Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Xây dựng đạo đức là nhiệm vụ hàng đầu

Xây dựng Đảng thật sự trong sạch, “là đạo đức, là văn minh” là chủ đề của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2010. Đây cũng chính là điều mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, luôn luôn quan tâm sâu sắc.

Trong công tác xây dựng Đảng, một trong những công việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Người cho rằng muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Người luôn đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng, phải kết hợp chặt chẽ đức và tài, trong đó đức là gốc. Theo tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, bất kỳ khó khăn nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách, nghị quyết của Đảng, làm gương cho quần chúng, hòa mình với quần chúng thành một khối, tin – hiểu – lắng nghe ý kiến của quần chúng, thực hiện “cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”. Người coi đạo đức là cội nguồn của người cách mạng. Người chỉ rõ: Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ, đòi hỏi người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi nâng cao đạo đức cách mạng phải đi đôi với chống chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, “là mẹ đẻ ra mọi tính hư, tật xấu”. Người gọi chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” và chống chủ nghĩa cá nhân “là một cuộc cách mạng nội bộ”. Do đó “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân”.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã rất chú trọng làm theo lời dạy của Người, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống đã và đang diễn ra là rất nghiêm trọng. Trong đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức trong hệ thống chính trị đã không làm được bốn điều dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Họ đã gây thiệt hại về kinh tế, xa rời nhân dân, gây phiền hà cho nhân dân, gây mất đoàn kết nội bộ, đặc biệt là làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và tiến hành đại hội đảng các cấp, chuẩn bị tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay của mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng là “phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc.

  • Thảo Trân

baobinhdinh.com.vn

Tấm gương soi cho muôn đời

“Những ai muốn biết thế nào là một con người thực sự? Vẻ đẹp của thế giới ở đâu? Ở đâu có mùa xuân? Xin hãy đến thăm cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự tồn tại điển hình của một anh hùng của thời đại chúng ta” – Đó là cảm xúc được viết lên tự đáy lòng của bạn bè quốc tế sau khi tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Một Tổng biên tập của một tờ báo nước ngoài, khi được Bác tiếp ở phòng khách của Người đã viết: “Chúng tôi được dẫn vào tầng dưới ngôi nhà sàn của Bác – gọi là phòng khách của một vị nguyên thủ quốc gia mà vô cùng giản dị, có lẽ không khác gì những gian nhà của nông dân VN mà tôi có dịp tới: trong gian phòng này có lẽ chỉ có mỗi bộ ghế mây được coi là nổi bật. Nếu tất cả chúng ta đều học và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ thì làm gì có những ông quan mới thăng chức đến nhiệm sở mới, vẫn muốn bắt bỏ đi các tiện nghi của người tiền nhiệm để mua tiện nghi mới theo ý muốn”.

Lo cho dân ăn no, mặc ấm luôn là nỗi lo thường trực trong lòng Bác. Người nói: “Đảng và Chính phủ… phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân… Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay đến mấy cũng không thực hiện được”. Làm gương để cán bộ Đảng, Nhà nước thực hiện lời dạy đó, Bác Hồ đã tự mình thực hành. 15 năm cuối cùng Bác sống ở Hà Nội lúc kinh tế khó khăn, Bác yêu cầu: Chiều thứ 7 hàng tuần để Bác ăn cháo để bớt phần gạo cho dân. Dân, cán bộ ăn cơm độn ngô, khoai, sắn bao nhiêu phần trăm thì độn cho Bác bấy nhiêu phần trăm. Đi công tác Bác mang theo cơm nắm muối vừng để đỡ phiền mọi người. Mùa đông, Bác mặc chiếc áo bông do đồng bào biếu. Vì dùng mãi vỏ áo đã đứt chỉ ở khủy tay và cổ, Bác bảo mạng nó lại…

Theo Tiến sĩ Trần Viết Hoàn- nguyên Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch, con cháu hôm nay học tập Bác, nhưng “không phải là đòi hỏi ta cứ phải ăn cơm độn khi lương thực đã dồi dào, cứ mặc quần áo vá, cứ đi dép cao su khi kinh tế của ta đã khá giả mới là học và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. Mà là để hiểu tấm gương đạo đức Bác Hồ luôn sống trong hoàn cảnh của nhân dân, đất nước. Bác sống vì dân chứ không sống vì mình, để lòng ta trong sáng hơn, xem xét mình cái gì không xứng đáng với dân với nước để sửa lỗi lầm”.

Cuộc đời và tư tưởng của Bác Hồ giản dị và lớn lao mãi mãi là “tấm gương soi cho muôn đời” của tất cả chúng ta, các thế hệ người Việt Nam hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau.

  • Quang Anh

baobinhdinh.com.vn

Hứa với dân

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng vì dân, vì nước, mỗi việc làm của Bác Hồ đều hướng đến nhân dân. Với Người, đã nói là phải làm, đã hứa là phải thực hiện.

Có lần Người đã hứa với nhân dân một địa phương ở Việt Bắc là 2 giờ chiều hôm đó sẽ đến thăm và nói chuyện. Cán bộ và bà con đã tập hợp ở hội trường đông đủ. Nhưng một “sự cố” bất ngờ đã xảy ra. Chiều hôm đó trời mưa rất to. Ai cũng bảo là Bác Hồ không thể nào đến được. Nhưng đúng 2 giờ chiều, Bác xuất hiện trong tấm ni lông và quần xắn đến đầu gối, bước vào hội trường trong tiếng hoan hô vang dậy của bà con. Hôm ấy, nhiều người đã sung sướng chảy nước mắt vì xúc động.

Một lần khác, ghé qua một bản người Thái, một cô bé trong bản nói với Người là em muốn có một chiếc vòng bạc. Sau 9 năm kháng chiến thành công, không ai ở bản đó còn nhớ câu chuyện về cô bé. Bởi chuyện đó quá nhỏ bé, khó có thể nhớ đối với một vị Chủ tịch nước với bao công việc khó khăn, bộn bề. Nhưng Người đã trở lại bản người Thái đó để thực hiện lời hứa của mình là tặng em chiếc vòng bạc đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa.

