra-đa của ta.

Tập trung nghiên cứu điểm yếu của nhiễu điện tử. Nhận thấy không phải chỗ nào, lúc nào nhiễu cũng giống nhau, nên cần khai thác những điểm có lợi cho ta. Cần chú ý nhiễu tổng hợp của địch trong đội hình mật tập, sử dụng lực lượng quy mô lớn.

Về cách đánh của ta, sử dụng tập trung từ 2 đến 3 tiểu đoàn tên lửa hiệp đồng binh chủng đánh vào một tốp máy bay địch, trong điều kiện địch gây nhiễu tổng hợp và sử dụng rộng rãi tên lửa Shrike chống ra-đa. Bố trí đội hình phù hợp, tập trung vào hướng đường bay chủ yếu có trận địa chốt có thể cơ động hỏa lực, có trận địa cơ động vòng ngoài, đánh địch từ xa, sẵn sàng chuyển hóa thế trận, kết hợp với đánh chính diện, đánh đòn, đánh bên sườn, đánh đuổi, tạo thế trận bao vây địch, hạn chế tác hại của nhiễu.

Về xạ kích, nâng cao khả năng đánh địch trong nhiễu tạp bằng phương pháp ba điểm (T/T), nhưng cần tích cực phát sóng, tránh tư tưởng ngại Shrike địch; tạo khả năng bắt rõ mục tiêu để đánh bằng phương pháp hiệu quả nhất – phương pháp vượt nửa góc (пC).

Hết sức tận dụng những thành quả cải tiến khí tài của chuyên gia Liên Xô cùng các cán bộ kỹ thuật của ta để góp phần khắc phục nhiễu của địch. Sử dụng bộ khí tài quang học đặt trên nóc xe thu phát (cabin пA-00), giúp phát hiện máy bay địch trên nền nhiễu, đồng thời tránh được tên lửa Shrike của địch.

Những nội dung trên được nhóm chúng tôi tổng hợp thành tài liệu, đánh máy in Roneo, mang bìa đỏ, để phân biệt với các tài liệu khác nên anh em thường gọi là Quyển sách đỏ.

Nội dung Tài liệu đánh B-52 được tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh dần qua các Hội nghị quân chính của quân chủng, thông qua các phương án tác chiến đánh B-52 vào tháng 7 và 9 năm 1972.

Tại Hội nghị quân chính mở rộng vào tháng 10-1972, thành phần gồm các cán bộ từ cơ sở trở lên thuộc Quân chủng PK-KQ, Tài liệu đánh B-52 chính thức được thông qua. Sau đó được in và gửi xuống các tiểu đoàn tên lửa để nghiên cứu học tập, vận dụng.

Tháng 11-1972, địch dùng B-52 đánh vào Tây Nghệ An. Ngày 23-11-1972 quân chủng cử một kíp chiến đấu và một số cán bộ tham mưu xuống Tiểu đoàn 43, Tiểu đoàn 44 thuộc Trung đoàn 263 bố trí ở Tây Nghệ An để theo dõi, hỗ trợ đánh B-52 theo tài liệu mới. May mắn thay, đêm đó, tên lửa của ta đã bắn B-52 rơi tại chỗ ở biên giới Việt – Lào – Thái Lan. Phía Mỹ lần đầu tiên đã phải công nhận B-52 bị SAM 2 bắn rơi.

Những kinh nghiệm mới được bổ sung vào tài liệu. Quân chủng phát động tiếp một đợt huấn luyện đột kích về đánh B-52 cho tên lửa. Tư lệnh Quân chủng lại giao nhiệm vụ cho tôi phụ trách một số cán bộ và trắc thủ cốt cán, lần lượt đi xuống một số tiểu đoàn để huấn luyện và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu theo phương án, phối hợp với cán bộ của các sư đoàn phòng không. Đoàn cán bộ này được anh em gọi vui là “gánh hát rong”.

Cuối tháng 11-1972, phương án cuối cùng đánh B-52 đã được Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và tập thể lãnh đạo Bộ Tổng tham mưu trực tiếp thông qua, sau đó được Đại tướng Võ Nguyên Giáp phê chuẩn.

Hiệp đấu quyết định và những bài học

Trong cuộc không kích chiến lược chủ yếu bằng B-52 cuối năm 1972, Mỹ đã huy động 4.547 lần chiếc máy bay các loại, trong đó có 663 lần chiếc B-52, tức là 1/2 số máy bay B-52 và 1/3 máy bay chiến thuật của Mỹ, ném xuống miền Bắc nước ta hàng vạn tấn bom. Nhưng kết quả Mỹ đã mất 81 máy bay hiện đại, trong đó có 34 chiếc B-52, có 16 chiếc rơi tại chỗ, mất hàng trăm phi công sừng sỏ, tỷ lệ tổn thất lớn xấp xỉ 15% – một tỷ lệ khiến Mỹ không chịu nổi, phải kết thúc chiến dịch sớm, ngoài ý muốn của Nhà Trắng và Lầu Năm góc… Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biểu dương “lực lượng phòng không-không quân cùng quân và dân miền Bắc đã làm nên một trận Điện Biên Phủ trên không vẻ vang nhất”.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân đất đối không của Việt Nam, dựa trên tác chiến của 3 thứ quân. Lực lượng PK-KQ làm nòng cốt, đánh có trọng điểm và rộng khắp với mọi đối tượng địch ở mọi độ cao, ngày cũng như đêm. Tất cả các thành phần đều lập công: Bộ đội ra-đa thông báo kịp thời, chính xác; Tên lửa đánh giỏi, bắn rơi nhiều chiếc B-52; Không quân và pháo 100mm cũng bắn rơi B-52; Cao xạ bắn rơi hàng chục máy bay cường kích các loại; Tự vệ Cơ khí Mai Động bắn rơi 1 chiếc F111A bay thấp, dân quân Hòa Bình bắn rơi 1 trực thăng cứu người lái…

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” thể hiện nghệ thuật tác chiến phòng không Việt Nam, đỉnh cao là chiến dịch chống tập kích đường không của Mỹ: Từ trận mở đầu thắng giòn giã (18-12-1972), tới trận thắng quan trọng (20-12-1972), kết cục là trận then chốt quyết định (26-12-1972).

Trung tướng VŨ XUÂN VINH – Nguyên Tham mưu phó Quân chủng PK-KQ, nguyên Cục trưởng Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng.
qdnd.vn

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” Bài học lịch sử giá trị cho thế hệ trẻ hôm nay

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng anh hùng đã chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược có sức mạnh và tầm vóc về quân sự, kinh tế mạnh hơn rất nhiều lần để giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, là một trong những chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta, là chiến công oanh liệt trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, mãi mãi là biểu tượng của ý chí, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, là bài học lịch sử giá trị cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Chien thang DBP 1

Cách đây tròn 40 năm, vào cuối tháng 12 năm 1972, quân, dân Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh lân cận và bộ đội Phòng không – Không quân đã làm nên một chiến tích kỳ diệu: Đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô chưa từng có trong lịch sử, chủ yếu bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Đây thực sự là một chiến công mang tầm vóc thời đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX, một trận “Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội” lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút quân về nước; tạo bước ngoặt quyết định để quân và dân ta “đánh cho Mỹ cút”, tiến đến “đánh cho Nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đã 40 năm trôi qua nhưng Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được đánh giá là một trong 10 chiến thắng vĩ đại nhất lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, là sự tiếp nối truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ. Nghiên cứu các tư liệu lịch sử, những hiện vật giá trị được lưu giữ trong các Bảo tàng, qua hồi ức chiến tranh của những nhân chứng sống…Có thể nói, sự tàn khốc của cuộc chiến năm ấy đã qua đi nhưng tầm vóc và ý nghĩa chiến thắng vang dội của 12 ngày đêm rực lửa vẫn còn vẹn nguyên, âm vang mãi trong ký ức. Đối với mỗi người dân Việt Nam và đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay, chiến thắng đó là một sự kiện lịch sử, chứa chan niềm tự hào, tạo động lực và thúc giục họ lập tiếp chiến công, viết nên trang sử mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc, giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần của thanh niên Việt Nam là “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Các thế hệ thanh niên nước ta đã không ngại gian khổ, hy sinh, không sợ mưa bom bão đạn, góp sức cùng cả nước lập nên những chiến công hiển hách, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân… Bước vào công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh và sau hơn 20 năm trên con đường đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội; sự hợp tác, hòa bình, ngoại giao song phương, đa phương đã được duy trì, phát triển trở thành xu thế chính nhưng trước những diễn biến và bối cảnh phức tạp, nhiều biến động của khu vực và trên thế giới vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định rất khó lường đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải kế thừa bài học của lịch sử, bài học của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”  vận dụng trong điều kiện, hoàn cảnh mới, cần tiếp tục chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, xây dựng lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ ngày nay.

Chien thang DBP 2

Liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Xuân Thiều

Ngày 21-12-1972, trong bức thư gửi bố mẹ của Liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Xuân Thiều, có đoạn viết: “Bố mẹ thân yêu! Qua hai đêm nặng nề, cái nặng nề vì phải đứng nhìn lửa đạn hết đợt này đến đợt khác rải xuống Hà Nội. Con thấy uất ức lắm vì chưa làm được gì. Con nghĩ bây giờ không phải là lúc lo lắng cho ngôi nhà của mình, cũng không có quyền nghĩ đến bản thân..”. Và đến đêm ngày 28-12-1972, người phi công dũng cảm này đã thực hiện được mơ ước của mình khi cùng chiếc MIG-21 thân yêu biến thành quả tên lửa thứ 3 lao vào thiêu cháy B-52 Mỹ. Nhắc gợi chiến thắng vang dội cách đây 40 năm, sự hi sinh anh dũng, quả cảm của những người trực tiếp lập công trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đều ở lứa tuổi 20, còn rất trẻ như phi công Vũ Xuân Thiều nhưng đã rất bản lĩnh, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, khao khát tiêu diệt được B-52 của Mỹ là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Việt Nam noi theo, là cơ hội để các thế hệ nhắc nhở nhau luôn học tập và rèn luyện, làm chủ khí tài, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ bầu trời Tổ quốc, khơi dậy truyền thống anh hùng, lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ. Trước những bài học đó, bản thân mỗi thế hệ thanh niên Việt Nam hiện cần tập trung xây dựng và giữ vững toàn diện về lập truờng tư tưởng, bản lĩnh chính trị, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, đoàn kết, thống nhất và tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Tích cực siêng học, năng rèn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chủ động, nhạy bén, sáng tạo nghiên cứu, tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến, đi tắt đón đầu; phát huy truyền thống vinh quang của tuổi trẻ, xung kích đi đến những vùng miền của đất nước còn khó khăn, hăng hái lao động sản xuất, giữ gìn trật tự an ninh và an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa như Bác Hồ kính yêu đã dạy “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.

Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lương xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước, có thể khẳng định, trong sự nghiệp đổi mới hôm nay, thế hệ trẻ Việt Nam có một vị trí trung tâm, chiến lược đặc biệt quan trọng và xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, việc đẩy mạnh công tác giáo dục, nâng cao lòng tự hào về truyền thống của dân tộc, của Quân đội nhân dân Việt Nam – Quân chủng Phòng không – Không quân, nhất là truyền thống đánh thắng B-52; xây dựng  ý chí quyết đánh, quyết thắng, tinh thần dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, tự lực, tự cường; ý chí vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật; ý thức tổ chức kỷ luật; tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân… khắc phục những biểu hiện hoang mang, dao động, thiếu tự tin trong thế hệ trẻ hôm nay là việc làm rất quan trọng và cần thiết.

Là lớp thanh niên được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ thống nhất, sống, học tập, làm việc trong hòa bình, hưởng thành quả cách mạng mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh gian khổ giành được, tuy không được chứng kiến thời khắc hào hùng của dân tộc, nhưng qua những trang sách, qua những lời kể của nhân chứng lịch sử, thế hệ trẻ chúng tôi cảm nhận sâu sắc Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là niềm tự hào, là biểu tượng sáng ngời của ý chí quyết tâm và sức mạnh Việt Nam. Những tấm gương chiến đấu dũng cảm của thế hệ thanh niên trong cuộc chiến 12 ngày đêm sẽ mãi là phần quan trọng trong hành trang của mỗi bạn trẻ trên con đường đi tới, đồng thời đặt cho thế hệ trẻ trách nhiệm nặng nề nhưng rất vinh quang, tự hào đối với Tổ quốc và nhân dân, đó là dựng xây, phát triển và bảo vệ vững bền nước Việt Nam dân chủ, công bằng, văn minh sánh vai với các nước trên thế giới.

Trong giai đoạn hội nhập ngày nay, Thủ đô Hà Nội rạng ngời sức sống hơn bao giờ hết. Hà Nội nói riêng và đất nước Việt Nam nay đã chuyển mình, trỗi dậy mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình trên trường quốc tế. Hà Nội nghìn năm văn hiến anh hùng đã trải qua cả một chặng đường dài lịch sử đấu tranh kiên cường giành độc lập, tự do, biết bao xương máu của nhân dân Việt Nam và đặc biệt là nhân dân Thủ đô Hà Nội đã đổ xuống để ngày hôm nay cùng hát vang bài ca khải hoàn. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 đã đi vào lịch sử dân tộc, mãi là một trong những mốc son chói lọi in sâu vào tâm trí của mỗi người dân Thủ đô cũng như những người Việt Nam chúng ta, nhắc nhở cho lớp lớp thế hệ thanh niên ngày nay thành kính, biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, các anh hùng, liệt sỹ, đồng bào, đồng chí đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc – đó sẽ mãi là niềm tự hào về truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Thủ đô nói riêng, tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Sáng 29/12, nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972 – 12/2012), Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đặt vòng hoa, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt vòng hoa, tưởng nhớ các Anh hùng liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.

Dự lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh có các đồng chí: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm.

Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu; nguyên Chủ tịch Nước Trần Đức Lương; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Phạm Thế Duyệt; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ và lãnh đạo một số bộ, ban, ngành Trung ương cùng dự lễ viếng.

Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Tiếp đó, Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đến đặt vòng hoa, tưởng nhớ các Anh hùng liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.

Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sỹ.

TTXVN
daibieunhandan.vn

Sóng nhà Đài – Mũi “tâm công” trong chiến dịch 12 ngày đêm

Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không:

(VOV) -Tác động của tiếng nói Việt Nam khiến cho binh lính Mỹ suy sụp rã rời

Ký ức một phóng viên nhà Đài trực tiếp chứng kiến, tham gia phản ánh những ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” ùa về qua xúc cảm, qua từng lời nói của nhà báo – nguyên Phó Tổng giám đốc Đài TNVN Mai Thúc Long. Ông bộc bạch những suy tư, cảm xúc của mình trong buổi tọa đàm với Hệ Phát thanh Đối ngoại VOV5 ngày 27/12.

Nhà báo Mai Thúc Long nói rằng, Đài TNVN là một trong những “binh chủng đặc biệt”. Những ngày máu lửa đó, Đài TNVN luôn cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, phản ánh cuộc chiến đấu oanh liệt của quân, dân ta bảo vệ thủ đô Hà Nội trong 12 ngày đêm.

Nhà báo Mai Thúc Long – Nguyên Phó Tổng giám đốc Đài TNVN

Hồi đó, đại bản doanh của Đài TNVN đóng tại 58 Quán Sứ do đồng chí Trần Lâm phụ trách. Khi Mỹ bắt đầu thực hiện Chiến dịch LinebackerII, cán bộ phóng viên đa số đi sơ tán, những ai có sức khỏe thì tiếp tục ở lại để chiến đấu.

Ở lại Hà Nội trong 12 ngày đêm, công việc của nhà báo Mai Thúc Long là phản ánh trực tiếp những nơi quân dân ta trực chiến đánh B52. Khi máy bay B52 rơi, lập tức ông cùng đồng nghiệp có mặt, viết tin, bài phản ánh để thông tin kịp thời cho nhân dân cả nước, nhân dân thế giới chiến công của ta.

Đài TNVN lúc đó cũng phản ánh trung thực những tội ác mà Mỹ gây ra cho Hà Nội, đặc biệt khi Mỹ ném bom tàn phá Khâm Thiên và đánh vào Đài Phát thanh ở Mễ Trì.

Ông còn nhớ mãi thời khắc đó. Khi Đài TNVN phải ngừng sóng 9 phút. Sau 9 phút lịch sử trôi qua, tiếng của phát thanh viên cất lên dõng dạc đĩnh đạc, đường hoàng mang tư thế của người chiến thắng. Tiếng nói Việt Nam tác động sâu sắc, mang lại niềm tin cho nhân dân, quân đội, cho bạn bè thế giới.

Ở Đài TNVN, ngoài các phóng viên chính, Đài còn có sự hỗ trợ của đông đảo cộng tác viên, trong đó có nhiều tên tuổi nổi tiếng: Nhà báo Lưu Quý Kỳ, nhà thơ Chế Lan Viên, nhà thơ Tố Hữu…

Sau sự kiện Đài TNVN bị ném bom, nhà báo Lưu Quý Kỳ đã có bài viết “9 phút làm nên lịch sử”. Tác động của bài báo hết sức mạnh mẽ. Ở Nhật Bản, khi nghe thông tin này, các bạn Nhật đã quyên góp ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống Mỹ. Còn nhà thơ Chế Lan Viên thường xuyên đến đài ngâm thơ, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta, tố cáo tội ác của Mỹ.

“Hồi đó, nhà thơ Tố Hữu đã phải thốt lên – Đài TNVN xứng danh là Đài anh hùng”, nhà báo Mai Thúc Long nhớ lại.

Theo nhà báo Mai Thúc Long, sóng của Đài TNVN thời đó có tác động to lớn không chỉ đối với nhân dân trong nước mà còn đối với nhân dân thế giới.

Đài TNVN hồi đó không chỉ phản ánh một cách trung thực phong trào phản chiến, phong trào đấu tranh chính trị của đồng bào miền Nam, đặc biệt là của học sinh sinh viên đòi quân Mỹ rút đi khỏi Sài Gòn và các thành phố lớn ở miền Nam, đồng thời phản ánh chiến thắng của quân và dân miền Nam phối hợp với bộ đội ở Hà Nội, hình thành nên “gọng kìm” trên làn sóng.

Lúc này Đài TNVN có chương trình Bình địch vận do Cục Tuyên huấn chủ trì hàng ngày phát sóng vào khu vực doanh trại của lính Mỹ và lính Sài Gòn, đồng thời một đài phát sóng ở thủ đô Cuba cũng thường xuyên thông tin về cuộc chiến của quân dân ta.

Đại tá Vũ Tang Bồng – Nguyên Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử kỹ thuật – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Chúng ta khai thác những phi công Mỹ bị bắt, đưa lên làn sóng. Đấy là lời nói phát ra từ tâm can của những người lính Mỹ. Họ yêu cầu Chính phủ Mỹ phải ngừng ngay cuộc chiến tranh bẩn thỉu này. Họ nói rằng: “Họ là những người bị đánh lừa”.

“Nhưng cái quan trọng hơn chúng tôi muốn nói là tác động của tiếng nói Việt Nam đến binh sĩ Mỹ và binh sỹ Sài Gòn – Đấy là cuộc tấn công bằng lực lượng tâm công – đánh vào lòng người. Sức mạnh này vô cùng to lớn, nó đánh vào lòng người làm cho binh lính Mỹ suy sụp rã rời”, nhà báo Mai Thúc Long nhấn mạnh.

