Archive | Tháng Một 2012

Bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao

Trong những ngày này, những ngày kỷ niệm mùa thu cách mạng – Tháng Tám 1945, nghĩ về tất cả những gì mà cuộc cách mạng mang lại, chúng ta càng nhớ Bác nhiều hơn. Nhớ những ngày đất nước ngàn cân treo sợi tóc khi thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai, khi những thành quả to lớn vừa giành được sau Cách mạng Tháng Tám bị đe dọa, toàn dân theo lời kêu gọi của Người: Phải vùng lên, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có súng, gươm thì dùng giáo, mác, gậy gộc, cuốc, thuổng. Ai cũng ra sức đánh thực dân. Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ.

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) của Hồ Chủ tịch thôi thúc cả nước đứng lên đánh đuổi ngoại xâm. Biết bao thanh niên các làng quê Bắc Bộ rời mái ấm gia đình lên đường Nam tiến, biết bao chiến sĩ đã kiên cường chiến đấu bám trụ đánh địch trong từng góc phố, con hẻm. Không ít chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch để ngăn chặn bước tiến của chúng, tạo thời gian chiến lược cho cơ quan Đảng, Nhà nước và nhân dân sơ tán, chuẩn bị cho một giai đoạn chiến đấu mới. Họ hóa thân vào đất nước để sống mãi cùng Tổ quốc bất tử.

Trong những ngày tháng ấy, vận mệnh của dân tộc đè nặng lên đôi vai gầy yếu của Người. Bộ óc thiên tài ấy đang phải căng ra để giải quyết khối lượng công việc khổng lồ cho cuộc kháng chiến trường kỳ: Chúng ta sẽ đánh địch như thế nào? Xây dựng lực lượng ra sao? Làm sao để giảm bớt tổn thất về tính mạng và tài sản cho nhân dân? Hàng loạt những bài toán được đặt ra đòi hỏi Người phải nhanh chóng giải quyết. Bận trăm công nghìn việc là thế mà Bác vẫn nghĩ đến và chia sẻ sự hy sinh mất con của Bác sĩ Vũ Đình Tụng.

Đó là bức thư huyết lệ cho thấy tình thương của Bác lúc nào cũng “đong đầy” cho tất cả được ghi theo lời kể của Bác sĩ Vũ Đình Tụng (1).

“Bác sĩ Vũ Ðình Tụng (1895-1973) là một trí thức công giáo yêu nước, có cảm tình với cách mạng và giàu lòng nhân ái. Ông là một trong những bác sĩ đầu ngành về ngoại khoa của y học Việt Nam. Hồi ức lại những ngày đầu sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh phát lệnh toàn quốc kháng chiến vài hôm, ông kể:
Cả ngày hôm ấy, tháng Chạp năm 1946, tôi đã phải mổ cưa gắp đạn và khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ nhưng đến trường hợp con tôi, thần kinh tôi căng lên một cách kinh khủng.

Mấy y tá giúp việc khuyên tôi nên nghỉ tay, nhưng tôi vẫn cố kìm mình để giữ bình tĩnh, gắp mảnh đạn cuối cùng trong thân thể con. Xong việc, tôi loạng choạng rời khỏi bàn mổ.

Các bác sĩ và những người giúp việc đã cố gắng hết sức nhưng vết thương do quân thù gây ra quá nặng đã cướp mất Thành, con trai út của tôi, một chiến sĩ “sao vuông” còn rất trẻ. Anh của Thành, Vũ Đình Tín, tự vệ chiến đấu cũng vừa bị mất sau ngày Tổng khởi nghĩa, tôi đau đớn đến bàng hoàng.

Một buổi chiều trời rét cắt da, sau đêm Nô-en, vào lúc tôi vừa mổ xong một ca thương binh nhẹ thì Bác sĩ Trần Duy Hưng (lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ) trân trọng trao cho tôi một bức thiếp của Hồ Chủ tịch. Tôi cảm động lắm.

Mới đầu, tôi cứ ngỡ là một mệnh lệnh của Người. Nhưng thật không ngờ, đó lại là một bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao của Bác chia sẻ với mất mát của gia đình tôi. Khi đó, Bác gọi tôi là “Ngài”.

Người viết:
“Thưa Ngài, tôi được báo cáo rằng: Con giai Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.
Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước – Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, tinh thần họ luôn luôn sống với non sông Việt Nam. Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây, chắc Ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài và gửi Ngài lời chào thân ái và quyết thắng.
Tháng 1-1947
Hồ Chí Minh”

Đọc xong bức thư, tôi thấy bàng hoàng. Bác bận trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình đang có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác.

Tôi thấy nỗi đau thương và sự hy sinh của gia đình mình trở nên nhỏ bé trong tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác đối với cả dân tộc.

Sau đó, tôi theo Bác lên Việt Bắc – căn cứ thần thánh của cách mạng Việt Nam. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, tôi đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh Xã hội của nước Việt Nam mới”.

Bác vĩ đại đến nhường nào thì cũng bình dị nhường ấy. Tình thương của Người bao la, gần gũi, thân thương đối với mỗi gia đình Việt Nam. Cả cuộc đời Bác vì nước, vì dân không có điều kiện dành cho hạnh phúc riêng. Không có gia đình riêng, nhưng Bác có “Nước Việt Nam là gia đình” chung, có “tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu”. Cuộc chiến tranh mà bọn xâm lược gây ra đã cướp đi biết bao đứa con thân yêu của những người cha, người mẹ, triệu triệu con cháu của Bác Hồ. Máu của các anh hòa vào dòng sông, con suối, di hài các anh hoá vào đất nước, quê hương. Đằng sau nụ cười ngày chiến thắng là những dòng nước mắt chảy vào trong, là nỗi “đau đớn đến bàng hoàng” của những người cha, người mẹ mất con như Bác sĩ Vũ Đình Tụng, là nỗi đau như “đứt một đoạn ruột” của người cha già kính yêu.

Bác luôn là biểu tượng mẫu mực biến đau thương thành hành động cách mạng. Người khuyên bác sĩ Vũ Đình Tụng “thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà”. Đó là cách tri ân, sự đền đáp xứng đáng nhất của những người đang sống, đang chiến đấu với những người đã mất để linh hồn các anh “trên trời cũng bằng lòng và sung sướng”. Với Người, nước mắt là “lò luyện” cho “thép cách mạng” vững vàng hơn, mạnh mẽ hơn.

Bác không những là người đại diện cho ý chí kiên cường sắt thép của một dân tộc quật cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước mà còn là một người cha gần gũi với mỗi gia đình Việt Nam. Người không chỉ là chủ nhân của những “mệnh lệnh”, những quyết định lịch sử mà còn là tác giả của những “bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao… chia sẻ với mất mát của gia đình” các thương binh, liệt sĩ. Những lá thư chứa đầy “tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả” của người đứng đầu Chính phủ làm vơi đi nỗi đau của những gia đình như gia đình Bác sĩ Vũ Đình Tụng. Bác đã để lại cho chúng ta bài học quý về ý nghĩa, giá trị to lớn của tình thương yêu.

Với chúng tôi, những người cán bộ đoàn luôn mang trong mình niềm tự hào được làm “đội hậu bị” của Đảng, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là sống “quên mình cho tất cả”. Học theo Bác, học tình thương yêu vô vàn và sự hy sinh cao cả, học sự quan tâm đến mọi người của Bác, chúng tôi nhận thấy phải thật sự quan tâm đến tâm tư tình cảm, đến đời sống vật chất và tinh thần của đoàn viên thanh niên, dùng tấm lòng mà đối xử với tấm lòng. Chúng tôi luôn quan niệm phải hết mình, hết sức cho công việc, luôn “thân thiện – trách nhiệm” trong quan hệ với đồng chí, đồng nghiệp và quần chúng nhân dân, nguyện lấy đó làm phương châm sống, học tập, công tác. Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là hành trang quý báu cho mỗi chúng ta trong quá trình rèn đức, luyện tài, góp phần xứng đáng đưa đất nước thành công trong hội nhập, vươn đến đỉnh vinh quang.
—–
(1) Trích trong cuốn “Tuổi trẻ Việt Nam làm theo lời Bác” do NXB Thanh Niên, 5-2007.

Nguyễn Thị Hưng Giang, Nguyễn Phương An
Đảng ủy khối Doanh nghiệp tỉnh An Giang

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên

Màu xanh thanh niên tình nguyện

Trong Di chúc trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên là hệ thống nhận thức tư duy, quan điểm lý luận của người về những vấn đề quan trọng: Nhìn nhận, đánh giá vai trò, vị trí của thanh niên trong tiến trình lịch sử qua các thời kỳ cách mạng; đường lối nội dung bồi dưỡng, giáo dục – đào tạo thanh niên thành lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; nhiệm vụ công tác thanh niên của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đội dự bị tin cậy của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định tiềm năng, vai trò, vị trí to lớn của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, luôn tin tưởng và nhìn nhận thanh niên theo quan điểm phát triển. Ngay từ khi đất nước còn trong đêm đen nô lệ, Người đã nêu tư tưởng: Thức tỉnh thanh niên để đi đến thức tỉnh dân tộc. Vào những năm đầu khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”, “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên”(1). Người cho rằng sự phát triển trong tương lai của đất nước và tiền đồ vẻ vang của dân tộc nằm trong tay thanh thiếu nhi. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Thanh niên “phải tham gia ý kiến vào công việc của chính phủ, chiến đấu giữ lấy nền độc lập và tự rèn luyện từ bây giờ để sau này lên thay những thủ lĩnh mà gánh vác những việc trọng đại của nước nhà”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ vai trò của thanh niên trên cả hai bình diện xã hội và mối quan hệ kết nối quá khứ với tương lai không thể tách rời nhau: “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”(3). Vai trò này vô cùng quan trọng quyết định vận mệnh của dân tộc và của giai cấp công nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin và mong đợi ở thanh niên. Người đưa ra dự báo hết sức đúng đắn mà nay đã trở thành hiện thực: “Với một thế hệ thanh niên hăng hái kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận thanh niên theo quan điểm phát triển và toàn diện. Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải tránh thái độ thành kiến, hẹp hòi, bảo thủ, cô độc đối với thanh niên. Bởi theo người, thanh niên sống trong điều kiện mới tất yếu có những nhu cầu, lợi ích khác với cha, anh họ, không nên xem xét thanh niên một cách cứng nhắc, trước sao nay vậy. Người nói: cần phải đi sâu vào đời sống, hiểu rõ tâm lý của thanh niên và giúp đỡ họ giải quyết vấn đề một cách thiết thực.