Qua hai câu chuyện nhỏ này, ta càng thấy rõ lòng nhân ái và phẩm cách vĩ đại của Bác. Lời hứa với một cháu nhỏ, lời hứa trước sự chờ đợi của nhân dân của một vùng núi, vùng sâu, cũng hệ trọng như lời hứa trước một dân tộc. Nhân cách vĩ đại của Bác, không chỉ đem lại niềm tin cho nhân dân trong nước mà cả nhân dân thế giới. Chính vì có niềm tin đó mà nhân dân ta đã không ngại hy sinh gian khổ, người trước ngã, người sau xốc tới để đưa non sông về một mối, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.

Trong Di chúc để lại trước lúc đi xa, Bác căn dặn: “Đảng phải có kế hoạch kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân”. Đó cũng chính là một lời hứa trước nhân dân mà chúng ta hôm nay có trách nhiệm phải thực hiện cho bằng được như ý nguyện thiêng liêng của Người.

  • Bích Châu

baobinhdinh.com.vn

Đoàn kết dân tộc

Ảnh minh họa

Xác định làm cách mạng giải phóng dân tộc phải huy động sức mạnh của cả dân tộc, Bác Hồ luôn coi việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược. Người đã chỉ rõ rằng: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta… Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”. Ngay cả với những người ít nhiều có tội với cách mạng mà cách mạng có chính sách khoan hồng, làm cho họ nhận rõ tội lỗi và thức tỉnh lòng yêu nước trong họ, có thể lôi kéo họ đi theo con đường cách mạng.

Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc phải đảm bảo vừa rộng rãi, vừa vững chắc. Để được vững chắc phải lôi cuốn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động, chân tay trí óc, những người đã đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra đời sống vật chất và văn hóa cho toàn xã hội. Để được rộng rãi, phải coi trọng việc vận động cá biệt đối với những vị là nhân sĩ trí thức, là người có uy tín lớn trong các dân tộc, các tôn giáo, các già làng, trưởng bản, trong người Việt Nam ở nước ngoài tham gia mặt trận, phát huy vai trò hiệu triệu quần chúng của họ trong công cuộc dựng nước và giữ nước, chống thù trong giặc ngoài. Có nền tảng vững chắc là điều kiện để mở rộng mặt trận. Có phát huy được vai trò hiệu triệu của những nhân vật tiêu biểu mới lôi cuốn được đông đảo quần chúng tham gia thành phong trào.

Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng phải chỉ rõ mục tiêu chung và hướng đi cụ thể cho mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội. Mục tiêu chung là phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Quá trình thực hiện đại đoàn kết dân tộc phải có phương châm, phương pháp thích hợp. Phương châm là đoàn kết lâu dài, đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết thực sự, đoàn kết chân thành, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Phương pháp là vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, khêu gợi tự giác tự nguyện, lấy lòng chân thành để cảm hóa.

Phải coi việc giữ gìn đoàn kết trong Đảng là hạt nhân đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn dân tộc. Để giành thắng lợi cho cách mạng, phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại. Xây dựng Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc phải gắn với thực hiện đoàn kết quốc tế, với việc xây dựng tình hữu nghị với các nước trên thế giới.

Trong công tác mặt trận, Đảng lãnh đạo cần làm nổi rõ vai trò của mặt trận trong xã hội, đề ra chương trình hành động sát hợp, biết khéo vận động những nhân vật tiêu biểu, khéo thực hiện nguyên tắc dân chủ hiệp thương. Công tác dân vận và công tác mặt trận có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải đồng nhất.

Trong Di chúc, Bác Hồ một lần nữa khẳng định: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng, của dân ta”.

  • Trọng Tân

baobinhdinh.com.vn

Nền tảng văn hóa

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thực chất là cuộc vận động văn hóa để xây dựng đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo động lực tinh thần cho sự phát triển và hiện đại hóa xã hội nước ta.

Năm 2010, cuộc vận động có chủ đề “xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, là đạo đức là văn minh”. Đây là một nội dung vô cùng quan trọng đối với Đảng và toàn thể đảng viên trong thời kỳ phát triển hiện nay của cách mạng nước ta.

Hồ Chí Minh chỉ dẫn “văn hóa không ở bên ngoài mà ở trong kinh tế và chính trị”, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, “dân tộc Việt Nam phải trở thành một dân tộc thông thái”… do đó, chúng ta cần phải rất chú trọng giáo dục nhận thức, nâng cao trình độ tư tưởng, rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho toàn Đảng, toàn dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức của Người chứa đựng trong đó sức mạnh của trí tuệ, động cơ và mục đích cao thượng, tình yêu thương vô hạn và không bao giờ thay đổi của Người đối với đồng bào dân tộc mình và cả nhân loại trên thế giới. Đó là ngọn nguồn mãnh liệt và bền bỉ dẫn tới nghị lực phi thường, tình cảm trong sáng, chân thành của Người. Nó thấm đượm chất nhân văn vị tha và khoan dung, biểu hiện một tâm hồn tinh tế và phong phú, lộng gió thời đại. Lối sống giản dị, tự nhiên của Hồ Chí Minh được tạo nên từ những giá trị đó, là sự kết tinh và thể hiện một bản lĩnh văn hóa. Đạo đức và đời sống đạo đức của Hồ Chí Minh đã đạt tới sự mẫu mực của văn hóa đạo đức, hài hòa Chân – Thiện – Mỹ, ở đó quyện chặt truyền thống, bản sắc dân tộc với tinh hoa văn hóa thế giới và tinh thần thời đại.

Vì vậy, hưởng ứng cuộc vận động là một quá trình công phu giáo dục và thực hành văn hóa đạo đức đối với từng tổ chức và từng cán bộ, đảng viên. Nói và làm phải đi đôi với nhau, đã nói thì phải làm, nói ít làm nhiều, cái chủ yếu là hành động, cái gì tốt cho dân, có lợi cho dân, cho nước, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý một cách cao cả nhất. Làm “công bộc” trung thành, tận tụy của dân là thực hành một lẽ sống cao thượng nhất. Cái gì có lợi cho dân thì quyết làm cho bằng được, cái gì có hại tới dân thì quyết tránh cho bằng được.

Đó là những chỉ dẫn rất quý báu của Hồ Chí Minh đối với chúng ta. Sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, sự nhất quán giữa nói và làm là thước đo quan trọng bậc nhất của tính trung thực đạo đức, của sự trưởng thành đạo đức và nhân cách ở mỗi con người. Đó cũng chính là thước đo văn hóa mà lúc sinh thời, Hồ Chí Minh coi như triết lý nhân sinh và hành động – ở đời thì phải thân dân, làm người thì phải chính tâm.

Xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức là văn minh” chính là đặt cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững những giá trị văn hóa tinh thần trong Đảng và trong các tầng lớp nhân dân, trong các thế hệ người Việt Nam. Đây thực chất là một cuộc vận động văn hóa để xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và nhân cách, từ cán bộ, đảng viên đến quần chúng nhân dân, tạo động lực tinh thần cho sự phát triển đất nước.

  • Đỗ Lê Văn

baobinhdinh.com.vn

Văn hóa “Vì nhân dân phục vụ”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa có ý nghĩa vô cùng to lớn và giữ vị trí đặc biệt quan trọng, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Theo Người, xã hội thế nào thì văn hóa thế ấy, văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế.

Trong rất nhiều bài nói và bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến việc phải giữ gìn và phát huy những truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng dân tộc Việt Nam được hun đúc nên qua hàng ngàn năm lịch sử. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu… Bên cạnh việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, biết gạn đục khơi trong, nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân, biết chọn lọc, sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh và đặc tính của dân tộc mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tấm gương cho mọi thế hệ Việt Nam, trong đó có tuổi trẻ noi theo.

Với nhận thức là văn hóa có nhiệm vụ phụng sự Tổ quốc và nhân dân, xuất phát từ quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, “nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân” chúng ta phải xây dựng nền văn hóa thấm nhuần sâu sắc quan điểm “Vì nhân dân phục vụ” và phát huy sứ mạng của toàn dân làm văn hóa. Làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người là yêu cầu rất cấp bách cho cả trước mắt và lâu dài. Để làm được điều đó, mọi tầng lớp nhân dân, mọi tổ chức chính trị, xã hội, các đoàn thể, tôn giáo, nhà trường và gia đình… phải tham gia tích cực, thường xuyên, liên tục, bền bỉ nhằm xây dựng nền văn hóa mới trong xã hội ta.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đã và đang là định hướng lớn cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta. Nó mãi là ánh sáng soi đường cho công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta với mục tiêu “tất cả vì nhân dân phục vụ”. Đây không chỉ là phương châm hành động mà còn là phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên.

Văn hóa được xây dựng và bồi đắp nên trong suốt chiều dài lịch sử, nó làm nên nền tảng tinh thần của một xã hội, giữ vai trò quan trọng vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Với tinh thần học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta quyết tâm học tập và noi theo tư tưởng văn hóa của Người để làm tốt công việc của người cán bộ, đảng viên theo đúng phương châm “tất cả vì nhân dân phục vụ”.

  • Thảo Trần

baobinhdinh.com.vn

Năm ấy Bác về nước (*)

LTS: Nhân 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (28-1-1941/28-1-2011), Báo Quân đội nhân dân xin trích đăng hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về giai đoạn 1940-1941 khi Đại tướng hoạt động, học tập ở Trung Quốc, được Bác điều về nước cùng với các đồng chí khác xây dựng cơ sở cách mạng.

… Từ khi sang Trung Quốc, tôi càng nhận thấy sâu sắc mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Trung Quốc.

Sau lần gặp Bác ở Thúy Hồ, anh Phạm Văn Đồng và tôi luôn luôn được gặp Bác cùng các anh Phùng Chí Kiên, Vũ Anh. Bác thường nói nhiều đến cuộc chiến tranh chống Nhật của Trung Quốc.

Một bữa, Bác bảo anh Đồng và tôi:

– Các đồng chí sẽ đi Diên An. Lên trên ấy, vào trường Đảng học tập chính trị, cố gắng học thêm quân sự.

Mấy lần gặp sau, trước khi chúng tôi đi, Bác vẫn dặn đi, dặn lại tôi “cố gắng học thêm quân sự”.

Tháng 9 năm 1940, chúng tôi được tin thực dân Pháp đã cúi đầu trước phát xít Nhật vào Đông Dương. Sự việc đã diễn ra đúng như dự đoán của Đảng mà anh Hoàng Văn Thụ đã nói với tôi trước khi ra đi.

Vào khoảng đó Bác đến Quế Lâm.

Bà con Pác Bó, Cao Bằng vô cùng xúc động được gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh sau 20 năm xa cách (20-2-1961) . Ảnh tư liệu

Chúng tôi tới gặp Bác ở một vùng ngoại ô. Bác cùng chúng tôi đi lững thững như những người nhàn rỗi dạo chơi trên cánh đồng. Tới một bãi cỏ có bóng mát, chúng tôi ngồi lại khai hội… Bác nhận định tình hình chung trên thế giới và ở Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, không nên ở Quế Lâm lâu, phải chuyển về biên giới tìm cách trở về nước ngay để hoạt động.

Ai cũng nóng ruột muốn mau chóng trở về, nhưng chưa có liên lạc với trong nước. Việc về nước lúc này chẳng phải dễ dàng… Trong một buổi họp, Bác nhận định: “Tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi, thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào”…

Trong những ngày ở Quế Lâm, có lần Bác bàn với chúng tôi: Trước tình hình mới, vấn đề đoàn kết toàn dân giải phóng dân tộc càng quan trọng. Ta phải nghĩ đến việc lập một hình thức mặt trận thật rộng rãi, có tên gọi cho thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? Việt Nam phản đế đồng minh? Hay là Việt Nam độc lập đồng minh, có thể gọi tắt là Việt Minh cho nhân dân dễ nhớ. Những ý kiến Bác nói hồi đó, sau này, đã được thảo luận tại Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ tám của Đảng ở Pác Bó.

Tin tức về phong trào tại nước nhà ngày càng thúc giục, nhưng vẫn chưa tìm ra cách để liên lạc với Trung ương ở trong nước. Bác chủ trương là nên chuyển về hoạt động ở sát biên giới, rồi tính cách về nước sau.

Một hôm, chúng tôi được tin Trương Bội Công về Tĩnh Tây đã đón được một số thanh niên các dân tộc ở Cao Bằng vì bị đế quốc Pháp khủng bố mạnh, phải vượt biên giới chạy ra ngoài. Bác đã nhìn thấy một cơ hội tốt để tổ chức đường liên lạc về nước. Bác nói: “Chúng ta sẽ tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó, đưa anh em trở về củng cố và mở rộng phong trào Cao Bằng và tổ chức đường liên lạc về nước”. Cũng từ lúc này, Bác đã nhận định về vị trí của Cao Bằng: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tấn công, lúc khó khăn có thể giữ”.

