Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Học tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học tự nhiên và công nghệ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội và nhân văn đã được nghiên cứu và trình bày trong nhiều tác phẩm, riêng về khoa học tự nhiên và công nghệ còn chưa được phổ biến thoả đáng. Giữa khoa học xã hội – nhân văn với khoa học tự nhiên và kỹ thuật (công nghệ) luôn có mối quan hệ khăng khít. Bài viết này trình bày một số vấn đề với những nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ để mong góp phần hoàn hảo hệ tư tưởng lớn.

Khoa học và công nghệ cho chiến thắng

Trong kháng chiến chống thực dân và chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng để vạch ra các đường lối chiến lược cho chiến thắng mà nổi bật nhất là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thực hiện “tất cả cho chiến thắng”, trong đó có khoa học và công nghệ cho chiến thắng.

Kháng chiến chống lại kẻ thù có sức mạnh quân sự vào loại hàng đầu của thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh định hướng chiến lược là phải “trường kỳ kháng chiến” để “nhất định thắng lợi” với phương pháp phát triển chiến đấu “càng đánh càng mạnh”.

Để thực hiện định hướng chiến lược và phương pháp phát triển chiến đấu nói trên thì khoa học và công nghệ phải được chuẩn bị và được ưu tiên nguồn lực để phát triển sớm, trước hết là nguồn nhân lực mà chú trọng đặc biệt các nhân tài. Trong tình hình nước ta hồi giữa thế kỷ XX thì việc có các cơ sở ban đầu của công nghiệp quốc phòng, bảo đảm được các vũ khí thông dụng, nhất là vũ khí đặc biệt lợi hại của chiến tranh du kích, là cực kỳ quan trọng cho chiến thắng.

Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, đường lối khoa học và công nghệ phục vụ công cuộc kháng chiến trên đây là rất đúng đắn và có hiệu quả cao.

Ngay từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Đảng đã chuẩn bị các vấn đề liên quan đến đấu tranh vũ trang, năm 1944 “chiến thuật du kích” được phổ biến và huấn luyện, trong đó trình bày khá chi tiết về các loại vũ khí của chiến thuật du kích, đặc biệt là các biện pháp công nghệ về phá hoại cơ sở địch, các phương tiện thông tin liên lạc…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua nhiều hiểm nguy tới Pháp năm 1946, một mặt để đấu tranh ngoại giao, mặt khác thu hút về nước một số chuyên gia khoa học và công nghệ người Việt Nam yêu nước, trong đó có chuyên gia về vũ khí là đồng chí Trần Đại Nghĩa.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, trên Báo Cứu quốc, giữa tháng 9 năm 1946 đã có bài phân tích và vai trò quyết định của lục quân, các loại binh khí công nghệ cần thiết cho lục quân kể cả xe tăng, các hình thức chiến tranh và vũ khí hiện đại lúc đó và “công việc khẩn cấp bấy giờ” là làm khí giới. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì ở rừng Việt Bắc đã hình thành và ngày càng phát triển một tổ hợp nghiên cứu và chế tạo, sản xuất các vũ khí từ đơn giản (lựu đạn, mìn..) đến hiện đại (Ba-dô-ka, SKZ).

Sau khi mở thông biên giới phía Bắc, bắt đầu có sự giúp đỡ vũ khí thì lực lượng quân giới trong nước đã trưởng thành, một mặt tiếp tục nghiên cứu, sản xuất phát triển lực lượng của mình, mặt khác tiếp thu công nghệ mới và thích nghi hoá các loại vũ khí cho phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhất là điều kiện của khí hậu nhiệt đới ẩm. Như vậy khoa học và công nghệ quốc phòng đã thực hiện thành công tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này, nghĩa là càng đánh càng mạnh.

Bác đã có bức thư nổi tiếng dưới đây trong kháng chiến chống Pháp

“Thư gửi các ông Phạm Văn Bạch và Nguyễn Văn Tây.

Chú Bạch, chú Tây và các đồng chí.

Dưới đây là một cách giải thích rất đơn giản, dễ hiểu về con đường trường kỳ kháng chiến, viết ra cho anh em dùng.

Chào thân ái và quyết thắng.
Ngày 7 tháng 3 năm 1947.
Hồ”

Sơ đồ giải thích của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trình bày quan điểm đó cho thấy tính biện chứng của quá trình này. Quỹ đạo của ta là một hình Pa-ra-bon dương, của kẻ thù là một hình Pa-ra-bon âm. Đoạn giao nhau tương ứng với lúc ta “gay go” và kẻ thù tạm thời có ưu thế. Tuy nhiên, do ta kiềm chế được kẻ địch qua giai đoạn “gay go”, cuối cùng cũng tiến tới thắng lợi (Xem sơ đồ).

Sau khi kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân thắng lợi, miền Bắc chuyển vào thời kỳ phục hồi kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội làm chỗ dựa cho giải phóng miền Nam và miền Nam lại chuyển sang thời kỳ đấu tranh chống Mỹ giải phóng dân tộc. Như vậy yêu cầu về khoa học và công nghệ cho chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước càng cao, vì lần này công nghệ đứng hàng đầu thế giới.

Tiếp tục phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ quốc phòng, kết quả là chúng ta đã đối phó thành công với mọi loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại mà đối phương có (trừ vũ khí hạt nhân). Điển hình là thắng lợi của ta trong trận phá tan phong toả “thuỷ lôi từ tính” và “bom từ trường” và nhất là trận “Điện Biên Phủ trên không”. Đây là loại chiến tranh có nội dung chủ yếu của chiến tranh điện tử số hoá.

Khoa học và công nghệ gắn với sản xuất và xã hội

Ngày 18.5.1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài nói chuyện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam, trong đó nhiệm vụ của khoa học được nhấn mạnh “chúng ta đều biết rằng trình độ khoa học, kỹ thuật của ta hiện nay còn thấp kém. Lề lối sản xuất chưa cải tiến được nhiều. Cách thức làm việc còn nặng nhọc. Năng suất lao động còn thấp. Phong tục tập quán lạc hậu nhiều”.

Nhiệm vụ của khoa học là ra sức cải biến những cái đó. Khoa học là tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh giữa giai cấp bị bóc lột và giai cấp bóc lột và đấu tranh giữa con người với thiên nhiên. Ở đây chỉ nói riêng về khoa học tự nhiên và kỹ thuật.

Khoa học phải tự sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi”.
Quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ là sự phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về khoa học và công nghệ trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những yếu tố của quan điểm về khoa học và công nghệ của tư tưởng Hồ Chí Minh có thể thấy là:

Thứ nhất là, khoa học và công nghệ liên kết chặt chẽ với sản xuất, nhất là của một nước còn nghèo, phục vụ sản xuất phát triển; đồng thời sản xuất lại cũng là động lực thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta là nước chậm phát triển, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, chúng ta phải hết sức tranh thủ áp dụng các thành tựu từ thấp đến cao của khoa học và công nghệ trên thế giới, đồng thời từng bước xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của nước ta hướng tới khoa học và công nghệ hiện đại. Khoa học và công nghệ làm cho sản xuất phát triển nhanh, tạo điều kiện nâng cao đời sống của nhân dân lao động, trước hết là bảo đảm các nhu cầu cơ bản, xoá đói giảm nghèo.

Thứ hai là, khoa học và công nghệ có nhiệm vụ phục vụ sự phát triển xã hội, “cải biến” xã hội nước ta, nghĩa là phát triển toàn diện văn hoá, vừa giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, xoá bỏ các phong tục tập quán lạc hậu, tiến tới một xã hội văn minh. Khoa học và công nghệ cũng là một bộ phận của văn hoá, có ảnh hưởng quan trọng đến lối sống tinh thần của nhân dân góp phần xây dựng nền văn minh tinh thần tiến bộ của đất nước.

Thứ ba là, khoa học và công nghệ phải góp phần bảo vệ đất nước, khoa học và công nghệ phải luôn gắn chặt với quốc phòng, cung cấp cho quân đội các phương tiện chiến đấu, hậu cần. Đối với các chế độ của giai cấp bóc lột thì khoa học và công nghệ được sử dụng để xoá bỏ. Ngược lại trong chiến tranh giải phóng thì khoa học và công nghệ được sử dụng tối đa một cách sáng tạo để chiến thắng. Hơn nữa, đối với những nước mà kinh tế còn thấp kém như nước ta, vừa thoát khỏi chế độ thực dân lại phải huy động lực lượng toàn dân trường kỳ kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc, thì sự phát triển khoa học và công nghệ lại từ quốc phòng, an ninh mở rộng ra kinh tế – xã hội.

Thứ tư là, khoa học và công nghệ bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Đúng là khoa học và công nghệ ở các nước tư bản phát triển rất cao và được giai cấp tư sản triệt để lợi dụng để củng cố chế độ bóc lột, nâng cao lợi nhuận. Nhưng chủ nghĩa xã hội cũng chứng tỏ tiềm năng phát triển nhanh, khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (ví dụ: sự phát triển ngành năng lượng nguyên tử và hàng không vũ trụ, các ngành công nghiệp nặng của Liên Xô trước đây và của Trung Quốc hiện nay). Ngày nay khi chuyển sang kinh tế tri thức thì vai trò của khoa học và công nghệ bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội càng quan trọng.

Việc thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ trong những năm qua đã góp phần rất quan trọng cho thắng lợi của hai cuộc kháng chiến và trong sự phát triển thắng lợi của đất nước ta. Ngày nay, bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ lại càng cần thiết.

Khoa học và công nghệ xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi

Vai trò của khoa học và công nghệ trong việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở các mặt: khoa học và công nghệ gắn với sản xuất bảo đảm thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân; khoa học và công nghệ bảo vệ môi trường thiên nhiên, trước mắt phải cải thiện môi trường hạn chế hậu quả của thiên tai và chiến tranh trước đây, của công nghiệp hoá hiện nay; khoa học và công nghệ phục vụ sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người.

Liên kết chặt chẽ giữa khoa học và công nghệ với sản xuất, một điểm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Ngày nay, trong thế giới hiện đại với sự phát triển chưa từng có của khoa học và công nghệ làm xuất hiện nền kinh tế tri thức. Đồng thời cùng với sự phát triển đó là xu thế toàn cầu hoá. Trong điều kiện như vậy càng phải phát huy cao hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ mà chủ yếu là vấn đề “nghệ thuật” phối hợp giữa tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới và phát triển công nghệ nội sinh, từ đó từng bước tiến lên một nền khoa học và công nghệ hiện đại đáp ứng các yêu cầu của nền sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta còn phải trải qua một thời gian dài của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó nhiệm vụ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm. Do đó, việc phát huy cao độ trí tuệ sáng tạo của con người Việt Nam, xét cho cùng, chính là cách xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đây, chúng ta thấy rằng phải tập trung nguồn lực và tạo ra cơ chế cần thiết để khoa học và công nghệ có thể sớm tạo ra “vũ khí” cho thắng lợi của cuộc chiến tranh xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu để tiến lên “dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” và cũng là thắng lợi của CNH, HĐH.

Quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề khoa học và công nghệ bảo vệ môi trường dựa trên tình hình thực tiễn Việt Nam đã được hình thành sớm, từ trước khi có phong trào bảo vệ môi trường trên thế giới (sau khủng hoảng dầu hoả đầu năm 70). Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua tác phẩm và hành động, đã phát triển một triết lý hết sức sâu sắc về mối quan hệ không chỉ “thân thiết” mà còn “thương yêu” giữa con người và thiên nhiên, cũng là người đề xướng Tết trồng cây vào năm 1959: “…mỗi tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965… chúng tôi sẽ có 90 triệu cây… và trong mười năm nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. “Phải có kế hoạch, có hướng dẫn, tìm thêm hạt, ươm thêm giống… phải làm đúng khẩu hiệu “trồng cây nào, tốt cây ấy”.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề bảo vệ môi trường là phải chú trọng trước hết đến việc cốt lõi, mà ở nước ta là vấn đề cây xanh, nói rộng ra là thảm thực vật, là rừng. Vấn đề bảo vệ môi trường ở nước nghèo chỉ có thể giải quyết được, nếu nó được gắn liền với việc cải thiện đời sống của nhân dân. Cũng không thể làm một cách thiếu khoa học mà phải ứng dụng khoa học công nghệ tiến bộ vào việc chọn giống cây, ươm cây con và trồng cây sao cho cây sống và xanh tốt.

Gần đây tình trạng phá rừng ở nước ta có chững lại, độ che phủ bắt đầu tăng lên vài phần trăm. Công trình trồng mới 5 triệu hec-ta rừng bắt đầu triển khai, các Tết trồng cây được duy trì và mở rộng. Đây chính là những việc phát huy cụ thể tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác bảo vệ môi trường. Ngày nay, tiến hành CNH và HĐH có rất nhiều vấn đề môi trường đặt ra, chúng ta luôn ghi nhớ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này để quyết tâm giữ gìn sao cho phong cảnh của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa phải rất tươi đẹp.

Chủ nghĩa tư bản đã phá hoại nghiêm trọng môi trường trái đất, họ không thể có khả năng giải quyết vấn đề này, vì lẽ không thể tư nhân hoá được bầu trời, đại dương và vũ trụ. Phục hồi lại môi trường trái đất sẽ là nhiệm vụ cao cả nhất của chủ nghĩa xã hội, mà chính ở đây khoa học và công nghệ bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi, một chủ nghĩa xã hội có phong cảnh xanh tươi, đẹp đẽ, không phải chỉ là bê tông và màu xám.

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (1951), phần mở đầu nói về tình hình thế giới trong nửa đầu thế kỷ “Trong 50 năm đó, đã có những phát minh như chiếu bóng, vô tuyến điện, vô tuyến truyền hình (television) cho đến sức nguyên tử”. Ngày nay ngành công nghệ dẫn đầu là công nghệ thông tin – máy tính chính là sự phát triển ở tầm cao các phát minh đã được nhắc đến ở báo cáo chính trị nói trên.

Khi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh không đi về phương Đông như phong trào Đông kinh nghĩa thục, mà lại đi về phương Tây, vì ở đó có lời giải về sự yếu kém của phương Đông: Thiếu khoa học và công nghệ hiện đại để tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn. Tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ được hình thành trong một không gian mở, tiếp thu những cái mới tiến bộ không chỉ bằng lý trí uyên bác mà còn với nhiệt tình của lòng yêu nước nồng nàn.

Ngày nay, những người cộng sản cũng sẽ không ngạc nhiên khi thấy rằng chủ nghĩa xã hội vẫn phát triển ở phương Đông. Vì lẽ cũng chính Các Mác, trước đây hơn 100 năm, đã khuyên rằng ở các nước vốn có một cơ sở cộng đồng trong dân cư bền vững thì không phải trải qua khổ đau của chủ nghĩa tư bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội./.

Theo GS. Vũ Đình Cư
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đoàn kết Lương Giáo – một quan điểm xuyên suốt của Đảng

Đêm Giáng sinh an lành tại Thủ đô Hà Nội. (Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết Lương Giáo, phát huy các giá trị nhân văn trong tôn giáo và với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhất quán khẳng định vị trí và vai trò của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội qua việc thực hiện chiến lược đoàn kết dân tộc và tôn giáo…

1. Đoàn kết Lương Giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đoàn kết toàn dân tộc

Đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng, nhất quán trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Đây là một bài học mang tính lịch sử. Giai đoạn nào chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo được thực hiện tốt thì đất nước thái bình, các thế lực ngoại bang cũng ít nhòm ngó.

Đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc đã trở thành tư tưởng xuyên suốt, một chiến lược cách mạng quan trọng của Đảng ta. Cơ sở của chiến lược này là luôn tôn trọng và bảo đảm trên thực tế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, không tôn giáo; đoàn kết tôn giáo; hoà hợp dân tộc. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương để dễ bề thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết”(1), và đây đã trở thành một trong sáu nhiệm vụ của nhà nước non trẻ. Điều này xuất phát từ một lẽ hiển nhiên là, người Việt Nam, dù theo tôn giáo, tín ngưỡng hay không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng có chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc Hồng. Do vậy, đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề tất yếu, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng. Trong mối quan hệ giữa dân tộc và nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, và nhân dân chỉ có thể được tự do khi đất nước độc lập. Điều này là ước nguyện của mọi người dân, dân tộc bị áp bức, kể cả đồng bào có đạo. Người viết: “Hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do”(2), do vậy, “toàn thể đồng bào ta, không chia Lương Giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo tự do”(3).

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi vấn đề đoàn kết Lương Giáo là một nội dung quan trọng của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về đoàn kết toàn dân, về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo.

Từ việc xác định tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, năm 1990, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 24/NQ-TƯ, về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là: “tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đoàn kết Lương Giáo, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(4).

Những quan điểm này được tiếp tục thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (1991); Văn kiện Đại hội VII, VIII, IX. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (năm 2003), về Công tác tôn giáo cũng khẳng định:

“- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

– Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào,…

– Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”(5).

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4/2006) tiếp tục khẳng định: Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ… Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân (6).

Gần đây nhất, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục nhất quán khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(7). Đây chính là cơ sở quan trọng nhằm đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta – giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

2. Phát huy các giá trị trong tôn giáo, tín ngưỡng nhằm đoàn kết lương giáo xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đây cũng là một trong những nhận thức lại của Đảng ta về vị trí, vai trò của tôn giáo, là giải pháp quan trọng nhằm phát huy tính tích cực của tôn giáo, làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời, ngăn chặn có hiệu quả những hành vi lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Hồ Chí Minh từng cho rằng, học thuyết của Khổng Tử, Thiên chúa giáo của Giêsu, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên và chủ nghĩa Mác đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Do vậy, trong quan niệm và hoạt động thực tiễn của mình, Người luôn tôn trọng vai trò của các tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của các tầng lớp nhân dân; phát huy các giá trị mang tính nhân văn trong các tôn giáo để tiến tới xây dựng một nước Việt Nam đoàn kết, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết Lương Giáo, phát huy các giá trị nhân văn trong tôn giáo và với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhất quán khẳng định vị trí và vai trò của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội qua việc thực hiện chiến lược đoàn kết dân tộc và tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của các tầng lớp nhân dân; phát huy các giá trị mang tính nhân văn của các tôn giáo trong xây dựng đạo đức xã hội, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Các quan điểm trên đã được khẳng định trong Nghị quyết 24-NQ/TƯ của Bộ Chính trị, về các Văn kiện và nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Nghị quyết 24-NQ/TƯ nhấn mạnh, cần phải: “khắc phục nhận thức thiển cận đối với tôn giáo và thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo”(8).

Điều 5, Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo, ngày 18/6/2004, khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “tôn trọng giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”(9). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(10).

3. Bảo đảm sự đoàn kết lương giáo trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, đồng thời nghiêm trị mọi hành động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung và đoàn kết lương giáo nói riêng.

Hiến pháp và pháp luật là cơ sở quan trọng, bảo đảm chiến lược đoàn kết lương giáo nói riêng, đại đoàn kết dân tộc nói chung. Đây chính là những sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng về đoàn kết lương giáo, là cụ thể hóa quyền lực của nhà nước trong việc bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết Lương Giáo.

Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004) đều nhất quán khẳng định quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Các quyền này thể hiện ở các điểm sau:

– Mọi công dân Việt Nam đều có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo, tín ngưỡng bất kỳ và đây là một trong những quyền dân chủ quan trọng. Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau.

– Các tôn giáo dù lớn hay nhỏ (ít hay nhiều tín đồ) đều bình đẳng trước pháp luật cả về quyền lợi và nghĩa vụ. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

– Nhà nước luôn tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp của các tôn giáo; động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

– Nhà nước bảo đảm quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật; tôn trọng giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo.

– Mọi sự xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân đều bị pháp luật nghiêm khắc trừng trị.

– Nhà nước Việt Nam tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước, bảo đảm khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tóm lại, trong những năm qua, nhất là thời kỳ đổi mới, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề đoàn kết toàn dân tộc nói chung, đoàn kết lương giáo nói riêng có những phát triển vượt bậc. Điều này thể hiện rõ nét qua xu hướng chủ đạo trong hoạt động của các tôn giáo là gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với phương châm “Tốt đời, đẹp đạo”, các tôn giáo ở Việt Nam đã có những định hướng hành đạo tiến bộ, như: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Thiên chúa giáo; “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc” của Hội thánh Tin lành Việt Nam; “Nước vinh, đạo sáng” của Cao Đài… Các khuynh hướng này vừa phù hợp với đạo lý, truyền thống, văn hóa của dân tộc, vừa phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và xu hướng phát triển của thời đại./.

TS. Nguyễn Dương Hùng
___________________________

(1), (3) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.4, tr.9, 490.
(2) – Sđ d, t.5, tr.44.
(4), (8) – Nghị quyết 24-NQ/TW về Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
(5) – ĐCSVN: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb. CTQG, H, 2003.
(6) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H.2006, tr.122-123.
(7), (10) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H.2011, tr.81, 245.
(9) – Xem: Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo.

Theo http://www.tuyengiao.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Dân là gốc, dân là chủ”

Bác Hồ với Nhân dân. Ảnh: Tuấn Anh

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy “nước ta là nước dân chủ; nước lấy dân làm gốc; dân là chủ, dân làm chủ; dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm được; dân chủ không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”. Theo Người “tiếng dân chính là truyền lại ý trời”[1]. “Dân muốn gì ta phải làm nấy”[2]. “Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”[3].

1. Ý nghĩa lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám 1945 là là lập nên một chính thể Dân chủ Cộng hòa

Khi Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước thì dân tộc Việt Nam đang chìm đắm trong chế độ thực dân – phong kiến chuyên chế. Chúng ta không có Hiến pháp và nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ. Vì vậy, chỉ một ngày sau khi tuyên bố với nhân dân Việt Nam và thế giới rằng nhân dân Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 3-9-1945, Người đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế đọ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống. Đối với các Ủy ban nhân dân làng, huyện, tỉnh, thành phố là hình thức Chính phủ trong các địa phương thì toàn thể nhân dân Việt Nam cũng có quyền như vậy. Trừ bọn Việt gian bị tước công quyền, mọi người từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt trai gái, giàu nghèo, Việt Minh hay ngoài Việt Minh, ai cũng có quyền ứng cử hay bầu cử vào các Uỷ ban này.

Ngày nay, để hiểu ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám, điều quan trọng nhất là phải phân tích, đánh giá giá trị tinh thần của cuộc cách mạng đó trên cơ sở toàn dân Việt Nam đã đập tan ách nô lệ của Pháp Nhật, xóa đi một trở lực, vết nhơ trên con đường tiến bộ, văn minh của nhân loại. Với tinh thần đó, trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà, Hồ Chí Minh nhấn mạnh ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám: “Trong một thời gian rất vắn, chúng ta đã phá tan chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm nay. Chúng ta đã đánh đổ cái nền thống trị của hai đế quốc chủ nghĩa: Pháp và Nhật. Chúng ta đã lập nên một chính thể Dân chủ Cộng hòa. Đó là một cuộc thắng lợi xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nước ta”[4].

Vấn đề có ý nghĩa là ở chỗ từ một thắng lợi xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nước ta như vậy dẫn tới “lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Và từ đó, điều gì sẽ đến với Đảng ta trong điều kiện Đảng cầm quyền? Một là, công việc sẽ khó khăn, phức tạp hơn gấp nhiều lần. Hồ Chí Minh nói rõ: “Việc này mới khó chứ! Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng trong nước. Vả lại, chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều”[5]. Sau này, Hồ Chí Minh nói rõ hơn: “Thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều”[6]. Hai là, dân tín nhiệm, ủy thác việc cầm quyền cho Đảng, nên Đảng phải có trách nhiệm với dân, xứng danh là một Đảng đạo đức và văn minh. Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên phải thật sự coi dân là gốc, dân là chủ, chứ không thể “miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo kiểu “quan” chủ”[7]. Ba là, ở các địa phương nhiều khuyết điểm to như “khuynh hướng chật hẹp, bao biện, không biết đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc. Có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, dĩ công dinh tư, dùng pháp công để báo thù tư”. Những khuyết điểm đó làm cho dân chúng hoang mang, oán Chính phủ và Đảng, làm cho nền đoàn kết lay động.

Vấn đề đặt ra là “sao cho được lòng dân”; “Chính phủ là công bộc của dân”, “Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc, dân là chủ”. Chính phủ là Chính phủ nhân dân nên các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mọi người. Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải lấy dân làm gốc, coi dân là chủ, đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh.

2. Nhận thức khoa học vị trí, vai trò “dân là gốc, dân là chủ”

Trong di sản Hồ Chí Minh, nhiều lần chúng ta bắt gặp các cụm từ “dân là gốc”; “nước lấy dân làm gốc”; “dân là chủ, dân làm chủ”, “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân cử ra”; “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”; “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”; “nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”; v.v..

Vậy dân ở đây là ai? Trả lời câu hỏi này không chỉ liên quan tới vị trí, vai trò của người dân, mà quan trọng hơn là liên quan tới vận mệnh quốc gia. Bởi vì, nước lấy dân làm gốc; Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ.

Những cách diễn đạt về “dân” trong di sản Hồ Chí Minh tựu trung có thể nhìn nhận theo các lát cắt sau đây: Một là, toàn dân, tất cả công dân Việt Nam, cử tri. Trong Hiến pháp 1946, khi nói tới chính thể nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ghi rõ “tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hai là, các nghị viên (nay gọi là đại biểu Quốc hội). Ở lát cắt này, nhân dân là nghị viên trong Nghị viện (nay gọi là Quốc hội) là những người được cử tri bầu, thay mặt toàn thể nhân dân giải quyết những vấn đề chung cho toàn quốc.

Từ trong di sản Hồ Chí Minh và Hiến pháp Việt Nam, nhận thức có chất lượng khoa học về vị trí, vai trò là gốc, là chủ của dân như thế nào?

Thứ nhất, dân là gốc, dân là chủ tiếp cận theo góc độ Nghị viện nhân dân là cách tiếp cận gián tiếp, đại diện. Nói gián tiếp, đại diện không có nghĩa là không quan trọng, ngược lại có nhiều vấn đề duy nhất chỉ giải quyết theo cách gián tiếp. Đó là “đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài (Điều thứ 23 Hiến pháp 1946). Có quyền bãi miễn các đại biểu mình bầu ra (Điều thứ 20 Hiến pháp 1946). Tuy nhiên, ở Điều 20 này, “dân Nghị viện” phải phụ thuộc vào toàn dân như Điều 41 Hiến pháp 1946 quy định: “Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó”.

Thứ hai, dân là gốc, dân là chủ tiếp cận dưới góc độ toàn dân. Trong Hiến pháp 1946 có nói tới “nhân dân phúc quyết”, “toàn dân phúc quyết”. Vấn đề này, cho tới nay, trong nhận thức vẫn còn những cách hiểu khác nhau và vì vậy, trên thực tế, chưa được thực hiện. Hiến pháp 1946 cũng nói rõ “cách thức phúc quyết sẽ do luật định”. Vì luật chưa định nên chưa thực hiện được. Hơn nữa, khi nói toàn dân, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: Hạng hăng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn”[8]. Người lại nói, “cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”[9]. Và “chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”. Nhận thức và thực hiện điều này là tương đối khó, nhưng theo tinh thần Hồ Chí Minh, khó dễ là ở mình. Nếu lấy lòng chí công vô tư, vì dân phục vụ mà xử sự thì chắc chắn sẽ vượt qua được khó khăn.

Trở lại Hiến pháp 1946, Điều 21 ghi rõ: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”. Điểm c) Điều thứ 70 ghi: “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Ở đây có ba điểm cần có sự thống nhất trong nhận thức. Một là, nhân dân ở đây rõ ràng cần được hiểu một cách dứt khoát là toàn dân, không phải là Nghị viện. Hai là, Điều thứ 32 nói rõ, nếu được hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý thì mới đưa ra nhân dân phúc quyết. Như vậy, không phải mọi thứ liên quan tới vận mệnh quốc gia là “tự nhiện, tự động” đưa ra nhân dân phúc quyết, mà toàn dân phải phụ thuộc vào hai phần ba “nhân dân Nghị viện” (nghị viên). Ba là, cách thức phúc quyết thế nào thì chưa có một quy định cụ thể, và chỉ khi nào có luật định cụ thể thì mới thực hiện được việc “toàn dân phúc quyết”. Điều này, trước đây do chiến tranh chưa làm được thì nay trách nhiệm thuộc về Quốc hội. Nếu không làm được điều này thì “toàn dân phúc quyết”, trưng cầu dân ý, dân chủ trực tiếp chỉ là hình thức.

Thứ ba, để nhận thức có chất lượng khoa học vai trò “dân là gốc, dân là chủ” cần khám phá tư duy so sánh của Hồ Chí Minh. Người thường so sánh cán bộ với dân, và chỉ có đặt cạnh dân thì mới hiểu đúng cán bộ. Ví dụ, so với dân thì tất cả cán bộ, công chức đều có quyền, và chỉ có quyền thì mới thực hiện được hành vi tham nhũng, nhũng lạm (lạm dụng quyền để nhũng nhiễu, đục khoét dân). Người viết: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”[10]. “Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”[11].

Người cũng hay so sánh người chủ với đày tớ. Đây là những khái niệm hẹp, thường dùng trong gia đình. Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm này trong phạm vi rộng, quốc gia, quản lý đất nước. Biên độ rộng hẹp khác nhau nhưng tính chất và chức năng là giống nhau, tức là đều bàn tới vai trò, vị trí của từng đối tượng trong mối quan hệ với nhau. Trong phạm vi gia đình, địa vị người chủ quyết định mọi việc. Trong phạm vi đất nước, nhân dân (cả hai cách tiếp cận Nghị viện và toàn dân) – với địa vị người chủ – cũng quyết định mọi việc, theo tinh thần “toàn dân phúc quyết”. Còn Chính phủ là công bộc – đày tớ của dân. Đảng ta phải “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” (Di chúc) theo tinh thần “cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”. Người nói: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”[12]. So với quan niệm hẹp trong gia đình thì ở phạm vi quốc gia, Chính phủ, Đảng, cán bộ vừa là người phục vụ (đày tớ) vừa là người lãnh đạo. Ở đây, có hai khía cạnh liên quan cần được làm rõ: Thế nào là cán bộ? Thế nào là lãnh đạo? Nếu tách khái niệm “cán bộ” và “lãnh đạo” khỏi “đầy tớ” thì sẽ không bao giờ nhận thức có chất lượng khoa học vị trí, vai trò của dân. Hồ Chí Minh dạy: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”[13]. Và Người giải thích thế nào là lãnh đạo: “Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”[14].

Thế là đã rõ. Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng xét dưới nhiều phương diện thì vị trí, vai trò của toàn dân là quyết định mọi việc, không gì có thể thay thế. Đây chính là chất lượng khoa học trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân. Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Có những việc chúng ta nhận thức và thực hiện tốt, nhưng cũng có những việc chúng ta nhận thức và làm chưa đúng theo di huấn của Người.