Có mặt tại buổi tọa đàm, Đại tá Vũ Tang Bồng – Nguyên Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử kỹ thuật – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam nhấn mạnh rằng, trong cuộc chiến 12 ngày đêm ở Hà Nội, Đài TNVN đã trực tiếp góp phần vào chiến thắng B52. “Khi biên soạn cuốn sách Những sự kiện lịch sử Việt Nam trong cuộc kháng chiến cứu nước, chúng tôi có nói đến sự kiện này”, Đại tá Bồng nói.

Trong “Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không”, các cán bộ lãnh đạo, nhân viên kỹ thuật của Đài TNVN rất tận tình giúp đỡ Bộ đội Phòng không – Không quân trong việc bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ cho công tác chiến đấu. Thông tin liên lạc là nhân tố không thể thiếu trong các cuộc chiến, góp phần làm nên chiến thắng.

Với sự giúp đỡ của Đài, Quân chủng Phòng không – Không quân đã được sử dụng làn sóng FM phát riêng trong nội bộ quân chủng với công suất phát là 5KW và 50W. Nhờ đó có thể liên lạc trực tiếp từ sở chỉ huy quân chủng đến các sư đoàn, từ sư đoàn xuống trung đoàn và sư đoàn chỉ huy vượt cấp xuống các tiểu đoàn, trong khi truyền tải thông tin bằng mật mã có thể bị địch phát hiện. Đấy là công lao lớn của Đài TNVN góp phần xứng đáng trong chiến thắng B52./.

Việt Đức- Lan Nga/VOV online (ghi)
vov.vn

Chiếc xe đạp thời chiến của người Hà Nội

(VOV) -Lúc bấy giờ xe đạp không chỉ đơn giản là một tài sản có giá trị, một phương tiện đi lại mà còn là…

Trong ký ức của người Hà Nội về Thủ đô 40 năm về trước, đặc biệt trong 12 ngày đêm B52 Mỹ ném bom trải thảm, không chỉ là những kỷ niệm về tình người trong nguy nan, ý chí muôn người như một góp phần đánh Mỹ mà còn có kỷ niệm về một vật dụng thân quen – chiếc xe đạp. Lúc bấy giờ xe đạp không chỉ đơn giản là một tài sản có giá trị, một phương tiện đi lại mà còn là một công cụ phục vụ kháng chiến.

Chiếc xe đạp thời chiến là phương tiện, tài sản lớn.

Ngay sau những đợt đầu tiên B52 ném bom Hà Nội đêm ngày 18/12/1972, Hà Nội thực hiện tổ chức sơ tán nhân nhân. Từng đoàn xe đạp nối đuôi nhau sơ tán khỏi Hà Nội. Thời đó, chiếc xe đạp không đơn giản chỉ là phương tiện đi lại mà còn là tài sản quý giá nhất của mỗi gia đình.  Thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác thì đều đã có phiếu. Để mua được một chiếc xe đạp thì cả nhà phải tiết kiệm chi tiêu, tích góp mấy tháng trời mới mua nổi. Bởi thế mà chiếc xe đạp khi ấy được trân trọng, giữ gìn cẩn thận như “đứa con cưng” của gia đình. Họa sĩ Trần Khánh Chương nhớ lại: Trong thời kỳ chiến tranh, để có được chiếc xe đạp là một tài sản. Có những người có xe đạp thì buổi tối họ lau chùi và treo lên  có thể thấy cái xe đạp quý thế nào. Hồi ấy lương trung cấp ra trường là 45 đồng, sau đó là 50 đồng, đại học ra là 64 đồng, một chỉ vàng là 70 đồng mà một cái xe đạp Phượng Hoàng là 350 đồng, có nghĩa là nó bằng 5 chỉ vàng.

Giá trị như thế, được nâng niu như thế, nhưng khi chiến tranh thì chiếc xe đạp lại được trưng dụng hết công suất, phục vụ cho không chỉ gia đình mình mà còn giúp cả bà con láng giềng. Bà Đoàn Kim Dung – Lê Duẩn – Hà Nội chia sẻ: Chúng tôi có một cái xe đạp để sử dụng lúc bấy giờ là quý lắm và rất là giá trị. Nó là một cái phương tiện đi lại, chở gạo, thóc cho các con ở chỗ sơ tán. Lúc bấy giờ cái xe đạp quý vô cùng. Xe đạp Thống nhất cũ, hai cái lốp là chính thôi, chả có phanh cũng được mà cũng không có cái gác-đờ-bu. Có phương tiện đi lại như thế là giá trị lắm. Chúng tôi sơ tán ở chỗ cách xa chợ thì mượn nhau là chuyện bình thường.

Trong kí ức của bà Dung những ngày đi sơ tán, nhờ có chiếc xe đạp mà mọi người có thể cơ động khắp mọi nơi, mọi lúc. Cứ nghe thấy báo động ném bom là chạy đi sơ tán, không kể đêm hay ngày, xa hay gần.

Cách xa Hà Nội 30 cây số là chúng tôi thường xuyên phải đi xe đạp về Hà Nội, xe buýt lúc có lúc không mà không được an toàn, xe đạp thì sớm đi cũng được mà tối cũng được. 12 ngày đêm bắn phá chúng tôi có cái xe đạp để động chỗ này lại chạy chỗ kia. Sơ tán ở vùng này mà thấy động chúng nó ném bom thì lại chạy sang vùng khác, cũng bằng cái xe đạp để đi lại, chở thức ăn quần áo, trẻ con ngồi đằng trước, ngồi đằng sau, bố mẹ dắt.

Trong chiến tranh, dường như khoảng cách không còn là vấn đề và người dân Hà Nội cũng tỏ ra không hề sợ hãi trước bom đạn của kẻ thù. Dù xa mấy nhưng khi nghe Hà Nội bị đánh bom người ta vẫn quyết tâm về thủ đô tìm gặp người thân và phương tiện duy nhất lúc ấy cũng chỉ là chiếc xe đạp. Anh Nguyễn Mạnh Hà bồi hồi kể lại: Khi B52 đánh Hà Nội, tôi sốt ruột quá tôi đạp xe từ Yên Phong (Hà Bắc) về đây 40 cây, nhà tôi khóa cửa không có ai trong nhà cả. Tôi trèo vào nhà tôi xem trong nhà có cái gì không, ăn xong tôi lại đạp xe từ Hà Nội xuống Thường Tín xem mẹ và anh chị em tôi ở dưới đó có vấn đề gì không. Xong xuôi, tôi lại đạp xe từ đấy ra Khâm Thiên xem nó ném bom thế nào rồi tôi lại quay lại trường.

Ông Phùng Tửu Bôi từng chứng kiến sự ác liệt nhất khi B52 Mỹ ném bom Hà Nội cho biết: Khi đó, xe đạp không chỉ đơn thuần là phương tiện giúp người ta di chuyển cơ động mà còn được cải tiến thành những “chiếc cáng” để vận chuyển người bị thương: Đi công tác, đi làm, đi tiếp tế thực phẩm cho mọi người  bằng xe đạp, đi giúp mọi người, bạn bè cũng bằng xe đạp. Hai cái xe đạp nối lại với nhau có thể cáng được một người bị thương. Cái xe không chỉ chở 1 người mà chở đến 3-4 người. Đằng trước buộc cái ghế cho trẻ con ngồi, đằng sau chở thêm vài thứ nữa.

Đối với Cựu chiến binh Bùi Văn Cơ, Trung đoàn 927 (Quân chủng PK-KQ) thì chiếc xe đạp còn gắn với ông suốt chặng đường của đời lính. Nhất là trong chiến dịch 12 ngày đêm, ngày đó mà thiếu chiếc xe đạp thì có lẽ ông không thể kịp thời hoàn thành nhiệm vụ của mình: Trong 12 ngày đêm, tôi là đại đội trưởng, có rất nhiều công việc phải làm, đó có thể là lo tổ chức sơ tán hay sửa chữa máy bay. Máy bay lúc ấy trải khắp hai huyện Kim Anh và Đa Phúc. Hàng ngày, phải đi xe đạp hoặc xe hỏng thì đi bộ đến hàng chục cây số để đến từng vị trí xem anh em sửa chữa như thế nào.

Hình ảnh cô dân quân tự vệ vai đeo súng, tay dắt xe đạp trên ghi-đông treo túi, bình tông, cặp lồng rồi trẻ em được mẹ đặt ngồi trước, ngồi sau xe đạp đi sơ  tán…Những chiếc xe đạp từng chở đầy tình yêu trên những con đường Hồ Tây chiều cuối tuần và cũng chính những chiếc xe đạp ấy lại là phương tiện thồ hàng qua cầu phao cót két vượt sông Hồng, kịp thời cung cấp cho tiền tuyến…Tất cả những hình ảnh đó giờ đã là quá khứ nhưng rất đỗi tự hào của người Hà Nội./.

Mỹ Trà, Mỹ Ngọc/VOV –Trung tâm tin
vov.vn

NSƯT Kim Cúc kể chuyện đọc tin chiến thắng B52

(VOV) – Trong căn hầm hẹp, dưới tiếng gầm rít của máy bay, NSƯT Kim Cúc vẫn dõng dạc đọc tin chiến thắng để truyền đến thính giả.

Cách đây đúng 40 năm trước, đế quốc Mỹ mở đầu cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn trên hậu phương miền Bắc. Trong những ngày ấy Đài Tiếng Nói Việt Nam chia làm hai nửa. Những chị em có con nhỏ lên địa điểm sơ tán cách Hà Nội 40 km lo biên tập, sản xuất chương trình. Bộ phận xung kích bám giữ Hà Nội, phản ứng nhanh kịp đưa tin, phóng sự, bình luận lên sóng ngay.

Trong số những người ở lại Hà Nội có NSƯT Kim Cúc (Phát thanh viên Đài TNVN). Trong căn hầm hẹp, dưới tiếng gầm rít của máy bay, bom dội, NSƯT Kim Cúc cùng những phát thanh viên của Đài Tiếng Nói Việt Nam vẫn dõng dạc đọc tin chiến thắng để truyền đến mọi người dân.

