Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Một người bạn quốc tế thân thiết của Bác Hồ

Kỷ niệm lần thứ 135 ngày sinh Wilhelm Pieck:

Chủ tịch Wilhelm Pieck tại nhà riêng ở Berlin.

Có lẽ không nhiều người được biết: Hồ Chí Minh và Chủ tịch CHDC Đức Wilhelm Pieck, kể từ khi hoạt động chung ở Quốc tế cộng sản, đã là hai người bạn chiến đấu thân thiết của nhau. Chính tình bạn, tình anh em sâu sắc giữa Bác Hồ và lãnh tụ Wilhelm Pieck đã làm cho hai dân tộc Việt – Đức dù cách xa nhau hàng vạn dặm đã sớm hiểu biết nhau, đoàn kết gắn bó cùng nhau trong cuộc chiến đấu lâu dài vì lý tưởng chung.

Trong cuộc đời mình, ngay từ thuở thiếu thời, tôi luôn luôn nghĩ về Chủ tịch Wilhelm Pieck với niềm kính yêu và lòng biết ơn đặc biệt. Nói một cách khác: Chủ tịch là người có công lớn trong việc xây đắp tình hữu nghị đoàn kết giữa hai dân tộc Việt – Đức và trong quá trình ấy, người đã tạo một bước ngoặt quan trọng cho tuổi thơ tôi và nói cho cùng, cũng là cho cả đời tôi…

Nếu ông còn sống, năm nay ông bước vào tuổi 135. Nhưng Người đã vĩnh biệt cuộc đời này tháng 9/1960, đó là năm nhân dân lao động Đức chịu một cái tang lớn; cũng như năm 1969, khi Bác Hồ qua đời, dân tộc ta đã trải qua một tổn thất không gì bù đắp nổi. Có lẽ không nhiều người được biết: Hồ Chí Minh và Wilhelm Pieck, kể từ khi hoạt động chung ở Quốc tế cộng sản, đã là hai người bạn chiến đấu thân thiết của nhau. Sinh thời, Bác Hồ trìu mến gọi Wilhelm Pieck là “người anh yêu quý của tôi”.

Chính tình bạn, tình anh em sâu sắc giữa Bác Hồ và lãnh tụ Wilhelm Pieck đã làm cho hai dân tộc Việt – Đức dù cách xa nhau hàng vạn dặm đã sớm hiểu biết nhau, đoàn kết gắn bó cùng nhau trong cuộc chiến đấu lâu dài vì lý tưởng chung. Trải qua những năm tháng hoạt động sôi nổi đầy gian khổ, hai nhà cách mạng này đều trở thành chủ tịch đầu tiên của nhà nước công – nông. Cộng hòa Dân chủ Đức là một trong những nước đầu tiên công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Wilhelm Pieck, một phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam đã được phát động và phát triển ngày càng sâu rộng từ những năm đầu nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Phong trào đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả những thanh niên Đức hồi đó đang cầm súng trong hàng ngũ lê dương của Pháp, họ đã chạy sang hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam, không ít người trở thành cán bộ tin cậy của quân đội ta. Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Wilhelm Pieck, nhiều cán bộ y tế, văn hóa, báo chí của Cộng hòa Dân chủ Đức đã sang giúp đỡ Việt Nam ngay sau ngày toàn thắng ở Điện Biên Phủ.

Cũng chính thời điểm đó, Chủ tịch Wilhelm Pieck gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhã ý sẵn sàng đón nhận một số thanh niên và thiếu niên Việt Nam sang Đức học tập để sau này trở về góp phần xây dựng đất nước. Bản thân tôi đã may mắn được là một trong những thiếu niên đó, được đến Đức từ mùa thu năm 1955, khi nước Cộng hòa Dân chủ Đức chưa đầy 6 tuổi! Được học tập, được sống, rồi sau này lại công tác ở Đức, tôi và một số bạn tôi đã gần như suốt đời gắn bó với ngôn ngữ, văn hóa và khoa học, kỹ thuật của Đức. Rõ ràng là chuyến đi năm ấy đã tạo thành bước ngoặt lớn của cuộc đời chúng tôi. Cho nên từ trong sâu thẳm của lòng mình, chúng tôi vô cùng biết ơn Chủ tịch Wilhelm Pieck và nhân dân Đức.

Sang tới nước bạn, chúng tôi tiếp tục được Chủ tịch Wilhelm Pieck ân cần quan tâm, chăm sóc – thể hiện qua những bức thư trìu mến và những món quà quý mà ông gửi cho. Ông cho biết: Có dịp thuận lợi, ông sẽ đón chúng tôi về Berlin thăm ông, như đã từng đón các bạn học sinh Triều Tiên.

Nhưng đáng tiếc, từ năm 1956, sức khỏe của ông giảm sút nhiều, cho nên nguyện vọng đi thăm đã không được thực hiện. Có một vinh dự mà ông dành cho chúng tôi là đã cho phép liên đội thiếu niên tiền phong trong nhà trường được mang tên “Wilhelm Pieck”. Trong những bức thư mà Bác Hồ gửi cho thầy và trò chúng tôi cũng như khi ông đến thăm trường ở thị trấn Moritzburg, ông luôn căn dặn chúng tôi phải cố gắng học tập, tu dưỡng đạo đức để xứng đáng với công lao của Chủ tịch Wilhelm Pieck, của Đảng và nhân dân lao động Đức. Trong tâm tưởng và tình cảm của chúng tôi, hai vị lãnh tụ tối cao là hình ảnh song đôi vô cùng kính yêu và gần gũi.

Bác Hồ với Chủ tịch Wilhelm Pieck (người thứ nhất từ trái sang) và Thủ tướng Otto Grotewohl. Ảnh: W.Herbig

Và thật kỳ diệu, Wilhelm Pieck và Hồ Chí Minh – về mặt con người và đời sống riêng cũng có nhiều nét giống nhau: Hai vị đều mồ côi mẹ sớm, đều trải qua biết bao công việc nặng nhọc trong tuổi thanh xuân, đều yêu thích văn học – nghệ thuật và nhất là đều đầy lòng nhân hậu, đã được nhân dân nước mình sau này gọi là “Cha” với tất cả lòng thành kính.

Nghiên cứu, tìm hiểu mối quan hệ giữa hai vị Chủ tịch chính là góp phần nghiên cứu, tìm hiểu quan hệ hữu nghị đoàn kết lâu dài giữa hai dân tộc Việt Nam và Đức. Lý tưởng chung và những thắng lợi của hai Đảng, hai dân tộc càng làm cho mối quan hệ giữa hai vị lãnh tụ thêm gắn bó.

Năm 1949, từ núi rừng Việt Bắc, Bác Hồ đã gửi điện chúc mừng sự ra đời của nhà nước công – nông đầu tiên trên đất Đức. Từ đó, hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm quốc khánh và sinh nhật hoặc nhân một sự kiện trọng đại nào đó, hai vị lãnh tụ lại gửi điện mừng cho nhau. Một trong những bức thư đầy xúc động mà Chủ tịch Wilhelm Pieck đã gửi cho Bác Hồ là nhân dịp kỷ niệm lần thứ 70 ngày sinh của người. Bức thư có đoạn viết:

“Người bạn và người đồng chí thân yêu Hồ Chí Minh của tôi! Trong ngày vẻ vang hôm nay, những ý nghĩ của tôi đều hướng về đồng chí, nhà lãnh đạo trung thành, đầy hy sinh, bất khuất của tất cả những người lao động Việt Nam… Tôi vẫn lấy làm thích thú mỗi lần nhớ lại các cuộc tiếp xúc trước đây của chúng ta, những cuộc tiếp xúc bao giờ cũng được đánh dấu bằng tình hữu nghị sâu sắc của nhân dân hai nước chúng ta, bằng cuộc đấu tranh nhằm gìn giữ và củng cố hòa bình và bằng việc cải thiện sinh hoạt của nhân dân lao động hai nước chúng ta”.

Mùa hè năm 1957, Bác Hồ đã đi thăm hữu nghị chính thức các nước anh em, riêng ở Cộng hòa Dân chủ Đức là từ 25/7 đến 1/8. Ở thời điểm đó, Chủ tịch Wilhelm Pieck mệt nặng, nên Bác Hồ rất lo lắng cho sức khỏe của Chủ tịch. Cho nên, việc đầu tiên sau khi đặt chân tới Berlin là Người đến tận nhà riêng ở Pankow để thăm “người anh yêu quý” của mình.

Chúng tôi, qua đài truyền hình, đã xúc động theo dõi cuộc viếng thăm cảm động này. Trên phim ảnh, Chủ tịch trông đã yếu nhiều. Nhưng, được tin Bác Hồ đến, Chủ tịch rất vui, một niềm vui mà quả thật những người gần gũi ít thấy hiện lên trên gương mặt Chủ tịch trong những ngày ấy. Đó là một buổi chiều mùa hè, nắng rất đẹp. Trong khu vườn nhỏ cạnh nhà, cỏ lên xanh mướt. Chủ tịch Wilhelm Pieck mặc bộ lễ phục màu sáng, trên ngực gắn những cuống huân chương. Đó là biểu thị thầm kín của Chủ tịch trong những dịp thật trọng thể và đáng ghi nhớ.

Năm 1976, để viết bài cho Báo Nhân dân, nhân kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh Chủ tịch Wilhelm Pieck, tôi đã đến thăm bà Elly – Winter Pieck, người con gái đầu lòng và cũng là thư ký riêng của Chủ tịch trong 15 năm cuối đời. Trong bầu không khí thân tình, bà đã kể tôi nghe về buổi chiều 25/7/1957 đáng ghi nhớ ấy:

“Bác Hồ xuất hiện ở cửa vườn và đi rất nhanh tới chỗ cha tôi. Cha tôi sung sướng đứng dậy, một tay chống gậy, một tay siết chặt bàn tay của người đồng chí rất thân yêu. Bác Hồ đưa tay phải ôm lấy cổ cha tôi và hai người ôm hôn nhau thân thiết. Bác Hồ hỏi cha tôi bằng tiếng Đức và gọi tên riêng một cách trìu mến:

– Wilhelm, sức khỏe của anh thế nào?

– Tôi không được khỏe lắm. Anh sang thăm đất nước chúng tôi, tiếc rằng tôi không thể đi cùng anh được.

Qua ánh mắt của Bác Hồ, những người có mặt đều thấy Người không được vui, vì có lẽ Người thấy cha tôi không được khỏe. Giọng của Bác Hồ đôi khi trầm hẳn xuống. Lúc này cha tôi đã 81 tuổi, 81 năm của một cuộc đời đầy những gian nan, vất vả.

Trong suốt buổi nói chuyện cùng nhau, hầu như lúc nào Bác Hồ cũng nắm lấy một bàn tay của cha tôi. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Đức, cũng có khi bằng tiếng Nga…

Tôi cũng xin nói thêm rằng, Bác Hồ không quên hỏi thăm từng người trong số anh chị em phục vụ chúng tôi. Biết tôi là con gái của bạn mình, Bác Hồ tỏ ra rất vui…”.

Dự buổi nói chuyện đó có Thủ tướng Chính phủ Otto Grotewohl, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đảng Walter Ulbricht và một vài cán bộ cao cấp nữa. Cuộc gặp gỡ thân tình này chỉ kéo dài độ 30 phút và cũng không ngờ là cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai vị lãnh tụ.

Tháng 9/1960, giữa lúc Đảng ta đang tiến hành Đại hội III, Bác Hồ được tin Chủ tịch Wilhelm Pieck qua đời. Người rất đau buồn, đã đến viếng Chủ tịch tại Đại sứ quán CHDC Đức ở Hà Nội và nhờ Giáo sư Kurt Hager, Trưởng đoàn đại biểu Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức (SED) sang dự Đại hội Đảng ta, chuyển lời chia buồn sâu sắc tới toàn Đảng, toàn dân CHDC Đức và gia quyến Chủ tịch Wilhelm Pieck 

Trần Đương

cand.com.vn

Clip phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1964 của một nhà báo Pháp

Thưa Ngài chủ tịch, Ngài có thể cho biết liệu có một giải pháp quân sự nào cho chiến sự tại miền Nam Việt Nam?

– Không. Bởi vì như cô biết đấy, “Dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một”. Người Mỹ đã vô cớ gây chiến tranh. Cô cũng biết rằng, như trên các mặt báo đã đưa, nếu chiến tranh càng kéo dài, người Mỹ sẽ càng sa lầy và sẽ càng chuốc lấy thất bại. Chiến tranh không thể kéo dài mãi mãi được, tôi cũng vui mừng là các nhà chính trị Pháp cũng đã biết rõ điều này.

Liệu Ngài có nghĩ rằng tướng De Gaule có thể sẽ có biện pháp nào đó phân định (arbitrer) sự xung đột này.

– Không biết cô hiểu thế nào về từ phân định (arbitrer), chúng tôi đâu có phải là một đội bóng đâu (cười).

Nhưng nếu tôi không nhầm thì ngoài Hiệp định Genève, tướng De Gaule có nói về một ý tưởng về sự thống nhất tất cả các nước ở khu vực Đông Nam Á, Ngài nghĩ sao về điều này?

– Như tôi đã nói một lần rồi, đây là một ý tưởng khá hấp dẫn. Nhưng nó còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của từng nước, phụ thuộc vào cách chúng ta thực hiện nó nữa, đó là một câu hỏi lớn. Tôi không nói là tôi phản đối hay tán thành ý kiến này. Lấy ví dụ về HOA, có rất nhiều loại hoa: hoa trắng, hoa đỏ, hoa vàng … có loài hoa đẹp nhưng cũng có loài không đẹp, nhưng chúng ta vẫn gọi chung là HOA.

– Thưa Ngài Chủ tịch, trong chuyến đi miền Bắc Việt Nam này chúng tôi nhận thấy rằng sự ảnh hưởng của Pháp dường như không còn tồn tại ở đây nữa, độ tuổi dưới 25 giờ đã không còn biết đến tiếng Pháp. Tôi tự hỏi là, với suy nghĩ của Ngài, liệu rằng chúng ta có thể gây dựng lại mối quan hệ này, rằng nước Pháp sẽ giữ vai trò nào đó trong mối quan hệ … văn hóa giữ hai nước?

– Với nước Pháp nói riêng và các nước khác nói chung, chúng tôi luôn muốn có một mối quan hệ hợp tác hữu nghị về văn hóa, kinh tế … Nhưng tôi không nghĩ rằng cô muốn nói tới sự ảnh hưởng của Pháp như họ đã từng gây sự ảnh hưởng với Việt Nam trước đây, đó là một chuyện hoàn toàn khác.

– Oui, thời kì đó đã qua rồi.

– Một mối quan hệ hữu hảo về văn hoá, kinh tế … hay như thể thao chẳng hạn. Chúng tôi hoàn toàn hưởng ứng.

Nếu như chiến tranh tiếp tục leo thang tại miền Nam Việt Nam trong một vài năm tới, liệu ngài có nghĩ rằng kinh tế của miền Bắc Việt Nam có thể duy trì được như bây giờ?

– Tôi chắc chắn rằng nó không những chỉ duy trì mà còn phát triển. Cô cũng thấy rằng là ở đây, chúng tôi lao động rất hăng say, cần cù, với sự hy sinh và lòng nhiệt huyết, và chủ yếu đều xuất phát từ nội lực của chúng tôi. Bên cạnh đó chúng tôi còn có sự giúp đỡ anh em từ các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Tất cả đều thể hiện qua những tiến bộ hàng ngày, và chắc chắn là cả trong tương lai nữa.

Ngài có nhắc tới các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, vậy thì sự giúp đỡ này có bắt nguồn sau những xung đột về ý thức hệ (conflit idiologique) giữa Nga và Trung Quốc?

– Không, …….. (không nghe rõ ) …….. Nhưng những sự giúp đỡ giữa các nước anh em thì vẫn tiếp diễn, và chúng rất quý giá với chúng tôi.

Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc (thành vệ tinh của Trung Quốc). Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao?

– JAMAIS (không bao giờ).

Nguồn: YouTube

Xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chuyện bây giờ mới kể

(TBDN) – Ngày ngày dòng người từ khắp mọi miền quê đất nước đi trong thương nhớ thành kính về lăng viếng thăm Bác, nhưng chuyện xây dựng Lăng như thế nào không phải ai cũng biết. Đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư (TBT) Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1991 – 1997, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng từ năm 1973 – 1977, chính là Trưởng Ban xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1973 – 1975).