Trên cơ sở nhìn nhận vai trò quyết định của thanh niên đối với sự nghiệp cách mạng và tương lai của dân tộc, đất nước, Người đã dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác thanh niên. Chính người đã sáng lập, rèn luyện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhà nước đề ra các chính sách thanh niên phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, đặc biệt là về mặt giáo dục, đào tạo. Công tác thanh niên mà cơ bản là đào tạo, giáo dục, phát huy thanh niên theo Người là quá trình tác động đồng bộ của các chủ thể từ gia đình, đoàn thể, xã hội cho đến các cấp ủy đảng và chính quyèn. Người đưa ra luận điểm nổi tiếng: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(5). Trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại cho Đảng và dân tộc, Bác còn căn dặn: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Nội dung bao quát của công tác thanh niên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình thành “lớp người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên”. “Hồng” theo tư tưởng của Người là “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất”(6); còn “chuyên” là trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và quân sự.

Để thực hiện nội dung và mục đích của công tác thanh niên không có cách nào khác là giáo dục và tổ chức thanh niên. Vấn đề quan trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu là phải tổ chức thanh niên thành lực lượng chính trị hùng hậu chung quanh Đảng. Tổ chức tập hợp thanh niên là điều kiện để giáo dục và ngược lại phải tiến hành đào tạo, giáo dục thanh niên qua tổ chức. Phải kiên trì xây dựng một tổ chức thanh niên cộng sản làm cánh tay và đội hậu bị của Đảng.

Tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II (1956), Người dạy: “Đoàn là cánh tay đắc lực của Đảng để thực hiện những chủ trương, chính sách cách mạng”(7), Người còn căn dặn: “Phải củng cố tổ chức Đoàn, phải đoàn kết nội bộ thật chặt chẽ và phải đoàn kết rộng rãi các tầng lớp thanh niên”(8). Theo Người, củng cố tổ chức đoàn là điều kiện tiên quyết để mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên. Nhưng muốn củng cố tổ chức đoàn thì trước hết phải “đoàn kết nội bộ thật chặt chẽ” để thống nhất ý chí và hành động trong nội bộ đoàn, làm cho tổ chức đoàn thật sự là tổ chức của những thanh niên tiên tiến, có lý tưởng cách mạng và phấn đấu kiên định vì lý tưởng đó. Tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Người chỉ rõ: “Đoàn thanh niên lao động – phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức và giáo dục các thế hệ thanh niên, nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(9). Đây là một chức năng hết sức quan trọng của tổ chức đoàn với tư cách là một tổ chức quần chúng gần Đảng nhất mà trong Điều lệ Đảng từ trước đến nay đều ghi rõ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn phải ra sức đoàn kết, tập hợp thanh niên thành một mặt trận rộng lớn. Theo Người, đoàn kết tập hợp thanh niên là mặt công tác lớn, một nhiệm vụ rất quan trọng của Đoàn. Người yêu cầu tổ chức đoàn phải nghiên cứu tìm ra những hình thức và phương pháp thích hợp để đoàn kết và tổ chức thanh niên một cách rộng rãi và vững chắc. Các hình thức và phương pháp đó vừa thu hút rộng rãi thanh niên tham gia nhưng phải được định hướng vững chắc, nghĩa là có mục tiêu phấn đấu rõ ràng, có tính ổn định và triển vọng phát triển. Theo Người, muốn củng cố và phát triển Đoàn phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với các tầng lớp thanh niên. Phải quan tâm đến đời sống công tác, học tập của thanh niên và tất cả đoàn viên phải gương mẫu. Trong công tác xây dựng đoàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lưu ý về việc phải phát triển đoàn viên về số lượng đồng thời phải coi trọng việc nâng cao chất lượng. Người dạy: Tổ chức Đoàn phải rộng hơn Đảng… cố nhiên khi kết nạp đoàn viên cần phải lựa chọn cẩn trọng những thanh niên tốt.

Là người sáng lập và rèn luyện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bác Hồ luôn chú trọng vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên và công tác đoàn. Người căn dặn: “Chi bộ phải chăm lo xây dựng Đoàn thanh niên cho thật tốt”, đồng thời: “Trung ương và các cấp đảng bộ địa phương phải chăm sóc hơn nữa đến công tác thanh niên” trong đó vấn đề quan trọng là chăm lo công tác xây dựng đoàn để “phát huy tác dụng tiên phong của Đoàn về mọi mặt”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn rất coi trọng vai trò của nhà nước trong công tác thanh niên. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người đã chỉ thị thành lập Bộ Thanh niên rồi Nha Thanh niên trong chính phủ để chăm lo công tác thanh niên. Người căn dặn công tác thanh niên “phải liên hệ với các lực lượng của chính phủ”. Điều này có nghĩa là muốn đưa công tác thanh niên đạt đến kết quả như mong muốn, trước hết Đảng cần tăng cường sự lãnh đạo và tổ chức sự phối hợp giữa nhiều lực lượng trong đó Chính phủ.

Như vậy, Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên là sự tổng kết lý luận và thực tiễn được nâng lên tầm cao qua các thời kỳ cách mạng, đang và sẽ tiếp tục dẫn dắt chúng ta trên con đường xây dựng, tổ chức thanh niên thành lực lượng cách mạng, phát huy mọi tiềm năng to lớn của thanh niên vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; vì hạnh phúc, tương lai tương sáng của tuổi trẻ.

—————-

(1) Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, HN, 1980, tr.82, 84.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, 1995, HN, tr.29.
(3), (4) Hồ Chí Minh, Sđd, tr.315, 375.
(5) Hồ Chí Minh tuyển tập, tập II, Nxb Sự thật, 1980, tr.129.
(6), (7), (8), (9) Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, HN, 1980, tr.28, 165, 166.

Lê Văn Ri
Trung tâm Thanh thiếu niên miền Trung Số 226 Huỳnh Thúc Kháng,
TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

xaydungdang.org.vn

Để Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó tư tưởng Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân là một nội dung có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền.

Đảng ta là đảng cầm quyền, cán bộ, đảng viên là những người nắm giữ nhiều cương vị chủ chốt trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đó là điều kiện thuận lợi để họ đem khả năng của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng. Nhưng nếu Đảng không thường xuyên quan tâm giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên thì dễ dẫn đến nguy cơ quan liêu, xa rời quần chúng, đặc quyền đặc lợi, thoái hoá biến chất về đạo đức, lối sống. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thường xuyên quan tâm rèn luyện đạo đức cách mạng, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(1).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Người lãnh đạo và người đày tớ luôn thống nhất với nhau trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Là người lãnh đạo, mọi đường lối, chính sách của Đảng phải thực sự đúng đắn, cách mạng và khoa học, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thực sự dẫn đường chỉ lối cho nhân dân hành động. Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực sự tiên phong, gương mẫu đi trước nhân dân, nói đi đôi với làm. Người cũng chỉ rõ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(2). Theo Người, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có cái tâm, cái đức, cái trí. Đảng chỉ thực sự làm tròn vai trò người lãnh đạo khi Đảng luôn tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, danh dự của dân tộc, đạo đức, văn minh của toàn xã hội. Đảng phải là người lãnh đạo sáng suốt của nhân dân, không “theo đuôi” quần chúng.

Đảng là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, đây chính là điểm phát triển sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với học thuyết Mác – Lênin về xây dựng Đảng ở Việt Nam. Tư tưởng này chỉ đạo xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác. Khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã theo đuổi mục đích cao cả là đấu tranh giải phóng đồng bào khỏi đoạ đày, đau khổ. Khi trở thành lãnh tụ của Đảng, của cách mạng, Người luôn phấn đấu để cho đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Khi phải từ biệt thế giới này, Người vẫn còn nuối tiếc là không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân.

Quan điểm Đảng là người đày tớ thật trung thành của nhân dân nói lên mục đích hoạt động của Đảng là phục vụ nhân dân, chứ không nhằm mục đích nào khác. Đảng phải thường xuyên lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải hướng vào phục vụ lợi ích của nhân dân, phấn đấu vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đảng phải chăm lo đến đời sống hàng ngày, thậm chí quan tâm tới cả tương, cà, mắm, muối của nhân dân. Người cho rằng: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hóa, chính trị của nhân dân”(3).

