Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Bến cảng Sài Gòn – nơi mở đầu hành trình vĩ đại của Người

(Dân trí) – Từ bến cảng Sài Gòn, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một cuộc hành trình vĩ đại, vô cùng gian lao. Suốt 30 năm bôn ba Người đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

Ngày 31/5, Thành ủy TPHCM đã phối hợp với Ban tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch tổ chức hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”.

Hơn 500 đại biểu là cán bộ lãnh đạo Đảng và nhà nước, cán bộ lão thành cách mạng, đại diện các tầng lớp nhân dân đến tham dự hội thảo

Tham dự hội thảo có ông Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng; ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; ông Đinh Thế Huynh, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; ông Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TPHCM; Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an…

Khai mạc hội thảo, ông Đinh Thế Huynh phát biểu: “Cách đây 100 năm, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Sài Gòn, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã ra đi tìm đường cứu nước. Đó là thời điểm sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta bế tắc về đường lối, như trong đêm tối không có đường ra. Biết bao cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước bị thực dân đàn áp, bị dìm trong bể máu và đều thất bại”.

Trong bối cảnh lịch sử đó, Bác Hồ đã ra đi với đôi bàn tay trắng, ra đi để tìm kiếm một con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Ông Đinh Thế Huynh nhìn nhận: “Đó là sự mở đầu cho một cuộc hành trình vĩ đại, vô cùng gian lao, quả cảm và sáng tạo suốt 30 năm đi tìm chân lý, tìm con đường giải phóng cho cả dân tộc Việt Nam”.

Từ bến cảng Sài Gòn, Người đã ra đi tìm đường cứu nước (ảnh tư liệu)

Phát biểu báo cáo đề dẫn hội thảo, Phó bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua cho biết: “Mục đích của hội thảo là nhằm nâng cao nhận thức và tôn vinh công ơn trời biển của Bác Hồ, khẳng định ý nghĩa lịch sử và thời đại của sự kiện Bác Hồ ra đi ngày 5/6/1911 như một mốc son trong lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng; khẳng định lựa chọn sáng suốt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam”.

Ông Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tương Văn hóa Trung ương cũng đồng tình với ý kiến trên. Theo ông thì ngày 5/6/1911 là ngày có ý nghĩa lịch sử trọng đại, bởi vì “đó là ngày từ cảng Sài Gòn, Người đã ra đi tìm đường cứu nước và đã tìm được con đường đúng”.

Với ý nghĩa quan trọng này, hội thảo đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các cán bộ lãnh đạo Đảng và nhà nước, các cán bộ lão thành cách mạng, các nhà khoa học… Đến ngày hội thảo khai mạc, ban tổ chức đã nhận được 137 bài tham luận, trong đó có tham luận của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười và nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu.

Các tham luận xoay quanh 4 nội dung chính là: Bối cảnh lịch sử của đất nước và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Sự lựa chọn của Người khi Người chọn ra đi từ thành phố Sài Gòn; Hành trình tìm đường cứu nước vĩ đại trong suốt 30 năm của Người; Quyết tâm vững bước theo con đường cách mạng mà Người đã chọn.

Bác bắt đầu ra đi tìm đường cứu nước bằng chính sức lao động của đôi bàn tay mình trên con tàu Amiral Latouche Tre1ville (ảnh tư liệu)

Trong tham luận của mình, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nhấn mạnh, chúng ta phải kiên trì đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân lựa chọn; để kiên định và kiên trì con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn thì trong mọi hoạt động của Đảng, phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam.

Ông cho rằng: “Đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là một cuộc đấu tranh để xây dựng cái mới và loại trừ cái cũ không còn phù hợp, là sự nghiệp mãi mãi của các thế hệ Việt Nam. Chúng ta khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển nổi, tiếp tục thực hiện con đường cách mạng vinh quang đó tới đích”.

Trong tham luận “Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: “Ngay sau khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Người khẳng định, đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất thật rộng rãi, dùng máy móc trong công nghiệp và trong nông nghiệp… Đó là con đường phải đi của chúng ta, con đường công nghiệp hóa nước nhà”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao đổi cùng nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu bên lề hội thảo
Cũng trong tham luận này, Thủ tướng chia sẻ: “Lịch sử có những sự trùng hợp thú vị. Từ thành phố này, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Và Thành phố này cũng là một nơi khởi phát mạnh mẽ những tìm tòi con đường đổi mới, đưa nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20, dẫn đến quyết định lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ VI. Trong 25 năm qua, TPHCM luôn giữ được vai trò tiên phong trong tiến trình đổi mới theo đường lối của Đảng”.

Và Thủ tướng gửi gắm nhiệm vụ cho lãnh đạo TPHCM: “Cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, các dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, xây dựng nền nông nghiệp sạch, đi đôi với đầu tư phát triển nhanh kết cấu hạ tầng và tăng cường chất lượng quản lý đô thị, tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc. Đồng thời, Thành phố phải rất coi trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để đi đầu trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tri thức.”.

Thủ tướng tin tưởng từ thành công đó của TPHCM sẽ tạo tác động lan tỏa góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở cả khu vực phía Nam và trong cả nước. Ông cho rằng: “Đây là sứ mệnh rất vẻ vang của Đảng bộ và quân dân Thành phố mang tên Bác. Chúng ta tin tưởng rằng Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phát huy truyền thống tốt đẹp, làm tốt hơn nữa vai trò tiên phong của mình trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Khi đọc tham luận của mình, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải xúc động: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả cuộc đời Người hiến dâng trọn vẹn cho tổ quốc, cho nhân dân. Lúc ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng, lúc trở về gây dựng cả một giang sơn gấm vóc, nhưng là để lại cho muôn đời con cháu mai sau. Còn đối với người thì “sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức phúng điếu linh đình để lãng phí tiền bạc và thời giờ của nhân dân”. Nguyễn Tất Thành – Nguyển Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người vô cùng bình dị và thật là vĩ đại”.

Ông thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP hứa: “TP nguyện xây dựng đảng bộ thật sự trong sạch, vững mạnh để vững bước theo con đường Người đã chọn, để xứng đáng được mãi mãi là thành phố mang tên Hồ Chí Minh”.

Tùng Nguyên
dantri.com.vn

Nhớ Bác trong ngày hội lớn

KỶ NIỆM 121 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, 100 NĂM NGÀY NGƯỜI RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Thật đặc biệt, trong những ngày tháng năm lịch sử, khi toàn dân đang nô nức chuẩn bị cho ngày bầu cử Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp cũng là những ngày cả dân tộc Việt Nam hướng tới kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890) và 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước (5.6.1911).

Bằng tất cả tấm lòng biết ơn vô hạn, nhân dân trên mọi miền đất nước đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm trang trọng, phong phú, thiết thực.

Sáng 18.5, đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Nước, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đặt vòng hoa và vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dự lễ viếng vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc có các đồng chí: Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Uỷ viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm.

Các đồng chí nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch Nước Trần Đức Lương; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; nguyên Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Phạm Thế Duyệt và các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ; lãnh đạo một số bộ, ngành trung ương và các đồng chí lão thành cách mạng cùng dự lễ viếng.  Vòng hoa của đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Nhân dân Nghệ An long trọng kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.     Ảnh: Đ.LNhân dân Nghệ An long trọng kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Đ.L

Cũng trong ngày 18.5, đoàn đại biểu Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng; Đảng uỷ Công an Trung ương, Bộ Công an; Thành uỷ, HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc TP.Hà Nội và các bộ, ngành, đoàn thể trung ương, địa phương đã đến đặt vòng hoa, vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tầng lớp nhân dân thủ đô và các địa phương trong cả nước đã vào lăng viếng Bác, tỏ lòng thành kính nhớ ơn Người.