Từ khi chưa đặt chân vào Cao Bằng, Bác đã vạch ra một cách chính xác tính chất quan trọng của căn cứ địa Việt Bắc sau này.

Cuối tháng 11 năm 1940, chúng tôi về đến Tĩnh Tây. Đầu tháng 12, Bác và anh Phùng Chí Kiên về một làng cách Tĩnh Tây năm chục cây số. Bác cho người đến gọi anh Đồng và tôi về để mở lớp huấn luyện. Chúng tôi lên đường về nơi Bác hẹn gặp. Từ đó còn phải đi bộ khá xa mới đến địa điểm đã chọn để mở lớp huấn luyện. Đường đi toàn đồi núi. Bác đi bộ rất nhanh, tất cả chúng tôi không ai theo kịp. Dọc đường, thỉnh thoảng Bác lại dừng lại đứng chờ.

Lớp huấn luyện được tổ chức ở một vùng dân tộc Nùng đã từng chịu ảnh hưởng của Hồng quân Trung Hoa trong thời kỳ Hồng quân hoạt động ở Quảng Tây. Nhân dân ở đây rất quý những người cách mạng Việt Nam. Chúng tôi phân chia nhau ở trong hai làng.

Hai việc trước tiên phải lo, là việc chuẩn bị lương thực và làm chương trình huấn luyện.

Nhân dân ở các làng biên giới này rất giàu tinh thần và tình cảm với cách mạng, nhưng đời sống thì còn rất nghèo khổ. Việc lo ăn một lúc cho năm chục con người hàng nửa tháng, không phải là một việc dễ. Đồng chí Cáp được giao nhiệm vụ tiếp tế lương thực, nhưng mọi người đều phải góp sức. Mỗi buổi sáng, chúng tôi đều đi lấy gạo, bắp về giã, kiếm củi để nấu ăn và để giúp đỡ đồng bào. Bác cũng bổ củi rất khỏe.

Sau những ngày học tập, mọi người phấn khởi, náo nức hẳn lên. Anh em chúng tôi đứng vây quanh Bác, biết rõ ông cụ mảnh khảnh mặc bộ quần áo Nùng giản dị này là người gắn liền với vận mệnh của dân tộc Việt Nam.

Lá cờ đỏ sao năm cánh phấp phới bay trong gió lạnh như một ngọn lửa thiêng sưởi ấm tâm hồn chúng tôi, khi đó còn là những người dân mất nước phải sống xa quê hương. Chúng tôi ngoảnh mặt cả về phía Nam, hoan hô tinh thần khởi nghĩa Nam Kỳ, thề sẽ thẳng tiến không lùi trên con đường cách mạng chông gai, một ngày kia sẽ đem lá cờ thiêng liêng này về nêu cao giữa Thủ đô.

Ngay sau đó, cả bốn mươi đồng chí Cao Bằng lại quay về nước, tìm về những cơ sở cũ. Chúng tôi ở lại, chuẩn bị thêm cho kế hoạch công tác sắp tới.

Ngày Tết đến với chúng tôi tại biên giới. Suốt thời gian qua, bà con dân làng hiểu rõ chúng tôi hơn, càng thêm quý mến. Gần làng có miếu thờ Thành Hoàng, nhân dân ai cũng đến lễ bái. Bác cũng đi cùng bà con đến viếng đền. Anh em chia nhau đi ăn Tết các nơi trong làng. Bà con ai cũng mời đến nhà, nếu không đến thì không bằng lòng. Có đồng chí trong một ngày phải đi ăn Tết tới gần một chục nơi. Đến nhà ai, Bác cũng đều mang theo một tờ giấy hồng điều tự tay Bác đã viết dòng chữ “Cung chúc tân niên”.

Nhìn Bác mặc bộ quần áo chàm, quần xắn cao, tay cầm gậy, đi chúc Tết nhân dân với dáng nhanh nhẹn, thái độ thoải mái vui vẻ, nhớ lại khi Bác ở Côn Minh mặc âu phục, cổ cồn, mũ phớt, tôi thấy Bác đã hòa vào trong hoàn cảnh mới một cách hết sức tự nhiên.

Sau Tết ấy, các anh Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, có anh Lê Quảng Ba dẫn đường, về Cao Bằng tìm cơ sở đặt địa điểm cơ quan rồi ra đón Bác cùng về.

Thời gian này, chúng tôi thường đi lại giữa Tĩnh Tây và nơi làm việc mới của Bác ở trong nước, tại hang Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Lán Khuổi Nậm ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nơi họp Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ tám (tháng 5-1941), quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh. Ảnh tư liệu

Lần đầu về nước, tôi đi cùng một đồng chí giao thông. Qua một quả núi đất khá cao, lởm chởm đá, xuống một con đường mòn nằm quanh co giữa những nương rẫy bên sườn núi, đồng chí giao thông chỉ một phiến đá nhỏ, nói đó là cột mốc biên giới. Tôi dừng chân, đứng nhìn một lúc. Phiến đá có khắc mấy chữ Hán, dựng giữa hai nương ngô. Bên kia, bên này cây cỏ cũng như nhau. Đồng chí giao thông lại cho biết thêm, nhân dân ở cả hai bên biên giới tại vùng này, đều là bà con dân tộc Nùng cùng nói chung một thứ tiếng. Thấy biên giới đúng là một sản phẩm của con người đặt ra.

Thấm thoắt đã một năm trời xa Tổ quốc, đặt chân lên dải đất quê hương, lòng chẳng khỏi bồi hồi. Mỗi bước đi thấy trong người ấm áp hơn lên. Chỉ vừa mới đi thêm mấy bước chân mà trước đó thì thấy như còn ở rất xa. Lúc này lại thấy như đã ở gần nhà.

Vùng này núi đất xen với núi đá, địa thế hiểm trở. Những chòm nhà nhỏ của đồng bào Nùng nằm thưa thớt giữa những nương ngô trên sườn núi hay bên những thửa ruộng nhỏ dưới thung lũng. Sương trắng từng dải đọng trên các đầu núi. Khung cảnh Pác Bó hiện ra trước mắt như một bức tranh thủy mạc.

Khắp vùng này đều đã có cơ sở. Chúng tôi vừa đi vừa ngắm núi non, đất nước. Nhớ lại lúc vượt sông Nậm Ty hết ngó trước lại ngó sau, cảm thấy vui vui với ý nghĩ, cả nước tuy còn nằm dưới ách thống trị của bọn đế quốc, nhưng ở nơi này đã có một mảnh đất tự do.

