Archive | Tháng Hai 2012

Bác Hồ – một tình yêu bao la

Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân. Cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam…”. Đó là một đoạn trong bài hát rất hay và tràn đầy xúc cảm mà nhạc sĩ Thuận Yến đã viết và kính dâng lên Người.

Có thể nói, trong suốt quãng đời thơ ấu cho đến lúc truởng thành, sự hòa nhập giữa những giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị đạo đức mới, đã đúc kết nên tư tuởng đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho quan niệm và tư tưởng đạo đức của Người luôn gần gũi, dễ hiểu đối với nhân dân. Những người lao động vốn vất vả tìm kế mưu sinh đã đến với Người vì Người đã thấu hiểu được tất cả ước mơ, khát vọng bình dị của họ.

Yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất của Hồ Chí Minh. Bác yêu thương con người không phân biệt miền xuôi hay miền ngược, già hay trẻ, gái hay trai, hễ là người Việt Nam yêu nước đều có chỗ trong trái tim và tấm lòng nhân ái của Người. Nhưng trước hết Bác dành tình yêu cho những người cùng khổ, những người bị áp bức, bóc lột. Bởi lẽ, hơn ai hết, Người đã chịu đựng và chứng kiến những nỗi đau đẫm máu và nước mắt của những người đi phu, những nhà yêu nước bị tàn sát, khủng bố.

Người đã dành trọn cuộc đời mình để đấu tranh cho tự do, hạnh phúc, cho áo ấm, cơm no của mọi người nhưng riêng mình thì sống vô cùng giản dị và thanh đạm, bởi vì lẽ sống của Người là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ.

Người luôn đặt mình trong cùng nỗi đau khổ của nhân loại. Trái tim Người đập cùng nhịp đập với nhân dân. Người mong muốn những gì dân tộc ta mong muốn. Tấm lòng của Người được thể hiện bằng những câu nói chân thành nhất và những hành động cụ thể, thiết thực nhất. Suốt đời Người chỉ có một ham muốn tột bậc, đó là hòa bình, độc lập cho nhân dân, cơm ăn áo mặc cho mọi người.

Năm 1946, khi tham dự cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”, Bác đã cởi ngay chiếc áo len đang mặc để gửi cho các chiến sĩ ngoài mặt trận. Bác dành cả tiền lương tháng, tiền nhuận bút, cả quần áo, khăn mặt để tặng cho các chiến sĩ và gia đình thương binh, liệt sĩ.

Khi biết con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh, Bác đã gửi đến ông bức thư. Trong thư có đoạn: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi mất một đoạn ruột”. Đọc xong thư Bác, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã bàng hoàng xúc động vì không dám nghĩ rằng, giữa lúc Bác Hồ bận trăm nghìn việc quốc gia đại sự, ngay cả họ hàng thân thuộc cũng không có thì giờ thăm hỏi. Thế mà Bác vẫn nghĩ đến ông – một gia đình bé nhỏ đang có tang đau lòng. Bởi lẽ, Bác đã từng nói: mỗi người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng. Gộp cả những nỗi đau khổ ấy lại thì thành nỗi đau khổ của tôi. Tấm lòng của Bác thật quảng đại, bao la!

Ngày nay, theo bước chân Người, trên đất nước ta đâu đâu cũng có những tấm lòng, những hành động thiết thực thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa đối với các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Làm được như vậy, Bác cũng thấy vui lòng.

Năm 1961, khi Bác về thăm lại Pắc Bó – chiến khu xưa, mặc dù đã là Chủ Tịch nước nhưng việc gì Bác cũng tự làm, ai cũng thương, cũng giúp. Bác tắm cho trẻ, chữa ghẻ, chốc cho các cháu. Đứa nào cũng được Bác cho quà và trò chuyện thân mật như ông với cháu. Bọn trẻ đứa nào cũng thích dù đó chỉ là những gói kẹo nhỏ. Hầu như tết Trung thu nào Bác cũng gửi quà và viết thư chúc Tết Trung thu cho các cháu thiếu niên nhi đồng với những tình cảm yêu mến thiết tha:

Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng.

Trong những buổi gặp gỡ với các cháu tại phủ Chủ tịch, Bác luôn muốn bồng bế các cháu nhỏ, ôm hôn tất cả.

Có người chiến sĩ từng bảo vệ Bác, kể lại trong niềm xúc động: có cán bộ cứ nghĩ rằng đạo đức cách mạng chỉ để áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, được gần Bác, thấy ngay cả lúc ăn cơm, Bác cũng dạy ta thế nào là đạo đức cách mạng. Mỗi khi có món gì ngon là Bác chia sẻ cho người này, người kia cùng ăn. Cầm chén cơm, đôi lúc Bác như tư lự về điều gì đó. Bác yên lòng sao được khi miền Nam phải ăn cơm giữa mưa bom, bão đạn, ở đâu đó, các cụ già, em nhỏ đói rách, lang thang, các chiến sĩ dầm mưa chịu đói rét để kịp giờ hành quân.

Ngay cả lúc bệnh tình của Người ngày một xấu đi, Bác vẫn luôn trăn trở, thăm hỏi tình hình chiến sự ở miền Nam, bởi lẽ, miền Nam ruột thịt luôn ở trong trái tim Người.

Tuy nhiên, ở Bác, chỉ có tình yêu thương con người là chưa đủ mà nó phải gắn liền với thái độ tôn trọng con người, biết cách nâng đỡ, giáo dục con người, rộng lượng, khoan dung, đồng thời phải biết nghiêm khắc với bản thân.

Đối với những cán bộ, đảng viên có lỗi, Bao giờ Người cũng mong muốn và tạo điều kiện cho họ sửa chữa lỗi lầm. Người dạy rằng: mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân để đẩy lùi phần ác chứ không phải đập cho tơi bời.

Tấm lòng nhân ái bao la của Bác luôn khoan dung cho tất cả mọi người. Nhờ vậy, Bác đã tập hợp được cả dân tộc, cả những thành phần trước đây đối lập với Người trong cuộc cách mạng giành độc lập tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Với tinh thần đánh kẻ chạy đi không đánh người chạy lại, Bác đã cảm hóa được những người ở bên kia chiến tuyến, những phạm nhân trong lao tù. Năm 1946, Bác tới trại giam Hỏa Lò để thăm hỏi, khuyên bảo những phạm nhân ở đây. Bác ân cần ngồi bên họ, khuyên bảo họ, nghe họ phân trần, và Người đã rưng rưng nước mắt. Trong bức thư gửi cho người Pháp, Bác nói: than ôi, trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau.

Tất cả những điều đó đã thể hiện một nhân cách lớn: nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người. Hồ Chí Minh – Người là vầng thái dương rạng ngời, ấm áp!

Ngày nay, trong thời đại kinh tế thị trường, chúng ta đang từng bước hội nhập với thế giới, có nhiều luồng văn hóa độc hại du nhập vào nước ta. Trong đó, thanh thiếu niên là lớp người chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Mặt khác, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước đang trong tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, xa rời quần chúng nhân dân, cơ hội, tham nhũng, thu vén cho bản thân mình mà quên mất mình là “đày tớ phục vụ nhân dân” như lời Bác đã dạy.

Cuộc vận động tìm hiểu và học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã và đang có một tác động sâu rộng với mọi tầng lớp nhân dân. Đó là một trong những giải pháp nhằm ngăn chặn và từng bước đẩy lùi những thực trạng trên. Song song đó, việc rèn luyện, củng cố và phát triển đạo đức cách mạng của mỗi người phải là việc làm thường xuyên và liên tục.

Riêng bản thân tôi, một người làm việc trong ngành văn hóa thông tin, những câu chuyện viết về Người thật sự là những tài liệu vô cùng quý giá. Chúng tôi là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng, có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến công chúng. Vì thế, hơn ai hết, chúng tôi phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức mà nhất là phải tăng cường học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có như thế, chúng tôi mới đủ bản lĩnh, năng lực, và cảm thấy mình xứng đáng là những tuyên truyền viên, thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước.

