Archive | Tháng Một 2012

100 năm ngày Bác Hồ tới Pháp

Nước Pháp là nơi Bác Hồ đặt chân đến đầu tiên trong hành trình tìm đường cứu nước.

>> Cảng Sài Gòn và những sự kiện lịch sử
>> Theo dấu chân Bác Hồ ở Ai Cập

Lễ kỷ niệm 100 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nước Pháp, trên hành trình tìm đường cứu nước, diễn ra mới đây tại Pháp. Chương trình do Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp phối hợp với lãnh đạo thành phố Choisy-le-Roi (Pháp) tổ chức.

Người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị Hòa bình Versailles năm 1919, tổ chức tại Pháp. (Ảnh tư liệu)

Ngày 5/6/1911, từ Bến Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp, trên chiếc tàu buôn Đô đốc atouche-Tréville, mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây.

Ngày 6/7/1911, sau hơn 1 tháng, tàu cập cảng Marseilles, Pháp. Sau khi ở Mỹ một năm (từ cuối năm 1912 đến cuối năm1913), Nguyễn Tất Thành quay trở lại nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn. Cuối năm 1917, Người trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923.

Tại Pháp, từ năm 1921-1923, Bác đã sống và chiến đấu vì quyền độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam và các dân tộc bị áp bức.

Ngày 18/6/1919, thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Người đã mang tới Hội nghị Hòa bình Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Namgồm 8 điểm kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lý tưởng của Tổng thống Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á. Bản yêu sách được trao tận tay tổng thống Pháp và các đoàn đại biểu đến dự hội nghị.

Năm 1920, Người đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin, từ đó Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn đi theo chủ nghĩa cộng sản.

Cũng tại Pháp, Người tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours (từ 25 đến 30/12/1920) với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp và trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và tách khỏi đảng Xã hội.

Năm 1921, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale – Association des indigènes de toutes les colonies) nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa đế quốc.

Năm 1922, người cùng một số nhà cách mạng thuộc địa lập ra báo Le Paria (Người cùng khổ), làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhằm tố cáo chính sách đàn áp, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng. Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp bằng tiếng Pháp (Procès de la colonisation française) do Nguyễn Ái Quốc viết được xuất bản năm 1925, đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa…

Cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ gắn liền với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, mà còn ảnh hưởng tới nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chính vì lẽ đó, Lễ kỷ niệm không chỉ có ý nghĩa đối với người Việt Nam trên toàn thế giới, mà còn với nhiều bạn bè quốc tế. Cũng tại Lễ kỷ niệm, Trung Tâm văn hóa Việt Nam tại Pháp đã giới thiệu và trưng bày bộ phim tài liệu Hồ Chí Minh, chân dung một con người và những bức ảnh tư liệu đen trắng quý giá về quãng thời gian hoạt động cách mạng tại Pháp của Người.

Vũ Bình

baodatviet.vn

Hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên poster điện ảnh

Hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là nguồn cảm hứng dào dạt cho các nghệ sĩ Việt Nam sáng tạo nên những tác phẩm xuất sắc trên nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau, trong đó có cả điện ảnh.

>> ‘Hồ Chí Minh – Nhà chiến lược thiên tài’
>> Nữ giáo sư Việt ở Canada viết sách về Bác Hồ
>> Cả cuộc đời Người sống vì dân
>> Triển lãm những tác phẩm độc đáo về Bác Hồ 

Những tác phẩm điện ảnh về Bác Hồ có thể chia ra làm hai giai đoạn: Giai đoạn tìm đường đi cho dân tộc Việt Nam, từ 1911 đến 1945 và giai đoạn lãnh đạo đất nước đấu tranh chống thực dân đế quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ 1946 đến 1969.

Bằng các tác phẩm của mình, các nhà làm phim đã ghi lại những hình ảnh chân thực nhất về hoạt động của Bác trong giai đoạn 1911-1945, trong các bộ phim tài liệu như: Ngày độc lập 2/9/1945; Vài hình ảnh về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch; Nguyễn Ái Quốc đến với Lê Nin; Bác Hồ ở Việt Bắc; Đường về Tổ quốc… 

Đồng thời, hàng loạt những phim truyện phản ánh cuộc đời và con người của Bác trong giai đoạn này được ra đời như: Vượt qua bến Thượng Hải, Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Koong, Hẹn gặp lại Sài Gòn, Nhìn ra biển cả…

Hình ảnh Bác trong giai đoạn 1946 – 1969 cũng được tái hiện trong rất nhiều tác phẩm điện ảnh, đặc biệt là thể loại phim tài liệu, thời sự như Bác Hồ ở Việt Bắc; Bác Hồ sống mãi trong lòng miền Nam; Thiếu nhi trong Phủ Chủ tịch… Những tác phẩm đó đã thể hiện được hình ảnh của một lãnh tụ vĩ đại nhưng lại rất dung dị, đời thường. Bác thân thương, gần gũi như một người cha trong mỗi gia đình, đồng thời cũng là một người bạn đầy tin cậy của bạn bè quốc tế.

Dưới đây là hình ảnh Bác trong một số áp phích điện ảnh Việt Nam, Đất Việt ghi lại tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội:

Phim tài liệu Vài hình ảnh về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minhdo Quốc doanh phát hành phim và chiếu bóng Việt Nam phát hành năm 1960.

Phim tài liệu Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Xưởng phim Thời sự Tài liệu Trung ương sản xuất năm 1975.

Phim tài liệu Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh, Xưởng phim tài liệu thời sự Trung ương sản xuất năm 1976.

Phim tài liệu lịch sử đặc biệt Nguyển Ái Quốc đến với Lê Nin, Xí nghiệp Phim thời sự, tài liệu Trung ương Việt Nam sản xuất năm 1979 với sự giúp đỡ của các cơ quan điện ảnh, nghiên cứu, lưu trữ trực thuộc BCH Trung ương ĐCS Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô.

Phim tài liệu Đường về Tổ quốc do Xí nghiệp Phim thời sự, tài liệu Trung ương Việt Nam sản xuất năm 1980.

Phim truyện Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Hãng phim Hội nhà văn Việt Nam hợp tác với Hãng phim Châu Giang (Trung Quốc) sản xuất năm 2003.

Phim truyện Vượt qua bến Thượng Hải, Hãng phim Hội nhà văn Việt Nam sản xuất năm 2010 với sự tham gia của Công ty cổ phần truyền thông HD (Hồng Kông) và Tập đoàn điện ảnh Hoành Điếm (Trung Quốc).

Hồng Quân

baodatviet.vn

‘Hồ Chí Minh – Nhà chiến lược thiên tài’

Ngày 27/8, tại Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học Hồ Chí Minh – Nhà chiến lược thiên tài.

>> ‘Theo Bác lòng ta trong sáng hơn’
>> Công lao của Người như non cao, biển rộng

Tham dự Hội thảo có nhiều nhà lão thành cách mạng, nhiều vị nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội; nhiều tướng lĩnh, sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội.

Hồ Chí Minh – Nhà chiến lược thiên tài.

Hơn 50 tham luận được trình bày và gửi đến hội thảo đã tập trung làm rõ nổi bật thêm về sự nghiệp cách mạng và hệ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các tham luận đều thống nhất với nhận định: Sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong hơn 80 năm qua gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc; nhà văn hoá kiệt xuất, nhà chiến lược thiên tài của cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của cách mạng Việt Nạm trong hơn 80 năm qua là sự hội tụ, kết tinh của nhiều nhân tố nhưng trước hết và trên hết, đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.

Không chỉ dừng lại ở việc tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người truyền bá chủ nghĩa Mác- Lê Nin vào Việt Nam; trực tiếp thành lập, tổ chức, lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam. Là nhà chiến lược thiên tài của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà quân sự lỗi lạc, người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Quân đội.