Trong nhận thức về vai trò, vị trí của dân có những khía cạnh ta làm chưa tốt, trong đó có vấn đề dân là gốc, dân là chủ theo tinh thần dân quyết. Nếu bàn tới dân là gốc, dân là chủ mà chỉ dừng lại ở Quốc hội (dân là nghị viên) theo tinh thần dân chủ gián tiếp, dân chủ đại diện thì chúng ta bỏ rơi, quên đi một phần rất quan trọng, có ý nghĩa to lớn, liên quan tới vận mệnh quốc gia là dân chủ trực tiếp (dân là toàn dân). Toàn dân đang kỳ vọng ở Quốc hội phải có luật định không chỉ để dân (toàn dân) làm mà còn là dân nói, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát và dân quyết. Chỉ có như vậy thì mới có được dân tin, dân phục, dân yêu, giữ được lòng tin của dân với Đảng và Chính phủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh./.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.79.
[2] Hồ Chí Minh, Sdd, t.4, tr.148.
[3] Hồ Chí Minh, Sdd, t.5, tr.293.
[4] Hồ Chí Minh: Sdd, t.4, tr.19.
[5] Hồ Chí Minh: Sdd, t.4, tr.20
[6] Hồ ChÍ Minh: Sdd, t.10, tr.4.
[7] Hồ Chí Minh: Sdd, t.6, tr.292.
[8] Hồ Chí Minh: Sdd, t.5, tr.289.
[9] Hồ Chí Minh: Sdd, t5, tr.297.
[10] Hồ Chí Minh: Sdd, t.5, tr.104.
[11] Hồ Chí Minh: Sdd, t.5, tr.641.
[12] Hồ Chí Minh: Sdd, t.8, tr.375.
[13] Hồ Chí Mih: Sdd, t.12, tr.555.
[14] Hồ Chí Minh: Sdd, t.12, tr.222.

Theo PGS.TS Bùi Đình Phong
(hochiminhhoc.com)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và những chuyện chưa được kể phía sau khuôn hình

Bác Hồ luôn quan tâm đến phóng viên báo chí từ những việc rất nhỏ, rất cụ thể.

Kể từ năm 1919, với bản yêu sách nổi tiếng gửi đến Hội nghị Véc-xây cho đến khi từ giã cõi đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trên 2.000 bài báo, với 150 bút danh khác nhau.

Đây là những câu chuyện cảm động về Bác Hồ với những người làm báo hình của đạo diễn, quay phim, NSƯT Phạm Việt Tùng – người đã từng theo Bác những ngày đầu bước vào nghề báo hình và làm nhiều phim tài liệu về Bác Hồ.

Những câu chuyện ông kể, có chuyện do ông trực tiếp chứng kiến và có những chuyện các đồng nghiệp của ông, Nhà quay phim Nguyễn Thế Đoàn, Hoàng Thái, Phan Nghiêm, Phạm Văn Khoa, Mai Lộc, Phan Trọng Quỳ, An Sơn, Tô Cương, Ngọc Quỳnh, Khánh Dư, Nguyễn Đăng Bẩy… kể lại trong chặng đường tái dựng chân dung Bác Hồ của ông.

Đó là những câu chuyện không thể nào quên đối với những người có may mắn gánh trên mình trọng trách “đưa hình ảnh Bác đến với đồng bào khắp trong Nam, ngoài Bắc, trong đó có những người giúp nhân dân Miền Nam biết gương mặt đó để tin và đi theo chủ nghĩa đó” như lời kể của Nghệ sĩ Việt Tùng.

Bác cũng là người sáng lập nên nền báo chí cách mạng Việt Nam.Ở độ tuổi 20, còn rất trẻ, Phạm Việt Tùng đã “có may mắn được đi theo Bác Hồ” từ những năm 1960. Ông tâm sự: “Được tiếp xúc và gần gũi Bác, chúng tôi bị ảnh hưởng của Bác trong công việc báo hình. Thế hệ những người “cũ kỹ, có may mắn gần Bác như chúng tôi luôn suy nghĩ làm sao cho đúng, soi lại tư tưởng của Bác trước mỗi hành động“.

Những năm đầu trong nghề làm báo hình của ông gắn với nhiều kỷ niệm về Bác. Sau này, ông đã làm rất nhiều những bộ phim tư liệu về Bác Hồ. Những kỷ niệm khi quay phim về Bác tái hiện sống động trong ký ức NSƯT Việt Tùng.

Bác luôn xuất hiện ở nơi không ngờ nhất

Được báo tin Bác chuẩn bị đến thăm một địa điểm nào đó, đơn vị được Bác tới thăm bao giờ cũng muốn chuẩn bị thật chu đáo để đón Bác. Cánh quay phim thường đến sớm, chuẩn bị máy tại nơi dự kiến sẽ đón Bác.

“Nhưng Bác luôn xuất hiện ở những nơi không ngờ nhất. Nhiều khi mình chuẩn bị đón tiếp tại một hướng nhưng ông Cụ lại đến từ một hướng khác”. “Không ai đoán được ông Cụ muốn kiểm tra mình cái gì”.

Năm đó, Bác Hồ trở lại thăm Pắc Bó, nơi Bác vẫn xem là quê hương thứ hai của mình. Nhân dân Pắc Bó đã làm một con đường lớn để đón Bác vào thăm mộ Kim Đồng. Nhưng khi đến thăm, Bác không đi con đường mới được xây dựng ấy. Bác lần theo đường mòn cũ, đi lại những lối đi đã từng rất quen thuộc với Bác trong thời kỳ kháng chiến, như muốn ôn lại cả chặng đường đã qua.

Mỗi khi đón Bác, các cơ quan, đơn vị đều chuẩn bị kỹ phòng họp để Bác vào thăm. Nhưng bao giờ cũng vậy, Bác thường qua thăm chỗ nhà ăn, nhà vệ sinh trước rồi mới tới gặp nhân dân. Bác quan tâm sâu sắc, cụ thể đến đời sống của họ, từng cái ăn, cái ở. “Mỗi chuyến thăm của Bác không phải Bác đến chỉ để phát biểu vài ba câu…”. Có lần, đến thăm nhà máy cơ khí số 1, trong khi mọi người đang loay hoay chuẩn bị phòng đón Bác, Bác đi vòng qua sân, nhìn thấy một cái bục nhỏ. Bác đứng lên bục và nói chuyện với công nhân ngay tại đó.

“Các chú chuẩn bị máy, Bác bảo cho mà làm”

Là vị Chủ tịch nướcnhưng Bác quan tâm đến những việc rất nhỏ của cánh quay phim, quan tâm sát sao và rất cụ thể. Ông Việt Tùng tâm sự: “Cụ luôn biết mình đang thuận lợi, khó khăn gì để giúp đỡ mình, thân tình và nhân ái”.

Ông vẫn nhớ câu chuyện của người đồng nghiệp trong chuyến quay phim dịp Đại hội Đảng lần thứ II. Bác đã chủ động hỏi các nhà quay phim: “Các chú có mang nhiều phim không?” Chú quay phim thành thật thưa với Bác: “Thưa Bác, chúng cháu chỉ có 1 cuộn phim thôi ạ“. Bác liền bảo: “Thế các chú chuẩn bị máy, Bác bảo cho mà làm… Chú quay một cái toàn cảnh rồi lia sang lá cờ. Sau đó mới tới các hoạt động của Hội nghị“. Ông Cụ am hiểu về nghề làm phim như vậy đấy, nhà quay phim Việt Tùng nói.

Bấy giờ, điện ảnh Việt Nam còn kém. Chúng ta quay phim gửi sang Trung Quốc, để Trung Quốc “làm giúp”. Đó là bộ phim “Việt Nam kháng chiến”. Ta muốn quay cảnh Bác họp hội đồng Chính phủ nhưng vì hồi ấy, chưa được trang bị các thiết bị hiện đại như bây giờ, ánh sáng trong ngôi nhà mái lá không đảm bảo cho cảnh quay. Trong lúc cánh quay phim đang “bí”, loay hoay chưa biết làm thế nào cho đủ sáng, Bác chỉ lên mái nhà, bảo với quay phim Khánh Dư lúc đó đang là phụ quay: “Chú trèo lên dỡ mấy tàu lá cọ xuống cho ánh sáng lọt vào là quay được“.

Nhà quay phim Tô Cương: “Ông cụ đã cứu mình”

Ông bồi hổi kể, Bác Hồ có thói quen đi rất nhanh. Bác bước từng sải dài, chỉ nhắm nhanh đến đích, để thực hiện công việc của mình. Anh em quay phim nhiều khi không bắt kịp hình ảnh của Bác, nhưng ngại, không biết làm như thế nào. Một hôm, trong lúc nói chuyện, Bác quay sang hỏi nhà quay phim An Sơn: “Hôm nay các chú có làm được việc không?”. Lúc này, ông mới mạnh dạn bộc bạch với Bác: “Thưa Bác, Bác đi nhanh quá ạ. Phim nhựa mang theo người nặng lắm, mà Bác đi nhanh như thế, cháu không quay được ạ”. Từ đó, khi máy quay hướng vào Bác, Bác chủ động đi chậm lại, tạo thuận lợi để thu được những thước phim về Bác.

Bác Hồ luôn quan tâm đến những việc rất bé như vậy. Câu chuyện của nhà quay phim Tô Cương được Nghệ sĩ Việt Tùng kể lại trong niềm xúc động. Đầu năm 1960, gia đình Luật sư Lô-giơ-bai, ân nhân của Bác trong vụ án Hồng Kông sang thăm Việt Nam. Bác Hồ đưa các vị khách quý đến thăm Nhà máy Công cụ số 1.

Trong lúc đang quay phim, đột nhiên máy quay bị hỏng. Bác nghe xoạch một tiếng, biết là máy quay không chạy được. Bác chủ động dừng lại, quay ra nói chuyện với các vị khách, tạo thời gian cho anh em sửa máy. “Cụ lo cho mình như thế đấy. Nếu Cụ đi thẳng, mình không chữa được máy, không quay được hình ảnh Cụ, không hoàn thành được nhiệm vụ, chắc chắn sẽ bị kỷ luật…”. Ông Việt Tùng lúc bấy giờ làm ánh sáng phụ cho ông Tô Cương quay phim về Bác kể lại. Sau lần đó, nhà quay phim Tô Cương cứ xuýt xoa: “May quá, Ông Cụ đã cứu mình”.

Đằng sau khuôn hình, tại hậu trường những cảnh quay chân thực về Bác, còn biết bao những câu chuyện giản dị và cảm động. Những câu chuyện đó đã theo họ trên suốt chặng đường làm báo, với tâm nguyện “làm gì cho xứng đáng”, bởi như Bác nhiều lần nhắc nhở: làm báo chính là làm cách mạng… là để phục vụ quảng đại quần chúng, không chỉ phục vụ một số ít cá nhân…

Theo Vietnamnet
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

“Cán bộ “gầy” nhân dân “béo” mới là vinh hạnh…”

Bác Hồ tặng quà cho ông Trần Văn Nỏ - Ảnh: Tư liệu

Năm mươi năm trước, ngày 23-9-1958, Bác Hồ lên thăm tỉnh Lào Cai. Khi đó, tôi là cán bộ bảo vệ chính trị của Ty Công an được cấp trên giao nhiệm vụ cùng đồng chí Phạm Quế phối hợp với các đồng chí tiếp cận của Bộ, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho chuyến đi.

Đúng 10g30, đoàn tàu hỏa đặc biệt mang số hiệu 424 do tài xế Nguyễn Văn Thêm lái đưa Bác tới ga Làng Giàng. Từ đây Bác Hồ lên ôtô sang sông để thăm công nhân mỏ apatit Cam Đường (thường gọi là apatit Lào Cai). Thấy giữa sông một chiếc canô đang chạy rẽ sóng với tốc độ rất cao, Bác quay lại đồng chí Hoàng Trường Minh, Bí thư Tỉnh ủy, hỏi: “Các chú biểu dương lực lượng đón Bác đấy à?”. Đồng chí Hoàng Trường Minh thật thà thưa: “Thưa Bác, đó là chiếc canô kiểm tra trên sông trước lúc đoàn qua đấy ạ!”.

Lúc đó, đồng chí cảnh vệ bảo vệ Bác đứng cạnh tôi, nói nhỏ: Năm trước, Bác lên thăm tỉnh Cao Bằng, Tỉnh ủy cho kết hoa thật đẹp lên chiếc xe mui trần để Bác đi. Khi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy mời Bác lên xe kết hoa, Bác nhất định không đi và nói với đồng chí Bí thư: “Chú nào ra lệnh kết hoa lên xe thì chú đó đi”. Lời phê bình nhẹ nhàng mà nghiêm khắc về bệnh phô trương hình thức đã để lại cho Cao Bằng một bài học thấm thía.

Địa chỉ và người được Bác đến thăm và tặng quà đầu tiên trong chuyến lên thăm Lào Cai là ông Trần Văn Nỏ. Ông Nỏ là một nông dân người Tày ở xã Cam Đường. Năm 1924, khi còn là một cậu bé, trên đường lên nương, mệt và khát nước, cậu chặt một ống nứa đun nước uống. Bỗng dưng ba hòn đá kê bếp bốc cháy phừng phừng, tỏa ra ngọn lửa xanh lè. Đá cháy và lửa xanh là điều chưa từng thấy làm Nỏ hoảng sợ, nghi là hòn đá ma, sợ ma báo thù vì gia đình Nỏ có làm nghề thầy cúng. Nỏ liền báo với Lý trưởng, Lý trưởng báo quan Tây… Từ đó, thực dân Pháp đã thăm dò và khai thác apatit ở Lào Cai. Cách mạng rồi kháng chiến chín năm, mỏ không hoạt động. Đến ngày 29-9-1955 ta bắt đầu khôi phục và mở rộng diện khai thác. Ông Nỏ được coi là người đầu tiên phát hiện mỏ apatit và được ghi vào lịch sử của mỏ.

Sáng hôm sau, Bác nói chuyện với cán bộ các cơ quan dân chính Đảng, đại diện các dân tộc tại sân Tỉnh ủy.

Buổi chiều, Bác xuống thăm công trường xây dựng Nhà máy Thủy điện Lào Cai.

Buổi chiều đó nắng nóng, khi Bác nói chuyện với công nhân, đồng chí Bí thư Đảng ủy công trường che ô cho Bác. Người gạt đi và nói mọi người cũng như Bác, mượn cho Bác cái mũ là được.

Sau buổi míttinh ở sân nhà Tỉnh ủy, Bác gọi đồng chí Hoàng Trường Minh (Bí thư kiêm Chủ tịch tỉnh Lào Cai lúc đó) và một số cán bộ chủ chốt của tỉnh về đời sống và phong tục của đồng bào các dân tộc. Trong khi đồng chí Hoàng Trường Minh loay hoay tìm chỗ ngồi cho Bác thì Bác đã tháo dép ngồi ngay xuống thềm nhà mát mẻ, sạch sẽ. Thế là tất cả đều ngồi xuống thềm quây quần quanh Bác.

Riêng một đồng chí mặc complê đi giày tây bóng loáng cứ loay hoay mãi. Bác hỏi: “Chú ngồi xuống. Chú béo đấy. Chú làm công tác gì?”. Đồng chí Hoàng Trường Minh thưa: “Thưa Bác, đây là chú Tiến, Trưởng Ty Thương nghiệp”. Bác nói ngay: “Làm thương nghiệp lúc này là phải xắn quần lên, mang muối, vải và dầu hỏa lên vùng cao cho đồng bào miền núi và thu mua lương thực, thực phẩm cung cấp cho bộ đội và nhân dân… Cán bộ mà “gầy”, nhân dân mà “béo” đó là điều vinh hạnh cho Đảng ta…”.