Đi chẳng bao xa, tôi đã nhận ra Bác đang ngồi trên một phiến đá. Sau bao năm xa nước, hoạt động từ Đông sang Tây, Bác đã trở về góc rừng hoang vắng của Tổ quốc với bộ quần áo chàm giản dị, rất tự nhiên trong vai một ông già người Nùng. Gần chỗ Bác ngồi, dưới chân những khối nhũ đá thấp nhỏ, hình thù kì dị, nước từ khe núi chảy ra đọng lại trong vắt.

Bác trỏ dòng nước rồi nói:

– Đây là suối Lê-nin.

Trèo qua một quả núi đá không cao lắm, lách người đi hết một đám lau rậm, thì thấy hiện ra một cửa hang. Trong hang ẩm lạnh không có đồ đạc gì ngoài chiếc sàn nằm làm bằng những cành cây nhỏ gác ngang, gác dọc. Chính ở đây vào tháng 5 năm đó, Hội nghị Trung ương lần thứ tám đã họp dưới sự chủ tọa của Bác, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh và đề ra chủ trương chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Trong hội nghị này, Trung ương đã quyết định duy trì và phát triển cơ sở du kích ở Bắc Sơn, Vũ Nhai, đồng thời ra sức củng cố và mở rộng cơ sở Cao Bằng, xây dựng hai nơi đó làm trung tâm của công cuộc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa tại Việt Bắc. Cũng tại đây, Bác đã nhân danh nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc viết lá thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Việc cứu nước là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm …”.

Anh Vũ Anh ở lại Pác Bó với Bác.

Sáng nào Bác cũng dậy rất sớm và gọi mọi người cùng dậy. Bác tập thể dục rất đều, tập xong lạnh mấy cũng đi tắm suối, rồi bắt đầu làm việc. Khi Bác khai hội, khi Bác nghiên cứu, khi Bác xuống làng nói chuyện với đồng bào, có khi Bác đi lấy củi. Bữa cơm của Bác chỉ có chút thịt muối hoặc con cá con vừa bắt được dưới suối.

Trời tối, trong hang rất lạnh, phải đốt lửa sưởi suốt đêm. Không có đèn nên buổi tối ít khi làm việc. Anh em thường ngồi quây quanh đống lửa nghe Bác nói chuyện. Một lần, Bác nhắc lại những cuộc chiến tranh lớn, những cuộc cách mạng từ trước tới nay, rồi Bác phỏng đoán độ bốn, năm năm nữa, chiến tranh sẽ tới bước quyết định và lúc đó là một cơ hội rất tốt cho cách mạng ta.

Khuya khuya, mọi người ngủ chung cả trên sàn. Những cành cây ngổn ngang dưới lưng, nằm vừa đau vừa lạnh.

Có lần, Bác viết một cuốn lịch Việt Nam bằng thơ lục bát, ghi lại tất cả những phong trào chống ngoại xâm từ trước đến nay. Bác đã viết vào cuối trang mục lục: “Việt Nam độc lập năm 1945”. Anh em người nói sớm, kẻ nói muộn. Bác nghe trao đổi chỉ nói: “Để rồi xem”…

Từ ngày Bác về nước, cơ quan đã thay đổi địa điểm mấy lần. Đồng bào Nùng tại đây rất tốt vì đã có cảm tình và liên lạc với cách mạng từ trước, vùng này rất hẻo lánh. Nhưng bọn Tây và quân lính ở các đồn phía dưới Sóc Giang vẫn thường kéo lên, khi lùng bắt những người trong làng nấu rượu lậu, khi tìm thổ phỉ, khi dò la tung tích cách mạng. Nơi ở đầu tiên của Bác tại Pác Bó tuy ẩm lạnh nhưng vẫn là nơi ở tốt nhất. Tại đây, có hang không sợ mưa nắng. Địa điểm thứ hai là một hốc núi nhỏ ở rất cao và rất sâu trong rừng, bên ngoài chỉ rấp ít cành lau. Những khi trời mưa to, rắn rết chui cả vào chỗ nằm. Có buổi sáng, Bác thức dậy thấy một con rắn rất lớn nằm khoanh tròn ngay cạnh người. Về đây, Bác hay sốt. Nhiều lần, Bác đang ngồi khai hội thì lên cơn sốt, mặt tái ngắt, tay chân run cầm cập. Chúng tôi mời Bác đi nằm, nhưng Bác nói: “Nằm càng mệt, ngồi thế này có đấu tranh đỡ hơn”…/.

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP

(*) Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân

qdnd.vn

Bác Hồ trước họa “diệt cộng, cầm Hồ”

QĐND – Chính quyền nhân dân non trẻ đang trong cơn nước sôi lửa bỏng phải đối mặt với hai kẻ thù ngoại xâm: Pháp và quân Tưởng Giới Thạch. Một cán bộ hỏi Bác: “Thưa Cụ, trong hai tên giặc ấy, tên nào đáng sợ hơn? Bác hài hước nói: “Sợ nhất các chú!”.

Cuộc chạy đua nước rút

Tại Hội nghị “Chia phần” của phe thắng phát xít ngày 24-7-1945, nhờ tài “đi đêm” Chính phủ của Tưởng Giới Thạch đã được Đồng minh cho phép đưa quân vào miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 để nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật hoàng (phía Nam là quân Anh). Dàn xếp xong trong nội bộ, ngày 9-8, Chính phủ Tưởng tuyên bố cử tướng Lư Hán làm Tư lệnh 20 vạn Hoa quân nhập Việt. Nhận lệnh, Lư Hán triệu ngay đại diện quân Nhật tới Côn Minh yêu cầu: Thả ngay tù binh Đồng minh; Chỉ giao chính quyền ở miền Bắc cho các nhà chức trách Trung Quốc; Quân Nhật phải giữ trật tự chờ đến khi quân Tưởng Giới Thạch đến.