Trong tình hình hiện nay, khi mà “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn đẩy lùi, mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”(4), ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân thì tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân càng có ý nghĩa sâu sắc. Tư tưởng ấy tiếp tục định hướng, soi sáng để Đảng ta đổi mới công tác quần chúng trong tình hình mới nhằm góp phần đưa mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân lên một tầm cao mới, làm cho ý Đảng phù hợp với lòng dân. Để Đảng làm tròn vai trò vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, theo chúng tôi cần phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, đạo đức, danh dự của dân tộc và thời đại.

Hai là, Đảng đề ra đường lối, chính sách đúng đắn, sáng tạo, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân.

Ba là, mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng cần xây dựng tác phong quần chúng, phương pháp công tác phù hợp, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân để tiến hành sự nghiệp cách mạng.

Bốn là, xây dựng đội ngũ đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, thực sự tiền phong, gương mẫu trước nhân dân, nói đi đôi với làm, không quan liêu, tham nhũng.

Đã 42 năm kể từ ngày Bác đi xa, nhưng những lời Người dạy năm xưa vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng ta cần phải phấn đấu để vừa là người lãnh đạo giỏi, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

—————————-

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2002, tr.510. (2) Sđd, tập 5, tr.552. (3) Sđd, tập 5, tr.250. (4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, tr.173.

Phạm Văn Phong
Trường Đại học Chính trị

xaydungdang.org.vn

Lao động là vàng mười

Bà dời quê về ở với con trai tại Việt Trì đã 5 năm nay. Dân phố gọi bà là bà Tứ Xã. Bọn trẻ gọi bà là nàng ong chăm chỉ, vì suốt ngày bà hí húi tăng gia ở những vạt đất hoang quanh phố. Chẳng lúc nào bà chịu ngơi chân, ngơi tay. Con trai bà thấy mẹ sẳm hẳm rau cỏ ở những nơi xó xỉnh ấy, can: “Nhà mình có thiếu nữa đâu, mẹ đừng chỗ nào cũng rau với cỏ nữa. Vỡ vạc làm gì cho người ta cười”. Bà bảo: “Cậu thấy ai cười, cậu đưa mẹ đến xem người nào cười mẹ”. Thực ra chả ai cười bà. Là anh không muốn mẹ tham việc mãi thế. Anh muốn mẹ cuối đời được an nhàn, hưởng chút đền đáp của cháu con.

Một chiều, mấy ông cán bộ hưu đi bộ gặp bà lọ mọ kéo những bó cành cọ lượt thượt cả cẫng lẫn tàu. Đống cành cọ ấy được đội chỉnh trang đô thị tấp bỏ từng đống bên đại lộ. Ông bạc tóc hỏi bà lấy làm gì những thứ ấy. Bà bảo xin về rào vườn trồng rau. Ông đùa: “Hết tuổi lao động rồi thì nghỉ ngơi, tranh hết việc của con cháu, chúng nó lấy đâu ra cơ hội để phụng dưỡng cánh già”. Bà quệt mồ hôi đáp. “Lao động là đống vàng mười/Ai chăm thì có, ai lười thì không”. Bà nói: Cụ Hồ dạy thế, người Việt Nam ta ai cũng học Cụ, tất tật chẳng chừa ai, cả cán bộ lẫn người dân. Bà đối đáp bằng thơ, lại là thơ của Cụ Hồ, làm mấy ông cán bộ hưu không khỏi bất ngờ. Bà già tham việc này còn khoẻ mạnh và minh mẫn lắm!

Bà là Nguyễn Thị Vấn, 75 tuổi, phố Tân Xuân, Tân Dân, Việt Trì, là hội viên người cao tuổi của phường. Phố Tân Xuân của bà vừa được công nhận danh hiệu khu dân cư văn hoá cấp tỉnh.

Bà goá chồng năm hăm bảy tuổi, một tay nuôi ba con nhỏ và một mẹ già. Chồng bà nhập ngũ năm 1959, tái ngũ 1964, hy sinh 1966 tại chiến trường Kon Tum. Khi ấy cậu con trai út của bà mới 2 tuổi. Người vợ liệt sỹ này đã viết bài thơ dặn dò cháu con vào năm mừng thọ 70 tuổi: “Năm 66, hai bảy tuổi bố con hy sinh/Mẹ già con dại một mình mẹ lo/Tắt đèn tối lửa khôn đo/Hai sương một nắng thấm cho nỗi này/…/Gian truân mẹ cũng không sờn/Cầu mong con được lớn khôn bằng người/Các con cố gắng giữ gìn/Để cho có được niềm tin với Người”…

Thời đánh Mỹ, mọi người làm việc bằng hai. Người vợ liệt sỹ là bà làm việc bằng ba. Ngày đi làm việc hợp tác, đêm đánh nhủi, đánh riu. Nước ngâm đến cổ, rét cứng hàm răng. Suốt đêm riu tép, sáng ra lại theo kẻng ra đồng. Tôm tép đánh được phần ăn, phần để, phần làm mắm, phơi khô, trữ đầy chum, đầy vại. Tháng ba ngày tám, rau già cá hết, lại ngược lên Tuyên Quang bán, đổi. Rồi từ mạn ngược, bà Vấn lại đem măng, nấm, thịt lợn đổi từ tôm tép xuôi về bán ở chợ quê. Hai sọt hàng, cái xe đạp lạch cạch theo người suốt những năm đói khổ. Hết cua ốc lại buôn tôm bán cá khắp nẻo chợ Vầy, chợ Máy, chợ Dòng, chợ Mè… Vừa đồng áng, vừa chạy chợ. Việc gì bà cũng làm, miễn là có cái nuôi mẹ, nuôi con và đóng góp chung vào cuộc chiến tranh. Trong những năm tháng tham gia làm việc của hợp tác, bà luôn tích cực, chủ động và không nề hà một việc gì được phân công. Bà luôn hoàn thành và hoàn thành tốt, đạt công điểm cao. Và chưa bao giờ bà không tham gia đóng góp công sức hay của cải khi mà chính quyền kêu gọi ủng hộ tiền tuyến miền Nam… Khi được hỏi, nghị lực đâu để bà vừa hoàn thành việc công, vừa chăm lo, nuôi dạy các con? Bà tâm sự: Ngày đó, tôi coi Bác Hồ là chỗ dựa, là tấm gương để học tập. Và Cụ Hồ đã truyền cho tôi nghị lực để vươn lên trong cuộc sống.

Còn hôm nay, bà Vấn vẫn cất cho mình cuốn sách “Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2007. Bà đọc kỹ, đánh dấu và gạch chân nhiều lời dạy của Bác. Có lời dạy về tuổi già, về lao động, về tiết kiệm. “Chống xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay, chống lười biếng xa xỉ, chống sinh hoạt uỷ mị, chống kiêu ngạo giả dối khoe khoang… Xưa nay những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không… Tuổi tác càng cao lòng yêu nước càng lớn”…Những lời dạy ấy thật thấm thía, thật hợp với bà. Bởi vậy, bà chẳng ngồi không và cũng không chịu ngồi không suốt một đời người.

Với bà, cuốn sách về đạo đức Bác Hồ thật quý. Bà đọc rồi phô tô thành 25 cuốn, gửi tặng người thân, tặng các chi hội người cao tuổi ở quê Tứ Xã. Bà giữ lại một cuốn, thỉnh thoảng lại giở ra đọc đi đọc lại. Bà thuộc nhiều mẩu chuyện về Bác Hồ. Bà kể cho nhiều người nghe mẩu chuyện Bác Hồ giao ước thi đua trồng rau cải với các chú cán bộ ở Phủ Chủ tịch. Mấy chú trồng cải củ, nặng cân, tưởng thắng Bác. Bác trồng cải canh, cải bẹ, bóc được nhiều đợt, cân được nhiều lần, nhập cho nhà bếp cộng lại được nhiều cân hơn. Bác thắng cuộc. Bác chỉ bảo mọi người cách tính toán, tưới tắm từng loại rau. Bác bận việc nước nhưng lại tỉ mỉ, tinh tường cả những việc tưởng như bé mọn.

Bà Vấn sợ ngồi không, đóng cửa im ỉm, tự nhốt mình trong nhà suốt ngày sẽ sinh ốm. Được ra vườn cuốc xới, trồng rau, bà thấy khoẻ ra. Lao động là liều thuốc bổ cho sức khoẻ. Trồng rau, có rau sạch ăn yên tâm hơn, lại có cái đem ra chợ bán, có thêm tiền. Mỗi phiên chợ rau, bà kiếm được dăm ba chục ngàn đồng. Mấy năm liền bà cóp được vài ba chục triệu tiền rau. Bà thưởng tiền cho các cháu học giỏi. Bà đóng góp vào các quỹ từ thiện của khu phố và để dành cho con cháu, đợi đến lúc chúng lấy vợ, lấy chồng sẽ có quà tặng.

Bà Vấn có các con dâu, rể phương trưởng, thành danh dư dật, tất cả đã xe hơi nhà lầu. Con trai bà làm giám đốc một ngân hàng cấp huyện. Bà vẫn chắt chiu, chịu khó như ngày nào, vẫn luôn tay luôn chân rau cỏ bên những vạt đất thừa thẹo bỏ hoang dọc phố. Bà sống thanh thản, vui khoẻ tuổi già, chăm lao động đến tận cuối đời. Bà tự coi mình như người có trên tay cả đống vàng mười; lao động là hạnh phúc và người già vẫn lao động là tiếp tục đóng góp cho xã hội, cho sự phát triển của đất nước.

