Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn in đậm nét trong trí nhớ của tôi

Nguyễn Tử Nên

Vào dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Bộ Thông tin – Văn hoá CHDCND Lào đã phát hành cuốn sách quí “Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống và hoạt động” được dịch từ nguyên bản cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên và dịch giả là nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa. Cuốn sách dày trên 170 trang (khổ 13 x 19cm) được in bằng giấy tốt và do họa sĩ Xútchay Đuôngmixay Lycayđa (con trai Nhạc sĩ Đuôngmixay) vẽ bìa; trong đó nổi bật chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nền màu tím của cánh sen và bao quanh là hoa sen, lá sen và hai sợi chỉ trắng và đỏ đan vào nhau thể hiện tình hữu nghị Lào – Việt mãi mãi xanh tươi và đời đời bền vững. Việc Bộ Thông tin – Văn hoá Lào cho dịch, xuất bản và phát hành cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống và hoạt động” đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh của Bác là một sự kiện có ý nghĩa trong quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào.

Chúng tôi đã gặp và trò chuyện với dịch giả – nhạc sỹ Đuôngmixay Lycayđa về công trình dịch thuật của anh. Nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa vui vẻ kể: Tôi có may mắn được tiếp xúc với quân tình nguyện Việt Nam từ những năm còn rất nhỏ và hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các bản nhạc, câu chuyện do các anh bộ đội Việt Nam kể đã in đậm trong trí nhớ của tôi. Năm 11 tuổi tôi được sang Việt Nam học văn hoá và sau đó lại được học tiếp khoa sáng tác (hệ trung cấp) Nhạc viện Hà Nội. Với gần 10 năm sống và học tập tại Việt Nam, tôi có điều kiện hiểu sâu sắc về đất nước, nhân dân Việt Nam và về Bác Hồ kính yêu cùng những tình cảm và sự giúp đỡ to lớn mà nhân dân Việt Nam đã dành cho cách mạng Lào. Gần 20 năm trở lại đây, do công tác trong ngành TT – VH (nhạc sỹ hiện là Phó Cục trưởng Cục Nghệ thuật) mà tôi nhận ra rằng sách viết về Bác Hồ, người đặt nền móng cho quan hệ hữu nghị đòan kết đặc biệt Lào – Việt, dịch ra tiếng Lào còn quá ít. Từ đó, tôi nảy ra ý định tìm dịch một cuốn sách về Bác với mong muốn là góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục lý tưởng, đạo đức các mạng, giáo dục truyền thống đoàn kết thủy chung son sắt giữa hai dân tộc Lào – Việt qua tấm gương về nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh. Và cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” đã được dịch ra tiếng Lào trong trường hợp đó.

Chúng tôi hỏi nhạc sỹ Đuôngmixay Lycayđa về những khó khăn khi dịch cuốn sách này và nhạc sĩ đã thổ lộ: Là một cán bộ quản lý nên quỹ thời gian dành cho các lĩnh vực khác không nhiều. Do đó, tôi phải tranh thủ mọi lúc rảnh rỗi và phải mất hơn 2 năm trời gần như dành toàn bộ tâm trí sức lực, quỹ thời gian, vốn từ ngữ và cả kiến thức xã hội về Việt Nam mà mình có để dịch mới hoàn thành được tác phẩm. Cái khó nhất đối với tôi là có nhiều danh từ riêng chỉ các địa phương, mà chủ yếu là ở nước ngoài hoặc những đoạn người viết tả bối cảnh xã hội của Việt Nam và các nước Bác đến, phải dịch thế nào để người Lào đọc và hiểu được trong khi vẫn giữ được những bản sắc vừa giàu hình ảnh, vừa đậm nét dân tộc của Việt Nam và các nước. Trong trường hợp đó, tôi phải tìm các sách như: “Hồ Chí Minh – về đạo đức cách mạng”, “Hồ Chí Minh – tiểu sử và sự nghiệp”, “Chuyện kể về Bác Hồ, những năm đầu trường kỷ kháng chiến” bằng tiếng Việt và cuốn “Hồ Chí Minh” bằng tiếng Lào để tham khảo hoặc tìm các đồng chí Việt Nam để hỏi. Những cuốn sách mà tôi đã đọc cùng với những cuộc trao đổi thân tình với các đồng chí Việt Nam đã giúp tôi rất nhiều trong cách diễn đạt ngữ pháp Việt Nam, trong việc sử dụng câu từ để làm sinh động thêm những đoạn tả cảnh mà người viết đã có dụng ý nhấn mạnh để phục vụ cho nội dung chủ yếu của cuốn sách.

Kết thúc câu chuyện, nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa tâm sự: Tôi coi việc dịch cuốn sách quý này là vinh dự, là hạnh phúc lớn lao trong đời hoạt động cách mạng của mình. Đối với nhân dân các bộ tộc Lào cũng có thể coi đây là món quà kính dâng lên Bác Hồ muôn vàn kính yêu nhân dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh của Người.

cpv.org.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Phụ lão

1. … Xưa nay, những người yêu nước không vì tên tuổi già mà chịu ngồi không. Nước ta có những người như Lý Thường Kiệt, càng già càng quắc thước, càng già càng anh hùng.

Thư gửi các vị phụ lão, ngày 21- 9-1945, sđd, t.4, tr. 24.

2. Tuổi tác càng cao, lòng yêu nước càng lớn.

Càng già, càng dẻo lại càng dai,
Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai.
Đôn đốc con em làm nhiệm vụ,
Vuốt râu mừng xã hội tương lai.

Tuổi càng cao, lòng yêu nước càng lớn ngày 1-10-1960, sđd, t.10, tr. 213-214.

3. … Các đồng chí già là rất quý, là gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ Đồng chí già phải giúp đỡ cho đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi ở Đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa.

Nói chuyện với cán bộ đảng viên hoạt động lâu năm, ngày 9-12-1961, sđd, t.10, tr. 463.

quangbinh.gov.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Phụ nữ

1 … Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.

Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.

… Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.

Bài nói tại Hội nghị cán bộ thảo luận Luật hôn nhân và gia đình
ngày 10-10-1959, sđd, t.9, tr 523, 524.

2. … Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng, Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội…

Bài nói chuyện tại Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ III
ngày 9-3-1961, sđd, t.10, tr. 296.

3. Phụ nữ cũng là người chủ nước nhà. Để xứng đáng là người chủ thì chị em phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…

4. Phụ nữ cần phải xung phong trong việc xây dựng đời sống mới. Ở miền núi đang còn những phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại, như: ma chay, cúng bái rất tốn kém. Cưới vợ, gả chồng quá sớm. Vệ sinh phòng bệnh, v.v… còn kém. Đó là những mê tín và hủ tục nên xóa bỏ, để xây dựng mỹ tục thuần phong.

5. Đoàn kết là sức mạnh. Đồng bào miền núi, trước hết là chị em phụ nữ, cần phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Đoàn kết giữa dân tộc mình, đoàn kết giữa các dân tộc. Đoàn kết với đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế miền núi…

6. Để làm tốt những việc nói trên, chị em phải cố gắng học tập. Học văn hóa, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được…

Nói chuyện Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi,
ngày 19-3-1964, sđd, t.11, tr. 215.

quangbinh.gov.vn

Tư tưởng về tiết kiệm và thực hành tiết kiệm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Là một người có tấm lòng nhân ái, tình yêu thương con người hết thảy, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu nỗi khổ của người dân, đặc biệt là những người cần lao. Chính vì vậy, trong rất nhiều bài viết, bài nói chuyện của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập nhiều đến tiết kiệm và thực hành tiết kiệm. Vấn đề tiết kiệm và thực hành tiết kiệm đã trở thành một trong những nội dung nằm trong hệ thống tư tưởng của Người.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, tiết kiệm không phải là bủn xỉn mà những việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì mất bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. “Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực” – (Hồ Chí Minh toàn tập).

Trong điều kiện đất nước gặp nhiều khó khăn, do luôn phải chịu sự áp bức bóc lột của bọn Phong kiến tay sai và Đế quốc xâm lược, càng cần phải tiết kiệm để phục vụ cho kháng chiến và công việc kiến quốc. Chỉ có tiết kiệm mới có thể tăng thêm nguồn vốn xây dựng đất nước, góp phần nhanh chóng đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu.

Hồ Chí Minh đã chỉ ra 3 nội dung cơ bản của việc tiết kiệm, đó là: Tiết kiệm sức lao động. Tức là phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất lao động, “1 người làm bằng 2, 3 người”; Tiết kiệm thời giờ. Bác nói: “Thời giờ tức là tiền bạc”; “Một tấc bóng là một thước vàng”. Tiết kiệm thời giờ của mình và tiết kiệm thời giờ của người khác; Tiết kiệm tiền của. Phải tiết kiệm tiền của của Nhà nước, của nhân dân và của chính mình. Việc này liên quan tới tiết kiệm sức người, tiết kiệm thời giờ…

Để làm được điều đó, tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Đi đầu trong việc thực hiện tiết kiệm là các cơ quan, bộ đội, xí nghiêp. Nội dung của tiết kiệm phải cụ thể, thiết thực ngay trong từng vị trí công tác của từng cá nhân. Bộ đội, chiến sỹ thì tiết kiệm đạn, quân nhu, chiến lợi phẩm; cán bộ cơ quan hành chính thì tiết kiệm thời gian, giấy mực…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ai mang vàng vứt đi là người điên rồ. Ai mang thời giờ vứt đi là người ngu dại”. Đặc biệt đối với những người cán bộ, Đảng viên, Người nhấn mạnh “từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân… làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ về sớm… Phải nhớ rằng: Dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân”.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cá nhân, tập thể, nhất là các cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước đã không ngừng triển khai thực hiện các biện pháp về thực hành, tiết kiệm (điện, nước, giấy mực, cải cách thủ tục hành chính giảm thiểu tối đa về thời gian, công sức, tiền của của nhân dân…), tạo thành phong trào thi đua rộng khắp trong đông đảo quần chúng nhân dân. Kết quả đó đã góp phần thực hiện thành công Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Nguyễn Thanh Phong – P.HCTH – ĐLCC (st)

hcmpc.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh[1] đến bản Di chúc cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng.

Vấn đề đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính lôgic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tầm quan trọng của đạo đức bao giờ cũng được Người đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư cách của người cách mạng. Trong trang đầu cuốn Đường Kách Mệnh – Người đã ghi 23 nét tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với đời, với việc. Đó là những chuẩn mực: “Tự mình phải:

Cần kiệm.

Hòa mà không tư.

Cả quyết sửa lỗi mình.

Cận thận mà không nhút nhát.