Võ Thị Cẩm Hiền (Bảo tàng Cần Thơ)

doandcdcantho.org.vn

Bài nói tại trường Cán bộ tự vệ

Lúc này, chúng ta không cần nói nhiều, mà phải làm cho thật nhiều. Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp. Về quân sự, Pháp có thể đánh vào thành phố ta. Về xã hội, có thể phát sinh ra trộm cướp. Về chính trị, có thể có những kẻ phản động phao đồn những tin nhảm để làm náo động lòng dân.

Các đồng chí đến đây theo lớp huấn luyện là học tập cách trị an về vật chất và tinh thần. Những kẻ mưu sự phá hoại đất nước chúng ta, có thể tuyên truyền, đồn phao để chia rẽ sự đoàn kết. Chúng hủ hoá chúng ta về vật chất, về sinh hoạt, văn hoá, chính trị. Bởi thế các đồng chí phải học tập thành cán bộ để đi trước sự bảo vệ: Bảo vệ nền độc lập tự do của mình. Không những thế, các đồng chí còn chỉ huy những anh em đi sau. Tóm lại, không những phải học cho biết kỹ thuật, mà còn phải học lý luận về đạo đức, tinh thần nữa.

Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

Lãnh đạo về kỹ thuật chưa đủ. Còn phải lãnh đạo về tinh thần. Phải là người tuyên truyền. Phải là những người nói cho dân hiểu. Có phao đồn gì, phải giải thích cho dân. Có mệnh lệnh của Chính phủ, phải giải thích cho dân biết rõ tại sao Chính phủ đã ban bố mệnh lệnh đó.

Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công.

Nói ngày 7-1-1946.
Báo Cứu quốc, số 136, ngày 8-1-1946


Hoàng Nhật Minh

Hơn nửa thế kỉ đam mê sưu tầm tem về Bác

(Dân trí) – “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” – đó là câu giải thích cho niềm đam mê sưu tầm tem về Bác trong hơn 50 năm qua của ông Nguyễn Lương Hốt (82 tuổi) ở 10/38 Lê Thánh Tôn, TP Huế, người có nhiều bộ sưu tập tem về Bác Hồ trong CLB tem Huế.

Ông Nguyễn Lương Hốt và bộ sưu tập tem về Bác.

Hơn nửa thế kỷ sưu tầm tem, đến nay ông Hốt đã có những bộ sưu tập đồ sộ, nhiều bộ tem thuộc nhóm quý hiếm như: gần 1 vạn con tem các loại về các chủ đề như: Bác Hồ, Điện Biên Phủ, Cây Tre Việt Nam, chính quyền, thanh niên, lực lượng vũ trang, hoa, bướm, thú … trong đó, bộ tem về Bác Hồ là lớn nhất.

Câu chuyện “bén duyên” với tem được ông cho biết, đó là vào năm 1945, ông tham gia cách mạng với nhiệm vụ bình dân học vụ và xây dựng cơ sở cách mạng tại Hương Trà, TT Huế.

“Hồi đó nhận được thư gia đình, bạn bè là quý lắm, thư trở thành niềm vui chung cho mọi người trong đơn vị. Từ đó, mình luôn trân trọng những cái bì thư có tên những người thân yêu của mình gửi, cũng là lúc tôi yêu những con tem”, ông Hốt nhớ lại.

Năm 1957, ông bị thương phải ra Bắc để điều trị. Khi vết thương lành, ông vào làm việc tại văn phòng Ban thống nhất Trung ương. “Mỗi ngày văn phòng nhận rất nhiều thư của các cơ quan ở miền Nam gửi ra, thư Liên Hiệp Quốc, thư từ nước ngoài, từ đó dễ dàng thực hiện niềm say mê của mình”, ông nói.

Mãi cho đến khi về hưu (năm 1987), ông mới “toàn tâm toàn ý” cho thú chơi tem của mình. “Chơi tem ngoài giải trí, còn rất nhiều cái lợi, vừa văn học nghệ thuật, vừa trí tuệ. Đó là thú chơi tao nhã, lành mạnh. Khi đã say mê rồi thì sẽ từ bỏ được thói hư tật xấu”, ông tâm sự.

Bộ sưu tầm tem kỉ niệm 80 năm sinh nhật Bác Hồ trên tem.

Theo ông, chơi tem ngoài những kiến thức về nội dung in trên tem còn có những cái “ngón nghề” bắt buộc của người chơi tem: đó là sự tỉ mỉ, cẩn thận, cần mẫn, nhờ đó mà cũng tạo nên tính cách thông qua chơi tem.

Ông nói: Tôi học tập được ở Bác nhiều bài học như cần kiệm liêm chính, chí công vô tư qua những hình ảnh Bác đi tát nước, đi đạp nước với nhân dân qua những con tem.

Một bộ sưu tập tem màu về Bác.

Nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác năm nay (19/5/2010), ông sẽ triển lãm bộ sưu tập “Bác Hồ sống mãi với Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam, Nhân loại thế giới” tại Nghệ An, quê Bác, sau đó sẽ dự triển lãm quốc gia tại Hà Nội, kỉ niệm 1000 năm Thăng Long.

Trước đó, ông Hốt cũng đã cho ra mắt độc giả các tỉnh 5 bộ tem quý về Bác Hồ như bộ sưu tập “Thơ ca, ca ngợi Bác Hồ trên tạp chí tem”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tem bưu chính hiện nay”, “Hồ Chí Minh cuộc đời và sự nghiệp”… Trong đó, bộ tem “Hồ Chí Minh cuộc đời và sự nghiệp” đã đoạt giải khuyến khích tại triển lãm các tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên năm 2004. Bộ tem này sau đó mang đi dự triển lãm tranh tại Bảo tàng trung ương và đoạt giải đồng năm 2005.

Trọng Bình

dantri.com.vn

Bài nói tại Đại hội Thanh niên cứu quốc toàn xứ

Về tình hình quốc tế: Các nước chống phát xít trong suốt thời kỳ chiến tranh đã đồng tâm hiệp lực với nhau để đánh tụi phát xít, nay phát xít đã bị thua rồi, thái độ của các nước ấy cũng đổi khác. Thái độ ấy gọi nôm na là ai lo phận nấy, đó là điều thường tình, lần Chiến tranh thế giới thứ nhất chúng ta đã thấy như thế. Tuy nhiên điều đó có ảnh hưởng ít nhiều đến ta. Các nước lo phần các nước ấy, chúng ta phải lo phần chúng ta; chúng ta lo tìm bạn bè, nhưng trước hết chúng ta phải tổ chức lực lượng của chính mình, mà muốn có lực lượng ấy cần nhất là phải biết đoàn kết.

Về tình hình bên trong: Dân ta nhờ có trào lưu thế giới, nhờ có sự đoàn kết của toàn thể dân tộc, nên đã tranh thủ được tự do độc lập. Nhưng nền tự do độc lập ấy còn chưa kiên cố, còn ở bước đầu, còn phải kinh qua nhiều nỗi gay go, khó khăn. Hiện thời, hai nỗi khó khăn là sự kháng chiến ở Nam Bộ và nạn đói kém ở Bắc Bộ.

Trước tình thế này, thanh niên có những nhiệm vụ gì?

1) Chuẩn bị luôn luôn. Một mặt ủng hộ sự kháng chiến của anh em Nam Bộ; một mặt chuẩn bị đợi đến lượt mình phải chiến đấu ở Trung và Bắc Bộ.

2) Cứu nạn đói. Mang gạo từ chỗ có đến chỗ không. Quyên gạo. Khuyến nông, không để thừa một tấc đất hoang nào.

3) Sửa soạn cho cuộc Tổng tuyển cử. Tuyên truyền cho dân chúng hiểu cái bổn phận của mỗi người trong cuộc tổng tuyển cử thế nào.