Hai ngày 23 và 24-9-1958 là hai ngày hạnh phúc nhất của đời tôi khi được ở bên Bác, bảo vệ Bác và nghe những lời dặn dò thân thiết mà sâu sắc của Người. Đó là những lời nói giản dị, bình thường mà có ý nghĩa khai sáng, nghiêm giới suốt cả cuộc đời, khiến tôi không bao giờ sai lầm và làm được một số điều có ích cho sự nghiệp chung, có ý nghĩa trong cuộc đời tôi và gia đình tôi.

(Theo lời kể của đồng chí Phạm Ngọc Minh, cán bộ công an hưu trí, phường Pom Hán, TP Lào Cai)

Theo Tuoitre.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Danh sách bài hát về Hồ Chí Minh

Danh sách bài hát về Hồ Chí Minh là tuyển tập các ca khúc lấy nguồn cảm hứng từ hình tượng Hồ Chí Minh, các sáng tác này tập trung ca ngợi về Hồ Chí Minh như là một vị cha già dân tộc và là người có tấm lòng bao la đối với người Việt Nam, những tác phẩm này thường được lưu hành rộng rãi trong xã hội Việt Nam. Nét chung là các nhạc sĩ sáng tác đa số là người Việt Nam nhưng cũng có những sáng tác của các nhạc sĩ nước ngoài.

Hình tượng Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ, nhà thơ sáng tác nhiều tác phẩm. Nhạc sĩ Thuận Yến đã nói : “Trong mỗi chúng ta luôn sẵn có sự tôn kính, tình yêu thương, ngưỡng mộ và lòng biết ơn vô bờ bến đối với Bác nên chỉ cần một bài hát nào đó nói lên được những tình cảm ấy là họ chấp nhận … Đó là đề tài vô tận không bao giờ vơi cạn trong mỗi người sáng tác” [1]. Riêng Thuận Yến đã có tới 26 bài hát viết về Hồ Chí Minh[2].

Nhiều cuộc “Thi sáng tác ca khúc về Hồ Chí Minh” đã được tổ chức, như Đài truyền hình TP HCM cũng vài lần tổ chức cuộc thi “Vận động sáng tác ca khúc về Hồ Chí Minh” để “nêu cao được tinh thần cách mạng và tấm gương đạo đức của Bác, qua đó nhằm nâng cao vai trò quan trọng của đạo đức trong mỗi công dân” [3], Sở Văn hoá – Thông tin Quảng Ninh tổ chức cuộc thi “Hát những ca khúc về Hồ Chủ tịch” [4]… Năm 2005, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Nhà xuất bản Thanh Niên đã phát hành tuyển tập 115 ca khúc với nhan đề “Hồ Chí Minh – Người sống mãi với non sông” [5]…


Danh sách

Xếp theo thứ tự ABC:

  • “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng” (Phong Nhã)
  • “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” (Huy Thục)
  • “Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên” (Lê Lôi)
  • “Bác Hồ, một tình yêu bao la” của (Thuận Yến):…Bác thương các cụ già xuân về gửi biếu lụa, Bác yêu đàn cháu nhỏ Trung Thu gửi cho quà. Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương…”
  • “Bác Hồ – Người cho em tất cả” (Hoàng Long, Hoàng Lân, thơ Thu Phong)
  • “Bác Hồ trên đỉnh Trường Lệ” (Lê Đăng Khoa) [6]
  • “Bài ca dâng Bác” (Trọng Loan)
  • “The Ballad of Ho Chi Minh” (Bài ca Hồ Chí Minh) của nhạc sĩ người Anh Ewan MacColl: …From VietBac to the SaiGon Delta. Marched the armies of Viet Minh. And the wind stirs the banners of the Indo-Chinese people. Peace and freedom and Ho Chi Minh…
  • “Bài ca về đồng chí Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ người Nga Vladimir Fere)
  • “Bé yêu Bác Hồ” (Đỗ Nhuận)
  • “Bên lăng Bác Hồ” (Dân Huyền)
  • “Bên ta như có Bác” (Lê Đăng Khoa) [6]: Ði khắp năm châu hiếm có ai như Bác. Cuộc đời giản dị, tình người bao la. Như có Bác bên ta đang cùng nhau lội đồng, thăm những công trình nhà máy vút cao. Như có Bác bên ta trên giảng đường học tập. Chắp cánh cho ta bay xa, bay xa.
  • “Bên tượng đài Bác Hồ” (Lê Giang)
  • “Biết ơn cụ Hồ” (Lưu Bách Thụ)
  • “Buổi sáng nhớ Bác”
  • “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Văn Cao): Người về đem tới ngày vui. Mùa thu nắng toả Ba Đình. Với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời. Người về đem tới xuân đời từ đất nước cằn, Từ bùn lầy cả cuộc đời vùng lên.
  • “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Lưu Hữu Phước): Hồ Chí Minh sáng ngời gương đấu tranh. Vững bền đưa chúng ta vượt khó khăn. Hồ Chí Minh muôn năm chỉ lối cho nhân dân. Đến ngày chiến thắng vẻ vang.
  • “Cảm ơn đường Hồ Chí Minh” của Norodom Sihanouk (Campuchia)[7]
  • “Chúng con bên giấc ngủ của Người” (Nguyễn Đăng Nước)
  • “Dâng Người tiếng hát mùa xuân” (Nguyễn Văn Thương)
  • “Dấu chân phía trước” (Phạm Minh Tuấn)
  • “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác” (An Thuyên)
  • “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” (Trần Chung)
  • “Đôi dép Bác Hồ” (Văn An, phổ thơ Tạ Hữu Yên):… Đôi dép đơn sơ đôi dép Bác Hồ Bác đi từ ở chiến khu Bác về, Bác đi từ ở chiến khu Bác về. Phố phường trận địa nhà máy đồng quê đều in dấu dép Bác về…
  • “Em mơ gặp Bác Hồ” (Xuân Giao): “Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ, râu Bác dài tóc Bác bạc phơ”
  • “Em về quê Bác Hồ” (Hồ Tĩnh Tâm)
  • “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh” (Trần Hoàn)
  • “Gửi tới Bác Hồ” (Kapapúi, lời Việt của Tường Vi)
  • “Hát mừng Bác Hồ vĩ đại” của nhạc sĩ Suphat Mukhophathiai (Ấn Độ): “Ôi Hồ Chí Minh, Người vĩ đại biết bao!”[8]
  • “Ho Chi Minh” của nhạc sĩ người Đức Kurt Demmler[9]
  • “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” (Trần Kiết Tường): …Trên cánh đồng miền Nam, đau thương mây phủ chân trời. Khi ca lên Hồ Chí Minh, nghe lòng phơi phới niềm tin…
  • “Hồ Chí Minh là cả một bài thơ” (Nhạc sĩ người Cuba Felis Pita Rogerigate)
  • “Hoa sen Tháp Mười” (Trương Quang Lục)
  • “Inolvidable Ho Chi Minh” (nhạc sĩ Venezuela Alí Primera)
  • “Jose Marti Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ Cuba Armando Cardoso)
  • “Làng Chăm ơn Bác” (Nhạc sĩ người Champa AmưNhân)
  • “Lãnh tụ ca” (Lưu Hữu Phước) [10]
  • “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” (Trần Hoàn): Chuyện kể rằng trước lúc Người ra đi, Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế. Nhưng không gian. vẫn bốn bề lặng lẽ, Bác đành nằm im…
  • “Mỗi dòng thư Bác sáng ngời niềm tin” (Thuận Yến)
  • “Miền Nam nhớ mãi ơn Người” (Lưu Cầu)
  • “Miền Trung nhớ Bác” (Thuận Yến)
  • “Ngọn cờ Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ Cuba Carlos Puebla, lời Việt của Hồ Bắc)
  • “Nhớ hình ảnh Bác Hồ với nông dân” (Lê Đăng Khoa) [6]
  • “Nhớ ơn Bác” (Phan Huỳnh Điểu)
  • “Nơi Bác ở” (Lê Đăng Khoa) [6]: Ngôi nhà sàn bé nhỏ, nơi Bác ở đạm bạc. Cỏ non vờn chân Bác. Gió hát chiều xốn xang. Người ra đi, căn phòng vẫn lộng gió. Ấm áp tình người như Bác vẫn đâu đây
  • “Ngợi ca chủ tịch Hồ Chí Minh” (Nhạc sĩ người Đức Jeans Chourfores)
  • “Người là niềm tin tất thắng” (Chu Minh): Đất nước nghiêng mình đời đời nhớ ơn. Tên người sống mãi với non sông Việt Nam. Lời thề sắt son theo tiếng bác gọi, bốn ngàn năm dồn lại hôm nay, người sống trong muôn triệu trái tim… Thế giới nghiêng mình, loài người tiếc thương. Đây người chiến sĩ đấu tranh cho tự do. Người là ước mơ của các dân tộc. Tiếng người vang vọng đến mai sau. Nguyện ước theo con đường Bác đi…
  • “Người mang tấm áo Bác Hồ”
  • “Người sống mãi trong lòng miền Nam” (Nguyễn Đồng Nai)
  • “Người về thăm quê” (Thuận Yến)
  • “Nhật ký trong tù” (Nhạc sĩ người Anh George Feris phổ nhạc 7 bài thơ ông ưng ý nhất trong tập thơ này)
  • “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” (Phạm Tuyên)
  • “Những bông hoa trong vườn Bác” (Văn Dung)
  • “Quyền sống trong hòa bình” (The Right of Living in Peace) nhạc của Víctor Jara (Chile): “Nhà thơ Hồ Chí Minh – Đưa quyền sống hòa bình – Từ Việt Nam ra toàn nhân loại…”[11]
  • “Suối Lê Nin” (Phạm Tuyên)
  • “Tây Nguyên mừng đón thơ Bác” (Doãn Nho)
  • “Tây Nguyên nhớ Bác Hồ” (Kapapúi – lời Tường Vi)
  • “Teacher Uncle Ho” (Thầy giáo Bác Hồ) của nhạc sĩ người Mỹ Pete Seeger: …I’ll have to say in my own way. The only way I know, that we learned power to the people and the power to know. From Teacher Uncle Ho!
  • “Tấm áo Bác Hồ” (Thuận Yến)
  • “Tấm ảnh Bác Hồ” (Lưu Hữu Phước)
  • “Thăm bến Nhà Rồng” (Trần Hoàn)
  • “Thanh niên làm theo lời Bác” (Hoàng Hà)
  • “Tiếng hát giữa rừng Pắk Pó” (Nguyễn Tài Tuệ)
  • “Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác” (Cao Việt Bách)
  • “Tình Bác sáng đời ta” (Lưu Hữu Phước)
  • “Trông cây lại nhớ Người” (Đỗ Nhuận)
  • “Tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ” (Triều Dâng)
  • “Từ làng Sen” (Phạm Tuyên)
  • “Vâng lời Bác Hồ” (Lưu Bách Thụ)
  • “Vầng trăng Ba Đình” (Thuận Yến)
  • “Viếng Lăng Bác” (Hoàng Hiệp, phổ thơ Viễn Phương)
  • “Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ” (Nhạc sĩ Nga Vladimir Fere, lời Việt của Đỗ Nhuận)

Chú thích:

  1. ^ Nhạc sĩ Thuận Yến: “Bác Hồ luôn là nguồn cảm hứng sáng tác của tôi”
  2. ^ Gặp nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất về Bác Hồ
  3. ^ Vận động sáng tác ca khúc về Hồ Chí Minh
  4. ^ Xây dựng đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nét đẹp văn hoá trong công nhân mỏ
  5. ^ Tuyển tập 115 ca khúc về Bác Hồ
  6. ^ a b c d Một nhạc sĩ say mê sáng tác những ca khúc về Bác Hồ
  7. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034
  8. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034
  9. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034
  10. ^ Chuyện cảm động xung quanh một số ca khúc về Bác Hồ
  11. ^ http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=114034

vi.wikipedia.org

Hồ Chí Minh, tôi nhớ mãi không quên

Bà con kiều bào Việt Nam tại Thái-lan về nước đến chúc Tết Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch (29-1-1960). Ảnh: TL

Xéc-gây A-phô-nin là phóng viên của Hãng Thông tấn TASS và Báo “Sự thật thanh niên cộng sản” ở Việt Nam những năm 1967 – 1970. Từ 1975 – 1988 ông là cán bộ của Vụ Các nước XHCN thuộc Ủy ban Trung ương Ðảng Cộng sản Liên Xô. Ông được nhiều lần gặp Bác Hồ. Trong cuốn sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh” (xuất bản ở Mát-xcơ-va 2010) ông có bài viết “Những cuộc gặp mặt thân tình”. Cuối bài viết ông kết: “Kỷ niệm không thể nào quên về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi đã viết một “câu chuyện bằng thơ” về những mốc chính của cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người”. Chúng tôi xin chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Nga bài thơ đó của ông:

Mấy lần được gặp Hồ Chí Minh
Nhà cách mạng nhiệt huyết, chí tình
Nhớ mãi đôi mắt nhìn sâu thẳm
Ðời giản dị, trí tuệ anh minh.
Làng Sen yêu dấu – quê Người đó
Biểu tượng hào hiệp và thanh tao
Tiếp thêm nhựa sống từ đất mẹ
Tâm hồn trong sáng, chí anh hào.
Người sớm ra đi tìm chân lý
Ðã nhìn thấy ánh sáng Tháng Mười
Nguyện thành chiến sỹ luôn tranh đấu
Vì tự do, hạnh phúc con người.
Trong giấc mơ hiện lũy tre làng
Cả cha mẹ, bà con họ hàng.
Rời bến cảng xuất dương cứu nước
Nén nỗi buồn xa cách, nhớ mong.
Người thành lập chính đảng tiên phong
Kim chỉ nam mở lối dẫn đường
Cho cuộc chiến kiên cường, bất khuất
Ðưa dân tộc tới ngày vinh quang.
Năm bốn mốt Người về Việt Bắc
Sau bao năm đi khắp năm châu
Người thành vị Cha già dân tộc
Lái con thuyền trong cuộc bể dâu.
Trong tù viết “Ngục trung nhật ký”
Những vần thơ như ánh mặt trời
Thấm vào lòng người dân nô lệ
Thổi gió lành hướng tới tương lai.
Năm bốn lăm mở trang sử mới
Dân vùng lên đạp đổ xiềng gông
Thu Tháng Tám cờ bay phất phới
Ðộc lập, tự do – quyết chí chung lòng.
Ba Ðình đó – dấu ghi lịch sử
Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn.
Toàn dân Việt muôn người như một
Quyết hy sinh cho Tổ quốc trường tồn.
Quân thù lại mưu toan xâm lược
Toàn dân tộc cầm súng xông lên
Trái tim Người thôi thúc tiến bước
Soi đường tới thắng lợi vững bền.
Chiến dịch Hồ Chí Minh thành công rực rỡ
Ðại thắng mùa xuân lịch sử quang vinh
Nam Bắc một nhà thỏa lòng mong ước
Ðộc lập – Tự do – Hạnh phúc – Hòa bình.
Người cảm ơn bạn bè quốc tế
Ðoàn kết đồng lòng giúp đỡ Việt Nam.
Toàn dân Việt tình sâu nghĩa nặng
Nguyện suốt đời ghi mãi tâm can.
Trong lòng dân Bác Hồ sống mãi
Như nước Việt mãi mãi xanh tươi
Luôn “Ðổi Mới” xây nền hạnh phúc
Xây tương lai đất nước, con người.
Lăng Người đây rực sáng hoa tươi
Từ mọi miền năm châu bốn bể
Hình ảnh Người giữ mãi trong tim
Di huấn của Người sống mãi niềm tin.
Nơi Làng Sen tưng bừng lễ hội
Lại vang lên hành khúc tráng ca
Ngợi ca đấng vĩ nhân thời đại
Hồ Chí Minh yêu kính thiết tha.