Sáng 18.5, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh Nghệ An đã về Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên nằm trên địa bàn xã Kim Liên, huyện Nam Đàn và đến Quảng trường Hồ Chí Minh ở thành phố Vinh dâng hương, dâng hoa, báo công với Bác. Tại Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên và Quảng trường Hồ Chí Minh, lãnh đạo tỉnh Nghệ An đã thắp hương, dâng hoa lên bàn thờ và báo công với Bác; bày tỏ lòng thành kính với công lao trời biển của Bác và hứa sẽ tiếp tục đi theo con đường mà Đảng và Bác đã lựa chọn.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng 18.5.     Ảnh: TTXVNLãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng 18.5. Ảnh: TTXVN

Cùng ngày, tại đền tưởng niệm các Vua Hùng – công viên Lịch sử văn hóa dân tộc (phường Long Bình, quận 9), Thành ủy, UBND TP.Hồ Chí Minh đã tổ chức lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ 19.5”. Phát biểu tại lễ phát động, ông Lê Hoàng Quân – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh – nhấn mạnh: Phong trào trồng cây, trồng rừng, bảo vệ rừng đã mang lại lợi ích to lớn và trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là hoạt động thiết thực kỷ niệm Ngày sinh của Bác, góp phần nâng cao độ che phủ rừng và cây xanh thành phố, bảo vệ môi trường, xây dựng thành phố xanh – sạch – đẹp, văn minh giàu đẹp.

Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên – Huế đã tổ chức lễ dâng hoa và triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân”. Triển lãm trưng bày gần 200 tư liệu, hình ảnh, hiện vật với 4 nội dung chính: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945 – 1946); Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp (1946 – 1969); Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục cổ vũ nhân dân cả nước thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, bầu những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội và HĐND các cấp…

Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai – Kon Tum vừa khai mạc triển lãm ảnh với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân”…

Cùng ngày, khắp cả nước đã diễn ra nhiều hoạt động kỷ niệm sinh nhật Bác bên cạnh nhiều hoạt động chuẩn bị bầu cử.

X.H (tổng hợp)

laodong.com.vn

Bác Hồ luôn là đề tài lớn, tạo cảm hứng mãnh liệt cho các tác giả

Nhà hát Âu Cơ (Hà Nội) tối 14/5 tưng bừng cờ hoa của buổi Lễ sơ kết và tặng thưởng các tác phẩm văn học, nghệ thuật (VHNT) và báo chí xuất sắc trong năm 2009 hưởng ứng Cuộc vận động sáng tác, quảng bá về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, do Ban Chỉ đạo (BCĐ) TW Cuộc vận động tổ chức. Đây cũng là hoạt động kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tới dự, có đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng ban Thường trực BCĐ TW Cuộc vận động; đồng chí Ngô Văn Dụ, Bí thư TW Đảng, Chánh văn phòng TW Đảng, thành viên BCĐ TW Cuộc vận động; đồng chí Huỳnh Đảm, Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên BCĐ TW Cuộc vận động; đồng chí Trần Văn Tuấn, Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ; đồng chí Phùng Hữu Phú, Ủy viên TW Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo TW, Trưởng BCĐ Cuộc vận động sáng tác, quảng bá về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và nhiều đồng chí Ủy viên TW Đảng, các thành viên BCĐ Cuộc vận động sáng tác, quảng bá về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; lãnh đạo các Bộ, ban, ngành, các văn nghệ sĩ, các nhà báo…

Mở đầu buổi lễ là một chương trình nghệ thuật đặc sắc, gồm những nhạc phẩm tiêu biểu viết về Bác trong những năm qua và các tác phẩm được tặng thưởng trong dịp này. Buổi lễ được mở đầu bằng liên khúc hợp xướng “Vinh quang Tổ quốc Việt Nam” (nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân), “Người là niềm tin tất thắng” (nhạc sĩ Chu Minh) và “Lời Bác, lời của non sông” (Thiếu tướng Hữu Ước) do NSND Quang Thọ, ca sĩ Đăng Thuật và các diễn viên Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội biểu diễn. Các tác phẩm “Viên gạch hồng trên phố Compoint” (nhạc sĩ Tôn Thất Lập), “Dưới cờ đoàn kết” (Lê Anh) và “Pác Bó hát mãi tên Người” (An Thuyên)… tiếp nối chương trình. Chương trình nghệ thuật khép lại bằng màn múa hát sôi nổi “Quà tháng 5 dâng Bác” (nhạc sĩ Hồng Đăng), “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” (nhạc sĩ Phong Nhã) và “Mừng sinh nhật Bác” (nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân).

Đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và đồng chí Ngô Văn Dụ, Bí thư TW Đảng, Chánh văn phòng TW Đảng trao giải thưởng cho 10 đơn vị báo chí Trung ươngvà các tỉnh, thành phố. Ảnh: Công Gôn.

Tại buổi lễ, đánh giá kết quả Cuộc vận động trong năm 2009, đồng chí Phùng Hữu Phú nhấn mạnh: “So với năm 2008, số lượng tác phẩm hưởng ứng Cuộc vận động tăng đáng kể. Cuộc vận động tiếp tục thu hút anh chị em văn nghệ sĩ, báo chí tham gia sáng tạo với các loại hình hết sức đa dạng, phong phú và hàng nghìn tác giả thuộc nhiều thế hệ, nhiều địa phương, nhiều dân tộc; trong đó, có nhiều văn nghệ sĩ, nhà báo tiêu biểu. Trong nhiều tác phẩm nghệ thuật, chân dung, hình tượng Bác Hồ được thể hiện một cách sinh động, sâu sắc, giàu mỹ cảm, có sức rung động mạnh mẽ đối với công chúng”.

Phát biểu ý kiến, đồng chí Trương Tấn Sang khẳng định: Những tác phẩm VHNT, báo chí được sáng tạo, quảng bá bằng tài năng, tấm lòng của anh chị em văn nghệ sỹ, báo chí hai năm qua đã góp phần đưa Cuộc vận động ngày càng đi vào chiều sâu, thu được kết quả quan trọng, có sức lan toả mạnh mẽ trong đời sống xã hội, góp phần giữ gìn, bồi đắp các giá trị đạo đức, lối sống, đạo lý dân tộc; lòng yêu đất nước, yêu nhân dân, yêu CNXH; trau dồi phẩm chất “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”; “nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; gắn kết việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cả nước, của các cấp, các ngành, các địa phương và từng cơ quan, đơn vị. Thông qua tấm gương phản chiếu sinh động của báo chí, VHNT, nổi lên rất rõ một điều, bình dị mà sâu sắc: Bác Hồ luôn là đề tài lớn, tạo cảm hứng mãnh liệt cho các nhà văn, nghệ sỹ, nhà báo.

Đồng chí Vũ Văn Hiến, Ủy viên TW Đảng, Tổng Giám đốc Đài THVN và đồng chí Nguyễn Thị Thanh Hòa, Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trao thưởng cho các tác phẩm, tác giả thuộc lực lượng vũ trang. Ảnh: Trang Dũng

Đồng chí Trương Tấn Sang cũng chỉ đạo: Để có nhiều tác phẩm tốt, các cơ quan làm công tác chỉ đạo, quản lý báo chí, văn hóa, văn nghệ, các cấp ủy Đảng, chính quyền cần định hướng tư tưởng, nội dung và tạo điều kiện để anh em văn nghệ sỹ, báo chí gắn bó chặt chẽ với hiện thực đời sống xã hội; nắm bắt, phát hiện, tuyên truyền, cổ vũ kịp thời nhân tố mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt nổi lên trong Cuộc vận động. Các nhà báo, nhà văn, nghệ sỹ cũng cần tích cực, chủ động, thường xuyên bám sát thực tiễn của Cuộc vận động, nâng cao nhận thức, cảm hứng thẩm mỹ và năng lực chuyên môn, sáng tạo nhiều tác phẩm có chất lượng tốt, vươn tới tầm cao, chiều sâu tư tưởng và nghệ thuật, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tại buổi lễ, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã trao thưởng cho 72 tác giả, nhóm tác giả, nghệ sỹ và 14 cơ quan báo chí, đơn vị nghệ thuật có thành tích xuất sắc. Kết quả này ghi nhận nỗ lực của giới báo chí và văn nghệ sĩ, đồng thời, một lần nữa khẳng định, đề tài về Bác Hồ luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận với báo giới và văn nghệ sĩ. Dù đã có nhiều tác phẩm đoạt giải, nhưng ai cũng đều hiểu rằng, tác phẩm đỉnh cao về Hồ Chí Minh vẫn luôn ở phía trước, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của mỗi người.