Vài lời phê bình thanh niên: Trong tổ chức thanh niên vẫn còn giữ một xu hướng chật hẹp, không bao bọc được nhiều giai tầng, không kéo được đại đa số thanh niên. Chẳng hạn như trong tổ chức còn phân ra nam nữ, không giúp đỡ cho các chị em nữ thanh niên phát triển, số phụ nữ cũng ngang bằng số đàn ông, vậy mà gạt các chị em ra ngoài, tổ chức thanh niên có khác gì đi có một chân.

Một điều nữa là thanh niên có hăng hái. Nhưng hăng hái không chưa đủ, phải có kế hoạch, có phương hướng. Trước khi làm một việc gì phải cẩn thận suy xét xem việc đó thành công thì ảnh hưởng thế nào, thất bại thì ảnh hưởng thế nào; có khi việc thì thất bại mà ảnh hưởng lại tốt, và trái lại.

Nhiệm vụ chính của thanh niên là xung phong trong ba việc cần yếu nói trên. Và khẩu hiệu là: làm, phải cho thắng, nhất định không cho bại..

Nói ngày 25-11-1945.
Báo Cứu quốc, số 101, ngày 26-11-1945


Hoàng Nhật Minh

“Chủ tịch Hồ Chí Minh – người Anh hùng dân tộc vĩ đại”

Tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta…”.

>> “Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam

Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm.

Sáng 18/5, tại Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dự lễ kỷ niệm có Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm.

Tới dự có các Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Quốc hội; đại diện các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và thành phố Hà Nội, các lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, đại diện các tầng lớp nhân dân Thủ đô Hà Nội; đại diện các đoàn ngoại giao, tổ chức quốc tế tại Hà Nội.

Đọc diễn văn tại buổi lễ, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã ôn lại những cống hiến to lớn và ý nghĩa thời đại sâu sắc của tư tưởng, tấm gương, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng như cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội ở Việt Nam và thế giới.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nêu rõ, tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Marx-Lenin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại mới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Với những thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, của cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, dân tộc ta không chỉ thi hành “Bản án chế độ thực dân” ở Việt Nam, giành lại độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới vì tự do, hạnh phúc của nhân dân ta, mà còn cùng với các dân tộc thuộc địa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đấu tranh loại bỏ vết nhơ áp bức của chủ nghĩa thực dân, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta. Công lao của Người với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng Việt Nam và dẫn dắt dân tộc ta tiến đến tương lai tươi sáng”.

Bày tỏ niềm tự hào về những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta đã đạt được trong 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Tổng Bí thư chỉ rõ, để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở kiên định lập trường và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn Đảng, toàn dân ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và phổ biến rộng rãi hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới.

Tổng Bí thư khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc ta. Giá trị thực tiễn cao đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, “nói đi đôi với làm.” Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta quyết tâm thực hiện thành công, hiện thực hóa những di huấn của Người trong thực tiễn cuộc sống.

Tổng Bí thư kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sống, chiến đấu, lao động, học tập, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta phát triển mạnh mẽ, bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong không khí trang trọng, chị Nguyễn Thùy An, gương điển hình về học tập và làm theo lời Bác của Tỉnh đoàn Nghệ An, đại diện cho tuổi trẻ cả nước phát biểu bày tỏ những suy nghĩ, tình cảm, niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc đối với Bác Hồ. Tuổi trẻ cả nước nguyện suốt đời trung thành với lý tưởng cách mạng cao đẹp mà Đảng và Bác Hồ đã chọn, tiếp tục cống hiến, nỗ lực học tập, rèn luyện theo gương Bác Hồ, để đóng góp nhiều hơn nữa vào công cuộc đối mới xây dựng đất nước.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam nêu rõ, năm 1987, đại hội đồng UNESCO đã thông qua nghị quyết khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn của Việt Nam nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người.

Bày bỏ tình cảm ngưỡng mộ của mình với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Katherine Muller Marin xúc động nói, hôm nay, nhiều người trên khắp thế giới kỷ niệm ngày sinh của Người vì Hồ Chí Minh được coi là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và nhân dân Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Bà Katherine Muller Marin đã nêu bật những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các lĩnh vực hoạt động của UNESCO như văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa, truyền thông, bình đẳng giới, môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giáo dục, ngoại giao.

Bà Katherine Muller Marin kết thúc bài phát biểu của mình bằng câu nói nổi tiếng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Câu nói này còn rất có giá trị và tác động mạnh mẽ trong bối cảnh thế giới ngày nay, bà Katherine Muller Marin khẳng định.

Trong không khí tưng bừng, phấn khởi kỷ niệm ngày sinh của Người, chương trình nghệ thuật đặc sắc do các nghệ sỹ, diễn viên biểu diễn tại buổi lễ đã ngợi ca công ơn trời biển của Bác Hồ đối với dân tộc Việt Nam.

Theo Hương Thủy
Vietnam+

dantri.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh công du nước ngoài

(Dân trí) – Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một loạt các chuyến thăm tới các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới. Chuyến thăm đầu tiên của Người năm 1955 đến Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ.

Sau đó vào năm 1957, 1958 là các chuyến thăm tới các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Ấn Độ và Myanma.

Trong di chúc, Người viết: Sau ngày đất nước thống nhất sẽ thay mặt nhân dân ta thăm và cảm ơn các nước anh em xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp 5 châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Nhưng ước muốn của Người đã không thể thành hiện thực…

Dân trí may mắn có cơ hội xem những bức ảnh ghi lại những chuyến thăm nước ngoài chính thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ năm 1955 – 1958.

Những bức ảnh được in trong cuốn sách ảnh bằng tiếng Anh, thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Liên, nguyên Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai và đã được chuyển lại cho nhà sưu tập sách Phạm Chí Thiện ở Kẻ Sặt, Hải Dương.

Mời bạn đọc cùng chiêm ngưỡng:

Lãnh đạo Xô Viết chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm tại sân bay.

Chủ tịch Mao Trạch Đông chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay.

Bác dắt tay một em bé trong chuyến thăm Trung Quốc.

Bác Hồ trong trang phục truyền thống của Mông Cổ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Ulanbator (Mông Cổ).

Chủ tịch Hồ Chí Minh được đón tiếp tại sận bay Pyongyang (Bình Nhưỡng) – CHDCND Triều Tiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một hợp tác nông nghiệp Kochang, ở Kangsu, phía nam Pyongyang.


Chuyến thăm Ấn Độ vào tháng 2 năm 1958 của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác bơi trên con thuyền truyền thống của Myanma

Bác Hồ nhận bằng danh dự tiến sĩ luật tại Myanma

Bác Hồ nhảy điệu nhảy truyền thống của Albania

Em bé Đức tặng hoa cho Người

Người dân Đức tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh hoa hồng.

Hoàng Giang

dantri.com.vn

Những kỷ niệm về Bác Hồ của một cựu giảng viên ĐH

(Dân trí) – Gần 90 tuổi đời và có nửa thế kỷ đứng trên bục giảng, nhà giáo Lê Văn Đàm, nguyên giảng viên Trường đại học Sư phạm Vinh vẫn nhớ như in những kỷ niệm xúc động về Bác Hồ kính yêu.

Lần đầu gặp Bác Hồ

Nhà giáo Lê Văn Đàm sinh năm 1926 tại Trung Lễ, một làng quê nổi tiếng về truyền thống văn hóa của huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Lúc nhỏ, tuy nhà nghèo nhưng Lê Văn Đàm đã quyết noi theo truyền thống gia đình họ tộc, quyết tâm học hành và luôn luôn đứng đầu lớp. Năm 1944, vừa mới bước vào tuổi 18, Lê Văn Đàm đã vinh dự đứng vào hàng ngũ những người làm giáo dục với chức trách là một giáo viên tiểu học.