XÉC-GÂY A-PHÔ-NIN
(XUÂN HỮU Dịch từ nguyên bản tiếng Nga)
Theo nhandan.org.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với công tác tuyên giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Cộng sản Việt Nam đầu tiên đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, đồng thời cũng là người trực tiếp tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục và huấn luyện cán bộ cho Đảng ta. Người khẳng định: “Công việc thành hay bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí”, do đó “Toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm tròn nhiệm vụ của Đảng”.

Thật vây, sớm thấy được tầm quan trọng của công tác tư tưởng, sinh thời trong muôn vàn công việc Bác vẫn luôn quan tâm theo dõi hoạt động của Ban tuyên giáo, kịp thời động viên, cổ vũ và hướng dẫn nghiệp vụ cho anh em làm nhiệm vụ trên mặt trận tư tưởng văn hoá.
Trong hành trình suốt 30 năm tìm đường cứu nước, chính Bác Hồ là người tiên phong trong công tác tuyên giáo. Năm 1919, Bác gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Năm 1920, Bác đã đọc tác phẩm của Lênin: “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” đăng trên báo L Humanité số ra ngày 17/7/1920. Tác phẩm này đã giải đáp cho Bác con đường giành độc lập, tự do cho đồng bào.

Thời gian này, Bác đã tìm cách thông qua hoạt động báo chí để tố cáo tội ác của thực dân Pháp gây ra cho nhân dân Đông Dương, tranh thủ sự ủng hộ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thức tỉnh tinh thần yêu nước của bà con Việt Kiều và cũng qua họ tìm cách đưa một số tài liệu báo chí về nước bằng nhiều con đường khác nhau để giác ngộ tinh thần độc lập dân tộc của nhân dân ta. Bác đã lựa chọn một số thanh niên tiêu biểu sang đào tạo tại Liên Xô, mở nhiều lớp bồi dưỡng chính trị ngắn ngày cho một số thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), chuẩn bị đội ngũ cán bộ trở về nước để tổ chức hoạt động, đón thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Từ đây một số Ban của Đảng cũng ra đời. Uỷ ban kiểm tra, Ban Tổ chức, Tuyên giáo, Văn phòng để tham mưu cho Trung ương và cấp uỷ trên các mặt công tác của Đảng. Qua từng giai đoạn cách mạng, các ban tham mưu của Đảng cũng có những thay đổi thêm, bớt, tách, chia để phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, song Ban Tuyên giáo vẫn là một trong những Ban đi suốt cả quá trình 80 năm thành lập Đảng và đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh giành độc lập, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đã và đang góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Sau khi cách mạng thành công, Bác đã căn dặn đội viên tuyên truyền xung phong: “Phải biết rõ mục đích tuyên truyền của mình và trước khi định công tác ở đâu phải đặt rõ kế hoạch. Phải biết chịu kham khổ.

Phải biết nhẫn nại. Nói với người nghe một lần người ta không hiểu thì nói đến hai lần, ba lần. Về đức tính này, phải học theo những người đi truyền giáo. Chớ có lên mặt “Quan cách mạng”.

Chớ có tưởng đi tuyên truyền đây là đi dạy người ta chứ không cần học lại người ta, lãnh đạo người ta chứ không chịu người ta phê bình. Chú ý đến cách phổ biến ý tưởng. Hết sức phổ thông.

Cố vào sâu trong quần chúng. Lấy những thí dụ tầm thường trông thấy trước mắt mà nói. Tránh những danh từ khó hiểu. Làm cho được 50 người hiểu rõ còn hơn là được 500 người chỉ hiểu lờ mờ”.

Một lần khác nói chuyện với anh em cán bộ tuyên truyền Bác lại căn dặn: “Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe.

Ta chớ bắt chước những nước tuyên truyền tin chiến tranh quá sai lạc sự thực”. Trong công tác tuyên truyền liên quan đến chính sách đối ngoại, Bác nhắc: “Các báo và các ban tuyên truyền nên hướng dẫn lòng yêu nước và chí cương quyết cố giành độc lập hoàn toàn của đồng bào một cách ôn hoà, bình tĩnh có lợi cho ngoại giao…”.

Không chỉ vậy, Bác còn nhấn mạnh: Công tác tuyên giáo phải xuất phát từ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng mà xác định nhiệm vụ, nội dung, phương pháp hoạt động; phải phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng ta, dân tộc ta.

Tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi, ngày 31-8-1963, Bác đã nói: “Nhiệm vụ công tác tuyên huấn có thể chia ra hai mặt: Một mặt là làm sao mưu lợi cho đồng bào; một mặt nữa là làm sao tránh được tệ hại cho đồng bào”. Để mưu lợi cho nhân dân và tránh tệ hại cho nhân dân, Bác chỉ rõ: Tính Đảng là nguyên tắc và nền tảng của công tác tuyên giáo, nó bảo đảm cho các hoạt động tuyên giáo của Đảng giữ vững lập trường giai cấp công nhân, phục vụ nhân dân; tính khoa học của công tác tuyên giáo phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, từ quy luật phát triển của xã hội, lấy đó làm cơ sở giải thích cho nhân dân hiểu một cách có căn cứ khoa học những vấn đề thực tiễn cách mạng đặt ra, để từ đó, họ hành động tự giác, có hiệu quả. Bác còn chỉ rõ: Quá trình tiến hành công tác tuyên giáo phải đảm bảo tính chân thực, để nhân dân nhận thức đúng và hành động đúng đường lối của Đảng.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ nêu một tấm gương sáng, một mẫu mực tuyệt vời về công tác tuyên giáo phục vụ đắc lực nhiệm vụ chính trị của Đảng, phục vụ nhân dân, nêu cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng, nêu cao ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước vận mệnh đất nước, ở mỗi thời kỳ cách mạng, mỗi chặng đường lịch sử dân tộc. Để hoạt động tuyên giáo có hiệu quả, Bác đòi hỏi cán bộ tuyên giáo phải nói và viết sao cho “phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc”, làm cho người nghe, người đọc “hiểu được, nhớ được và làm được”. Bác còn đòi hỏi cán bộ tuyên giáo phải có phong cách đi sâu, đi sát cơ sở, đến những mũi nhọn của mặt trận sản xuất và chiến đấu, nơi có phong trào khá và cả những nơi có phong trào kém, phát hiện và giải đáp được những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Bác nhấn mạnh: Chỉ có đi sâu vào thực tiễn đời sống xã hội thì mới tìm hiểu, đánh giá đúng thực chất tình hình công tác tuyên giáo của địa phương, đơn vị, mới phát hiện được những vấn đề mới, nhân tố mới, những điển hình tốt, người tốt việc tốt để cổ vũ, biểu dương, nhân rộng, đồng thời vạch ra những hiện tượng, những biểu hiện sai trái để phê phán, uốn nắn nhằm đẩy mạnh việc phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Ngay cả những ngày đau nặng và sắp đi xa, Bác vẫn dành thời gian làm việc với các đồng chí lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương nghe báo cáo tình hình chiến trường miền Nam, tình hình lũ lụt ở sông Hồng và không quên nhắc phải quan tâm việc phát hành loại sách: “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến trên các mặt sản xuất, chiến đấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tư tưởng của Bác, tấm gương đạo đức cách mạng của Bác và những lời dạy của Bác đã và đang tiếp sức cho những người làm công tác tuyên giáo phấn đấu để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới của đất nước trong quá trình hội nhập và phát triển.

Làm theo lời dạy của Bác Hồ, 80 năm qua, trên suốt chặng đường dài cách mạng, trong kháng chiến và kiến quốc, Đảng ta luôn khảng định công tác tuyên giáo có vai trò đặc biệt, là một lĩnh vực trọng yếu trong công tác lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân và tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở mọi thời kỳ, mọi chặng đường đất nước. Những năm qua, trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công tác tuyên giáo đã có nhiều tiến bộ, từng bước vươn lên hoàn thành nhiệm vụ, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, khơi dậy phong trào cách mạng của nhân dân, tạo ra những nhân tố cơ bản để cả nước phấn đấu đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng về kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng. Những năm qua, công tác tuyên giáo đã thực sự giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân có nhận thức sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác – Lênin, về tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó, kiên định và nỗ lực phấn đấu thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đưa nước ta sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển.

Những năm sắp tới, sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế sẽ có bước phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ. Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của công tác tuyên giáo là tăng tường sự nhất trí tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, của đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững và mở rộng trận địa tư tưởng của Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Công tác tuyên truyền giáo dục càng phải được đẩy mạnh để làm cho toàn Đảng, toàn dân nắm vững, nhất trí với các mục tiêu, quan điểm, định hướng, nhiệm vụ lớn về xây dựng và phát triển đất nước; kiên trì đấu tranh bảo vệ tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, khả năng sáng tạo, tạo ra phong trào hành động cách mạng của toàn dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới./.

Theo soctrang.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Giá trị minh triết Hồ Chí Minh

Minh triết Hồ Chí Minh - Minh triết Việt. Ảnh: Tuấn Anh

Nghiên cứu về Hồ Chí Minh, các tác giả thường đề cập đến tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tất nhiên, cũng có những nghiên cứu về Hồ Chí Minh với địa vị, tư cách khác nhau như lãnh tụ cách mạng, nhà tư tưởng, nhà báo… Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh hoặc minh triết Hồ Chí Minh. Trong bài viết này tác giả cố gắng làm rõ 3 câu hỏi: Tại sao Hồ Chí Minh là một nhà minh triết, có nhiều tư tưởng minh triết? Đặc điểm minh triết Hồ Chí Minh. Ý nghĩa minh triết Hồ Chí Minh hiện nay.

Ta thấy Hồ Chí Minh rất chú ý tiếp thu văn hóa tinh hoa dân tộc và nhân loại, từ dân gian đến bác học chứ không chỉ là tiếp thu triết luận.

Người đã từ văn hóa Việt Nam, văn hóa phương Đông đến văn hóa phương Tây tiếp thu những nền tảng văn hóa ấy trong thể thống nhất, tiếp biến, kế thừa, phát triển những giá trị văn hóa phương Đông với tư cách là một nhà văn hóa kiệt xuất, nhà cách mạng, lãnh tụ cách mạng, một nhà tổ chức hành động thực tiễn trong thời đại mới. Trong quá trình tiếp thu ấy, Người rất chú ý văn hóa dân gian, minh triết dân gian, văn hóa đời sống, văn hóa đạo đức, văn hóa chính trị. Những tư tưởng Hồ Chí Minh dù có cơ sở lý luận hay tính lý luận thì tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu xuất hiện như hệ thống đánh giá phương châm ứng xử, chỉ đạo hoạt động cách mạng của chính mình, chính dân tộc mình, thời đại mình. Hồ Chí Minh trước hết quan tâm làm thế nào để nhận thức đúng. Do vậy, ta thấy khả năng nhận thức, thâu hóa, tiêu hóa tri thức, văn hóa của Hồ Chí Minh là rất tài tình. Nhưng quan trọng hơn là từ đó đề ra đường lối, phương hướng, phương châm để hành động và làm sao để hành động có hiệu quả nhất.

Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng hành động là chính chứ không phải đơn thuần là nhà tư tưởng hoặc lý luận.

Hồ Chí Minh bôn ba khắp nơi trên thế giới để học hỏi, và tuyên truyền, tổ chức cách mạng. Người là nhà hoạt động cách mạng, nhà thực tiễn chứ không phải nhà nghiên cứu lý thuyết.

Lý luận cần để chỉ đạo hành động nhưng thường phải thông qua tư tưởng, thông qua phương pháp và có thể hiện ở chủ trương, đường lối chính sách chỉ đạo, Hồ Chí Minh ít bàn về bản thể vũ trụ hay bản thể xã hội con người mà thường nêu lên các nhận định, đánh giá và nêu nguyên tắc, phương châm hành động. Khi tiếp thu lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin thì Người chủ yếu nắm lấy phương pháp biện chứng cách mạng và chủ nghĩa nhân văn của nó khi tiếp thu nền văn hóa Đông – Tây, Người chú ý tiếp thu giá trị bền vững của nó, giá trị chung, phổ quát nhưng lại biết đưa vào vận dụng trong các tình huống cụ thể một cách linh hoạt, đầy sáng tạo. Cách thức tiếp thu tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại biến thành các phương châm ứng xử như thế là có tính minh triết (dĩ bất biến ứng vạn biến). Bởi vì nói minh triết chủ yếu không phải luận lý theo kiểu triết học mà nói luận định, đánh giá, ứng xử khôn ngoan sáng suốt trong các tình huống phức tạp.

Tất nhiên, chính những phẩm chất, trí tuệ, tâm trí Hồ Chí Minh đã cho phép thâu nhận và tạo nên những triết lý, những tư tưởng minh triết riêng. Bởi vì, cùng hoàn cảnh lịch sử nhưng không phải ai cũng có được những tư tưởng minh triết như vậy.

Với câu hỏi thứ hai. Trước hết, ta lấy ra một số giá trị minh triết theo dòng lịch sử, tạo nên cốt lõi tư tưởng, nhân cách, hành động của Người.

Xin có mấy ví dụ: Ngay từ những ngày đầu tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây khi đứng trước tượng nữ thần tự do của nước Mỹ, Người đã có nhận xét rất minh triết rằng, Thần Tự do tỏa ánh sáng ở trên cao nhưng dưới bóng chân của nữ thần vẫn còn rất nhiều những thân phận nô lệ bị đọa đầy.

Hoặc khi nhận xét chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ thực dân đế quốc rằng chủ nghĩa đế quốc như con đỉa 2 vòi, một vòi hút máu giai cấp vô sản ở chính quốc, một vòi còn lại ở các dân tộc bị áp bức.

Hoặc chỉ trong thời đại ngày nay chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng các dân tộc bị áp bức.

Hoặc bây giờ học thuyết nhiều, lý luận nhiều nhưng học thuyết cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác- Lênin.

Sau này khi về trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân từng bước đất nước tiến lên văn minh hiện đại, xã hội chủ nghĩa, Người cũng đã rút ra nhiều kết luận, đánh giá, nêu phương châm ứng xử có tính minh triết rất cơ bản.

Chẳng hạn như “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Thà hy sinh chứ không làm nô lệ”. Từ những ngày đầu giành độc lập, chính quyền về tay nhân dân, Người nêu nhiệm vụ diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm là ba việc cần thiết lúc bấy giờ nhưng cũng có ý nghĩa lâu dài xây dựng đời sống mới. Hoặc Người nói rằng: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Hoặc bao nhiêu lợi ích, quyền lực, bao nhiêu lực lượng là ở nơi dân; Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong hoặc khi Người sang Pháp tháng 12/1946 Người đã dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng – Phó Chủ tịch nước bấy giờ – rằng: Dĩ bất biến ứng vạn biến…

Hoặc, mọi việc trong thiên hạ, xét đến cùng, là làm người và ở đời như thế nào!