Cùng ngày 27-8, hai cánh quân của Lư Hán và Tiêu Văn tràn sang nước ta kéo theo bọn Việt gian tay sai thuộc hai đảng Việt quốc, Việt cách của Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Hải Thần với chủ mưu “diệt cộng, cầm Hồ” lập Chính phủ thân Tưởng Giới Thạch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường trở về ATK. Ảnh tư liệu

Bác Hồ ở trên chiến khu ốm nặng, phải tối 26-8 mới về tới 48 Hàng Ngang, Hà Nội. Người chỉ thị tổ chức ngay lễ ra mắt Chính phủ lâm thời để tuyên bố trước thế giới: Nước Việt Nam đã có chính quyền mới từ ngày 2-9-1945. Một tuần sau, ngày 9-9, Tiêu Văn mới tới Hà Nội. Hai ngày sau, Lư Hán vội đáp máy bay đến Gia Lâm, lập Đại bản doanh tại Phủ toàn quyền. Quân Tưởng Giới Thạch ngang nhiên coi chúng là chủ của đất nước này.

Chữ “Nhẫn”

Lúc bấy giờ, báo chí nước ngoài mô tả quân Tưởng: “Đội quân chân đất, bụng lép, quyết bám vào cuộc nhập Việt để mưu sống. Chúng vơ vét mọi thứ muốn lấy hay cần lấy dù thứ đó là của người Việt, người Pháp hay của ngoại kiều nào, bất kể giàu hay nghèo. Các tướng tá chỉ huy càng tham tàn, hà hiếp mọi người, ở mọi nơi làm gương cho binh sĩ…”.

Riêng Lư Hán càng hống hách hơn, đòi Hồ Chí Minh phải báo cáo cụ thể tổ chức và quân số các lực lượng vũ trang trong quân đội, công an, dân quân tự vệ, đòi sắp xếp lại bộ máy chính phủ, thậm chí đòi đổi lại giờ Việt Nam theo giờ Trung Quốc… Ngày 28-9, Bộ trưởng Hà Ứng Khâm – đặc phái viên của quân Tưởng bay tới Hà Nội danh nghĩa là chứng kiến lễ tiếp nhận đầu hàng của quân Nhật, mục tiêu chính lại là nhằm: “Diệt cộng, cầm Hồ”. Chúng thúc ép thuộc cấp phải nhanh chóng chớp thời cơ trước khi quân Pháp đánh ra Bắc Bộ – kể cả khiêu khích kiếm cớ can thiệp lật đổ.

Tiêu Văn muốn lập công đầu, gửi thư cho Hồ Chí Minh, nói: “Kính gửi Cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho mượn một cái nồi nấu cơm”.

Đọc thư, mọi người vô cùng phẫn nộ thưa lại với Bác: “Chúng khinh ta quá đáng”!
Bác nhẹ nhàng nói: “Nền độc lập ta mới giành được ví như chiếc bình ngọc quý. Có con kiến bò miệng bình, ta chỉ cần lấy cái que nhỏ bắc cầu cho kiến bò đi, hay lấy gậy đập chết kiến – Chắc gì kiến chết mà bình lại vỡ? Họ mượn cái nồi nấu cơm, ta cho mượn việc gì các chú phải nổi nóng?”.

Ngày 11-11-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán (thực tế là rút vào hoạt động bí mật) để “cứu mạng sống” cho bọn Lư Hán – Tiêu Văn không bị Tưởng Giới Thạch trị tội “bất tuân thượng lệnh”. Tuy nhiên, ngoài nguy cơ lộ liễu từ phía quân Tưởng và lũ tay sai, bọn Phòng nhì Pháp đã bắt đầu tung mạng lưới do thám ra Hà Nội. Ngay lập tức, Bác chỉ đạo, ngoài tổ an ninh đặc biệt do hai ông Nguyễn Lương Bằng và Trần Đăng Ninh phụ trách, phải lập thêm trung đội đặc nhiệm nữa do Đàm Quang Trung phụ trách rải quân ở nhiều nơi để lừa chúng.

Vụ bắt cóc bất thành

Trong khi theo lệnh Tưởng Giới Thạch (do chủ trương của Mỹ muốn để Pháp thay thế Trung Hoa giải giáp quân đội Nhật ở Bắc Đông Dương). Đại bản doanh của Lư Hán – Tiêu Văn, một mặt tiến hành các tổ cảnh giới ở Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu, một mặt khác vẫn tiếp tục mưu kế “cầm Hồ”.

Sáng 25-11-1945, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Hữu Nam nhận được một công văn “Thượng khẩn” của Lư Hán mời Bác tới Bộ tư lệnh đại diện quân Đồng minh có việc. Cả các ông Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Huỳnh đều bàn thưa với Bác không nên đi, mà chỉ cử đặc phái viên Chủ tịch nước đến gặp là đủ. Bác nói: “Lư Hán lúc này lấy danh nghĩa Đồng minh giở giọng “thiên triều” ra chỉ lệnh cho “chư hầu”. Bác không đến gặp, nó tưởng ta sợ nó. Nó được nước, có thể làm điều càn bậy hơn. Miếng võ hiểm phải có “đòn văn” hiểm hơn chứ!”.

Bác nói chuyện qua điện thoại với ngài Patti, đại diện phái bộ Mỹ hẹn gặp vào buổi chiều, và bảo ông Huỳnh ngày hôm đó không được rời phòng làm việc. Xe lên Phủ toàn quyền, viên sĩ quan quân Tưởng lễ phép thưa: “Tướng quân Lư ngài bận”, y dẫn Bác xuống 64 Nguyễn Du gặp tướng quân Tiêu Văn. Bọn họ lại ngang ngược cho Triệu Bách Xương ra cổng xin lỗi Bác và đưa Người tới Quân đoàn 63 gặp Quân trưởng Chu Phúc Thành (địa điểm Bệnh viện 103 bây giờ). Bác nhận ra sự nguy hiểm do chúng đã tách ba anh bảo vệ đi theo. Người đưa mắt nhắc anh em “bình tĩnh”!

Chúng giữ Bác đến chiều. Bác bí mật cử người về đánh động cho Mỹ biết. Lập tức, ông Patti đến, ông Vũ Đình Huỳnh kể lại sự việc. Ông bạn Mỹ tỏ rõ sự bất bình, nói:

– Chúng tôi can thiệp ngay việc này.

Hẳn là có tiếng nói của quan thầy, chúng không dám hành động liều lĩnh. Bác Hồ kính yêu của chúng ta an toàn trở về lãnh đạo cuộc kháng chiến…

Bài học của 65 năm trước, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Trịnh Tố Long

qdnd.vn

Hẹn gặp lại Sài Gòn

Năm 1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh cấp kinh phí đầu tư sản xuất bộ phim truyện nhựa màu đầu tiên về tuổi trẻ của Bác Hồ lấy tựa đề, Hẹn gặp lại Sài Gòn.