* Báo CAND là một trong 10 cơ quan báo chí được tặng thưởng của cuộc vận động.

* Hợp xướng “Lời Bác – Lời của non sông” của Thiếu tướng – Nhà văn Hữu Ước; Phim tài liệu “Vì nhân dân phục vụ” của điện ảnh CAND và Tác phẩm Acappelia “Rừng thông Đông Sơn mãi vọng vang lời Bác” của nhạc sĩ Trương Hùng được tặng thưởng của cuộc vận động.

Thanh Hằng

cand.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, ngọn cờ chỉ đường chiến thắng của quân và dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước

Ðại thắng mùa Xuân 1975 để lại những bài học sâu sắc về sức mạnh toàn dân đánh giặc, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng lùi xa với thời gian, ý nghĩa tư tưởng đó của Người càng lung linh tỏa sáng.

Tư tưởng chiến tranh nhân dân là một bộ phận trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại. Ðó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân…

Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ lãnh đạo, ngọn cờ tập hợp, ngọn cờ động viên, cổ vũ nhân dân ta, quân đội ta làm nên kỳ tích vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám, những chiến công lừng lẫy suốt 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân được phát huy lên những đỉnh cao mới. Tư tưởng ấy xuất phát từ tính chất cuộc chiến tranh chống xâm lược, chiến tranh yêu nước, chính nghĩa, cách mạng của thời đại. Ðó là chiến tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân, mở đường đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Ðảng CS Việt Nam.

Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Bác Hồ viết: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Bước vào cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đề ra hai chiến lược cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Ở thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, xây dựng quyết tâm giành độc lập cho dân tộc, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc là đặc điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân. Trước tội ác “trời không dung, đất không tha” của giặc Mỹ – tay sai, Bác Hồ khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”, “Vì độc lập, Vì tự do,/ Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Với quyết tâm ấy, dưới ngọn cờ của Ðảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta đã xốc tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 lịch sử.

Từ khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta hiểu sâu hơn tư tưởng của Người về chiến tranh nhân dân. Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của quần chúng trong chiến tranh nhân dân Việt Nam hiện đại. Trước thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã từng tiến hành nhiều cuộc chiến tranh với sự tham gia của nhân dân ở mức độ khác nhau, đã đánh bại nhiều thế lực xâm lược hung bạo, trong đó có cả kẻ thù sừng sỏ Mông – Nguyên. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, dân tộc ta lại phải lần lượt đương đầu với những kẻ thù hoàn toàn mới, khác hẳn với các kẻ thù thời trước. Ðiều kiện lịch sử mới phải có lý luận mới về chiến tranh nhân dân hiện đại, trong đó việc xác định đặc điểm thời đại, tính chất chiến tranh, nguồn lực cơ bản để tiến hành kháng chiến được đặt lên hàng đầu. Bởi vậy, ngay trong thời kỳ chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong phạm vi cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự khác nhau giữa chiến tranh hiện đại và chiến tranh trước đây, qua đó xác định vai trò và nguồn lực chủ yếu trong chiến tranh hiện đại.

Người viết “Trước kia, chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay, đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia, chỉ đánh nhau về mặt quân sự, ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh. Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể thắng lợi được”(1).

Bước sang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Người phát triển quan điểm trên và nhấn mạnh: Phải nâng cao kiến thức quân sự cho toàn dân, “Giáo dục nhân dân từ các cháu đến ông già, bà cả về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân”, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy cao độ tinh thần yêu nước và mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu. Người còn căn dặn: Nói giành thắng lợi quân sự, nhưng phải chú ý đến giữ sức dân, người của kiệt thì quân nhiều không đánh được.

Quán triệt tư tưởng của Người, trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Ðảng và Nhà nước ta hết sức chăm lo cho nhân dân về đủ mọi mặt. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân cả nước trở thành một khối thống nhất, cao trào cách mạng dâng cao trong mọi giới, mọi ngành. Ðó là phong trào hành động cách mạng: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền nam ruột thịt”, “Chắc tay súng, vững tay cày”, “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Làm nghìn việc tốt”. Nhờ vậy, sức mạnh chiến đấu của toàn dân Việt Nam trên cả hai miền nam – bắc được nhân lên gấp bội, phát triển mạnh mẽ. Sự đóng góp sức của, sức người “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” của nhân dân miền bắc là tấm lòng, là quyết tâm của cả nước đối với sự nghiệp giải phóng miền nam.

Trong giai đoạn cuối chiến tranh “toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt” được phát huy cao độ, kết hợp với sức mạnh của thời đại, thực lực cách mạng ngày càng lớn mạnh. Nhờ có thực lực cách mạng mạnh, ta đã tạo ra thời cơ và khi thời cơ đến, ta nhanh chóng mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thứ hai, Người nhấn mạnh phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, giữ vững chủ động trong chiến tranh: Ðộc lập, tự chủ và giữ vững chủ động là hai quan điểm nổi tiếng mà Người đã nêu ra. Từ quan điểm đó, Người xác định sức mạnh của công cuộc giải phóng: “Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân anh em.”

Quán triệt sâu sắc tư tưởng đó của Người, trong các chặng đường cách mạng, Ðảng ta luôn luôn chủ động, độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối cách mạng cũng như trong việc tổ chức lực lượng và chỉ đạo thực tiễn sắc bén để giải quyết các vấn đề trọng đại của đất nước.

Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, phát biểu tại Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ sáu (7-1954), Người khẳng định: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”(2). Năm 1956, viết bài đăng trên báo Sự Thật (Liên Xô) Người nêu rõ là trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách của mỗi Ðảng cộng sản. Người giải thích với bạn bè quốc tế: “Dân tộc Việt Nam phải vạch ra những phương pháp và biện pháp riêng của mình để chống âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai hòng vĩnh viễn chia cắt đất nước cũng như để quá độ dần dần lên chủ nghĩa xã hội là điều thật rõ ràng…”(3).

Cân nhắc tất cả những nhân tố liên quan, theo định hướng lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định là con đường giải phóng miền nam chỉ là con đường cách mạng, đầu năm 1959, Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ 15 đã xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Dưới ánh sáng Nghị quyết của Ðảng, phong trào “đồng khởi” của nhân dân đã nổ ra, phát triển thành chiến tranh cách mạng; vừa đấu tranh chính trị vừa đấu tranh quân sự, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Hòng cứu vãn tình thế thất bại, đầu năm 1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp tham chiến ở miền nam, đồng thời dùng không quân, hải quân mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền bắc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đứng trước thử thách nghiêm trọng chưa từng thấy. Nhiều nước lo ngại Việt Nam khó có thể đương đầu nổi với Mỹ. Song, với tư duy biện chứng, khoa học, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá đúng sức mạnh của Mỹ, đồng thời cũng nhận rõ những hạn chế và chỗ yếu của đối phương, nên đã nhận định: Ðế quốc Mỹ đưa vào miền nam hàng chục vạn quân viễn chinh, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Từ nhận định đó, Ðảng ta chủ trương động viên lực lượng cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào.

Sau thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972 và chiến công vang dội của quân và dân ta đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng, giới cầm quyền Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước. Tuy nhiên, với bản chất cực kỳ tàn bạo và ngoan cố, đối phương đã phá hoại Hiệp định Paris một cách hệ thống. Trước tình hình đó, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ 21 BCH T.Ư Ðảng (10-1973) khẳng định: “Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, nắm vững đường lối chiến lược tiến công”.