Công trình của những tấm lòng

Hơn 38 năm qua, nhưng nguyên TBT Đỗ Mười còn nhớ không quên những tháng ngày chỉ đạo xây dựng Lăng Bác với tấm lòng thành kính của toàn dân. Ông kể: Ngày Bác mất, với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, thể theo ý nguyện rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân, khi Người qua đời, Đảng và Nhà nước đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người. Nhiệm vụ thiết kế Lăng được thông qua tháng 10/1970. Việc xây Lăng do Bộ Quốc phòng phụ trách lắp ráp thiết bị bên trong công trình. Cán bộ kỹ thuật, công nhân Việt Nam, bao gồm nhiều đơn vị tham gia, với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô.

Đầu tháng 2/1972, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho các bộ, các ngành, các địa phương tham gia xây dựng công trình. Giữa lúc hàng ngàn người đang sẵn sàng bắt tay vào việc xây Lăng, thì Mỹ ném bom trở lại miền Bắc (16 tháng 4 năm 1972). Công việc xây dựng phải tạm dừng. Ngày 28/1/1973, tin ký kết Hiệp định Paris được công bố trên Đài tiếng nói Việt Nam; công việc xây dựng Lăng được tái khởi động, không chậm trễ.

8 giờ sáng ngày 18/6/1973, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp… ra chứng kiến việc tháo dỡ lễ đài Ba Đình cũ, nơi mà cách đây 65 năm, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào, và cũng chính nơi này ngày 2/9/1973 đã diễn ra lễ khởi công xây dựng Lăng Hồ Chủ tịch, giữa một rừng cờ, khẩu hiệu và hàng ngàn công nhân công trường.

Ngày ấy đất nước còn chiến tranh, kinh tế còn khó khăn, nhưng với tấm lòng kính yêu Bác, cả nước dồn công của cho công việc dựng xây. Cát được lấy từ suối Kim Bôi ở Hòa Bình, đá cuội lấy từ suối Sơn Dương – Chiêm Hóa, đá nhồi, đá hồng ngọc từ Thanh Hóa, đá hoa, cẩm thạch từ Chùa Thầy và đá đỏ, đá hoa cương từ Ngũ Hành Sơn, đá ngọc từ Cao Bằng, cùng 16 loại gỗ quý ở dọc đường Trường Sơn

Nguyên TBT Đỗ Mười nói: Thời gian xây dựng Lăng năm từ 1973 -1975 là giai đoạn cuối cuộc chiến tranh chống Mỹ. Chính tôi cũng không thể ngờ năm 1975 nước nhà thống nhất, cũng là năm khánh thành Lăng, kịp đón đồng bào miền Nam ra viếng Người thỏa lòng mong ước.

Công trình xây dựng Lăng Bác không thể tính bằng tiền, mà tính bằng những tấm lòng của nhân dân, những gỗ đá của cả non sông trang trọng dành cho một người đã từng hy sinh, dành trọn đời cho nền độc lập của Tổ quốc. Vì thế “Từ điển bách khoa thế giới” của Anh giới thiệu Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam như là một mẫu kiến trúc độc đáo nhất thế giới. Vì không nơi nào có một công trình xây lăng tẩm, lại được xây dựng bằng cát, đá, gỗ nói chung là vật liệu, được chính lòng dân tuyển chọn khắp non sông đem đến cho công trình.

Phát huy tự lực, tự cường

Với quyết tâm xây dựng Lăng trong 3 năm, cần hàng vạn tấn xi măng mác cao, ngày đó nước ta chưa sản xuất được loại xi măng này, nếu nhập từ nước ngoài đi tàu biển về Việt Nam, thì không thể hoàn thành vào năm 1975, để khi đất nước thống nhất đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế về viếng thăm Bác. Phải nghĩ cách có thể sản xuất xi măng mác cao trong nước. Phó Thủ tướng Đỗ Mười giao việc này cho ông Nguyễn Mạnh Kiểm, ngày ấy là Viện phó Viện Vật liệu xây dựng, được giao phụ trách phòng nghiên cứu chất lượng xây Lăng.

Ông Kiểm suy nghĩ rồi mạnh dạn trả lời :

– Báo cáo Phó Thủ tướng, có khả năng làm được. Nhưng mình phải điều chỉnh kỹ thuật sản xuất để đạt tiêu chuẩn xi măng mác cao theo yêu cầu xây dựng công trình.

Nghe vậy Phó Thủ tướng Đỗ Mười rất mừng:

– Nếu thế thì tốt quá, cậu về bàn ngay với Viện, Tổng cục hóa chất và nhà máy xi măng Hải Phòng ta làm thí nghiệm để có kết luận sớm cho tôi trả lời với bạn có phải nhập xi măng không? Công trình xây khẩn trương 3 năm phải xong nên chất lượng xi măng là quan trọng lắm.

Ông Kiểm kể:

– Thấy Phó Thủ tướng tâm huyết như vậy, tôi bỗng can đảm lên, quyết tâm và tự tin chỉ đạo sản xuất thử xi măng mác cao, bằng điều chỉnh chế độ nung đốt, điều chỉnh các thông số kỹ thuật, đã cho ra đời thành công mẻ xi măng mác 600. Sau thí nghiệm thành công, tôi đến báo cáo “Sản xuất thử thành công rồi, báo cáo Phó Thủ tướng, mình tự làm xi măng mác cao được”

Phó Thủ tướng Đỗ Mười khen: “Các cậu giỏi thật, sản xuất thành công xi măng mác cao tôi rất mừng, nhưng vẫn phải làm thử vài lần nữa. Tự sản xuất được xi măng thì tốt rồi, mình biết phát huy tính tự lực tự cường không phải nhập xi măng của nước bạn nữa, chủ động được xi măng có nghĩa là chắc chắn sẽ xây dựng lăng xong trong 3 năm…”

Về chuyện này, ông Kiểm nhận xét: Nhờ có ý kiến và sự quan tâm, tin tưởng, tạo điều kiện của Phó Thủ tướng Đỗ Mười với lực lượng khoa học kỹ thuật của ngành xây dựng, cộng với nỗ lực của cán bộ công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, đã tự sản xuất được xi măng mác cao, đó là yếu tố quyết định góp phần chỉ trong 2 năm việc xây Lăng Bác đã hoàn thành, mở ra con đường Việt Nam sản xuất được xi măng chất lượng cao, phục vụ việc xây dựng những công trình lớn sau thống nhất nước nhà .

Sau câu chuyện Việt Nam tự sản xuất xi măng mác cao xây dựng Lăng Bác, với trách nhiệm Trưởng Ban xây dựng Lăng, Phó Thủ tướng Đỗ Mười lại có băn khoăn lo lắng lượng phóng xạ của các vật liệu xây dựng có ảnh hưởng đến thi hài của Bác không? Phó Thủ tướng lại giao nhiệm vụ này cho ông Kiểm, tập hợp mẫu các vật liệu xây dựng sang Liên Xô, nhờ thử phóng xạ. Kết quả các vật liệu xây dựng Lăng Bác qua kiểm nghiệm phóng xạ tại Liên xô “thấp dưới mức cho phép”.

Về kiến trúc Lăng, Phó Thủ tướng Đỗ Mười cũng có những quan điểm riêng, góp ý cho kiến trúc tổng thể. Theo đó kiến trúc sư Nga, thiết kế nguyên bản với Lăng Lê Nin, sân quảng trường hoàn toàn bằng bê tông. Phó Thủ tướng Đỗ Mười đề nghị kiến trúc sư thay đổi một phần kiến trúc Lăng và toàn bộ khối sân bê tông thành những ô cỏ xanh. Ý kiến của Phó Thủ tướng được chấp nhận. Phó Thủ tướng Đỗ Mười chính là “Tổng công trình sư” của công trình xây dựng Lăng Bác…

Ngày 2/9 năm nay, kỷ niệm 66 năm ngày Quốc khánh cũng là kỷ niệm 42 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 36 năm ngày khánh thành xây dựng Lăng của Người. Ngày ngày dòng người từ khắp mọi miền đất nước đi trong thương nhớ, vẫn thành kính về Lăng viếng Bác. Đến thăm và dạo quanh Lăng, chúng ta có thể ngắm nhiều hàng cây biểu trưng cho nông thôn miền núi Việt Nam, như tre Cao Bằng, chò nâu Đền Hùng, hoa ban Điện Biên. Hai bên cửa lối vào để viếng là hai cây hoa đại tượng trưng cho sự trong sáng, thanh cao. Phía trước và phía sau lăng trồng 79 cây vạn tuế tượng trưng cho 79 mùa xuân của Hồ Chủ tịch (1890 – 1969). Hai bên phía Nam và Bắc của Lăng là hai khóm tre ngà, loại cây biểu tượng cho nước Việt Nam, còn phía trước Lăng là một thảm cỏ dài 380 m chia thành 240 ô vuông xanh tươi, đó là thảm cỏ được thay thế sân bê tông theo đề nghị của nguyên TBT Đỗ Mười.

Nghiêm Thị Hằng

thoibaodoanhnhan.com

Chuyện kể về hai lá cờ bằng đá trong lăng Bác Hồ

(Tamnhin.net) – Đã gần 40 năm trôi qua nhưng người dân huyện miền núi Bá Thước (Thanh Hóa) vẫn còn nhớ như in những ngày tháng hàng nghìn người nô nức khai thác những hòn đá có màu đỏ tươi dưới lòng đất để góp phần xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông Trương Phúc Chủ kể lại với PV chuyện khai thác đá Hồng Ngọc góp phần xây lăng Bác Hồ

Khoảng thời gian không lâu nhưng cũng đủ để khẳng định màu sắc nguyên bản của loại đá mang tên Hồng Ngọc riêng chi có ở bản Duồng thuộc xã Điền Hạ (Bá Thước – Thanh Hóa).

Đá Hồng Ngọc là loại đá có màu đỏ tươi, nặng hơn các loại đá khác nếu cùng kích cỡ. Đặc biệt, loại đá này theo nghiên cứu của các nhà khoa học màu đỏ nguyên bản của đá không bị phai mờ đến hàng nghìn năm sau. Chính vì thế, khi thực hiện việc xây dựng Lăng Bác và tìm nguồn đá làm 2 lá cờ là Quốc Kỳ và Đảng Kỳ, loại đá này đã được lựa chọn.

Câu chuyện về việc khai thác, vận chuyển đá ngày đó đã trở thành một giai thoại trong lịch sử của người dân vùng núi Điền Hạ – Bá Thước. Để tận mắt chứng kiến và tìm hiểu về một loại đá quí hiếm và những con người cách đây gần 40 năm về trước trực tiếp khai thác đá, chúng tôi đã ngược TP. Thanh Hóa về phía tây hơn 100km để đến bản Duồng, nơi chứa ẩn câu chuyện về những ngày khai thác đá chưa từng được kể. May mắn thay chúng tôi đã tìm được người trực tiếp chỉ đạo công trường khai thác đá Hồng Ngọc ngày đó, ông Trương Phúc Chủ, nay đã ngoài 80 tuổi, người được phân công trực tiếp quản lý và phân phối, điều động nhân công tham gia khai thác đá.

Màu sắc nguyên bản của đá Hồng Ngọc

Trong niềm tự hào, ông Chủ kể: Vào thời gian cuối năm 1973 đều năm 1974, một công trường khai thác đá sục sôi khí thế của hàng nghìn người dân tình nguyện (chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường, Dao, Thái) đến từ khắp nơi đổ về bản Duồng ở xã Điền Hạ (Bá Thước – Thanh Hóa). Vui như ngày hội khi người dân được biết tại nơi đây có thứ đá mà không nơi nào trên đất nước Việt Nam có và đã được chọn làm 2 lá cờ mang biểu trưng cho Tổ quốc để đặt trong Lăng Bác.

“Khi đó, cứ vào mỗi buổi sáng, hàng nghìn người dân từ các địa phương lân cận không kể già trẻ, gái trai lại ùn ùn đổ về bản Duồng hăng say đào bới sâu hàng chục mét dưới lòng đất để chọn từng hòn đá có màu đỏ tươi rói mang cái tên Hồng Ngọc (đẹp như Ngọc và có màu đỏ). Ngày đó, khi nghe tin Trung ương lựa chọn đá có màu đỏ tại đồi Chợ Phét (đồi cây đa) không những tôi mà tất thảy người dân vùng núi Bá Thước vui lắm. Khi này tôi đang là cán bộ của huyện, tôi cũng như hàng nghìn bà con tự hào lắm vì vùng quê mình có một thứ đá mà không nơi nào trên đất nước Việt Nam chúng ta có được”.

Thời gian đó, ông Chủ đang là trưởng phòng giáo dục huyện Bá Thước nhưng vì là người nhiệt huyết và nơi lấy đá chính là nơi ông sinh ra và lớn lên. Vậy là ông trược tiếp được phân công chỉ đạo công trường khai thác đá. Đặc biệt là việc kêu gọi và huy động người dân tham gia đào đá để kịp thời gian làm hai lá cờ.

Cán bộ xã Điền Hạ chỉ cho chúng tôi đặc điểm của đá Hồng Ngọc

Ông Chủ kể tiếp về những thăng trầm, vất vả trong suốt 7 tháng trời đào đất, tìm đá: “Khi thời gian chỉ còn 1 tháng mà đá kiếm chưa đủ vì phải đào bới sâu dưới lòng đất hàng chục mét, trên diện rộng cả chục hécta đồi rừng. May mắn thay, đúng lúc này thì chúng tôi phát hiện ra một tảng đá lớn hơn 3 mét khối (nặng chừng 7 tấn) treo leo trên ngọn đồi Chợ Phét. Thời gian không còn nhiều, việc rời tảng đá xuống chân đồi và vận chuyển ra Hà Nội là một bài toán khó, bởi lẽ trong quá trình đó không được dùng gậy sắt, không được lăn thẳng xuống đất vì nếu không may làm vỡ hay sứt tảng đá sẽ không kịp thời gian để cung cấp đá cho quá trình xây và hoàn thành Lăng Bác.

Ngay lúc đó, chúng tôi đã trưng cầu ý kiến, hay đúng hơn là hiến kế trong hơn 3 nghìn người dân địa phương. Có nhiều ý kiến cho rằng phải phá bỏ đi 3 ha rừng già rồi dùng trực thăng cẩu tảng đá xuống xe để vận chuyển. Nhưng nếu vậy sẽ mất hàng tháng trời với rất nhiều người tham gia, sẽ không kịp thời gian bàn giao đá. Như điều gì đã định trước, ông Chủ người trực tiếp ngày đêm chỉ đạo tại công trường đã nảy ra ý tưởng là chặt các cây gỗ to và thẳng sau đó kết thành mảng rồi từ từ cho tảng đá lăn xuống chân đồi vừa không phải phá bỏ rừng vừa mất ít thời gian, công sức.

Được mọi người đồng ý, ngay lập tức việc chặt cây, kết mảng được triển khai và thành công khi chỉ cần 1 tuần, tảng đá đã được đưa xuống chân đồi vẹn nguyên. Khi này lại thêm một vấn đề nữa là đưa tảng đá lên xe để vận chuyển. Dù đã dùng dòng dọc loại to nhất có thể để kích tảng đá nhưng trong quá trình kích vì quá nặng nên dòng dọc làm bằng sắt đã bị gãy. Một lần nữa hàng nghìn người dân địa phương phải dùng cách đào hầm dưới tảng đá rồi cho xe lùi vào.

Đưa được tảng đá lên xe, tưởng chừng mọi việc thuận tiện nhưng một vấn đề nữa nảy sinh đó là đường vận chuyển. Vì khi đó các con đường vào bản Duồng nhỏ và lầy lội, xe ô tô không thể vận chuyển đá với khối lượng lớn. Hơn 3 nghìn người đã ngày đêm mở 3km đường xuyên qua cánh đồng, khe suối rồi dùng các loại cây gỗ xếp thành đường để xe có thể vận chuyển đá. Cuối cùng, hơn 50 xe ô tô với hơn 300 khối đá Hồng Ngọc (tương đương 4000 hòn đá lớn nhỏ) được người dân Bá Thước khai thác và vận chuyển an toàn ra Hà Nội để bàn giao cho các đơn vị xây dựng Lăng Bác.

Địa điểm khai thác đá Hồng Ngọc cách đây gần 40 năm về trước

Khi vận chuyển đã ra Hà Nội, ông Trương Phúc Chủ cũng chính là người đã đại diện cho nhân dân ra để bàn giao và tham gia quá trình xẻ đá, chọn đá để gắn thành cờ. Hơn 1 tháng ở Hà Nội cùng những nghệ nhân chế tác, các nhà khoa học cuối cùng 2 lá cờ đã hoàn thành (mỗi lá cờ dài 1,2m, rộng 80cm) sau khi hoàn  thành  Lăng Bác, 2 lá cờ được đặt nơi trang trọng nhất mà đến ngày nay những ai viếng thăm Lăng Bác đều thấy rõ 2 lá cờ màu đỏ tươi được làm bằng đá Hồng Ngọc ngàn năm sau màu sắc chẳng phai mờ (theo nghiên cứu của các nhà khoa học khi chọn đá Hồng Ngọc làm cờ).