Phóng viên VOV trò chuyện với NSƯT Kim Cúc về hồi ức những ngày tháng đó.

P.V: Thưa NSƯT Kim Cúc! Trong 12 ngày đêm lịch sử tháng 12/1972, Đài Tiếng Nói Việt Nam là nguồn thông tin để người dân luôn lắng nghe và theo dõi. Khi ấy công việc của nhóm phát thanh viên của Đài như thế nào?

NSƯT Kim Cúc: Phòng PTV lúc bấy giờ chỉ còn lại bác Nguyễn Thơ, Việt Khoa, chị Kim Ngôn, Phương Chi, Kim Cúc và Hoàng Yến. Nhiệm vụ của PTV là phát bản tin từ 8h – 21h, sau đó phải trực tin từ hội nghị Paris đọc vào bản tin 0h cho Đối ngoại (đồng bào Việt Nam ở nước ngoài) nghe.

NSƯT Kim Cúc thời trẻ (ảnh tư liệu)

Chỉ có 1 nhóm làm việc như vậy mà phải thu tất cả các chương trình phát thanh. Các chương trình phát thanh lúc bấy giờ là không phát lại, mà luôn luôn mới. Chỉ với 6 người mà làm công việc của hơn 20 người nên đòi hỏi không chỉ là thời gian, sức lực mà còn phải bảo toàn giọng đọc cho tốt.

Không chỉ trực ở bên khu vực 39-41 phố Bà Triệu mà còn trực cả ở bên 58, phố Quán Sứ. Phòng PTV phải xé lẻ ra và chia ra theo ca kíp. Ca sáng làm từ sau bản tin trưa rồi nghỉ, từ bản trưa đến bản tin chiều, ca tối thì từ chiều cho đến hết đêm. Tức là 6 người chia làm 3 cặp, nhưng mà 3 cặp ấy còn các buổi phát thanh khác chứ không chỉ có bản tin. Nghĩa là cứ chồng chéo nhau, đang đọc bên này thì bên kia gọi đọc, lúc đó các PTV cứ như con thoi. Chúng tôi phải trực 24/24h, trừ những ai có con nhỏ hoặc bố mẹ cao tuổi.

P.V: Trong trận chiến ấy, người dân Hà Nội đi sơ tán hết, Đài TNVN cũng đi sơ tán chỉ còn lại 1 bộ phận. Vậy tâm trạng những người ở lại khi đó như thế nào?

NSƯT Kim Cúc: Lúc đó Hà Nội vắng lắm. Khi chia phòng PTV, PV ra để lên Quốc Oai sơ tán để nếu như ở Hà Nội bị bom thì trên Quốc Oai sẽ làm nhiệm vụ của mình. Đồng chí Nguyễn Thơ là Trưởng phòng và Bí thư chi bộ giao mọi người ở lại sẽ phải làm việc không phải 8 tiếng mà kể cả là 24h.

NSƯT Kim Cúc (phải) cũng là người đọc bản tin chiến thắng vào trưa 30/4/1975. Sau khi bà đọc lần 1, PTV Kim Tuyến (giọng Sài Gòn) đọc lại lần 2 (ảnh tư liệu)

Lúc đó vắng cũng buồn lắm nhưng chúng tôi luôn đặt nhiệm vụ chính trị lên hàng đầu. Đọc trực tiếp không được vấp, dù nhìn thấy những đau thương, đổ vỡ cũng không được rơi nước mắt. Đọc bằng giọng dõng dạc truyền cảm của mình. Những đêm như thế, anh Lê Quý lúc bấy giờ là Phó Tổng Giám đốc Đài cũng phổ biến là có tin Mỹ sẽ đánh vào 39 phố Bà Triệu, cho nên anh em trực đêm phải làm việc hết sức mình nếu có trúng bom cũng phải cố gắng giữ vững tinh thần và làm tròn nhiệm vụ cuả mình.

Lúc bấy giờ chúng tôi là thanh niên và đã đi bộ đội nên tinh thần không có gì náo núng, cảm giác đó đã trở thành bản năng của con người trước nguy hiểm nhưng mình vẫn phải làm nhiệm vụ cho tốt. Những ngày đó chúng tôi đã làm hết sức mình, tất cả tin chiến thắng đến đều được chúng tôi đưa trọn vẹn, không ai vấp váp trên sóng…

P.V: Những ngày Mỹ trực tiếp ném bom ở Hà Nội thì công việc của phóng viên và phát thanh viên khác với những ngày trước như thế nào? Lúc đó, mọi người phải khắc phục khó khăn như thế nào, thưa bà?

NSƯT Kim Cúc: Đối với PTV thì 1 ngày đọc sau đó có thể nghỉ ngơi, lúc đó lượng người có hạn mà số buổi phát thanh vẫn phải đảm bảo nên mọi người đều phải làm tăng ca lên, không còn giờ ăn chính thức nữa. Ai có cơm thì mang cơm theo, tôi còn nhớ lúc đó bác Việt Khoa mang theo 1 camen trong đó có cả rau, cả sữa trộn vào nhau… nghĩa là chỉ nghĩ tới công việc.

NSƯT Kim Cúc và gia đình hiện nay

Phóng viên thì chỉ có cái xe đạp, đạp xích còn kêu nhưng mà đi tới các trận địa pháo, những nơi bị ném bom cách xa hàng mấy chục cây số để viết bài. Về đến nơi đưa tin vào là chúng tôi đọc ngay. PTV và phóng viên cũng giống nhau, không kể giờ giấc bất kỳ lúc nào, ở đâu có chiến sự là họ đi. Không ai nghĩ đến mình và không ai dành thời gian riêng cho mình.

P.V: Lúc bấy giờ người dân luôn theo dõi những tin về chiến trận hay tin chiến thắng qua làn sóng Đài TNVN. Bà có cảm nhận được những người dân đón nghe tin tức trên Đài như thế nào không?

NSƯT Kim Cúc: Cảm nhận được rõ lắm. Bởi vì thực ra vẫn còn rất nhiều người còn ở lại Hà Nội trực chiến, họ nghe tin chiến thắng nhờ các loa đài công cộng. Đến giờ bản tin mọi người đứng ở dưới loa lắng nghe. Có những buổi trưa họ nấu cơm nhưng cứ ngó ngó sang cổng cơ quan ở phố Bà Triệu xem Đài phát tin đi như thế nào. Mỗi lần như thế họ nhảy lên reo hò, sung sướng. Đấy là sự động viên, khích lệ đối với mỗi PTV, PV và KTV chúng tôi lúc bấy giờ.

P.V: Phát thanh viên lúc đó hẳn là hiểu rõ từng lời, từng từ, từng chữ của mình có ý nghĩa như thế nào. Vậy, bà và các đồng nghiệp đã làm thế nào để đưa những thông tin một cách tốt nhất đến thính giả?

NSƯT Kim Cúc: Đúng như thế, lúc đó phải giữ giọng của mình thật trong, khỏe, hào sảng với những lời bình về những trận chiến, bài viết phóng sự cổ vũ những đơn vị đã bắn rơi máy may. Phải chuẩn bị giong thật tốt, thật hay. Tuổi của mình lúc đó còn đang trẻ, mọi ngườii nghe thấy giọng mình sảng khoái lắm.

Hơi thở, cảm xúc cuộc sống làm cho người PTV phải đọc hào sảng, sảng khoái và đầy sức mạnh như thế. Phải trải nghiệm cuộc sống, trải nghiệm những gì đang diễn ra mới đọc được những bài bình luận, tin chiến thắng, bài chính luận hay. Những tên tuổi thính giả không bao giờ quên: Vĩnh Thơ, Tuyết Mai, Việt Khoa… và những người trẻ như chúng tôi là: Trần Phương, Minh Đạo, Hoàng Yến, Kim Cúc…

P.V: Kỷ niệm sâu sắc nhất về những ngày Mỹ ném bom Hà Nội còn đọng lại đến bây giờ trong bà là gì?

NSƯT Kim Cúc: Có lẽ, kỷ niệm sâu sắc nhất đối với tôi là đấy là sau đêm B52 ném bom phố Khâm Thiên. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy mất mát, đau thương như thế. Tôi cùng với Tố Uyên (là vợ của bác Huỳnh Văn Tiểng – Phó Giám đốc Đài TNVN) đạp xe ra phố Khâm Thiên mới nhìn thấy cảnh tượng thật đau xót. Chính vì thế nó đi vào tâm khảm, làm cho mình có đầy đủ cảm xúc để hiểu rõ sự mất mát và chiến thắng.

Đó cũng là suy nghĩ, trăn trở của mình để làm sao mình rèn luyện được giọng đọc truyền tải sự đau thương, mất mát cùng với chiến thắng huy hoàng của dân tộc. Được chứng kiến chiến thắng B52 và đọc trực tiếp trên sóng tôi cảm thấy rất hạnh phúc nhưng khi trở về thì mâm cơm của mình có mảng vữa trần rơi xuống không ăn được nữa. Lúc đó, tôi cảm thấy cuộc sống của những người ở lại cũng vất vả, tuy nhiên, so với sự hy sinh của rất nhiều người thì mình cần phải làm như thế nào để xứng đáng hơn…

P.V: Xin cảm ơn NSƯT Kim Cúc./.

Lê Thu/VOV1 (thực hiện)
vov.vn

Tôn vinh cá nhân, tập thể trong chiến thắng 12 ngày đêm

Điện Biên Phủ trên không:

(VOV) -Những tập thể, cá nhân có đóng góp tích cực vào chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” được rà soát để truy tặng, khen thưởng.

Ngày 29/12, Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” sẽ được tổ chức trọng thể cấp Nhà nước, tại Hội trường Bộ Quốc phòng, Hà Nội.