Tuyết Trịnh

baodatviet.vn

Công lao của Người như non cao, biển rộng

Phát biểu tại lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, sáng 18/5, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Công lao của Người với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng VN và dẫn dắt dân tộc ta tiến đến tương lai tươi sáng”.

>> Triển lãm những tác phẩm độc đáo về Bác Hồ
>> Cả cuộc đời Người sống vì dân

Tham dự lễ kỷ niệm còn có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng; Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; Chủ tịch Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm… Trước đó, các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ.

Đóng góp to lớn, mang tầm thời đại

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã ôn lại thân thế sự nghiệp và những đóng đóng góp to lớn mang tầm thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng XHCN ở Việt Nam và thế giới.

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc, Tổng bí thư nhấn mạnh, Đảng ta càng phải nắm vững, kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm bổ sung, hoàn thiện, phát triển đường lối của Đảng phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ lịch sử mới. Tổng bí thư cũng nhắc lại những lời căn dặn của Bác về xây dựng, phát huy và chỉnh đốn Đảng: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động chứ không phải mưu cầu cho lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào”; “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, suốt đời làm người con trung thành của Đảng, người đày tớ tận tuỵ của nhân dân”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh – một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc Việt Nam. (Ảnh tư liệu)

Tổng bí thư kêu gọi nêu cao tinh thần đoàn kết trong Đảng và coi đây là hạt nhân của đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc. “Phương pháp đại đoàn kết là phát huy dân chủ, vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương…, lấy thẳng thắn, chân thành để đối xử, lấy tin yêu, giúp đỡ để cảm hoá, trân trọng phát huy nhân tố tích cực, hạn chế, đẩy lùi nhân tố tiêu cực, giúp cho mọi tổ chức và cá nhân đều tiến bộ và trưởng thành, đóng góp có hiệu quả cao vào sự nghiệp cách mạng chung”, Tổng bí thư nói.

Biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc

Tổng bí thư nêu rõ, trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và phổ biến rộng rãi hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới. Phát huy kết quả của cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh kết hợp với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và gắn liền với cải cách hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, nâng cao ý thức phục vụ nhân dân.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam nhắc lại: Năm 1987, Đại hội đồng UNESCO đã thông qua nghị quyết khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn của Việt Nam nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Theo bà Katherine Muller Marin, trong ngày hôm nay, không chỉ ở Việt Nam mà nhiều người trên khắp thế giới kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi Người  được coi là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và nhân dân Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Giao lưu các nhân chứng lịch sử từng gặp Bác

Sáng 18/5, TP HCM long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh TP HCM.  Trước đó, đại diện lãnh đạo TP HCM, cán bộ, công nhân viên chức các sở, ngành cùng các đoàn thể, lực lượng vũ trang của thành phố đã đến dâng hương tại tượng đài Bác ở Bến Nhà Rồng. Tại buổi lễ đã diễn ra cuộc giao lưu đầy xúc động giữa các bạn đoàn viên, thanh niên và các nhân chứng lịch sử từng gặp Bác, đó là: Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang Tạ Thị Kiều; ông Trần Trọng Tân; nguyên Trưởng ban Tư tưởng -Văn hóa Trung ương; NSND Trà Giang; bà Phan Thị Quyên (vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi)…

Cũng trong dịp này, Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh TP HCM phối hợp cùng Bảo tàng Cách mạng Việt Nam tổ chức trưng bày hình ảnh, hiện vật chuyên đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà hoạt động quốc tế lỗi lạc, nhà hoạt động ngoại giao xuất sắc. Chuyên đề giới thiệu 200 tư liệu, hình ảnh và trên 50 hiện vật gốc, thể hiện tầm vóc và đóng góp lớn lao của Người trên các lĩnh vực.

Cùng ngày, hơn 500 đại biểu gồm các Mẹ Việt Nam anh hùng, đại diện lực lượng vũ trang, lãnh đạo các sở, ban ngành cùng đoàn viên thanh niên, học sinh và người dân thành phố đã tham dự lễ phát động trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ tại Khu di tích địa đạo Củ Chi.

Cũng trong ngày hôm qua, khắp nơi trên cả nước đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân.

Nhóm PV

baodatviet.vn

Nữ giáo sư Việt ở Canada viết sách về Bác Hồ

Nguyễn Đài Trang, một giáo sư Việt kiều đang giảng dạy tại khoa Khoa học Chính trị của Đại học Toronto (Canada), vừa có buổi giới thiệu cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang tên Hồ Chí Minh – Tâm và Tài của một nhà yêu nước.

>> Theo dấu chân Người…

Buổi giới thiệu sách, diễn ra ngày 12/6 tại thành phố Laval gần Montreal, diễn ra rất đơn giản nhưng trang trọng với khoảng 40 khách mời, chủ yếu là Việt kiều các khu vực lân cận và một số sinh viên Việt Nam. Một đoàn đại biểu của Đại sứ quán Việt Nam tại Canada do Tham tán Văn hóa Đào Ngọc Dinh  dẫn đầu và bà Elizabeth McIninch, biên tập viên nhà xuất bản V- Publisher cùng một số người Canada cũng đến dự.

Mở đầu buổi gặp gỡ, anh Nguyễn Văn Kiệt, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân và Chuyên gia Việt kiều tại Canada, có vài lời giới thiệu tác giả và nhấn mạnh đến ý nghĩa của cuốn sách.

Tác giả còn khá trẻ, khoảng quanh 40 tuổi, đã sang Canada định cư khá lâu nhưng rất rành tiếng Việt và nặng lòng với Việt Nam. Không chỉ hoàn thành cuốn sách dày 150 trang (bản tiếng Anh), bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt với rất nhiều hình ảnh và tư liệu quý giá, chị còn kỳ công chuẩn bị cả một chân dung Bác Hồ để mang đến buổi gặp gỡ.

Tác giả Đài Trang tại buổi giới thiệu sách.

Trong phần giới thiệu về quá trình viết và nội dung cuốn sách, tác giả cho biết có quá nhiều tác giả cả Việt Nam và nước ngoài đã viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng với những quan điểm khác biệt. Mục đích chị viết cuốn sách này nhằm tìm ra một con đường để kết nối quan điểm của cả hai bên.Chính vì vậy, bên cạnh nguồn tư liệu của những tác giả quen thuộc của Việt Nam như Trần Dật Tiên, Nguyễn Đức Đạt, Đặng Xuân Kỳ… tác giả còn sử dụng rộng rãi những tư liệu của các tác giả phương Tây như Mc Namara, Walden Bello, Alice Walker…

Là một giáo sư đại học, cách trình bày của Nguyễn Đài Trang rất khoa học vàhệ thống nên nội dung của cuốn sách khá thuyết phục, khác hẳn với những cuốn sách mang tính chính trị. Tác giả đã chọn một cách tiếp cận độc đáo và thú vị khi bàn về Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Không chỉ dừng ở những phân tích sự kiện và bình luận, tác giả còn tìm hiểu những chiến lược giao tiếp, tư tưởng của Hồ Chí Minh qua tác phẩm Nhật ký trong tù quan điểm của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh thông qua những bài hát phổ biến của thời đó như Tình ca của Hoàng Việt, Cô gái vót chông của Hoàng Hiệp, cũng như tư tưởng phản chiến của nhân dân Mỹ qua những tác phẩm của Bob Dylan.

Đặc biệt, là một giáo sư giảng dạy về bình đẳng giới, tác giả giành một phần riêng để nghiên cứu về công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp Bình đẳng giới ở Việt Nam. Phần nghiên cứu về tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất chi tiết và phong phú.