Với tư tưởng chỉ đạo đó, từ cuối năm 1973, Quân khu 9 đã phản công địch lấn chiếm và đầu năm 1975, ta chủ động tiến công và giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng gần Sài Gòn. Thắng lợi đó giúp cho ta có thêm căn cứ thực tiễn quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên. Tây Nguyên thắng lợi tạo thời cơ thuận lợi cho quân dân ta giải phóng Huế – Ðà Nẵng và hội tụ lực lượng giải phóng Sài Gòn.

Sau này, trên cơ sở phân tích những tài liệu thu thập được, giới nghiên cứu chiến lược Mỹ đã phải chua chát thừa nhận: “Ưu thế hơn hẳn của chiến tranh cách mạng Việt Nam là nằm trong thế chiến lược chủ động. Mỹ như phải nhảy theo điệu nhạc chiến lược của Bắc Việt Nam. Chiến lược chủ động của Bắc Việt có một giá trị đặc biệt. Chúng ta thừa nhận chiến lược chủ động của Việt cộng”(4).

Chiến lược chủ động của chiến tranh cách mạng Việt Nam “có giá trị đặc biệt” như đối phương thừa nhận, có cơ sở tư tưởng là quan điểm về tính chủ động “nắm vững chủ động” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Người khẳng định rằng chiến tranh nhân dân phải có lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, có hậu phương vững mạnh. Căn cứ vào mục tiêu và động lực của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam hiện đại, tư tưởng chiến tranh nhân dân của Người đã đề cập một cách hệ thống các quan điểm về đoàn kết toàn dân, động viên sức mạnh toàn dân đánh giặc; vũ trang toàn dân đi đôi với việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân; phát huy ưu thế của chế độ mới và mọi nguồn lực của quốc gia, tranh thủ các nguồn lực quốc tế… Với hệ thống các quan điểm đó, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống thực dân Pháp  phát triển mạnh.

Ðến thời kỳ chống Mỹ, do đặc điểm đất nước ta tạm thời chia làm hai miền, do đối tượng của cách mạng khác trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển thêm các quan điểm ở những khâu chủ yếu như: phát huy cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược; xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng du kích và các hình thức đấu tranh của các lực lượng đó ở miền nam; sự phối hợp chiến đấu giữa các lực lượng chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền bắc, Người quan tâm nhiều đến hai khâu then chốt. Một là, phải xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện. Hai là, phải xây dựng hậu phương thật vững chắc.

Ở hai khâu then chốt này, Người lưu tâm việc xây dựng và phát triển các quân chủng, binh chủng kỹ thuật, nhất là không quân để “mở mặt trận trên không”, đến lực lượng cơ động và bộ đội tinh nhuệ, đến đội ngũ cán bộ cấp cao quân đội và cử những cán bộ có kinh nghiệm tác chiến tập trung vào chiến trường “cùng đồng bào miền nam đánh Mỹ cho kỳ thắng lợi”. Người nhiều lần dặn dò các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt ở chiến trường ra bắc họp là phải hết sức chăm lo xây dựng hậu phương tại chỗ ở miền nam. Người căn dặn các đồng chí hoạt động đối ngoại, nêu rõ là ta cần phát huy ưu thế chiến tranh chính nghĩa của ta, làm cho bạn tin vào cuộc chiến đấu của ta nhất định thắng lợi, để qua đó tranh thủ sự ủng hộ vật chất, tinh thần cao hơn trước. Người nhắc nhở các cấp ủy Ðảng phải quan tâm đến giao thông vận tải. Bởi vì, giao thông vận tải thắng lợi, tức là chiến tranh đã thắng lợi một phần rồi.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người, Ðảng ta đã đưa cuộc chiến tranh nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước phát triển nhảy vọt chưa từng thấy với nhiều nội dung và hình thức mới. Thêm vào đó, qua thực tiễn chiến đấu, quần chúng lại sáng tạo thêm nhiều  cách đánh hay, thắng gọn, làm cho cuộc chiến đấu của quân dân ta càng đa dạng về loại hình tác chiến, sâu đậm về tính nhân dân, phong phú về sự kết hợp giữa thô sơ với hiện đại. Quân Mỹ rơi vào thế trận đó, bị tiêu hao, bị tiêu diệt ngày càng nhiều, ý chí ngày càng suy sụp. Giới cầm quyền Mỹ, mặc dù nhiều cuồng vọng và mưu đồ, nhưng cuối cùng cũng nhận thấy Mỹ không thể thắng nổi đối phương, buộc phải rút quân về nước. Rơi vào thế trận chiến tranh nhân dân, quân ngụy bị đánh từ mọi phía, mọi nơi, tinh thần chiến đấu ngày càng giảm sút. Trong khi đó, ta càng đánh càng mạnh. Giai đoạn cuối chiến tranh, thế và lực của ta phát triển mạnh mẽ. Ðiều quan trọng là chất lượng chiến đấu của quân ta hơn hẳn quân địch. Các quân đoàn chủ lực cơ động chiến lược của ta đã đứng chân ở những địa bàn trọng yếu. Hệ thống đường giao thông vận tải, đường ống xăng dầu được nối thông suốt từ hậu phương đến tiền tuyến, đáp ứng nhu cầu chiến tranh hiện đại.

Xây dựng hậu phương theo tư tưởng Hồ Chí Minh, miền bắc đã phát huy sức mạnh to lớn của mình trong chiến tranh cách mạng. Vượt qua hai lần chiến tranh phá hoại khốc liệt của quân thù, miền bắc vẫn đứng vững và có bước phát triển mới. Trong chặng đường chống Mỹ, cứu nước, hợp tác xã nông nghiệp ở miền bắc giữ vững sản xuất và cung cấp hai triệu lao động cho lực lượng vũ trang và phục vụ chiến đấu. Trước khi vào Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, theo kế hoạch Bộ Chính trị thông qua, hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn 56 vạn tấn vật chất. Bằng sự cố gắng cao độ, hậu phương miền bắc đã hoàn thành vượt chỉ tiêu đó.

Bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các đơn vị bộ đội chủ lực đã được trang bị đầy đủ về mọi mặt. Các trang bị chủ yếu như: vũ khí, xe cộ, lương thực, thực phẩm… đều vượt mức yêu cầu. Ðược như thế là do miền bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng cả nước. Từ sức mạnh đó, quân dân ta đánh địch trên thế mạnh, áp đảo, kết thúc chiến tranh hợp với quy luật mạnh thắng, yếu thua.

Ðại thắng mùa Xuân 1975 để lại những bài học sâu sắc về nguồn sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân chống xâm lược. Ðó là sức mạnh toàn dân đánh giặc, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng lùi xa với thời gian, ý nghĩa tư tưởng đó của Người càng lung linh tỏa sáng.

Dưới ánh sáng tư tưởng chiến tranh nhân dân Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã làm nên chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, từng bước xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh như lời dặn của Bác Hồ kính yêu.

———————-

1. Q.Th: “Hình thức chiến tranh ngày nay”. Báo Cứu quốc ngày 20-09-1946.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sdd, 1996, trang 317.

3. Nghiên cứu Văn kiện Ðảng về chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự Thật, H, 1986, trang 325.

4. Davidson, Những bí mật của chiến tranh Việt Nam, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 12-1994, trang 46.

LÊ VĂN THÁI
(Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

nhandan.com.vn

Tới Milan tìm lại dấu chân Bác

(Dân trí)- Trong cái lạnh xứ châu Âu, gần 80 năm sau, PV Dân trí có dịp đến quán ăn nhỏ trên con phố Pasubio tại thành phố Milan, Italia nơi Bác Hồ thường xuyên sống và làm việc trong những năm 1930, khi Người từ Paris sang Milan gặp các đồng chí Quốc tế Cộng sản.

Từ Việt Nam, tôi luôn bồi hồi trong suốt chặng đường từ Hà Nội sang Milan- thành phố vốn nổi tiếng là “Kinh đô thời trang thế giới”, cùng tên tuổi lừng danh của hai đội bóng Inter Milan và AC Milan.

Ngay khi đặt chân đến Milan, tôi bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp cổ kính cũng như sự sạch sẽ ngoài sức tưởng tượng của thành phố này. Các cửa hàng thời trang, những trung tâm thương mại luôn tấp nập người mua bán. Những con phố lát đá hàng trăm năm đen thẫm in dấu chân triệu triệu người, đến rồi đi.