Lễ kỷ niệm dự kiến sẽ phát trực tiếp trên Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1 và phát trực tuyến trên Báo điện tử VOV online (Đài TNVN); Truyền hình trực tiếp trên Đài Truyền hình Việt Nam (kênh VTV1), Đài Phát thanh Truyền hình Hà Nội, Đài Truyền hình TP HCM.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân – Trưởng ban Tổ chức cấp Nhà nước khẳng định, việc tổ chức thành công sự kiện kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không là hết sức cần thiết nhằm tăng cường tuyên truyền, giáo dục truyền thống, tôn vinh những chiến công của trí tuệ, lòng dũng cảm và ý chí quật cường của dân tộc ta, quân đội nói chung và cán bộ chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, quân dân Thủ đô và các tỉnh miền Bắc, nhất là trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ.

Đây cũng là dịp để tuyên truyền những bài học kinh nghiệm quý báu của Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”.

Trong dịp này, những tập thể, cá nhân có đóng góp tích cực vào Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” cũng được rà soát lại để truy tặng, khen thưởng xứng đáng.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân giao Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với Quân chủng Phòng không – Không quân và TP Hà Nội tổ chức giới thiệu cho thế hệ trẻ về các di tích lịch sử liên quan đến sự kiện vĩ đại này, trong đó có 16 điểm máy bay B52 bị bắn rơi trên địa bàn thủ đô Hà Nội trong chiến dịch 12 ngày đêm, từ đó gắn với việc tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị lịch sử của 16 điểm di tích này./.

PV/VOV online
vov.vn

“Cao hơn bầu trời” – phim xúc động về người lính không quân

(VOV) – Bộ phim kể câu chuyện về những người lính phòng không – không quân trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ gian khổ.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, ngày 26/12, Công ty TNHH một thành viên phim Giải Phóng phối hợp với Quân chủng phòng không – Không quân tổ chức buổi ra mắt và giao lưu với đoàn làm  phim “Cao hơn bầu trời”.

“Cao hơn bầu trời”  thuộc thể loại phim truyền hình lịch sử cách mạng do nhà văn Nguyễn Minh Ngọc viết kịch bản và Nguyễn Xuân Cường làm đạo diễn.  Lấy bối cảnh những năm 1965-1975, bộ phim tái hiện lại những sự kiện lịch sử quan trọng của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của quân và dân miền Bắc, trong đó nổi bật là cuộc chiến trên không Hà Nội 12 ngày đêm.

Đặc biệt, phim khắc họa hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ Phòng không – không quân mưu trí, sáng tạo và dũng cảm vô song trong chiến đấu, hào hoa trong cuộc sống đời thường, mãnh liệt và đằm thắm trong tình yêu. Những chiến công và sự hy sinh anh dũng của họ đã góp phần tạo dựng nên “dáng đứng Việt Nam” khiến bầu bạn khắp năm châu nể phục.

Cảnh quay trong phim “Cao hơn bầu trời”

Họ là những chiến sĩ của Đại đội bay Sao Đỏ: Trịnh Nhung, Vũ Sáng, Huỳnh Tấn, Văn Dương, Hà Vĩnh, Nguyễn Thứ, Duy Ngôn, Nghiêm Hà… Mỗi người một số phận, một mảnh đời riêng nhưng tất cả đã kết lại thành một khối đá tảng, giáng trả những đòn đích đáng khiến kẻ thù phải khiếp sợ.

Như Trịnh Nhung, trong một lần đi công tác đến một trường học, Trịnh Nhung gặp cô giáo Vân. Cả hai đem lòng mến nhau. Vân hẹn sẽ đến đại đội bay thăm Trịnh Nhung và ra mắt bạn bè anh. Nhưng trước khi cô có thể thực hiện lời hứa thì một trận ném bom đã lấy đi sinh mạng vân. Đến ngày hẹn, Trịnh Nhung chờ đợi Vân mãi nhưng không thấy cô. Một tuần sau, thư của bạn Vân gởi đến cho Trịnh Nhung, anh bàng hoàng, đau đớn khi biết tin Vân đã hy sinh.

Vũ Sáng là phi công người Hà Nội. Anh yêu Kiều Liên, nhân viên phòng kế hoạch nhà máy dệt. Tình yêu của Vũ Sáng – Kiều Liên kéo dài hơn Trịnh Nhung – cô giáo Vân, nhưng cũng gặp trắc trở nhiều hơn và đau khổ hơn. Kết thúc mối tình là sự hy sinh của Kiều Liên khi chỉ huy khẩu đội súng 12 ly 7 chiến đấu với F111 của Mỹ và Vũ Sáng đã lao cả máy bay vào B52, hy sinh anh dũng giữa bầu trời.

Bên cạnh đó là mối tình thầm lặng của Thủy Tiên, tình yêu dang dở của phó tiến sĩ tàn tật Ninh, cái kết hạnh phúc cho chàng điều khiển tên lửa Văn Dương và cô gái Hương… Ngày đất nước thống nhất, những người còn sống mang theo bó hoa tươi thắm và tình yêu đến nghĩa trang tưởng niệm những người đã hy sinh cho nền độc lập của đất nước. Bầu trời xanh lồng lộng trên đầu họ, yên tĩnh như chưa hề trải qua cuộc chiến tranh đẫm máu và nước mắt, hy sinh và mất mát…

Thông qua câu chuyện phim, tác giả muốn tái hiện lại những khoảnh khắc lịch sử hào hùng trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi vận mệnh dân tộc đứng trước thử thách vô cùng nghiệt ngã: hoặc đứng thẳng làm người, sẵn sàng chấp nhận hy sinh; hoặc quỳ gối trước kẻ thù xâm lược, chấp nhận mọi yêu sách của chúng.

Trailer phim “Cao hơn bầu trời”

Thông điệp tác giả muốn gởi gắm tuy không mới, song chưa bao giờ cũ. Con người ai cũng có thể phạm sai lầm, nhưng nếu biết đặt niềm tin vào con người, cho họ một cơ hội thì sức sáng tạo được khơi dậy có thể đạt đến mức không ngờ. Cao hơn bầu trời là sự hy sinh vô bờ bến của những người lính, là sức sáng tạo vô biên của toàn quân, toàn dân ta trong thời kỳ gian khổ chống Mỹ cứu nước.

Bộ phim “Cao hơn bầu trời” gồm 50 tập. Mỗi tập dài 45 phút, chính thức bấm máy ngày 7/11 và dự kiến sẽ phát sóng vào tháng 8 và 9 năm 2013./.

PV/VOV Online
vov.vn

“Bản hùng ca một thời kiêu hãnh”

(VOV) – Ca khúc như một lời tri ân của những người con được sinh ra và lớn lên tại Hà Nội đối với các thế hệ cha anh đi trước.

Đó là một ca khúc mới sáng tác của nhà báo, nhạc sĩ Trần Nhật Dương với phần lời của nhà báo Trần Nhật Minh dành tặng cho Thủ đô thân yêu của mình nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không.

Phóng viên VOV có cuộc trò chuyện với nhạc sĩ Trần Nhật Dương và nhà báo Trần Nhật Minh về bài hát mới này.

PV: Xin chào tới nhà báo – nhạc sĩ Trần Nhật Dương và nhà báo Trần Nhật Minh. Trước hết, nhà báo nhạc sĩ Trần Nhật Dương có thể cho biết hoàn cảnh ra đời của ca khúc “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh”?

NS Trần Nhật Dương: Là một nhạc sĩ của Đài TNVN một trong những cơ quan truyền thông lớn của đất nước đã hai lần đón nhận danh hiệu anh hùng. Và chúng tôi là những thế hệ các nhạc sĩ ngày hôm nay của Đài TNVN luôn luôn kế thừa phát huy truyền thống của các thế hệ lớp nhạc sĩ đi trước. Rất là nhanh nhậy sâu sắc phản ánh kịp thời những bước đi thăng trầm của lịch sử cách mạng Việt Nam.

Cách đây 40 năm khi giặc Mỹ đem pháo đài bay B52 vào đánh phá Hà Nội và các tỉnh thành khác. Lúc đó cùng với cán bộ công nhân viên thì các nhạc sĩ các nghệ sĩ của Đài TNVN vẫn ở lại Hà Nội bám trụ bảo vệ Đài TNVN. Trong những căn hầm, những nét giai điệu những lời ca đã vang lên trở thành những bản hùng ca rất hoành tráng như Hà Nội những đêm không ngủ, Hà Nội điện biên phủ của nhạc sĩ Phạm TuyênHà Nội niềm tin và hy vọng của nhạc sĩ Phan Nhân, Trong vườn bách thảo một ca khúc thiếu nhi của nhạc sĩ Thanh Phúc…. và còn rất nhiều những bài hát được ra đời trong hoàn cảnh đất nước đang chiến tranh như vậy.Hơn nữa tôi cũng là một người con được sinh ra và lớn lên tại Thủ đô Hà Nội. Trong những năm tháng kháng chiến ác liệt lúc đó tôi mới 12, 13 tuổi nhưng cũng đã hiểu biết đã chứng kiến những cảnh khốc liệt của máy bay giặc Mỹ đánh phá Miền Bắc và Thủ đô Hà Nội.

Cũng trong dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không tôi được NSƯT Lê Thụy của Đài Truyền hình TP.HCM, tổng đạo diễn chương trình nghệ thuật “Huyền thoại Hà Nội Điện Biên Phủ trên không” mời tham dự và viết một tác phẩm. Từ những thôi thúc của một người con được sinh ra và lớn lên tại Hà Nội lại nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không tôi đã “thai nghén” và viết nên tác phẩm “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh” với phần lời của nhà báo Trần Nhật Minh.

Nhà báo Trần Nhật Minh và nhà báo – nhạc sỹ Trần Nhật Dương

PV: Với nhà báo – nhạc sĩ Trần Nhật Dương thì cảm xúc để viết nên những giai điệu của “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh” được bắt nguồn từ ký ức tuổi thơ, vậy còn nhà báo Trần Nhật Minh thì sao?