Sau phần giới thiệu của tác giả là phần giao lưu sôi nổi và xúc động với các vị khách mời. Rất nhiều khách mời cả Việt Nam và Canada đã nêu nhiều câu hỏi thú vị về động cơ viết sách, những đóng góp của tác giả và cả quan điểm của tác giả về quan điểm chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Theo Vietnam+

baodatviet.vn

Theo dấu chân Người…

Hơn 80 năm trôi qua, nhưng tình yêu và lòng tôn kính của bà con kiều bào ở Thái Lan đối với Bác Hồ vẫn dào dạt qua từng kỷ vật, từng câu chuyện và những ký ức không thể nào quên.

>> Kiều bào là máu thịt của Việt Nam
>> Người Việt ở Thái Lan nỗ lực phổ biến tiếng Việt 

Trong những ngày cả nước tưng bừng kỷ niệm 120 năm sinh nhật Bác, nghệ sĩ Bằng Lâm hào hứng chuẩn bị cho chuyến đi Thái Lan để hoàn thành nốt tác phẩm ấp ủ bấy lâu “Theo dấu chân Bác tại Thái Lan”. Chuyện kể bằng ảnh này không chỉ là lời tri ân của ông, mà còn thể hiện tấm lòng của bà con kiều bào tại Thái Lan với Người.

Nguyên vẹn tấm lòng với Bác

Trong hành trình qua 9 tỉnh “Theo dấu chân Bác”, ông Bằng Lâm đã đi được bốn tỉnh với hơn 30 ảnh chọn lọc kỹ càng trong số 60 bức dự kiến sẽ đưa vào triển lãm. Trở về Thái Lan, nghệ sĩ Bằng Lâm cho biết đời sống bà con kiều bào đã thay đổi rất nhiều, nhưng tình cảm đối với Thầu Chín (bí danh của Bác lúc hoạt động tại Thái Lan), người đã mang đến cho bà con kiều bào những bài học đầu tiên về con đường cách mạng Việt Nam, về lòng yêu nước thương nòi vẫn còn nguyên vẹn.

Biết nghệ sĩ Bằng Lâm đang thực hiện tác phẩm bằng ảnh về hành trình của Bác, bà con kiều bào thế hệ thứ ba, thứ tư dù chỉ biết về Bác Hồ qua chuyện kể đã nhiệt tình giúp đỡ. Ông Lâm cho biết “tôi thực sự xúc động khi bà còn đưa mình đi, hỏi han và giúp đỡ mọi vấn đề”.

Ông Suride, một kiều bào hơn 80 tuổi, dù chưa gặp Bác lần nào, nhưng vẫn đích thân lái xe đưa nghệ sĩ Bằng Lâm đi đến những nơi Bác đã từng sống ở tỉnh Nakhon Phanom. “Không chỉ vậy, ông còn chở tôi lên tận Bangkok, tìm đến những ngôi chùa mà Bác từng ở”, ông Lâm kể.

Trở về Nakhon Phanom, trở về bản Mạy (nay là bản Na Chooc), Nakhon Phanom, nơi ông sinh ra và cũng là nơi Bác Hồ từng sống và hoạt động những năm 1928 – 1929 là thời khắc đáng nhớ nhất của nghệ sĩ Bằng Lâm. Đã hơn 80 năm trôi qua kể từ ngày Bác ở Nakhon Phanom, nhưng bà con vẫn trân trọng nâng niu các kỷ vật về Bác, từ hòn gạch lát nhà, chiếc mũ nan đơn sơ hay chiếc chậu, cái bát. Những hình ảnh xúc động này được nghệ sĩ Bằng Lâm lưu trong ống kính của mình với niềm trân trọng.

Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan (giữa) gặp gỡ bà con kiều bào Thái Lan. Ảnh:Trung Kiên

 

Thắp sáng niềm tin

Niềm tự hào sâu sắc của bà con kiều bào về thời kỳ hoạt động của Thầu Chín – Hồ Chí Minh trên đất Thái Lan cũng chính là niềm tự hào của nghệ sĩ Bằng Lâm. Khi được biết Bác Hồ từng sống, làm thuốc cùng với những người thân trong nhà mình, Bằng Lâm xem đây là một vinh dự, một hạnh phúc lớn lao mà không phải ai cũng có được.

Không được biết Bác, nhưng qua lời kể thì hình ảnh chú lang Tín (tên Bác Hồ khi làm trong hiệu thuốc gia đình) với những câu chuyện kể về các anh hùng dân tộc, về nỗi nhục mất nước và lời khuyên nhủ vẫn in sâu trong lòng nghệ sĩ Bằng Lâm. “Theo lời Người, cả bố và hai chú của tôi đều ra chiến trường. Hai người chú đã hy sinh tại chiến trường Lào và Campuchia”.

Ghi lại bằng hình ảnh những nơi Bác từng gắn bó như một khúc sông tại Nakhon Phanom, nơi Người thường ra tắm giặt, có thể nhìn sang cả Lào lẫn dãy Trường Sơn vời vợi chính là tâm nguyện trong chuyến đi sắp tới của ông. Nghệ sĩ Bằng Lâm nhớ lại: “Gia đình vẫn nhớ mãi con người nhã nhặn, chăm lo công việc và được mọi người hết sức yêu quý khi Người từ biệt gia đình”.

Tình yêu đấy vỡ òa khi qua báo chí năm 1945, mọi người biết rằng đó chính là Hồ Chí Minh, người đã nói với ông nội Bằng Lâm rằng “cách mạng nước ta còn nhiều khó khăn gian khổ, nhưng nhất định thành công”, người đã thắp sáng niềm tin cho cả dân tộc lẫn cho bà con kiều bào. Nghệ sĩ Bằng Lâm cũng ấp ủ sẽ vẽ một bức tranh thật lớn, thật xúc động về Bác Hồ với kiều bào.

Năm 1929, Bác Hồ sang Thái Lan, đến bản Mạy và ở gia đình ông bà Hoe Lợi một thời gian. Bác được ông Hoe Lợi (Nguyễn Bằng Cát) bố trí làm việc tại cửa hàngthuốc bắc của gia đình. Bốn người con của ông Hoe Lợi là Sâm, Nhung, Quế, Phụ đã được Bác đặt tên mới là: Cách, Mệnh, Thành, Công và nghệ sĩ Bằng Lâm là con trai của ông Cách.

Hà Anh

baodatviet.vn

Cả cuộc đời Người sống vì dân

“Năm 1956, khi thi đỗ vào Khoa Ngôn ngữ phương Đông (Đại học Bắc Kinh), tôi đã không do dự chọn tiếng Việt để theo học. Lúc đó và sau này, có người hỏi tôi tại sao, tôi trả lời đơn giản rằng, vì Việt Nam có một vị lãnh tụ vĩ đại: Chủ tịch Hồ Chí Minh”…

>> Triển lãm về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan

Đất Việt xin giới thiệu bài viết của Giáo sư Cốc Nguyên Dương, gửi từ Trung Quốc.

Nhận lời mời của Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, tôi đến Hà Nội dự Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay. Đây là một vinh dự và cũng là dịp để hoài niệm trong cuộc đời tôi vốn từ lâu đã gắn bó với Việt Nam.

Ký ức đẹp còn nguyên vẹn

Tôi luôn ước mơ một ngày nào đó có thể gặp được Bác Hồ. Ước mơ đó cuối cùng đã trở thành hiện thực. Năm 1963, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ thăm VN, khi đó tôi đang học nâng cao tiếng Việt tại ĐH Tổng hợp Hà Nội. Đại diện cho lưu học sinh TQ, tôi được tham dự buổi chiêu đãi trọng thể do Đại sứ quán TQ tổ chức để chào đón Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ. Thật hạnh phúc cho tôi, Bác Hồ đã tham dự buổi chiêu đãi hôm đó. Lần đầu tiên, tôi được nhìn thấy Bác Hồ rất gần. Cảm giác đó vẫn vẹn nguyên trong tôi, như đang hiện ra trước mắt tôi ở cuộc sống hiện tại.