Sau thời gian học tập ở Trung Quốc 3 năm (1953-1956), Lê Văn Đàm về nước, được bổ nhiệm chức vụ Hiệu trưởng Trường cấp II Trần Phú (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Mùa hè năm đó, Lê Văn Đàm được triệu tập tham gia lớp chỉnh huấn dành cho các cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên cốt cán toàn miền Bắc tại Hà Nội. Lần này, Lê Văn Đàm vinh dự được gặp Bác Hồ.

Nhà giáo Lê Văn Đàm sinh năm 1926 tại Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ đã có 47 năm đứng trên bục giảng từ bậc tiểu học đến đại học, có hơn 20 năm giảng dạy tại Khoa Tâm lí – Giáo dục trường Đại học Sư phạm Vinh và 10 năm là chuyên gia giáo dục ở châu Phi. Là nhà giáo mẫu mực, cụ đã đào tạo hàng nghìn học trò thuộc nhiều thế hệ. Năm 2009, cụ được tỉnh Hà Tĩnh tôn vinh “Nhà giáo lão thành có nhiều cống hiến”.

Cụ Đàm kể: “Lúc ấy lớp chỉnh huấn tập trung ở hội trường trường Chu Văn An vào ban đêm, dù có điện nhưng không được sáng như bây giờ. Bất ngờ cả hội trường ồ lên khi được tin Bác Hồ đến thăm. Tình hình đấu tranh tư tưởng đang căng thẳng, nên được Bác Hồ đến thăm làm mọi người rất phấn khởi. Bác mặc bộ quần áo kaki trắng giản dị, người hơi gầy với chòm râu thưa. Sau khi ổn định tình hình, Bác nhìn quanh hội trường rồi hỏi: “Cán bộ nữ trong lớp chỉnh huấn của chúng ta được mấy “vắt”?

Cả hội trường hết sức bất ngờ vì cách dùng từ dí dỏm của Bác, và nhất là người cán bộ phụ trách chưa nắm được cụ thể có bao nhiêu nữ cán bộ giáo viên có mặt. Thực ra vào giai đoạn này giáo viên nữ, nhất là cán bộ quản lý rất ít. Một cán bộ đáp: “Thưa Bác, nữ được khoảng chục “vắt” ạ!”. Bác nói: “Sao ít thế?”, rồi Người nói về vai trò của phụ nữ, nhắc nhở các cán bộ quản lý giáo dục cần tuyển thêm nhiều giáo viên nữ.

Sau đó, Bác hỏi thăm về mức lương, thu nhập của đội ngũ nhà giáo. Nghe cán bộ báo cáo, Người trầm ngâm một lúc rồi nói: “Việc giáo dục hết sức quan trọng, nhà giáo có vai trò đặc biệt đối với sự nghiệp giáo dục, nhưng mức sống của đa số giáo viên còn thấp. Chính phủ phải có chính sách từng bước nâng cao đời sống cho đội ngũ giáo viên”.

Nhà giáo Lê Văn Đàm nay nghỉ hưu tại Hà Tĩnh.

Thực hiện lời dạy của Bác, ngành giáo dục sau đó đã có những chính sách để thu hút các nữ sinh vào trường sư phạm. Các nhà trường sư phạm cấp học bổng cho sinh viên, tuy không dư dật song cũng đủ ăn tiêu, không phải dựa vào chu cấp của gia đình. Các sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường sư phạm đều được phân công công tác tùy theo nhu cầu giáo dục của từng địa phương.

Lần đầu được gặp Bác, nhà giáo Lê Văn Đàm nhớ mãi phong thái giản dị, gần gũi, hài hước, sự quan tâm sâu sắc của Người đối với các nữ nhà giáo và đời sống giáo viên. Những lời dạy của Người sau đó đã được Chính phủ và ngành giáo dục áp dụng trong thực tiễn.

“Giáo cụ trực quan” là gì?

Nhà giáo Lê Văn Đàm còn có may mắn được gặp Bác Hồ lần nữa. Năm 1959, Bác Hồ đến thăm Trường đại học Sư phạm Hà Nội. Lúc này nhà giáo Lê Văn Đàm đang học Khoa Tâm lí – Giáo dục. Vì Bác có nhã ý thăm lớp cán bộ quản lý được cử đi học, nên Lê Văn Đàm có cơ duyên gặp Người lần nữa.

“Lúc đó, mấy anh em chúng tôi đang lúi húi làm việc thì thấy có tiếng người xôn xao, cửa mở và đã thấy Bác Hồ đến ngay trước mặt. Đúng là như trong giấc mơ. Bác bắt tay từng người rồi hỏi: “Các chú đang làm gì thế?”. Nhà giáo Lê Văn Đàm thưa: “Thưa Bác, chúng cháu đang làm giáo cụ trực quan ạ”. Người hỏi lại: “Thế “giáo cụ trực quan” là gì? Nhà giáo Lê Văn Đàm đáp: “Thưa Bác, “giáo cụ trực quan” là đồ dùng dạy học ạ”. Bác hỏi: “Thế tại sao không nói “đồ dùng dạy học” mà lại nói “giáo cụ trực quan”?. Mọi người im lặng, lúng túng, Bác nói: “Chúng ta giáo dục cho con em nên chú ý việc dùng chữ. Những chữ đã có trong tiếng ta thì cần không vay mượn, cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Hiện nay đang có bệnh sính dùng chữ, cần phải sửa từ những cán bộ giáo dục để làm gương cho học sinh và đồng bào”.

Trong trái tim nhà giáo lão thành, những kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu vẫn vô cùng sâu đậm.

Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng những lời dạy của Bác từ cuộc gặp gỡ đó mãi in sâu trong tâm trí nhà giáo Lê Văn Đàm và trở thành kim chỉ nam trong cuộc đời làm giáo dục của cụ.

Cụ Đàm tâm sự: “Thực ra lúc đó chúng ta dịch giáo trình từ Trung Quốc, Liên Xô nên có vay mượn thuật ngữ. Mặt khác, không ít cán bộ vẫn mắc “bệnh sính chữ”. Lời dạy của Bác không chỉ nói về việc dùng chữ, mà chính là vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ, và các nhà giáo phải làm gương cho xã hội”.

Sau này, trong những năm đi làm chuyên gia giáo dục quốc tế ở châu Phi (cụ Lê Văn Đàm từng làm chuyên gia giáo dục ở Ghi-nê và Ăng-gô-la hàng chục năm), cụ Đàm luôn tìm cách để giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử, văn hóa Việt Nam.

Dù xa cách ngàn trùng, đất nước và Bác Hồ vẫn rất gần

Từ năm 1965 – 1969, nhà giáo Lê Văn Đàm được Chính phủ cử đi làm chuyên gia giáo dục tại Ghi-nê. Trước khi lên đường, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tổ chức buổi gặp mặt thân mật và dặn dò nhà giáo Đàm. Thủ tướng nhấn mạnh nhiệm vụ giúp bạn phát triển giáo dục cũng quan trọng không kém việc đánh giặc bảo vệ Tổ quốc (lúc này chiến sự đang rất căng thẳng), đồng thời nhắc mỗi người cần giữ gìn tư cách, tác phong của người Việt Nam khi ở nước bạn.

Khí hậu châu Phi khắc nghiệt, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, nhưng với những người đã quen gian khổ như cụ Lê Văn Đàm thì không phải là vấn đề đáng ngại. Chỉ có nỗi nhớ Tổ quốc, nhớ Bác Hồ là luôn canh cánh bên lòng. Lúc đầu, các nhà giáo xa xứ nghe tình hình Việt Nam qua bản tin quốc tế tiếng Pháp của các nước, sau một thời gian mới bắt được sóng của Đài tiếng nói Việt Nam.