Hay hỏi.

Nhẫn nại (chịu khó).

Hay nghiên cứu, xem xét.

Vị công vong tư.

Không hiếu danh, không kiêu ngạo.

Nói thì phải làm.

Giữ chủ nghĩa cho vững.

Hy sinh.

Ít lòng ham muốn về vật chất.

Bí mật.

Đối với người phải:

Với từng người thì khoan thứ.

Với đoàn thể thì nghiêm.

Có lòng bày vẽ cho người.

Trực mà không táo bạo.

Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.

Quyết đoán.

Dũng cảm.

Phục tùng đoàn thể”[2].

Trên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới, vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, năm 1947, nhưng cụ thể hơn[3], gồm 5 điểm: một, Mình đối với mình; hai, Đối với đồng chí mình phải thế nào?; ba, Đối với công việc phải thế nào?; bốn, Đối với nhân dân; và năm, Đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng một cách rất lôgic và có cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích. Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đề ra trước hết cho mình thực hiện, sau đó mới để giáo dục người khác, có thể nêu ra một số chuẩn mực cơ bản về đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người, như sau:

1/ Nếu bài học về đạo đức cách mạng đầu tiên trong cuốn Đường Kách Mệnh, Người chỉ đề ra những nguyên lý chung thể hiện mối quan hệ giữa ba khía cạnh, phản ánh mối quan hệ đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà người cách mạng cần quán triệt trước tiên, đồng thời nêu cao việc tu dưỡng đạo đức cách mạng; thì ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề ra những nguyên tắc về hành vi đạo đức cách mạng đối với người có chức, có quyền trong Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, Người đề nghị: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, kiệm, liêm, chính” để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.

Người coi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người mới, đồng thời là chuẩn mực cơ bản của nền đạo đức mới của dân tộc ta. Đây là phẩm chất được Người đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Phẩm chất này gắn liền với họat động hàng ngày của mỗi con người và có quan hệ mật thiết với tư tưởng trung với nước, hiếu với dân. Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người có tinh thần chí công vô tư là người ham làm những việc ích nước, lợi dân, không ham địa vị, công danh, phú quý, không nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Người cho rằng những cán bộ, đảng viên có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách, hơn nữa yêu cầu họ phải thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với người, với việc và với chính mình.

Người từng nói: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” [4]. Có thể thấy rằng từ các khái niệm đạo đức cũ như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, Người đã đưa vào đây nội dung đạo đức mới bằng cách giải thích nó theo quan niệm mới, với một nội dung hoàn toàn khác, rất cách mạng, phản ánh các mối quan hệ một cách rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu.

2/ Từ nội dung hẹp của các phạm trù đạo đức cũ, Người mở rộng, đưa vào đây một nội dung rất mới, tiến bộ, cách mạng, vượt qua những hạn chế của tư tưởng đạo đức truyền thống và nâng lên thành tư tưởng đạo đức mới, mà tiêu biểu nhất là các khái niệm: trung, hiếu, nhân, nghĩa… “Từ trung với vua thành trung với nước; từ hiếu với cha mẹ mình thành hiếu với dân; từ nhân chỉ là nhân ái thành nhân dân, từ cần cho riêng mình thành cần cho cả xã hội; từ kiệm cho riêng mình thành tiết kiệm chung phục vụ cho đất nước; từ liêm nghĩa là liêm khiết, không tham nhũng, nghĩa là chỉ giữ cho bản thân mình trong sạch, Người mở rộng thành vấn đề liêm khiết mang tính xã hội; từ chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn, Người chuyển sang vấn đề thiện, ác; làm việc chính, là người thiện; làm việc tà là người ác”[5]. Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”[6]. Trung vơí nước, hiếu với dân được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, nước ở đây là nước của dân, dân là chủ nhân của đất nước. Người cho rằng bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Xuất phát từ quan niệm như vậy, nên “hiếu” trong tư tưởng của Người chính là “Hiếu với dân”. Hiếu với dân không chỉ là xem người dân như đối tượng dạy dỗ, ban ơn mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng. Ở người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân.

3/ Nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Người cho đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với ngươì khác. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.

4/ Người đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cá nhân và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại tạo ra trong quan niệm về đạo đức cách mạng sự hài hòa về các mối quan hệ lợi ích. Theo Người, tinh thần quốc tế trong sáng thực chất là chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người cho rằng nếu tinh thần yêu nước không chân chính, tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn tới tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, hẹp hòi, sô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc. Từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Cần nhấn mạnh là tuy có những cách định nghĩa khác nhau về nội hàm các khái niệm đạo đức cách mạng, nhưng nhìn chung ở Người đều có sự nhất quán về tinh thần cách mạng và phương pháp tư duy. Từ các khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, đến cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; từ trung, hiếu, đến thiện, ác… bao giờ Người cũng có cách giải thích riêng về những chuẩn mực đạo đức phù hợp dễ hiểu, dễ chấp nhận với từng đối tượng, với mọi tầng lớp nhân dân: trí thức, quân đội, công an, công nhân, nông dân, phụ nữ, phụ lão, các cháu thiếu niên và nhi đồng… Đề cao đạo đức mới, Người đã thể hiện một tầm nhìn xa trông rộng về nhân cách con người. Những phẩm chất mà Người nêu ra là nhằm hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái cao cả, đồng thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện thoái hóa, biến chất có thể xảy ra, đặc biệt là chống khuynh hướng lạm dụng quyền lực để tham nhũng, lãng phí. Ngay cả trước khi qua đời, việc đầu tiên được đề cập đến trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân là nói về Đảng, việc đầu tiên khi đề cập đến Đảng là đạo đức, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[7].

Tóm lại, từ bài viết đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh đến bản Di chúc cuối cùng, dù ở những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng đều có sức thuyết phục rất cao, có sức sống mạnh mẽ và có giá trị lâu bền. Bởi đó là sự thống nhất giữa lời nói, tư tưởng và hành động. Người đặt vấn đề đạo đức cách mạng từ lĩnh vực lý luận sang lĩnh vực thực tiễn, đưa đạo đức cách mạng vào chính sự nghiệp cách mạng, coi đó là một trong những nguyên tắc hoạt động cách mạng, phản ảnh các quan hệ mới về lợi ích tạo ra nền tảng vững chắc của chính quyền cách mạng nói chung và người cách mạng nói riêng.

——————————————–

[1] Đường Kách Mệnh, xuất bản năm 1927 – đây là một tác phẩm lý luận và chính trị vô cùng quan trọng, gồm những đề cương bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng cho các lớp huấn luyện chính trị được tổ chức bí mật ở Quảng Châu, Trung Quốc từ đầu năm 1925 nhằm đào tạo cán bộ cách mạng nước ta, chuẩn bị về tư tưởng, đường lối và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng mác xít của giai cấp công nhân Việt Nam.
[2] Nguyễn Ái Quốc. Đường Cách Mệnh. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr..22-23.
[3] Xem thêm: Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 54-55.
[4] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Sđd, tr. 251.
[5] Thành Duy, Văn hóa đạo đức: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004, tr. 35.
[6] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 480.
[7] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 12, Sđd, tr. 510.

cpv.org.vn

Những kỷ niệm của kiều bào Tân Đảo với Bác Hồ – Những dấu ấn khó phai

Ngoài những đóng góp lớn về vật chất cùng một tấm lòng luôn hướng về nước nhà, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh chung tay xây dựng đất nước, kiều bào Tân Đảo và Tân Thế Giới còn đầy ắp những kỷ niệm thân thương với Bác Hồ

Chiếc xe được trưng bày tại Phủ Chủ tịch luôn thu hút khách tham quan. Ảnh :TL

Khi còn làm phu mỏ xứ người, dân phu biết đến Bác, nghe về Bác qua những tài liệu, báo đài, sách in của nước ngoài. Và họ đã nhận ra Hồ Chủ tịch là vị lãnh tụ tối cao cho sự nghiệp giải phóng nước nhà.

Ảnh Bác Hồ là tấm huy chương ở xứ người

Ở xứ người, những hình ảnh của Bác được xem là vật vô cùng hiếm hoi, để có được một tấm ảnh Bác treo trong nhà là cả một phần thưởng quý báu. Gia đình họ phải có công lao to lớn, được cộng đồng thừa nhận mới được phần thưởng là tấm ảnh chân dung của Bác. Cụ Trần Hữu Câu sinh năm 1902 quê ở thôn Vân Tràng, Nam Trực, Nam Định – Hội trưởng Hội liên Việt Santo Tân Đảo, bằng những hoạt động tích cực và đóng góp cho quỹ kháng chiến nước nhà, được nhận phần thưởng là bức chân dung Hồ Chủ tịch, một kỷ niệm chương liên hiệp Công đoàn thế giới… Những ảnh chân dung Bác được xem như huy chương mà không phải kiều bào Tân Đảo nào thời ấy cũng có được.

Cụ bà Trần Thị Chỉnh – Việt kiều nay đã 79 tuổi, hiện sống ở Hải Dương vẫn còn giữ tấm chân dung Bác xưa kia, chỉ nhỏ bằng cỡ 9x12cm mà chồng là cụ Lê Duy Tẩm đã được tặng thưởng khi còn ở Tân Đảo. Cụ Chỉnh kể: “Hình của Bác sau khi nước nhà độc lập 1945 được gửi từ Việt Nam sang không nhiều, phải là những người hoạt động thật xuất sắc và có công lớn trong cộng đồng Việt kiều mới được dành tặng. Vì thế, chúng tôi quý lắm và bao giờ tôi cũng giữ cẩn thận”.

Những kỷ niệm thân thương khi hồi hương

Ngay chuyến tàu đưa kiều bào Tân Đảo hồi hương cập cảng Hải Phòng ngày 12.1.1961, đến chiều 14.1.1961, đoàn đại biểu Việt kiều Tân Đảo và Tân Thế Giới vô cùng cảm động và vui sướng khi được gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Cậu bé Lê Quý Niệm năm ấy 15 tuổi – hiện ở Hà Nội – một trong những đại diện nhỏ tuổi nhất của thiếu nhi Tân Đảo theo đoàn vào diện kiến Bác Hồ, vẫn còn nhớ như in ngày trọng đại ấy: “Thế hệ chúng tôi sinh ra và lớn lên ở Tân Đảo, nghe các cụ nói về Bác Hồ, chỉ biết Bác qua hình ảnh quê nhà gửi sang. Thật xúc động khi thấy Bác hiện diện ngay trước mặt mình. Bác ân cần thăm hỏi, xoa đầu chúng tôi, rồi người lấy gói kẹo phát từng người. Khi ra về người còn gửi tặng tôi một túi kẹo to và dặn dò đem về phân phát cho các bạn thiếu nhi Việt kiều khác mà hôm nay không có dịp gặp được Bác. Những câu nói của Bác khiến tôi vô cùng xúc động, dù mới gặp lần đầu, nhưng có cảm giác như đã gặp Bác từ lâu rồi…”

Tháng 3.1961, Bác Hồ lên Tuyên Quang thăm hỏi đời sống kiều bào Tân Đảo. Tết 1962, Bác đã đến thăm gia đình ông Phạm Văn Công ở 97 Đại La, Hai Bà Trưng – Việt kiều Tân Đảo hồi hương năm 1961 – gia đình ông Phạm Văn Công kể: “Vào lúc ông Công đang trang trí gian phòng đón giao thừa, ông đang treo hai vế đối dưới ảnh Bác Hồ, thì bất ngờ Bác Hồ đứng trước cửa nhà ông. Ông bàng hoàng không nói được gì, còn vợ thì thốt lên: Ối giời ơi! Có phải là Bác Hồ không!”.