Nghiên cứu về VN là khởi điểm trên con đường nghiên cứu khoa học của tôi. Những sự kiện xảy ra khiến tôi không thể nào quên. Hồi thập niên 1960 của thế kỷ trước, tại Đại lễ đường Nhân dân, đông đảo tầng lớp nhân dân dự hội nghị kêu gọi viện trợ cho VN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tôi vinh dự được dịch car- bin cho hội nghị đó. Các vị lãnh đạo Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN và Đoàn thanh niên Lao động VN đã có các cuộc gặp thân mật với lãnh đạo TQ như Chu Ân Lai, Trần Nghị, Đặng Tiểu Bình, Hồ Diệu Bang.

Bác Hồ đi thăm Trung Quốc lúc sinh thời. Ảnh: photobucket.com

Năm 1990, tôi là đại biểu duy nhất của TQ tham dự Hội thảo khoa học quốc tế tại Hà Nội nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ. Thật bất ngờ, sau khi tôi trình bày bài phát biểu tại hội nghị ở hội trường Ba Đình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên hàng ghế chủ tịch đã đến ôm chặt tôi. Năm sau, trong thời gian diễn ra Hội thảo quốc tế về Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Calcutta (Ấn Độ), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân gặp tôi tại khách sạn, và nói rằng “giữa VN và TQ từng xảy ra những sự kiện không vui. Nhưng sự việc đó giống như đám mây đen trên trời, gió thổi đi thì trời xanh lại hiện ra”.

Năm 1992, sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, đoàn đại biểu Viện KHXH VN do đồng chí Nguyễn Duy Quý dẫn đầu sang thăm TQ. Cục trưởng Cục Ngoại sự, Viện KHXH TQ và tôi đến km số 0 tại cửa khẩu Hữu Nghị Quan đón đoàn VN. Từ đó, lãnh đạo hai viện thường xuyên thăm viếng lẫn nhau, học giả hai nước tổ chức giao lưu học thuật trên nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học và có những đóng góp không thể thay thế cho sự phát triển mối quan hệ hữu nghị Trung-Việt.

Tư tưởng Hồ Chí Minh sáng mãi

Biến là vĩnh hằng, cái bất biến duy nhất của thế giới là biến. Nhưng trong tâm khảm của nhân dân thế giới, hình tượng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người, di sản mà Người để lại cho nhân loại là điều không bao giờ thay đổi, rất đáng để kế thừa và phát huy mãi mãi. Theo tôi, cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nên tập trung vào một số nội dung dưới đây:

Thứ nhất, học tập tinh thần phấn đấu không ngừng của Người cho sự nghiệp chính nghĩa. Suốt đời, Người đã đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Vì mục tiêu này, Người đi khắp bốn phương để tìm chân lý, tìm con đường cứu nước. Vì mục tiêu này, Người không quản bất kỳ khó khăn nào, dũng cảm tiến lên, biểu hiện khí tiết anh hùng cách mạng cao độ.

Thứ hai, học tập phẩm chất cao quý yêu mến nhân dân của Người. Bác Hồ có tình cảm vô cùng nồng hậu đối với nhân dân VN và với nhân dân lao động thế giới. Người luôn luôn quan tâm đến lợi ích của nhân dân, nghĩ những điều dân nghĩ, lo những điều dân lo, hiến dâng cả cuộc đời mình cho nhân dân. Người cư xử khiêm tốn, gần gũi, giữ mối liên hệ thân mật với quần chúng. Uy tín to lớn của Người cũng bắt nguồn từ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân.

Thứ ba, học tập tinh thần “cần, kiệm, liêm, chính” và “chí công vô tư” của Người. Suốt đời Người luôn luôn giữ gìn đạo đức cao đẹp “cần, kiệm, liêm, chính” và “chí công vô tư”, dùng tám chữ đó để giáo dục cán bộ và nhân dân.

Thứ tư, học tập tác phong sinh hoạt giản dị và đức tính cần cù của Người. Trong suốt cuộc đời, Người làm việc cần cù, học tập không mệt mỏi. Chiếc máy chữ nhỏ chính là “trợ thủ” đắc lực của Người. Những việc có thể tự làm được, Người không để người khác giúp. Vì thế, số nhân viên công tác bên Người có thể đếm trên đầu ngón tay.

Năm 2010, Đảng Cộng sản VN kỷ niệm 80 năm ngày thành lập. Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản VN luôn coi độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu và lý tưởng phấn đấu. Điểm nổi bật nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minhchính là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Tôi tin rằng, nhân dân VN nhất định tiếp tục kết hợp chặt chẽ giữa Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn xây dựng CNXH để vững bước tiến lên trên con đường mà Đảng, nhân dân VN đã lựa chọn.

GS Cốc Nguyên Dương sinh năm 1935 tại TP Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh (TQ). Ông từng kinh qua nhiều chức vụ ở Bộ Ngoại giao, Viện KHXH TQ… Từ tháng 12/1993-10/1998, ông là Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế và chính trị thế giới. Từ năm 2005-2008, ông giữ chức Trưởng phòng nghiên cứu phát triển Á-Phi thuộc Trung tâm nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện TQ.

GS Cốc Nguyên Dương (Trung Quốc)

baodatviet.vn

Cảng Sài Gòn và những sự kiện lịch sử

(PL&XH) – Đúng một thế kỷ trước đây (5-6-1911), người anh hùng vĩ đại của Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã rời bến Nhà Rồng (Sài Gòn) ra đi tìm đường cứu nước. Thời gian cả trăm năm đã qua nhưng bến Nhà Rồng vẫn còn in đậm những dấu tích năm xưa.

Để ghi nhớ sự kiện ngày 5-6-1911, Bác Hồ đã xuống tàu từ bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước, sau ngày miền Nam giải phóng, Nhà Rồng được giữ lại làm Di tích lưu niệm 10 năm ngày mất của Người – nơi đây đã mở cửa đón khách tham quan phần trưng bày về “Sự nghiệp tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1945)”. Tiếp đến ngày 2-9-1982, UBND TP Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 236/QĐ-UB thành lập “Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Hình ảnh bến cảng Nhà Rồng xưa và nay

Từ đó đến nay, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Bến Nhà Rồng đã đón tiếp hàng chục triệu lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan. Không những thế, tại đây còn thường xuyên tổ chức những lễ tổ chức kết nạp Đảng, nghe kể chuyện truyền thống, biểu diễn nghệ thuật, ngày hội vui chơi lớn của TP HCM.

Bến Nhà Rồng vốn là trụ sở Cty Tàu biển Năm Sao (còn có tên gọi là Cty Vận tải Hoàng Gia) được xây dựng từ năm 1863 nằm trên ngã ba sông Sài Gòn, đầu tuyến phố Nguyễn Tất Thành ngày nay. Sỡ dĩ người dân Sài Gòn gọi tên là Bến Nhà Rồng bởi vì trên nóc tòa nhà có gắn một đôi rồng lớn bằng đất nung, tráng men xanh quay ra hai bên. Giữa đôi rồng là chiếc phù điêu mang hình “đầu ngựa cùng chiếc mỏ neo” – là biểu tượng của Cty Vận tải Hoàng Gia. Đây là loại kiến trúc kế tiếp giữa kiến trúc truyền thống phương Đông với văn hóa phương Tây lúc đó.