Về đặc điểm minh triết Hồ Chí Minh: Chúng ta nghiên cứu hệ thống tư tưởng minh triết Hồ Chí Minh cũng như hoạt động cách mạng của Người chúng ta không chỉ nhận thấy những triết lý hữu ngôn mà còn những triết lý vô ngôn từ trong bản thân hành động của Người. Ví dụ, trong thời kỳ Bác sang Pháp, sau khi giành được độc lập tháng 8-1945 trong một cuộc phỏng vấn có một nhà báo nữ Pháp hỏi rằng Hồ Chí Minh có phải là một nhà cộng sản không hay là một nhà yêu nước, Bác đã không trả lời một cách trực tiếp mà Bác chỉ cầm những bông hoa trên bàn tặng nữ nhà báo Pháp, đó là hành động thực sự có ý nghĩa – minh triết vô ngôn.

Hoặc cách Bác dùng bàn tay che miệng khẩu đại bác khi đến thăm một hạm đội của Pháp cũng là một ví dụ điển hình như vậy.

Bởi chúng ta biết rằng minh triết có thể biểu hiện ở góc độ triết lý hoặc một hành động mang tính biểu tượng chứa ẩn sự thâm thúy sâu xa, hoặc sự khôn ngoan, sáng suốt trong tình huống cụ thể nhưng lại ẩn chứa những phương thức xử lý có tính phổ biến.

Đặc điểm minh triết Hồ Chí Minh hay những giá trị minh triết Hồ Chí Minh như đã trình bày ở trên thực chất thể hiện tinh thần sống động, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong phong cách tư tưởng, hành động của Người vừa ung dung tự tại luôn có tính nguyên tắc nhưng lại mềm dẻo, linh hoạt, biến hóa khôn cùng.

Một số người đã nhận xét rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa có tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác, tinh thần cách mạng của Lê-nin, tinh thần bác ái của Chúa, tính từ bi của Phật, đạo đức nhân ái của Khổng Tử, phương châm thiết thực của Tôn Trung Sơn và có sự khôn ngoan của người chủ gia tộc.

Ta thấy trong tư tưởng và cách ứng xử của Hồ Chí Minh về mặt hình thức, Người kế thừa và nhắc lại nhiều mệnh đề, câu nói của Khổng Tử hoặc những nhà tư tưởng và yêu nước của Việt Nam, nhưng nội dung đã được đổi mới, kế thừa và phát triển.. Ta cũng thấy khá nhiều cách diễn tả ca dao tục ngữ, lời ăn tiếng nói của nhân dân. Nghĩa ở đây có hai tầng minh triết, tầng minh triết có tính bác học và tầng minh triết có tính dân gian nhưng điều đáng chú ý ở Hồ Chí Minh là trong cách triết lý, tư tưởng cũng như các phương châm, phương pháp hành động mà Người hướng dẫn, gợi mở rất gần gũi với nhân dân đồng thời cũng gần gũi với các nhà hiền triết phương Đông mặc dù Người rất thông thạo văn hóa, luận lý phương Tây.

Do vậy, minh triết Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa lý và tình, thống nhất lời nói và hành động, giữa tính khái quát của tư tưởng với sự thể hiện trong từng tình huống cụ thể. Người thiên về nhà hiền triết hơn là nhà triết học là vì vậy.

Với câu hỏi thứ ba: Đảng ta chú trọng nghiên cứu tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh và vận dụng phát triển, thực hành tư tưởng, đạo đức ấy. Trong đó hệ thống giá trị minh triết là hạt nhân, sợi chỉ đỏ sống động nhất, tinh túy nhất.

Từ đó, không chỉ cần làm rõ minh triết Hồ Chí Minh mà còn cho thấy Hồ Chí Minh là một nhà minh triết hiện đại, nhà minh triết cách mạng.
Do vậy làm rõ, hệ thống hóa và vận dụng hệ giá trị minh triết là rất quan trọng. Bởi vì, những giá trị ấy còn có giá trị lớn đối với ngày nay.

Đúng là từ Hồ Chí Minh đã toát lên nền văn hóa của tương lai, như một nhà báo Xô viết nhận xét về Người từ đầu thế kỷ 20 trong lần đầu gặp gỡ.

Minh triết nói chung rất cần thiết trong suy nghĩ và hành động của mỗi con người trong đời sống từ những người thường đến vĩ nhân. Tuy nhiên đứng ở góc độ lãnh đạo quản lý xã hội trong thời đại mới, toàn cầu hóa sự biến đổi nhanh chóng, khó lường của xã hội lại càng cần đến minh triết như sự sáng suốt, khôn ngoan của con người trong việc điều khiển một hệ thống đa phức hợp hơn bao giờ hết.

Những người lãnh đạo quản lý dù cần một tầm nhìn sâu, xa về lý luận, việc đề ra phương hướng xử lý những vấn đề nảy sinh thì cần có năng lực minh triết. Năng lực đó một mặt nghiên cứu tiếp thu trí khôn của nhân loại, nhất là một lãnh tụ như Hồ Chí Minh là vô cùng cần thiết. Nhưng mặt khác là thông qua trải nghiệm bản thân, tự đúc rút trí khôn cho mình để đủ mức soi sáng cho các quyết sách mà mình đưa ra, qua đó soi sáng dân tộc tiến lên, tránh được những sai lầm còn quan trọng hơn. Ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần mà.

Nhưng không thể như Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên từng nhận xét và cảnh báo (cũng hết sức minh triết): Hiện nay Chính phủ và chính quyền các địa phương cứ vô tư cho nhà đầu tư chặt rừng đầu nguồn gây lũ lụt, và cho thuê ngay tại nhiều địa điểm có vị trí chiến lược và địa chính trị trọng yếu. “Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.”

Hoặc “Trong thời bình, xã hội dễ phân tâm. Nhưng càng như vậy, lãnh đạo càng phải rất gương mẫu, nói phải đi đôi với làm; cần bắt tay làm bạn với thế giới để làm ăn, nhưng phát triển đất nước phải có chiến lược bình tĩnh, khôn ngoan và có quy hoạch, chứ không phải mạnh ai nấy làm. Đầu tư gì, đầu tư ở đâu, đầu tư như thế nào thì Chính phủ phải lựa chọn trên tiêu chí: Lợi ích quốc gia là trên hết”. (Nguồn Vietnamnet, 2010).

Phải tự rút ra bài học kinh nghiệm, đưa ra nhận xét và tìm bí quyết thành công thì mới khôn lên, sáng suốt hơn. Đừng để mất bò mới lo làm chuồng!

Minh triết, trước hết là minh triết dân gian, là từ cuộc sống, mang máu thịt cuộc sống, gắn với cuộc sống và trở về với cuộc sống, chính là linh hồn của cuộc sống!

Từ kinh nghiệm của nhân dân Quảng Bình những ngày chống phá chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, họ cho rằng:

Dễ trăm lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu cũng xong!

Đó cũng là điều Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở.

Đúng là ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần nhưng chỉ có chủ động học hỏi, trải nghiệm, tự rút ra bài học sẽ giúp giảm bớt những sai lầm, tăng thêm trí khôn sáng./.

Theo Hồ Bá Thâm
Hochiminhhoc.com
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đậm đà dấu ấn quê hương

Những đồng chí có dịp được ở gần Người, khi tận mắt được chứng kiến bữa ăn của vị Chủ tịch Nước, đều nhận xét, Người vẫn nhớ từng món ăn của quê hương. Trên mâm cơm, vẫn bát canh, quả cà, miếng cá kho hoặc miếng thịt kho, tuyệt nhiên không thấy những món ăn đặc sản…

Người dân Nghệ An hiếu học, cần cù, chịu khó, nhân ái, vị tha… tất cả những nền tảng đó đã hình thành nên nhân cách Hồ Chí Minh ngay từ thuở niên thiếu. Lớn lên, được sự dạy dỗ, chỉ bảo nghiêm khắc của cha, sự yêu thương của mẹ và nhất là sự kèm cặp, dạy bảo của người ông ngoại, dấu ấn quê hương, gia đình đã in đậm trong tư tưởng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dù bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước; dù trong ngục tối lao tù của thực dân, đế quốc hay trong gian khổ của cuộc trường kỳ kháng chiến nhưng lúc nào, Người cũng đau đáu nỗi lòng nhớ về quê hương nơi có những người thân yêu nhất của mình.

Những cán bộ, nhân viên, chiến sĩ… có vinh dự được sống gần gụi với Người đều có chung một nhận xét: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người con của quê hương xứ Nghệ, từ thuở niên thiếu đến lúc về già; từ người thanh niên yêu nước đến khi trở thành lãnh tụ, Người vẫn mang đậm phong cách quê hương qua từng suy nghĩ và việc làm.

Như chúng ta đều biết, sau khi giải phóng Thủ đô, cuối năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch. Người đã khước từ ngôi nhà sang trọng, đến ở ngôi nhà của người công nhân thợ điện và sau đó là ngôi nhà sàn – ngôi nhà đã đi vào huyền thoại.

Trong tư tưởng và tình cảm của Người, sự giản dị, đơn sơ trong cuộc sống là sự chí công, vô tư, vượt lên hết thảy mọi sự ham muốn vật chất đời thường và đó cũng là sự cần kiệm trong cuộc sống, một đức tính tốt đẹp của người dân xứ Nghệ.

Những đồng chí có dịp được ở gần Người, khi tận mắt được chứng kiến bữa ăn của vị Chủ tịch Nước, đều nhận xét, Người vẫn nhớ từng món ăn của quê hương. Trên mâm cơm, vẫn bát canh, quả cà, miếng cá kho hoặc miếng thịt kho, tuyệt nhiên không thấy những món ăn đặc sản, xa cách với người lao động bình thường.

Sinh thời Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Dùng cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm nào, bởi vì Cụ trọng lao động của con người làm ra lúa gạo. Chuyện nhỏ, đức lớn hài hòa ở một con người”.

Trong Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay, vẫn lưu giữ bộ quần áo ka ki Người mặc lúc sinh thời. Trước đây, khi thấy Người mặc bộ quần áo ka ki cũ, các đồng chí phục vụ có ý đề nghị thay bộ mới hơn, Người nói: “Dân ta đang nghèo, đang khó khăn nhiều, Bác có bộ quần áo này là đầy đủ lắm rồi”.

Xí nghiệp May 10 của Tổng cục Hậu cần gửi biếu Bác bộ quần áo ka ki mới, Bác nhận, song Người gửi lại để xí nghiệp làm phần thưởng thi đua cho anh chị em công nhân.

Trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước, bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn dành thời gian để tăng gia sản xuất, trồng rau, nuôi cá… Quanh ngôi nhà Bác ở là một khu vườn với nhiều loại cây hoa trái. Hàng dâm bụt – gợi nhớ quê nhà, những khóm mộc, khóm nhài và đặc biệt là cây vú sữa của đồng bào miền Nam tặng Bác.

Chiều chiều, sau giờ làm việc, Người lại cùng các chiến sĩ Cảnh vệ chăm lo từng gốc cây, cắt tỉa từng khóm lá.

Giờ đây, khi Người đã đi xa, nhân dân trong nước và bầu bạn quốc tế đến viếng thăm nơi ở và làm việc của Người lúc sinh thời, ai ai cũng ngậm ngùi xúc động, cảm phục một tấm gương hy sinh tất cả vì nước, vì dân, vì sự nghiệp lớn.

Có những câu chuyện hết sức cảm động, đó là vào dịp lễ, Tết và kỷ niệm ngày sinh của Bác, Người không muốn tổ chức chúc tụng rườm rà và Người đã chủ động bố trí những chuyến đi công tác xa. Đá Chông là địa điểm được Người đến nhiều nhất.

Trong bối cảnh, miền Nam chưa được thống nhất, đế quốc Mỹ có thể mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn Đá Chông làm nơi sơ tán, làm việc của Trung ương khi cần thiết.

Đây là một địa danh nằm dưới chân núi Ba Vì, thuộc huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nay là huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Nơi đây có rất nhiều những tảng đá thon nhọn tựa như những mũi chông, ngọn mác từ dưới đất mọc lên, có thể vì thế mà nhân dân địa phương gọi địa danh này là Đá Chông.

Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định lựa chọn Đá Chông, Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần được giao nhiệm vụ khảo sát, thiết kế và xây dựng khu làm việc của Trung ương và Bác Hồ. Công trình được đặt mật danh là “Công trường 5”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng công trình, nhiều lần Người đã lên kiểm tra, biểu dương tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của cán bộ, bộ đội và nhân dân địa phương. Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sơn Tây có vinh dự được đóng góp một phần công sức vào việc xây dựng công trình quan trọng này. Từ năm 1958 đến năm 1960, Công trường 5 được hoàn thành, đưa vào sử dụng và được đổi tên là K9.

Từ năm 1960 đến năm 1969, K9 do Văn phòng Trung ương Đảng quản lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên K9 nhiều lần để làm việc và tiếp khách. Vào những ngày lễ hoặc sinh nhật, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bí mật từ Hà Nội lên Đá Chông.

Thời gian Bác làm việc ở Đá Chông có hai vị khách quốc tế đặc biệt được Bác tiếp, đó là Anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.M Ti-tốp và bà Đặng Dĩnh Siêu, phu nhân của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai.

Sau khi Bác qua đời, K9 đã được chọn là nơi giữ gìn thi hài Bác trong chiến tranh và được đổi tên là K84 (1969 – 1975). Giai đoạn này, K84 được giao cho Bộ Quốc phòng quản lý.

Ngày nay, mỗi khi đến tham quan khu di tích, được đi trên con đường rèn luyện sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm xưa, chúng ta còn thấy những cây bông bụt khá to được trồng hai bên đường. Đó chính là hàng cây Bác đã cho trồng từ khi xây dựng khu căn cứ để gợi nhớ đến những cây trồng trong vườn nhà ở quê hương Kim Liên, Nam Đàn.

Lên cầu thang, trước khi vào phòng nghỉ của Bác, chúng ta gặp một chiếc bể nhỏ chứa nước để Bác tắm. Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác kể lại rằng: Khi làm công trình phụ, Bác đã nhắc nhở các đồng chí thiết kế xây cho Bác một chiếc bể nhỏ đựng nước trong nhà tắm; mặc dù trong nhà tắm đã có vòi sen, két nước tự động, nhưng Bác vẫn muốn có một chiếc bể nhỏ, để mỗi lần tắm, Bác múc từng gáo nước giội lên người như lúc nhỏ, mẹ Bác vẫn múc từng gáo nước tắm cho Bác.

Nhiều người đến khu di tích Đá Chông và được nghe giới thiệu về những hiện vật đã gắn liền với sinh hoạt đời thường của Bác đã không cầm nổi nước mắt, nhất là tình cảm của Bác với quê hương và gia đình.

Tuy Bác đã đi xa, nhưng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mãi mãi là tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân học tập, noi theo. Những hiện vật như vẫn còn ấm hơi Người, sẽ là những điều kỳ diệu để minh chứng cho một con người vĩ đại nhưng rất giản dị, khiêm tốn và rất đời thường.