Nhà báo Trần Nhật Minh: Cảm xúc đối với sự kiện kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đối với các phóng viên như chúng ta ập đến từ rất nhiều hướng. Khi nhạc sĩ Trần Nhật Dương mời tôi tham gia cùng viết một tác phẩm âm nhạc nhân sự kiện này thì tôi thấy đây cũng là một cơ hội để được thể hiện cảm xúc của mình về Hà Nội. Bởi tôi cũng được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Mặc dù những năm 1972 tôi còn nhỏ nhưng bố tôi đã từng là phóng viên ở chiến trường nên tôi cũng thường được nghe bố kể cho nghe những câu chuyện những kỷ niệm của những năm tháng ác liệt này. Đặc biệt là những hình ảnh thời đó như căn hầm trú ẩn ở trước cửa nhà tôi thì mãi sau này nó vẫn còn.

Nhìn ở góc độ nhân văn thì những căn hầm như thế chính là sức sống của Hà Nội. Mặc dù về mặt hình ảnh thì rất tương phản, trong căn hầm là bóng tối nhưng ánh sáng chính là sức mạnh của những lớp thế hệ người Hà Nội rất hào hoa, phong nhã nhưng cũng rất anh dũng, kiên cường. Và tất cả những điều đó tạo cho tôi xúc cảm khi tham gia viết phần lời cho ca khúc này.

PVVậy mất bao lâu để nhà báo Trần Nhật Minh viết xong phần lời của ca khúc?

Nhà báo Trần Nhật Minh: Thời gian chính xác tôi không nhớ nhưng từ khi mà nhạc sĩ Trần Nhật Dương nói ý tưởng đó thì chúng tôi cũng thường xuyên trao đổi, đưa ra chủ đề và hướng tiếp cận. Tôi muốn nhấn mạnh rằng: “Tại sao Hà Nội của chúng ta lại chiến thắng?”, ở một góc nhìn không phải quân sự, không phải sự kiện chính trị vì những vấn đề đó các nhà thơ, nhạc sĩ đi trước cũng đã viết nhiều rồi mà chúng tôi chỉ muốn nhìn ở một góc nhỏ thôi. Sở dĩ Hà Nội chiến thắng là vì Hà Nội có một truyền thống, có bề dày lịch sử văn hóa, sự lạc quan, bình dị nét hào hoa, thanh lịch nhưng rất kiên trun, bất khuất.

PV: Xin được hỏi nhạc sĩ Trần Nhật Dương, khi phổ nhạc cho phần lời của nhà báo Trần Nhật Minh hình ảnh nào khiến anh thấy xúc động nhất?

Nhạc sĩ Trần Nhật Dương: Trong phần lời của nhà báo Trần Nhật Minh có những hình ảnh rất ấn tượng tạo thành điểm nhấn trong ca khúc như: “lửa soi sáng những câu thơ viết vội…những câu thơ như hoa nở điệp trùng” hoặc là “Mẹ sinh con trong bóng tối căn hầm giữa bom thù hủy diệt quê mình ”…đã tạo nên những nét giai điệu, tạo nên phần âm nhạc trong tôi.

Bởi tôi còn nhớ, mỗi khi máy bay giặc Mỹ đánh phá vào ban đêm, thời đó tôi còn nhỏ không biết sợ nên không xuống hầm mà lại trèo lên gác 2 xem vì lửa đạn bắn sáng rực trời như pháo hoa. Rồi khi máy bay Mỹ đánh phá bệnh viện Bạch Mai có những bà mẹ phải sinh con trong hầm tối bất chấp sự hy sinh, bom đạn để che chở cho đứa con của mình…Từ những hình ảnh đó trong ký ức của tôi và hình ảnh lời thơ của nhà báo Trần Nhật Minh đã tạo nên mạch nguồn, cảm xúc âm nhạc cho ca khúc.

PV: Nhạc sĩ Trần Nhật Dương có thể chia sẻ kỹ hơn về âm nhạc của ca khúc?

Nhạc sĩ Trần Nhật Dương: Bài hát này với phần âm nhạc bên cạnh những nét giai điệu trữ tình, da diết phản ánh được ký ức của một thời chiến tranh, một thời anh dũng tiếp đó là những nét nhạc mạnh mẽ, hào sảng thể hiện lòng quyết tâm, tinh thần chiến đấu anh dũng ngoan cường của quân và dân Thủ đô những năm tháng chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ cũng như 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Nghe ca khúc “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh” do ca sỹ Hoàng Tùng, Thu Lan và hợp xướng Nhà hát Đài TNVN trình bày

PV: Thưa nhà báo Trần Nhật Minh, là một nhà báo cũng là tác giả phần lời của ca khúc “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh”, anh thấy ca khúc đã thể hiện được đầy đủ hình tượng nghệ thuật của “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh” chưa?

Nhà báo Trần Nhật Minh: Ngay từ đầu chúng tôi cũng muốn nhìn từ một góc độ nhẹ nhàng, bình dị thôi nhưng phần nào đó mong muốn khái quát lại chân dung ký ức về Hà Nội một thời quả cảm anh dũng chiến thắng giặc Mỹ. Trong phần lời tôi có viết một câu là: “Nước mắt Sông Hồng, trầm tích phù sa”, đó là dòng chảy tự nhiên của cuộc sống còn lắng lại đến ngày hôm nay. Đấy là những giá trị trầm tích văn hóa mà tất cả chúng ta không được phép quên lãng, không được phép làm cho nó vẩn đục đi.

Nhạc sĩ Trần Nhật Dương: “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh” được viết ra và đã được công diễn. Ca khúc cũng như một lời tri ân của những người con được sinh ra và lớn lên tại Hà Nội đối với các thế hệ cha anh đi trước đã chiến đấu bảo vệ Thủ đô, bảo vệ sự sống của chúng ta. Cho chúng ta một tương lai tươi sáng.

PV: Xin cảm ơn nhà báo – nhạc sĩ Trần Nhật Dương và nhà báo Trần Nhật Minh./.

Hương Loan/VOV3
vov.vn

Sáng mãi bản hùng ca “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND Online – Ngày 28-11, tại Hà Nội, nơi cách đây 40 năm đã diễn ra trận quyết chiến lịch sử trên không của quân, dân miền Bắc với không quân Mỹ, nơi ghi dấu kỳ tích vô song “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đã diễn ra Hội thảo khoa học cấp Nhà nước “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam”. Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo và chủ trì Hội thảo…

Dụng công chuẩn bị, không để bất ngờ

Sáng 28-11, tại Hội trường Quân chủng PK-KQ, các đại biểu có mặt từ rất sớm. Các tướng lĩnh, sĩ quan từng tham gia Chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972 như các Anh hùng LLVT nhân dân: Phạm Thanh Ngân, Trần Hanh, Phạm Tuân, Nguyễn Văn Phiệt, Nguyễn Đình Kiên… được sống lại khí thế hừng hực của Chiến dịch của 40 năm về trước.

Dự hội thảo còn có thủ trưởng các Tổng cục trực thuộc Bộ Quốc phòng; các ban, bộ, ngành Trung ương; đại biểu Quân chủng PK-KQ, TP Hà Nội; các nhân chứng từng trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong Chiến dịch.

Nhiều ý kiến tham luận tại Hội thảo đã khẳng định: Để quân, dân miền Bắc, mà nòng cốt là quân, dân Hà Nội có thể “hạ bệ” siêu pháo đài bay B-52 của Mỹ, lập lên kỳ tích trên bầu trời Thủ đô, trước hết vì chúng ta đã có bước chuẩn bị đánh B-52 từ rất sớm; chủ động bố trí lực lượng tham gia chiến dịch; chủ động sơ tán nhân dân để tránh tổn thất…Để có bước chuẩn bị sớm như vậy là nhờ sự nhận định sáng suốt và tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc Mỹ sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội, và “Mỹ chỉ thua, sau khi thua đau trên bầu trời Hà Nội”.

Đoàn chủ tịch duy trì Hội thảo

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Phó tư lệnh Chính trị Quân chủng PK-KQ (người trực tiếp đánh B-52, tháng 12-1972) khẳng định, để chuẩn bị đánh B-52 trên bầu trời Hà Nội, ngay từ năm 1966, Quân chủng PK-KQ đã đưa ra-đa, không quân, tên lửa vào các tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh- nơi B52 gây tội ác- để nghiên cứu cách đánh B-52. Cuối tháng 10-1972, Quân chủng tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa, với thành phần được mở rộng từ kíp trắc thủ, sĩ quan điều khiển tiểu đoàn trưởng đến Trung đoàn trưởng. Hội nghị đã thảo luận, tranh luận, bàn cách đánh rất sôi nổi, qua đó đề ra cách đánh đúng, đánh trúng B-52, như chọn, bám sát, đánh đúng dải nhiễu B52. Cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” 30 trang, dạy cách đánh B-52 được ra đời từ đó. Sau hội nghị, phong trào học tập rèn luyện cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa diễn ra sôi nổi ở tất cả các trận địa; công tác bảo đảm kỹ thuật hướng tới bảo đảm tham số tốt nhất, không dừng ở tham số cho phép; các phân đội kỹ thuật, các dây chuyền lắp ráp đạn đều thi đua lập công với các đơn vị hỏa lực.

Nói về công tác chuẩn bị cho Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của bộ đội Không quân, Trung tướng, phi công Phương Minh Hòa, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ khẳng định, Không quân nhân dân Việt Nam đã có sự chuẩn bị chu đáo về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; tiếp đó là tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao cho mọi đối tượng, đặc biệt là đội ngũ phi công; tập trung xây dựng lực lượng, huấn luyện giỏi về kỹ thuật, nhuần nhuyễn về chiến thuật, cách đánh; thường xuyên nghiên cứu, tìm cách đánh và rút kinh nghiệm để thay đổi cách đánh kịp thời khi địch thay đổi thủ đoạn.