Câu chuyện về đá Hồng Ngọc được dùng làm 2 lá cờ đặt nơi trang trọng nhất trong Lăng Bác cho đến ngày nay vẫn là một dấu ấn lịch sử của người dân vùng núi Bá Thước khi chính những đôi bàn tay, công sức của họ được khắc ghi trong một công trình vĩ đại của đất nước – Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bài, ảnh: Phúc Ngư

tamnhin.net

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Song song với việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Trung ương rất quan tâm tới việc xây dựng lăng mộ của Người. Quan điểm yêu cầu xây lăng mộ được thống nhất trên tinh thần tính hiện đại, dân tộc, trang nghiêm nhưng giản dị và thuận tiện cho nhân dân vào thăng lăng. Lăng nằm gần ở Quảng Trường Ba Đình là trung tâm trong tổng thể các di tích lịch sử: Quảng Trường Ba Đình, khu lưu niệm Bác ở Phủ Chủ Tịch và các khu vực tiếp giáp, đặc biệt sau này có thêm bảo tàng Hồ Chí Minh như một bông sen trắng nổi lên tô đẹp thêm quần thể các di tích đặc biệt về Bác. Vấn đề xây lăng mộ cho bác được các cơ quan cao nhất của Đảng và Nhà Nước ta đặc biệt quan tâm. Bên cạnh đó Đảng và Chính Phuủ Liên Xô hết lòng giúp đỡ, xem đây là một trách niệm lớn lao và quang vinh với Bác Hồ kính yêu.

Từ ngày đầu Liên Xô đã cử các đoàn chuyên gia sang cùng ta trao đổi kinh nghiệm xây lăng mộ, cùng bàn bạc chân tình cởi mở từ bản dự thảo “nhiệm vụ thiết kế” đến gửi sang giúp ta trang thiết bị trong lăng. Liên Xô huy động nhiều cơ quan, viện nghiên cứu cùng một tập thể các nhà khoa học tài năng ngày đêm khẩn trương hoàn chỉnh các tài liệu về các phương án thiết kế, với một khối lượng công việc đồ sộ, thể hiện kết quả cao nhất của tri thức khoa học tiên tiến và tình cảm đặc biệt đối với Bác Hồ. Hướng về Bác Hồ kính yêu từ tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam, ai cũng muốn góp phần công sức của mình để được xây dựng lăng Bác. Từ tập thể các kiến trúc sư đến những chiến sĩ công binh, từ mỗi người dân đều muốn tìm một kỷ vật gì đó mong được góp phần xây lăng, đến các chiến sĩ quân giải phóng vừa đánh giặc vừa tìm gỗ quý gửi ra miền Bắc xây lăng. Tất cả dân tộc hướng về Bác nhân dịp xây lăng để tỏ tấm lòng thành trước Bác, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước công lao trời biển của bác dành cho dân tộc.

Thể theo nguyện vọng của nhân dân để mỗi người dân đều góp ý kiến về việc xây lăng. Trung ương quyết định mở đợt sáng tác mẫu thiết kế lăng và ở các địa phương đều tổ chức trưng bày các mẫu sáng tác để lấy ý kiến nhân dân. Tổng kết đợt lấy ý kiến nhân dân có tới 745.487 lượt người tham gia, trong đó có 34.022 lượt người ghi ý kiến đóng góp. Nhiều thiết kế lăng bác được các tác giả tham khảo kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm trong lịch sử kiến trúc dân tộc. Trên thế giới, có nhiều công trình tưởng niệm lăng mộ vĩ đại, thể hiện tính dân tộc như mộ các vua Pharaol – thể hiện tính dân tộc sâu sắc Kim Tự Tháp Ai Cập có phương án lấy chủ đề tư tưởng “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”. Bác sinh ra từ làng sen, lăng bác được thể hiện như một khối bông sen cách điệu. Có phương án khá độc đáo: tại khu Ba Đình đắp một quả đồi khoảng chừng một triệu mét khối đất, xây lăng bác trên quả đồi này. Trên đỉnh lăng có thiết kế như một lầu thờ, xung quanh là hồ nước và cây xanh, rất nhiều ý kiến đồng phương án này vì cho rằng nơi tưởng niệm các vua Hùng cùng trên đồi cao, hàng năm nhân dân sẽ đến trồng cây tưởng nhớ Bác. Hơn nữa, quả đồi cao từ xa có thể thấy phần lăng Bác, lầu thơ trong phảng phất “Khuê Văn Các”, đường nét cổ kính phù hợp với những cấu trúc hiện đại. Cuối cùng phương án chính chọn có sự kết hợp nhiều phương án tổng hợp lại: khối chính của lăng đặt trên bệ tam cấp gần gũi thân thuộc phong cách kiến trúc người Việt, thân lăng gợi hình dáng ngôi nhà giản dị 5 gian như bao ngôi nhà của người dân Việt Nam. Bậc tam cấp được làm ở mái lăng có hình vát, gợi lên đường nét kiến trúc cổ kính đình làng nơi hội tụ của mỗi tâm hồn quê hương.

Bàn về vị trí lăng, cũng có nhiều ý kiến phong phú. Có ý kiến đề nghị lăng đặt trong vườn Phủ Chủ Tịch, có người muốn xây lăng gần núi Tam Bảo, hay đền Hùng, hoặc đưa về quê bác Làng Sen. Nhiềy ý kiến đề nghị nên giữ lại đài Ba Đình cũ làm nơi lưu niệm lịch sử, lăng tách khỏi lễ đài, có ý kiến xây lăng quay về hướng nam phù hợp với phong tục làm nhà của nhân dân ta và hợp với tấm lòng bác hướng về miền Nam – thành đồng tổ quốc, nhiều thư từ gửi về bày tỏ nhiều nguyện vọng với nhiều ý tưởng rất hay cả về mặt kiến trúc về mặt tình cảm. Có thư đề nghị làm “Núi Bác Hồ”, dùng sức nổ đục quả núi lớn thành pho tượng bác hồ, một công trình điêu khắc độc đáo sẽ trở thành trung tâm danh lam thắng cảnh tập trung những tưởng niệm bác, di tích, bảo tàng về lịch sử dân tộc, về cuộc đấu tranh giữ nước và dựng nước. Cuộc trưng cầu ý dân về xây lăng bác trở thành đợt sinh hoạt chính trị chưa từng có, thể hiện trí tuệ của quần chúng nhân dân vô cùng to lớn, phong phú, sâu sắc và tình cảm đối với Bác, với cách mạng thật lớn lao.

Mọi mặt chuẩn bị xây lăng đã chín mùi. Ngày 3/11/1971, thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quyết định chính thức thành lập ban phụ tránh xây dựng lăng chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí Đỗ Mười, Phó thủ tướng làm trưởng ban. Những người được lựa chọn tham gia xây dựng lăng bác hội tụ các điều kiện tốt về tinh thần nhiệt tình, sức khỏe tốt và trình độ chuyên môn cao. Tham gia xây dựng công trình, lực lượng chính, chủ công nòng cốt là bộ kiến trúc và bộ quốc phòng. Giữa lúc không khí hào hứng xây dựng lăng bác đang dâng cao, thì đột nhiên tình hình chiến sự thay đổi. Trung ương nhận định địch sẽ đánh phá Hà Nội, do đó tạm dừng thi công công trình lăng bác một thời gian.

Trong những ngày điện biên phủ trên không, ở Hà Nội bộ phận lớn đã kịp thời sơ tán để bảo toàn mọi lực lượng, nhưng ở nơi sơ tán mọi việc chuẩn bị vẫn được tiến hàng khẩn trương. Đặc biệt công tác nghiên cứu các phương pháp thi công khoa học nhanh chóng, hiệu quả nhất. Trong đợt không quân Mỹ đánh phá Hà Nội, phó chủ tịch là một trong những mục tiêu chúng bắn phá của chúng. Một quả tên lửa đã bắn trúng phủ chủ tịch gây ra một số thiệt hại. Cấp trên kịp thời chỉ thị cho đơn vị công binh có biện pháp để bảo vệ an toàn ngôi nhà sàn của bác. Những trận oanh kích ác liệt ở miền bắc nước ta, Mỹ không làm lung lay ý chí quyết thắng của nhân dân Việt Nam, cả trên trận địa, cả trên bàn đàm phán. Ngày 28/1/1973, chúng buộc phải ký hiệp định Paris rút quân khỏi Việt Nam. Tin chiến thắng đồng thời đối với những người vinh dự được lực chọn xây lăng Bác là nỗi mừng khôn xiết vì từ nay thực sự được làm nhiệm vụ quanh vinh mà bấy lâu mong chờ. Lực lượng tham gia xây dựng lăng chủ yếu là quân đội, nhưng có một số hạng mục công trình do yêu cầu kỹ thuật bên quân đội không đủ điều kiện theo yêu cầu. Được sự chấp nhận của cấp trên, một bộ phận lớn công nhân kỹ thuật các ngành dân sự được biệt phái vào quân đi để tham gia thi công xây dựng. Các ngành, các địa phương sẵn sằng cả về nhân lực và vật lực luôn sẵn sàng khi đoàn có yêu cầu là đáp ứng được ngay với chất lượng cao. Khi Mỹ ném bom Hà Nội, ta yêu cầu Liên Xô tạm thời ngưng những hoạt động liên quan đến xây dựng lăng. Sau khi Mỹ rút ta tiếp tục trở lại công trình được ngay, nhưng ở Liên xô kế hoạch trong năm họ không đặt ra nên không thể giúp ta được ngay. Đặc biệt những chủng loại thiết bị tối tân, bạn cũng phải đặt mua các nước khác nên phụ thuộc nhiều vào nơi sản xuất. Nhưng trong cái khó ló ra cái khôn. Ta chủ động cử người sáng các công trình xây dựng tìm vay các trang thiết bị cần thiết mà Liên xô đã ký giúp xây dựng lăng, sau đó chính phủ Liên Xô sẽ hoàn trả lại. Do tính cấp bách và quan trọng của công trình nên những cơ sở đó luôn tạo điều kiện thuận lợi cho ta, thể hiện tình cảm lớn của nhân dân Liên xô đối với Bác Hồ. Trong chiến đấu họ hết mình giúp ta, trong xây dựng những công trình quan trọng, bạn cũng dành ưu tiên cho ta. Công trình xây dựng bề bộn, thời gian đầu do chưa quen công việc trong phối hợp nên có phần bỡ ngỡ, nhưng dưới sự lãnh đạo sát sao và tinh thần trách nhiệm của mỗi người ở mức cao nhất, nên những đặc điểm đó nhanh chóng được khắc phục. Học hỏi trao đổi kinh nghiệm và kiến thức ngay trên thực tế công trình. Trên tinh thần vừa làm vừa học, nhanh chóng nắm bắt được những yêu cầu kỹ thuật bậc cao. Có những việc tưởng không phải đi học thời gian lâu mới làm được nhưng ngay ở công trình được sự hướng dẫn của những người có chuyên môn, anh em đã nhanh chóng làm chủ được kỷ thuật. Cả nước hướng về công trình lăng Bác, một công trình đặc biệt quan trọng, như muốn nhắn nhủ muôn thế hệ mai sau, thông qua chương trình, tình cảm của thế hệ dựng nước luôn hướng về Bác kính yêu làm nên chiến thắng. Vào thời điểm xây lăng Bác, tất cả các địa phương đến cơ quan đơn vị khi gặp công việc liên quan đến xây dựng công trình, là dành sự ưu tiên tuyệt đối. Cảng Hải Phòng bề bộn công việc bốc xếp hàng hóa trong nước và quốc tế, nhưng hễ kiện hàng nào phục vụ cho công trình lăng Bác là ưu tiên giải quyết trước. Họ xem đó không những là trách nhiệm của thành phố cảng, mà còn là vinh dự lớn lao được phục vụ Bác Hồ. Ngành đường sắt không những dành những chuyến tàu ưu tiên, mà còn dành những toa đầu, những toa tốt nhất cho công trình. Tỉnh Ninh Bình dành cho công trình những chiếc máy cắt thép tấm duy nhất. Nhà máy cán thép Gia Sàng nhận làm toàn bộ vỏ nhôm bảo ôn ống nước và cho mượn palăng, tời, máy đánh gỉ, máy uốn ống. Bộ tư lệnh phòng không quân cho mượn nhiều loại máy đo lường điện- điện tử. Nhà máy Từ Sơn, cơ khí điện ảnh và xưa xưởng quân giới X10 nhận sản xuất hàng chục vạn bộ bulông đai ốc co chất lượng cao để liện kết các đường ống hơi, ống nước của công trình búa đóng cọc và cọc bản thép chưa sang kịp, nhịp độ thi công không thể dừng lại. Công trường đã được su hỗ trợ cọc thép và máy đóng cọc từ Hải Phòng kết hợp với chiếc búa điêzen của bộ xây dựng kịp thời đóng lũy thép bao quanh hố móng công trình. Hai chiếc búa thi nhau hối hả ngày đêm lập nên kỷ lục đóng cọc chưa bao giờ có trong lịch sử xây dựng Việt Nam. Một ngày một máy có thể vượt trên 30 cọc với chất lượng cao nhất, trước sự kiểm tra ngặt nghèo của bộ kỷ thuật. Một thời gian rất ngắn, 1.200 cọc thép được đóng xong, tạo thành bức tường thép vây kín hố móng công trình. Thi công vào thời điểm tháng 8, những cơn mưa xối xả. Những người xây dựng từ công nhân đến cán bộ chỉ huy đẫm mình trong mưa bất kể ngày đêm vất cả khó nhọc. Nỗi lo của họ không phải là những cơn mưa mà là nguyên vật liệu không đủ cho thi công để kịp thời đổ bê tông phần ngầm trước mùa lụt, đám bảo tiến độ thi công của công trình. Thử thách gay go đối với bộ phận vật tư là làm sao huy động cả trong nước và ngoài nước để vật liệu đến kịp công trình. Nhưng rồi như có một sự linh nghiệm, sang bạn, đến các cơ sở của bạn, họ đều nhiệt tâm ủng hộ. Trong nước kết hợp thu gom và khai thác, cuối cùng bài toán khó vật tư đã được giải đáp.

Công trình xây dựng lăng Bác là một công trình mang tính xã hội sấu sắc, hàng vạn lượt người lao động tự nguyện lên công trình như vào ngày hội quần chúng to lớn, các cơ quan đóng ở Hà Nội từ trung ương đến địa phương ai cũng xung phong tình nguyện lên công trình. Nhiều đồng chí lãnh đạo của đảng và nhà nước mặc dầu công việc bề bộn nhưng cũng dành thời gian tham gia lao động với tập thể hòa quyện với nhau trong không khí hăng say quên mình. Thầy trò các trường học xung phong lao động xã chủ nghĩa trên công trường. Công trường là ngày hội toàn dân. Do mặt bằng thi công hẹp nên cùng một lúc không thể đáp ứng số lượng người làm được nhiều do đó phải b trí các cơ sở luân phiên nhau. 60 ngày đêm lao động trong không khí đặc biệt sôi động – công đoạn đầu tiên- hố móng lăng bác đã hoàn thành.

Bước tiếp theo công trình đòi hỏi những yêu cầu mới, cần huy động nhân lực, vật lực ở diện rộng hơn cả về trình độ kỹ thuật với tư tưởng độc lập tự chủ, việc gì ta làm được thì tự làm không chờ viện trợ bên ngoài. Trên tư tưởng đó, nhà máy xi măng Hải Phòng tập hợp những cán bộ kỹ sư giỏi ngày đêm gấp rút nghiên cứu loại xi măng mác cao để phục vụ công trình. Quy trình sản xuất với kỹ thuật mới, đến việc chọn lựa loại đá Tràng Kênh, những khối đá có chất lượng cao và tuyển nguyên liệu phụ gia xi măng lấy đất ở vùng Cổ Tháp. Cuối cùng loại xi măng mác cao đầu tiên do Việt Nam sản xuất được ra lò đáp ứng ngay cho công trình lăng bác. Hàng chục tấn xi măng được chuyển tới công trình. Trên mỗi bao bì đều in đậm dòng chữ : “đời đời nhớ ơn Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. Chọn đá dăm phục vụ xây lăng, các cán bộ kỹ thuật tìm đến khu vực thác Bà và xác định chất lượng và hình dáng phù hợp nhất với kết cấu bê tông vĩnh cửu. Đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Thái nô nức như ngày hội trên khu vực khai thác đá dăm gửivề xây lăng bác. Mọi người tự hào những viên đá dăm của quê hương mình sẽ tạo nên sự vĩnh hằng xung quanh bác trong giấc ngàn thu. Việc tìm kiếm cát vàng xây lăng được cán bộ kỹ thuật lựa chọn công phu. Theo tài liệu của Pháp khi khảo cứu chất lượng cát xây dựng ở Việt Nam chỉ chất nhận cát vàng ở sông Lô là có chất lượng cao nhất. Trên thực tế ta cũng đã nhiều năm khai thác nơi đây để xây dựng nhiều công trình. Nhưng công trình xây lăng Bác là công trình đặc biệt, nên việc lựa chọn chất liệu không chỉ qua thông tin quá khứ mà phải kiểm nghiệm trên thực tế khoa học. Khi đưa cát đó kiểm tra thì vẫn còn một số bùn tạp chất, do đó yêu cầu kỹ thuật chưa đát. Cuộc tìm kiếm cát được mở ra diện rộng. Cuối cùng phát hiện ra cát vàng ở vùng sông Bôi là cát có chất lượng cao nhất. Đây là loại cát vàng từ sỏi vỡ vụn ra, rắn và sạch, vàng óng ánh, hầu như không có tạp chất. Từng núi cát vàng óng ánh đưoc bà con các dân tộc tỉnh Hòa Bình chất lên để chở, hàng đoàn xe đưa cát về Hà Nội xây lăng Bác.