Tại đây, sau khi người ta cho xây thêm cột cờ Thủ Ngữ treo cờ hiệu để tàu thuyền ra vào thuận tiện thì Nhà Rồng còn được gọi là Sở Canh tân tàu biển. Cuối năm 1899, bến tàu mới được Pháp xây cất. Năm 1911, khi người thanh niên yêu nước Việt Nam Nguyễn Tất Thành bước chân đến bến Nhà Rồng để lên con tàu Amiral Latouche Tréville làm phụ bếp thì bến này mới chỉ được lót bằng ván dày đặt trên trụ sắt dọc theo mé sông Sài Gòn. Từ bờ đến bến có cầu rộng khoảng hơn 10m. Cho đến năm 1930, Cty Vận tải Hoàng Gia mới hoàn tất việc bê tông hóa bến cảng. Con đường sát bến cảng được gọi là bến Khánh Hội.

Năm 1955, người ta đã cho tu bổ lại mái ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng khác với tư thế quay đầu ra. Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất (30-4-1975), Nhà Rồng – biểu tượng của cảng Sài Gòn – thuộc Cục đường biển Việt Nam quản lý và toàn bộ kiến trúc cũ xưa của tòa trụ sở thương cảng Nhà Rồng hầu như còn lưu giữ nguyên vẹn cho tới ngày nay.

Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, bọn xâm lược Mỹ, bến Nhà Rồng đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử như các cuộc tấn công của bộ đội Việt Nam vào vùng Khánh Hội hay sự kiện đốt cháy tàu Alee của Pháp cập bến Nhà Rồng đêm 15-10-1945 hay các cuộc bãi công, bãi thị của công nhân hãng tàu tại đây…

Tất cả những ai đến đây dù là khách thập phương hay du khách nước ngoài đều thấy tự hào và cảm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong những dòng nhật ký còn lưu giữ, người ta đã đọc được ở đây rất nhiều cảm xúc thiêng liêng đáng trân trọng – “Bác Hồ không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam mà của cả chúng tôi nữa!” – Đó là những lời cảm nhận sâu sắc của Đoàn đại biểu Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khi đến thăm bảo tàng.

Nhân cách vĩ đại của Bác Hồ khiến hàng triệu trái tim bạn bè thế giới kính phục. Bởi, suốt hành trình bôn ba khắp các xứ người tìm đường giải phóng dân tộc, cuộc đời Bác Hồ là sự hy sinh vô bờ bến – Như lời ông Richard Dixon (người Anh) đã nói: “Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Những thành tựu Người thực hiện là có một không hai. Muốn hiểu rõ nước Việt Nam hôm nay thế nào thì nhất thiết phải nghiên cứu cuộc đời Hồ Chí Minh”.

Một bạn Việt kiều trong đoàn Việt kiều và sinh viên Việt Nam tại Nhật trong những ngày về thăm quê, đã viết: “Dù làm gì, ở đâu tôi cũng không được quên mình là người Việt Nam, là con cháu Bác Hồ. Tôi sẽ cùng bạn bè đem kiến thức góp phần dựng xây quê hương Việt Nam”. Hay trong lần đến bảo tàng, hình ảnh “Viên gạch sưởi ấm” rất đỗi đời thường đã khiến gợi cho bạn Trần Thị Tú Lan (Việt kiều tại Pháp) rất nhiều cảm xúc: “Viên gạch mà Bác Hồ để lại đã dạy tôi bài học về sự cần kiệm, ý chí sáng tạo từ cái nhỏ bé nhất và không bao giờ được xem thường cái gì, bởi nó có thể tạo ra cái bắt đầu thay đổi cho cuộc đời và sự nghiệp của mình! Hình ảnh viên gạch còn giúp tôi hiểu ra rằng, phải sống trọn vẹn với từng ngày, từng tháng, từng năm mình đang có và càng tự hào hơn về dân tộc Việt Nam”. Và, đúng như lời của một người Pháp đã viết nhật ký tại đây là: “Nhân dân Việt Nam phải rất tự hào vì đã có Người”.

Trước ngày lên đường cùng đội “trí thức trẻ tình nguyện” về phục vụ ở tỉnh Sóc Trăng, bạn Nguyễn Huỳnh Chín, sinh viên của một trường đại học tại TP Hồ Chí Minh đã đến đây và tâm niệm: “Thế hệ chúng cháu hôm nay coi Bác là tấm gương vĩ đại để giờ đây sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần”.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, rất nhiều thế hệ, nhiều con người đã nguyện sống xứng đáng, phấn đấu không ngừng để làm theo tấm gương vĩ đại của Người, họ đã đến đây chiêm ngưỡng những gì tại bảo tàng và cũng bày tỏ nguyện vọng của chính họ: Được nhìn tận mắt các tư liệu, hiện vật vô giá của Người, chúng con như đang đi ngược theo chuyến tàu thời gian, như được tiếp thêm động lực học tập, phấn đấu rèn luyện và hành động để xứng đáng là con cháu Bác Hồ… khắc ghi mãi mãi lời Bác dạy: “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do!”. Cả dân tộc Việt Nam luôn tâm nguyện cùng Người suốt chiều dài lịch sử hào hùng để trọn niềm vui: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” của dân tộc Việt Nam.

Trí Hải

phapluatxahoi.vn

Tìm lại cầu tàu nơi Bác Hồ rời cảng Sài Gòn

Đến nay, người ta vẫn cho rằng Hồ Chủ tịch xuống tàu ra đi tìm đường cứu nước từ bến Nhà Rồng. Viện dẫn lý do là: Tuy Bác tìm được chân phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Tréville thuộc hãng Năm Sao.

Nhưng hãng Năm Sao, đương thời không có bến đậu, “nên tàu của hãng Năm Sao phải đậu nhờ bến cảng Nhà Rồng”! Sự thật thì Hồ Chủ tịch không ra đi từ bến Nhà Rồng thuộc quận 4, mà từ cảng Sài Gòn (Port de Saigon) – nơi cầu tàu Nguyễn Huệ (appontement de Charner) ở bên này Sài Gòn thuộc quận 1 ngày nay.

Để giữ kín tung tích, Hồ Chủ tịch đã lấy tên Văn Ba xin làm phụ bếp dưới tàu Amiral Latouche Tréville của hãng chuyên chở Chargeurs Réunis (ta gọi là hãng Năm Sao, vì trên ống khói tàu có vẽ 5 ngôi sao). Anh Ba tới xin việc tại trụ sở hãng ở lầu một Café La Rotonde tại số 2 Catinat (Đồng Khởi). Anh Ba xuống tàu làm việc ngày 3.6.1911, hai ngày sau, tàu nhổ neo đi Singapore rồi sang Pháp.

Theo tài liệu ghi lại rõ ràng: Tàu Amiral Latouche Tréville từ Hải Phòng vào cập bến Sài Gòn ngày 2.6.1911 có trọng tải 3.572 tấn, với thuyền trưởng Maisen và đoàn thuỷ thủ 69 người. Ngày 3.6.1911, anh Văn Ba xuống tàu làm phụ bếp, ngày 5.6.1911 tàu nhổ neo. Ta hãy tìm xem tàu này cập bến nào khi tới cảng Sài Gòn.

Tàu Amiral Latouche Tréville của Hãng tàu Chargeurs Réunis (hãng Năm Sao) – con tàu đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: S.T

Cảng Sài Gòn hồi 1911 chia làm 2 phần: Quân cảng và thương cảng. Quân cảng dài chừng 600m, kể từ Nhà máy Ba Son tới công trường Mê Linh (khi ấy gọi là Quai Primauguet, nay là một phần đường Tôn Đức Thắng). Thương cảng cũng dài chừng 600m, kể từ công trường Mê Linh tới cầu Khánh Hội (khi ấy gọi là Quai Francis Garnier, nay cũng là một phần đường Tôn Đức Thắng). Bến Nhà Rồng ở bên Khánh Hội, coi như nối tiếp với thương cảng.
Bờ sông bên Khánh Hội từ ranh Nhà Rồng tới cầu Tân Thuận dài trên 1km gọi là bến Tam Hội. Bến đó chưa có cầu tàu, kho hàng và trang bị cần thiết cho việc bốc xếp hàng hóa. Cầu Khánh Hội chưa làm kiên cố để nối đường xe hỏa từ Sài Gòn sang. Như vậy, các tàu lớn viễn dương chưa thể cập bến Tam Hội. Năm 1914, cảng Tam Hội – sau gọi cảng Khánh Hội – mới được khánh thành (đồng thời với chợ Bến Thành mới bây giờ). Do đó, tàu Amiral Latouche Tréville và các tàu khác của hãng Năm Sao tất phải cập bến thương cảng Sài Gòn ở phía quận 1 nay.