Trung tướng Phương Minh Hòa phát biểu tham luận tại Hội thảo

Cụ Nguyễn Văn Trân, năm nay đã ngoài 90 tuổi, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội năm 1972, nhớ lại công tác chuẩn bị cho Chiến dịch của chính quyền và nhân dân Thủ đô: “Thời điểm đó, Hà Nội đã sơ tán 55 vạn người về các địa phương. Đối với những người ở lại Hà Nội, đều thực hiện tốt yêu cầu “mỗi người có 3 nơi trú ẩn” – đó là hầm trú ẩn tại gia đình; hầm trú ẩn tại cơ quan, xí nghiệp; hố trú ẩn trên các đường phố. Hà Nội còn tổ chức tốt 3 lực lượng: cứu thương, cứu hỏa, cứu người; đồng thời xây dựng lực lượng tự vệ của các nhà máy, sát cánh với bộ đội chủ lực chiến đấu…

Với sự chuẩn bị sớm và chu đáo nên quân, dân Hà Nội hoàn toàn chủ động đối phó với cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của không quân Mỹ và bộ đội tên lửa đã “thiêu cháy” B-52 ngay trong đêm đầu tiên chúng xâm phạm vùng trời Thủ đô…

Chiến thắng của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam

Báo cáo đề dẫn tại Hội thảo do Trung tướng Mai Quang Phấn, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam một lần nữa nói lên tính chất, mức độ ác liệt của cuộc tập kích đường không mà đế quốc Mỹ tiến hành tại Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn trên hậu phương miền Bắc. Tại Hà Nội, trong 12 ngày đêm của Chiến dịch, không quân Mỹ đã tập trung hơn 1.000 lần chiếc máy bay đánh phá, trong đó có khoảng 500 lần chiếc B-52, trút 40.000 tấn bom xuống nhiều khu dân cư, làm gần 2.400 người chết và 1.355 người bị thương. Vượt lên đau thương, mất mát, quân và dân Thủ đô Hà Nội chủ động thiết lập thế trận phòng không ba thứ quân hoàn chỉnh, vững chắc, nhiều tầng, nhiều lớp, chủ động vào trận.

Tinh thần dám đánh, quyết đánh của quân, dân Thủ đô, đặc biệt là bộ đội PK-KQ đã được thể hiện sinh động qua chia sẻ của các cựu chiến binh trực tiếp tham gia chiến đấu. Anh hùng LLVT nhân dân, phi công, Trung tướng Phạm Tuân cho biết: Trước Chiến dịch 12 ngày đêm, các phi công đã được chuẩn bị sẵn sàng về tinh thần, được huấn luyện đánh B-52 ở Khu 4, được củng cố về lực lượng. Tuy nhiên, khi bước vào Chiến dịch, không quân xuất kích ngay từ đêm đầu, nhưng chưa tiêu diệt được B-52. Những đêm tiếp theo, khó khăn đặt ra do máy bay địch gây nhiễu, do dẫn đường, do các sân bay bị địch phá hủy…khiến Phạm Tuân và đồng đội vẫn chưa diệt được B-52. Sau đó, qua tổ chức rút kinh nghiệm, không quân ta đã tìm ra cách đánh mới và đêm 27-12-1972, phi công Phạm Tuân đã xuất kích từ sân bay Yên Bái, bắn cháy một máy bay B-52 trên bầu trời Sơn La.

Ngoài ra, còn những tham luận tại Hội thảo đã nêu bật được trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam trong cuộc đối đầu lịch sử, như: “Nghệ thuật tác chiến của Bộ đội Tên lửa trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không””, của Đại tá Nguyễn Đình Kiên, Anh hùng LLVT nhân dân, nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu (trong Chiến dịch là sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 57, Trung đoàn tên lửa 261, Sư đoàn 361); “Vạch nhiễu tìm thù-một trong những nhân tố góp phần làm nên thắng lợi của trận Điện Biên Phủ trên không tháng 12-1972”, của Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên là Đài trưởng Đài ra-đa P-35, thuộc Đại đội 45 (Trung đoàn 291), đơn vị đầu tiên phát hiện, thông báo sớm B-52 bay vào Hà Nội, đêm đầu của Chiến dịch (18-12-1972)…

Thượng tướng Nguyễn Thành Cung (thứ hai từ trái qua) và các đại biểu trao đổi tại Hội thảo

Với tầm cao và bản lĩnh của trí tuệ Việt Nam, được thể hiện qua Chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, quân, dân miền Bắc đã đập tan cuộc tập kích đường không của Mỹ, lập nên kỳ tích “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Kết thúc Chiến dịch, 81 máy bay của không quân Mỹ đã bị tiêu diệt, trong đó có 34 máy bay B-52 (16 chiếc rơi tại chỗ).

Với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội” của quân, dân miền Bắc, đế quốc Mỹ đã phải ký hiệp định Pa-ri, chấp nhận rút quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới ở Việt Nam. Như vậy, chúng ta đã đánh cho “Mỹ cút”, mở ra thời cơ lớn cho quân và dân ta hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Tại Hội thảo, nhiều tham luận cũng nêu bật những bài học kinh nghiệm quý báu được đúc rút từ Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, như: “Đánh thắng B-52 trên bầu trời Hà Nội cuối tháng 12-1972, những giá trị lý luận và thực tiễn”; “Những bài học kinh nghiệm về tác chiến chiến dịch phòng không được rút ra từ 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội cuối năm 1972”; “Những bài học về công tác giáo dục chính trị-tư tưởng trong chiến dịch phòng không cuối tháng 12-1972”…

Phát biểu bế mạc Hội thảo, Thượng tướng Nguyễn Thành Cung khẳng định, sau một ngày làm việc đầy tâm huyết của các đại biểu, Hội thảo đã thành công tốt đẹp. Đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhấn mạnh: Kết quả đạt được của Hội thảo rất quan trọng, góp phần giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ LLVT và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng của dân tộc. Những bài học rút ra từ Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, cần được các cơ quan, đơn vị, nhà trường quân đội tích cực nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, qua đó góp phần xây dựng quân đội ngày càng vững mạnh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hội thảo khoa học cấp Nhà nước “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam” là một trong những hoạt động lớn trong dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, do Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy, UBND TP Hà Nội phối hợp tổ chức. Có 66 tham luận được gửi về Hội thảo, 15 tham luận được trình bày tại Hội thảo. Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có tham luận “Chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không- tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh”; các thủ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Thượng tướng Lê Hữu Đức, có tham luận gửi Hội thảo.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Kỳ tích của chiến tranh nhân dân

QĐND – Một vấn đề được đặt ra sau chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 là vai trò của thế trận chiến tranh nhân dân được khẳng định như thế nào?

Trong 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội, Hải Phòng, Chính phủ Hoa Kỳ đã huy động đến mức cao nhất sức mạnh ưu việt của nền công nghiệp quân sự, với những phương tiện chiến tranh điện tử tối tân nhất. Về phía Việt Nam, Đảng, Nhà nước cũng đầu tư mua sắm và thông qua sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cũng có ra -đa cảnh giới và dẫn đường ?35; có máy bay tiêm kích MIG -21, tên lửa SAM2, pháo cao xạ 100mm… Một cuộc chiến trên bầu trời như thế, vai trò của chiến tranh nhân dân có thể phát huy được không?

Bảo quản tên lửa, phục vụ SSCĐ ở Sư đoàn Phòng không 365. Ảnh: Hồng Nguyễn

Thực tở, trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, ở Hà Nội và Hải Phòng đã diễn ra hình ảnh rõ nét nhất của một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không cực kỳ sôi động.

Mỗi lần máy bay địch kéo đến từ xa, lệnh báo động B -52, sẵn sàng chiến đấu được ban ra. Các LLVT về vị trí chiến đấu, mọi người dân chạy về nơi ẩn nấp. Khi những chùm bom hủy diệt của kẻ thù sắp rơi xuống thì cũng là lúc những chiếc MIG rời đường băng, những quả đạn tên lửa rời bệ phóng, những chùm đạn cao xạ các cỡ vút lên chặn đánh máy bay của kẻ xâm lược.

Không chỉ có máy bay, tên lửa có thể vươn tới độ cao trên 10km, quân dân ta còn có rất nhiều những khẩu pháo, khẩu súng tầm thấp của bộ đội, của tự vệ, của dân quân, bố trí khắp nơi, trên các ngọn đồi, mỏm núi, ven sông, trên những nóc nhà cao tầng, trong đồng, ngoài bãi, hình thành một mạng lưới dày đặc, rộng khắp, nhiều tầng đón đánh kẻ thù bay vào từ mọi hướng, từ xa đến gần. Nhiều chiếc máy bay hiện đại F111A, A6A, bay thật thấp để tránh bị ra -đa phát hiện, cuối cùng cũng phải đền tội bởi lưới lửa tầm thấp của quân và dân ta.

Mỗi người dân Hà Nội đều trở thành chiến sĩ. Từng tốp thanh niên lao nhanh về các trận địa, giúp bộ đội tiếp đạn, tải thương, thay lá ngụy trang. Các bà mẹ mang những rổ trái cây, những ấm nước chè xanh đến từng khẩu đội thăm hỏi, động viên các pháo thủ. Tất cả mọi người đều tham gia cứu nạn khi có bom rơi.

Khi phát hiện một máy bay rơi, lập tức hàng trăm người dân từ các hầm trú ẩn vọt ra, có cả những thiếu niên, cụ già kéo nhau đi lùng bắt giặc lái. Bên cạnh khung cảnh khí thế ấy, còn có biết bao cán bộ, công nhân viên thầm lặng bám máy, bám đài, bám bệnh viện, cửa hàng… để giữ vững thông tin liên lạc và bảo đảm cho các nhu cầu thiết yếu về điện, nước, y tế, lương thực, thực phẩm phục vụ cuộc chiến đấu của quân, dân Thủ đô.