Cảnh Nguyễn Tất Thành và bạn Út Huệ viếng mộ mẹ ở núi Bân

Trong bộ phim “Hẹn gặp lại Sài Gòn” (kịch bản Sơn Tùng, đạo diễn Long Vân dàn dựng năm 1990), hình ảnh Bác Hồ thời trẻ gây ấn tượng sâu sắc với diễn xuất của NSƯT Tiến Hợi và NS Thu Hà. Bộ phim kể về những năm tháng Bác Hồ cùng gia đình sống và học tập ở Huế giai đoạn 1895 – 1901 và 1906 – 1909, sau đó Nguyễn Tất Thành vào Phan Thiết dạy học và vào Sài Gòn tìm cách ra nước ngoài để tìm đường cứu nước.

Với nội dung kịch bản Hẹn gặp lại Sài Gòn kể lại câu chuyện về cuộc đời chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành khi 20 tuổi với đầy hoài bão, đầy ước mơ và chất chứa nỗi đau giống nòi, nỗi đau mất nước. Khi đó, một trong những tiêu chí hàng đầu của đạo diễn khi tìm chọn diễn viên là ngoại hình càng giống Bác hồi trẻ càng tốt.

Việc tìm kiếm khá khó khăn, đoàn làm phim mất nhiều tháng trời mà chưa chọn được diễn viên như ý. Sau đó, đạo diễn Long Vân nhận được thông tin, diễn viên Tiến Hợi vừa vào vai Bác Hồ trong vở kịch nói “Đêm trắng” có ngoại hình và tác phong khá giống Bác. Và cuối cùng, diễn viên Tiến Hợi đã thuyết phục được vị đạo diễn khó tính không chỉ bởi ngoại hình, tác phong mà còn bởi tình cảm yêu kính chân thành của người nghệ sỹ dành cho nhân vật và cho vai diễn Bác Hồ.

Để có thể vào vai Nguyễn Tất Thành, nghệ sĩ Tiến Hợi không chỉ chờ đợi bàn tay hóa trang, vào sức diễn của một diễn viên, Tiến Hợi còn tìm đọc những tài liệu lịch sử, sách, truyện về cuộc đời Bác. Theo lời kể của nghệ sĩ Tiến Hợi, anh còn tìm nghe những băng ghi âm các bài nói chuyện của Bác, để tập nói theo giọng của Bác… Bằng tất cả tình cảm yêu kính dành cho Bác, bằng sự nỗ lực, tìm tòi của bản thân, với ngoại hình và giọng nói có được, Tiến Hợi đã có được vai diễn ấn tượng, để lại nhiều dấu ấn xúc động cho người xem qua bộ phim Hẹn gặp lại Sài Gòn.

Trân trọng giới thiệu với quý vị và các bạn bộ phim: Hẹn gặp lại Sài Gòn

Nguồn: YouTube

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 10-1947, Bác Hồ viết xong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, mang bút danh X.Y.Z. Bài này giới thiệu tóm tắt bài viết của Bác.

Năm 1947, trong điều kiện toàn quốc kháng chiến, tình hình đất nước lúc này, hơn bao giờ hết đòi hỏi mọi người cán bộ, đảng viên phải gương mẫu nêu cao đạo đức cách mạng, dám chấp nhận hy sinh gian khổ, vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống quan liêu xa rời quần chúng và chống chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức.

Để cán bộ, đảng viên hiểu và thực hiện được yêu cầu đó, tháng 3-1947, Bác gửi thư cho các tổ chức Đảng, đề cập đến căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân và các biện pháp đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra đáng giá thực tế, Bác thấy ở nhiều nơi, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân không được nhắc nhở, việc thực hiện không nghiêm túc.

Tháng 10-1947, Bác Hồ viết xong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, mang bút danh X.Y.Z (Bác có khoảng 160 bút danh, tên gọi khác nhau). Lúc này Trung ương chỉ đạo tổ chức đợt học tập chính trị trong toàn Đảng. Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Bác là tài liệu quý giúp cho cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện, tu dưỡng trên các mặt tư tưởng, đạo đức và phương pháp làm việc.

Trong tác phẩm, Bác khẳng định “Sửa đổi lối làm việc” của Đảng là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng; là nhiệm vụ thường xuyên, vừa lâu dài, vừa cấp bách của một Đảng chân chính. Theo Bác: Sửa ở đây là sửa chữa, khắc phục. Đổi là đổi mới; Lối là phương pháp cách thức; Làm việc là hoạt động của Đảng, lãnh đạo của Đảng. Sửa đổi lối làm việc là để nâng cao sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giúp cho mọi tổ chức và cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình. Nội dung tác phẩm đề cập đến các lĩnh vực về tư tưởng, tổ chức, phương thức, phương pháp lãnh đạo, công tác quần chúng của Đảng trong điều kiện đặc thù của đất nước vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Bác Hồ chỉ ra có 3 loại khuyết điểm mà cán bộ thường gặp, đó là bệnh chủ quan; bệnh hẹp hòi; bệnh ba hoa. Biểu hiện của các loại khuyến điểm đó là: Không đem lý luận thực hành trong cuộc sống; nói, viết dài dòng; tự cao tự đại, coi thường mọi người, dẫn đến chia rẽ, bè phái, đố kỵ; công thần, suy bì, tị nạnh với đồng chí, đồng đội; kể công với Đảng. Nguyên nhân chính dẫn đến các khuyết điểm đó theo Bác là do yếu kém lý luận, khinh lý luận hoặc lý luận suông. Bác cho rằng lý luận chân chính phải xuất phát từ thực tiễn, tổng kết thực tiễn, gắn với cuộc sống, chỉ đạo cuộc sống. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế hàng ngày. Phải biết tổng kết kinh nghiệm ngay trong công việc của mình.