Quyết tâm của công trình là phải hoàn thành trước mùa mưa lũ những hạng mục công trình cơ bản. Nhưng những yếu tố khách quan chưa lường được ngày đêm gây bao khó khăn cho tiến độ. Một công trình lớn, lại vừa thiết kế vừa thi công, nguyên vật liệu thiếu thốn phải đi gom nhặt khắp nơi. Mặc dầu nơi nào cũng sẵn sàng giúp đỡ vô điều kiện. Công trình đang trên đà tiến triển, nguyên vật liệu đá đã được chuẩn bị đủ, nhưng bộ phận bảo vệ phát hiện trong đá đang dùng có chất phóng xạ nguy hiểm vượt quá mứa cho phép. Đây là một phát hiện cực kỳ quan trọng, cần có sự kiểm tra bằng các phương tiện hiện đại, nhưng ở nước ta chưa có. Do đó phải cử cán bộ mang mẫu đá sang nhờ phương tiện khoa học của bạn giúp. Khi được kiểm tra chính xác, các thông số kỹ thuật cho phép loại đá đó tiếp tục xây dựng không có ảnh hưởng gì cả. Nhưng thời gian thì bị chậm lại rất nhiều so với du kiến.

Việc lắp ráp bảo đảm hoạt động của lăng là một công việc phức tạp. Theo thỏa thuận được ký kết giữa ta và bạn, ta chịu trách nhiệm lắp ráp, ban lo cung cấp máy móc phương tiện. Nhưng trên thực tế cả hai mặt trên đều khó khăn. Về phần ta thì trình độ tay nghề còn yếu chưa đảm đương được những hạng mục công trình khó. Về phía bạn, thì bạn đặt mua máy mãi tới năm 1974 mới đưa sang được. Theo thời hạn thì ngày 2/9/1975 lăng sẽ mở cửa đón đồng bào, đồng chí viếng bác. Khó khăn của ta được bàn bạc kỹ lưỡng để tìm giải pháp khắc phục. Lực lượng kỹ thuật cần bao nhiêu, nơi nào có thể đáp ứng được. Lúc nào bộ quốc phòng phải sẵn sàng tung những át bài chủ của mình mới giải quyết được công việc. Những chiến sĩ công binh ưu tú của bộ tư lệnh công binh được phép tập kết trên công trình trước tết nguyên đán hai ngày. Họ đón tết cổ truyền dân tộc ngay trên công trường với không khí lao động quên mình. Họ hiểu sâu sắc rằng Bác là người cha của các lực lượng vũ trang, được xây lăng Bác là một vinh dự lớn, một trách nhiệm vẻ vang. Bạn đưa sang giúp ta những chuyên gia kỹ thut giỏi, giàu lòng nhiệt tình với cách mạng Việt Nam và có tình cảm quý mến sâu sắc với Bác Hồ. Công trường rộn tiếng búa, tiếng cười nói hòa trong màu sắc áo lao động, trên nền màu áo xanh nổi bật của những người lính trẻ.

Đóng góp sức người sức của để xây dựng lăng Bác, như một tiếng gọi thiêng liêng mà mỗi người dân, mỗi địa phương như muốn dành những gì ưu tú nhất của quê hương để được dâng lên người. Các chiến sĩ miền Nam, không được vinh dự đón Bác vào thăm, thương tiếc Bác vô hạn, họ đã cầm súng vững vàng hơn để cho ngày độc lập được đến gần. Khi nghe tin xây lăng Bác, các chiến sĩ quân giải phóng đã vào rừng tìm gỗ quý gởi ra miền bắc xây lăng Bác. Miền đông tìm được cây gỗ quý Nu có đến hàng trăm năm tuổi, có màu vàng tươi, viền xung quanh màu nâu sậm, vân gỗ thanh thoát chỗ góc nướu cuốn xoắn tạo thành những hình mây bay sóng lượn. Cây gỗ được đưa từ Lộc Ninh trên chặn đường gian nan 20 ngày đêm. Trong buổi lễ trao tặng gỗ quý, đồng chí phó tư lệnh Nguyễn Thị Định thay mặt đồng bào chiến sĩ miền Nam nói lên tấm lòng với Bác: “ cây gỗ Nu quý giá tượng trưng cho sức sống kiên cường bất khuất của nhân dân miền Nam. Với tấm lòng trung chinh vô hạn, đồng bào, chiến sĩ kính dâng lên Bác để ghi nhớ công ơn cha già dân tộc”. Bộ đội Trường Sơn cũng gửi cây gỗ Trắc đại thọ ra góp phần xây lăng, rồi các địa phương Quảng Nam- Đà Nẵng đi đầu diệt Mỹ, Tây Nguyên kiên cường gửi những cây gỗ Trắc đẹp nhất để góp phần làm đẹp thêm ngôi nhà của Bác”. Chuyển gỗ ra bắc lăm gian nan vất vả, có khi còn đổ máu hy sinh. Những cây gỗ quý hiếm miền Nam sẽ được chọn làm những hạn mục công trình quan trọng làm đẹp thêm cho công trình, như cửa ra vào lăng, lan can…

Nếu như cả công trình là một trận đánh thì việc đổ bê tông phần ngầm là một đột phá khẩu cực kỳ quan trọng. Theo kinh nghiệm tính toán thì khả năng đổ cao nhất một ngày chỉ khoảng 200m³, muốn hoàn thành công trình đúng thời gian thì phải nâng mức đổ lên 400m³. việc đó ngoài dự đoán của nhiều người. Nhưng đối với các chiến sĩ công binh đã từng dày dạn kinh nghiệm trận mạc, họ hiểu thế nào là khả năng tạo nên chiến thắng mà không một ai, không một lý thuyết nào có thể tính toán được. Khả năng sáng tạo của những người lính Cụ Hồ lại một lần nữa được kiểm chứng. Ngoài những công cụ hiện đại như cần cẩu lớn, xe ben chuyển vật liệu, … tất cả tạo nên một sự hợp đồng binh chủng các lực lượng đều là thủ công. Do vậy, năng suất tăng vọt khó ai có thể tin được. Trận chiến thách thức với thời gian đối với các chiến sĩ chỉ là một sự khẳng định thắng lợi của ý chí và sức sáng tạo hoàn thành đúng tiến độ phần ngầm, tạo tiền đề thuận lợi cho những bước tiếp theo.

Phần nổi và phần trang trí mỹ thuật không nặng nhọc nhưng yêu cầu kỷ thuật cao. Công trình lăng Bác là một công trình văn hóa nghệ thuật. Phần công việc trang trí chiếm gần hơn một nửa thời gian xây dung đòi hỏi trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao. Nhìn toàn bộ phía trong và ngoài lăng như một khối kiến trúc làm bằng đá. Nhận thấy đất nước ta có nhiều mỏ đá quý cho nên lúc đầu ta nhận hoàn toàn cung cấp đá ốp lát trong và ngoài. Nhưng không ngờ việc cắt xén đá, công đoạn mài đá đòi hỏi hỹ thuật cao, mới có tảng đá bảo đảm chất lượng cao đặc biệt có loại đá bảo đảm đúng yêu cầu thì ta phải nhờ Liên Xô giúp. Hai vạn miếng đá quý được cho từ Liên Xô sang kịp thời. Bên cạnh đó ta cố gắng khi thác những mỏ đá quý như An Dương. Ở nước ta có những mỏ đá quý đặc biệt, màu sắc và độ cứng bảo đảm tốt. Loại đá màu xám đậm có nhiều nét vân hoa tạo nên vẻ tôn nghiêm thành kính của lăng. Dòng chữ “ chủ tịch Hồ Chí Minh” trên nóc lăng được chọn loại đá ngọc Cao Bằng. Cứa chính của lăng được ốp bằng đá đen bóng, như tấm gương phản chiếu trong lung linh, phòng khách và lối lên lễ đài nền và bậc cầu thang cũng lát bằng đá hoa cương. Tường lát bằng đá cẩm thạch, loại đá mềm, mịn. Tường chính mặt tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng tươi, làm nền cho dòng chữ “ không có gì qúy hơn độc lập tự do” và chữ ký của Bác bằng vàng nổi lên rực rỡ. Phòng Bác nằm làm bằng đá cẩm thạch Hà Tây. Những viên đá có hình chữ nhật xếp hình thắng đứng tu chân tường lên đến đỉnh trần, làm ta liên tưởng tới những thanh gỗ lát ở nhà sàn Bác, tạo cảm giác ấm cúng, yên tĩnh, trang nghiêm như thầm nhắc ta hãy nhẹ nhàng giữ yên giấc ngủ của Bác. Phía trước bức tường cao được ghép loại đá hồng ngọc, một loại đá trên triền núi trùng điệp Bá Thước tạo nên hình hai là cờ- cờ Đảng và cờ Tổ Quốc trang nghiêm hướng phía đầu Bác nằm nghỉ. Những cây gỗ quý được lựa chọn làm thành 200 bộ cửa. Tất cả gỗ được xẻ bằng tay cẩn thận và tiết kiệm, vì mỗi miếng gỗ đều thấm mồ hôi xương máu của của đồng bào miền Nam. Những thợ xẻ gỗ giỏi của miền Nam Hà được huy động để xẻ kịp thời gian. Gỗ xẻ xong còn phải được mang ngâm tẩm chống mối mọt, sấy khô bằng lò sấy hiện đại. Những nghệ nhân nổi tiếng nghề mộc của các tỉnh Nghệ An, Nam Hà, Hà Bắc, được hội tụ để thi hối tài năng. Đặc biệt có gia đình nổi tiếng làm nghề đóng cửa ở Gia Hòa xin được tự nguyện về làm cửa lăng Bác, gia đình nghệ nhân này hàng bao đời nổi tiếng nghề mộc, làm nơi đâu nổi tiếng đến đó. Cánh cửa vào chính là do hai bố con làm. Cửa chốt theo kiểu mộng mòi, có khóa cài cả hai chiều, không cần ke, không cần đóng chốt, khó phân biệt mối ghép. Tất cả như được kết tụ tinh hoa kỹ xảo truyền thống của nghề mộc cổ truyền dân tộc Việt nam. Các chuyên gia nước ngoài không ngớt lời khen ngợi “đôi bàn tay vàng” của nghệ nhân Việt Nam. Cửa ra vào lễ đài được ốp đá, những cánh cửa tiếp giáp với mưa nắng được phủ lớp nhựa chống nứt. Trang trí trong lăng, ngoài đá, gỗ, còn có các loại kim loại khác như trần làm bằng nhôm, lan can mạ kền, lưới gió, tay vịn bằng đồng. Mỗi vật liệu đưa vào trang trí đều được hội đồng thẩm định chất lượng kiểm tra thu nghiệm chu đáo.

Một công việc không kém phần quan trọng là lắp rắp các trang thiết bị điện, nước, điều hòa thông gió cho công trình. Trong đó hệ thống điều hòa Liên Xô đặt làm ở nước khác nên phải phụ thuộc ở nhà máy thông báo các thông số kỹ thuật mới tiến hàng việc thiết kế lắp đặt. Mọi công việc đều phải tiến hàng sau các hạng mục công trình khác, lại đòi hỏi kỹ thuật cao, đối với nước ta lại hoàn toàn mới mẻ với tinh thần tự chủ sáng tạo. Những người đảm nhận công việc này không thụ động ngồi chờ mà luôn tự chủ gia công, hoặc gom góp những cơ sở trong nước sẵn có nhưng với điều kiện bảo đảm kỹ thuật. Những sáng tạo, phát minh mới có đội ngũ kỹ sư, công nhân Việt Nam một lần nữa được khẳng định, những ống hơi, bảo tồn ôn, chi tiết ổ điện, chia dây, giá móc đều tự gia công, khi kiểm tra đều phải bảo đảm tiêu chuẩn. Mỗi múi bàn đều được bàn tay khéo léo của người thợ Việt Nam bàn với trình độ cao nhất. Làm việc trong điều kiện trên công trường nhiều bộ phận cùng thi công, có những lúc phải tranh thủ thi công nhanh. Mục đích cao nhất là chất lượng và tiến để kịp thời với công trình. Những hệ thống thông gió phải lắp đặt trên những độ cao 21m, những đoạn ống to nặng lại đòi hỏi chính xác cao, khi lặp đặt nếu không huy động trí tuệ tập thể thì khó có thề thành công nhanh chóng. Sáng kiến dùng tời, lắp đặt theo từng đoạn rồi liên kết với nhau đã tạo nên hiệu quả công việc rất cao ngay cả chuyên gia bạn rất ngạc nhiên đến thán phục. Lắp đặt tổng đài điện thoại và hệ thống camera là những công việc mới và tỉ mỉ, công phu.

Đặc biệt công việc lắp rắp hệ thống điều hòa diễn ra căng thăng vì đây là một trong những công đoạn quan trọng, bảo vệ giữ gìn thi hài lâu dài về sau này, máy móc nhiều chủng loại mới mẻ được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới. Có tất cả 17 hệ thống hơi, điều hòa. Có 4 hệ điều hòa trung tâm nặng 160 tấn thuộc loại hiện đại nhất thế giới, hệ thống thông gió bảo đảm một giờ thông được 8m³ khí. Để đưa máy nén nặng 7 tấn của trạm lạnh lên giá, nhờ có sáng kiến mà công việc tăng năng suất lên 200%. Hệ thống cấp thoát nước, đảm bảo nhu cầu nước rất lớn của lăng, phải xây dựng một nhà máy nước riêng, bảo đảm một ngày cung cấp được trên một vạn mét khối nước. Phải lắp đặt một hệ thống bình chứa trên 5.000m³ nước. Ngoài ra công trình còn có những hạng mục đặc biệt như hệ thống báo cháy tự động, hệ thống bảo vệ điều khiển từ xa hệ thống nâng hạ linh cữu bác lắp đặt đặc biệt hiện đại, chính xác, ánh sáng đèn có nhiều tia, khúc xạ bởi các lăng kính hợp lý, hòm kính linh cữu bác đặc biệt trong suốt, kín tuyệt đối. Hệ thống bảo đảm an toàn tuyệt đối trong mọi trường hợp sự cố xảy ra tất cả những máy móc tinh xảo, phải có trình độ kỹ thuật cao mới hoàn thành công việc được, những người thợ tài hoa của Việt Nam đã lắp đặt thành công.