Năm 1964, Bác đến thăm gia đình ông Phạm Văn Trác ở 36 Lê Văn Hưu, Hai Bà Trưng. Bà con, ai cũng cảm kích vì không ngờ một vị chủ tịch nước với tiếng tăm vang lừng khắp năm châu mà kiều bào đã biết khi còn ở nước ngoài, nay đích thân đến thăm các gia đình việt kiều. Người ân cần hỏi han chuyện chuẩn bị tết ra sao, sức khoẻ gia đình, con cái, căn dặn tình hình công tác, khen các con em Việt kiều nói tiếng Việt sõi… “Không khí buổi gặp vị Chủ tịch nước mà ấm cúng như trong gia đình”.

Chiếc xe hơi vạn dặm

Chiếc Peugeot 404 tại khu di tích Phủ Chủ tịch. Ảnh : TL

Một trong những hiện vật giá trị của Bác hiện đang lưu giữ ở Phủ Chủ tịch, là hai chiếc xe hơi được người sử dụng trước kia. Một trong hai chiếc xe ấy là số tiền của bà con việt kiều mua từ Tân Đảo về tặng chính phủ miền Bắc trên chuyến tàu hồi hương và được Bác sử dụng những năm cuối đời.

Chuyến tàu đưa việt kiều hồi hương năm 1964, mang theo 11 chiếc Peugeot 404 – xe đời mới nhất lúc bấy giờ được bà con Tân Đảo mua, đem về tặng cho Bác Hồ và chính phủ Việt Nam. Tiền mua 11 chiếc này cũng do bà con đóng góp trong quá trình ở Tân Đảo, chưa kịp chuyển hết về cho Bác. Bác Nguyễn Văn Ngân – người gắn với hành trình chiếc xe từ Tân Đảo, đến cảng Hải Phòng, và đích thân lái chiếc xe ấy về Hà Nội bàn giao cho chính phủ Việt Nam hiện đang ở Hà Nội.

Thông tin về chiếc xe, ngay cả ban quản lý bảo tàng Hồ Chí Minh trước đây cũng chỉ nắm hồ sơ chiếc xe, số đăng ký, biển số, đời xe… và biết rằng chiếc xe đó do kiều bào Tân Đảo đóng góp, còn các chi tiết cụ thể hơn thì bảo tàng chưa nắm hết được. Mãi đến năm 2005, một lần vào thăm bảo tàng Hồ Chí Minh, bác Ngân, một sĩ quan quân đội – bỗng bàng hòang khi thấy một trong hai chiếc xe trưng bày chính là chiếc Peugeot 404 mà trước kia ông đã sát cánh cùng nó trên đường trở về quê hương trên. Lai lịch về chiếc xe được sáng tỏ.

Gặp bác Ngân đang nằm viện, với một phần buồng phổi phải qua phẫu thuật cắt bỏ. Tuy sức khoẻ suy yếu, nhưng khi nhắc lại chuyện chiếc Peugeot 404, bác Ngân vô cùng xúc động hồi tưởng: “Chúng tôi dùng hết số tiền quỹ còn lại, mua được 11 chiếc Peugeot 404 đời mới nhất, với nhiều màu sơn khác nhau. Cập cảng Hải Phòng, 11 chiếc được anh em việt kiều lái về Hà Nội giao chính phủ, tôi được phân công lái chiếc xe màu ghi sáng. Không ngờ rằng chiếc xe ấy lại được chọn phục vụ cho Bác Hồ. Đến khi vào bảo tàng, nhìn thấy chiếc xe, tôi nhận ra ngay và đã bật khóc khi nhớ lại kỷ niệm ngày trước.

Vị giám đốc bảo tàng còn cho biết khi Bác nhận được chiếc xe, người không dùng vì nó quá sang trọng, người vẫn thường dùng chiếc Provda của Liên xô làm phương tiện đi lại. Mãi đến những năm cuối đời, do sức khoẻ yếu, việc bước lên chiếc Provda khó khăn hơn vì gầm xe cao. Lúc ấy Bác mới sử dụng chiếc Peugeot 404 của kiều bào Tân Đảo…”.

Lam Phong

sgtt.vn

Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh

SGTT – Trong bài Bác Hồ ở Indonesia năm 1959 trên tuần báo Quốc Tế, cựu trung tướng Soehario Padmodiwirio đã kể với ký giả Đỗ Ngân Phương rằng, trong thời gian hai tuần Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Indonesia, ông (lúc đó mang quân hàm đại tá) đã được đích thân Tổng thống Sukarno cử đi bảo vệ.

Sự cẩn thận của Tổng thống Sukarno có lý do riêng của mình. Bởi, ngay tối hôm đầu tiên đến Jakarta, vị thượng khách của Tổng thống Sukarno đã làm ông một phen “đứng tim”.

Vi hành trong đêm

Tổng thống Soekarno che dù cùng Hồ Chủ tịch tại Bandung, nhân chuyến thăm Indonesia của Bác Hồ năm 1959 Ảnh: T.L

Ngày 27.2.1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Jakarta, bắt đầu chuyến thăm chính thức Indonesia. Đây là quốc gia thứ ba theo đường lối dân tộc chủ nghĩa mà Hồ Chủ tịch đi thăm, sau Ấn Độ và Miến Điện.

Ngay tối hôm đó, sau lễ đón chính thức, lúc trở về nghỉ ở tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Jakarta, Hồ Chủ tịch đã nói với ông Hoàng Tuý, một cán bộ tổng lãnh sự quán, rằng ông muốn đến thăm một gia đình Việt kiều ở Jakarta. Đó là một gia đình Việt kiều có nhiều gắn bó với quê hương, thông qua cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam.

“Thưa Bác, tại sao lại phải đến ngay lúc này? Bác mới sang còn mệt, chờ sáng mai cũng được mà”, ông Hoàng Tuý hỏi lại.

“Nhưng đúng lúc này bà con lại rất mong mình. Vả lại, chú đừng có lo. Mình lặng lẽ đi, không để ai biết cả, sẽ không có chuyện gì đâu”, Hồ Chủ tịch vừa nhìn thẳng vào ông Hoàng Tuý vừa đáp, như đọc được nỗi lo lắng trong mắt nhà ngoại giao trẻ tuổi.

Khi ông Hoàng Tuý đưa Hồ Chủ tịch tới gia đình Việt kiều đó, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt ông là cả gia đình đang quây quần bên chiếc radio, nghe tường thuật lại về chuyến thăm của vị nguyên thủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. “Khỏi phải nói họ đã từ ngỡ ngàng đến mừng rỡ thế nào, khi thấy Bác Hồ”, ông Hoàng Tuý kể lại.

Sau khi thăm hỏi, Hồ Chủ tịch mời cả gia đình về tổng lãnh sự quán. Khi họ tới, Hồ Chủ tịch đã nói với các nhân viên phục vụ người Indonesia: “Mời các bạn về nghỉ. Đây là việc trong nhà của chúng tôi”.

Tất cả mọi người trong tổng lãnh sự quán, kể cả vị tổng lãnh sự, đều phải vào vai phục vụ. Đun nước, pha trà, bày bánh kẹo, hoa quả…

Hôm sau, một nhân viên bảo vệ người Indonesia trong tổng lãnh sự quán nói với ông Hoàng Tuý: “Tôi phục Ông Cụ quá! Anh biết đấy, cũng như ở mọi cơ quan đại diện ngoại giao, các nhân viên phục vụ ở đây đều là sĩ quan an ninh cả đấy. Tôi quý Việt Nam thì không sao. Chứ những người khác, khi Ông Cụ rời khỏi đây, họ sẽ đến hoạnh hoẹ, hạch sách cái gia đình Việt kiều đó”.

Viên sĩ quan an ninh cũng kể lại với ông Hoàng Tuý rằng ngay sau khi nhận được tin Hồ Chủ tịch “vi hành” tối hôm đó mà không có xe cảnh sát bảo vệ, Tổng thống Sukarno đã gọi điện khiển trách bộ trưởng Nội vụ.

“Tổng thống Sukarno chỉ thay đổi thái độ, thậm chí cười tươi, khi sáng hôm sau, những tờ báo lớn của Indonesia trên bàn của ông đều giật những cái tít lớn, ý đại loại như Hồ Chí Minh quá tin tưởng vào nền an ninh của Tổng thống Sukarno”, ông Hoàng Tuý kể lại, và cho biết thêm tình hình Indonesia lúc đó khá phức tạp.

Ứng xử với học giả và báo giới

Nhà ngoại giao trẻ tuổi Hoàng Tuý cũng đã mục sở thị về những sự linh hoạt khác trong ứng xử thường ngày của Hồ Chủ tịch. Có hai câu chuyện mà ông thường kể lại cho học trò và con cái.

Từ trái sang (hàng ngồi): Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổng thống Soekarno, giáo sư Sjafei Soemardja tại học viện kỹ thuật Bandung năm 1959. Ảnh: Flickr

Một lần, Hồ Chủ tịch được mời đến giao lưu với giới học giả ở Jakarta. Đứng trên bục diễn giả, Hồ Chủ tịch đọc bài nói chuyện được chuẩn bị sẵn bằng tiếng Việt, chờ, thông dịch viên dịch sang tiếng Anh. Sau chừng dăm phút, ông Hoàng Tuý đã nhận thấy dưới các hàng ghế cử toạ nhiều khuôn mặt tỏ ra lơ đãng, thậm chí có những mái đầu bạc trắng đã hơi ngoẹo sang một bên, “Thôi, hỏng rồi”, ông thầm nghĩ.

“Các vị buồn ngủ lắm phải không?” Hồ Chủ tịch đột nhiên bật ra một câu tiếng Anh, Cả hội trường tự nhiên đầy tiếng lao xao.