Bác chỉ ra nhiệm vụ của toàn Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên là phải thường xuyên xem xét, sửa đổi lối làm việc; xác định đâu là ưu điểm, đâu là khuyến điểm. Đừng sợ khuyết điểm, không che dấu khuyến điểm, phải tự phê bình, phê bình rộng rãi. Bác cho rằng: Một Đảng mà giấu khuyết điểm là một Đảng hỏng, có gan thừa nhận khuyết điểm, tìm nguyên nhân, quyết tâm sửa chữa khuyết điểm thì Đảng đó là một Đảng tiến bộ.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác rất chú trọng đến vấn đề đạo đức cách mạng. Bác cho rằng, đạo đức cách mạng là cái căn bản, là cái gốc đối với toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, không có đạo đức thì dù giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Theo Bác, đạo đức cách mạng bao gồm 5 tính tốt: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm: Nhân là hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không có việc gì giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dũng là gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa. Cực khổ có gan chịu đựng. Liêm có nghĩa là trong sạch, không tham lam. Bác chỉ rõ “đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, Bác khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Cán bộ tốt phải có đủ đức và tài, trong đó đức là gốc. Vì vậy, phải quan tâm, chú trọng đến tất cả các khâu của công tác cán bộ, từ việc huấn luyện cán bộ; lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ đến việc thực hiện chính sách đối với cán bộ. Bác cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng là lực lượng to lớn của cách mạng, mục đích cách mạng là phục vụ lợi ích của quần chúng. Do đó, muốn cho sự nghiệp cách mạng thành công, Đảng phải có phương thức lãnh đạo đúng đắn và thích hợp; phải biết dựa vào quần chúng, tổ chức cho quần chúng thực hiện mục tiêu của cách mạng. Phải có phương pháp tuyên truyền vận động quần chúng phù hợp. Bác yêu cầu phải học cách nói của quần chúng, dùng lời lẽ dễ hiều, phù hợp với từng đối tượng. Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Bác vừa thể hiện sự kế thừa sâu sắc lý luận Mác – Lênin về xây dựng Đảng, vừa bổ sung, phát triển làm phong phú thêm nhiều vấn đề quan trọng, nhất là vai trò đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đây là tài liệu bổ ích, thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện, hướng dẫn cán bộ, đảng viên phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, giảm bớt những sai lầm khuyết điểm; củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân, huy động được nhiều lực lượng tham gia xây dựng Đảng. Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước, nội dung tác phẩm của Bác vẫn còn nguyên giá trị, giúp cho chúng ta thống nhất về nhận thức và hành động, nhằm đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống; khắc phục các biểu hiện tiêu cực như quan liêu, tham nhũng, lãng phí, độc đoán chuyên quyền, thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật…của một số cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh, trong sạch, gắn bó mật thiết và phục vụ nhân dân được tốt hơn.

Nguồn tin: Người làm báo Ninh Thuận – NT (Đ/máy)

vja.org.vn

“Trung với Đảng, hiếu với dân…”!

Ngày 22.12.1964, nhân dịp kỷ niệm quân đội ta tròn 20 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và khen ngợi “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Người khẳng định: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ hết lòng của nhân dân, quân đội ta hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ trao cho, chiến đấu anh dũng, công tác và lao động tích cực, tiết kiệm, cần cù, khiêm tốn giản dị, đoàn kết nội bộ, đồng cam cộng khổ với nhân dân…

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, mà dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta còn làm tròn chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất, Người nói: “Quân đội ta là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Mới ra đời với gậy tầm vông, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật, đưa cách mạng tháng Tám đến thành công”. Bác còn chỉ rõ là quân đội cách mạng phải biết vượt qua khó khăn thử thách, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. “Bộ đội ta là bộ đội nhân dân, bộ đội cách mạng có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần cù, chất phác, việc khó khăn nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn được giữ vững và phát triển”… – Người nhắc nhở.

Thực tiễn đã chứng minh trải qua hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lời khen của Bác đã trở thành lời thề danh dự của quân đội ta đối với Tổ quốc. Điều đó được thể hiện trong bất luận hoàn cảnh nào, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng luôn luôn một lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, luôn giương cao ngọn cờ bách chiến, bách thắng, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của Đảng, của giai cấp, của dân tộc. Quân đội ta đã cùng với toàn dân hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vươn lên chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, bảo vệ thành quả cách mạng, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang của quân đội anh hùng sinh ra từ một dân tộc anh hùng.

Thấm nhuần lời dạy của Bác đối với quân đội, hơn ai hết, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta thấy được vinh dự và tự hào, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Từ đó, luôn trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực, phương pháp, tác phong công tác theo tư tưởng và đạo đức của Người, góp phần xây dựng quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành tin cậy bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, như lời Người dạy.

  • Hoàng Quân

baobinhdinh.com.vn

“Dân là gốc”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần làm chủ của dân là cốt lõi của vấn đề “dân là gốc”. Người thường nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ”.

Biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải tin ở dân, gần gũi dân, biết dựa vào dân. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn biến đường lối chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng, thành sức mạnh cách mạng thì Đảng phải có đường lối đúng đắn; cán bộ đảng viên “phải liên lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”. Cán bộ, đảng viên còn phải học hỏi dân, “nếu không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”, mà “muốn hiểu biết, học hỏi dân thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm”. Người cũng yêu cầu: người làm chủ trước hết phải làm tròn bổn phận công dân, tức là phải tuân theo kỷ luật lao động; giữ gìn trật tự chung; nộp thuế đúng kỳ, bảo vệ tài sản công cộng; bảo vệ Tổ quốc. “Phải chăm lo việc nước như việc nhà”, “phải biết tự mình lo toan gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”; “làm chủ sao cho ra làm chủ, không phải làm chủ là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, làm bao nhiêu thì làm”.

Từ thực tiễn cuộc sống, Hồ Chí Minh lưu ý: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém… Người lãnh đạo phải dụng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do hạng hăng hái đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém lên”. Phải học hỏi dân chúng, nhưng “không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”; phải “tìm ra mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau, xem cái nào đúng, cái nào sai” để vận dụng.

Do đó, thiết thực nhất của việc bồi dưỡng “cái gốc” là phải thường xuyên chăm lo đời sống cho dân, chăm lo lợi ích chính đáng của dân. Người thường nhắc tới những câu của người xưa “có thực mới vực được đạo”, “dân dĩ thực vi thiên”. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Đối với nhân dân không thể lý luận suông”. Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đời sống của dân. Nếu “dân đói”, “dân rét”, “dân dốt”, “ dân ốm” là “Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm dân là gốc là quan điểm khoa học, toàn diện. Đó là sự kế thừa những tinh hoa dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

  • Hòa Thanh

baobinhdinh.com.vn