Cao Văn Định

Ảnh: Hà Hữu Nết
Chánh Văn phòng Hội Văn học Nghệ thuật Lâm Đồng

xaydungdang.org.vn

Dựng tượng Bác nơi biển đảo

 – Tàu chạm cầu cảng dài xây dựng từ thủa xa xưa, mọi người reo lên rằng đã tới Cô Tô (huyện đảo của tỉnh Quảng Ninh). Gạt lại heo hút, sóng gió người đến bước vào thế giới yên bình nơi phố đảo.

Huyện Đảo Cô Tô xa đất liền, sinh thời Bác Hồ đã đến thăm đảo và trò chuyện, người bảo trồng khoai, làm muối. Lúc ấy có cán bộ địa phương xin dựng tượng Bác để người dân trên đảo luôn gần với Bác và đất liền”.

Cuộc sống yên bình tại huyện đảo Cô Tô

Mãi sau này tái hiện lại quá trình Bác ở đảo, hình thành nên Khu di tích Bác Hồ. Người Cô Tô có một sự tự hào đặc biệt với nơi đây. Ai đến, đi đều một lẽ dặn dò: Nhớ ra thắp hương ở Khu di tích Bác Hồ. Có bác mới có Cô Tô ngày hôm nay…

Ở khu di tích ngày nay còn lưu giữ những dòng chữ: “Nơi đây 8 giờ ngày 9/5/1961, chiếc trực thăng đưa bác Hồ đến thăm đảo Cô Tô, hạ cánh. Bác Hồ bước xuống, tươi cười vẫy tay chào cán bộ, bộ đội, nhân dân trên đảo vui mừng đón bác”.

Lịch sử của Cô Tô cũng được ghi thêm bằng sự biến động của các cư dân sống tại nơi này. Trước năm 1978, quần đảo Cô Tô – Thanh Lân là vùng đảo sầm uất, dân số đông. Thế nhưng sau đó đảo thưa dần người…

Đảng và nhà nước kêu gọi kêu gọi nhân dân ở Thái Bình, Nam Định ra xây dựng vùng kinh tế mới ở đây.

Ông Nghĩa cho biết: Cuộc sống nơi đây đã tốt hơn rất nhiều

“Tàu của nhà nước đưa chúng tôi đến đảo, khi tất cả mọi người xuống khỏi tàu thì ai cũng mệt nhoài. Có nhiều người gục ngã vì mỏi mệt… lúc ấy trên đảo chỉ toàn cỏ tranh, không có đường đi, nước mắt của một số chị em phụ nữ lăn dài vì nghĩ đến những ngày bắt đầu lập nghiệp nhọc nhằn ở đảo”, bà Nguyễn Thị Mơ (67 tuổi) một trong những người đến đảo sớm chia sẻ về những ngày đầu tiên ở đây.

Để có can đảm, ông Nghĩa, bà Mơ đã tự nhủ rằng “Không sinh ra ở đây nhưng có lẽ sẽ chết ở nơi này”, họ cần cù nhẫn nại: “Ban đầu chúng tôi phải cấu từng ngọn rau dại, mò cua, bắt ngao để lấy thức ăn theo bữa”.

Thế nhưng những ngày sống khổ đã qua từ lâu, đàn bà cần cù vỡ hoang từng thước đất, đàn ông chăm chỉ đi biển… Sức người biến thành cơm ăn, áo mặc và cuộc sống dần đổi thay ở huyện đảo này. Huyện đảo có nhà tầng, người trong nhà dùng máy giặt, tủ lạnh… đời sống sung túc dần lên.

Xa cách đất liền nhưng nhờ có truyền hình cáp, đời sống tinh thần của người ở Cô Tô đã khác.

Cách trở về mặt giao thông được kéo lại gần, vài năm về trước hàng tuần mới có 1 chuyến tàu ra đảo, nay thì đã khác 1 ngày có ít nhất 2 chuyến tàu. Những người quê xa, ra vùng đất mới lập nghiệp trở về thăm quê cũng tiện lợi hơn nhiều. Đời cha mẹ, đến đời con cái tiếp tục sinh sống ở nơi đây.

Cùng với sự đổi thay về cuộc sống, những câu chuyện bi hài, khốn khổ về nghèo đói, bệnh tật cũng khuất dần: “Ngày xưa khi phụ nữ trên đảo đi đẻ, vì điều kiện đường xá và bệnh viện khó khăn nên đẻ rơi cả ở đường, con đẻ ra dính toàn đất cát… Thế nhưng nay đã khác, bệnh viện khang trang, đường xá thuận tiện, đi đẻ đỡ khổ đi nhiều”, bà Mơ vui vẻ chia sẻ.

Nhân kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ ra thăm đảo Cô Tô đoàn công tác của Tổng công ty VTC, trao tặng 6 tháng thuê bao truyền hình số vệ tinh VTC SD cho 1.400 hộ dân tại huyện đảo Cô Tô với trị giá 560.000.000đ.

Đây là một phần của chính sách quan tâm đưa thông tin đến vùng sâu, vùng xa để kịp thời trong việc tuyên truyền pháp luật, chủ chương của Đảng và nhà nước của Tổng công ty VTC.

Có dịch vụ này, người dân ở huyện đảo Cô Tô được xem 32 kênh truyền hình mới với chất lượng tốt như VTV4, VTC1, HBO, Movistar…

T. Phan

vietnamnet.vn

Muốn truyền xúc động khi làm phim về Bác

Đạo diễn Lê Đức Tiến đã trào nước mắt khi viết lời bình bộ phim tài liệu 40 năm thực hiện di chúc Bác Hồ. Ông và đoàn làm phim muốn truyền nỗi xúc động ấy tới khán giả. Nhân dịp 6 tập đầu tiên của dự án phim tài liệu 25 tập này lên sóng VTV từ 30/8 đến 4/9, Đất Việt có cuộc trao đổi với Tổng đạo diễn Lê Đức Tiến, đồng thời là đạo diễn tập một: Bác Hồ viết di chúc.

– Hãng phim truyện Việt Nam đã vượt qua những khó khăn nào để thực hiện một loạt phim công phu và phạm vi đề cập rộng như vậy?

– Các tập phim gặp khó khăn nhất, theo chúng tôi, là phần liên quan tới Bác trong thời điểm từ 1965 đến 1969, khi Bác mất. Chẳng hạn, chúng ta không có hình ảnh về Bác Hồ viết di chúc. Bác đề trên di chúc là “Tuyệt đối bí mật”, không muốn nhiều người biết.

Ảnh về Bác thì có nhiều hơn, nhưng điện ảnh cần những hình ảnh động, nên chúng tôi phải tìm nhiều cách khác nhau để thể hiện những nội dung cần thiết. Ngoài ra trong 25 tập phim, tư liệu chủ yếu ở những tập đầu tiên, khi nói về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Còn những tập sau phải tổ chức quay mới ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương trong nước và cả ở nước ngoài.

Tỷ lệ tư liệu sử dụng cũng sẽ ít hơn. Tuy nhiên, đoàn làm phim chúng tôi rất may mắn được ghi hình bản gốc 10 trang di chúc của Người đang được lưu trữ tại Văn phòng Trung ương Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh

– Trong quá trình làm phim, cũng là một quá trình tìm hiểu về Bác, ông có những cảm nhận như thế nào?

– Tôi nhớ đã xúc động trào nước mắt khi viết những dòng lời bình về Bác. Đây là đoạn lời bình có sự biên tập chỉnh lý của nhà văn Nguyễn Quang Thiều: “Di chúc thiêng liêng, lời thề của toàn dân tộc từ 40 năm qua vang trên quảng trường lịch sử, truyền qua bao thế hệ Việt Nam cho tới ngày hôm nay. Những lời di chúc ấy giản dị nhưng làm chúng ta ứa lệ và làm trái tim chúng ta ngập tràn yêu thương và đức tin bất diệt. Mỗi khi những lời di chúc ấy vang lên, chúng ta lại thấy Tổ quốc linh thiêng hiện ra và tương lai rực sáng. Và chúng ta có đủ lý do và sức mạnh để sống, để lao động sáng tạo và hy sinh cho sự sống của con người trên mặt đất này mỗi ngày một tốt đẹp hơn”.

Bà má miền Nam đẫm lệ chống nạng ra dự lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ảnh : Trong triển lãm Ký ức Hà Nội của nghệ sĩ Hữu Cấy.

Bên cạnh đó, khi làm tập một, Bác Hồ viết di chúc, tôi tới nhà sàn, nơi Bác đã sống và làm việc. Tôi rất xúc động và có cảm giác hơi ấm của Bác vẫn đâu đây qua những vật dụng đơn sơ Người sử dụng. Chúng tôi ghi những hình ảnh nhà sàn Bác Hồ, cố gắng truyền tới người xem những nỗi niềm xúc động đó.

Từ khi tôi chuẩn bị dự án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, tôi bắt đầu trực tiếp tìm hiểu những tư liệu về cuộc đời hoạt động của Bác, mà sau này, đạo diễn Nguyễn Khắc Lợi đã thực hiện. Càng tìm hiểu về Bác, tôi càng thấy nể phục và kính yêu Bác.

– Phim có đội ngũ đạo diễn tới hơn 10 người, làm thế nào để tạo ra mạch thống nhất cho 25 tập phim?