“Nói chuyện với các học giả như các vị mà lại nói theo công thức, lại qua giọng đều đều của thông dịch viên nữa, các vị không buồn ngủ mới lạ”, Hồ Chủ tịch nói tiếp.

Những cánh tay giơ lên đặt câu hỏi. Cuộc trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh giữa Hồ Chủ tịch và giới học giả Indonesia đã diễn ra cực kỳ rôm rả. “Hồ Chí Minh đã chuyển bại thành thắng”, một vị học giả quen biết nói nhỏ vào tai ông Hoàng Tuý.

Một lần khác, trong một cuộc họp báo quốc tế, một phóng viên Mỹ đứng lên đặt câu hỏi: “Thưa ông Hồ Chí Minh, ông đánh giá về vai trò của Mỹ trong khối SEATO (tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á, gồm Úc, Pháp, Anh, New Zealand, Pakistan, Philippines, Thái Lan và Mỹ?”

Trước đó, Tổng thống Sukarno, dù thể hiện sự ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong sự nghiệp thống nhất đất nước, vẫn đề nghị Hồ Chủ tịch không nhắc đến tên nước Mỹ trong các phát biểu của mình trên đất Indonesia. Đơn giản bởi vì lúc đó Chính phủ của Sukarno đang nhận viện trợ của Mỹ.

“Ông là phóng viên của hãng nào?”, Hồ Chủ tịch hỏi lại.

“UPI”, phóng viên Mỹ dõng dạc xướng tên hãng.

“Thưa ông, SEATO là một tổ chức của Đông Nam Á. Vậy sự có mặt của những nước không thuộc Đông Nam Á trong tổ chức này có hợp lý không?”, Hồ Chủ tịch tiếp tục.

Phóng viên UPI im lặng.

Hồ Chủ tịch hướng ánh mắt về phía các phóng viên Liên Xô và Đông Âu. Một số tiếng “không” vang lên từ phía đó.

“Các vị là phóng viên của những hãng nhỏ mà trả lời được câu hỏi này. Thế mà ông phóng viên của một hãng hàng đầu trên thế giới lại không biết”, Hồ Chủ tịch khẽ lắc đầu.

Phóng viên UPI lặng lẽ bước ra khỏi phòng họp báo.

“Tôi đã được nghe nhiều chuyện về cách ứng xử của Bác Hồ với người Pháp, người Liên Xô, hay người Trung Quốc, nhưng những điều tận mắt chứng kiến như trên khiến tôi tin người ta đã đúng khi nói rằng có một phong cách Hồ Chí Minh”, ông Hoàng Tuý kết luận.

HUỲNH PHAN

sgtt.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên (Phần C)

>> Phần B

TP – Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức thanh niên và xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản

Chăm lo cho thế hệ trẻ là một trong những tư tưởng xuyên suốt của Bác HồChăm lo cho thế hệ trẻ là một trong những tư tưởng xuyên suốt của Bác Hồ.

Từ năm 1925, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Hồ Chí Minh đặt vấn đề phải xây dựng một tổ chức thanh niên cộng sản ở Việt Nam. Sau một thời gian do Người trực tiếp chuẩn bị và đề nghị với Trung ương Đảng, ngày 26-3-1931, Thanh niên Cộng sản Đoàn ra đời. Đó là thời điểm mang nhiều ý nghĩa đặc biệt trong phong trào thanh niên yêu nước theo xu hướng tiến bộ ở nước ta.

Đối với Hồ Chí Minh, tổ chức, đoàn kết, tập hợp thanh niên là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam. Muốn phát huy sức mạnh của thanh niên thì phải thông qua tổ chức, không có tổ chức thì Đảng không nắm được thanh niên.

Trong thư gửi thanh niên Việt Nam năm 1925, Hồ Chí Minh vạch rõ ở Đông Dương có đủ cơ sở vật chất (hầm mỏ, hải cảng, đồng ruộng…) chỉ “thiếu tổ chức và người tổ chức” (19). Đây là một nhận định hết sức sáng suốt. Vì lẽ đó, Hồ Chí Minh coi công tác vận động thanh niên là nhiệm vụ trọng tâm của mình, và sau khi dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ V và Đại hội Quốc tế thanh niên cộng sản lần thứ IV (1924), Người dốc sức tiến hành công tác tổ chức, lập ra Việt Nam Thanh niên cách mệnh Đồng chí hội.

Chính Hồ Chí Minh là người trực tiếp tuyển chọn, bồi dưỡng đồng chí hội. Chính Hồ Chí Minh là người trực tiếp tuyển chọn, bồi dưỡng những hạt giống đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản ở nước ta.

Năm 1944, Đảng và Bác Hồ thành lập tổ chức Đội Thiếu niên tiền phong.

Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh chỉ thị trực tiếp cho các xứ ủy, tỉnh ủy, thành ủy tổ chức các Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc và thống nhất hệ thống Đoàn từ cơ sở lên đến Trung ương. Tháng 6-1946, Người chủ trương lập Mặt trận thanh niên rộng rãi (do Đoàn Thanh niên Cứu quốc làm nòng cốt), lấy tên là Liên đoàn Thanh niên Việt Nam và trực tiếp dự Đại hội lần thứ nhất của Liên đoàn tại chiến khu Việt Bắc.

Hồ Chí Minh là người sáng lập các tổ chức thanh niên Việt Nam trực tiếp cho ý kiến cụ thể về dự thảo Điều lệ Đoàn (trình Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III năm 1961). Người khẳng định vai trò, vị trí của Đoàn trong hệ thống chính trị của đất nước; khẳng định những chức năng cơ bản của Đoàn Thanh niên Cộng sản.

Việc lập Mặt trận thanh niên, “đoàn kết và tổ chức thanh niên một cách rộng rãi và vững chắc” do Đảng lãnh đạo và Đoàn Thanh niên Cộng sản làm nòng cốt, tạo ra những loại hình tập hợp thích hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, với từng trình độ, đặc điểm và tâm lý thanh niên là một sáng tạo lớn, một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên.

Xin nêu mấy điểm chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản, trong đó có những điểm xin trích nguyên văn lời của Người.

Về chức năng, nhiệm vụ của Đoàn, Hồ Chí Minh chỉ rõ Đoàn Thanh niên là tổ chức thanh niên cộng sản, là đội dự bị tin cậy của Đảng, là người đại diện của thanh niên, là hạt nhân đoàn kết, giáo dục và phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là người phụ trách, dìu dắt thiếu niên, nhi đồng. Tất cả những điều đó được thể hiện ở huy hiệu Đoàn.

Hồ Chí Minh kết luận: “Huy hiệu của thanh niên ta là: “Tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, đồng thời phải vui vẻ và hoạt bát. (20)

Trong mối quan hệ giữa Đoàn với Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng về đường lối chính trị thì thanh niên theo Đảng chỉ huy, nhưng việc làm thì thanh niên độc lập; trong mọi công việc, đảng viên và đoàn viên thanh niên phải gương mẫu để lôi cuốn nhân dân cùng tiến bộ; mọi công việc đều vì lợi ích của nhân dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân, đó là những tổ chức của dân, “phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ”. (21)

Về mối quan hệ giữa Đoàn với thanh niên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đoàn phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với các tầng lớp thanh niên. Phải quan tâm đến đời sống, công tác và học tập của thanh niên, phải tránh thành kiến, hẹp hòi, cô độc. Phải thật thà, đoàn kết với anh chị em thanh niên trong Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam. (22).

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng củng cố, phát triển Đoàn và tổ chức phong trào thanh niên. Người chỉ rõ:

“Phải củng cố tổ chức của Đoàn. Phải đoàn kết nội bộ chặt chẽ, và phải đoàn kết rộng rãi với các tầng lớp thanh niên”.

“Cần phát triển Đoàn hơn nữa, nhưng phải chọn lọc cẩn thận, trọng chất lượng hơn số lượng”.

“Muốn củng cố và phát triển Đoàn thì tất cả đoàn viên phải làm gương mẫu: Phải giữ vững đạo đức cách mạng; phải khiêm tốn, cần cù, hăng hái, dũng cảm.

Phải tránh tư tưởng kiêu ngạo, công thuần, tự tư tự lợi. Phải xung phong trong mọi công tác; xung phong là đi trước, làm trước để lôi cuốn quần chúng chứ không phải là xa rời quần chúng. Phải cố gắng học tập chính trị, văn hóa, nghề nghiệp để tiến bộ mãi, để sẵn sàng trở thành cán bộ tốt, đảng viên tốt. Phải rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh”.

Về phương pháp công tác, phương pháp vận động thanh niên của Đoàn, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

“Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm. Và đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi”. “Thi đua phải lâu dài và rộng khắp”.

“Phong trào cần phải liên tục và có nội dung thiết thực. Không nên chỉ có hình thức, càng không nên “đầu voi đuôi chuột”.

“Việc gì cũng cần phải thiết thực: nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ chỗ nhỏ dần dần đến to, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hiện được hẳn hoi là một trăm chương trình to tát mà làm không được”.

Đối với cán bộ Đoàn, Hồ Chí Minh đòi hỏi: “Cán bộ lãnh đạo cần phải chống bệnh quan liêu, chống cách lãnh đạo chung chung. Cần phải đi sâu đi sát điều tra nghiên cứu. Cần phải khuyến khích, thu góp, bổ sung và phổ biến rộng rãi những sáng kiến hay, những kinh nghiệm tốt của quần chúng”. “Cần phải đi sâu vào đời sống, hiểu rõ tâm lý của các lớp thanh niên và giúp đỡ họ giải quyết các vấn đề một cách thiết thực”.

Đoàn thanh niên với nhiệm vụ giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ

Căn cứ vào nhiều kết luận của các đại hội Đảng và một số thành tựu nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, bước đầu có thể nêu lên một số nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là:

Tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người;

Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Tư tưởng về phương pháp cách mạng, nghệ thuật chỉ đạo chiến lược và sách lược;

Tư tưởng về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước kiểu mới, xây dựng quân đội nhân dân; về đại đoàn kết và về dân vận (trong đó có vận động thanh niên).

Tư tưởng về đạo đức cách mạng… Một mặt, cần nghiên cứu để hiểu sâu hơn, có hệ thống hơn những di sản quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại. Mặt khác, rất quan trọng là làm sao đưa được tư tưởng Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh đến từng cán bộ đảng viên, đoàn viên và nhân dân để tạo ra động lực tinh thần và soi sáng cho tư duy, hành động của mỗi người trong thời kỳ mới.

Xin vắn tắt nêu một số suy nghĩ về Đoàn Thanh niên với việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho thanh niên trong thời gian tới.