Thương cảng hồi 1911 khá tấp nập, trang bị đầy đủ và ở vào đầu mối giao thông rất thuận lợi, chỉ dài 600m mà có tới 6 đại lộ châu đầu vô bến. Thương cảng Sài Gòn khi ấy có 5 cầu tàu (appontement): 3 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Catinat (Đồng Khởi) dành cho các hãng chuyên chở đường sông, 1 cầu tàu lớn ở đầu đường Charner (Nguyễn Huệ) dành cho các tàu lớn chạy viễn dương và 1 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Krantz-Duperré (Hàm Nghi) dành cho hãng tàu người Hoa.

Tình hình này đúng như Brebion đã mô tả thương cảng Sài Gòn hồi 1911: “Trên bến Francis Garnier (nay là một phần đường Tôn Đức Thắng kể từ công trường Mê Linh tới cầu Khánh Hội), phía bờ sông có nhiều loại cầu tàu chiếm chỗ. Một trong số cầu tàu lớn nhất là nơi cập bến các tàu lớn thuộc Hãng Chargeurs Réunis”.

Như vậy, ta có thể khẳng định là tàu Amiral Latouche Tréville trên có anh Văn Ba làm phụ bếp đã cập bến ở cầu tàu lớn nơi đầu đường Nguyễn Huệ. Đây là một vị trí khang trang và khoảng khoát nhất thành phố: Nhìn vào đất liền qua đường Nguyễn Huệ rộng rãi thấy trụ sở Uỷ ban Nhân dân thành phố (nhà Xã Tây cũ với kiến trúc đặc sắc ghi dấu một thời), nhìn sang phía sông thấy ngôi Nhà Rồng đồ sộ với dáng vẻ Âu – Á pha trộn dễ gây ấn tượng (nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh) và sông nước bao la rừng cây bát ngát lan rộng thẳng tới Thái Bình Dương…

Sự ra đi của Bác năm 1911, thực là bức xúc: Bác đã chứng kiến cuộc nổi dạy chống Pháp của Hoàng Hoa Thám vô vọng, phong trào Duy Tân (1901) với Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu bị trấn áp ngay từ đầu, kế hoạch Đông Du (1905-1909) của Phan Bội Châu không được Phan Chu Trinh hoàn toàn tán trợ, Đông kinh nghĩa thục (1907) bị cấm cản, phong trào chống thuế (1908) sôi nổi ở miền Trung cũng bị đàn áp dã man…

Hàng trăm sĩ phu yêu nước phải lãnh những bản án tử hình hay tù đày ra Côn Đảo… Sứ mạng giải phóng quê hương hầu như bế tắc. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã phải ưu tư sâu sắc và mãnh liệt đến mức nào trước khi dấn thân vào một phương hướng khác.

Từ Sài Gòn, Bác ra đi năm 1911, Bác về Pác Bó năm 1941. Năm nay 2011, kỷ niệm 100 năm ngày Bác ra đi và 70 năm ngày Bác trở về. Lúc Bác ra đi mới 21 tuổi.

Ghi nhận chính xác thời điểm và địa điểm khi Bác ra đi, ngõ hầu lập bia kỷ niệm đánh dấu di tích trang trọng để cho hậu thế luôn nhớ tới hành trình cứu quốc vĩ đại của Bác Hồ kính yêu.

Theo LĐO

phapluatxahoi.vn

Theo dấu chân Bác Hồ ở Ai Cập

Những người Việt Nam xa nhà đang tràn đầy xúc động nhớ về quê hương, đất nước với hàng loạt sự kiện như Ngày giải phóng Miền nam, ngày Sinh nhật của Bác và 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911).

>> Những chặng dừng chân lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua ảnh

Nhớ lại cách đây hơn một năm khi vừa bước chân đến Ai cập, nghe kể về việc Bác Hồ từng đặt chân lên đất nước Bắc Phi nhiều huyền thoại này không phải hai lần mà đến ba lần và ước nguyện đi theo dấu chân Bác đã bùng lên trong chúng tôi.

Theo hải trình, Bác Hồ đã rời Cảng Nhà Rồng ngày 5/6/1911 trên con tàu La Touche Treville, đến Singapore ngày 8/6/1911, đến cảng Columbo, Sri Lanka ngày 14/6/1911 và đã đến cảng Port Said, Ai Cập ngày 30/6/1911 ở phía bắc kênh đào Sue. Và thế là không hẹn mà gặp, hàng năm vào dịp kỷ niệm sinh nhật Người, Đại sứ quán ta lại tổ chức thăm Port Said, Kim Tự tháp Sakara…những nơi Bác đã từng đi qua và ghé thăm tại Ai Cập.

Năm nay, kỷ niệm 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước, đoàn chúng tôi gồm các lưu học sinh, đoàn viên thanh niên và các cán bộ nhân viên Đại sứ quán, Thông tấn xã Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam đang công tác tại Ai cập.

Bức ảnh Bác Hồ đến thăm kim tự tháp Sakar năm 1946.

Bầu trời sa mạc đầu mùa hè thường trong xanh, vì sa mạc không bao giờ có mây. Sau hơn nửa ngày đường rong ruổi, vừa tìm đường vừa đi, có lúc tất cả chúng tôi ngồi nghỉ bên đường và hình dung xem 99 năm về trước Bác Hồ kính yêu với hai bàn tay trắng đã sang tận Ai Cập như thế nào và thấy trong lòng chứa chan một tình cảm kính mến sâu lắng lạ kỳ. Con đường dường như đã ngắn lại để chúng tôi chóng được nhìn thấy những nơi Bác đã từng đi qua. Xuất phát từ sáng sớm và khoảng hai giờ chiều chúng tôi đã đến được thành phố Port Said.Thành phố Port Said là nơi có cảng biển lớn cho tàu bè các nước đi qua Kênh đào Sue đến các đại dương  được thành lập năm 1859. Ngày nay, ngoài cảng cho tàu lớn các nước, ở đây còn có cảng Cá và cảng Du lịch. Từ bên này nhìn sang bên kia bờ Kênh đào Sue là những khách sạn, nhà ở, nơi ăn nghỉ cuả các thuỷ thủ khi dừng chân tại đây trước khi đi qua Kênh.

Thành phố được trang điểm một cách sáng sủa với sắc màu tươi mới, với những đường phố sạch sẽ, quang đãng, trang trí đẹp mắt với những sắc màu hiện đại. Thành phố có rất ít dân (so với Thủ đô Cairo 20 triệu dân và thành phố Alexandria bên cạnh có 6 triệu dân …). Nơi đây có khoảng 540.000 người. Người dân ở đây rất hiền hoà và mến khách. Họ chuyên sản xuất, kinh doanh xăng dầu, gạo, bông, đánh bắt thủy sản, làm du lịch, chế biến thực phẩm, thuốc lá, hóa chất, bảo dưỡng tàu thuỷ… Đây cũng là thành phố nghỉ mát vào muà hè.