– Mỗi tác giả tập phim có những phong cách riêng, tạo nên sự phong phú trong ngôn ngữ thể hiện, nhất là với loại hình phim tài liệu, mà hiện tại còn chưa thật hấp dẫn với phần đông công chúng. Nội dung từng tập phim được xác định rõ ràng, cụ thể.

Dung lượng giữa sử dụng tư liệu và quay mới cũng được cân đối theo tỷ lệ nhất định. Giọng đọc, lời bình cũng vậy: có giọng nam, giọng nữ, giọng Hà Nội, giọng Sài Gòn. Công tác chủ yếu của Tổng biên tập và Tổng đạo diễn là “ép” các tác giả theo đúng nội dung chủ đề đã được ấn định trong từng tập phim, rà soát tước bỏ những gì trùng lặp và gợi ý về phương thức thể hiện sao cho hấp dẫn hơn. Ngoài ra Tổng đạo diễn cũng trực tiếp sửa chữa những sai sót (nếu có) của tập phim nhằm nâng cao tính tư tưởng và thẩm mỹ.

Tổng đạo diễn phim tài liệu 40 năm thực hiện di chúc Bác Hồ, đạo diễn Lê Đức Tiến

– Các nhà sử học có vai trò ra sao trong quá trình soạn thảo đề cương và kịch bản bộ phim này, thưa ông?

– Đây là bộ phim tài liệu nghệ thuật chính luận. Những người soạn thảo kịch bản hầu hết trên dưới 50 tuổi, nên đều có những hiểu biết về lịch sử cách chúng ta không xa.

Ngoài ra tính lịch sử trong dự án phim chỉ là một trong những yêu cầu đặt ra, bên cạnh tính tư tưởng, triết học, tính nghệ thuật, tính đảng, tính nhân dân v.v… GS -TSKH Phùng Hữu Phú, Trưởng ban chỉ đạo dự án phim cũng là nhà sử học, đã có những góp ý thiết thực về nội dung và chủ đề phim.

Đề cương và kịch bản phim có sự tham gia thẩm định và tư vấn của các chuyên gia về Hồ Chí Minh như GS. Trần Thành, GS. Đặng Xuân Kỳ, cũng như nhiều nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh khác.

 “Bộ phim có những tư liệu mới. Chẳng hạn tư liệu mà đoàn làm phim quay tại Mỹ là hoàn toàn mới. Đặc biệt, trong đó có đoạn về ca sĩ Peter Seeger, một ca sĩ nổi tiếng của Mỹ, coi Bác Hồ như một người thầy và đã sáng tác bài hát Người thầy giáo Bác Hồ. Tìm nhân vật này hết sức khó khăn, phải qua rất nhiều người Mỹ khác mới tìm được, bởi ông đã 90 tuổi, sống ẩn dật trong một khu rừng”.

(Đạo diễn Vương Đức, Giám đốc Hãng phim truyện Việt Nam, đồng thời là đạo diễn tập 2 và tập 16 trong dự án.)

Ngọc Nhiên

baodatviet.vn

Bác Hồ với trí thức

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trí thức yêu nước uyên bác. Người đã có quan điểm khoa học, toàn diện, xuyên suốt về trí thức và đã sớm khẳng định vai trò quan trọng của trí thức trong sự nghiệp cách mạng.

>> Di chúc của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng
>> Tài chiêu hiền đãi sĩ của Bác Hồ 

Sinh thời, Người đã nhận định, trí thức Việt Nam là tầng lớp có học thức, kiến thức, hiểu biết và có tinh thần yêu nước nồng nàn và ý thức dân tộc cao. Trí thức Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong lực lượng cách mạng. Người nói: “Không có những trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều. Bởi vì để hoàn thành nhiệm vụ kháng chiến, ngoài việc quân sự, ắt phải phát triển kinh tế, cho nên cần có những người chuyên môn thông thạo về công nghệ và nông nghiệp. Cần phát triển giao thông vận tải cho nên cần có những kỹ sư thông thạo việc đắp đường, bắc cầu. Cần giữ gìn sức khỏe của nhân dân, cho nên cần có thầy thuốc. Cần đào tạo cán bộ cho mọi ngành, cho nên cần có thầy giáo… Vì lẽ đó, trí thức có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Hồ Chí Minh còn khẳng định, trí thức không những là một bộ phận trong lực lượng cách mạng mà “trí thức còn là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế…”. Không có trí thức hợp tác với công nông thì cách mạng không thể thành công và sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam mới sẽ không hoàn thành được. Người nói: “Trí thức không bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức thôi”. Trí thức phục vụ nhân dân bao giờ cũng cần, “kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên chủ nghĩa xã hội càng cần, tiến lên chủ nghĩa cộng sản lại càng cần”.

Bác Hồ với thiếu nhi vùng cao. (Ảnh minh họa: Tư liệu)

Chỉ vài tháng sau khi đất nước giành được độc lập, với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi Nhân tài và kiến quốc, và một năm sau, Người lại ra chỉ thị Tìm người tài đức, trong đó, Người nhấn mạnh: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức”. Người cũng nhận khuyết điểm là không thấy được hết các bậc hiền tài, khiến họ không thể hiến thân phụng sự dân tộc và Người yêu cầu các địa phương phải lập tức điều tra, tìm kiếm “những kẻ hiền năng” “người tài đức” có thể làm những việc ích nước lợi dân để báo cáo Chính phủ.

Trong bối cảnh Chính phủ gặp muôn vàn khó khăn vận mệnh đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, Hồ Chí Minh đã tin tưởng, trao những cương vị quan trọng trong Chính phủ cho trí thức, cả những trí thức đã từng làm việc cho chính quyền cũ và họ đã thực sự bị thuyết phục, bởi lòng yêu thương con người, sự hy sinh vô bờ bến của Người vì một mục đích cao cả là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” .

Nhiều trí thức chỉ gặp Hồ Chí Minh đã bị “chinh phục” hoàn toàn bởi phong thái con người của Bác. Cụ Vũ Đình Hòe đã viết trong Hồi ký :”tôi đã từng nghe bạn bè nói đến Nguyễn Ái Quốc một cách cung kính, nhưng mãi đến Cách mạng tháng Tám thành công mới được giáp mặt với Người tức thì bị chinh phục ngay bởi đôi mắt Hồ Chí Minh”. Viện sĩ Trần Đại Nghĩa nói: “Bác Hồ luôn luôn chăm sóc và hướng dẫn tôi trong hai cuộc kháng chiến, Bác đã cho tôi cái cương vị để có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách có hiệu quả nhất. Bác luôn là hình ảnh thiêng liêng rất gần gũi với tôi. Trong tâm khảm tôi, một bên là ba má và anh chị tôi, còn một bên là Bác Hồ”. Giáo sư Tôn Thất Tùng cũng đã viết những dòng rất xúc động về Bác Hồ: “Công ơn Bác với con thật như trời, như bể. Chính Bác là người đã thay đổi đời con, quyết định cả sự nghiệp khoa học của con. Bác là người cha, người thầy đã tái sinh và dạy dỗ con”…

Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc, trí thức Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho Đảng, cho cách mạng. Có thể kể ra những trí thức làm cách mạng chuyên nghiệp như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai… Những trí thức trong chế độ phong kiến như Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hòe; và nhiều trí thức yêu nước khác như: Trần Đại Nghĩa, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Lương Đình Của, Hoàng Xuân Hãn… Hình ảnh cao đẹp của Hồ Chí Minh đã thực sự lôi cuốn và cảm hóa bất cứ nhà trí thức, nhân sĩ có tâm nào.

Xuất phát điểm của Người chính là lòng yêu nước, là tư tưởng đại đoàn kết dân tộc. Bởi Hồ Chí Minh cho rằng, hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước, vấn đề là biết khơi gợi khuyến khích được lòng yêu nước trong mỗi con người, để họ tự nguyện đóng góp tài sức của mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Dung (Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng)

baodatviet.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua nét vẽ của họa sĩ đương đại

Những hình ảnh về vị lãnh thụ giản dị, gần gũi và thân thương với mọi tầng lớp nhân dân luôn có sức mạnh làm lay động lòng người.

Tại Triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam 2010, những tác phẩm mới nghệ thuật mới nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có dịp ra mắt công chúng. Qua những tác phẩm này, các nghệ sĩ đương đại đã thể hiện nhiều góc nhìn khác nhau, cũng như những tình cảm thiêng liêng hướng về Người.

Từ nhiều thập niên, hình tượng Bác Hồ đã trở thành một nguồn cảm hứng sáng tạo dồi dào, một đề tài lớn cho các nghệ sĩ, để họ cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật giàu tâm huyết. Những tác phẩm ấy khắc họa hình ảnh Bác Hồ như một vị lãnh tụ vĩ đại nhưng hết sức khiêm nhường và giản dị, gần gũi và thân thương với mọi tầng lớp nhân dân.

Đó là những hình ảnh luôn có sức mạnh làm lay động lòng người. Những hình ảnh ấy sẽ còn sống mãi trong trái tim hàng triệu người Việt Nam như một suối nguồn không bao giờ cạn, trong trẻo và êm đềm chảy về tương lai bất chấp những đổi thay của thời cuộc…

Dưới đây là ghi nhận của Đất Việt về một số tác phẩm tiêu biểu tại Triển lãm.

Khung cảnh trong ngôi nhà 48 Hàng Ngang, nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập (từ ngày 28-30/8/1945) được tái hiện trong bức tranh của tác giả Nguyễn Hữu Ngọc.