Một là , thông qua sinh hoạt Đoàn, Hội thanh niên và các phương tiện thông tin đại chúng, Đoàn cần phổ biến, truyền đạt tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là những lời chỉ bảo của Bác Hồ đối với thanh niên một cách thường xuyên, liên tục.

Hai là, các cấp bộ Đoàn, Hội cần tổ chức cho cán bộ học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên; quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong thời kỳ đổi mới.

Có thể nói, mọi đối tượng thanh niên (công nhân, nông dân, bộ đội, cán bộ KHKT, học sinh, sinh viên…) đều tìm thấy trong những lời chỉ dẫn ân cần của Bác Hồ các giá trị định hướng cho suy nghĩ và hành động của mình trong tình hình hiện nay.

Ba là, hiện nay đang phát triển mạnh phong trào Thanh niên lập nghiệp, Tuổi trẻ giữ nước, thanh niên tình nguyện, 4 đồng hành và 5 xung kích, các chương trình hành động của Đòan… Những điển hình tiên tiến cá nhân và tập thể xuất hiện ngày càng nhiều.

Đây chính là những tấm gương Người tốt việc tốt mà sinh thời Hồ Chí Minh luôn cổ vũ và khen ngợi. Các tỉnh, thành Đoàn cần mở rộng các hình thức cổ vũ phong trào người tốt, việc tốt, tuyên truyền, giáo dục thanh niên rèn luyện và cống hiến qua việc giới thiệu thường xuyên những điển hình tiên tiến.

Bốn là, cần hình thành bộ môn Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên trong hệ thống trường Đoàn từ Trung ương đến địa phương. Muốn làm việc này phải chuẩn bị đồng thời cả hai mặt: đào tạo đội ngũ cán bộ và chuẩn bị giáo trình.

Cuối cùng, chúng tôi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên đã được Đảng ta quán triệt trong nhiều nghị quyết của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên, trong nhiều văn bản của Nhà nước ta đã ban hành. Vì vậy, quá trình nghiên cứu, học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh cần kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện có kết quả các chủ trương của Đảng về đổi mới công tác thanh niên.

Các ngành, các cấp xây dựng được chương trình, kế hoạch hành động để thực hiện nghị quyết của Đảng cũng là quán triệt và thực hiện những tư tưởng, chỉ dẫn của Bác đối với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ.

Đoàn Thanh niên phải tích cực, chủ động hơn trong việc phối hợp với các ngành, đoàn thể nhằm giáo dục tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho thế trẻ, đề xuất với Đảng và Nhà nước ban hành các thể chế, chính sách cụ thể theo tư tưởng Hồ Chí Minh (như đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, chính sách giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội của thanh niên, bồi dưỡng tài năng trẻ … nhằm tạo ra những điều kiện và môi trường thuận lợi cho quá trình giáo dục và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong thanh thiếu niên.

Hồ Đức Việt
Nguyên Bí thư thứ nhất BCH T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

(19) Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.30
(20) Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên , Sđd, tr.100, 166
(21) (22) Hồ Chí Minh tuyển tập, t.5, NXB Sự thật, Hà Nội 1985, tr. 393

tienphong.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên (Phần B)

>>  Phần A

TP – Giáo dục, đào tạo thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trên cơ sở nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện vai trò, vị trí và khả năng cách mạng của thanh niên, Hồ Chí Minh đã nêu lên tư tưởng chiến lược về “trồng người”, về đào tạo, bồi dưỡng thanh niên thành lớp người có đức, có tài, kế tục sự nghiệp cách mạng một cách trung thành và xuất sắc. Tư tưởng ấy được cô đọng lại, đúc kết và nâng cao từ thực tiễn sinh động của hơn nửa thế kỷ lãnh đạo cách mạng của Người.

Đó là: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Có thể nói, đây là tư tưởng bao trùm nhất của Hồ Chí Minh về công tác thanh niên; bồi dưỡng và phát huy lực lượng thanh niên là bản chất của công tác vận động thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Năm 1958, nói chuyện tại lớp học chính trị của các giáo viên cấp II và III toàn miền Bắc, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề “trồng người”: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” (8).

Thật ra không phải đến lúc đó Hồ Chí Minh mới nghĩ đến chiến lược “trồng người”, mà ngay từ khi bắt đầu cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã ý thức một cách rõ ràng về chiến lược “trồng người”, luôn xem đó là một trong những nguyên tắc cơ bản của cách mạng.

Nhắc lại việc thực hiện tư tưởng cách mạng có ý nghĩa chiến lược đó, năm 1961, tại Đại hội lần thứ 3 của Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh kể lại rằng:

“Từ năm 1925, ngay từ khi mới thành lập, Hội thanh niên cách mạng đồng chí đã lo đặt viên đá đầu tiên để chuẩn bị cho tổ chức Thanh niên sau này. Lúc đó, Hội bắt đầu nuôi dạy 10 thiếu niên Việt Nam… và cuối cùng chỉ còn lại một Lý Tử Trọng là người thanh niên cộng sản Việt Nam đã anh dũng hy sinh cho cách mạng.

Từ chỗ chỉ có một Lý Tử Trọng, đến ngày nay chúng ta có 78 vạn đoàn viên Đoàn Thanh niên lao động hăng hái ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Tiến bộ đó làm cho Bác rất vui sướng và trẻ lại. Nó làm cho lòng Bác phơi phới như hoa nở trong mùa xuân (9).

Sau này, trong nhiều bài nói và bài viết, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân ta phải xem trọng và có trách nhiệm trong việc giáo dục, đào tạo các thế hệ tương lai. Người căn dặn “phải uốn cây từ lúc cây non”, phải trồng người từ lúc con người còn ấu thơ. Cho đến lúc sắp từ giã cõi đời, tư tưởng “trồng người”“bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” vẫn được Hồ Chí Minh khẳng định trong Di chúc.

Trong thực tế, Hồ Chí Minh không chỉ nghĩ mà chính Người đã dành nhiều công sức cho việc tạo nên những hạt giống cho sự nghiệp cách mạng; giáo dục, rèn luyện và đào tạo nhiều thế hệ thanh thiếu niên nước ta trở thành những cán bộ, đảng viên và chiến sĩ cách mạng ưu tú, thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa“chuyên”.

Hơn bao giờ hết, ngày nay tư tưởng Hồ Chí Minh trong chiến lược “trồng người” cũng như việc “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” càng đặt ra thành một yêu cầu cấp bách và giữ vai trò quyết định đối với sự nghiệp cách mạng nước ta.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung giáo dục thanh niên, vấn đề giáo dục toàn diện luôn được coi trọng, trong đó nhiệm vụ bồi dưỡng lý tưởng, đạo đức cách mạng và năng lực hoạt động thực tiễn có một vị trí đặc biệt quan trọng và then chốt.

Năm điều Hồ Chí Minh căn dặn thanh niên nhân ngày Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1945 thể hiện rất rõ mong muốn của Người là: “Trong việc giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”.Đây là một luận điểm rất quan trọng của Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên.

Hồ Chí Minh nhiều lần căn dặn các cán bộ làm công tác thanh niên rằng cần giúp thanh niên xây dựng cho mình “lẽ sống cao đẹp”. Người dạy thanh niên phải sống có lý tưởng và chỉ rõ rằng “Lý tưởng của thanh niên ta ngày nay là độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội”.

Phải “Trung với nước, hiếu với dân” và “làm cho dân giàu nước mạnh” để “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi nước nhà đã cho mình những gì, mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà. Mình phải làm thế nào cho ích nước lợi nhà nhiều hơn” (10).

Hồ Chí Minh dạy thanh niên phải kiên trì thực hiện mục đích, lý tưởng, phải làm đầu tàu, gương mẫu, có lòng dũng cảm và ý chí cách mạng, vươn lên không chịu lùi bước trước bất cứ khó khăn, thử thách nào trên mọi lĩnh vực học tập, rèn luyện, lao động, chiến đấu, lập thân, lập nghiệp, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên (11)”.

Hồ Chí Minh dạy thanh niên phải sống có đạo đức, phải “luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng”, vì đạo đức là “điều chủ chốt nhất”, “là cái gốc”, “là nền tảng để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang”. “Không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.Đạo đức, phẩm chất mà Hồ Chí Minh mong mỏi ở thanh niên là Trung, Dũng, Cần, Kiệm, Khiêm tốn; là những điều cụ thể hằng ngày mà mỗi người có thể tự phấn đấu làm được.

Đạo đức cách mạng là “Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước”; “không ham địa vị, công danh phú quý; đem lòng chí công vô tư mà đối với mọi người, đối với việc; chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, nên nói ít làm nhiều, thân ái, đoàn kết”; “bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm công việc gì đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân”. Đạo đức cách mạng là phải “đánh thắng và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân (12)”.

Hồ Chí Minh yêu cầu thanh niên phải cố gắng học tập và chỉ rõ những điều cần học, học để làm gì, học thế nào và học ở đâu. Người viết: “Ở nơi nào cũng có thể học, làm việc cũng phải học (13), “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân”; “Học để làm người”, để yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức; “Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu nước mạnh, tức là làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà” (nói chuyện với học sinh các trường trung học Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trưng Vương Hà Nội ngày 18/12/1954).

Thanh niên phải “ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân (14) Thanh niên với nhiệm vụ học tập và việc hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho thanh niên học tập là một nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên.

Trong nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thanh niên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải đào tạo, bồi dưỡng họ thành những người “Có khả năng hoạt động thực tiễn, không nên đào tạo ra những con người chỉ thuộc sách làu làu”.

Chăm lo đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, phát huy vai trò của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Đây cũng là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh niên.

Trong cảnh nước mất, nhà tan; trong khi nhân dân chưa có cơ hội và đủ sức mạnh để vùng lên giành chính quyền, Hồ Chí Minh vạch rõ: Phải thức tỉnh thanh niên để thức tỉnh cả dân tộc. Và chính người đã lập ra tổ chức thanh niên để từ đó tổ chức ra Đảng của giai cấp công nhân.

Nhưng sau khi nhân dân ta giành được chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong hoàn cảnh Đảng chưa hoạt động công khai, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Chính phủ phải lo các công việc giúp đỡ thanh niên để anh chị em thanh niên góp phần kháng chiến và kiến quốc”. Đó là vào những ngày cách mạng mới thành công.

Sau này, vào thời gian tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có một số cấp ủy Đảng và chính quyền chưa quan tâm đúng mức đến công tác vận động thanh niên, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng, Nhà nước tự phê bình về điều này và yêu cầu các cấp, các ngành sớm khắc phục. Người thường xuyên đòi hỏi: “Từ nay, Trung ương và các cấp Đảng bộ địa phương sẽ săn sóc hơn nữa đến công tác của Đoàn”.