Thật bất ngờ và may mắn hơn cả, khi chúng tôi được anh Phan Lến, một Việt kiều đã có thâm niên hơn 30 sinh sống tại Milan dẫn đến thăm quán ăn nhỏ trên con phố Pasubio yên bình tại thành phố Milan, nơi Bác Hồ thường xuyên sống và làm việc trong những năm 1930, khi Người từ Paris sang Milan gặp các đồng chí Quốc tế Cộng sản.

Dưới đây, là một số hình ảnh PV Dân trí ghi lại từ quán ăn trên phố Pasubio, Milan:

Nhà số 10 phố Pasubio

Góc tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân viên của quán tự hào khi nói về lịch sử ngôi nhà với PV Dân trí và một số Việt kiều tại Italia

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính quyền thành phố Milan đã gắn bên ngoài ngôi nhà này một tấm biển bằng đá, ghi rõ “Ngôi nhà này là nơi Hồ Chí Minh thường lui tới trong thời gian ở nước ngoài của Người vào những năm 1930 để bảo vệ tự do cho nhân dân”.

Theo những nhân viên phục vụ tại quán ăn cho biết, ngôi nhà có từ năm 1880. Những năm gần đây, mỗi khi có người Việt Nam đặt chân đến Milan đều ghé thăm địa chỉ này.

Vũ Văn Tiến

dantri.com.vn

Phim tài liệu Việt Nam – Hồ Chí Minh

Phim tài liệu “Việt Nam – Hồ Chí Minh” hút khán giả

Đĩa phim tư liệu "Việt Nam-Hồ Chí Minh." (Nguồn: TT&VH)

Công ty Cổ phần nghe nhìn Thăng Long vừa ra mắt đĩa VCD/DVD bộ phim tài liệu đặc biệt “Việt Nam-Hồ Chí Minh” (thời lượng 57 phút), do Xí nghiệp phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất năm 1985.

Bộ phim do nghệ sĩ nhân dân Đào Trọng Khánh viết kịch bản và đạo diễn; quay phim Lê Mạnh Thích, Lưu Ngọc Hà, với sự đóng góp tư liệu của nhiều nhà điện ảnh, nhiếp ảnh, nhà viết sử, nhà văn, nhà báo trong và ngoài nước.

Phim tài liệu “Việt Nam-Hồ Chí Minh” đã đạt giải Bông sen Vàng của Hội Điện ảnh Việt Nam năm 1985.

Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Phó Giám đốc Công ty Cổ phần nghe nhìn Thăng Long cho biết: Đây là một bộ phim tài liệu quý giá, một thiên anh hùng ca về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Với hình ảnh, tư liệu chân thực, chắt lọc; lời bình súc tích mang dấu ấn sử thi, bộ phim tái hiện một chặng đường dài của lịch sử Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (năm 1857) cho đến khi Việt Nam kết thúc cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, xây dựng nền hòa bình, độc lập dân tộc.

Giá trị của bộ phim không chỉ dừng lại ở sự tái hiện khách quan, sống động các sự kiện mà còn tìm cách lý giải nguyên nhân, đúc kết thành bài học từ truyền thống lịch sử và thực tiễn đấu tranh cách mạng.

Bộ phim cũng khơi gợi niềm tự hào dân tộc, khẳng định công lao to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, để có được một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, sánh vai với các cường quốc năm châu ngày hôm nay.

Là một công ty chuyên kinh doanh băng đĩa thị trường, nhưng với việc phát hành VCD/DVD phim tài liệu này, công ty rất tự tin bởi cách đây ba năm, họ đã ra mắt DVD “Hồ Chí Minh- Chân dung một con người” đến nay đã bán hết 2 vạn bản.

Riêng với VCD/DVD “Việt Nam-Hồ Chí Minh,” chỉ sau ba ngày phát hành (từ 16/4) công ty đã bán hết 6.000 bản.

“Vì sức đặt hàng đột biến, chúng tôi đang tiếp tục in tiếp để đưa ra thị trường,” bà Ngà chia sẻ.

Bộ phim quả thực đang là một món quà vô cùng ý nghĩa đối với đông đảo người con đất Việt, các em học sinh, du khách quốc tế… đặc biệt trong những ngày đại lễ của dân tộc sắp đến gần./.

(TT&VH/Vietnam+)

vietnamplus.vn

nhoNguoicha

Tư tưởng Hồ Chí Minh quy tụ mọi lực lượng để dựng nước và giữ nước

Nếu nghe ai ca tụng cái vĩ đại của Bác thì được Bác trả lời: một mình tôi thì làm được cái gì? Thiên tài của Bác chính là biết tập hợp lực lượng, biết quy tụ mọi sức mạnh có thể quy tụ được để dựng nước và giữ nước.

"Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" - Ảnh tư liệu.

Trong lịch sử dân tộc, cũng có thời kỳ chia rẽ nội bộ như “Thập nhị sứ quân”, Trịnh – Nguyễn phân tranh, “Nam Kỳ quốc” v.v… nhưng quy luật chung của sự phát triển vẫn là sự đồng tâm nhất trí, sự quy tụ lực lượng với hình tượng “bó đũa”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Nguyên lý đó dựa trên thực tế xã hội Việt Nam: sự phân hóa và đấu tranh giai cấp trong nội bộ xã hội bị chi phối và phụ thuộc vào mâu thuẫn lớn hơn: giữa dân tộc Việt Nam và giai cấp thống trị ngoại bang – mâu thuẫn đối kháng cao nhất.

Vốn mang truyền thống đại đoàn kết dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trên lộ trình tìm đường cứu nước, nắm được học thuyết Mác–Lênin, phân tích rõ thực trạng xã hội Việt Nam, giải quyết chính xác mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam.

Nếu trước kia Mác cho rằng giai cấp vô sản trước hết phải trở thành dân tộc, rằng đấu tranh để giải phóng nhân loại là tiền đề để giải phóng giai cấp vô sản thì Bác Hồ coi giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng giai cấp bị áp bức bóc lột trong xã hội Việt Nam. Nếu dân tộc không được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của giai cấp tư bản đế quốc thì muôn đời cũng không giải phóng được nhân dân lao động.

Sự sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trên hai mặt. Một mặt phải tìm mọi khả năng quy tụ nhân dân thuộc mọi tầng lớp xã hội có lòng yêu nước thương nòi vào một mặt trận rộng lớn, chống quan điểm biệt phái, quan điểm giai cấp cực đoan có hại cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Mặt khác, phải từng bước giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ xã hội Việt Nam, chủ yếu là giữa nông dân với địa chủ, bằng những biện pháp thích hợp (hiến điền, giảm tô, tức, tạm cấp ruộng đất v.v…) để tăng cường sức dân nhưng không phá vỡ mặt trận đoàn kết dân tộc. Sự quy tụ lực lượng rộng rãi đó đã tạo nên sức mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và cũng nhờ đó làm thất bại chính sách chia để trị của kẻ thù trong bất cứ giai đoạn nào.

Sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc chuyển sang xây dựng xã hội mới, phải chăng chúng ta đã coi nhẹ sự quy tụ lực lượng toàn dân tộc theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh” và quá lo sợ, đề cao việc xóa bỏ ngay mâu thuẫn giai cấp trái quy luật lịch sử – tự nhiên, đốt cháy những giai đoạn quá độ cần thiết và lâu dài. Bị ám ảnh bởi những mô hình cải tạo xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa và quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Liên Xô, chúng ta đã bỏ mất thời cơ lớn để tập hợp lực lượng, phát triển mạnh sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân, dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội.

Từ khi tiến hành đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường với sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế, quan trọng nhất là sự giải phóng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp quan hệ đến hàng chục triệu lao động cùng với sự khai thác khả năng tiềm tàng của các tầng lớp xã hội khác, bộ mặt kinh tế – xã hội của đất nước đã có nhiều thay đổi lớn.