Lăng Bác được tôn nghiêm đẹp hơn trên nền quảng trường Ba Đình lịch sử. Nơi đây Bác đã khai sinh nước Việt Nam mới, đã chứng kiến bao kỷ niệm với Bác với cách mạng. Cùng tiến hành xây lăng bác, đồng thời quảng Trường cũng được tôn tạo lại. Tổng diện tích xây dựng toàn bộ là 14ha, riêng phần Quảng Trường trước lăng có diện tích 2,8ha chứa khoảng 10 vạn người chia thành 168 ô vuông trồng cỏ, giữa có lối đi rộng 1,4m xung quanh quảng trường có hè rộng 7m. Tổng diện tích lát hè là 7.800m². Dưới mặt đất có hệ thống thoát nước nối với hai trạm bơm đặt ngầm dưới lòng đất. Đường Hùng Vương đi qua trước lăng làm bằng bê tông cốt thép, có chiều dài 1.060m, đường Bắc Sơn dài 280m, đường Ba Đình dài 400m. Toàn bộ công trình làm lăng quảng trường được giao cho cán bộ, các ngành và địa phương đảm nhận thi công. Bộ xây dựng làm các hạng mục công trình bê tông, hệ thống cấp thoát nước. Bộ giao thông vận tải huy động xe vận tải và làm đường rải nhựa, tổng cục bưu điện thi công hệ thống thông tin, truyền thanh, phát thanh tổng cục lâm nghiệp phủ màu xanh cho quảng trường, chuẩn bị cây xanh, cây cảnh. Đường Hùng Vương trồng Chò Nâu Vĩnh Phú, đường Bắc Sơn trồng hoa Ban giáp lòng đường. Các loại cây được chọn từ khắp mọi miền đất nước cùng hội tụ về đây như thay mặt nhân dân các dân tộc, cho mỗi quê hương được ngày đêm đứng bên Bác giữ yên giấc ngủ ngàn thu của Người. Những khóm trúc Pác Bó gắn bó những tháng năm gian khổ cháo bẹ rau măng thời kỳ đầu mới về nước, những cây dầu nước lấy từ chót mũi Cà Mau nơi Bác vẫn muốn về thăm lúc người vẫn còn sống. Cây đa lấy từ Tân Trào gắn với kỷ niệm quốc dân đại hội và đội tuyên truyền giải phóng quân ra đời. Những luống cây, cây tre từ quê hương Lê Lợi, những cây quế Trà Mi, cây Lòng Boong xứ Quảng, cây đào được chiết từ cây đào Tô Hiệu. Những cành mai từ miền nam gửi ra. Phía sau lăng được trồng những giống hoa lúc sinh thời Bác rất ưa thích như nhài, hương mộc, dạ hương, được kết hợp suốt bốn mùa khoe sắc hương bên bác. Phía hai bên lăng óng ả hàng tre tươi mát ngày đêm rì rào tiếng quê hương. Giống ngọc bút trắng được trồng cạnh hoa tường vi hồng tuơi. Phía trước sát bên lăng là hai hàng vạn quế. Dưới chân lăng hai cây Đại tượng trưng cho sự thanh khiết, trường tồn những chậu cây thế, cây cảnh nổi tiếng các nơi được đặt trong những bồn đúc riêng đặc biệt do các nghệ nhân ở các địa phương làm nên gửi đến. Bên Bác vẫn ngát hương sen của quê hương làng sen, của Đồng Tháp Mười, ngào ngạt hương sen lúc còn sống người vẫn ưa thích ngày ngày vẫn có trong lăng…

Ngày 22/8/1975, sau hơn ba tháng ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, một tin vui đến với đồng bào chiến sĩ cả nước: lăng Bác được khánh thành. Tất cả đều sẵn sàng đón Bác vào lăng để ai ai cũng ngắm Bác, nhìn thấy Bác, thỏa lòng mong ước lớn lao trong đời. Bộ phận đón khách được hình thành, 150 chiến sĩ lữ đoàn 144, trước đó được lệnh hành quân lên một khu đồi ở Vĩnh Phú, dựng một mô hình giống như mô hình lăng Bác để luyện tập. Những động tác như bồng súng đứng nghiêm, đi đều, đổi gác, khiêng hoa, dẫn khách được tập đi tập lại thuần thục chính xác từng chi tiết nhỏ, họ là những chiến sĩ tiêu binh ngày đêm giữ yên giấc ngủ của Người, là những chiến sĩ bảo vệ anh ninh khu vực lăng, bảo vệ an toàn cho đồng bào chiến sĩ vào lăng viếng bác.

20h ngày 18/7/1975, lần di chuyển thứ sáu thi hài Bác, lần di chuyển cuối cùng đưa Bác về Ba Đình sau chặng đường dài mất sáu năm vất vả gian nan, đoàn xe đưa Bác về nơi yên nghỉ vĩnh hằng dừng bánh trước cửa chính cuả lăng. Bên linh cửu Bác, các đồng chí lãnh đạo trong khóe mắt xúc động nước mắt trước một con người vĩ đại nhất của dân tộc.

Hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều lăng tẩm của các nhân vật nổi tiếng về văn hóa, chính trị. Nhưng chỉ có Lênin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành và Bác Hồ kính yêu của chúng ta thi thể được ướp xác nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay. Theo đánh giá của các chuyên gia về xác ướp của Bác có thể để tới 1.000 năm và hơn thế nữa.

Cứ hàng năm từ tháng 10 đến tháng 12, lăng Bác lại tạm ngưng tiếp khách để bước vào thời gian trùng tu kiểm tra lại trang thiết bị, hệ thống máy móc trong lăng.

Được viếng lăng Bác, ta sẽ cảm nhận được những cảm giác xao xuyến lâng lâng khó tả như không muốn nói lời tạm biệt với Hà Nội. Có biết bao du khách đã nghẹn ngào, xúc động và sẽ không bao giờ quên những giây phút được nhìn thấy thi hài của Bác qua lăng kính, đã có bao người miền Nam ra thăm lăng Bác, trong dòng người đó có nhà thơ Viễn Phương. Chính những dòng cảm xúc sâu lắng đó đã bật thành thơ và đã trở thành bất hủ trong lòng người.

Viếng lăng Bác

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng cháy đỏ
Ngày ngày hàng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân
Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên
Giưã một vầng trăng sáng trong dịu hiền
Dẫu rằng trời xanh biếc là mãi mãi
Biết rằng biển xanh dẫu là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Mai về miền Nam nhớ Bác không nguôi
Muốn làm con chim ca hát quanh lăng
Muốn làm bông hoa hương toả đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này

saigontoserco.com

Gặp lại người tham gia xây dựng lăng Bác Hồ năm xưa

ANTĐ – Ngày 2/9/1969, Bác Hồ đột ngột ra đi để lại muôn vàn thương nhớ cho hàng triệu trái tim đồng bào cả nước. Những người con đất Việt nghẹn ngào nhớ thương vị Cha già của dân tộc đã vĩnh viễn đi xa

Nhiệm vụ thiêng liêng

Sau khi Bác Hồ vĩnh viễn ra đi, cả dân tộc Việt Nam quyết tâm “biến đau thương thành hành động cách mạng”, ra sức đánh Mỹ giải để phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Trong khí thế sục sôi đó, ở miền Bắc những kỹ sư người Việt Nam, kỹ sư Liên Xô cùng với hàng ngàn quân dân cũng đồng thời được huy động để xây dựng công trình lăng Bác Hồ.

Mỗi tỉnh thành lúc ấy đều cử người về Thủ đô để tham gia xây dựng lăng mộ Người. Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị lúc ấy cũng được vinh dự cử người ra Bắc tham gia công trường xây dựng. Những người được ưu tiên chọn đi là người có thành tích chiến đấu tại địa phương, có đạo đức và sức khỏe tốt. Và 6 người thay mặt toàn thể quân dân “đất thép Vĩnh Linh” gồm các đồng chí: Lê Văn Bình (xã Vĩnh Giang); Nguyễn Thanh Tự (xã Vĩnh Lâm); Nguyễn Văn Thái (xã Vĩnh Trung); Lê Hữu Nam (xã Vĩnh Tú); Nguyễn Đức Sà (xã Vĩnh Long); Nguyễn Kim Sắc (xã Vĩnh Kim) ra thủ đô Hà Nội tham gia xây dựng lăng Bác Hồ.

Ông Bình và bà Hiên những năm tham gia xây dựng lăng Bác Hồ

Sau khi biết được những dòng tin khá mù mờ về những người cựu binh từng tham gia xây dựng lăng Bác Hồ năm xưa, chúng tôi quyết định lần tìm về Vĩnh Linh. Dò hỏi nhiều lần, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được nhà ông Lê Văn Bình, người đội trưởng của những thanh niên Vĩnh Linh năm xưa tham gia xây dựng lăng của Người.

Căn nhà mái ngói đã ngả màu nắng mưa của gia đình ông Bình nằm khuất sau một ngõ xóm tại đội 7, thôn Cổ Mỹ, xã Vĩnh Giang. Khi chúng tôi đến, ông đang ngồi chẻ lạt cắt (lạt để bó lúa) dưới gốc cây na, còn giữa sân, bà Trần Thị Hiên (58 tuổi, quê Nam Định), vợ ông đang tranh thủ trời nắng trở lúa. Ông bà cho biết, đang là mùa gặt nên tranh thủ giúp con cháu chẻ lạt, phơi lúa. Nở nụ cười tươi, ông Bình rót nước chè mời khách. Sau dăm ba lời thăm hỏi, cuối cùng ông Bình cũng biết chúng tôi có ý trò chuyện với ông về những ngày ông cùng 5 thanh niên Vĩnh Linh ra thủ đô góp sức xây lăng Bác Hồ.

Ông Bình năm nay 67 tuổi, tóc đã bạc trắng nhưng vẫn còn khỏe mạnh và rất minh mẫn. Nhấp ngụm nước chè, ông Bình kể: “Hồi nớ tui và 5 anh em khác gồm anh Tự, Thái, Nam, Sà, Sắc cùng ở Vĩnh Linh bất ngờ được cấp trên điều ra thủ đô Hà Nội. Ban đầu tui và anh em không biết được điều ra đó làm chi, chỉ nghe nói là đi nhận công tác đặc biệt. Sau đó, tui được cho biết riêng là ra tham gia xây dựng lăng cho Bác Hồ”. Dường như vẫn chưa hết xúc động nhớ lại kỷ niệm đã qua 35 năm, ông bồi hồi cho biết thêm: “Lúc ấy biết mình được giao trọng trách ra tham gia góp sức xây dựng công trình thiêng liêng vậy nên tui đã không cầm được nước mắt, thấy lòng mình xúc động và tự hào lắm”.

Ông Lê Thanh Bình đang kể chuyện xây dựng lăng Bác năm xưa

Trong nhóm 6 thanh niên Vĩnh Linh được điều ra Hà Nội vào tháng 4/1973, ông Bình được phân về làm tại tổ tiếp nhận vật tư xây dựng như cát sạn, xi măng đồng thời quản lý một chiếc xe ủi. Ông Thái được phân làm thống kê công trường còn lại 4 người khác được phân vào tổ bê tông. Xác định lăng Bác là công trình cực kì quan trọng, có một không hai và rất đỗi thiêng liêng, và điều quan trọng là phải thi công trong thời gian nhanh nhất để sớm đưa thi hài của Bác Hồ vào an nghỉ nên toàn bộ khoảng 4.000 cán bộ, công nhân, kỹ sư tham gia công trình lúc ấy không ai bảo ai đều nguyện cố gắng hết sức mình. Xác định là làm gấp rút nhưng ai cũng cố gắng phải thi công công trình đảm bảo tuyệt đối an toàn, vĩnh cửu. Lúc ấy toàn bộ công nhân được huy động làm 24/24 giờ.

Ông Bình được phân về ở gần ngay sát căn nhà sàn mà Bác Hồ vẫn thường làm việc lúc còn sống trong Phủ Chủ tịch. “Mỗi lúc có dịp đi ngang qua căn nhà sàn đơn sơ, hay ngắm đàn cá trong ao mà Bác thường chăm bẵm anh em tui ai cũng trào nước mắt. Mỗi lúc như vậy anh em tui nắm chặt tay nhau quyết tâm cố gắng hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng”. Ông Bình cũng bồi hồi xúc động cho biết có lần Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn nắm tay từng anh em người Quảng Trị căn dặn phải cố gắng khắc phục mọi khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Cùng với anh em cả nước, những thanh niên Vĩnh Linh lúc ấy hăng hái làm việc với quyết tâm cao nhất để báo công lên Bác Hồ.

Cưới vợ tại công trường

Có một câu chuyện mà sau một hồi trò chuyện thật lâu ông Lê Văn Bình mới cười tủm tỉm, cho biết: “Tui đã cưới được vợ cũng từ công trường xây dựng lăng Bác Hồ đó. Đó là kỷ niệm không bao giờ vợ chồng tui quên”. Vừa lúc ấy, bà Hiên vừa trở lúa đi vào mắng yêu ông Bình bằng chất giọng Bắc đặc sệt “Chuyện lâu rồi ông kể làm gì cho các cháu nó ngại”. Vừa nói bà vừa cười rạng ngời kéo ghế ngồi xích lại bên ông. Mấy đứa cháu ngoại cũng xúm xít sà vào lòng ông bà làm nũng.

Ông bà nói mối tình của mình là mối tình Trung- Bắc keo sơn. Ấy là khi đó ông làm ở tổ tiếp nhận vật tư nên công việc có phần nhàn nhã. Bà Hiên lúc ấy cũng là công nhân vận hành máy trộn bê tông trên dàn cao tại công trường xây dựng lăng Bác. Nhiều lần ông tìm cách trèo lên dàn trộn bê tông phụ giúp bà. Từ những lần như vậy, hai người đã quen nhau và càng trở nên thân thiết. Từ hai người xa lạ, cùng được điều về làm nhiệm vụ thiêng liêng, chàng trai miền Trung khói lửa, kiên trung đã đem lòng cô gái miền Bắc đảm đang, nết na lúc nào không hay.

Và rồi sau một thời gian tìm hiểu bà cũng chấp nhận tình yêu của chàng trai quê “lũy thép Vĩnh Linh”. Bà Hiên với mái tóc màu muối tiêu đã cắt ngắn, cho biết: “Cũng vì thương và cảm kích tấm lòng chân thật của ông ấy nên cuối cùng tui đã chấp nhận yêu và cưới ông ấy”. Ngồi bên vợ, ông Bình cười rổn rảng cho biết vì thấy bà đẹp người, đẹp nết nên đã để ý và yêu thầm bà từ những lần đầu gặp nhau.

Vợ chồng ông Lê Thanh Bình

Và kết quả mối tình của ông bà lúc ấy đã đơm hoa kết trái bằng một đám cưới đơn sơ mà ấm áp được tổ chức ngay tại công trường vào tháng 6/1974. Nghe tin ông bà đám cưới, hầu hết công nhân đang tham gia xây dựng ở công trường đều gửi lời chúc phúc, người nào được nghỉ ca thì tham dự đám cưới của ông bà. “Nói là tổ chức đám cưới vậy thôi, chứ hai ông bà tui lúc đó có chi mô. Thuốc lá Tam Đảo thì anh em trong công trường ủng hộ mỗi người một ít, bánh kẹo cũng vậy, hoa bát (hoa tươi cắm trong chiếc bát ăn cơm) cũng tranh thủ chuẩn bị lúc nghỉ ca. Vợ tui thì chỉ ôm một bó hoa huệ trắng xúng xính bên tui trong ngày hạnh phúc. Thế là nên tình vợ chồng đó cháu”, đôi mắt đã hằn nếp nhăn của ông Bình ánh lên niềm vui, kể.

Ông Bình, bà Hiên bảo rằng dù đám cưới đơn sơ vậy nhưng đó có lẽ là kỷ niệm lớn nhất đời ông bà, không bao giờ quên. Và có một niềm vinh dự nữa tại thời điểm xây dựng công trình lăng Bác Hồ là trong số 3 người được kết nạp Đảng  thì 2 trong số đó là người Vĩnh Linh (gồm anh Tự và anh Sà).

Vợ chồng ông Bình bên các cháu của mình

Vào tháng 10/1975 những thanh niên Vĩnh Linh tham gia xây dựng lăng Bác cũng hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng và trở về quê nhà. “Hàng năm vào mỗi ngày Sinh nhật Bác 19/5, 6 anh em tui thường tổ chức một buổi gặp mặt tại nhà tui để anh em có dịp gặp nhau hàn huyên chuyện xưa. Nhưng đã mấy năm nay nhóm 6 người chúng tôi chỉ còn 5, vì ông Sắc đã mất do tai nạn”, giọng ông Bình vừa chợt chùng xuống. Ông Bình cũng cho biết, hiện tại đời sống của ông và các anh em khác cũng khá khó khăn. “Vợ chồng tui ao ước được một lần đặt chân ra Hà Nội viếng lăng Bác. Từ ngày tham gia xây dựng lăng Bác đến giờ vợ chồng tui vẫn chưa có dịp trở lại tại vì điều kiện khó khăn quá”, ông bà bồi hồi cho biết.

35 năm sau ngày lăng Bác hoàn thành, những thanh niên Vĩnh Linh từng tham gia xây dựng ngày ấy bây giờ có người đã mất, có người thành đạt, có người vẫn làm nông dân, có người gắn bó với đời ngư dân nhưng mỗi lúc nhắc về nhiệm vụ thiêng liêng đó họ lại cùng dâng niềm xúc động khó tả. Với họ, nhiệm vụ thiêng liêng đó sẽ là một phần ký ức đẹp trong đời của mỗi người lính Cụ Hồ ngày ấy.