Nếu bạn đến đây và nói bạn là người Việt Nam, thì người dân điạ phương sẽ mời bạn dùng thử một loại cá mòi Điạ Trung Hải rất thơm ngon và tâm sự với bạn về tình cảm sâu lắng của họ đối với Việt Nam. Phải chăng những trái tim của hai dân tộc từng sống dưới ách thực dân đã từ lâu cùng nhịp đập, nhất là từ ngày 30/6/1911 khi Bác từ Cảng Nhà Rồng qua đây.

Đoàn Việt Nam trên cảng Port Said.

Thật vậy, đứng trên cảng, cạnh người bạn Ai Cập, chúng ta có cảm giác như Bác đang ở đâu đó trên bến cảng xanh biếc và nhộn nhịp này, giúp chúng tôi và những người Ai Cập gần gũi nhau hơn. Tất cả chúng tôi đều bồi hồi xúc động nghĩ về Bác, nhìn ra xa nơi những con tàu đang neo đậu và tưởng nhớ đến Bác, lòng bâng khuâng không nói nên lời. Như có duyên, Bác Hồ đã đi qua Port Said (Ai Cập), đến hai lần trong lịch sử. Lần thứ hai Bác qua đây là năm 1946, khi nhận lời mời thăm chính thức nước Pháp. Bác rời Việt Nam bằng máy bay và ghé thăm các nước: Myanmar, Ấn Độ, Ai Cập và  Angeria, trước khi đến Pháp. Trong chuyến đi này Bác đã có ba ngày ở thăm Ai Cập.Cairo, thành phố nổi tiếng trên bờ Sông Nin, một trong hai con sông dài nhất thế giới. Thành phố được người dân Ai cập gọi là En Ca-hê-ra có nghĩa là Người Chiến thắng, với hai nhánh sông Nin chảy qua, tạo nên không khí mát dịu của mùa hè châu Phi và cảnh lãnh mạn của dòng sông hiền hoà, trong xanh, thoáng đãng. Không một ngôi nhà nào được xây dựng ven sông Nin để giữ lấy môi trường nước sạch – mãi mãi là nguồn gốc của sự sống của con người trên Trái đất. Ngay giữa thủ đô hơn 20 triệu dân này vào ban ngày ta có thể ngồi ngắm những đàn sâm cầm bơi lội, những đàn cò trắng…bay lượn, càng thấy đẹp lạ thường.

Nhưng chúng tôi đều chắc rằng những ngày ấy, đi công tác qua đây, Bác đã không có chút thời gian nào để ngắm cảnh dòng sông, vì biết rằng Bác đã dành thời gian gặp ngỡ người dân Ai Cập, thăm Thành phố cổ, thăm Kim Tự Tháp, Viện Khảo cổ Ai Cập, Thư viện, Thành cổ, Thành phố ma,… và chuẩn bị cho những ngày hội đàm đấu tranh căng thẳng sắp diễn ra ở Paris sau đó, trong cương vị Chủ tịch Nước Việt Nam vừa tuyên bố độc lập.

Đứng trên cầu Tháng Mười, nhìn xuống dòng sông Nin trong xanh, hiền hoà, chúng tôi xúc động nghĩ đến Bác, vị Lãnh tụ thiên tài, người đã lao động không mệt mỏi vì một nước Việt Nam mới, độc lập, thống nhất và thịnh vượng, có quan hệ đối tác tin cậy và chặt chẽ với các cường quốc và các nước bạn bè khắp năm Châu. Phải chăng cũng vì vậy mà ngay từ năm 1958, Bác đã cho đặt cơ quan đại diện Kinh tế của Việt Nam tại Ai Cập.

Nghĩ đến Bác, chúng tôi càng thầy rõ hơn trách nhiệm của mỗi người phải ra sức học tập, lao động tốt để đóng góp phần nhỏ bé của mình xây dựng một nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, có quan hệ thực sự hữu nghị với bạn bè quốc tế.

Sau những chuyến đi này, chúng tôi chẳng những không thấy mệt vì đường sá xa xôi mà thấy mình như khoẻ ra hơn nhiều như được tiếp sức sống mới… Chúng tôi tự nguyện với lòng mình luôn cố gắng học tập, rèn luyện và phấn đấu theo tấm gương Bác.

Đại sứ Phạm Sỹ Tam (Đại sứ quán Việt Nam tại Ai Cập)

baodatviet.vn

Những chặng dừng chân lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua ảnh

(ĐVO) Cách đây đúng 100 năm, vào ngày 5/6/1911, từ Bến Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp trên chiếc tàu buôn mang tên Đô đốc Latouche-Tréville với mong muốn học hỏi tinh hoa và tiến bộ từ các nước phươnèg Tây.

>> Tiết lộ ‘chiêu ngụy trang’ làm ‘bẽ mặt’ tình báo Pháp của Bác Hồ
>> Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 1)
>> Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 2)

Ngày 5/6/1911 đã đánh dấu sự mở màn của một hành trình lịch sử: hành trình tìm đường giải phóng dân tộc của Người. Sau ngày lịch sử ấy, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc  bắt đầu những năm tháng bôn ba tại nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ, làm nhiều công việc khác nhau như cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn…

Giai đoạn đầu tiên của hành trình tìm đường giải phóng dân tộc kéo dài cho đến năm 1923, khi Người đến Liên Xô và mở đầu một chặng đường cách mạng mới tại tại ĐH Phương Đông của Quốc tế Cộng sản.

Dưới đây là hình ảnh những chặng dừng chân lịch sử của Người trong những năm tháng đầu tiên trên con đường cứu nước (tư liệu ghi lại lại tại Bảo tàng Hồ Chí Minh):

Quang cảnh bến cảng Nhà Rồng ở Sài Gòn đầu thế kỷ 20, nơi người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước ngày 5/6/1911.

Tàu Đô đốc Latouche Trèville, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trong những thàng ngày đầu tiên của cuộc hành trình tìm đường cứu nước.

Thị trấn Sainte Adresse ở nước Pháp, nơi Nguyễn Tất Thành lao động trong khoảng thời gian từ cuối năm 1911, đầu năm 1912.

Khách sạn Parker ở thành phố Boston, nước Mỹ, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trong những năm 1912 – 1913.

Một góc thành phố New York, nước Mỹ đầu thế kỷ 20, nơi Nguyễn Tất Thành đã sinh sống một thời gian vào khoảng cuối năm 1912 đến đầu năm 1913.

Khách sạn Carlton ở thủ đô London,nước Anh, nơi Nguyễn Tất Thành làm việc trong thời gian sống ở nước Anh năm 1914.

Nhà số 6 phố Villa Des Gobelins, quận 13, Paris, Pháp, trụ sở của Hội những người Việt Nam yêu nước, nơi Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động từ tháng 7/1919 đến thàng 7/1921.

Ngôi nhà số 9 ngõ Compoint, Paris, nơi Nguyễn Ái Quốc đã sống từ năm 1921 – 1923.

Quốc Lê

baodatviet.vn

‘Chiêu ngụy trang’ làm ‘bẽ mặt’ tình báo Pháp của Bác Hồ

(ĐV) Trên đất Thái Lan những năm cuối thập niên 1920, để tránh sự truy lùng gắt gao của mật thám Pháp, Bác Hồ đã hóa thân vào nhiều “vai” khác nhau, có khi là người gánh gạch, đào giếng, có khi lại khoác lên mình tấm áo cà sa, vào chùa đi tu…

>> Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 1)
>> Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 2)

Hòa mình vào cuộc sống và được bà con kiều bào chở che, đó là bí quyết thành công của Người trong nghệ thuật hoạt động cách mạng bí mật. Điều này các thế hệ người Việt ở Thái Lan vẫn luôn ghi nhớ bằng những kỷ vật thiêng liêng, những câu chuyện cảm động, đủ sức vượt không gian và thời gian.