Dù bận đến mấy, việc nghe đài Việt Nam luôn được ưu tiên hàng đầu. Những tin tức chiến thắng dồn dập làm cho các nhà giáo phấn khởi vô cùng. Vì các sinh viên Ghi-nê rất muốn nghe về thời sự Việt Nam, nên nhà trường đã tổ chức mời nhà giáo (họ gọi là giáo sư – Professeur) Lê Văn Đàm diễn thuyết trước sinh viên toàn trường về thời sự đánh giặc Mỹ của Việt Nam. Chương trình chỉ có ba tiếng từ 8 giờ đến 11 giờ), nhưng đến 11 giờ, sinh viên yêu cầu nói thêm, chưa ăn cơm cũng được. Thế là giáo sư Lê Văn Đàm phải nói thêm 2 tiếng nữa mới nghỉ. Cả trường lặng phắc lắng nghe, cả ông bảo vệ trường cũng say sưa nghe giáo sư Đàm diễn thuyết. Sau này vì các sinh viên muốn tìm hiểu thêm, nhà giáo Lê Văn Đàm liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam để mượn các bộ phim về chiếu cho sinh viên xem. Làn sóng hâm mộ Việt Nam dâng cao, đến mức đại diện ngoại giao Mỹ tại Ghi-nê phản đối, cho rằng nhà trường “thiên vị” Việt Nam. Nhưng nhà trường nói vì sinh viên yêu thích nên họ không “bắt lí” được.

Sau 5 năm công tác, Lê Văn Đàm về Hà Nội vào đúng ngày 2/9/1969, được người nhà báo tin Bác ốm rất nặng. Sáng ngày 3/9, Lê Văn Đàm và người dân cả nước đau đớn khi được tin Bác Hồ đã từ trần. Lê Văn Đàm vội đến quảng trường Ba Đình để xem tình hình nhưng không vào được, chen chúc trong cả biển người chan hòa nước mắt giữa trời mưa tầm tã. Lê Văn Đàm đã ở lại Hà Nội tham dự lễ tang Bác, 12 ngày sau mới về gặp gia đình ở Hà Tĩnh.

Bài và ảnh: Quang Đại – Văn Dũng

dantri.com.vn

Con người và tấm gương Hồ Chí Minh

(Dân trí) – “Khỏe – Học – Làm – Sống” là 4 nhu cầu cơ bản của con người. Có khoẻ mới có thể học tốt, làm tốt, sống tốt. Có khoẻ, có học hay mới có khả năng làm giỏi, làm sáng tạo, mới có thể sống hạnh phúc, đạo đức, văn minh.

Bác Hồ tập thể dục rèn luyện sức khỏe.

Để trở thành “con người thông thái”

“Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ, tức là cả nước mạnh khoẻ… Dân cường thì quốc thịnh”. (1)

“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu… Phải trở thành dân tộc thông thái”. (2)

“Tấm gương Hồ Chí Minh” là tổng hoà cách giữ gìn sức khoẻ khoa học, cách tự học thiên tài, là cách làm cách mạng sáng tạo với cách sống đạo đức, văn minh, danh nhân văn hoá thế giới, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, cấp bách trước mắt cũng như về cơ bản lâu dài, trong sự nghiệp “trồng người, xây dựng, nâng cao thể lực và trí lực con người Việt Nam chính là “Tấm gương bốn tốt”: “Sức khoẻ tốt, Học tốt, Làm tốt, Sống tốt”, “Sức khoẻ tốt, Tự học hay, Làm sáng tạo, Sống đạo đức, văn minh”.

Con người của một dân tộc đang phấn đấu “trở thành dân tộc thông thái”, “dân cường quốc thịnh”, được xây dựng thông qua vận dụng – phát triển tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh, cùng nhịp bước khẩn trương của thời đại, phải là một con người “thông thái”, cao khoẻ, tự học hay, làm sáng tạo, sống văn minh”, gọi tắt là “con người thông thái bốn tốt”, “con người thông thái”.

Con người thông thái biết tự chăm lo vun đắp cái vốn quý nhất của mỗi con người và của dân tộc, giống nòi là sức khoẻ và trí tuệ: biết cách tự chăm sóc, tự rèn luyện, nâng cao sức khoẻ và tầm vóc nên người cao khoẻ; biết cách tự học hành sáng tạo suốt đời; biết và dám độc lập suy nghĩ, tự do sáng tạo, tự mình đi tìm lấy chân lý, sống và làm việc theo chân lý, tất cả “vì chân lý – vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” (3), sống hạnh phúc, đạo đức, văn minh.

Cách dạy sáng tạo

Vì mục tiêu đào tạo ra những con người thông thái bốn tốt, trường học cần xây dựng đội ngũ nhà giáo bốn tốt có bản lĩnh dạy sáng tạo.

Cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” có thể xem là phong trào đổi mới cách dạy của các “nhà giáo bốn tốt”: Thầy “tự học hay, dạy sáng tạo, đạo đức cao” chủ động tự đổi mới, vận dụng các cách dạy sáng tạo cho trò “tích cực tự học, sáng tạo”.

Tuy vậy, phổ biến hiện nay vẫn là “Thầy truyền đạt – trò thụ động tiếp thu một chiều”, “Thầy giảng – trò nghe, nói theo, làm theo” – một phương pháp lạc hậu tạo ra những con người được nhồi nhét kiến thức để vượt qua các kỳ thi, nặng về phục tùng, thừa hành, rập khuôn. Việc học nặng nề, quá tải đã dẫn đến những con số thống kê ảm đạm các bệnh học đường như cận thị, cong vẹo cột sống, tâm thần, trẻ lùn còi, lùn béo… đáng báo động về sức khoẻ, chiều cao và trí tuệ của con người và giống nòi!

Yêu cầu nhà giáo làm “tấm gương sáng tạo”, nhưng thực tế thi cử khắc nghiệt “thi gì học nấy” buộc nhà giáo phải làm “người luyện thi”!

Vận động nhà giáo “dạy sáng tạo”, nhưng sách giáo khoa – pháp lệnh tối cao trong nhà trường – buộc thầy phải làm “người truyền đạt” kiến thức một chiều đúng theo từng trang sách, trò phải học thuộc từng bài, từng chương để vượt qua các cửa ải thi cử! Sách học của ta lại đang ở dạng lạc hậu là “một ngân hàng kiến thức” áp đặt kiến thức sẵn có cho học sinh học thuộc, trong lúc sách học tiến bộ trên thế giới là “Công cụ khám phá”, “Ngân hàng tình huống” cung cấp một hệ thống tình huống – vấn đề cho người học suy nghĩ, tự mình tìm ra cách xử lý và kiến thức.

Một bộ sách học – ngân hàng tình huống – công cụ khám phá – cùng với một hệ thống đánh giá thi cử thông thoáng (bỏ kỳ thi trung học cơ sở và kỳ thi vào đại học…) mở rộng đường cho nhà giáo đi sâu vào cách “dạy sáng tạo”.

Học sáng tạo

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc

Từ “học thụ động, tiếp thu một chiều, học vẹt, khuôn sáo, giáo điều” khá phổ biến hiện nay trong toàn hệ thống nhà trường và xã hội, đến “tự học hành sáng tạo suốt đời”, “biết cách độc lập suy nghĩ, tự mình chiếm lĩnh lấy tri thức”, là cả một cuộc cách mạng về việc học của toàn xã hội.

Mỗi người học “vừa là chủ thể vừa là mục tiêu vừa là động lực chủ yếu” của cuộc cách mạng đó cần chủ động phấn đấu tự học, từ rèn thành con người thông thái bốn tốt thông qua các cuộc vận động thi đua “Học sinh bốn tốt”, “Sinh viên bốn tốt” với những tiêu chí cụ thể đáp ứng đúng nhu cầu độ tuổi. Hằng năm, cần có tổng kết khoa học nghiêm túc về “cách học hành sáng tạo”, biểu dương khen thưởng những “Học sinh, Sinh viên Bốn tốt”, “Học sinh, Sinh viên Sáng tạo”.