Tuy nhiên, cũng phải từng bước giải quyết những mâu thuẫn giai cấp, đảm bảo lợi ích của nhân dân lao động nhưng không làm tổn hại đến sự quy tụ lực lượng rộng rãi. Chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước phải đồng thời giải quyết tốt nhất cả hai mặt đó. Vừa qua, về mặt kinh tế, chúng ta chậm ban bố các luật đầu tư trong nước, luật chống độc quyền, luật lao động v.v… có liên quan đến việc quy tụ lực lượng và giải quyết mâu thuẫn giai cấp.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ nguyên lý phải biết kết hợp chặt chẽ sự quy tụ lực lượng trong nước với lực lượng tiến bộ trên thế giới để đấu tranh và xây dựng Tổ quốc. Ngay từ buổi ban đầu cách mạng cho đến lúc hoàn thành giải phóng dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhất quán đề cao ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam để tranh thủ rộng rãi sự đồng tình và giúp đỡ của cả nhân loại tiến bộ. Không chỉ riêng các nước xã hội chủ nghĩa mà cả các nước dân tộc chủ nghĩa, các chính phủ tiến bộ, các tầng lớp xã hội, nhân sĩ, một số nhân vật trong giới cầm quyền không tán thành chiến tranh xâm lược v.v… đã đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam.

Bước vào thời kỳ xây dựng đất nước, chúng ta đã đánh mất một phần sự ủng hộ quốc tế đó, mà đáng ra phải được tăng cường hơn trước. Cũng giống như tình trạng quy tụ lực lượng trong nước, chúng ta đã muốn làm trong sạch ngay các quan hệ kinh tế đối ngoại, quá lo sợ về sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân mới trong khi đã nắm vững chính quyền cả nước.

Từ một nước chậm phát triển, chúng ta bị cô lập với thế giới tư bản đang nắm khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất cùng với vốn đầu tư và thị trường rộng lớn. Điều kiện quốc tế của sự phát triển đất nước bị hạn hẹp và chịu chung số phận khủng hoảng cùng với các nước xã hội chủ nghĩa trước những cú sốc của thế giới và nội địa.

Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, chúng ta đã điều chỉnh lại quan hệ đối ngoại, “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”, nhất là các nước trong khu vực.

Muốn quy tụ lực lượng trong điều kiện quốc tế ngày nay, phải tìm được những mục tiêu chung với các đối tác, tạm gác những nét khác biệt, thậm chí cần phải bắt tay với những kẻ thù cũ đã biết tôn trọng lợi ích đôi bên. Cửa phải mở rộng nhưng phải thường xuyên quét sạch rác rưởi, vi trùng, đảm bảo môi trường trong sạch. Yếu tố quyết định thắng lợi của sự quy tụ lực lượng trên thế giới vẫn là sự lớn mạnh, trưởng thành của bản thân nhân dân ta.

Những thành tựu đạt được trong mấy năm qua là kết quả tổng hợp của sự quy tụ lực lượng trong nước và trên thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục soi sáng cho chúng ta trong một thời kỳ phát triển mới: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo lời dặn của Bác:

Dân ta nên nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

TRẦN BẠCH ĐẰNG
5-1994
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ, 2-2007)

Tuổi trẻ Online

Tuyên ngôn độc lập và những tư tưởng mang tính thời đại

Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và tuyên đọc trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945 thực sự là một áng văn bất hủ trong di sản văn hóa và tư tưởng Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc.

>> Nghe Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập

Nó có thể sánh với những áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của cả ngàn năm tồn tại trong mối quan hệ với phương Bắc như “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt”gắn với cuộc kháng chiến chống Tống của Lý Thường Kiệt, như Hịch tướng sĩ văn thời Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn dân ba lần đánh bại giặc Nguyên – Mông, hay Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi tuyên cáo về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi…

Một văn bản pháp lý rất hiện đại

Nhưng với Tuyên ngôn Độc lập ra đời vào một thời điểm có ý nghĩa lịch sử đối với toàn thế giới khi cuộc đại chiến lần thứ hai kết thúc lại mang một giá trị đặc biệt. Nó không còn trong giới hạn của khẳng định về quyền tự chủ của dân tộc ta đối với nước láng giềng phương Bắc của “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” mà còn khẳng định được với toàn thế giới về sự ra đời một nước Việt Nam hiện đại, không chỉ thoát ly chế độ thuộc địa của thực dân Pháp đã đầu hàng, từ tay chủ nghĩa phát xít Nhật đã bại trận, mà còn chấm dứt luôn cả chế độ quân chủ từng tồn tại cả ngàn năm bằng sự thoái vị của ông vua cuối cùng của triều Nguyễn. Hơn thế nữa, nhà nước này lại là thành quả của “một dân tộc gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay” do vậy mà “dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập”.

Chúng ta đều biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay vào việc soạn thảo văn kiện này vào đêm 28-8-1945, ngay sau khi Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên cáo “là một chính phủ quốc gia thống nhất giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức”. Và ai cũng biết rằng chính phủ lâm thời này được thành lập trên cơ sở cải tổ Ủy ban Dân tộc Giải phóng được thành lập tại Quốc dân Đại hội Tân Trào trước đó hơn mười ngày (17-8). Việc cải tổ này lại được thực hiện bởi một hành vi rất cao cả là nhiều ủy viên Việt Minh tự rút lui nhường chỗ cho các nhân sĩ ngoài Việt Minh vào tham chính. “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân” (Hồ Chí Minh).

Bản Tuyên ngôn Độc lập cũng được khởi thảo khi những đại diện của Việt Minh đã lên đường vào Huế để 2 hôm sau (30-8) nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Tại buổi lễ đó, vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam đã có lời tuyên cáo mang ý nghĩa thật sâu sắc: “Sau hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc, ngậm đắng nuốt cay, từ nay trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập”…

Tất cả những diễn tiến sự kiện ấy đã làm nên một nét đặc sắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”.

Do vậy, cũng có thể thấy được một giá trị rất quan trọng của Tuyên ngôn Độc lập là một văn bản pháp lý rất hiện đại phù hợp với tập quán chính trị của nhiều quốc gia nhằm khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thể cộng đồng các quốc gia trên thế giới. Đánh giá về quá trình khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập, A.Patti, viên sĩ quan tình báo Hoa Kỳ phụ trách đơn vị OSS đang cộng tác với Việt Minh, cho rằng ngay sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng, nhận thấy thời cơ đã tới, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng, vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng, ông phải làm cho mọi người thấy rõ cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào…”.

Tiếp nối sự tiến hóa của nhân loại

Bản Tuyên ngôn Độc lập đã được vị Chủ tịch nhà nước lâm thời soạn thảo ngay giữa lòng TP Hà Nội, ngôi nhà phố 48 Hàng Ngang của một nhà tư sản dân tộc. Văn bản này đã được tác giả trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc nhưng cũng gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo thể chế Dân chủ, Cộng hòa…

Hơn thế nữa, người đứng đầu cuộc cách mạng cũng là đứng đầu của Nhà nước Việt Nam còn tham khảo cả những người đồng minh khi mời Patti tới ngôi nhà 48 Hàng Ngang để trao đổi về bản thảo Tuyên ngôn Đôc lập Việt Nam. Hai người tranh luận về nguyên văn một đoạn trích từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ mà cuối cùng người công dân Hoa Kỳ phải nhận rằng mình đã sai khi biết rằng từ 20 năm trước đó (1925) trên Báo Thanh Niên xuất bản ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã dịch và trước đó không lâu Hồ Chí Minh đã yêu cầu các phi công Mỹ thả dù xuống chiến khu Việt Bắc một nguyên bản của văn kiện lịch sử này.