Thiên Thư

anninhthudo.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Ngày Toàn quốc kháng chiến

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử Thứ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám đến gặp, trao tận tay cho Xanhtơni một bức thư ngắn, nội dung tỏ ý rất đáng tiếc về tình hình đã trở nên quá xấu và đề nghị: Trong khi chờ đợi quyết định của Pa-ri, tôi mong rằng ông sẽ cùng ông Hoàng Minh Giám tìm một giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại,(1).Nhưng Xanhtơni đã từ chối không tiếp và hẹn đến hôm sau mới nhận thư. Như vậy, mọi nỗ lực của ta nhằm duy trì hoà bình đã bị kẻ thù bác bỏ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ toạ Phiên họp bất thường của Thường vụ Trung ương Đảng được bắt đầu từ ngày 18/12/1946. Hội nghị đã quyết định phát dộng cuộc kháng chiến toàn quốc vào lúc 20 giờ ngày 19/12/1946.

Sau khi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp trao mật lệnh cho các mặt trận về ngày giờ cuộc giao chiến trong toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lời Kêu gọi toàn quốc kháng chiến tại gác 2, ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Dương làng Vạn Phúc (Hà Đông).

Đúng 20 giờ ngày 19/12/1946, tiếng súng kháng chiến toàn quốc vang rền, bắt đầu từ mặt trận Hà Nội, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền thanh khắp cả nước. Đây là một lời hịch cứu nước kết tinh ý chí sắt đá và trí tuệ sáng suốt của Hồ Chí Minh và của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc ta quyết tâm đứng lên chiến đấu vì độc lập của dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Văn kiện lịch sử quan trọng này chỉ có 205 chữ, song nó đã phác thảo ra những nét cơ bản về đường lối của kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta là: Toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến và dựa vào sức mình là chính.

Ngày Toàn quốc kháng chiến là một ngày lịch sử, đánh dấu mốc son chói lọi trên con đường đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc ta trên 2 phương diện:

Một là, quyết định toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh và Đảng ta, một quyết định đúng đắn vốn là kết quả của một thời kỳ Người và Đảng ta sáng suốt chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua những thử thách ghê gớm nhất.

Hai là, quyết định lịch sử này mở ra một thời kỳ kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài đánh bại đế quốc Pháp, mở ra thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời là chính quyền cách mạng đầu tiên của khu vực Đông nam Châu Á. Nhưng chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức. Về kinh tế, trận đói năm Ất Dậu (1945) đã giết hại hơn 2 triệu người, nền tài chính đất nước kiệt quệ. Về mặt văn hoá, đa số nhân dân ta rơi vào tình trạng mù chữ do hậu quả của chính sách ngu đần của thực dân Pháp đã duy trì trong suốt quá trình thống trị đất nước ta, làm giảm sức mạnh của một dân tộc.

Sự tồn tại của chính quyền cách mạng và nền độc lập của dân tộc bị đe doạ do sự trỗi dạy mạnh mẽ của nhiều lực lượng phản động trong nước và sự bao vây của các lực lượng quân đội nước ngoài. Từ vĩ tuyến 16 ra Bắc, với danh nghĩa và quân đồng minh đến giải giáp quân đội Nhật, 20 quân Tưởng ô hợp đã tràn vào nước ta với mục tiêu: diệt Cộng, cầm Hồ. Từ vĩ tuyến 16 vào Nam, quân Anh tràn vào, đi theo quân Anh là một đại đội lính Pháp và ngay trong ngày 23/9/1945, quân Pháp đã nổ súng tấn công và xâm lược miền Nam nước ta. Đằng sau những hành động lấn tới đó của các lực lượng nước ngoài vào nước ta đều có sự yểm trợ của Mỹ. Các lực lượng phản động trong và ngoài nước xuất hiện và đến nước ta với nhiều danh nghĩa khác nhau nhưng chúng có cùng chung một mục đích là tiêu diệt chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nền độc lập dân tộc mà ta mới giành được.

Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đã sáng suốt, chủ động lựa chọn những đối sách đúng đắn nhằm giải quyết kịp thời, có hiệu quả những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp nhất trong tình thế vận nước đang ở thế ngàn cân treo sợi tóc. Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc đã được coi là nhiệm vụ có tính chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn này.

Một là: Về kiến quốc, củng cố và xây dựng chế độ mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo Đảng ta xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng. Tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Một cuộc Tổng tuyển cử thành công sớm nhất trong các cuộc cách mạng trên thế giới. Xây dựng và thông qua Hiến pháp, xác lập cơ sở pháp lý và những nguyên tắc dân chủ của chính quyền nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ, ký hơn 200 Sắc lệnh về tổ chức bộ máy Nhà nước, các Bộ và Uỷ ban hành chính các cấp về tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 2/3/1946, thành lập Chính phủ liên hiệp Kháng chiến. Để diệt giặc đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào hũ gạo cứu đói, kêu gọi đồng bào ta sẻ cơm, nhường áo để giúp đỡ lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(2). Hưởng ứng lời kêu gọi mang đầy nhiệt huyết cách mạng và thấm đậm chất nhân văn dó, cán bộ, nhân dân cả nước dã đồng lòng thực hiện, lá lánh đùm lá rách và tầng bước khắc phục những khó khăn trong đời sống nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Do đó, Người khẳng định, dốt cũng là một loại giặc và nhiệm vụ diệt giặc đến đã được đẩy mạnh thông qua phong trào bình dân học vụ triển khai trên phạm vi toàn quốc.

Hai là: Lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam. Thực hiện sách lược hòa hoãn, nhân nhượng với Tưởng ở miền Bắc từ tháng 9-1945 đến tháng 3-1946.

Mặc dù luôn xác định kẻ thù chính của dân tộc ta là thực dân Pháp nhưng trong tình thế đầy khó khăn thử thách, để tránh tình trạng cùng một lúc dân tộc ta phải đối phó với nhiều kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra nhiều đối sách phù hợp và sáng tạo. Trước tiên là hoà Tưởng đánh Pháp. Từ tháng 9/1945 đến tháng 3/1946, ta thi hành sách lược hoà hoãn với Tưởng và đẩy mạnh kháng chiến chống Pháp ở miền Nam. Đối sách ngoại giao hoà Tưởng được thực hiện trong giai đoạn này là: triệt để khai thác, lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ quân Tưởng, giữa Tưởng với Pháp, mặt khác nhân nhượng cho chúng một số yêu sách cục bộ, nhất là về kinh tế.

Để mở rộng Mặt trận đoàn kết thống nhất dân tộc, cô lập bọn phản động và tay sai, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phải quyết đoán mau chóng, phải dùng mọi phương pháp, dù là những phương pháp đau đớn nhất để cứu vãn tình thế. Đảng phải tuyên bố tự giải tán, rút vào hoạt động bí mật.

Nhờ sách lược hoà hoãn đó, chúng ta đã làm thất bại âm mưu đen tối của bọn quân phiệt Tưởng và bè lũ tay sai, giữ vững được chính quyền cách mạng non trẻ. Tạm thời biến quân đội Tưởng thành hàng rào ngăn cách quân Pháp đang tìm cách tiến ra Bắc.

Ba là: Tạm thời hoà hoãn với thực dân Pháp, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, từ tháng 3/1946 đến tháng 12/1946.

Sau khi chiếm được Sài Gòn và đánh ra Nam Trung bộ, thực dân Pháp nóng lòng đánh ra miền Bắc. Theo dõi quan hệ Pháp – Hoa, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ cả Pháp và Tưởng sẽ đi đến chấm dứt xung đột, chúng sẽ dàn xếp để quân Pháp đổ bộ ra Bắc, nên đã đưa ra giải pháp nước Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do trong Khối liên hiệp Pháp với việc Ký Hiệp định Sơ bộ Pháp – Việt ngày 6/3/1946.

Việc này đạt được mục tiêu loại bớt kẻ thù. Thúc đẩy quân Tưởng sớm rời khỏi Việt Nam cùng lũ tay sai của chúng. Phía ta có thêm thời gian ngừng chiến và hoà bình mỏng manh để củng cố, xây dựng, phát triển lực lượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm chính thức nước Pháp nhân dịp Hội nghị Phôngtennơbơlô, nhằm giương cao ngọn cờ độc lập và thiện chí hoà bình của Việt Nam. Tiếp tục thực hiện chủ trương “Hoà để tiếng”, Người đã ký Bản Tạm ước Việt – Pháp, ngày 14/9/1946.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa chỉ đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ vừa chỉ đạo việc chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc kháng chọn toàn quốc lâu dài. Phát triển lực lượng vũ trang. Xây dựng căn cứ địa Việt bắc. Công bố các bài viết, bài nói tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới, phổ biến chiến lược chiến thuật quân sự, xác định tư tưởng, phương hướng của cuộc kháng chiến. Củng cố chính quyền cách mạng.

Từ ngày 2/9/1945 đến 19/12/2006 bắt đầu Ngày Toàn quốc kháng chiến, chỉ có 16 tháng với gần 500 ngày đêm. Theo “Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử”, tập 3 ghi lại, Hồ Chí Minh đã có trên 1300 hoạt động quan trọng chuẩn bị cho Ngày Toàn quốc kháng chiến.

Phát động toàn quốc kháng chiến vào ngày 19/12/1946, đó là kết quả của sự lãnh đạo hết sức sáng suốt và tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá:Có quyết định đó là do Hồ Chí Minh và Đảng taĐã bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ chọn đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện giam chân quân địch hai tháng, để cả nước chuyển vào kháng chiến trường kỳ. Nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12 giữa Thủ đô là một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng thật đúng đắn, quả cảm, sáng tạo(3).

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, là kết tinh trực tiếp của quyết định đúng đắn, sáng suốt đó. Trong lời kêu gọi lịch sử này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ nguyên nhân của cuộc kháng chiến. Chỉ ra dã tâm xâm lược muốn đặt ách nô lệ lên dân ta một lần nữa của thực dân Pháp. Người nêu rõ lập trường của dân tộc trước sự lấn tới và dã tâm xâm lược của thực dân Pháp: Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa(4).

Người đã nêu cao tinh thần yêu nước, quật khởi của dân tộc ta, quyết liệt hành cuộc kháng chiến chính nghĩa để dành độc lập tự đo: Không chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước(1).

Người đã phát động cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và chỉ rõ phải đánh địch bằng mọi lực lượng, mọi quy mô, mọi cách đánh bằng mọi thứ vũ khí, trang bị.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc.

Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(6).

Với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân, sức mạnh của một dân tộc có truyền thống chống xâm lăng anh hùng, bất khuất, lại có đường lối kháng chiến đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ:

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”(3).

Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, Lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cổ vũ cả dân tộc ta quyết tâm một lòng một dạ đứng lên đánh quân xâm lược. Tinh thần quyết chiến quyết thắng của ngày Toàn quốc kháng chiến đã liên tục được phát huy trong hơn ba ngàn ngày kháng chiến, chính là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thắng lợi Điện biên lịch sử huy hoàng.

Bài học và ý nghĩa lịch sử của Ngày Toàn quốc kháng chiến với hôm nay.

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã quyết định thời điểm phát động cuộc kháng chiến toàn quốc đúng lúc, đúng thời cơ.

Khi không còn đường nào khác. Khi đã không còn một chút hy vọng nào cứu vãn hoà bình do dã tâm xâm lược và sự ngoan cố của kẻ thù đế quốc thì phải chủ động vùng lên chống lại chúng. Muốn vậy, phải luôn luôn tranh thủ thời gian, chủ động chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, luôn luôn sẵn sàng và khi đã hạ quyết tâm kháng chiến thì phải chủ động và kiên quyết không ngừng thế tấn công kẻ thù xâm lược.

Hai là, khẳng định quyết tâm sắt đá bảo vệ độc lập, tự do, giải phóng dân tộc và những mục tiêu cơ bản của cách mạng nước ta, “Dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Kiên trì kháng chiến không nao núng trước sức mạnh và mọi sự uy hiếp của kẻ thù. Nêu cao ngọn cờ chủ nghĩa yêu nước, tiếp nói và phát huy truyền thống kiên cường chống ngoại xâm của dân tộc. Phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc và tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

Ba là, sớm hoạch định đường lối kháng chiến và kiến quốc đứng đắn, sáng tạo.

Để có quyết định kháng chiến toàn quốc kịp thời đúng lúc, thì trước đó, từ ngày 5/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ” nêu rõ chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc và đường lối trường kỳ kháng chiến. Ngày 12/12/1946, một tuần trước Ngày Toàn quốc kháng chiến, Thường vụ Trung ương Đảng ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến”. Trong đó, đã nêu ra mục đích cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta: Tính chất, chính sách, cách đánh, chương trình kháng chiến, cơ quan chỉ đạo kháng chiến, những điều răn trong khi kháng chiến, các khẩu hiệu chỉ đạo hành động trong kháng chiến…

Đường lối kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khơi dậy và phát huy đầy đủ sức mạnh của dân tộc, khai thác động viên được sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của dân tộc ta.

Bốn là, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sáng tạo một phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng – chiến tranh toàn dân.

Với khoa học, nghệ thuật quân sự độc đáo tổ chức được toàn dân kháng chiến, cả nước đánh giặc, làm giảm hiệu lực hoặc vô hiệu hoá mặt mạnh và sở trường tác chiến của đối phương là thực dân Pháp. Chúng có một đội quân xâm lược nhà nghề với các phương tiện chiến tranh hiện đại hơn hẳn lực lượng võ trang của chúng ta, chúng muốn đánh nhanh thắng nhanh nhưng cuối cùng đã bị thất bại thảm hại.

Hôm nay, nghiên cứu, học tập, ôn lại những hoạt động quan trọng, đúng đắn, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí minh với Ngày Toàn quốc kháng chiến, thật sự là một việc làm cần thiết và có nhiều ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.

Chúng ta thêm tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng ta.

Theo thuviendongnai.gov.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm 65 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946-19/12/2011)

Tượng đài Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh ở Thủ đô Hà Nội (TL - TNN st)

Tạm ước 14/9 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp chưa ráo mực thì quân xâm lược Pháp liên tiếp gây ra những vụ xung đột vũ trang đẫm máu ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam nước ta.

Tại Hà Nội, chỉ trong hai ngày 18 và 19/12/1946, thực dân Pháp đã ba lần gửi tối hậu thư láo xược đòi quân ta để cho chúng chiếm thêm một số vị trí quan trọng trong thành phố, đòi ta phải giải tán các lực lượng tự vệ, đòi đình chỉ các hoạt động chuẩn bị kháng chiến, đòi trao cho quân đội Pháp duy trì an ninh trong thành phố. Chúng đòi ta phải thực hiện các yêu sách trên chậm nhất là vào sáng ngày 20/12/1946.

Nguy cơ về một cuộc chiến tranh Pháp – Việt với quy mô lớn trên phạm vi toàn quốc đang trở thành hiện thực. Song mọi thiện chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện vọng thiết tha của dân tộc Việt Nam muốn sống trong hòa bình, độc lập, tự do và quan hệ hữu nghị với nước Pháp không được đáp ứng từ phía đối phương.

Vào đêm giữa tháng 12/1946, trong căn phòng nhỏ trên tầng hai nhà ông Nguyễn Văn Dương, ở làng Vạn Phúc, một làng quê ven thị xã Hà Đông, vốn nổi tiếng lâu đời về nghề dệt lụa cổ truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh bên ngọn đèn dầu leo lét, viết bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” trên hai trang giấy cỡ 13,5 x 20,5 cm.

Ngày 18 và 19/12/1946, Người chủ tọa cuộc họp mở rộng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng cũng tại Vạn Phúc để quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước. Hội nghị đã vạch ra đường lối cơ bản cho cuộc kháng chiến và thông qua “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo.

Lời kêu gọi hết sức cô đọng, chỉ có 198 từ mà sức mạnh truyền cảm, động viên rất lớn, gắn liền lịch sử oanh liệt của dân tộc Việt Nam ta.

Sáng ngày 20/12/1946, Lời kêu gọi lập tức được truyền trên làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam lúc bấy giờ vừa sơ tán ra núi Trầm đi khắp nơi trong nước và thế giới, đến mỗi lòng người, lắng đọng mãi đến ngày nay như một lời hịch cứu nước, một quyết tâm sắt đá, một đường lối quân sự độc đáo, một ngọn cờ hòa bình đầy tinh thần nhân đạo cách mạng, một lòng tin sắt đá không gì lay chuyển nổi ở thắng lợi cuối cùng.

Lời hịch cứu nước ấy tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân ta, mang theo hào khí non sông, hồn thiêng đất nước, thật sự đã cùng đồng bào và chiến sỹ cả nước, tham gia mở đầu trang sử mới của dân tộc.

Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh là quân lệnh số 1 của cuộc kháng chiến toàn quốc được phát đi sau 16 tháng chuẩn bị kỹ càng cho cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi, đã trở thành một trong những Cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng ta. Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, quyền chủ động về chiến lược bao giờ cũng là nhân tố quyết định thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chủ động tạo thế, tạo lực, loại trừ bất ngờ về chiến lược, chủ động đưa cả nước đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Điều đó nói lên nghệ thuật quân sự tài giỏi, biết khởi đầu chiến tranh và sau này, biết thắng địch từng bước, biết kết thúc chiến tranh, một nét nổi bật trong tư tưởng quân sự vĩ đại của Người.