Ban Biên Tập

bqllang.gov.vn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc đúc kết, xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi vùng cao Việt Bắc (1960)

Báo cáo Chính trị trình Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam có ghi: “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế”. Đây là một công tác trọng đại, phải tiến hành rất công phu. Trong bài này, tôi viết đôi điều suy nghĩ ban đầu về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc này, góp phần triển khai Nghị quyết Đại hội, đồng thời tiếp tục thúc đẩy đợt sinh hoạt học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như Chỉ thị số 03-CT/TW Bộ chính trị (khoá XI) vừa mới ban hành (14-5-2011). Làm tốt việc đúc kết và xây dựng này rất cần thiết đối với việc giáo dục đạo đức xã hội, nhất là đối với thanh thiếu niên, đồng thời có thể sẽ đóng góp lớn vào củng cố và vun đắp nền tảng tinh thần của công cuộc phát triển đất nước hiện nay.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc đúc kết, xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam

Báo cáo Chính trị trình Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam có ghi: “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế”. Đây là một công tác trọng đại, phải tiến hành rất công phu. Trong bài này, tôi viết đôi điều suy nghĩ ban đầu về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc này, góp phần triển khai Nghị quyết Đại hội, đồng thời tiếp tục thúc đẩy đợt sinh hoạt học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như Chỉ thị số 03-CT/TW Bộ chính trị (khoá XI) vừa mới ban hành (14-5-2011). Làm tốt việc đúc kết và xây dựng này rất cần thiết đối với việc giáo dục đạo đức xã hội, nhất là đối với thanh thiếu niên, đồng thời có thể sẽ đóng góp lớn vào củng cố và vun đắp nền tảng tinh thần của công cuộc phát triển đất nước hiện nay.

Viết về Hồ Chí Minh, cả trong nước và ở nước ngoài, đến nay, có đến hàng nghìn công trình, mà nhiều bạn đọc cũng là tác giả. Hơn nữa, từ những năm 20 thế kỷ trước, và nhất là từ năm 1941, rồi 1944, đặc biệt từ tháng Tám 1945, tên tuổi Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã thấm dần thành sức mạnh tinh thần vô song. Bắt đầu từ các chiến sỹ cách mạng, rồi đến từng người dân, cả một dân tộc đứng lên vượt qua muôn vàn hy sinh, gian khó, giành độc lập dân tộc, thống nhất giang sơn, đổi mới đất nước. Mấy thập kỷ nay Việt Nam – Hồ Chí Minh đã gắn kết thành một tên riêng chỉ “Tinh thần Việt Nam”, “Tâm hồn Việt Nam” – “Giá trị Việt Nam”. Từ đó, và qua tham khảo những bài viết của nhiều nhà lãnh đạo, nhà chính trị, nhà khoa học, ở ta và trên thế giới, dưới góc độ nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị học, như GS. Trần Văn Giàu đã tổng kết “Hồ Chủ tịch – kết tinh của các giá trị truyền thống và đạo đức cách mạng Việt Nam”. Trong công trình “Giá trị học – cơ sở lý luận góp phần đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời nay” (Phạm Minh Hạc, 2010), tôi đã lấy chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo nghiên cứu giá trị, nhằm mục tiêu đúc kết và xây dựng hệ giá chung của người Việt Nam đi vào công nghiệp hoá (CNH), theo hướng hiện đại, hội nhập.

Giá trị gắn liền với đời sống hằng ngày của chúng ta, ai cũng biết. Khái niệm “giá trị” chỉ cái gì có ý nghĩa đối với sự tồn tại của con người, nói đại thể, có giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Dưới góc độ giá trị học, thuật ngữ “giá trị” nói chung thường dùng để nói tới giá trị tinh thần, có khi còn gọi là giá trị văn hoá, giá trị lịch sử, giá trị truyền thống; nhiều nhà nghiên cứu giá trị học gọi là “giá trị nội tại” (F.C.Brentano, 1838 – 1917, Đức; G.E.Moore, 1873 – 1958, Anh) – cũng còn gọi là “giá trị con người”, “giá trị bản thân” (bao gồm cả các thái độ giá trị), ở cấp vĩ mô, ví dụ, dân tộc, hệ giá trị của dân tộc nói lên “bản sắc dân tộc” – đó chính là sức mạnh, lực lượng bản chất, của con người, và sức mạnh của cộng đồng, quốc gia – dân tộc bắt nguồn từ đây.

Ý tưởng đầu tiên về giá trị học có từ Cổ đại do Pơrôtago (Protagore, 481 – 411 TCN, Hy Lạp) nêu lên. Sau Cách mạng 1776, nước Mỹ rất chú ý vấn đề này. Giá trị học hiện đại mới hình thành ít lâu trước Đại chiến thế giới thứ hai ở nước Đức, lúc đó có nhiều vấn đề rối ren trong đời sống tinh thần, và cho đến nay phát triển mạnh ở Mỹ. Nhiều nơi coi triết học gồm thế giới quan, nhân sinh quan và giá trị quan. Giá trị quan được đưa vào dạy trong chính trị học, có “ngoại giao giá trị quan”, gần đây có một quan niệm, mới xem có vẻ hơi kỳ dị nhưng cũng nên lắng nghe, quan niệm này phân loại các nước như sau: – Các nước đứng đầu xuất khẩu giá trị; – Các nước hạng hai xuất khẩu kỹ thuật; – Các nước hạng ba xuất khẩu hàng hoá và lao động (Giấc mộng Trung Hoa, 2010).

Từ “Lịch sử khuyết danh” viết vào thế kỷ XIII, rồi qua sử sách, văn học dân gian các thế kỷ sau, các công trình nghiên cứu, trong nước và nước ngoài, như nhà sử học hàng đầu thế giới nửa sau thế kỷ XX là Tôienbi (2002) đã kết luận nhân loại có 31 nền văn minh, trong đó có văn minh (văn hoá, văn hiến – hệ giá trị) Việt Nam, cả thế giới quan tâm tìm hiểu. Tiếp nối các vị tiền bối, ngày nay chúng ta cần tiếp tục đúc kết và xây dựng hệ giá trị Việt Nam. Đặc biệt, theo đường lối đổi mới (từ 1986), nước nhà đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, rất quan trọng, nhưng mặt khác, như nhận định của Tiểu ban tổng kết, bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 đã trình Đại hội XI: “Mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đã gây không ít tác động tiêu cực; còn lúng túng trước sự biến động của một số giá trị trong nhân cách con người dẫn đến sự xuống cấp của đạo đức xã hội, có một số mặt đáng lo ngại”. Trong hai thập kỷ qua (1991 – 2010) một số chương trình khoa học cấp nhà nước đã nghiên cứu vấn đề giá trị cho thấy trong đời sống tinh thần của xã hội đang đầy mâu thuẫn, thang giá trị nhiều chỗ bị đảo lộn, định hướng giá trị có nơi cảm thấy rối ren, bức bối, đau lòng, vô cùng phức tạp, thước đo giá trị quá nhiều bất hợp lý (Phạm Minh Hạc, 2007). Một số nhà lãnh đạo ở ta cũng bắt đầu nói tới “định hướng giá trị”, “thước đo giá trị”…; các phương tiện truyền thông gần đây cũng hay đề cập đến vấn đề này. Một số trường dạy ngoài giờ “Giá trị sống và kỹ năng sống”. Việc đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH theo hướng hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, như Đại hội XI đã đặt ra, là một công việc cấp thiết.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh, khái quát lại có thể nói, Người đã để lại cho chúng ta một di sản quý báu nhất là Hệ giá trị – một vấn đề khoa học và vận dụng vào thực tiễn hết sức phong phú. Ở đây, tôi mạnh dạn nêu một số thu hoạch sơ bộ.

Sau 30 năm (1911 – 1941) bôn ba năm châu bốn biển, Bác Hồ đã tìm ra đường cứu nước, cứu dân, các bạn đồng nghiệp đã nói và viết nhiều. Ở đây, tôi xin tập trung vào một thiển ý, mà mới là bước đầu. Sinh ra và lớn lên trong văn hoá dân tộc, đi các nước tiếp thu, chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, hoà quyện lại với nhau, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong việc đúc kết, xây dựng, phát huy giá trị quý báu của dân tộc ta, của con người Việt Nam, thành một sức mạnh vô biên của cả một dân tộc đến từng cán bộ, chiến sỹ, nhân dân, tạo dựng nên một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử mấy ngàn năm của đất nước ta. Học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh, chúng ta cần đi đến xây dựng thành công và công bố chính thức Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập quốc tế.Theo dòng suy nghĩ đó, tôi xin nêu lên hệ giá trị, qua nghiên cứu một số trước tác của Người.

Thứ nhất là, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là 3 giá trị nền tảng tinh thần mở đầu thời đại mới của nước nhà, thời đại độc lập dân tộc theo chế độ Dân chủ Cộng hoà, nhân dân làm chủ, bắt đầu hưởng quyền công dân, quyền con người. Trên đường tìm đường cứu nước,
Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu nhiều điều tinh hoa nhất trong Hệ giá trị Hoa Kỳ và Hồ Chí Minh đã mở đầu Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Suốt đời Người, như Hồ Chủ tịch nói với đồng bào trước khi sang Pháp (30-5-1946), “những khi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo” đều vì lý tưởng đó.

Thứ hai là, giá trị nhân cách. Như mọi người đều biết, Bác Hồ vô cùng coi trọng đạo đức, gần như đọc bài nào của Bác cũng có thể tìm thấy điều căn dặn về đạo đức. Một trong những tài liệu đầu tiên Bác viết để giảng dạy đào tạo cán bộ năm 1927 ở Quảng Châu là tác phẩm “Đường cách mệnh”, mở đầu bằng bài “Tư cách người cách mệnh”, nêu lên 23 điều gộp thành 3 nhóm: (1) Tự mình phải (thái độ đối với bản thân) có 14 điều; (2) Đối người phải (thái độ với người khác) có 5 điều; (3) Làm việc phải (thái độ với công tác) có 4 điều. Tâm lý học gọi đây là 23 giá trị nhân cách, có thể coi là một trong những viên gạch đầu tiên của Hệ giá trị mới của người Việt Nam. Người cán bộ có nhân cách với 23 thái độ đúng đắn đó, mới có thể làm việc vì nước vì dân. Đấy là chỉ dẫn phương pháp luận vô cùng quan trọng để chúng ta đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời nay.

Thứ ba là, cần, kiệm, liêm, chính. Tháng 5 và tháng 6 năm 1949, Hồ Chủ tịch viết 4 bài báo về 4 đức tính Cần, Kiệm, Liêm, Chính, sau gộp thành một cuốn sách với tiêu đề “Cần kiệm liêm chính”. Dưới góc độ giá trị học, đây là 4 giá trị đạo đức cơ bản nhất của người cán bộ, nay gọi chung là viên chức nhà nước, làm việc ở các cấp trong bộ máy của Đảng và chính quyền, đoàn thể. Chưa quán triệt và thực hành 4 điều này – coi như chưa học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ có quán triệt và thực hành 4 điều này từ trên xuống, từ trong ra, thì mới có thể khắc phục được “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội…, yếu kém trong quản lý… làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe doạ sự ổn định và phát triển của đất nước”(1). Một con người chân chính không thể thiếu 4 giá trị này. Ai cũng theo đây mà tu dưỡng sẽ có cuộc sống hạnh phúc thật sự, đất nước sẽ có một xã hội tốt đẹp.

Thứ tư là, thời đại khai sáng ở Việt Nam. Trên đường tìm đường cứu nước, trong những năm 20 thế kỷ trước, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần chính sách ngu dân thâm độc của bọn thực dân đã đặt dân tộc ta ngoài lề của nền văn minh thế giới. Đồng thời Người đã tìm hiểu các giá trị có tác dụng thúc đẩy tiến triển xã hội phương Tây; trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” (1924), đã đưa ra ý kiến: “… sự Tây phương hoá ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông”, đặc biệt quan tâm đến kinh nghiệm phát triển giá trị giáo dục (lý trí, học vấn, khoa học, công nghệ…), vận dụng vào nước ta, mở ra Thời đại khai sáng. Như mọi người đều biết, thế kỷ XVIII được gọi là Thế kỷ khai sáng (Thế kỷ Ánh sáng, Thế kỷ giáo dục), góp phần chuẩn bị quan trọng cho Cách mạng 1789 thành công và đưa xã hội tiến vào thời kỳ công nghiệp hoá. Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập với tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác giáo dục, coi đây là một bộ phận quan trọng trong đường lối cách mạng, kháng chiến, kiến quốc và ngày nay cùng với khoa học – công nghệ trong Đổi mới được coi là “quốc sách hàng đầu”. Đã có rất nhiều tài liệu viết về vấn đề này. Ở đây, tôi xin tóm tắt mấy tư tưởng về giáo dục của Hồ Chủ tịch như sau: – Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; – Dốt là một thứ giặc, nguy hiểm như giặc đói, giặc ngoại xâm.- Hết sức coi trọng vai trò của giáo dục: Có phát triển nền giáo dục tốt, thì đất nước mới tươi đẹp, non sông mới vẻ vang, mới sánh vai cùng các cường quốc năm châu; – Phải xây dựng một nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập.- Mục tiêu của giáo dục: đào tạo người công dân tốt; – Trong công tác giáo dục đặt việc đào tạo và chăm sóc đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục lên hàng đầu; – Dù khó khăn đến đâu cũng phải dạy tốt, học tốt; – Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa; – Học thường xuyên, học suốt đời, v.v. Tiếp tục Thế kỷ khai sáng, vận dụng tư tưởng (giá trị) giáo dục Hồ Chí Minh để chấn chỉnh, củng cố, phát triển, chấn hưng nền giáo dục nước nhà, tích cực triển khai chủ trương của Đại hội XI “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo”(2). Không có nền giáo dục tốt – khó có thể tiến hành CNH theo hướng hiện đại đạt kết quả thực chất. Đây đúng là khâu đột phá cực kỳ quan trọng đưa đất nước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ này, như Chiến lược 2011 – 2020 Đại hội XI đã thông qua.

Thứ năm là, các giá trị đạo đức của các ngành, các giới. Về nội dung này, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài nói hay viết cho các ngành, các giới, các địa phương, Bác rất chú ý chỉ ra những chuẩn mực đạo đức cần phải có để xây dựng ngành mình, giới mình, địa phương mình và cả nước nói chung. Đây là một công việc to lớn, phải dày công tìm tòi, phát hiện, sẽ đóng góp rất nhiều cho việc đúc kết và xây dựng hệ giá trị của người Việt Nam ngày nay, tạo động lực mới thúc đẩy sự phát triển con người, tăng cường giá trị của người dân, từ đó sẽ có cuộc sống thịnh vượng.

Thứ sáu là, giá trị bản thân con người – mục tiêu tối thượng. Hệ giá trị Hồ Chí Minh là kết tinh của Hệ giá trị Việt Nam, lấy chủ nghĩa nhân văn làm nền tảng. Từ ngày ra đi tìm đường cứu nước, bằng những bài viết trên báo Người cùng khổ (1922) đến Di chúc (1965), như Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2001) đã tổng kết, Bác Hồ luôn nghĩ về con người Việt Nam, coi đó là giá trị cao quý nhất, và là mục tiêu tối thượng của cách mạng. Nói khái quát, đó là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh có cội nguồn từ chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, đồng thời đã đưa chủ nghĩa nhân văn Việt Nam lên một giai đoạn phát triển chất lượng mới, có thể tóm lược nội dung như sau:

– Yêu thương con người.
– Tôn trọng con người.
– Trọng dụng con người, nhất là những người tài đức.
– Khoan dung.
– Tranh đấu vì con người – giải phóng con người.