Trong di chúc thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, Người vạch rõ rằng Đảng và Nhà nước phải có chính sách bồi dưỡng, đào tạo thanh niên thành những người vừa“hồng”, vừa “chuyên”…

Giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua tổ chức; xây đi đôi với chống; học đi đôi với hành, xử lý tốt mối quan hệ giữa giáo dục và tự giáo dục; nêu gương người tốt, việc tốt… là những luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục thanh niên.

Là nhà giáo dục lớn, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến khoa học sư phạm và phương châm, phương pháp giáo dục phù hợp với đối tượng thanh niên.

Trong nhiều bài viết, bài nói, Người đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của phương pháp giáo dục thanh niên, thường nhắc nhở chúng ta những vấn đề rất cơ bản. Người nói:“Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố” (15).

Người nhấn mạnh rằng: “Công cuộc xây dựng đất nước là trường học rất tốt cho chúng ta rèn luyện đạo đức cách mạng (16); và “Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh xã hội” (17).

Theo Hồ Chí Minh, giáo dục trong hành động, giáo dục trong thực tiễn, đào tạo bồi dưỡng bằng thử thách qua giao việc, trao nhiệm vụ với lòng tin yêu, tạo điều kiện giúp đỡ thanh niên hoàn thành nhiệm vụ là “cách tốt nhất”, là phương pháp phù hợp với đặc điểm thanh niên.

Hồ Chí Minh dạy thanh niên phải tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân để rèn luyện, trưởng thành. Đồng thời, Người cũng chỉ ra rằng thanh niên muốn tập hợp để thành sức mạnh, để giúp nhau tiến bộ phải đứng trong tổ chức.

Năm 1925, khi chuẩn bị thành lập Đoàn, Người đã viết trong cuốn “Đường cách mệnh”: “Thanh niên cộng sản đoàn là cái trường huấn luyện thanh niên”. Hồ Chí Minh cho rằng, thanh niên sẽ được hướng dẫn, giúp đỡ khi đứng trong tổ chức. Sau cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Tổng đoàn thanh niên Việt Nam (tiền thân của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam) do Đoàn Thanh niên cứu quốc làm nòng cốt để đoàn kết, tập hợp mọi thanh niên yêu nước, giúp họ giác ngộ cách mạng.

Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh lại chỉ thị thành lập các đơn vị thanh niên xung phong: Đây là một hình mẫu đầy sáng tạo nhằm giúp thanh niên có cơ hội rèn luyện và cống hiến trong một tổ chức phù hợp với đặc điểm của thanh niên, lại được lãnh đạo chặt chẽ, đảm bảo thực hiện mọi nhiệm vụ trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ. Ngày nay, hình mẫu thanh niên xung phong vẫn đang tiếp tục phát huy tác dụng trong việc góp phần xây dựng, bồi dưỡng nhân cách cho lớp người mới.

Như vậy, luận điểm của Bác về đào tạo, giáo dục thanh niên thông qua các tổ chức Đoàn, Hội và các hình thức tập hợp khác do Đoàn, Hội chi phối đã thực sự phát huy tác dụng và phát triển từ thấp lên cao trong suốt tiến trình cách mạng từ khi có Đảng đến nay.

Trong thời gian tới, vấn đề xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn, Hội thanh niên vững mạnh là một trong những biện pháp cơ bản, một phương thức hết sức quan trọng nhằm góp phần giáo dục, hoàn thiện nhân cách cho tuổi trẻ.

Trong một dịp nói chuyện với Đoàn viên thanh niên, Bác dạy: “Thanh niên phải biết xây dựng cái gì và chống lại cái gì”. Người rất quan tâm đến vấn đề xây dựng ý chí cách mạng, lòng dũng cảm, tính vị tha, tính nhân đạo… Người khuyên thanh niên cần chống lại ba loại kẻ thù: Chủ nghĩa đế quốc, thói quen và truyền thống lạc hậu, chủ nghĩa cá nhân. Các nội dung xây và chống vừa nêu trên còn nguyên giá trị thời sự và luôn nhắc nhở chúng ta thường ngày.

Xuất phát từ niềm tin yêu đối với tuổi trẻ, nhất là đối với khả năng cách mạng của họ; xuất phát từ sự đánh giá khách quan những đặc điểm của thanh niên, Hồ Chí Minh dạy rằng“cần kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục”. Người nói: “Thanh niên ta bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình” (18).

Hồ Chí Minh là người chỉ đạo trực tiếp cuộc cải cách trong phương thức đào tạo ngay sau khi nhân dân ta vừa giành được chính quyền. Người nhấn mạnh phương châm: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”.

Từ thực tiễn cuộc sống, Hồ Chí Minh hiểu rõ nguyện vọng tha thiết của số đông thanh niên là mong muốn phấn đấu vươn lên thành người tốt, tôn vinh những anh hùng, noi gương những hành vi cao cả… Chính vì lẽ đó, Người có sáng kiến lớn phát động trong nhân dân ta, trước hết là trong thanh niên phong trào “Người tốt, việc tốt”.

Bác dạy: “Trong mỗi con người có cả mặt tốt, mặt xấu. Lấy gương người tốt, việc tốt để giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Hồ Chí Minh trực tiếp theo dõi trên báo chí, đọc báo cáo của các ngành, đoàn thể… và đánh dấu những gương người tốt, việc tốt, cho kiểm tra rồi tặng thưởng huy hiệu của Người.

(Phần C)

Hồ Đức Việt
Nguyên Bí thư thứ nhất BCH T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

(8), (9) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, t.2, NXB Sự thật, 1980, tr.91, 219
(10) Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.132-133
(11) (12) (13) (14) Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, tr. 93, 288, 415, 376
(15) (16) (17) Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, tr. 212, 199, 133
(18) Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, Sđd, tr. 183

tienphong.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên (Phần A)

TP – LTS: Nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, đồng chí Hồ Đức Việt, nguyên Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có bài viết về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thanh niên và công tác thanh niên. Báo Tiền Phong trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Bác Hồ với các dũng sĩ miền Nam	 Ảnh: Tư liệuBác Hồ với các dũng sĩ miền Nam. Ảnh: Tư liệu.

Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng lớn của dân tộc và thời đại. Một trong những di sản tinh thần vô giá mà Người để lại cho chúng ta là những tư tưởng chiến lược về chăm sóc, bồi dưỡng, đào tạo, tổ chức, phát huy các tiềm năng to lớn của thanh niên vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Đại hội VII của Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Nghị quyết Hội nghị BCH T.Ư Đảng lần thứ 4 (khóa VII) chỉ rõ rằng phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của tuổi trẻ vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh:

“Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường XHCN hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên” (1).

Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh phải: “Khuyến khích, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại. Hình thành lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN” (2).

Từ cách đặt vấn đề như vậy của Đảng và thực tế cuộc sống cho thấy, việc nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng nhằm bồi dưỡng và phát huy lực lượng thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên nói riêng rất rộng lớn và sâu sắc. Trong khuôn khổ bài báo này chỉ xin đề cập một số vấn đề về thanh niên và công tác thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên

Hồ Chí Minh khẳng định vai trò, vị trí, khả năng cách mạng to lớn của thanh niên đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới

Có thể nêu tư tưởng xuyên suốt của Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí lịch sử của thanh niên như sau: Thanh niên là người chủ hiện tại và tương lai của đất nước. “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên”.

Các giai cấp, các chính đảng ở nhiều nước đều có sự nhìn nhận và đánh giá đối tượng thanh niên trên nhiều mặt. Sự thống nhất chung mà ai cũng dễ dàng nhận ra là quá trình chuyển giao thế hệ, nói nôm na là “tre già măng mọc”. Quy luật tự nhiên này không có sức mạnh ý chí và vật chất nào cưỡng lại được.

Tuy nhiên, không ít người chỉ nhìn thanh niên ở mặt tương lai, ở góc độ là người sẽ đảm nhiệm trọng trách mà lịch sử sẽ giao cho trong tương lai. Hồ Chí Minh có quan điểm nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, khoa học về cả hai mặt hiện tại và tương lai trong vai trò lịch sử của thanh niên.

Theo Hồ Chí Minh, thanh niên là một bộ phận quan trọng trong cộng đồng dân tộc. Họ là người chủ hiện tại của đất nước không chỉ vì họ chiếm khoảng một phần ba dân số, mà chủ yếu vì thanh niên là bộ phận trẻ, khỏe, dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo, giàu ý chí, nghị lực và ước mơ; vì “Thanh niên là những đội quân xung kích trên các mặt trận”(3).

Hồ Chí Minh coi “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”, “Thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa”, “Thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ”. Và trong mọi công việc, thanh niên là lực lượng có khả năng thực hiện khẩu hiệu: “Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm”(4).

Người tổng kết: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ: Dân tộc được giải phóng, thanh niên mới được tự do. Vì vậy thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc” (5).

Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, Đảng ta càng nhìn nhận đúng đắn lớp trẻ bao nhiêu thì lớp trẻ càng gắn bó với Đảng bấy nhiêu. Chân lý ấy đã được Hồ Chí Minh thể hiện một cách nhất quán trong quá trình tổ chức, giáo dục và lãnh đạo thanh niên nước ta.

Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh rằng thanh niên tiêu biểu cho sự phát triển tương lai của đất nước, “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”. Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết nguyên đán năm 1946, Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”(6).

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến lớp trẻ của dân tộc, thấy rõ vai trò to lớn, quyết định của thanh niên trong tiến trình lịch sử và có niềm tin sâu sắc và khả năng cách mạng của họ.

Vì vậy, Người đã dành nhiều thời gian, dồn tâm lực để gieo mầm cách mạng vào các thế hệ thanh niên Việt Nam. Ngay từ những năm hai mươi của thế kỷ 20, tấm gương hoạt động cách mạng và những bài báo của Hồ Chí Minh đã có sức hấp dẫn rất lớn đối với thanh niên, cổ vũ thanh niên nước ta đứng lên làm cách mạng.

Việc thành lập tổ chức “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội” (với hạt nhân là cộng sản Đoàn) để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam và sáng lập tờ báo cách mạng mang tên “Thanh niên” chứng tỏ Hồ Chí Minh có một tầm nhìn chiến lược, khi Người biết rằng chỉ có thanh niên mới có thể “nắm vai trò là những người châm ngòi lửa đầu tiên cho cách mạng nước ta”.

Hồ Chí Minh cho rằng sự thịnh suy, mạnh yếu của đất nước phần lớn tùy thuộc vào thanh niên, và muốn “hồi sinh” dân tộc, trước hết phải “hồi sinh” thanh niên.

Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, phần phụ lục “Gửi thanh niên Việt Nam”,Người đã tha thiết kêu gọi: “Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên sớm già của Người không sớm hồi sinh”. Khi tổ quốc lâm nguy, Hồ Chí Minh tin rằng thanh niên sẵn sàng “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, và “Trong công cuộc kiến thiết, nước nhà trông mong, chờ đợi ở các cháu rất nhiều” (7).

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc nhìn nhận, đánh giá vai trò, vị trí và khả năng cách mạng to lớn của thanh niên vẫn là đòi hỏi cấp thiết trong sự nghiệp đổi mới đất nước ngày nay.

Một mặt, Hồ Chí Minh nhận rõ vai trò quyết định của thanh niên trong tiến trình lịch sử; nhận rõ khả năng cách mạng to lớn của thanh niên, hết lòng tin yêu thanh niên. Mặt khác, Người luôn đặt thanh niên trong tư cách là một chủ thể đang phát triển, đang được tiếp tục hoàn thiện.

Điều đó có nghĩa rằng thanh niên nói chung và trong mỗi cá thể nói riêng đều có cả mặt mạnh và mặt yếu, đều đang tiềm ẩn những khả năng to lớn cũng như những mặt hạn chế. Thí dụ, mặt mạnh của thanh niên là “Hăng hái, xung phong”, mặt yếu là “Hay chuộng hình thức, ít xem xét kết quả” hoặc “Đầu voi đuôi chuột” v.v… Hơn thế, Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải “Chăm lo dìu dắt thanh niên vì thanh niên chưa từng trải và thiếu kinh nghiệm”.

Nhìn lại quá trình vận động thanh niên ở nước ta từ đầu thế kỷ thứ 20 đến nay, chúng ta có thể thấy nhiều nhà yêu nước có tâm huyết lớn với thanh niên (như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…) phần nào cũng thấy được vai trò quyết định của thanh niên trong tiến trình lịch sử.

Các cụ thường nhắc lại câu nói của người xưa: “Hậu sinh khả úy”. Song do những hạn chế về thế giới quan khoa học, sự nhìn nhận về thanh niên của các cụ dường như chỉ dừng lại ở khái niệm rất chung đó mà chưa đi tới được sự phân tích nào đặc biệt; các cụ mới gửi gắm tâm huyết của mình chứ chưa đi từ sự nhìn nhận vai trò của tuổi trẻ tới việc tổ chức, phát huy một cách có hiệu quả lực lượng thanh nhiên.

Đáng chú ý là cho đến nay cũng còn có người quá đề cao thanh niên theo cảm giác mà không thấy hết mặt yếu, mặt hạn chế của thanh niên. Vào những năm 20 của thế kỷ 20, ở nước ta xuất hiện cái gọi là “Chủ nghĩa thanh niên” trong một số nhà yêu nước. Các ông coi thanh niên như là chủ thể toàn bích, mặt nào trong thanh niên cũng tốt…

Lại cũng có hiện tượng coi thường lớp trẻ; coi thanh niên là “bản sao” của bố mẹ, ép buộc lớp trẻ vào trong khuôn mẫu của lớp cha anh… dẫn đến sự xa cách thanh niên, không hiểu tâm lý, nguyện vọng, khát khao của lớp trẻ… Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc phê phán những thái độ này, Người dạy: “Không được hẹp hòi, thành kiến với thanh niên, cho rằng trứng khôn hơn vịt”.

Thực tiễn cho thấy quan điểm biện chứng trong việc nhìn nhận, đánh giá thanh niên của Hồ Chí Minh làm cho thanh niên tự tin hơn, đồng thời cũng thấy rõ yêu cầu phải phấn đấu, rèn luyện.

(Phần B)

Hồ Đức Việt
Nguyên Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

(1) Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 BCH T.Ư Đảng, tháng 2-1993, tr82
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG Sự thật, Hà Nội – 2011, trang 243
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6 – NXB Sự thật, Hà Nội 1986, tr.62
(4) (5) Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, NXB Hồ Chí Minh, Hà Nội 1980, tr.288, 129
(6) Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, Sđd., tr.69
(7) Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, Sđd., tr.61

tienphong.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà giáo dục vĩ đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khai sinh và đặt nền móng cho nền giáo dục mới của Việt Nam. Theo quan niệm của Người, nền giáo dục trong chế độ mới là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục của dân, do dân, vì dân. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” – tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Ai cũng phải được học hành

Đề cập về một số nội dung cơ bản của giáo dục, theo Hồ Chủ tịch: Nền giáo dục phải bảo đảm cho mọi người đều được đi học. Mỗi con người sinh ra đều có quyền bình đẳng, trong đó có quyền bình đẳng về giáo dục. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy giáo dục có vai trò và sức mạnh cực kỳ to lớn. Trong một văn kiện trình bày yêu sách của nhân dân ta dưới thời Pháp thuộc, Người đã bàn về việc thành lập các trường giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ. Có những thời kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp làm công tác giảng dạy. Những năm đầu thế kỷ XX, Người dạy học ở Trường Dục Thanh (tỉnh Phan Thiết).

Ngay sau ngày 2/9/1945, Người đã gửi thư cho các em học sinh nhân ngày khai trường năm học đầu tiên của một nước độc lập. Người luôn tin tưởng và mong muốn các thế hệ học sinh không ngừng cố gắng học tập và rèn luyện tốt để mai sau trở thành những người có ích cho Tổ quốc.

Việc mở mang giáo dục là việc làm bức thiết có quan hệ đến con đường phát triển của dân tộc. Người chủ trương phát triển giáo dục cho mọi người nhằm từng bước nâng cao mặt bằng dân trí của cả dân tộc, góp phần phát triển kinh tế – xã hội. Đó là nền giáo dục dân chủ, bình đẳng, bảo đảm cho mọi người được đi học. Người đặc biệt chú ý tới việc học của các tầng lớp nhân dân lao động vốn phải chịu thiệt thòi nhiều nhất bởi chính sách “ngu dân” của chế độ thực dân phong kiến. Tư tưởng nhân nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hòa quyện vào lòng dân, tạo thành một cao trào chống mù chữ vào cuối năm 1945.

Muốn dân giàu, nước mạnh, dân trí phải cao

Với tầm nhìn của một nhà cách mạng, một nhà giáo dục lớn, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự phát triển giáo dục ở các vùng xa xôi hẻo lánh, nơi cư trú của đồng bào ít người còn lạc hậu về nhiều mặt. Theo Hồ Chí Minh, muốn thực hiện được điều đó thì các dân tộc đều phải bình đẳng và đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Nội dung giáo dục phải toàn diện, coi trọng xây dựng cho người học lý tưởng cao đẹp, biết sống vì Tổ quốc, vì nhân dân và có thái độ quý trọng lao động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ cho chúng ta thấy mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục và cách mạng, giữa giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước, đồng thời là người tìm kiếm, phát hiện và giới thiệu nhiều tiến bộ mới của nền giáo dục kiểu mới mang tính khoa học, nhân đạo, tính dân chủ cao, bảo đảm cho sự phát triển toàn diện những năng lực sẵn có của con người. Nền giáo dục mới phải thực hiện dạy và học theo mục tiêu: học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Muốn cho dân giàu, nước mạnh, dân trí phải cao. Khi dân trí cao sẽ xuất hiện nhiều nhân tài tham gia xây dựng đất nước. Người luôn đánh giá cao vai trò của các thầy, cô giáo với sự nghiệp giáo dục. Sự nghiệp giáo dục phải được xã hội hóa. Giáo dục nhằm đào tạo thế hệ cách mạng mai sau là sự nghiệp to lớn, do đó cần phải huy động sức mạnh vật chất, tinh thần của toàn Đảng, toàn dân.

Với cách nhìn biện chứng, Hồ Chí Minh cũng phê phán việc phát triển giáo dục một cách tùy tiện, thiếu kế hoạch như đào tạo tràn lan, dẫn đến tình trạng có ngành thì quá thừa, có ngành lại quá thiếu. Những khuyết điểm đó làm mất tính chất xã hội hóa của nền giáo dục. Ngày nay, trong thời kỳ khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, công tác giáo dục, đào tạo nhằm phát huy nguồn lực con người là một nhân tố có ý nghĩa quyết định cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta.

Lam Thanh
Theo chutichhochiminh.net
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Vận dụng nội dung tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào bài giảng: “Một số vấn đề về cải cách nền hành chính nhà nước”

Tác giả : Th.s Thái Xuân Sang – Gv Khoa Quản lý nhà nước
File đính kèm: Không có

Tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết xong tháng 10 năm 1947 ký tên XYZ- Nxb sư thật xuất bản lần đầu tiên năm 1948, xuất bản lần thứ 7 năm 1959. Từ khi ra đời đến nay, tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” luôn là văn kiện quan trọng về xây dựng Đảng. Tác phẩm được viết trong một thời kỳ đặc biệt, với bản chất xâm lược và hiếu chiến, kẻ thù đã gửi 3 tối hậu thư trong 2 ngày, đòi chúng ta phải hạ vũ khí; chúng đã buộc chúng ta phải cầm súng đứng lên bảo vệ nền độc lập. Cuộc kháng chiến trường kỳ càng khó khăn, gian khổ yêu cầu sức chiến đấu của Đảng ngày càng cao. Để kịp thời chỉnh đốn Đảng, phê bình những khuyết điểm, sai lầm, tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đã kịp thời ra đời để sửa đổi lối làm việc của Đảng. Được viết cách đây hơn 50 năm, nhưng đến nay nội dung, tư tưởng tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị, là một trong những tài liệu phục vụ cho việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Qua việc học tập, nghiên cứu tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, chúng tôi nhận thấy nội dung, tư tưởng của tác phẩm không những được vận dụng rất tốt cho môn học Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng, Dân vận… mà còn được vận dụng hiệu quả cho môn học Quản lý hành chính, chương trình trung cấp lý luận chính trị.

Như chúng ta đã biết, cải cách hành chính Nhà nước đang là yêu cầu khách quan, cấp bách của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nền hành chính Nhà nước là hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước ở trung ương và chính quyền địa phương, cơ cấu gắn với hệ thống thể chế hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức và hệ thống quản lý tài chính công thực thi quyền hành pháp để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cải cách hành chính là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính Nhà nước(thể chế, cơ cấu, tổ chức, cơ chế vận hành, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức…) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại. Nhà nước là trung tâm, cột trụ của hệ thống chính trị, nền hành chính có vai trò thực thi quyền hành pháp. Để thực hiện thắng lợi các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước sự vận hành hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính có vai trò quyết định. Do tính chất đặc thù của hệ thống chính trị nước ta đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước đa số là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng tôi tin chắc rằng nếu như tất cả các đảng viên trong cơ quan hành chính Nhà nước đều học tập, thực hành sửa đổi lối làm việc đúng với tư cách và đạo đức cách mạng thì mục tiêu của cải cách nền hành chính quốc gia sớm đạt được.