Hình ảnh Bác chuẩn bị đến mặt trận Bắc Kạn năm 1950 được họa sĩ Đỗ Mạnh Cương thể hiện bằng những khối hình rắn rỏi.

Bức tranh của họa sĩ Lê Anh Vân lấy cảm hứng từ câu thơ “Nhớ người những sáng tinh sương. Ung dung yên ngựa trên đường suối reo” trong bài thơ nổi tiếng Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu.

Bác Hồ ở núi rừng Việt Bắc là mảng đề tài được nhiều họa sĩ khai thác, như bức tranh “Dừng chân giữa rừng” của tác giả Nguyễn Thế Hữu.

Hay bức tranh “Trên đường chiến dịch” của họa sĩ Trần Vũ Hoàng.

Một buổi làm việc của Bác ở chiến khu Việt Bắc được thể bằng chất liệu chì sáp trên giấy trong bức tranh của họa sĩ Trịnh Kim Vinh.

Bác Hồ và thiếu nhi cũng là một mảng đề tài không thể thiếu trong các tác phẩm nghệ thuật về Người. Bức tranh trên có tên “Cháu nào cũng có quà” của họa sĩ Nguyễn Quang Hưng.

Những sắc màu tươi vui trong bức tranh “Bác vui cùng chúng cháu” của họa sĩ Phạm Thị Yên Hòa.

Bức tranh “Hải quân làm theo lời bác” của họa sĩ Uyên Huy, với hình ảnh Bác song hành cùng nỗ lực bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng hải quân Việt Nam.

Trên phương diện quốc tế, Hồ Chí Minh là một trong những con người dại diện cho khát vọng hòa bình của nhân dân thế giới. Đó là thông điệp trong bức tranh của hoạ sĩ Trần Quốc Tuấn.

Chân dung của bác được tái hiện trong tác phẩm điêu khắc “Miền Nam trong trái tim tôi” của tác giả Nguyễn Hồng Phong.

Hồng Quân

baodatviet.vn

‘Bác Hồ là động lực thôi thúc kiều bào cống hiến’

Hình ảnh Bác Hồ, niềm tự hào của tất cả người Việt Nam trong và ngoài nước trước bạn bè thế giới đang là động lực thôi thúc các thế hệ kiều bào thứ 2, thứ 3 nỗ lực cống hiến hơn nữa cho quê hương, đất nước.

>> Bác Hồ trong ký ức của nhà báo Nga
>> Hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên poster điện ảnh

Tham dự buổi tọa đàm kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ đến Pháp hành trình tìm đường cứu nước (1911-2011) và kỷ niệm sinh nhật 121 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2011) tại thủ đô Paris, những kỷ niệm về Người với gia đình tôi lại ùa về.

“Anh Thành yêu nước”

Kỷ niệm nhớ nhất mà ông ngoại tôi, Nguyễn Duyên (Tư Duyên) hay kể lại là hình ảnh một chàng thanh niên tuổi còn rất trẻ, song đã mang nhiều tư tưởng lớn lao và những hoài bão sâu xa. Ông Tư Duyên, khi đó là một thợ ảnh trong nhóm người Việt Nam tham gia phong trào yêu nước đã nhiều lần được gặp Bác Hồ khi Người tham gia hoạt động cách mạng tại Pháp những năm 1917 – 1923 sau khi trở về từ Mỹ, Anh. Lúc bấy giờ, số lượng người Việt tại Pháp tăng vọt lên do hàng ngàn thanh niên được đưa sang phục vụ chiến tranh (từ 1914-1918).

Nhà ông tôi vừa là nơi làm ảnh, vừa là chỗ ăn ở của những người bạn Việt Nam tham gia phong trào ái quốc, trong đó có chí sỹ Phan Chu Trinh. Gặp “anh Thành” (cách ông ngoại tôi gọi Bác Hồ), khi lên Paris, gặp bạn bè Việt Nam trong Hội Đồng bào Thân ái do ông Phan Chu Trinh và ông Phan Văn Trường thành lập, ông đã bị thu hút bởi lòng yêu nước, tinh thần dân tộc sâu đậm của Anh.

Là người làm ảnh chuyên nghiệp lâu năm ở Pháp, ông ngoại tôi thường mời Bác Hồ cùng với ông Phan Văn Trường đến nhà chia sẻ kinh nghiệm làm ảnh và nghệ thuật chụp ảnh cũng như tâm sự nỗi nhớ quê hương. Theo lời kể của ông ngoại, Bác Hồ quý sự cần cù, bản tính ít nói, tình cảm thân thiện của người bạn Tư Duyên với tâm sự “Tôi chỉ biết rửa ảnh và chụp ảnh thôi, nhưng sẽ tích cực giúp đỡ những người hoạt động cách mạng như anh, ông Trinh và ông Trường”.

Với những câu chuyện kể đầy xúc động về Bác Hồ, các thế hệ trong gia đình tôi luôn cảm thấy tự hào và tự nhủ cần phải cố gắng đóng góp nhiều hơn nữa cho quê hương như lời ông ngoại dặn chúng tôi trước lúc ra đi. Những tấm ảnh về Bác hiện đang là kỷ vật luôn được gia đình nâng niu, trân trọng.

Anh Nguyễn Hải Nam, cháu ngoại cụ Tư Duyên về tham dự Xuân Quê hương 2011. Ảnh do anh Nam cung cấp

Tiếp nối truyền thống

Sau khi trở về Hà Nội năm 1929, gia đình chuyển vào Sài Gòn lập nghiệp. Khi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, ông Tư Duyên nhận ra đó chính là người bạn tên Tất Thành hơn 20 năm về trước ở Paris (Pháp). Ngay sau đó, ông đã gửi một bức thư cho gia đình ở Hà Nội mong muốn được gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng nguyện ước không thành khi đất nước tiếp tục bị chia cắt và điều kiện gia đình không cho phép.

Tháng 9/1969, một năm sau khi trở lại Pháp sinh sống, hay tin Bác Hồ mất, ông Tư Duyên lặng người đi khi biết mình không còn cơ hội gặp lại người bạn thân thiết thời thanh niên.

Mặc dù chỉ biết Bác Hồ qua lời kể của cha, chú nhưng hình ảnh và nghị lực của Người đang là động lực thôi thúc những kiều bào thế hệ thứ 3 như tôi bồi đắp tinh thần yêu nước, nỗ lực cống hiến, đóng góp cho công cuộc xây dựng và đổi mới của quê  hương. Cùng với người thân ở Hà Nội, hiện gia đình đang cố gắng liên lạc với các tổ chức nghiên cứu lịch sử ở Pháp và Việt Nam, để tìm thêm thông tin và hình ảnh của Bác Hồ và các chí sỹ yêu nước khác như Phan Chu Trinh, và Phan Văn Trường, cũng như với kiều bào trong giai đoạn hoạt động cách mạng tại Pháp.

Nguyễn Hải Nam (từ Paris, Pháp)

baodatviet.vn

Bác Hồ trong ký ức của nhà báo Nga

May mắn được ba lần gặp Bác Hồ vào các năm 1961, 1964 và 1969 tại Hà Nội, nhà báo Nga Sergey Afonin thực sự ấn tượng với sự thông thái, nắm vững tình hình thế giới, trân trọng Lenin và Cách mạng tháng Mười Nga của Người.

>> Hồi ức về bức ảnh chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh
>> Ký ức đẹp soi sáng cả cuộc đời

Nhân Kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đất Việt trân trọng giới thiệu bài viết của nhà báo Nga Sergey Afonin.

Nhà báo Sergey Afonin, sinh năm 1939 tại Kiev, Ucraina, tốt nghiệp Khoa tiếng Việt, Viện ngôn ngữ phương Đông,  Đại học tổng hợp quốc gia Moskva. Ông là phóng viên thường trú Hãng thông tấn Itar Tass và báo Sự thật đoàn viên tại Việt Nam từ năm 1967 – 1971.

Cũng như nhân dân Việt Nam vô cùng yêu mến người con huyền thoại của mình, nhân dân Nga ghi nhớ và kính trọng Bác Hồ – người bạn lớn của Liên Xô và của nước Nga. Tôi là người tận mắt chứng kiến lời kêu gọi “Nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quí hơn độc lập tự do!” của Bác Hồ tháng 6/1966 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước cổ vũ nhân dân Việt Nam đạt được những chiến công rực rỡ trong chiến đấu cũng như trong lao động. Đối với tôi, Lời Di chúc của Hồ Chí Minh là một trong những tài liệu quan trọng nhất chứng minh rõ tư duy triết học của Người, tình yêu vô bờ bến đối với đồng bào, niềm tin không gì lay chuyển nổi vào thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng, tính lạc quan và niềm tin vào bạn bè trên thế giới.

Nhà báo Sergey Afonin. Ảnh do ông Afonin cung cấp

Tiếp xúc với người dân trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ở Việt Nam, tôi cảm nhận được tình yêu và sự kính trọng từ trong lòng mình của toàn thể nhân dân Việt Nam đối với lãnh tụ của mình. bất chấp những lời vu khống và bịa đặt, hình ảnh gần gũi và giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi là tấm gương mẫu mực cho tất cả những ai có thiện chí trên thế giới này. Chỉ cần tập hợp tất cả những hồi ký, bài viết về Hồ Chí Minh của mọi tầng lớp trong xã hội Việt Nam cũng như của nhân loại tiến bộ yêu hòa bình trên toàn thế giới, tôi chắc rằng đó sẽ là một thư viện khổng lồ và chân thực nhất về Người. Tôi và Tiến sỹ sử học Nga Evgheny Kobelev đã viết hai cuốn sách về Hồ Chí Minh, đọc hầu hết những tác phẩm của Người và những hồi ký về lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Suốt hơn 50 năm qua, cuộc đời tôi đã gắn liền với Việt Nam, vì vậy, tất cả những gì liên quan đến đất nước này, đến nhân dân Việt Nam anh hùng, lịch sử hiện tại và tương lai của Việt Nam đều khiến tôi quan tâm. Việt Nam đã trở thành một nước độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình, ổn định, đi theo con đường dân chủ và phồn vinh, đúng như ước nguyện của Hồ Chủ tịch. Điều đó đã khiến tất cả những người bạn của nhân dân Việt Nam, trong đó có tôi cảm thấy vui mừng.