Mỗi người dạy cần phát huy vai trò “tấm gương đạo đức, tự học, sáng tạo”, xoáy sâu vào trọng tâm là dạy sáng tạo: Thầy hướng dẫn cho trò biết cách tự xử lý các tình huống – vấn đề tự tìm ra kiến thức, biết cách tự học, độc lập suy nghĩ, tự do sáng tạo. Cần suy tôn “Nhà giáo Sáng tạo” qua việc tổng kết khoa học hằng năm về “cách dạy sáng tạo”.

Sự nghiệp xây dựng con người thông thái từ thuở thai nhi thật cao cả, mà gia đình thì lắm nạn: nạn nghèo khó, nạn kém hiểu biết về giáo dục và chăm sóc thai nhi, giáo dục và chăm sóc trẻ em, nạn phá thai, nạn ly hôn…

Cần thiết thực trang bị cho gia đình hiểu biết và kỹ năng giáo dục chăm sóc cho thai nhi, trẻ em và người lớn, giúp đỡ các hộ nghèo và cận nghèo có những điều kiện cần thiết cho con em được chăm sóc, học hành.

Cần gắn kết các bộ, ngành, các hội, đoàn thể và tổ chức có liên quan đến sức khoẻ và trí tuệ của con người cùng chung sức “đem tài dân, của dân và sức dân” (4) xây dựng “Gia đình Hiếu học – Khoẻ mạnh – Văn hoá” thành “Gia đình bốn tốt” – Gia đình chăm lo thoả mãn tốt bốn như cầu cơ bản của con người, với những thành viên bốn tốt.

Tấm gương bốn tốt

Sức khoẻ tốt: Biết cách tự chăm sóc, từ rèn luyện, nâng cao sức khoẻ.

Học tốt: Biết cách tự học hành sáng tạo. Có trình độ giáo dục phổ cập theo độ tuổi.

Làm tốt: Biết lao động, có nghề. Lao động giỏi, có sáng kiến, sáng tạo.

Sống tốt: Cần kiệm, lành mạnh, trung thực, nhân nghĩa.

“Gia đình bốn tốt” là hội tụ các phong trào kinh tế – xã hội lớn của đất nước thành nơi con người phát triển toàn diện, tự học hành sáng tạo suốt đời là tế bào của xã hội học tập. Với đại đa số số hộ là gia đình bốn tốt, thì cả nước trở thành một xã hội học tập hiện đại.

Đất nước đổi mới đang đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên, đoàn viên hãy là một con người thông thái “dám nghĩ, dám làm, dám sáng tạo, dám nhận trách nhiệm”!

Mỗi người cán bộ quản lý – lãnh đạo của Đảng và Nhà nước hãy phát huy mạnh mẽ vai trò “Tấm gương bốn tốt”, đặc biệt là bản lĩnh điều hành sáng tạo, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh trong thời đại toàn cầu hoá – tin học hoá cho dân ta thành người thông thái, dân tộc ta thành dân tộc thông thái, nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

(1) (2) (3) (4): Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục, NXB Giáo dục. 1990. Tr. 47.36.151.53.

Vũ Oanh
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị,
Chủ tịch Hội Giáo dục Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Việt Nam

dantri.com.vn

Hồ Chủ tịch với công tác thanh niên

(Congannghean.vn)-Trong suốt cuộc đời của mình, Bác Hồ luôn quan tâm đến các thế hệ người Việt Nam, trong đó, Bác luôn giành nhiều tình cảm yêu thương sâu sắc đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là lực lượng thanh niên

Ngay từ năm 1925, khi Người đang hoạt động ở nước ngoài tìm đường cứu nước, Người đã nhận thấy thanh niên là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong tác phẩm “Bản án chế độ Thực dân Pháp”, Người viết “Hỡi Đông Dương đáng thương hại, Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.

Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên vào tháng 6/1925, để động viên, giác ngộ và tổ chức thanh niên vào công cuộc giải phóng dân tộc.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, công tác thanh niên được Người coi trọng và xem là nhiệm vụ cần thiết. Để huy động lực lượng thanh niên vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, Hội nghị BCHTW Đảng đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 là ngày thành lập Đoàn. Kể từ đó, thanh niên được tập hợp trong tổ chức của mình để đấu tranh và trưởng thành qua các cao trào 1930 – 1931, 1936 – 1939, 1939 – 1945.

Hồ Chủ tịch tại Đại hội Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước (1967)

Đặc biệt, sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy được sức mạnh của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Trong thư gửi Ngành giáo dục nhân ngày khai trường năm 1945, Hồ Chủ tịch đã tin tưởng, gửi gắm niềm tin vào thế hệ trẻ, rằng tương lai của non sông Việt Nam phụ thuộc vào “một phần lớn ở công học tập của các em”.

Vào tháng tám năm 1947, trong thư gửi thanh niên, Người lại khẳng định “thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”, “thanh niên ta rất hăng hái.

Ta biết tập hợp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ”. Chính sự tin tưởng của Người mà các thế hệ thanh niên đã anh dũng chiến đấu lập nên chiến thắng Việt Bắc, Biên giới Thu – Đông và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, miền Bắc nước ta chuyển sang giai đoạn Cách mạng XHCN, nhằm để động viên kịp thời và khuyến khích lực lượng thanh niên tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng quan tâm, giáo dục lực lượng thanh niên. Trong bài nói chuyện tại đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam ngày (24/3/1961), Bác dặn: “Thanh niên ta phải cố gắng học…

Muốn xây dựng CNXH thì nhất định phải có học thức… Thanh niên ta cần hiểu rằng: bất kì công việc gì mà ra sức khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ đều là vẻ vang, đều là anh hùng”. Về phong trào thanh niên, Bác lưu ý: “Cần phải liên tục và có nội dung thiết thực, không nên hình thức mà phải nói được, làm được”.

Thực hiện và làm theo Bác Hồ dạy, tầng tầng, lớp lớp thanh niên không quản ngại khó khăn ra sức xây dựng miền Bắc XHCN và anh dũng chiến đấu ở tiền tuyến lớn miền Nam với tinh thần của người thanh niên Lí Tự Trọng “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường Cách mạng và không thể con đường nào khác”.

Bác luôn coi thanh niên là lực lượng rường cột của nước nhà; là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Vì vậy, trước lúc Người đi xa, trong di chúc Bác đã dùng những lời lẽ tâm huyết đối với lực lượng thanh niên “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ” và Bác cũng căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đào tạo Cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ Cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.

Có thể nói, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác giáo dục thanh niên là tài sản vô cùng quý báu của dân tộc ta. Nhìn lại những lời dạy của Người giúp chúng ta có suy nghĩ và hành động đúng hơn về công tác thanh niên và giáo dục thanh niên trong thời kì mới, đặc biệt là trong năm thanh niên 2011.