Có nhiều lý do để cần phải cải cách nền hành chính, một trong những lý do chủ quan là: Cải cách nền hành chính xuất phát từ yêu cầu khắc phục những yếu kém, hạn chế, khuyết điểm trong tổ chức, hoạt động của nền hành chính Nhà nước. Vấn đề đặt ra là:

“Ai cũng nghĩ đến việc thay đổi thế giới, nhưng chẳng ai nghĩ đến việc thay đổi chính mình”

Lev. Toilstoy

“Khuyết điểm do cơ chế, trì trệ do quy trình, sai pham do hạn chế năng lực, thiên tai dịch bệnh do trời, còn biện pháp xử lý thì…..xin ý kiến chỉ đạo cấp trên. Rốt cuộc mọi người đều sai lầm, mọi người đều có lý”

Lưu Quang Vũ – Tôi và Chúng ta

Một trong những yếu tố cơ bản của nền hành chính là yếu tố con người (đó chính là đội ngũ cán bộ, công chức). Chính con người định ra thể chế, thiết lập tổ chức bộ máy và hệ thống tài sản công, tài chính công. Nếu như nhận thức và hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức không thay đổi thì toàn bộ nền hành chính không thay đổi(cải cách được).

Đọc tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta thật sự giật mình, bởi vì những căn bệnh trong Đảng đã có từ năm 1947 đến nay vẫn tồn tại, phát triển với quy mô ngày càng lớn, tính chất ngày càng nguy hiểm. Đó là vì “kém tính Đảng mà có những bệnh như sau:

– Bệnh ba hoa;
– Bệnh địa phương;
– Bệnh ham danh vị;
– Bệnh thiếu kỷ luật( Gặp sao hay vậy);
– Bệnh xa quần chúng;
– Bệnh chủ quan;
– Bệnh hình thức;
– Bệnh ích kỷ; bệnh hủ hoá;
– Bệnh thiếu ngăn nắp;
– Bệnh lười biếng .” (1)

Thời gian gần đây những bệnh này đã phát triển thành bệnh tham nhũng, bệnh quan liêu, bệnh xa hoa lãng phí, bệnh vô cảm trước nỗi khổ của dân…

Những căn bệnh này cần phải được điều trị, phương thuốc đặc hiệu là phải “ráo riết dùng tự phê bình và phê bình để giúp nhau chữa cho hết những bệnh ấy”.(2)

Trong chương trình tổng thể cải cách hành chính đã đưa ra một hệ thống các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu cải cách nền hành chính( trong các giải pháp đó có giải pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức…).

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, tác giả đã dành một phần (IV) viết về vấn đề cán bộ với những nội dung cơ bản:

1. Huấn luyện cán bộ;
2. Dạy cán bộ và dùng cán bộ;
3. Lựa chọn cán bộ;
4. Cách đối với cán bộ;
5. Mấy điểm lớn trong chính sách cán bộ.

Nghiên cứu nội dung vấn đề cán bộ, hệ thống các trường chính trị(Nơi huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ) có thể vận dụng nhiều quan điểm và nội dung thiết thực vào công tác cán bộ, công tác giảng dạy. Mở đầu tác giả XYZ viết: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”.
Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc.

Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.”(3)

“Khuyết điểm trong sự huấn luyện: Đã có nơi mở lớp huấn luyện, thế rất tốt. Song những lớp ấy còn nhiều khuyết điểm. Thí dụ: huấn luyện cán bộ trong các cơ quan hành chính mà không đụng đến công việc hành chính. Còn dạy chính trị thì mênh mông mà không thiết thực, học rồi không dùng được.”(4)

Hơn 50 năm đã trôi qua, kể từ khi tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được xuất bản. Thực tiễn chứng minh và mọi người đều thừa nhận quan điểm trên hoàn toàn đúng. Có một điều thật đáng tiếc thí dụ mà tác giả đã nêu trên cho đến nay chúng ta vẫn chưa khắc phục được. Việc đào tạo cán bộ trong một thời gian dài còn xem nhẹ kỹ thuật và nghiệp vụ hành chính, khoa học hành chính kém phát triển, hệ thống các trường đào tạo quản lý hành chính không ổn định, khoa học hành chính công chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Vì những lẽ trên mà một thực tế hiện nay là cán bộ, công chức Nhà nước không thạo việc, kém về thực hành, thường chạy theo phong trào (cán bộ phong trào). Đây là căn bệnh có từ năm 1947, bệnh chủ quan: Lý luận và thực tế không ăn khớp với nhau, dạy học theo cách học thuộc lòng. Trong những năm gần đây bệnh này đang được chữa, tuy nhiên cần phải quyết liệt hơn. Nếu không được sửa chữa nền hành chính không theo kịp tiến trình đổi mới kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế.

Tác giả XYZ đã đưa ra cách sửa chữa khoa học, thiết thực:

– Huấn luyện nghề nghiệp;
– Huấn luyện chính trị;
– Huấn luyện văn hoá;
– Huấn luyện lý luận.

“Cách học tập: Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”.(5)

Trong một thời gian dài phương pháp giảng dạy chủ yếu trong hệ thống trường Đảng, trường chính trị là phương pháp thuyết trình thầy đọc, trò chép. Phương pháp này đã không phát huy được tính tự giác, chủ động, sáng tạo của người học. Trở lại tác phẩm sửa đổi lối làm việc, ngay trang đầu tiên, phần (I) phê bình và sửa chữa, tác giả XYZ đề cập ngay đến cách thức học tập.

1. “Nghiên cứu: Mỗi người phải đọc kỹ càng các tài liệu, rồi tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, có khuyết điểm gì và ưu điểm gì.

2. Thảo luận: Khai hội thảo luận và phê bình. Trong lúc thảo luận, mọi người được tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh. Những kết luận trong cuộc thảo luận phải có cấp trên duyệt y mới là chính thức.”(6)

Cách thức học tập này có thể vận dụng cho các môn học khác nhau, trong đó có môn quản lý hành chính. Bộ giáo trình TCLLCT được sử dụng trên phạm vi cả nước, nội dung giáo trình mang tính khái quát, có những vấn đề rất chung chung. Nhiệm vụ của giáo viên là: Cung cấp đầy đủ những nội dung cơ bản trong giáo trình. Ngoài ra giáo viên cần dành thời gian nhất định cho việc thảo luận những vấn đề thiết thực gắn với đối tượng tham gia học, bài giảng sẽ rất có ý nghĩa khi học viên có thể vận dụng được ngay những kiến thức đã học vào công việc của cơ quan, đơn vị, địa phương và công việc của người học đang làm. Với tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” có thể vận dụng vào nhiều nội dung khác nhau của các môn học thuộc chương trình trung cấp lý luận chính trị. Tuy nhiên, vận dụng không có nghĩa là giáo viên trích dẫn tràn lan. Từ những cách tiếp cận khác nhau giáo viên có thể vận dụng về nội dung, hình thức, quan điểm hoặc về phương pháp của tác phẩm. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy lý luận chính trị cần phải phong phú, linh hoạt. Mục đích cuối cùng cần đạt được là sau khi học, học viên nhận thức đúng, nhận thức sâu sắc hơn, thực hành đúng, sáng tạo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước nhằm phục vụ nhân dân một cách tốt nhất. Đây chính là tính Đảng trong công tác giảng dạy của giáo viên.

MỘT SỐ CÁCH THỨC VẬN DỤNG VÀO BÀI GIẢNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

Cách 1: Giáo viên đưa vấn đề cần thảo luận theo nhóm:

Ví dụ:

1. Đồng chí hãy phát hiện, phân tích thực trạng những yếu kém trong quản lý hành chính ở cơ quan mình ? Nguyên nhân của những yếu kém đó?

2. Đồng chí hãy phê bình những yếu kém trong công tác của bản thân mình ? Nguyên nhân? Cách sửa chữa ? Trong cơ quan, đơn vị đồng chí, đồng chí phải làm gì để hoạt động quản lý hành chính ở cơ quan, đơn vị mình có hiệu lực, hiệu quả?

Cách 2: Giáo viên có thể kể một câu chuyện về Bác gắn với nội dung bài giảng(Chẳng hạn: quan điểm, tư tưởng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Bác nói nhiều trong các bài nói chuyện, trong công tác, trong sinh hoạt đời thường của Bác – Ví dụ: Những câu chuyện Bác Hồ đến với cơ sở).

Cách 3: Giáo viên trích dẫn một đoạn viết nguyên văn của Bác sau đó phân tích, đối chiếu, so sánh ở các thời điểm, không gian khác nhau. Trong quá trình phân tích, giáo viên gợi mở cho học viên phát biểu quan điểm, chính kiến của mình. Sau khi thảo luận dân chủ, giáo viên tổng hợp, kết luận.

Ví dụ: Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng giáo dục cán bộ, đảng viên về tư cách đạo đức cách mạng, về phương pháp, cách vận động quần chúng nhất là về tinh thần tự phê bình và phê bình. Người chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (7)

Là cán bộ, công chức, đảng viên đồng chí hãy phân tích, chứng minh quan điểm trên. Liên hệ địa phương, đơn vị, bản thân đồng chí.

Cách 4) Trong khi giảng trích dẫn chính xác những câu nói, đoạn viết gắn với nội dung đang thực hành giảng.

Ví dụ: Khi bàn về phẩm chất chính trị của người cán bộ, công chức, giáo viên có thể trích dẫn 12 điểm về tư cách của Đảng chân chính cách mạng(…….)(8), trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Bác kết luận:

Muốn cho Đảng được vững bền
Mười hai điều đó chớ quên điều nào

Trên đây là một số nhận thức và kinh nghiệm trong quá trình quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc giảng dạy môn học Quản lý hành chính, Chương trình trung cấp lý luận chính trị. Rất mong các đồng chí cùng trao đổi, góp ý để việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả hơn đáp ứng yêu cầu về nhiệm vụ chính trị của nhà trường trong giai đoạn hiện nay./.

Chú thích:

(1),(2) Hồ Chí Minh toàn tập“Sửa đổi lối làm việc”, Nxb CTQG, H, 1995, tr267.
(3), (4), (5) Sđd, tr269.
(6) Sđd, tr273
(7) Sđd, tr231-232
(8) Sđd, tr261

truongchinhtrina.gov.vn