Nhiều hoạt động kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác

Sáng 18/5, nhân Kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại (19/5/1890 – 19/5/2011), Đoàn đại biểu BCH TƯ Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, UBTƯ MTTQ Việt Nam đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dự lễ viếng có Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang, cùng các vị nguyên là lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước.

Cùng ngày, đoàn đại biểu Đảng ủy Quân sự TƯ, Bộ Quốc phòng; Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an; Thành ủy, HĐND, UBND, MTTQ TP Hà Nội và các bộ, ngành, đoàn thể TƯ, địa phương, các tầng lớp nhân dân Thủ đô và các địa phương cũng đã đến đặt vòng hoa, vào Lăng viếng Bác.

* Ngày 18/5, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên – Huế, Sở VH-TT-DL tỉnh đã tổ chức triển lãm Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và HĐND  nhân dịp kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011) và chào mừng Ngày hội bầu cử Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016. Triển lãm trưng bày gần 200 tư liệu, hình ảnh, hiện vật với các phần chính: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng Hoà (1945 – 1946); Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và HĐND (1946 – 1969); Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục cổ vũ nhân dân cả nước thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình, bầu cử những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội và HĐND các cấp.

* Sáng 18/5, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh Nghệ An đã về Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên nằm trên địa bàn xã Kim Liên, huyện Nam Đàn và đến Quảng trường Hồ Chí Minh ở thành phố Vinh dâng hương, dâng hoa, báo công với Bác. Đây là một trong những hoạt động của tỉnh Nghệ An nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Bác, 30 năm Lễ hội Làng Sen và hướng tới kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

* Ngày 18/5, Sở VH-TT-DL tỉnh Đồng Tháp phối hợp với Đài Truyền hình TP.HCM đã tổ chức lễ trồng cây quý Sa La tại Khu di tích mộ cụ phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người. Đây là hoạt động thể hiện niềm tôn kính, biết ơn của nhân dân Đồng Tháp và TP HCM với cụ phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc và chủ tịch Hồ Chí Minh. Được biết, Ban tổ chức đã mang cây Sa La đến Đồng Tháp cùng với đất lấy từ bốn tỉnh, đại diện các miền của đất nước là Hà Nội, Nghệ An, Cao Bằng và TP HCM. Nhóm PV

Sergey Afonin (từ Moskva, Nga)

baodatviet.vn

Hồi ức về bức ảnh chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đất Việt – Đối với PGS TS Vũ Thu Giang, ký ức về lần đầu tiên được tặng hoa và chụp ảnh cùng Bác Hồ lúc nào cũng tươi mới và vẹn nguyên trong tâm khảm, như kim chỉ nam soi sáng cả cuộc đời của bà.

Một buổi sáng tháng 5, nắng lung linh trên những ngọn xà cừ rợp lá, chúng tôi gặp lại “em bé” trong bức ảnh chụp cùng Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc. Giờ tóc đã điểm sương, cầm trên tay tấm ảnh mà bà gìn giữ như bảo vật, nhà khoa học, nhà giáo ưu tú từng làm Chủ nhiệm bộ môn Kinh tế vĩ mô, ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội xúc động nhớ lại…

Ấn tượng đẹp trong tâm hồn trẻ thơ

Để tổng kết phong trào thi đua yêu nước mà Bác Hồ phát động từ năm 1948, đồng thời, chuẩn bị sức người sức của cho giai đoạn chiến đấu cam go sắp tới, Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Đại Từ, Thái Nguyên.

Những ngày ấy, bé Vũ Thu Giang, lúc đó mới 7 tuổi, thường chơi đùa ở cơ quan của mẹ, một cán bộ trí thức giữ cương vị nòng cốt trong Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam, gần nơi tổ chức đại hội. Trong giờ nghỉ bé Thu Giang và Đặng Minh Châu (con gái của bộ trưởng bộ tài chính khi đó (*) được gọi vào ăn cơm cùng với Bác.

Bác Hồ chụp ảnh với 2 cháu thiếu nhi Vũ Thu Giang (bên trái) và Đặng Minh Châu (bên phải). Ảnh: Đinh Đăng Định

Ngày khai mạc đại hội, tổ chức sang cơ quan Hội phụ nữ nhờ bé Thu Giang và bé Minh Châu đại diện cho thiếu niên, nhi đồng cả nước dâng hoa mừng Bác Hồ, bác Tôn và các anh hùng, chiến sĩ thi đua. “Đề nghị khá bất ngờ nên mọi người vội vào rừng hái hoa để chúng tôi dâng tặng các Bác và anh hùng La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên… Sau đó, chúng tôi được chụp ảnh chung với Người. Trong ảnh, Bác Hồ và chị Minh Châu cười rất tươi nhưng tôi chỉ cười mỉm vì lúc đó đang thay răng nên rất ngại”, bà Thu Giang vui vẻ kể lại.

Tối hôm đó, bé Thu Giang còn tham gia buổi biểu diễn văn nghệ mừng đại hội, đóng một vai “nhí” trong vở kịch nông dân vùng lên chống thực dân. Lúc diễn, có đoạn giằng co, ruột tượng đựng gạo trên vai rơi ra, gạo bị vãi hết xuống sàn. Kết thúc vở kịch, Bác Hồ lên sân khấu, lấy một mẩu giấy vun các hạt gạo rơi, đổ lại vào một cái hũ.

Cử chỉ giản dị mà ân cần của Bác đã để lại ấn tượng lung linh trong tâm trí của bà Giang khi ấy và suốt quãng đời sau nay khi sang Liên Xô học, hay lúc về công tác trong nước tại ĐH Xây dựng và ĐH Kinh tế Quốc dân.

Kiên quyết bảo vệ cái mới

Sau thống nhất, đất nước trải qua một thời gian chuyển mình chậm chạp để đến với đổi mới. Khi đó, chuyển đổi nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN là nhu cầu bức thiết của cuộc sống, là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thế nhưng, chuyển đổi như thế nào lại là bài toán khó đối với những người trực tiếp vận hành và quản lý nền kinh tế, bởi trong nước không nhiều người am hiểu kinh thị trường và những quy luật của nó. Còn trên giảng đường, chương trình đại học, cơ cấu ngành học, lý thuyết giảng dạy thì thiếu thực tế.

Với những kiến thức tích lũy khi thực tập nghiên cứu sinh ở nước ngoài, TS Vũ Thu Giang đã đề xuất, vận động và góp phần đưa các kiến thức quản lý kinh tế thị trường vào trong nước.

Điều đáng nói, việc tìm hiểu kinh tế thị trường của TS Vũ Thu Giang xuất phát hoàn toàn từ ham mê hiểu biết chứ không phải một nhiệm vụ được giao từ trước. Trong năm 1983-1985, khi giành được một suất thực tập ở Nhật Bản để thực hiện đề tài nghiên cứu sinh liên quan tới kinh tế xây dựng, giáo sư hướng dẫn nói với bà rằng: “Chị sang đây học là khó. Vì ở đất nước các chị dạy kinh tế học của Marx, còn chúng tôi lại dạy theo trường phái kinh tế học của Mỹ, với học thuyết của Keynes và các nhà kinh tế học khác”.

Trong quá trình đưa môn kinh tế vĩ mô vào giảng dạy ở Việt Nam, bà gặp không ít khó khăn, trong đó, trở ngại lớn nhất chính là tư duy, thái độ tiếp nhận kiến thức mới. Thậm chí, có người đưa ra lý do “không đủ quỹ thời lượng” để làm khó cho việc triển khai môn học này. Kiên quyết bảo vệ cái mới, tại một hội thảo bàn về dạy  hay không dạy môn học này, bà từng nói: “Nếu các anh muốn nền giáo dục đại học Việt Nam tụt hậu 100 năm nữa thì các anh hãy loại bỏ môn học này”.

PGT TS Vũ Thu Giang kể về kỷ niệm được chụp ảnh chung cùng Bác Hồ.

Bảo vệ cái mới, có ích trước hết là việc làm phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Bác từng nói: “Cái tốt mà lạ, người ta có thể cho là xấu”. Vì vậy, chỉ với lòng nhiệt tình không thôi thì chưa đủ và cùng lắm chỉ phá được cái xấu, cái cũ mà không xây được cái tốt, cái mới. Yêu cầu tối thiểu là đội ngũ này phải hiểu biết công việc của mình, biết quản lý Nhà nước, do vậy, phải được đào tạo và tự mình phải luôn luôn học hỏi.