Bùi Ngọc Tân

congannghean.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên

Có thể nói rằng, giáo dục lý tưởng và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên là một nội dung cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nói về thanh niên với tấm lòng thương yêu vô hạn của vị cha già dân tộc. Người căn dặn chúng ta “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Ðiểm nổi bật trong quan điểm giáo dục lý tưởng cho thanh niên của Bác Hồ là đưa thanh niên vào các tổ chức chính trị, xã hội do Ðảng lãnh đạo để vừa giác ngộ lý tưởng cách mạng cho họ, vừa đưa họ hoạt động thực tiễn đấu tranh cách mạng của toàn dân tộc. Ðể chuẩn bị cho việc thành lập Ðảng, năm 1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là tiền thân của Ðảng ta sau này. Người trực tiếp lựa chọn và bồi dưỡng, đào tạo những thanh niên yêu nước, có chí khí đấu tranh chống thực dân, phong kiến. Cuốn sách Ðường kách mệnh là tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1925 đến 1927 cho các lớp thanh niên ưu tú về lý tưởng, đạo đức cách mạng. Những thanh niên yêu nước qua huấn luyện, giáo dục, đào tạo được Bác Hồ đưa về nước hoạt động để thâm nhập vào phong trào yêu nước, phong trào công nhân trở thành những cán bộ cách mạng tiên phong trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong đó có nhiều người cộng sản trẻ tuổi xuất sắc như Trần Phú, Nguyễn Lương Bằng, Phạm Văn Ðồng, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu,…

Với quan điểm “đạo đức là gốc của người cách mạng”, Bác Hồ quan tâm giáo dục thanh niên không chỉ có tinh thần làm chủ nước nhà mà phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính; chí công, vô tư. Bác khuyên thanh niên “hăng hái, xung phong”, có chí tiến thủ, không ngại khó khăn, không nề nguy hiểm trong công tác, học tập, chiến đấu. Song, trong cuộc sống, Bác căn dặn thanh niên biết yêu thương gia đình, kính trọng ông bà, cha mẹ, người cao tuổi, nâng đỡ, dìu dắt thiếu nhi, quý trọng và hiếu thảo với nhân dân. Trung với nước, hiếu với dân là nội dung đạo đức mới Bác khuyên nhủ thanh niên cần thực hiện. Người cho rằng, đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Do đó, thanh niên phải ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng, bởi vì “cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Trong công cuộc kiến thiết đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt kỳ vọng vào thanh niên. Nhớ lại năm 1945, khi nước nhà vừa giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu.

Từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, khó khăn lớn nhất là lực lượng sản xuất lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn. Bác Hồ cho rằng, nghèo nàn, lạc hậu là một kẻ địch to, chiến đấu và chiến thắng nghèo nàn lạc hậu còn khó khăn, gian khổ hơn chiến thắng giặc ngoại xâm. Nhất là chúng ta phải xây dựng lại đất nước sau hai cuộc kháng chiến lâu dài, chống chiến tranh xâm lược ác liệt, với sự tàn phá dã man do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Ðây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Ðể giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”. Trong lực lượng vĩ đại của toàn dân, Bác Hồ dành vị trí hết sức quan trọng cho thanh niên. Tháng 5 năm 1968, Người viết trong bản Di chúc lịch sử: “Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Ðảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Ðó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999, tr.32). Người còn căn dặn Ðảng ta phải thường xuyên chăm lo giáo dục thanh niên, bởi vì “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

Nói tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên nổi bật các quan điểm lớn:

– Thanh niên là lực lượng xung kích chủ yếu của cách mạng, là chủ tương lai của nước nhà.

– Ðảng, Nhà nước phải chăm lo bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho thanh niên, giáo dục ý thức làm chủ và đào tạo họ thành người làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề nghiệp. Nghĩa là đào tạo họ trở thành những con người vừa hồng, vừa chuyên.

– Thanh niên phải tự vươn lên, phấn đấu, rèn luyện để thật sự là đội quân chủ lực của cách mạng.

TS: Phạm Văn Khánh

hungvuong.edu.vn

Các bài viết & thư của Bác Hồ với tuổi trẻ Việt Nam

STT       Tên bài viết – Thư của Bác Hồ với tuổi trẻ Việt Nam
1      Bài nói tại Đại hội Thanh niên cứu quốc toàn xứ
2      Bài nói tại trường Cán bộ tự vệ
3      Thế giới với Việt Nam
4      Các tướng sĩ yêu mến tiến lên
5      Lời căn dặn anh chị em giáo viên bình dân học vụ
6      Lời căn dặn học viên trong lễ khai trường – Trường võ bị Trần Quốc Toản
7      Các nhà văn hoá Việt Nam hãy chú ý đặc biệt đến nhi đồng
8      Thư chúc mừng năm mới
9      Thư gửi anh em thương binh trại an dưỡng liên khu X
10      Gửi Ủy ban Trung ương thiếu nhi
11      Thư gửi các cháu thiếu nhi
12      Thư gửi chị Phạm Thị Phượng
13      Bức thư gửi cho hai em
14      Gửi các chiến sĩ miền Nam
15      Thư gửi đồng chí Zao và các học sinh Việt Nam đang học ở Liên Xô
16      Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản
17      Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp đầu năm mới
18      Thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ
19      Thư gửi các học sinh
20      Thư gửi nam nữ chiến sĩ bình dân học vụ
21      Thư gửi nhi đồng Yên Bái
22      Thư gửi các cháu nhi đồng nhân tết trung thu 1948
23      Gửi nhi đồng xã Ba, Lào Cai
24      Thư gửi Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh
25      Thư gửi nam, nữ thanh niên và nhi đồng Nam Bộ
26      Thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân nhịp xuân Bính Tuất (1946)
27      Thư gửi anh em thương binh và bệnh binh
28      Thư gửi thiếu nhi Việt Nam – Đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt nam DCCH
29      Gửi Thanh niên và Nhi đồng nhân nhịp tết sắp đến
30      Thư gửi trại nhi đồng nghệ thuật I
31      Thư gửi Trung đoàn 101 Thừa Thiên
32      Thư gửi tướng Trần Tu Hoà
33      Thư khen chị Phạm Thị Tỵ
34      Thư khen chiến sĩ Trần Văn Diên
35      Thư khen cháu Đặng Phúc Hải
36      Thư khen gợi anh em du kích Kim Thành, Hải Dương
37      Lời khuyên sinh viên trường Quân y
38      Lời dặn các cán bộ tuyên truyền
39      Lời dặn các đội viên tuyên truyền xung phong
40      Lời kêu gọi sau việc tàu bay địch tàn sát đồng bào Nam Bộ
41      Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ
42      Lời khuyên anh em viên chức
43      Thơ tặng các cháu nhi đồng
44      Trả lời thư của nhi đồng cứu quốc Phước Diên (Q.Ninh) và Cẩm Giàng (H.Hưng)

Hoàng Nhật Minh

Nói và viết với phong cách Bác Hồ

Ảnh tư liệu

Cứ mỗi lần đến ngày kỷ niệm báo chí cách mạng Việt Nam, tất cả những người làm báo, những người đọc báo, quan tâm đến báo chí Việt Nam đều nhớ đến một con người, một cái tên – vĩ đại mà thân quen – Hồ Chí Minh – người đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam. Cho đến hôm nay, chúng ta vẫn có thể học tập từ nhiều điều từ sự nghiệp làm báo – làm cách mạng của Bác; vẫn còn cảm nhận được hơi ấm của tình người và ánh sáng của những tinh hoa văn hoá toả ra từ khối lượng đồ sộ những tác phẩm, bài nói, bài viết của Người…

Học viết và học nói

Trong rất nhiều điều Bác Hồ mong muốn các cán bộ cách mạng phải rèn luyện, có điều Bác mong muốn mỗi người đều phải học viết; học nói. Đối với Bác, tiếng Việt là của cải lâu dài và vô cùng quý báu của dân tộc, “chúng ta phải giữ gìn nó, Quý trọng nó, làm nó phát triển ngày càng rộng khắp”. Học viết học nói cũng không chỉ giới hạn trong đội ngũ cán bộ tuyên truyền, trong đội ngũ những người cầm bút mà cũng là điều cần thiết đối với mọi người, từ các em học sinh còn đang ngồi trên ghế nhà trường…

Trong sự đa dạng và phong phú của những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, có thể rút ra những nét chung nổi bật nhất của phong cách diễn đạt mà Người đã thể hiện suốt cuộc đời mình, một phong cách mẫu mực cho cả hiện tại và tương lai.