Một mặt trận khác cũng không kém phần quan trọng, đó là hình ảnh toàn dân làm công tác giao thông vận chuyển chi viện cho chiến trường, ngay cả trong những ngày Hà Nội – Hải Phòng liên tục bị Mỹ ném bom thì công tác chi viện cho miền Nam vẫn không hề dừng lại.

Đánh thắng B -52 Mỹ không chỉ có nhân dân Hà Nội, Hải Phòng và nhân dân miền Bắc, mà còn có cả sức mạnh chung tay tiếp sức của đồng bào ruột thịt miền Nam, của thế trận cả nước cùng đánh giặc. Những nam nữ nghệ sĩ, chia nhau tỏa xuống các trận địa, mang lời ca tiếng hát phục vụ các chiến sĩ bên bệ phóng. Những phóng viên, nhà quay phim, nhiếp ảnh can trường, xông xáo, đưa những dòng tin, những trang báo nóng hổi tính thời sự về chiến thắng B -52.

Hà Nội còn có thành tích đáng tự hào về công tác phòng tránh, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Trước khi xảy ra trận không kích của Mỹ, chính quyền thành phố đã tổ chức tốt việc sơ tán nhân dân. Sau đêm 18-12, lệnh sơ tán khẩn cấp và triệt để được loan đi, những dòng người đông nghịt hối hả rời thành phố. Họ tỏa về các vùng nông thôn, tìm đến vòng tay đùm bọc, che chở, cưu mang của bà con các làng quê giàu lòng nhân nghĩa. Hàng chục vạn người đã ra đi trong trật tự và an toàn. Chính nhờ sơ tán và phòng tránh tốt mà chính quyền thành phố Hà Nội đã làm giảm thiểu sự tổn thất về người do địch gây ra trong 12 ngày đêm đến mức thấp nhất. Đó cũng là một khía cạnh thành công của cuộc chiến tranh nhân dân.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không được phát triển lên đến đỉnh cao, với cả một cao trào toàn dân đánh máy bay Mỹ, toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân làm công tác giao thông vận chuyển, toàn dân hợp tác và giúp đỡ bộ đội chiến đấu, cộng với trí thông minh và lòng dũng cảm vô song, chính là điểm tựa, là chiếc chìa khóa vạn năng và cũng là cái gốc của mọi bí ẩn giúp cho quân dân ta lập nên chiến tích thần kỳ “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không” oanh liệt.

HỒNG HẢI
qdnd.vn

(Lược thuật từ sách “Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam”)

Hành trình Mig-21 hạ gục B-52 (kỳ 2)

Kỳ 2: Cất cánh vòng ngoài, chiếm lợi thế độ cao

QĐND Online – Sau đêm đầu tiên của Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” (18-12-1972), các đêm tiếp theo, các phi công Mig-21 tiếp tục cất cánh tìm diệt B-52, song “con ngáo ộp” vẫn chưa bị bắn hạ. Lo lắng đè nặng lên suy nghĩ của các phi công chiến đấu…

Kinh nghiệm từ những lần “vồ hụt” B-52

Mặc dù đã được chuẩn bị rất kỹ thông qua những lần tập đánh B-52 trước khi vào Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, song các tình huống khó khăn đặt ra đều “khan”, mang tính giả định. Bởi thế, khi thực tế chiến đấu, các tình huống bất lợi như cất hạ cánh trên sân bay bị địch đánh phá; địch gây nhiễu; tiêm kích địch chặn đánh trên đường; hiệp đồng giữa phòng không và không quân trong đánh máy bay địch khó khăn…nên các phi công Mig-21 rất khó khăn trong phát hiện, đánh chặn B-52.

Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại: Kể từ đêm đầu tiên của Chiến dịch, nhiều phi công của ta phát hiện được B-52, song do dẫn dắt Mig-21 vào vị trí không thuận lợi, nên không thể bám sát, tiếp cận và công kích. Ví dụ như có những trường hợp Mig-21 được dẫn dắt bay cắt ngang đường bay của B-52; có trường hợp phi công bay thấp, khi phát hiện B-52, máy bay ta ở độ cao thấp, khó đuổi kịp B-52, nhất là khi máy bay địch phát hiện và tắt đèn, rút chạy.

“Chúng tôi rất lo lắng, không phải sợ hy sinh, mà bởi vì đã qua 8 đêm rồi, phi công của chúng ta vẫn không diệt được B-52, trong khi đó tất cả đang mong mỏi, chờ đợi không quân tiêu diệt B-52”, Trung tướng Phạm Tuân bộc bạch.

Phi công Phạm Tuân trò chuyện cùng các đại biểu tại Hội thảo khoa học cấp Nhà nước “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không-tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”

Không quân tổ chức rút kinh nghiệm sâu sắc các trận đánh trước đó và quyết định thay đổi cách đánh. Sở chỉ huy được đưa ra vòng ngoài, tại Thanh Hóa, Mộc Châu, Yên Bái; chuyển máy bay ra vòng ngoài; dẫn đường từ vòng ngoài; phi công được chủ động xử lý tình huống trên không.

Những trận đánh trước đó, sau khi cất cánh, phi công Mig-21 thường bay thấp để tránh bị địch phát hiện, sau đó lấy độ cao. Phương thức bay này là hợp lý, nếu không có nhiễu. Tuy nhiên, do bị địch gây nhiễu nên khi kéo cao, Mig-21 không thể bắt và bám sát được mục tiêu B-52. Vậy nên, qua rút kinh nghiệm, cách đánh được vạch ra là sau khi cất cánh, chủ động giành lợi thế độ cao.

Phi công Phạm Tuân lý giải: “Trong điều kiện máy bay F-4 của địch rất nhiều, thế nên chưa chắc địch đã phát hiện ra ta nếu ta bay cao. Và khi bay cao, ta có độ cao, có tốc độ, sẽ có điều kiện tiếp cận mục tiêu nhanh nhất”.

Đêm 26-12-1972, Phạm Tuân được lệnh cất cánh từ sân bay Nội Bài lên sân bay Yên Bái, song do đáy mây quá thấp, không thể hạ cánh tại Yên Bái nên phải quay về hạ cánh tại Nội Bài…

“Én bạc” hạ gục “pháo đài bay”

Đêm hôm sau, 27-12-1972, Phi công Phạm Tuân tiếp tục được lệnh cất cánh cơ động từ sân bay Nội Bài lên sân bay Yên Bái, để hiện thực hiện chiến thuật đánh từ vòng ngoài. Bay ở độ cao cách đỉnh núi khoảng 50 mét, nên trên toàn bộ hành trình bay, Phạm Tuân không gặp máy bay địch. Ông hạ cánh trực tiếp xuống sân bay Yên Bái.

21 giờ, Phạm Tuân được lệnh xuất kích. Sau khi cất cánh, xuyên mây, ông đã thấy F-4 của địch. Lệnh từ sở chỉ huy “Tránh F-4 của địch”, Phạm Tuân tăng tốc độ sớm, vượt tránh vài tốp F-4.

Ở cự ly cách B-52 khoảng 200km, Phạm Tuân đã được thông báo có B-52 cách 200km. Các cự ly 150km, 100km lần lượt được sở chỉ huy thông báo. Đến cự ly 60km, sở chỉ huy ra lệnh cho Phạm Tuân bật tăng lực, lấy độ cao. Sau khi kéo cao, đến cự ly 40km, Phạm Tuân đã phát hiện được B-52.

“Ngay sau khi phát hiện B-52, tôi báo cáo sở chỉ huy: “Phát hiện tốp B-52, 2 chiếc”! Nhưng kỳ thực có 3 chiếc B-52 trong đội hình, vì chiếc thứ 3 không bật đèn”, Phi công Phạm Tuân nhớ lại.

Chiếc Mig-21 đã cùng phi công Phạm Tuân tiêu diệt B-52 trên bầu trời Sơn La.

Tại thời điểm đó, 5 sở chỉ huy đều dẫn dắt rất tốt Phạm Tuân, bởi máy bay ta hoạt động ở vòng ngoài nên hạn chế được nhiễu của đối phương. Đến cự ly 10km, chiếc Mig-21 ép vào phía sau chiếc B-52. Các sở chỉ huy đều nhắc “Chú ý bật công tắc tên lửa! Bắn 2 quả!”. Ngay sau đó, sở chỉ huy Quân chủng yêu cầu các sở chỉ huy khác không liên lạc, để sở chỉ huy Quân chủng dẫn dắt.

Khi đến cự ly 3km, Phạm Tuân ( mang số hiệu 361) được lệnh: “361 bắn, thoát ly ngay bên trái”. Khẩu lệnh thứ hai tiếp tục được phát lên: “361 bắn, thoát ly ngay bên trái”.

“Nghe tốt! Tôi bắn”, Phạm Tuân trả lời và lập tức bắn 2 quả tên lửa. Lúc đó, Mig-21 đang giữ tốc độ 1.500km/giờ và tốc độ B-52 khoảng 900km/giờ. Ngay sau khi bắn, Phạm Tuân làm động tác cơ động thoát ly. Quan sát, ông thấy một quầng lửa ngay phía dưới máy bay mình và nhanh chóng điều khiển máy bay về hạ cánh an toàn tại sân bay Yên Bái.

Đêm 28-12-1972, từ sân bay Cẩm Thủy, phi công Vũ Xuân Thiều cũng xuất kích, phát hiện, công kích B-52 bằng 2 quả tên lửa. B-52 trúng đạn bốc cháy trên bầu trời Sơn La nhưng anh đã anh dũng hy sinh.

Với việc rút kinh nghiệm qua từng trận đánh để thay đổi cách đánh kịp thời, Không quân nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt 2 máy bay B-52 trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, góp phần làm nên kỳ tích vô song trên bầu trời miền Bắc.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Hành trình Mig-21 hạ gục B-52 (kỳ 1)