Sau một thời gian nghiên cứu, chúng tôi đề xuất: Hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế (gọi tắt là Hệ giá trị chung) mà chúng ta cần xây dựng. Đó là: 1. Các giá trị chung của loài người: tính người, tình người, Chân-Thiện-Mỹ; 2. Các giá trị toàn cầu: hoà bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển; 3. Các giá trị dân tộc: tinh thần dân tộc, yêu nước, trách nhiệm cộng đồng; tích cực đóng góp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; 4. Các giá trị gia đình: hoà thuận, hiếu thảo; 5. Giá trị bản thân:

– Yêu nước.- Dân chủ.
– Trách nhiệm với xã hội, cộng đồng, gia đình, bản thân.
– Cần cù: chăm học, chăm làm.
– Khoa học: tư duy duy lý, tác phong công nghiệp, tay nghề thành thạo.
– Chính trực: chân thật, đứng đắn, liêm khiết
– Lương thiện: quan hệ người – người tốt đẹp, tôn trọng và thương người, tương trợ giúp đỡ nhau.
– Gia đình hoà thuận, hiếu thảo.
– Thích nghi và sáng tạo.
– Chí hướng: cầu tiến.

Vấn đề cốt lõi nhất là từng người, với sự hỗ trợ của nhà trường, gia đình, xã hội, tạo lập, phát huy được giá trị bản thân, Nhà nước có chính sách sử dụng tốt giá trị bản thân của mọi người, xã hội có môi trường thuận lợi cho giá trị bản thân của mọi người phát triển, theo quan điểm phát triển Đại hội XI đã xây dựng: “… phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”(3)

——————

(1) – Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG – Sự thật, 2011, tr. 173.(2) – Sđd, tr.77.(3) – Sđd, tr.30.

GS.VS Phạm Minh Hạc
Theo Tạp chí tuyên giáo
Tâm trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước và 6 điều Người dạy lực lượng CAND

Trung Tướng, GS.TS Trần Đại Quang, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Thứ Trưởng Bộ Công An

Cách đây tròn 100 năm ngày 5/6/1911, từ cảng Sài Gòn, với thẻ làm việc mang tên Nguyễn Văn Ba, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc trên con tàu Latuche de Tréville đi Pháp với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu“1.

Ra đi trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân chìm trong đau khổ, Nguyễn Tất Thành đến với phương trời xa lạ mang mỹ từ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” để tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau vẻ mỹ miều của cụm từ đó và cả tận cùng của sự thật với mong muốn: “Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta“2. Cuộc hành trình lênh đênh qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia với nhiều nghề để vừa kiếm sống, vừa thâm nhập đời sống của những người cần lao, hòa mình trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc đã giúp người thanh niên Nguyễn Tất Thành thấu hiểu: Chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở chính quốc cũng như các nước thuộc địa. Cũng chính cuộc hành trình đó đã giúp Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đến được với Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới, để từ đó hoàn toàn tin tưởng theo Lênin và quyết định “bỏ phiếu tán thành và trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp, tham gia Quốc tế III“3 (ngày 30/12/1920). Sự gặp gỡ Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Lênin đã đưa Người trở thành một chiến sĩ cách mạng tiên phong, người Cộng sản chân chính tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc mình theo con đường cách mạng của Lênin.

Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận khoa học và bản chất cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc khẳng định, đó là chủ nghĩa “cách mạng nhất, chân chính nhất“. Đi sâu nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga, Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, bởi độc lập, tự do không thể cầu xin mà có…; trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cần phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền; một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ. Quan điểm đó xuyên suốt trong cả quá trình hoạt động, lãnh đạo cách mạng của Người và hình thành nên Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và an ninh quốc gia.

Ngày 3/2/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản thành một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam, đánh dấu chuyển biến về chất của cách mạng nước ta, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị, xác định rõ con đường cứu nước, cứu dân, thể hiện tính quy luật lịch sử của xã hội Việt Nam trong thế kỷ XX: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn” 4.

Bến cảng Nhà Rồng.

Xây dựng lực lượng Công an nhân dân – công cụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng

Ngay khi Đảng ta mới thành lập, bằng kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn đã được trải nghiệm, ngày 23/4/1931, Người viết thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lưu ý nhiệm vụ đề cao cảnh giác và giữ gìn bí mật để bảo vệ lực lượng cách mạng. Người căn dặn: “Các cơ quan không đặt bí hiệu hay sao? Sao mà nhiều lần cơ quan lộ rồi mà đồng chí cứ chui vào cho lộ. Hoặc có đứa phản chăng? Tài liệu bí mật, nhất là về giao thông có lộ không?… Nên tìm mi thuật gì mà giữ gìn lấy đồng chí trọng yếu chứ nếu nó cứ túm mòn những vắt khá đi thì hại cho công việc quá!… Thái Bình, Phủ Lý thì nó lại cứ giở sổ mà đi bắt người! Xem những việc đó thì có thể nói rằng Đảng còn kém đường bí mật công tác…“5.

Thực hiện sự chỉ đạo của Người, Đảng ta đã kịp thời đối phó với âm mưu khủng bố của địch, bảo vệ lực lượng cách mạng và phong trào đấu tranh của quần chúng. Đầu năm 1931, Thường vụ Trung ương Đảng đã thông báo cho các Xứ ủy chủ trương tổ chức Đội tự vệ công nông. Tháng 3/1931, Đảng ra Nghị quyết về tổ chức Đội tự vệ; đó là lực lượng nòng cốt đầu tiên bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng. Tháng 3/1935, tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng, qua tổng kết công tác đấu tranh chống phản cách mạng, công tác giữ gìn bí mật được Đảng ta coi là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động của Đảng. Đại hội còn có riêng một nghị quyết về đội tự vệ để lực lượng đó làm nhiệm vụ “hộ vệ quần chúng hàng ngày trong các cuộc tranh đấu“6.

Qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945, những nguyên tắc hoạt động bí mật mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút được từ thời kỳ hoạt động bí mật ở nước ngoài, đã được quán triệt sâu sắc trong việc phát triển lực lượng, các cuộc hội họp và phát triển tổ chức của Đảng và các tổ chức tiền thân của lực lượng Công an nhân dân. Năm 1943, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “về công tác giữ bí mật“, nêu rõ: “Nguy cơ bại vong của giặc Nhật mỗi ngày một gần; vì vậy, chúng ra tay khủng bố bừa bãi để phá hoại phong trào cách mạng và làm hậu thuẫn cho chính sách bóc lột táng tận của chúng. Do vậy, công việc của chúng ta khó khăn vô cùng. Một vô ý là đã làm tan vỡ một tổ chức và nguy hại cho bao nhiêu quần chúng ở chung quanh. Cho nên, các đồng chí phải biết áp dụng nguyên tắc bí mật cho triệt để mới mong tránh được gươm súng của quân thù“7.

Chính vì thực hiện tốt nguyên tắc hoạt động bí mật theo chỉ thị của Người nên lực lượng cách mạng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa được bảo vệ an toàn và phát triển mạnh mẽ, mặc dù kẻ địch ráo riết thực hiện các chiến dịch săn lùng, khủng bố.

Tháng 8/1945, với thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa, chính quyền cách mạng đã được thành lập trong cả nước. Lực lượng Công an nhân dân ra đời trong những ngày tháng sục sôi cách mạng đó, triển khai ngay nhiệm vụ bảo vệ thành quả mà cách mạng vừa mới giành được. Trên cương vị là Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, Bác Hồ đã ý thức sâu sắc về tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng, bảo vệ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh lâu dài, cam go, phức tạp. Bác nhấn mạnh rằng, để bảo vệ lực lượng và thành quả cách mạng, lực lượng Công an nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng. Người thường xuyên quan tâm vấn đề xây dựng lực lượng Công an nhân dân làm lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng. Người đã dày công nghiên cứu, vận dụng Tư tưởng của Lênin “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn” để đưa ra phương hướng và biện pháp thích hợp trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhằm giữ vững chính quyền cách mạng. Theo tư tưởng của Người, cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là cuộc đấu tranh thường xuyên, lâu dài. Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10 (tháng 1/1956), Người nói: “Nhân dân ta có hai lực lượng, một là Quân đội, để đánh thắng ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hoà bình. Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hoà bình. Lúc chiến tranh thì Quân đội đánh giặc, lúc hoà bình thì luyện tập. Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hoà bình lại càng nhiều việc. Còn chủ nghĩa đế quốc, còn giai cấp bóc lột là còn bọn phá hoại. Chúng nhằm phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa (…) Nhiệm vụ của Công an là phải chặn tay bọn phá hoại (…). Địch không phải tài tình gì đâu. Nó phá hoại được vì ta sơ hở, chủ quan. Nếu Công an ta biết giữ gìn và biết dựa vào nhân dân, làm cho nhân dân cũng biết cách giữ gìn, không để sơ hở thì nhất định địch không làm gì được“8.

Nhưng để làm được việc đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Công an nhân dân phải chịu sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng. Tại buổi lễ thành lập Công an nhân dân vũ trang (tháng 3/1959), Người nói: “Công an nhân dân vũ trang, hay là Quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới. Nhất định phải như thế”9. Quan điểm này của Người tiếp tục được khẳng định trong bài phát biểu tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 14: “Công tác Công an rất cần, rất quan trọng nhưng đồng thời cũng rất khó. Tình báo, gián điệp đế quốc rất nguy hiểm… Công tác Công an phải gắn chặt với đường lối chính trị của Đảng; nếu thoát ly đường lối chính trị của Đảng thì dù khéo mấy cũng không kết quả“10.

Nội dung tư tưởng, quan điểm Hồ Chí Minh về an ninh, trật tự còn thể hiện rõ tư tưởng đoàn kết toàn dân, dựa vào sức mạnh quần chúng nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng. Trong rất nhiều bài viết, bài nói chuyện của Người, tư tưởng đó được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, thể hiện một quan điểm nhất quán và sâu sắc. Trong lớp chỉnh huấn khoá 2 (ngày 16/5/1959) của Bộ Công an, Người chỉ ra rằng: “Làm Công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì Công an mới hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được. Nếu trong công tác, các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì nhất định các cô, các chú thành công”. Đây chính là vấn đề căn bản nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về an ninh, trật tự mà nội dung cốt lõi được Người đặc biệt nhấn mạnh là tư tưởng về xây dựng tư cách người Công an cách mạng. Người khẳng định: nếu không dựa vào dân, không được dân tin yêu thì lực lượng Công an sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng để được dân tin, dân yêu và giúp đỡ Công an thì mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an phải “trau dồi đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, có như vậy “mới xứng đáng là người cán bộ được Đảng và nhân dân tín nhiệm“.

Bác Hồ với các cháu thiếu niên dũng sĩ miền Nam (1969)

Ngày 11/3/1948, trong thư gửi đồng chí Giám đốc Công an Khu XII, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những phẩm chất đạo đức và tư cách người Công an cách mạng phải có, đó là:

Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính;
Đối với đồng sự phải thân ái, giúp đỡ;
Đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành;
Đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép;
Đối với công việc phải tận tụy;
Đối với địch phải cương quyết, khôn khéo.

Sáu điều Bác Hồ dạy người Công an cách mạng là đạo lý, nguyên tắc, phương châm, thái độ đối nhân xử thế, là chuẩn mực về nhân cách mà mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an dù ở bất kỳ cương vị nào, hoàn cảnh công tác nào đều phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu. Sáu điều Bác Hồ dạy là di sản quý báu thể hiện đậm nét nhất tư tưởng, quan điểm của Bác về xây dựng người Công an cách mạng suốt đời vì nước, vì dân.

Sống, chiến đấu, công tác và học tập theo lời Bác dạy

Là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo, xây dựng và dìu dắt, hơn 65 năm qua, lực lượng Công an nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì nhân dân phục vụ. Suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an luôn tích cực hưởng ứng và tự giác thực hiện sáu lời dạy của Bác với những nội dung sáng tạo, thiết thực, hình thức phong phú, bám sát yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng.

Việc học tập, thực hiện 6 điều Bác dạy không chỉ dừng lại ở chỗ nghiên cứu, thấm sâu nhận thức, mà còn biến thành hành động, thể hiện ở những việc làm cụ thể, thiết thực hằng ngày của từng người. Trong suy nghĩ và việc làm, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an dù là lãnh đạo, chỉ huy hay cán bộ, chiến sĩ đều lấy 6 điều dạy của Bác, tấm gương đạo đức của Bác để tự soi mình, tự sửa mình, phấn đấu để không ngừng hoàn thiện bản thân. Qua đó, nêu cao vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Cũng từ việc học tập, thực hiện sáu lời dạy của Bác, lực lượng Công an nhân dân đã không ngừng xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân; dựa vào dân để công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng, được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, tích cực tham gia công tác bảo vệ an ninh, trật tự, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong quá trình công tác và chiến đấu, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong“; ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy 6 điều Bác dạy Công an nhân dân làm tiêu chuẩn rèn luyện phẩm chất, tư cách đạo đức và nâng cao năng lực công tác của mỗi người.

Việc thấm nhuần sâu sắc lời của Bác và tích cực tham gia phong trào học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân đã góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; có phẩm chất đạo đức trong sáng; kỷ cương, kỷ luật chặt chẽ; đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động. Phong trào luôn được duy trì và liên tục phát triển, thực sự là động lực quan trọng thúc đẩy, động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Mỗi giai đoạn cách mạng, phong trào học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân được triển khai một cách thiết thực, hiệu quả bằng những nội dung và phương thức cụ thể, song mục đích hướng tới không nằm ngoài tư tưởng chỉ đạo của Người. Bởi vậy, thời kỳ nào lực lượng Công an nhân dân cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đã có ngày càng nhiều tập thể, cá nhân công tác tận tụy, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường và chủ động hội nhập quốc tế, bên cạnh những thuận lợi rất cơ bản, công tác đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới không thể xem thường. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ những nhiệm vụ hết sức nặng nề trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đó là: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị – xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự an toàn xã hội; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch…“11, trong đó giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, mà lực lượng Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.

Để triển khai có hiệu quả nhiệm vụ vẻ vang đó, cùng với việc quán triệt sâu sắc yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, lực lượng Công an nhân dân càng phải nỗ lực phấn đấu, đề cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, với ý chí vượt lên mọi khó khăn, thử thách; chú trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân; cải tiến, đổi mới nội dung, phương thức công tác chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ, thường xuyên tổng kết và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào “Học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân” gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

***

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và 121 năm Ngày sinh của Người, lực lượng Công an nhân dân ngày càng nhận thức sâu sắc đường lối cách mạng mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho dân tộc Việt Nam là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; phương pháp bảo vệ chính quyền được Người chỉ đạo áp dụng là dựa trên tư tưởng “Giành chính quyền đã khó, bảo vệ chính quyền càng khó hơn”; phương pháp công tác Công an theo Người là: “phải dựa vào dân, không được xa rời dân” và phẩm chất đạo đức mà người Công an cần có chính là 6 lời dạy của Người.

Lực lượng Công an nhân dân nguyện tiếp tục đi theo lý tưởng cách mạng cao đẹp của Người, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, thường xuyên nâng cao ý thức tự phê bình và phê bình, tăng cường gắn bó máu thịt với nhân dân, bồi đắp ý chí quyết tâm xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với sự tin cậy của Bác Hồ lúc sinh thời, đáp ứng tình cảm và mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân đã và đang dành cho lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

——-
(1) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 1, tr.94
(2) Trần Dân Tiên – Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1994. tr.13
(3) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, SĐD, tập 1, tr.94.
(4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.10
(5) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.78
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.91
(7) Văn kiện Đảng, tập 1, BNCTKLS Bộ Công an xuất bản, 1967, tr.314-315
(8),
(9) Hồ Chí Minh, Về an ninh, trật tự, Viện CL và KHCA, NXB CAND, Hà Nội, 2005, tr.81,82
(10) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.117
(11) Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

T.Đ.Q.

cand.com.vn