Đối với “nhà báo” Hồ Chí Minh trước hết cần xác định rõ chủ đề đối tượng, mục đích của việc nói và viết từ đó mới có thể tìm cách nói, cách viết cho phù hợp nhất mới chủ đề, với đối tượng để đạt được mục đích đề ra. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, trong bài Cách viết; trong bài nói tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ hai; bài nói tại Hội nghị tuyên truyền miền núi (1958), cũng như trong toàn bộ các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh chúng ta đều thấy Người nhấn mạnh bốn vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau: Nói, viết cái gì? Nói, viết như thế nào? Chủ đề, đối tượng, Mục đích quyết định cách thể hiện, cách thể hiện tốt làm cho nội dung nói và viết đúng với chủ đề, đúng đối tượng và đạt được mục đích của việc nói và viết.

Giản dị và sâu sắc

Bác Hồ đã nói và viết về rất nhiều chủ đề khác nhau của cách mạng Việt Nam, của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế… trong chủ đề bao trùm là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người nói và viết cho rất nhiều đối tượng khác nhau, từ những đại biểu cao nhất của chủ nghĩa thực dân đề quốc; nhân dân các nước thuộc địa; nhân dân và Đảng Cộng sản các nước anh em; những người có lương tri tiến bộ trên khắp thế giới… và nhiều nhất là cho đông đảo các tầng lớp nhân dân Việt Nam với dân tộc, tôn giáo, trình độ khác nhau. Với mỗi đối tượng cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể, Bác Hồ đều tìm ra những cách nói cách viết phù hợp nhất. Nếu đối tượng là người phương tây, Bác có cách viết rất “Tây”, sâu xa, châm biếm, hài hước, ý nhị…Với nhân dân Việt Nam, Bác lại nói và viết rất giản dị, Mộc mạc, nhiều khi có vần, có đối như ca dao tục ngữ rất quen thuộc với số đông mọi người. Với những nhà tri thức uyên bác, Người lại bàn về những lời răn dạy của các bậc tiên hiền, bàn về những vấn đề sâu sắc của khoa học, của thơ ca và nghệ thuật…

Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể xướng hoạ thơ đường với các vị khoa bảng hay với các đồng chí Trung Quốc nhưng khi nói, khi viết cho đồng bào chưa có điều kiện học nhiều chữ, Người không dùng bất cứ một từ ngữ khó hiểu nào…Chân biếm kẻ thù thì sâu cay “như những ngon roi quất mạnh vào mặt bọn chúa tể ở pháp và các nơi khác…Đối với các đồng chí cán bộ đảng viên, bác lại hài hước nhắc nhở nhẹ nhàng bằng những hình ảnh quen thuộc để mọi người nhớ mãi như nhắc nhở mọi người tiết kiệm mà lẫn lôn chữ nghĩa để tiết kiệm biến thành tiết canh…

Người làm tiếng Việt thêm phong phú

Đồng chí Trường Chinh nhận xét: “Hồ Chủ Tịch nói tiếng nói của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, Nhiều từ ngữ dân gian được bác đưa vào ngôn ngữ của mình rất tự nhiên, hợp lý, sãng tạo… “Người còn làm giàu thêm cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc bằng nhiều từ mới, từ rút ngắn như Vùng trời, Giặc đói, giặc dốt…

Nhà báo nổi tiếng U.Bơcset lại nhận xét: “nét điển hình ở Hồ Chí Minh là chỉ với một vài từ hoặc một vài hình ảnh, Người có thể trình bầy được những vấn đề phức tạp”. Hình ảnh đoàn quân đội viễn chinh Pháp bị nhốt váo đáy mũ của Người minh hoạ cho cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ lúc nên đến đỉnh cao là một ví dụ rõ nét nhất…

Một nhà báo, nhà sử học Pháp còn phát hiện: “Hồ Chí Minh đã gạch tất cả những công thức tiêu cực để thay bàng những công thức tiêu cực cùng nghĩa. Người không đồng ý câu tôi viết trong đề cương là: Không có chủ nghĩa xã hội thì các dân tộc không thể đi đến giải phóng hoàn toàn, mà đề nghị sửa lại là: Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể đảm bảo cho các dân tộc giải phóng hoàn toàn”.

Sự phong phú trong cách thể hiện của Bác Hồ khi nói và viết làm chúng ta nhận ra những đặc trưng trong cách nói, cách viết Hồ Chí Minh. Đó là:

– Chân thực. Mỗi bài nói, bài viết của Bác Hồ đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét, kiểm tra, chọn lọc. Bao giờ Người cũng đem lại cho người đọc, người nghe lượng thông tin cao và chính xác. Chính tính chân thực đã làm nên sức thuyết phục cao của những bài nói, bài viết của người đối với người nghe, người đọc. Chân thực cũng là yêu cầu đầu tiên của Bác Hồ đặt ra đối với cán bộ, đảng viên khi nói, khi viết. Bác thường nhắc nhở: “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra”; không nên nói ẩu”; “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói chớ viết”…

– Ngắn gọn là một đặc trưng rất nổi bật trong cách nói, cách viết Hồ Chí Minh, “ngắn gọn có nghĩa là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn”. Ngắn gọn trong cách nói cách viết Hồ Chí Minh là cô đọng, hàm súc, ý nhiều lời ít, không có lời thừa, chữ thừa. Đặc tính ngắn gọn, hàm súc trong các bài nói, bài viết của Bác Hồ là sự kế thừa và phát triển phong cách phương Đông. Đó cũng là kết quả công phu rèn luyện của Bác từ những ngày đầu tham gia hoạt động chính trị, tham gia làm báo cách mạng.Người nhiều lần phê bình nhắc nhở cán bộ về mặt ba hoa, viết vừa dài vừa rỗng. Người thường khuyên cán bộ nói viết đều phải ngắn gọn, thiết thực, đi thẳng vào vấn đề. Nói dài, viết dài và sáo rỗng đều hoàn toàn xa lạ với phong cách Hồ Chí Minh.

– Trong sáng, giản dị, dễ hiểu. Toàn bộ các bài nói, bài viết của Bác Hồ đều rất trong sáng về ý tưởng và văn phong, giản dị trong cách trình bầy và dễ hiểu với người nghe, người đọc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi người bằng những ngôn từ quen thuộc – dù đó là những vấn đề của cuộc sống chiến đấu, lao động hàng ngày hay những vấn đề lớn của đất nước, của thời đại.

Muốn nói, muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu, theo Bác Hồ, trước hết phải học cách nói của quần chúng. Phải thực sự học quần chúng để có cách nói, cách viết được quần chúng chấp nhận như những gì của chính họ. Bác Hồ phê phán rất gay gắt những cán bộ đem “thặng dư giá trị” ra nhồi sọ cho ba con nông dân; có cán bộ đem “tân dân chủ nghĩa” ra giáo dục các em nhi đồng; mang “biện chứng pháp” ra nói với anh em công nhân đang học chữ quốc ngữ…(!). Trong cách nói cách viết của mình, bác thường giản dị hoá mọi vấn đề khó hiểu mà không phải là sự đơn giản tầm thường, Sự giản dị, trong sáng của Người bắt đầu từ sự hiểu biết thấu đáo bản chất của sự vật, từ sự gắn bó với truyền thống dân tộc trong nếp cảm, nếp nghĩ…

Để viết và nói được trong sáng giản dị, dễ hiểu, Bác Hồ còn chỉ ra rằng phải chống lại căn bệnh hay nói chữ, ham dùng chữ, bệnh sính dùng chữ nước ngoài nào đã quen thuộc, đã “hoá thành chữ ta” mà không dùng thì không đúng. Bác Hồ đã nêu ví dụ: ta nói độc lập chư không nói đứng một, nói du kích chứ không nói đánh chơi.. Còn đối với bệnh lạm dụng chữ nước ngoài thì dù dùng đúng cũng đã có hại, nếu dùng sai theo kiểu dốt hay nói chữ thì cái hại lại càng to….

Sinh thời Bác Hồ đã căn dặn chúng ta nhiều điều khi học viết, học nói. Văn không chỉ là văn. Văn cũng chính là người. Học nói, học viết cũng là từng bước hoàn thiện những phẩm giá của mình.

hungvuong.edu.vn