Ông Ngô Vĩnh Bao bên chiếc phản gỗ và cái ghế Bác Hồ sử dụng lúc ở hiệu thuốc của ông Đặng Văn Cáp.

Cũng đi chân đất, cũng áo nâu sồng…

Thời điểm năm 1927, phong trào chống cộng ở Thái Lan diễn ra khốc liệt. Cảnh sát Thái bắt tất cả những người hoạt động cộng sản của Đông Dương trao lại cho Pháp. Trong bối cảnh đó, tất cả các tổ chức cộng sản đều phải hoạt động bí mật. Tháng 7.1928, trên chiếc tàu thủy Nhật Bản, Bác Hồ đặt chân tới Băng-cốc, trong vai người buôn Hoa kiều với giấy nhập cảnh mang tên Nguyễn Lai. Theo ông Ngô Vĩnh Bao, kiều bào Thái Lan, người đã có hơn 30 năm nghiên cứu về giai đoạn Bác Hồ ở Thái Lan, “thời gian đó, Việt kiều bị cảnh sát Thái khủng bố rất mạnh, còn Hoa kiều ít bị để ý hơn, nên Bác mới đóng vai nhà buôn Hoa kiều”.

Tới Băng-cốc, Bác đã mua vé tàu hỏa đi thẳng tới thị xã Phi-chịt. Bác vào ở một khách sạn, sau đó Bác tìm đến địa điểm liên lạc với Việt kiều ở Thái Lan là hiệu buôn của một Hoa kiều. Tại đây, khi gặp mọi người, Bác giới thiệu tên mình là Thọ, biệt hiệu là Nam Sơn, nhưng bà con kiều bào gọi Bác là Thầu Chín (ông Hoa kiều) vì gọi như vậy sẽ đánh lạc hướng, ít bị cảnh sát Thái và mật thám Pháp chú ý.

Sau cuộc họp ra mắt, Thầu Chín nhanh chóng hòa mình với kiều bào, cũng đi chân đất, cũng quần áo nâu sồng. Người làm đủ các thứ việc như mọi người, từ làm vườn, trồng cây, đào giếng, gánh gạch, lấy củi, đi cày. Nhận thấy có khả nghi, Bác chỉ ở lại Phi-chịt 10 ngày, rồi đi bộ 15 ngày vượt đường rừng tới U-đon. Đây là địa bàn có nhiều Việt kiều sinh sống, lại tiện đường liên lạc với các tỉnh giáp sông Mê-công. Tại đây, có lúc Bác đóng vai người thợ xây, có khi là người gánh gạch, thợ mộc.

Những nơi Bác Hồ từng đặt chân đến trên đất Thái Lan. (chụp lại từ kho tư liệu của ông Ngô Vĩnh Bao)

“Một lần, khi Bác trong vai người gách gạch để xây chùa Vắt-phô-thi-xổm-phon, bọn mật thám đánh hơi thấy và cho quân đến bao vây ngôi chùa này. Nhưng vị sư cả của chùa không cho vào, vì ông cho rằng ở đây không có người xấu, chỉ có người theo Đức Phật. Không ai có quyền vào đây khám xét. Nên bọn chúng không vào được chùa và không bắt được Bác”, ông Bao kể.

“Hầu như gia đình nào trong cộng đồng người Việt tại Thái Lan cũng thờ ảnh Bác ở nơi trang trọng nhất. Hình ảnh Bác luôn sống mãi trong lòng các thế hệ bà con kiều bào Thái Lan”, ông Ngô Vĩnh Bao khẳng định.

Cuốn “Cuộc hành trình của Bác Hồ trên đất Thái Lan” của tác giả Trần Đương còn kể, trong chuyến công tác của Bác Hồ và ông Thuyến tới Bản Mẹt. Chưa đến nơi thì trời tối, đường vắng vẻ, vùng này lại nổi tiếng là lắm cướp; nên khi một người to lớn, trông dữ tợn xuất hiện, hỏi lơ lớ giọng Hoa kiều, Bác đã nhanh trí trả lời bằng tiếng Hoa: “Chúng tôi đi kiếm việc làm ăn”. Người đàn ông Hoa kiều không nghi ngờ gì, bèn mời Bác và ông Thuyến vào nhà.

Và 4 tháng khoác áo cà sa

Ở U-đon một thời gian, cuối năm 1928, Người đi Sa-con Na-khon. Tại đây, Bác ở nhà ông Đặng Văn Cáp, đó là một hiệu thuốc bắc. Chính thời kỳ này, Bác được học một số bài thuốc chữa bệnh. Nên ngoài việc tuyên truyền hoạt động cách mạng, xây dựng tổ chức Việt kiều lớn mạnh, để che mắt mật thám, Người đóng vai thầy lang, cũng khám bệnh và bốc thuốc. Thời gian ở Sa-con, Bác làm mọi việc; từ gánh nước, gặt hái, xẻ gỗ làm nhà, huấn luyện giảng dạy, đến khăn gói tay nải đi buôn, tập đi xe đạp, tập cưỡi ngựa, Bác hòa nhập vào cuộc sống như một người dân bản địa.

Ông Ngô Vĩnh Bao và tấm ảnh Bác Hồ trong vai nhà sư.

Trước việc các tổ chức Việt kiều lớn mạnh rõ rệt, bọn mật thám bắt đầu nghi ngờ Nguyễn Ái Quốc có mặt trên đất Xiêm. Chúng cho bọn tay sai bám riết Người, song Bác vẫn an toàn vì nhờ có quần chúng bảo vệ, làm tai mắt, khi có động là báo cho Bác kịp thời lẩn tránh. Hơn nữa, Người luôn đề cao cảnh giác, giữ bí mật nghiêm ngặt, hóa trang mau lẹ.

Suốt thời gian hoạt động cách mạng trên đất Thái Lan, Na-chok (Bản Mạy) là nơi Bác ở lâu hơn cả. Khi mới về Bản Mạy, Bác ở nhà cụ Nguyên Bằng Cát (tức Hoe Lợi), một người hoạt động tích của Hội thanh niên cách mạng ở tỉnh Na-khon Pha-nôm. Lúc đó, gia đình cụ Hoe lợi cũng không biết Bác là ai, chỉ biết đó là người hoạt động cách mạng. Để hợp pháp hóa, Bác được bố trí làm phụ việc trong cửa hàng thuốc bắc của gia đình cụ Hoe Lợi với tên “Chú lang Tín”.

Khoảng tháng 7.1929, Bác quay lại Băng-cốc. Người ẩn danh đi tu tại một ngôi chùa Việt có tên Thái là Lô-ca-nu-khó. 4 tháng xuống tóc, khoác áo cà sa, ăn chay niệm Phật. Cứ mỗi sớm Bác Hồ cùng các vị sư chính trong vùng đi khất thực. Chuyện kể rằng có lần dọc đường từ Na-khon Pha-nôm xuống Mục-đa-hán, một tốp cảnh sát Anh và cảnh sát Thái đang truy bắt Nguyễn Ái Quốc theo đề nghị của cảnh sát Pháp. Khi gặp các sư đi khất thực, tốp cảnh sát ấy không hề biết Nguyễn Ái Quốc cũng là một nhà sư, nên chắp tay cúi chào “sư phụ” theo luật tục người Thái. Bác đã thoát hiểm trong gang tấc. Hôm sau, Người cùng một số đồng chí băng núi vượt rừng trở lại Quảng Châu (Trung Quốc). Mặc dù thời gian hoạt động của Bác ở Thái không dài, nhưng Bác rất quan tâm đến đời sống không chỉ của bà con kiều bào mà cả người Thái, giúp đỡ họ chữa bệnh, phòng bệnh sốt rét… nên đi đâu Bác cũng được mọi người yêu mến, kính trọng.

Kim Thoa

baodatviet.vn