Chính nhờ quá trình tự trau dồi, tự học hỏi nghiên cứu mà TS Vũ Thu Giang đã cùng các đồng nghiệp xây dựng một trong những môn học cơ bản của kinh tế học, giúp các cán bộ quản lý và các thế hệ sinh viên thời kỳ đầu của công cuộc Đổi mới nắm được các khái niệm cơ bản và công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế, vực đất nước ra khỏi khó khăn. Đến nay, “Kinh tế vĩ mô” là môn học không thể thiếu đối với mọi ngành đào tạo kinh tế từ bậc đại học. Nói về đóng góp của mình, PGS TS Vũ Thu Giang chia sẻ: “Cái đó nằm trong máu của mình rồi, được gặp Bác, được giáo dục, luôn luôn nhớ công ơn của Bác, nghĩ về trách nhiệm của mình với đất nước”.

Do những đóng góp cho ngành giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, PGS TS Vũ Thu Giang đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Nhà giáo ưu tú”, danh hiệu bà rất trân trọng vì nghĩ rằng đó chính là kết quả phấn đấu suốt đời làm theo lời Bác Hồ kính yêu.

(*) Bà Đặng Minh Châu – em bé thứ hai trong tấm ảnh chụp với Bác hồ tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất ở Chiến khu Việt Bắc, sau này cũng sang Liên Xô học chuyên ngành toán. Những năm 1960, bà đã gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau đó chuyển sang nghiên cứu khoa học tại Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cho tới khi về hưu.

Văn Tuấn

baodatviet.vn

Ký ức đẹp soi sáng cả cuộc đời

Đối với PGS, TS Vũ Thu Giang, ký ức về lần đầu tiên được tặng hoa và chụp ảnh cùng Bác Hồ lúc nào cũng tươi mới và vẹn nguyên trong tâm khảm. Ký ức đó như “kim chỉ nam” soi sáng cả cuộc đời bà.

>> 100 năm ngày Bác Hồ tới Pháp

Một buổi sáng tháng 5, nắng lung linh trên những ngọn xà cừ rợp lá, chúng tôi gặp lại “em bé” trong bức ảnh chụp cùng Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc. Giờ tóc đã điểm sương, cầm trên tay tấm ảnh mà bà gìn giữ như bảo vật, người phụ nữ từng làm Chủ nhiệm Bộ môn Kinh tế Vĩ mô (ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội) xúc động nhớ lại…

Ấn tượng đẹp trong tâm hồn trẻ thơ

Những năm 1950, để tổng kết phong trào thi đua yêu nước mà Bác Hồ phát động từ năm 1948, Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Đại Từ, Thái Nguyên. Ngày ấy, bé Vũ Thu Giang, mới 7 tuổi, thường chơi đùa ở cơ quan của mẹ – một cán bộ trí thức làm việc trong Trung ương Hội phụ nữ VN, gần nơi tổ chức đại hội. Trong giờ nghỉ, bé Thu Giang và Đặng Minh Châu (con của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đặng Việt Châu) được gọi vào ăn cơm cùng với Bác.

 Bác Hồ chụp ảnh với 2 cháu thiếu nhi Vũ Thu Giang (bên trái) và Đặng Minh Châu (bên phải). Ảnh: Đinh Đăng Định

Ngày bế mạc đại hội, bé Thu Giang và bé Minh Châu được vinh dự đại diện cho thiếu niên, nhi đồng cả nước dâng hoa lên Bác Hồ. “Đề nghị khá bất ngờ, mọi người vội vào rừng hái hoa để chúng tôi dâng tặng Bác và các anh hùng, chiến sĩ thi đua. Sau đó, chúng tôi được chụp ảnh chung với Người. Trong ảnh, Bác Hồ và chị Minh Châu cười rất tươi. Tôi chỉ cười mỉm, vì lúc đó răng mới mọc nên rất ngại”, bà Thu Giang vui vẻ kể .

Tối đó, bé Thu Giang còn tham gia biểu diễn văn nghệ mừng đại hội với một vai nhí trong vở kịch nông dân vùng lên chống thực dân. Lúc diễn, có đoạn giằng co, ruột tượng trên vai rơi ra, gạo vãi hết xuống sàn. Kết thúc vở kịch, đích thân Bác Hồ lên sân khấu, lấy một mẩu giấy vun các hạt gạo rơi, đổ lại vào cái hũ. Cử chỉ giản dị mà ân cần của Bác đã để lại ấn tượng lung linh trong tâm trí của bà Giang khi ấy và suốt quãng đời sau này khi sang Liên Xô học, hay lúc về ĐH Xây dựng, ĐH Kinh tế Quốc dân giảng dạy.

Kiên quyết bảo vệ cái mới 

Việc đất nước chuyển đổi nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN là nhu cầu bức thiết của cuộc sống, là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, nhưng cũng là bài toán khó, bởi không nhiều người am hiểu kinh thị trường. Còn trên giảng đường, chương trình đại học, cơ cấu ngành học, lý thuyết giảng dạy thì thiếu  thực tế. Với những kiến thức tích lũy ở nước ngoài, bà Thu Giang đã đề xuất và vận động đưa các kiến thức quản lý kinh tế thị trường vào trong nước.

 Vũ Thu Giang và Đặng Minh Châu chụp ảnh với Bác Hồ và các anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc. Ảnh tư liệu.

Việc tìm hiểu kinh tế thị trường xuất phát từ niềm đam mê của bà, chứ không phải một nhiệm vụ được giao. Năm 1983-1985, khi sang Nhật Bản để thực hiện đề tài nghiên cứu sinh liên quan tới kinh tế xây dựng, một vị giáo sư nói với bà rằng: “Chị sang đây học sẽ gặp nhiều cái khó. Vì ở đất nước các chị dạy kinh tế học của Marx, còn chúng tôi lại dạy theo kinh tế học của Mỹ với học thuyết của Keynes hay David Begg”. Vì vậy, bà đã quyết tâm tìm mua sách đọc để bồi đắp thêm hiểu biết và mang kiến thức mới về xây dựng đất nước.

Trong quá trình đưa môn kinh tế vĩ mô vào giảng dạy ở VN, bà gặp không ít khó khăn. Trở ngại lớn nhất chính là tư duy, thái độ tiếp nhận kiến thức mới. Có người đưa ra lý do “không đủ quỹ thời lượng” để làm khó cho việc triển khai môn học này. Kiên quyết bảo vệ cái mới, tại một hội thảo bàn về môn học, bà từng nói: “Nếu các anh muốn nền giáo dục VN tụt hậu 100 năm nữa, thì các anh cứ loại bỏ môn học này đi”.

Bảo vệ cái mới, cái có ích là việc làm phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Bác từng nói: “Cái tốt mà lạ, người ta có thể cho là xấu”. Vì vậy, chỉ với lòng nhiệt tình thì chưa đủ, cùng lắm chỉ phá được cái xấu, cái cũ mà không xây được cái tốt, cái mới. Bà đã cùng các đồng nghiệp giúp các cán bộ quản lý và nhiều thế hệ sinh viên thời kỳ đầu Đổi mới nắm được những khái niệm cơ bản và công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế. PGS Vũ Thu Giang chia sẻ: “Cái đó nằm trong máu của mình rồi. Được gặp Bác, luôn nhớ công ơn Người, nghĩ về trách nhiệm của mình với đất nước”.

BOX: Bà Đặng Minh Châu – em bé thứ 2 trong tấm ảnh chụp với Bác Hồ tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất ở chiến khu Việt Bắc, sau này cũng sang Liên Xô học chuyên ngành toán. Những năm 1960, bà đã gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau đó chuyển sang nghiên cứu khoa học tại Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cho tới khi về hưu.

Những hoạt động hướng đến ngày sinh Bác trong ngày 17/5

Ngày 17/5, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh TP HCM phối hợp với Đài TH thành phố tổ chức Lễ trồng cây nhớ ơn Bác. Cây bàng vuông, quà tặng của quân, dân huyện đảo Trường Sa đã được trồng tại vị trí trang trọng tại cửa bảo tàng. Đặc biệt, cây bàng được trồng với 5 loại đất lấy từ các địa phương, như : Nghệ An, Cao Bằng, Hà Nội, TP.HCM và Đồng Tháp, là những địa phương in đậm dấu ấn về Người.

Nhà văn hóa Phụ nữ TP HCM khai mạc triển lãm tranh cát mang chủ đềHành trình vì đất nước giới thiệu 90 tác phẩm được sáng tác bằng 72 màu cát tự nhiên không chất kết dính của họa sĩ Nguyễn Chí Nhật Quang. Các bức tranh là những câu chuyện sống động, ghi dấu ấn rõ nét về chặng đường đi tìm chân lý cách mạng của Bác, những nơi Bác đã đi qua trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước cho đến những ngày tháng hòa bình độc lập.

Hội Nghệ sĩ Múa TP HCM tổ chức đêm diễn kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhiều tiết mục múa, hát ca ngợi Bác Hồ Dấu chân phía trướcNhững người Cộng SảnKý ức lời ruQuê hương vàĐêm Đại Ngàn

Sở VH-TT-DL Hà Nội khai mạc triển lãm ảnh “Hồ Chí Minh – Người là niềm tin tất thắng” giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ đã được khai mạc tại Trung tâm Thông tin Triển lãm thành phố. Triển lãm đã trưng bày gần 100 bức ảnh quý, ghi lại những khoảnh khắc từ khi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, thời gian Bác hoạt động tại nước ngoài, quá trình lãnh đạo dân tộc kháng chiến giành thắng lợi cũng như trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc. Triển lãm cũng trưng bày khoảng 50 đầu sách viết về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, các câu chuyện kể về Bác Hồ…

Văn Tuấn

baodatviet.vn