Có người khi đọc văn bản lịch sử này đặt ra câu hỏi vì sao tác giả lại trích hai bản tuyên ngôn của hai quốc gia Âu Tây, trong đó lại có cả nước Pháp mới đây đô hộ nước mình? Hoàn toàn không phải là sách lược để ứng phó với hai cường quốc lớn tiềm tàng những mưu đồ thực dân cũ và mới. Sử dụng những trích dẫn ấy, vị Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam độc lập còn muốn khẳng định rằng ngay cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp của con đường tiến hóa mà nhân loại đã và sẽ đi. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1892 là những mốc son của sự nghiệp giải phóng con người thì chính cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 của Việt Nam cũng là bước đi tiếp theo của quá trình ấy.

Những gì đã diễn ra sau cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 đã chứng thực một sự thực về nguyện vọng giải phóng của các dân tộc nhỏ khỏi sự đè nén của các nước lớn, sản phẩm của chế độ thực dân, đã lần lượt tan rã sau năm cuộc cách mạng của Việt Nam khởi đầu cho các phong trào giải phóng các thuộc địa.

Sự sáng tạo tầm vóc 

Trong chuyến đi thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải (2005), tại cuộc tiếp xúc ở thành phố Boston, mọi người đã được nghe một bài phát biểu nồng nhiệt của một chính khách lão thành của Hoa Kỳ. Đó là nguyên thượng nghị sĩ McGovern, người luôn có tiếng nói chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và năm 1972 đã từng tranh cử chức tổng thống với R.Nixon. Ông đã đưa ra nhận xét rằng: “Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thomas Jefferson soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Th. Jefferson. Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói rằng: “Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt”…

Nguyên văn trong Tuyên ngôn Độc lập, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa Kỳ, bà Lady Borton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Th. Jefferson vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành: “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó.

Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam không chỉ là tấm giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ – Cộng hòa theo đuổi mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng một sự “suy rộng ra” thành một chân lý mang tầm thời đại.

Theo Dương Trung Quốc – Người Lao Động

Tuổi trẻ Online

Bác Hồ ở Matxcơva


nammaidong

Bác Hồ với Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ II

Bác Hồ phát biểu trong một cuộc họp Quốc hội - Ảnh tư liệu

Đại hội Đảng lần thứ II diễn ra từ ngày 11-19/2/1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

Ngày 3/2/1930 tại Cửu Long gần Hương Cảng (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản đã chủ trì hội nghị thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, mở đầu trang sử quan trọng của cách mạng ba nước Ðông Dương. Nhưng trong điều kiện phức tạp thời đó, phải năm năm sau vào tháng 3/1935, Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ I mới được chính thức triệu tập tại một địa điểm thuộc Ma Cao (Trung Quốc) và đổi tên thành Ðảng Cộng sản Ðông Dương.

Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhân dân ta đã đoàn kết, hy sinh chiến đấu với kẻ thù tàn ác đi tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lật đổ ách thống trị của chế độ phong kiến, song ngay lập tức lại phải đứng lên kháng chiến trường kỳ chống lại thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.

Thắng lợi lớn ban đầu của kháng chiến (cuối năm 1950) giải phóng các tỉnh biên giới phía bắc, phá thế bao vây của địch, thời cơ mới đã mở ra đòi hỏi sự tăng cường lãnh đạo của Ðảng phù hợp thực tế khách quan đang đặt ra và điều kiện tiến hành Ðại hội Ðảng lần thứ II đã chín muồi.

Ðầu xuân Tân Mão (1951) Bác Hồ đã có thơ tặng đồng bào cả nước:

“Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công
Toàn dân hăng hái một lòng
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Vào thời điểm bước ngoặt lịch sử quan trọng đó, đầu năm 1951, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ, Trung ương Ðảng đã quyết định khẩn trương triệu tập Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ II tại trung tâm căn cứ địa kháng chiến tại Việt Bắc.

Ðồng thời là Ðại hội Ðảng toàn quốc lần đầu được tổ chức ở trong nước với quy mô lớn chưa từng thấy trước đó. Mặc dầu khi đó chiến tranh cứu nước đang diễn ra ác liệt, thế mà có 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho toàn Ðảng đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại về dự Ðại hội.

Các đại biểu đều phấn khởi được gặp các đồng chí mới, cũ từ khắp các chiến trường Ðông Dương về hội tụ để nhận nhiệm vụ trọng đại của lịch sử, của Ðảng. Nhiều đồng chí lần đầu tiên có được vinh dự dự Ðại hội dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bác Hồ.

Những ngày này Bác hoạt động như không biết mệt mỏi, chỉ đạo sâu sát từ việc lớn đến việc nhỏ về mọi mặt. Bác thật sự là linh hồn của Ðại hội. Ðó là nhân tố quyết định thành công rực rỡ của sự kiện chính trị trọng đại này của dân tộc.

Trước Ðại hội một tháng, Bác Hồ và Thường vụ Trung ương Ðảng đã tiến hành nhiều cuộc họp quan trọng ở bản Pèo, xã Khuổi Trang, huyện Chợ Ðồn, Bắc Cạn, và tại làng Mạ, xã Kiên Quyết (nay là Kiên Ðài), huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang để chuẩn bị mọi mặt, từ văn kiện, nhân sự đến tổ chức Ðại hội.

Hai ngày trước khi khai mạc Ðại hội, Bác Hồ đã đến địa điểm họp. Người trực tiếp quan tâm kiểm tra và tổ chức xem xét bếp ăn đến nhà nghỉ của đại biểu, hội trường, đài tưởng niệm liệt sĩ. Người đã gặp riêng anh chị em phục vụ hậu cần và thăm hỏi gia đình họ.

Bộ phận này do đồng chí Lê Tất Ðắc phụ trách (sau này đồng chí là Thứ trưởng Bộ Nội vụ). Bác cũng gặp lực lượng vũ trang bảo vệ Ðại hội để căn dặn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thành công cho Ðại hội.

Tại các phiên họp Ðại hội, Bác Hồ cùng các đồng chí Thường vụ T.Ư Ðảng chủ trì trong không khí trang nghiêm, biểu thị quyết tâm cao của những người cộng sản trước vận mệnh sống còn của quốc gia, dân tộc. Bác Hồ còn tham gia dự thảo luận ở các đoàn. Ở đâu Người cũng nhấn mạnh với các đại biểu về hai nhiệm vụ quan trọng lúc này là phải quyết tâm kháng chiến thành công và Ðảng ra công khai lấy tên là Ðảng Lao động Việt Nam.

Người nhấn mạnh Ðảng đổi tên nhưng bản chất không thay đổi, phải tiếp tục phát huy truyền thống Ðảng Cộng sản trong điều kiện mới. Báo cáo Chính trị do Hồ Chủ tịch trình bày trước Ðại hội có đoạn như sau: “Chúng ta phải có một Ðảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh đến thắng lợi, Ðảng đó lấy tên Ðảng Lao động Việt Nam”.

“Mục đích trước mắt, Ðảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn, lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Ngoài giờ họp chính thức, Bác Hồ có chương trình thăm hỏi động viên từng đoàn đại biểu, đặc biệt là đoàn đại biểu Nam Bộ, Lào, Cam-pu-chia. Bác như có sức hấp dẫn kỳ diệu, người đi đến đâu là ở đó có tiếng cười rộn ràng, giữa Người và các đại biểu không có sự ngăn cách tình cảm, Bác không phân biệt tuổi tác.

Khi tạm biệt mọi người đều tỏ luyến tiếc vỗ tay không ngớt, lúc chụp ảnh ai cũng muốn ngồi gần Bác. Bác thường ưu tiên cho nữ. Ðoàn Nam Bộ có ba nghệ sĩ tháp tùng (họa sĩ Diệp Minh Châu, họa sĩ Nguyễn Minh Hiền, nhiếp ảnh kiêm quay phim Nguyễn Thế Ðoàn) được Bác đặc cách cho phép theo về cơ quan tại Khâu Lấu, Tân Trào ba tháng sau Ðại hội để sáng tác theo yêu cầu của đồng bào miền nam.

Bác Hồ rất quan tâm đến hoạt động văn nghệ phục vụ Ðại hội. Người đã nhiều lần tham gia múa tập thể “Son lá son” rất sôi nổi hào hứng cùng các đại biểu. Các nhà quay phim, nhiếp ảnh chớp thời cơ hiếm có để ghi hình các hoạt động quan trọng của Ðại hội từ khai mạc đến bế mạc, đặc biệt là các hình ảnh về Bác Hồ. Nay Bảo tàng Hồ Chí Minh là nơi lưu giữ nhiều nhất các tư liệu quý về Bác Hồ ở Ðại hội II.