Câu hỏi được đặt ra: Ai đánh giặc, đánh như thế nào, lấy gì mà đánh ? Những băn khoăn đó đã được Người giải đáp chỉ với 67 từ: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp, cứu nước”.

Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu đoạn viết về cách đánh bằng ba từ “Hỡi đồng bào”. Đây chính là biểu hiện sâu sắc quan điểm nhân dân và tư tưởng chiến tranh nhân dân sáng tạo của Người, động viên, tổ chức nhân dân một nước thuộc địa “đánh thắng những đế quốc to” chưa hề có tiền lệ trong lịch sử.

Lời Người kết tinh khoa học tạo ra sức mạnh, sử dụng và phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm đánh bại kẻ thù xâm lược có tiềm lực quân sự mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Đó là tư tưởng đoàn kết toàn dân, tổ chức, động viên toàn dân đánh giặc, phát huy sức mạnh tiềm tàng của đất nước và của dân tộc, quy tụ cả sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại, nét độc đáo trong tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là bí quyết thành công của cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta.

Đánh giặc “phải có tín tâm và quyết tâm”, Người nhấn mạnh quyết tâm bằng những lời đanh thép: “Không!Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Kêu gọi binh sĩ, tự vệ, dân quân, Người viết: “Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước”.

Quyết tâm ấy của Người đã hun đúc nhiệt tình cách mạng, sáng tạo ra cách đánh độc đáo và có hiệu quả. Tín tâm và quyết tâm của Người đã chuyển thành ngọn cờ quyết thắng của quân và dân ta. Ngọn cờ đó ngay từ đầu đã được giương cao bên ngọn cờ hòa bình, khi Người mở đầu “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” vang dội núi sông không phải bằng một lời hô đánh, mà bằng một nguyện vọng hòa bình: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”.

Hòa bình là nguyện vọng của nhân dân ta, của cả loài người. Nhưng do âm mưu xâm lược ngoan cố của kẻ thù, không có con đường nào khác là phải đứng lên kháng chiến. Và kháng chiến là để mang lại hòa bình thật sự, hòa bình trong độc lập, tự do.

Hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Người, toàn thể dân tộc Việt Nam anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng anh dũng để giữ vững nền độc lập, tự do vừa giành được của mình. Lời hịch bất tử của Người đã trở thành lời thề bất tử của dân tộc ta./.

Nguyễn Xuyến
Theo http://www.hochiminhcity.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ ở Mexico City

Bác tài xế taxi tuổi trạc 50, tóc xoăn đen nhức, khuôn mặt đặc chất Mexico thấy chúng tôi đã yên vị trong xe liền cất tiếng lễ phép “Các ông đi đâu?”. “Chúng tôi đến Vườn hoa Việt Nam”. Lập tức bác tài tươi nét mặt, nói như reo “Hồ Chí Minh! Việt Nam!” khiến tôi ngỡ ngàng.

Khoảng 20 phút, hòa vào dòng xe đang cuồn cuộn trên 16 làn đường của Đại lộ 20 tháng 11 (Ngày Cách mạng Mexico) – đại lộ sầm uất loại bậc nhất Mexico City dẫn đến Quảng trường Hiến pháp Zocalo, khi chỉ còn cách Zocalo vài ngã tư, trước mắt tôi hiện ra Vườn hoa Việt Nam. Và kìa, Bác Hồ ta đó!

Thật khó diễn tả nỗi xúc động dâng lên trong lòng tôi những phút đầu tiên được gặp Bác giữa Mexico City – thành phố đậm chất Mỹ La tinh trên độ cao 2.400 mét, quần tụ đến 22 triệu người, nườm nượp ngày đêm trên mặt đất 5 triệu xe ô tô con, 120 nghìn xe taxi, 80 nghìn xe buýt và dưới mặt đất 7 triệu người chui vào chui ra các toa tàu điện ngầm xuôi ngược hàng ngày từ 5 giờ sáng đến 12 giờ đêm.

Sở dĩ phải biên ra đây vài con số ấy để bạn đọc thấy rằng có một khoảng không gian yên bình bao trùm khuôn viên 1.500 mét vuông thuộc Trung tâm Lịch sử giữa lòng Mexico City gọi tên là Vườn hoa Việt Nam thì quả là quý hiếm đến nhường nào!

Cũng nói thêm với bạn đọc rằng Mexico City được mệnh danh là một thành phố tượng đài khổng lồ, đi bất cứ đâu đều bắt gặp tượng đài đủ kiểu, đủ dáng. Ngay trên Đại lộ Cải cách, 12 làn đường xe dài hơn 20 cây số vắt ngang thành phố, nơi có khách sạn tôi ở, mở mắt ra đã nhìn thấy tượng, cứ 100 mét là một pho tượng đứng hai bên đường.

Lại càng thấy quý chính quyền thủ đô đã cấp phép dựng tượng Bác Hồ ở Trung tâm Lịch sử hoành tráng nhất thủ đô (theo tôi biết thì các nhà quy hoạch và quản lý Mexico City đã chia thủ đô thành các Trung tâm Chính trị – Hành chính; Lịch sử; Văn hóa – Nghệ thuật; Giáo dục; Thương mại.v.v.. rất rõ ràng từ cách đây gần một thế kỷ rồi!).

Có 3 lối vào Vườn hoa Việt Nam. Lối vào chính liền kề Đại lộ 20 tháng 11, thấy sừng sững 6 cột đá trắng uy nghiêm mà thanh nhã đứng hai bên con đường nhỏ dẫn vào tượng Bác đang ngồi trên ghế mây, đọc báo.

Sau lưng Bác là một bức tường bằng đá hoa cương, hình vòng cung, cao gần 4 mét, gắn nổi dòng chữ (Tây Ban Nha) mạ vàng Không có gì quý hơn Độc lập Tự do. Và tràn ngập quanh Bác Hồ là cây xanh trùm bóng mát, là các loài hoa rực rỡ sắc màu.

Thật kinh ngạc, không biết bằng cách nào mà các bạn Mexico và các anh các chị ở Đại sứ quán tại Mexico trồng và chăm được những bụi tre xanh, tre ngà, khóm trúc rồi những cây bưởi, cây mít, rồi hoa lan, hoa râm bụt…

Anh Khắc Hòa, Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Mexico là người rất tỏ tường việc làm Vườn hoa Việt Nam và dựng tượng Bác Hồ. Anh cho biết: “Chính những người bạn Mexico ở Viện Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam – Mexico là những người đầu tiên có sáng kiến chọn bức ảnh Bác Hồ đọc báo trong Vườn Phủ Chủ tịch để dựng tượng Người trong Vườn hoa Việt Nam”.

Anh dẫn lời tâm sự của ông Virgilio Caballeezo, Giám đốc Viện: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, một nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Một trong những phẩm chất cao quý của Người là sự giản dị… Bằng sự giản dị của mình, Người đã nâng những người dân bình thường lên một tầm cao mới xứng đáng với vị trí là chủ thể xã hội. Vì vậy, chúng tôi muốn có một pho tượng Người gần gũi với đời thường ở giữa thủ đô Mexico. Và chính bức ảnh chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo ở Vườn Phủ Chủ tịch đã thể hiện được điều đó”.

Anh Khắc Hòa cũng cho biết: “Người được chọn dựng tượng Bác Hồ đọc báo trong vườn Phủ Chủ tịch là Pedzo Remizes Ponzanilli, nghệ sĩ điêu khắc nổi danh xứ Mexico. Ponzanilli gốc Italia, sinh năm 1973 tại Mexico City, là hậu duệ của gia đình nghệ sĩ Ponzanilli danh tiếng, từng có nhiều người dựng tượng thánh cho nhà thờ Cazzaza ở Italia vào những năm 20 của thế kỷ trước, dựng tượng trên đại lộ La Reforma và Cung điện nghệ thuật ở thủ đô Mexico.

14 tuổi, Ponzanilli đã đoạt giải thưởng Hội họa quốc gia trong cuộc thi dành cho thiếu nhi cả nước. 35 tuổi, Ponzanilli đã sở hữu nhiều tác phẩm sáng giá, trong đó có tượng các danh nhân nổi tiếng Mỹ Latinh như Benito, Anh hùng dân tộc Mexico, José Macti – Anh hùng dân tộc Cuba, Tướng quân Emiliano Zapate – Nhà Cách mạng Mexico lừng danh…

Để có được tượng Bác Hồ ngồi trên ghế mây đọc báo, Ponzanilli đã dày công tìm hiểu về Bác Hồ qua hàng trăm trang sách viết về Bác, hàng trăm bức ảnh, từ Nguyễn Ái Quốc ở Đại hội Tua (Pháp), Tống Văn Sơ ở Hương Cảng đến Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi hình ảnh Bác Hồ trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, trong những ngày xây dựng CNXH ở miền Bắc chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam cho đến tấm ảnh cuối cùng Bác Hồ giơ tay vẫy chào đồng bào…

Ponzanilli cũng dành thời gian công sức gặp gỡ các bạn Việt Nam để tìm hiểu thêm về Bác Hồ, đặc biệt là tấm ảnh chụp Bác ngồi đọc báo, quan tâm đến từng chi tiết rất nhỏ về bộ bàn ghế mây, hộp thuốc lá đặt trên thảm cỏ, tập tài liệu đặt trên bàn…

Ponzanilli đã gửi gắm vào tác phẩm sự ngưỡng mộ và kính trọng đối với Bác Hồ và cả tình yêu của mình dành cho Việt Nam… Ông bảo được dựng tượng Bác Hồ là một cơ may hiếm có không phải nghệ sĩ Mexico nào cũng gặp được trong đời!

Tiến sĩ khoa học Hồ Quang Minh, một viên chức ngoại giao sống ở Mexico liên tục 14 năm nay vốn là một kiến trúc sư được đào tạo và làm việc ở Cuba suốt 11 năm là người Việt duy nhất đã cùng 4 kiến trúc sư Mexico tham gia thiết kế Vườn hoa Việt Nam đã bảo tôi: Nghệ sĩ tài hoa Ponzanilli không chỉ chuyển thể một cách tài tình tấm ảnh lịch sử về Bác mà còn thể hiện được tư tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh.

Ông đã dựng tượng Bác ngồi giữa lòng người dân chứ không phải ngồi trên bệ cao của quyền lực. Đã vậy, ông còn đặt thêm một chiếc ghế mây để trống ở bên Bác. Thế đấy! Bác luôn sẵn lòng tiếp đón khách quý từ vị nguyên thủ quốc gia đến người dân thường, từ cụ già đến cháu nhỏ.

Như để minh họa cho lời TSKH Hồ Quang Minh, tôi được tận mắt thấy hơn chục người dân Mexico đang đứng ngồi trong Vườn hoa Việt Nam, đang mải mê ngắm nhìn Bác Hồ. Và tôi đã “chụp” được cảnh một người đàn ông thoạt đầu còn rụt rè sau đó rất tự tin ngồi vào chiếc ghế mây để trống với vẻ mặt thành kính hướng tới Bác Hồ kính yêu.

Hỏi chuyện thì được biết đó là Rene Castro, 29 tuổi, sống và làm việc ngay ở Mexico City. Rene khoe đã nhiều lần đến Vườn hoa Việt Nam, có lần còn rủ cả bạn gái đến cùng.

Biết tôi là nhà báo vừa từ Việt Nam sang, Rene thổ lộ: Mặc dù sự hiểu biết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về Việt Nam còn ít ỏi, nhưng Rene rất khâm phục Việt Nam vì Việt Nam nhỏ bé mà đã đánh thắng Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh lại là lãnh tụ của nhân dân Việt Nam càng khiến anh khâm phục và kính trọng!

Lúc chia tay tôi, Rene Castro cứ trầm trồ mãi: Việt Nam có Bác Hồ, thật là hạnh phúc tuyệt vời!

Cảm ơn Rene đã nói hộ lòng tôi trong một sáng hanh hanh nắng vàng Mexico!

Mexico City – Ngõ Chùa 2010
Theo Tienphong.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Nửa thế kỷ giữ ảnh Bác Hồ

Bà Nguyễn Thị Chuyên với bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh mua từ cuối năm 1954 Ảnh: Nguyên Nhung

TTCT – Trong ngôi nhà gỗ cổ ba gian ở thôn Hạ Lũng (quận Hải An, Hải Phòng) của cụ bà Nguyễn Thị Chuyên có một tấm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh treo trang trọng. Bức ảnh đen trắng treo áp vào hàng rui, mè bằng gỗ lim nâu bóng. Trong ảnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh trông không giống như những bức chân dung thường thấy, vẫn đôi mắt sáng, vầng trán tinh anh nhưng trông Người trẻ và gầy hơn, phía dưới ảnh ghi: “Hồ – Chí – Minh. Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đó là bức ảnh mà bà Chuyên mua về từ cuối năm 1954, khi Hải Phòng còn chưa hoàn toàn giải phóng và gìn giữ đến bây giờ.

Hơn nửa thế kỷ trước, đó là những ngày Hải Phòng còn ngột ngạt trong sự kìm kẹp của giặc Pháp trong 300 ngày giải giáp vũ khí sau khi Hiệp định Geneve về đình chiến ở Đông Dương được ký kết. Theo hiệp định, Hải Phòng và Kiến An là khu vực quân Pháp tập kết 300 ngày để rút khỏi miền Bắc. Đây cũng là nơi cuối cùng của miền Bắc được giải phóng.

Hạ Lũng là một làng trồng rau màu và hoa ở ngoại ô. Sớm sớm, người làng mang rau củ, hoa trái vào bán trong phố. Đôi mắt giăng mây, cụ Chuyên chậm rãi kể: “Hôm đó bán hết gánh hàng hoa, tôi quảy quang gánh đi vào cửa hàng tạp hóa gần chợ Sắt để mua kim chỉ, nhòm vào gian trong thấy treo bốn bức ảnh đã đóng sẵn trong khung kính. Ảnh chụp một ông cụ, mắt sáng, mũi thẳng, miệng rộng, tai to, nét nào ra nét ấy, đẹp quá.

Thấy tôi cứ ngẩn ra nhìn, người bán hàng bảo đấy là ông Chủ tịch nước. Hồi ấy đã nghe nói nhiều về ông Hồ rồi, dân tình đồn đại là ông đang kéo quân về đây đuổi giặc Pháp đi, nước mình sẽ tự làm chủ, thế là tôi mừng quá lấy hết tiền bán hoa ra đòi mua bức ảnh to nhất. Hồi ấy vẫn tiêu bằng tiền “gánh dưa”, tức đồng tiền Đông Dương có in hình người gánh dưa, lâu ngày quá không nhớ là bao nhiêu nhưng cũng gần hết số tiền tôi bán gánh hoa hôm ấy. Người bán hàng giúp tôi bọc kỹ bức ảnh, khuyên nên lấy cái nón đậy lên trên kẻo bị chú ý.

Bấy giờ, lính Tây, mật thám và người của các đảng phái phản động nhan nhản, tôi cũng lo lắm, sợ nhỡ nó phát hiện ảnh Cụ Hồ mà tịch thu mất. May sao, đận ấy chúng đang dồn dịch người ra mấy cái tàu “há mồm” cuối cùng đỗ ngoài cửa biển để vào Nam, tôi đi thoát về nhà. Ông nhà tôi bảo: “Sắp qua 300 ngày, Pháp chuẩn bị rút hết rồi, để tôi treo lên mái nhà, chỗ cái tràng kỷ tiếp khách này cho mọi người biết Cụ Hồ”.

“Đó là bức ảnh Bác Hồ duy nhất ở làng lúc ấy nên người ta đến xem đông lắm – bà Chuyên nhớ lại – Ai cũng trầm trồ thán phục vì danh tiếng ông cụ lúc ấy đã vang trong dân từ lâu. Hôm 19-5-1955, cả nhà tôi lên phố dự mittinh ở quảng trường Nhà hát lớn để mừng thành phố quê hương giải phóng. Người ta bảo “Hôm nay là sinh nhật Cụ Hồ”. Cái hôm cụ về Hải Phòng lần thứ hai vào mùng 2-6-1955, tôi đang bán hoa ở bờ sông Lấp, nom rõ ôtô chở cụ chạy chầm chậm qua. Ông cụ giống y trong bức ảnh treo ở nhà tôi. Dân mình đổ ra đón đông lắm, hàng vạn người tập trung hai bên đường vỗ tay, reo hò”.