Tôi rất xúc động khi xem lại ảnh Bác Hồ chụp chung với các đồng chí lãnh đạo Ðảng trước hội trường. Trong số đó nay duy nhất chỉ còn lại đồng chí Nguyễn Văn Trân đã 95 tuổi, sau khi nhận được ảnh này, đồng chí đã cho phóng to cỡ 70×80 cm treo trang trọng tại phòng riêng ở Hà Nội.

Là cán bộ được tháp tùng Bác Hồ tại Ðại hội, tôi xin ghi lại đôi dòng theo hồi ức để bày tỏ nhiệt liệt hoan nghênh Kỷ niệm 60 năm sự kiện lịch sử trọng đại đang diễn ra ở Tuyên Quang và nhiều nơi trong cả nước. Mong rằng Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các bài học tại Ðại hội II sẽ được nghiên cứu nâng cao để vận dụng vào thực tiễn hiện nay mà Ðại hội Ðảng lần thứ XI là sự nối tiếp lịch sử đang hướng về mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Xuân Tân Mão, 2/2011

Nhiều hoạt động kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II

Tại cuộc giao ban báo chí tại Hà Nội, đồng chí Nguyễn Hữu Hoan, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giới thiệu một số hoạt động kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II (11-19/2/1951).

Trong cách mạng tháng Tám năm 1945, Tuyên Quang vinh dự là Thủ đô khu giải phóng, nơi Trung ương Đảng, Bác Hồ đã ở và làm việc, lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công. Với vị thế là Thủ đô kháng chiến, Tuyên Quang đã được chọn là nơi tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng – sự kiện đặc biệt quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Hữu Hoan cho biết nhân kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Đại hội II của Đảng tại Tuyên Quang- Thủ đô kháng chiến” vào ngày 18/2/2011 với sự tham dự của các nhân chứng lịch sử, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học, đại biểu các cơ quan Trung ương đã ở và làm việc tại Tuyên Quang trong Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược…

Lễ mít tinh kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II sẽ được tổ chức ngày 19/2/2011 tại Quảng trường Khu Di tích Đại hội II của Đảng ở xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa.

Trong dịp này, tỉnh Tuyên Quang tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, triển lãm trong toàn tỉnh và tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa (nguồn:

Chinhphu.vn).

Theo Tạ Quang Chiến
Báo Đảng Cộng sản/Nhân Dân

dantri.com.vn

Đã hơn nửa thế kỷ có “Tết trồng cây”

– “Tết trồng cây” đầu tiên được ghi nhận vào mùa Xuân năm 1960, gắn liền với phong trào thi đua kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (khi đó còn lấy ngày 6/1). Nhưng phải nói cho đúng hơn nó được khởi xướng bằng một bài báo ngắn đăng trên báo “Nhân Dân” ngày 28/11/1959 của Bác Hồ.

Tên của bài báo gồm 3 chữ được đặt trong ngoặc kép “Tết trồng cây”, đặt vấn đề bên cạnh các hình thức hoạt động đã có thường được phát động để lấy thành tích chào mừng ngày thành lập Đảng, “chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày “Tết trồng cây”. Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”.

Rồi tác giả bài báo phân tích một cách rạch ròi, dễ hiểu: “Miền Bắc ta có độ 14 triệu, trong số đó có 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây… Như vậy mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây…

Từ 1960 đến 1965, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, vừa cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong 10 năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần cải thiện đời sống của nhân dân ta. Đó cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng, đều có thể hăng hái tham gia”.

Ảnh Bác Hồ trồng câyẢnh Bác Hồ trồng cây

Bài báo viết cực kỳ đơn giản mà đầy tính thuyết phục và cùng với thời gian, chúng ta càng thấy giá trị sâu sắc của nó khi cả nhân loại đang đứng trước những thử thách của sự suy thoái môi trường mà việc trồng cây, gây rừng vẫn luôn là một giải pháp quan trọng hàng đầu. Nhưng Bác Hồ cũng hiểu rằng một cuộc vận động quần chúng là vô cùng gian khổ trong đó vai trò tổ chức và quản lý của nhà nước và các tổ chức xã hội là vô cùng quan trọng.

Có thể nói kể từ đó, Bác không chỉ là người phát động mà còn theo sát từng bước đi, không chỉ khuyến khích cổ vũ mà còn chăm chút chỉ bảo, phê bình và tìm tòi những biện pháp để cuộc vận động không chỉ mang lại kết quả thiết thực mà còn mong muốn biến nó thành một tập quán tốt đẹp của xã hội mới.

Vào Mùa Xuân năm Kỷ Dậu, Bác Hồ viết bài báo cuối cùng cổ vũ “Tết trồng cây” năm 1969, trong đó  đưa ra nhận định rằng “Tết trồng cây đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta” và tổng kết thực tiễn cho rằng: mọi người đều nên tham gia trồng cây nhưng lực lượng các cụ phụ lão có tổ chức là quan trọng và các cháu thiếu nhi là lực lượng góp phần đắc lực. Bác Hồ còn nhắc đến một nhận thức mới là “Chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa”

Đến nay, nhiều cây Bác trồng đã trở thành những di tích lịch sử lâu bền làm tấm gương cho các đời sau về mẫu mực của con người hiện đại: thân thiện và bảo vệ môi trường sinh thái.

Và Tết trồng cây tiếp tục được duy trì và được phát động mỗi một Mùa Xuân sang, như một tập quán văn minh của dân tộc ta. Hiểu theo một nghĩa nào đó thì “Tết trồng cây” đã đi trước thời đại và ngày càng phù hợp đối với mối quan tâm của thế giới hiện đại trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước

(Dân trí) – Đó là tên Hội thảo khoa học do Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ của Đảng phối hợp tổ chức vào sáng nay 28/1, tại Hà Nội, với sự tham dự của nhiều nhà nghiên cứu trong nước.

Hồ Chí Minh rời đất nước từ khi 21 tuổi với khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam; thành lập Đảng tiên phong của giai cấp công nhân và xây dựng được đội ngũ cán bộ nòng cốt của phong trào cách mạng Việt Nam.

Bác về Tổ quốc 28/1/1941

Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam – thời kỳ chuẩn bị về mọi mặt, tiến tới phát động cao trào Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Quyết định về nước và những hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau ngày Người trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng là vô cùng phong phú và sinh động.

Tham luận của các nhà nghiên cứu tại Hội thảo đã tập trung làm rõ các nội dung sau: Tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với việc lựa chọn Cao Bằng làm nơi xây dựng cơ quan đầu não của Trung ương Đảng – căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước; Nguyễn Ái Quốc với việc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8, quyết định thay đổi đường lối chiến lược cách mạng của Đảng và thành lập Mặt trận Việt Minh; Nguyễn Ái quốc chỉ đạo công tác vận động xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng – nhân tố quan trọng góp phần giàng thắng lợi cho khởi nghĩa; Nguyễn Ái Quốc với công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ, coi công tác cán bộ là gốc của mọi công việc; Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền; Nguyễn Ái Quốc với việc chỉ đạo công tác tuyên truyền; đưa chủ trương, đường lối của Đảng đến với phong trào cách mạng và Nguyễn Ái Quốc với việc chỉ đạo xây dựng và kiện toàn hệ thống cơ sở Đảng.

Hội thảo “Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước” cũng là một sự tri ân đến các liệt sĩ đã quên mình vì sự nghiệp cách mạng cao cả của dân tộc; bày tỏ lòng tự hào và biết ơn đến công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, các lãnh tụ tiền bối của Đảng, đồng bào và đồng chí đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Hội thảo cũng góp phần đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương dạo đức Hồ Chí Minh” trong giai đoạn mới.

Công Hải
TTXVN

dantri.com.vn