Dưới mái ngói cổ kính của ngôi nhà gỗ có tuổi đời hơn một thế kỷ đã diễn ra bao biến cố nhưng bức ảnh luôn được gìn giữ cẩn thận, treo trang trọng trên cao giữa gian phòng khách. Năm 1968, cơn bão số 7 cấp 12 quét qua làng, nhà bay hết ngói, may sao tấm ảnh với cái khung bằng gỗ thông dầu vẫn nguyên vẹn. Rồi năm 2009, khi ngôi nhà đã xuống cấp phải dỡ ra làm lại, bà Chuyên sai con cháu bọc cất bức ảnh cẩn thận để khi nhà làm xong lại đem tấm ảnh treo đúng chỗ cũ.

Sau hơn nửa thế kỷ, bức ảnh hầu như không thay đổi, vẫn khung gỗ thông lên nước đen bóng, mặt kính vẫn trong veo như ngày mới mua về khiến chân dung Cụ Hồ hiện sáng rõ từng đường nét. Hỏi vì sao giữ bức ảnh Cụ Hồ được lâu đến thế, bà Chuyên chỉ trả lời giản dị: “Cụ Hồ vì dân vì nước, ai nhìn ảnh cũng thấy đẹp thì tại sao lại không treo, không giữ”. Rồi bà nhắc con cháu cẩn thận khi bắc thang lấy ảnh xuống cho chúng tôi chụp lại…

Theo bà Chu Ngọc Lan – Trưởng phòng Kiểm kê – Bảo quản, Bảo tàng Hồ Chí Minh, đây là bức ảnh được nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp năm 1950. Tuy nhiên, Bảo tàng không có thông tin về việc ảnh được in ấn ở đâu, phát hành như thế nào…

NGUYÊN NHUNG
Theo tuoitre.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm của người đội viên du kích dũng cảm bốn lần được gặp Bác Hồ

Ông Hoàn cùng các đội viên chụp ảnh lưu niệm nhân dịp 55 năm thành lập Đội Thiếu niên du kích Đình Bảng

(ĐCSVN)- Ông Nguyễn Thạc Hoàn, ở Đình Bảng (Từ Sơn – Bắc Ninh) tham gia Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng khi mới 14 tuổi, sau đó đã trở thành đội trưởng của đội. Mưu trí, dũng cảm, ông đã không ít lần lập được những chiến công hiển hách và nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước. Nhưng vói ông, bốn lần vinh dự gặp Bác, trực tiếp nghe Bác dạy bảo chính là phần thưởng cao quý nhất.

Người đội trưởng mưu trí.

Sinh năm 1935, ở vùng quê bị địch chiếm đóng, có lòng yêu nước nồng nàn và sớm được giác ngộ, mới 12 tuổi, cậu bé Nguyễn Thạc Hoàn đã tham gia vào đội liên lạc của du kích xã. Đến năm 14 tuổi đã trở thành đội viên Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng.

Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng ngày đó được giao nhiệm vụ thâm nhập vào những nơi địch chiếm đóng để lấy thông tin, nắm tình hình địch rồi thông báo cho lực lượng của ta. Ông Nguyễn Thạc Hoàn nhớ lại: Những ngày đầu, ông vào đồn lân la làm quen và giặt hộ quần áo cho một sỹ quan Pháp tên Sác-lơ. Khi đã quen, ông làm đủ mọi việc như: Dọn dẹp, nấu ăn, bê nước trong các hội nghị cho chúng. Vì vậy, ông đã lấy được rất nhiều thông tin quý giá cho cách mạng.

Năm 1950, ông được tín nhiệm trở thành Đội trưởng Đội Du kích tThiếu niên Đình Bảng. Với nhiệm vụ quan trọng trọng là giữ liên lạc giữa các tổ Quân Báo, thu thập, xác định thông tin một cách chính xác sau đó chuyển về vùng du kích. Lúc này, ông hóa trang thành cậu bé cắt tóc mở cửa hiệu ngay cạnh bốt địch. Hàng ngày, vừa cắt tóc vừa nghe ngóng thông tin từ binh lính và sỹ quan địch, báo cáo lại cho cách mạng.
Hồi ức lại những năm tháng gian khổ mà hào hùng, ông kể: “Cắt tóc vừa làm nhiệm vụ lại kiếm được tiền, tôi để dành cho đội du kích thiếu niên mua sắm những thứ cần thiết để hoạt động. Có lần thấy địch nhập về kho mấy xe hòm thuốc súng, chúng tôi bàn nhau lấy trộm về cho bộ đội. Chúng tôi lấy tiền để dành mời bọn lính coi kho đi uống bia say mèm, sau đó đột nhập vào kho lấy được hơn 10 thùng thuốc súng mà chúng không hề hay biết gì”

Với cương vị Đội trưởng Đội Du kích Thiếu niên, ông từng gặp rất nhiều nguy hiểm. Ông kể về một lần thoát chết mà ông vẫn nhớ như in: “Vào cuối năm 1952, tôi đang mang các tài liệu quan trọng về vùng du kích thì địch phát hiện. Chúng ráo riết đuổi theo. Tôi cắm đầu chạy trong làn đạn chúng bắn đuổi sát sạt bên người. Trước tình thế quá nguy hiểm, sờ thấy bên sườn còn quả lựu đạn, tôi bèn giật nụ xòe thả ngay dưới chân, rồi gắng sức chạy thêm một đoạn, lao đến nằm sau một mô đất. Lúc bọn giặc đuổi đến chỗ lựu đạn thì nó phát nổ. Thằng chết, thằng bị thương, chúng kêu gào ầm ĩ. Nhân cơ hội đó, tôi bèn lẩn vào các bụi rậm và trốn thoát”

Với các hoạt động mưu trí, dũng cảm, Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng đã lập nên nhiều chiến công vang dội, đóng góp vào những trận thắng lớn của quân ta. Điển hình như trận chống càn Tiên Du – Quế Võ, ta tiêu diệt hàng mấy trăm tên địch, thu nhiều vũ khí, khiến địch hết sức khiếp sợ.

Rời Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng, ông được cử đi học lớp chỉnh quân Chính trị ở Việt Bắc. Sau đó ông tham gia cuộc phát động giảm tô ở Cao Bằng, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, lấy lương thực chi viện cho chiến trường. Hòa bình lập lại, ông làm việc tại Ban Chỉ huy Quân sự địa phương và tham gia giảng dạy tại Trường Trung cấp Nông Lâm của tỉnh Bắc Ninh. Lúc này, ông lại đem hết nhiệt huyết và những kiến thức của mình để truyền cho thế hệ trẻ, phục vụ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Đội trưởng Nguyễn Thạc Hoàn cùng đồng đội tìm lại hòm thư quân báo bí mật tại khu Lăng Lý Thái Tổ.

Bốn lần vinh dự gặp Bác Hồ

Với những đóng góp của mình cho cách mạng, ông Nguyễn Thạc Hoàn trở thành niềm tự hào của nhân dân Đình Bảng và được Đảng, Nhà Nước trao tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì (năm 1952), Huân chương Chiến công hạng Ba (năm 1953). Nhưng theo ông, bốn lần được gặp Bác Hồ mới chính là phần thưởng lớn nhất trong cuộc đời ông.

Về lần gặp Bác thứ nhất, ông kể: Vào tháng 5/1952, tôi được cử đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất tại chiến khu Việt Bắc. Tôi vừa đến, đã được gặp Bác ngay. Bác bắt tay tôi, khen ngợi Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng. Bác nói Bác tự hào về những thiếu niên nhỏ tuổi nhưng gan dạ, anh dũng.

Lần thứ hai, ngày 12/11/1954, ông lại được gặp Bác ở Hà Nội sau ngày giải phóng Thủ đô. Ông Hoàn nhớ lại: “Bác đến gần chỉnh sửa áo quần cho tôi. Tôi đã rất cảm động khi nghe Bác dặn: “Trong cuộc kháng chiến chống Pháp các cháu đã chiến đấu dũng cảm, là con em của Đình Bảng có truyền thống cách mạng, giờ hòa bình các cháu vẫn phải ra sức rèn luyện, học tập để bảo vệ Tổ quốc, làm giàu cho quê hương, Bác tin tưởng ở các cháu”.

Lần thứ ba gặp Bác đã để lại những kỷ niệm sâu sắc nhất trong ông. Đó là vào ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6/1955, khi ông trực tiếp dẫn 14 thiếu niên xuất sắc của Đội Du kích Thiếu niên Đình Bảng vào Phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ cùng Bác Tôn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông sung sướng khoe: “Trong cuộc đời mình, tôi chưa bao giờ vui như thế. Bác phát kẹo cho chúng tôi. Rồi Bác tự tay bóc kẹo cho từng cháu dưới con mắt ngạc nhiên của tất cả mọi người. Sau đó, Bác cầm tay chúng tôi thành vòng tròn nhảy múa rất vui. Khi về, Bác còn gửi 3 cân kẹo cho chúng tôi làm quà cho các bạn ở nhà”.

Đến ngày 2/9/1955, lần thứ tư, ông lại vinh dự được đứng bên Bác trên kỳ đài tại Quảng trường Ba Đình lịch sử nhân dịp kỷ niệm trọng thể 10 năm Ngày Quốc khánh của dân tộc.

Chia tay chúng tôi, ông Hoàn tâm sự: “Cuộc đời trôi qua thật nhanh. Giờ đây, tôi đã là một cán bộ hưu trí, nhưng trong tâm trí tôi không bao giờ quên ân tình sâu đậm của Bác. Tôi vẫn hằng răn dạy con cháu: Cố gắng học tập và lao động thật tốt, góp phần xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp như Bác Hồ mong đợi”./.

Theo http://www.cpv.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Người con Nga” 40 năm đi tìm hiện vật về Bác Hồ

Ngài Gladunov, người đã 40 năm đi sưu tầm tài liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát biểu tại buổi trao hiện vật về Bác

(Nguoiduatin.vn) – Chúng tôi tình cờ gặp ông Gladunov, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Nga – Việt trong buổi trao tặng hơn 100 hiện vật về Bác Hồ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Người đàn ông năm nay đã hơn 80 tuổi, mái tóc bạc trắng khư khư ôm trên tay những bức ảnh, tài liệu về Bác.

Tâm sự với chúng tôi, ông Gla-du-nov cho biết: Ông đã từng bảy lần làm việc cùng Bác Hồ. Mặc dù đã cách những ngày tháng đặc biệt ấy gần nửa thế kỷ nhưng kí ức về Người vẫn còn theo ông mãi mãi.

Khóc khi lần đầu được gặp Bác Hồ

Trước mặt tôi là người đàn ông có dáng người to lớn, vạm vỡ, một người con của nước Nga nặng lòng với đất nước Việt Nam. Mặc dù đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông Gladunov vẫn còn minh mẫn đến lạ thường. Vì tình yêu, sự kính trọng với Bác, với nhân dân Việt Nam, từ nước Nga xa xôi, ông lặn lội đến đây để tận tay trao những kỷ vật của Hồ Chí Minh cho Bảo tàng Hồ Chí Minh lưu giữ.

Khi trao hơn 100 tài liệu về Bác cho lãnh đạo Bảo tàng, tay run run, giọng nghẹn ngào, ông Gladunov cho biết: “Tôi có vinh dự đặc biệt là đã nhiều lần được làm phiên dịch cho Hồ Chủ tịch và các vị lãnh đạo cấp cao khác của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Ngày ấy, tôi đảm trách cương vị là Vụ trưởng Vụ Đông Dương của Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và từng có thời gian làm Tham tán tại Đại sứ quán Liên Xô tại Việt Nam. Tôi nhớ, lần đầu tiên được gặp Bác tôi đã khóc. Trước mặt tôi là Chủ tịch Hồ Chí Minh, một con người kiệt xuất, tôi không ngờ mình lại được gặp, phiên dịch cho một con người vĩ đại đến vậy”. Nói đến đây, giọng ông như lạc đi. Ánh mắt của vị phiên dịch viên này bỗng nhiên sáng rực. Tôi cảm tưởng, ông đang được trở lại những ngày hạnh phúc đó.

Ông Gladunov kể lại về những ngày tháng lặn lội đi tìm những hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng chất giọng trầm ấm, ông cho biết, do đã có quá nhiều kỷ niệm với đất nước Việt Nam, nặng lòng với những tài năng và đức độ của Bác Hồ, về nước, ông đã quyết tâm đi tìm bằng được những tài liệu về Hồ Chủ tịch. Được biết, những tấm ảnh và những bài báo, hiện vật trong bộ sưu tập của ông được tiến hành thu thập trải dài theo năm tháng từ những năm 60 của thế kỷ 20.

Suốt 40 năm ròng, ông đi khắp nước Nga để tìm lại những tác phẩm, tài liệu, lưu dấu của con người tài ba đất Việt. Vẫn biết rằng, để tìm được những cuốn tài liệu này là việc rất khó, nhiều khi ông đã nản chí nhưng nghĩ về những ngày tháng được gặp, làm việc cùng với Bác khiến ông lại tăng thêm quyết tâm. 40 năm, hơn 100 tài liệu về Người đó là phần thưởng xứng đáng dành cho một người con Xô viết nặng lòng với đất Việt.

Được biết, để nhanh chóng có được những tư liệu quý giá trên, ông Gladunov đã viết rất nhiều bài báo về những kỷ niệm với Bác Hồ để tham gia cuộc vận động sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và sưu tầm tư liệu, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác ở nước ngoài. Chính những bài báo này đã được anh Nguyễn Quốc Hùng, Đặc phái viên của Báo Đời sống và Pháp luật, thuộc Hội Luật gia Việt Nam tại Liên bang Nga dịch sang tiếng Việt và được đăng tải trên Báo Đất nước của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga cũng như đăng một phần trên chuyên trang Hồ sơ sự kiện của Tạp chí Cộng sản.

“Một nửa trong tôi là dòng máu Việt”

Anh Nguyễn Quốc Hùng, Đặc phái viên Báo Đời sống & Pháp luật tại Liên bang Nga.

Lần đầu sang Việt Nam, Gladunov là một cậu sinh viên chưa tốt nghiệp Đại học Ngoại giao Nga (Khoa tiếng Việt). Vì nhiệm vụ đất nước giao phó, chàng trai trẻ này đã lên đường sang Việt Nam. Mặc dù trước đó, anh chỉ biết đất nước, con người Việt Nam qua những trang báo. Năm 1962, Gla-du-nov sang đất nước hình chữ S làm việc tại Đại sứ quán Nga. Chính từ đây, sự nồng hậu của con người Việt đã khiến Gladunov cảm thấy như đang được sống tại quê nhà.

Sau khi sang Việt Nam không lâu, biết mình sẽ được phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, chàng sinh viên mừng lắm, cả đêm chăm chú nhìn kim đồng hồ để đến sáng hôm sau được gặp vị lãnh tụ Việt Nam vĩ đại. Trước đó, anh chỉ biết đến Hồ Chủ tịch qua những “truyền thuyết” mà những thế hệ trước kể lại. Gần 40 năm trở lại đất nước này, trong ông vẫn giữ trọn những kỷ niệm. Ông vẫn nhắc lại hình ảnh chiếc áo dài, nón lá của những thiếu nữ Việt Nam. Những con phố thân quen mà ngày xưa ông thường đi lại.

Cầm trên tay những bức ảnh có chữ ký của Bác Hồ, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Nga – Việt xúc động cho biết: “Bộ sưu tập này thể hiện tình cảm sâu sắc không chỉ cá nhân tôi mà còn của những thế hệ nhân dân Liên bang Nga dành cho Bác Hồ vĩ đại cũng như dân tộc Việt Nam anh hùng. Tôi muốn trao bộ sưu tập này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh để không phải chỉ có chúng tôi mà toàn thể nhân dân Việt Nam, cũng như những thế hệ thanh niên Việt Nam sau này có thể hiểu được và tự hào về những chặng đường lịch sử của dân tộc của họ. Để càng khâm phục và kính trọng Bác Hồ vĩ đại, tình hữu nghị lâu đời và thủy chung của hai dân tộc Nga-Việt”.

Lúc nhận tấm Giấy khen của Đảng uỷ Ngoài nước, khuôn mặt người mà tự nhận mình là “một nửa trong tôi là người Việt” này rạng rỡ. Đây là phần thưởng xứng đáng cho 40 năm miệt mài đi tìm “dấu chân” Bác. Anh Nguyễn Quốc Hùng cho chúng tôi biết: “Trong những năm trợ giúp ông Gladunov đi sưu tầm tài liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông có tâm sự với tôi rằng, đây là những “báu vật” đã gắn bó với ông nửa cuộc đời.

Ông muốn tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh lưu giữ để thế hệ trẻ Việt Nam hiểu thêm về những việc làm của Bác ở nước ngoài. Việt Nam là đất nước chuộng hoà bình, luôn sản sinh ra những nhân tài kiệt xuất. Thế hệ trẻ hãy phấn đấu học tập theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”.

Văn Chương
Nguồn: Báo điện tử của Báo Đời sống và Pháp luật.
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn