Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Ngày chiến thắng nhớ lời Di chúc của Bác

Đã 37 năm (30-4-1975 – 30-4-2012) kể từ đại thắng mùa Xuân năm 1975. Đó là khoảng thời gian không dài đối với một đất nước đã có hơn bốn ngàn năm lịch sử, cũng không quá ngắn để chúng ta hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng đất nước, giữ gìn truyền thống và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc…

Năm nay, chúng ta kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước khi nước ta đã có những khởi sắc, đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào trên mọi lĩnh vực… Được sống trong cảnh đất nước hòa bình, độc lập mỗi chúng ta không khỏi bùi ngùi, kính nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh – người đã hiến dâng trọn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng và giải phóng dân tộc, Bác luôn tin tưởng tuyệt đối “ngày toàn thắng về ta”.

Từ năm 1965, khi dự cảm thấy “sức khỏe có kém so với vài năm trước đây”, Bác bắt đầu khởi thảo Di chúc. Bác “để sẵn mấy lời này, phòng khi … sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột”(1). Mở đầu bản Di chúc, bằng lòng tin vào khả năng, sức mạnh của dân tộc, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Bác khẳng định “… nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ; và góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”(2). Bác biết, công cuộc tái thiết và xây dựng xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh sẽ gặp muôn vàn khó khăn, vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng quan trọng nên Bác sáng suốt nhận định: “Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(3). Để tiếp tục hoàn thành tốt sứ mệnh lãnh đạo của mình trong hoàn cảnh mới, Bác ân cần căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triễn sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”… “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(4). Đó là nguyên tắc sống còn, là điều kiện quyết định để Đảng ta đứng vững và lãnh đạo đất nước. Thực hiện Di chúc của Người, trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Đảng ta đã chỉ rõ những tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng và đề ra nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó nhấn mạnh tự phê bình và phê bình bắt đầu từ Trung ương.

Nhân kỷ niệm 37 năm ngày giải phóng miền Nam – thống nhất đất nước, chúng ta kính cẩn nghiêng mình ghi nhớ công ơn của những người đã chiến đấu, hi sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Để tỏ lòng biết ơn với cha ông, với Đảng, với Bác Hồ, mỗi chúng ta, trước hết là cán bộ, đảng viên không ngừng học tập, rèn luyện, phấn đấu để thực hiện thật tốt mong ước cuối cùng trong Di chúc của Bác: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(6).

————–

(1), (2), (3),(4), (5),(6) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr. 510, 511, 510, 512.

Nguyễn Thị Ánh Huyền
Trường Mẫu giáo Điện Phương – xã Điện Phương – Điện Bàn – Quảng Nam
xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài của người cán bộ, đảng viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, đào tạo họ trở thành những cán bộ có nhân cách phát triển toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Những phẩm chất nhân cách đó của người cán bộ, đảng viên được Người khái quát ngắn gọn trong hai chữ “đức” và “tài”. Đây là chuẩn mực để mỗi cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu, đồng thời là tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá, sử dụng cán bộ của Đảng.

1. Người cán bộ, đảng viên mà Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng là người có tài, đức, hồng thắm, chuyên sâu. Người chỉ rõ: “Có tài phải có đức, có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nhà nước. Có đức không có tài, như ông Bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”(1). Đức của người cán bộ, đảng viên là đạo đức cách mạng. Người coi đạo đức cách mạng là “nền tảng”, là “cái gốc” của người cán bộ. Đức của người cán bộ cách mạng thể hiện ở phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, là lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ XHCN; là trình độ giác ngộ mục tiêu, lý tưởng XHCN, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó. Đức được thể hiện ở sự trong sáng, thành thật, trung thực, không cơ hội, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết hy sinh lợi ích cá nhân để phục tùng lợi ích tập thể, lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Có lối sống trong sạch, lành mạnh, gần gũi với quần chúng, gương mẫu gắn bó với nhân dân, khiêm tốn học hỏi, thực sự cầu thị. Có tinh thần đoàn kết, thương yêu, tương thân, tương ái lẫn nhau. Đức là cái gốc giúp người cán bộ cách mạng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó. Người nói: “cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(2). Đạo đức cách mạng tạo nên uy tín của cán bộ, đảng viên. Đó là cơ sở để giáo dục, thuyết phục và lãnh đạo quần chúng nhân dân, là tấm gương sáng cho mọi người noi theo.

Tài của người cán bộ là trình độ, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất. Tài được thể hiện ở trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, khả năng nhận thức đúng các quy luật, sáng tạo trong giải quyết công việc; luôn làm chủ được tri thức khoa học và có khả năng hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực chuyên môn của mình. Bác nói: “Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn; chính trị là đức, chuyên môn là tài”(3). “Tài” còn là khả năng hoạt động thực tiễn, kỹ năng và hiệu quả thực hành các công việc được giao. Người cán bộ cách mạng phải có năng lực trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn, có trình độ kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng hoạt động tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Dù hoạt động trên bất kỳ lĩnh vực nào thì người có “Tài” phải là người có sự hiểu biết thấu đáo và thực hành thành thạo các công việc mà mình đảm nhiệm. Người chỉ rõ: “Ngày nay, Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thành thạo về chính trị mà còn phải giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung”(4). “Tài” của người cán bộ phải được nhìn nhận, đánh giá theo từng loại công việc và vì thế phải tìm chọn cán bộ có tài và bố trí phù hợp với yêu cầu sử dụng của từng nhiệm vụ. Người căn dặn: “không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường chúng ta không biết tuỳ tài mà dùng người”(5).

2. Đức và tài của người cán bộ, đảng viên trong Tư tưởng Hồ Chí Minh phải luôn kết hợp chặt chẽ với nhau. Tài và đức của người cán bộ, đảng viên là hai mặt không tách rời mà hoà quyện với nhau, là cơ sở, điều kiện, tiền đề của nhau, thúc đẩy lẫn nhau để hoàn thiện hình thành nhân cách người cán bộ cách mạng. Tài năng của người cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng để họ hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đạt chất lượng và hiệu quả cao trong công việc. Người cán bộ có tài sẽ đem lại kết quả hoạt động tích cực, tự giác, sáng tạo cho họ trên cơ sở hành động theo quy luật khách quan. Nhưng tài năng đó phải được hiện diện trong hệ thống phẩm chất, năng lực và trong tính hiệu quả hoạt động thực tiễn của người cán bộ, đảng viên. Người cán bộ cách mạng phải là người có năng lực trí tuệ cao, tức là có trình độ hiểu biết toàn diện, sâu sắc với một hệ thống tri thức tổng hợp bao quát được nhiều lĩnh vực, có phương pháp tư duy khoa học để nhận thức được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, có năng lực thực tiễn tốt để đạt hiệu quả cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức cách mạng là tiêu chí hàng đầu, là “gốc” của người cán bộ, nâng cao đạo đức cũng có nghĩa là củng cố vững chắc hơn cơ sở định hướng cho sự phát triển tài năng của người cán bộ, vì lợi ích chung của Đảng, của giai cấp và của dân tộc. Đạo đức của người cán bộ, đảng viên được nâng cao càng tăng thêm động lực tinh thần thôi thúc người cán bộ vượt lên mọi khó khăn thử thách để nâng cao trình độ trí tuệ của mình. Đạo đức là sự thể hiện quan hệ ứng xử và hành vi của con người, đem lại lợi ích cho người khác và cho xã hội. Đạo đức của người cán bộ cách mạng còn là nền tảng và là cơ sở để người cán bộ, đảng viên phát huy tài năng, trí tuệ và các phẩm chất khác, hướng năng lực của họ vào hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng. Vì vậy, theo Người, cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Đạo đức luôn luôn là động lực của tình cảm và hành vi của người cán bộ, tài là cơ sở để làm cho đức của người cán bộ cách mạng càng cao, càng lớn hơn.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đức – Tài của người cán bộ là di huấn vô giá Người để lại cho Đảng và nhân dân ta về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Không bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, đủ tài, cơ hội chủ nghĩa”(6). Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay phải là kiên trì Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, giữ nghiêm kỷ cương, phép nước; không tham nhũng và cương quyết đấu tranh chống tham nhũng; có lối sống trong sạch, lành mạnh, gần gũi với nhân dân, gương mẫu và gắn bó với quần chúng. Đặc biệt, người cán bộ cách mạng phải biết trăn trở trước cuộc sống nghèo khổ của quần chúng nhân dân và nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh tế của đất nước so với thế giới; phải suy nghĩ và hành động, đem hết tài năng, tâm sức cống hiến cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay phải là nói đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều; phải biết thể hiện bằng hành động, bằng những việc làm cụ thể, bằng nê gương để thuyết phục, quy tụ mọi người.

Tài là năng lực chuyên môn, khả năng công tác để bảo đảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; tài là tầm tư tưởng, trí tuệ của người cán bộ, đảng viên trong tiến hành công việc một cách độc lập, sáng tạo, mang lại hiệu quả tối ưu. Tài phải được thể hiện ở trình độ, năng lực tư duy phát triển; có tư duy biện chứng, lôgíc, có tầm hiểu biết sâu rộng và phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả, đủ sức cắt nghĩa và tìm được những câu trả lời thuyết phục trước những biến động phức tạp và mau lẹ của thực tiễn. Phải có năng lực trí tuệ phát triển cao, có trình độ ngoại ngữ và tin học để làm chủ công nghệ, nhất là công nghệ thông tin; có năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực cạnh tranh khoa học và công nghệ, có khả năng tiếp nhận và quản lý được công nghệ kỹ thuật mới.

Đức và tài là một thể thống nhất, không thể tách rời. Vì vậy, không thể chỉ có đức mà không cần tài, càng không thể coi trọng tài mà xem nhẹ đức. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay không chỉ như đạo đức công dân mà còn bao hàm cả đạo đức của người lãnh đạo, chỉ huy. Trung thành nhưng phải có bản lĩnh, có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, không thụ động, bảo thủ trì trệ, né tránh khó khăn, gian khổ. Trung thành nhưng không phải là “gọi dạ, bảo vâng”, cơ hội, không có chủ kiến, không dám đấu tranh, tuỳ thời vì mục đích quyền lực và tiền tài. Tài của người cán bộ hiện nay cần phải được nhìn nhận, đánh giá theo từng loại công việc và vì thế phải tìm chọn cán bộ có tài phù hợp với yêu cầu sử dụng. Nghĩa là khi chọn người tài phải dựa vào thế mạnh và sở trường của họ, vào tài năng thực tế của người cán bộ, đảng viên, không hoàn toàn dựa vào bằng cấp để bố trí công việc, xác định cương vị; có vậy mới giúp cán bộ, đảng viên phát huy được ưu thế, sở trường, dốc tâm lực vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân.

Hiện nay, vấn đề đào tạo, sử dụng, đánh giá cán bộ phải được gắn với đức – tài được hiểu một cách khoa học, đầy đủ. Đức và tài của người cán bộ hiện nay cần phải cụ thể hoá bằng tiêu chuẩn chức danh đối với mỗi chức vụ, cương vị công tác, nhất là các tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Đức và tài của người cán bộ đạt đến trình độ nào thì phải lựa chọn bố trí họ ở cấp và vị trí tương xứng. Nhưng vấn đề có tính nguyên tắc cần khẳng định là, đã là người cán bộ cách mạng thì phải có đủ đức, đủ tài tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, không thể châm chước bất cứ một tiêu chuẩn nào. Nếu quan điểm đức-tài không rõ ràng, lẫn lộn, chỉ nhìn hình thức bề ngoài mà không thấy bản chất bên trong của con người thì kết quả là sẽ chọn ra những kẻ bất tài, vô dụng, làm hại đến sự nghiệp cách mạng. Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đức và tài của người cán bộ, đảng viên vào xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng trong tình hình hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

——————————-

(1) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr.184.
(2) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr. 252, 253
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG,, Hà Nội, 2001, tr. 492.
(4) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG,, Hà Nội, 2001, tr. 313.
(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG,, Hà Nội, 2001, tr. 274.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011,tr. 125.

TS Võ Văn Hải
Học viện Chính trị
xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận cho cán bộ trường Đảng

Trong Diễn văn khai mạc Lớp lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng của mình”(1).

Theo quan điểm của Người, cán bộ và công tác cán bộ luôn đóng vai trò quan trọng vì cán bộ là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, là lực lượng giữ vai trò then chốt, là “gốc” quyết định sự thành bại của mọi việc. Người coi “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Đây là một nội dung xuyên suốt, nhất quán trong tư tưởng và hoạt động của Người. Cán bộ một mặt phải giỏi chuyên môn, mặt khác phải am tường về lý luận, cho nên trong huấn luyện cán bộ, Người đặc biệt chú ý đến giáo dục lý luận cho cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt: “Xem kinh nghiệm của các đảng anh em, thì chúng ta càng thấy sự bức thiết, sự quan trọng của việc học tập lý luận cho Đảng, trước hết là cho các cán bộ cốt cán của Đảng”(2).

Người nhiều lần nhắc nhở mọi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng đắn về lý luận và vai trò của nó: “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”(3). Người chỉ ra rằng, trường Đảng là nơi làm nhiệm vụ giáo dục lý luận cho cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu huấn luyện cán bộ của Đảng, do đảm nhận trọng trách quan trọng trong công tác cán bộ nên trường Đảng cần có những nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp.

Về nội dung giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh hai điểm: một là, giáo dục lý luận, chủ yếu là Chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm của các nước; hai là, giáo dục về đạo đức, lý tưởng cách mạng. Về phương pháp, Người căn dặn “Học tập tinh thần của Chủ nghĩa Mác – Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(4). Đó là phương pháp luận chỉ đạo việc giáo dục lý luận đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường Đảng. Người căn dặn các giảng viên: “việc biên soạn các bài giảng phải hoàn toàn căn cứ vào yêu cầu của học viên”(5), tùy theo trình độ và điều kiện thực tiễn công tác của đối tượng học viên mà giảng viên có cách thức biên soạn và truyền đạt những nội dung giáo dục phù hợp.

Đối với học viên, để đạt được chất lượng giáo dục tốt nhất, Người cho rằng học viên cần có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn.

Một là, phải xác định đúng mục tiêu và nhiệm vụ học tập.

Điều này được Người nhắn gửi trong đầu quyển Sổ vàng khi đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc vào tháng 9-1949 :

“Học để làm việc,

làm người,

làm cán bộ.

Học để phụng sự đoàn thể,

“giai cấp và nhân dân,

Tổ quốc và nhân loại”

Muốn đạt mục đích thì phải:

Cần, kiệm, liêm, chính

Chí công, vô tư”(6).

Hai là, tự giác và học tập mọi lúc, mọi nơi.

Hồ Chí Minh yêu cầu người học phải tự tìm tòi và suy nghĩ, thể hiện ý thức cầu học, cầu tiến bộ: “Phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập”(7).

Ba là, suy nghĩ và học tập độc lập.

Đây là một biểu hiện cao của ý thức tự giác, tự nguyện học tập. Hồ Chí Minh căn dặn người học phải đào sâu suy nghĩ và khi đọc tài liệu thì phải hiểu kỹ, xem xét vấn đề có thật đúng hay không, phải đem vấn đề còn nghi vấn ra thảo luận để làm sáng tỏ chứ không phải tuân theo sách vở một cách mù quáng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng thái độ học tập đúng và lối tư duy độc lập là một việc cần phải tiến hành thường xuyên. Mục đích của công tác này là đảm bảo tạo ra một lực lượng cán bộ am tường lý luận Mác-Lênin, giỏi chuyên môn và giải quyết tốt vấn đề của thực tiễn cách mạng. Bên cạnh đó, tạo cho người học phát huy tối đa tiềm năng của bản thân trong tìm ra cái mới, nắm vững lý luận để giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tế đặt ra.

Thấm nhuần lời dạy của Người, đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang không ngừng rèn luyện để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao cho. Hiện nay, Trường đã có 14 giảng viên đạt trình độ thạc sĩ; 5 cán bộ, giảng viên đang theo học thạc sĩ; 30 cán bộ, giảng viên có trình độ cao cấp lý luận chính trị, một số giảng viên đang chuẩn bị theo học để hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị, hành chính. Hằng năm, các giảng viên thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu thực tế nhằm thu thập các cứ liệu vận dụng vào bài giảng, nâng cao hiệu quả của các giờ lên lớp, giúp học viên có phương pháp học tập đúng đắn, vận dụng những kiến thức lý luận đã học để giải quyết các vấn đề ở địa phương.

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận cho các trường Đảng có giá trị to lớn về nhiều mặt, là cẩm nang để các trường Đảng trong cả nước vận dụng vào thực tiễn giảng dạy và học tập, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ cho nước nhà hôm nay và mai sau.

————-

(1), (2), (4), (7) Hồ Chí Minh Toàn tập, NXBCTQG-ST, H. 2002, t.8, tr.492, 495, 497, 499.
(3), (6) Sách đã dẫn, t.5, tr.233, 684.
(5) Sách đã dẫn, t.3, tr.456.

ThS. Nguyễn Thị Hương
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang
xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với bài Quốc ca Việt Nam

Quảng trường Ba Đình ngày 2.9.1945. Ảnh: Tư liệu

Quốc ca Việt Nam ra đời đã được 67 năm – cùng với Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô Hà Nội – Quốc ca Việt Nam đã hòa vào máu thịt của mỗi người dân đất Việt.

Dù ở đâu trên trái đất này, nếu ai đó hát Quốc ca Việt Nam thì hãy tin rằng đó là người bạn, người đồng chí của chúng ta. Nhưng cũng ít ai biết rằng Quốc ca Việt Nam gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày sôi nổi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Chính Người đã lựa chọn và sửa chữa để trở thành bài ca bất diệt của nước Việt Nam mới.

Trong những ngày tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945, Hội nghị quốc dân đã được thành lập với Chủ tịch là Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch là Trần Huy Liệu. Hội nghị quốc dân đã nhất trí thông qua Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Thủ đô là Hà Nội – đất đế đô ngàn năm văn vật, xứ sở của rồng vàng và bóng nước Hồ Gươm. Quốc kỳ là lá cờ nền đỏ, giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Còn bài Quốc ca, Hồ Chủ tịch đã giao nhiệm vụ tuyển chọn cho một số người với yêu cầu: Quốc ca phải hào hùng, thể hiện ý chí của dân tộc, lời lẽ dễ hiểu, dễ phổ cập trong dân chúng.

Ban tuyển chọn Quốc ca đã trình lên Hội nghị quốc dân và Hồ Chủ tịch 3 bài là: “Cùng nhau đi Hồng binh” của Đỗ Nhuận, “Diệt phátxít” của Nguyễn Đình Thi và “Tiến quân ca” của Văn Cao, cả 3 bài hát đều có thể trở thành Quốc ca, vấn đề ở chỗ chỉ được phép lấy một bài thật tiêu biểu. Và Bác Hồ đã có sự lựa chọn chính xác, để thông qua Ban Thường vụ Hội nghị quốc dân và Ban Thường vụ Trung ương Đảng.

Về bài “Cùng nhau đi Hồng binh” thì Hồ Chủ tịch không đồng ý, tuy Người không nêu rõ lý do. Nhưng có lẽ “Cùng nhau đi Hồng binh” lời ca còn đơn giản, còn lặp lại điệp khúc nhiều lần. Cho dù bài hát có ngôn ngữ dễ hiểu, nôm na và dễ phổ cập.

Được Nguyễn Đình Thi sáng tác trong cao trào kháng Nhật cứu nước, “Diệt phátxít” là ca khúc rất được phổ biến lúc bấy giờ, nhất là đối với tầng lớp thanh niên, học sinh. Âm điệu và lời hát hào hùng, như một tiếng kèn xung trận thúc giục mọi người xông lên giết giặc cứu nước. Tuy nhiên, bài hát cũng không được Bác Hồ lựa chọn, theo Người thì ca khúc này lời hơi dài, khó phổ cập. Mặt khác, một số từ ngữ dùng vào Quốc ca là chưa thích hợp. Ví dụ như câu “Diệt phátxít cùng bầy chó đê hèn của chúng”. Có lẽ Người muốn quốc ca không những sâu sắc về nội dung, mà còn phải đẹp về lời ca, từ ngữ.

“Tiến quân ca” được Văn Cao sáng tác đầu năm 1945. Cùng với “Du kích ca”, “Tiến quân ca” như mang được cả hình ảnh những chiến sỹ giải phóng từ chiến khu trở về. Bài hát gợi lên không khí trang nghiêm, hào hùng của những đoàn quân theo nghĩa lớn, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Bài hát có nhịp điệu thong thả như một khúc quân hành, như hiệu lệnh cho cả dân tộc tiến lên theo cờ Đảng để giải phóng non sông. Mặc dù bận rất nhiều công việc, Bác Hồ đã xem xét và sửa chữa một cách cẩn thận bài “Tiến quân ca”. Người đã sửa chữa một số câu từ, như câu mở đầu của “Tiến quân ca”, nguyên bản là “Đoàn quân Việt Minh đi…”, Người đã sửa lại là “Đoàn quân Việt Nam đi…”; hoặc câu “Thề phanh thây uống máu quân thù…”, Người đã sửa lại “Đường vinh quang xây xác quân thù…”. Rõ ràng những câu chữa lại của Bác Hồ chính xác hơn, đẹp hơn và đáp ứng yêu cầu của bài Quốc ca Việt Nam.

Sau khi cân nhắc kỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và các vị trong Hội nghị quốc dân đã nhất trí lấy “Tiến quân ca” làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 2/9/1945, trong không khí tưng bừng của lễ Tuyên ngôn Độc lập, Quốc ca Việt Nam đã vang lên trong hàng triệu trái tim của con dân Việt Nam, báo hiệu một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Nhắc lại sự kiện này, cố nhạc sĩ Văn Cao đã nói: Đây là hạnh phúc lớn lao nhất của đời tôi, là niềm tự hào không bao giờ quên khi được lãnh tụ kính yêu sửa chữa một tác phẩm nghệ thuật của mình.

Quốc ca Việt Nam đã trở thành một phần máu thịt của Tổ quốc và chắc chắn còn trường tồn rất lâu dài với lịch sử dân tộc. Cũng như bài Mácxâye, Quốc ca Pháp đã có lịch sử trên 200 năm, mặc dù nước Pháp từ cách mạng tư sản 1789 đến nay đã có bao nhiêu thay đổi. Cùng với suy nghĩ như vậy, tin chắc rằng “Tiến quân ca” mãi mãi là Quốc ca Việt Nam theo cùng với dân tộc trong công cuộc xây dựng “đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

(Theo lời kể của cố nhạc sĩ Văn Cao và nhạc sĩ Lê Mây)

Theo Báo Lao động
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Từ một câu trả lời nghĩ về một quan điểm lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Có người hỏi ông Nguyễn: Ông là người thế nào? Theo chủ nghĩa Cộng sản hay chủ nghĩa Tôn Dật Tiên? Ông Nguyễn trả lời: Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng bác ái. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước chúng tôi (…). Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ. Tôi chính là tôi ngày trước: một người yêu nước”(1). Câu trả lời này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhiều sách, báo trích dẫn, tuy nhiên một sự giải thích cụ thể các lớp ý nghĩa thì chưa thấy có. Trong khi, theo tôi, câu trả lời này của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một sự thâu tóm những đặc điểm cốt yếu tư tưởng của Người về văn hóa dân tộc và quan điểm phát triển nền văn hóa.

Câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hiểu trên hai bình diện: Bình diện thứ nhất là cách nhìn nhận của bản thân tác giả về các học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa và về bản thân; bình diện thứ hai cách nhìn nhận về văn hóa dân tộc, quan điểm phát triển văn hóa dân tộc. Bình diện thứ nhất là bình diện ngoại diên, cái bên ngoài, tạm gọi là nghĩa trên bề mặt câu chữ; bình diện thứ hai là cái mạch ngầm trong tư tưởng của Người, tạm gọi là nghĩa ẩn đằng sau câu chữ. Ở bình diện thứ nhất, Người sàng lọc những tinh hoa của các học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa, nói được cái cốt yếu, cái hạt nhân của mỗi học thuyết, chủ nghĩa ấy: tu dưỡng đạo đức, lòng bác ái, phương pháp biện chứng, chính sách phát triển. Dĩ nhiên, khi Người đã phát biểu như vậy về các học thuyết, các chủ nghĩa là Người đã nghiên cứu kỹ, và bằng phương pháp loại suy, Người đã chắt lọc những gì tinh hoa nhất để học tập. Mỗi học thuyết, mỗi chủ nghĩa luôn chứa trong nó nhiều đặc điểm, nội dung, không phải chỉ một nội dung thuần túy, dù đó là cái cốt yếu. Vậy nên, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận diện những đặc điểm này phải hiểu là Người vừa (đọc rất nhiều) hiểu các học thuyết, chủ nghĩa, vừa đã chọn lọc để tiếp thu làm giàu cho tư tưởng của mình. Đấy là điều chỉ xảy ra đối với những bộ óc siêu việt, mà với trường hợp Hồ Chí Minh, GS. Mai Quốc Liên đã gọi cho cái tên là “một bộ lọc vĩ đại”(2). Tất nhiên ở đây tôi chỉ mới giới hạn về việc tiếp thu cái cốt yếu của 4 học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ra ở câu trên, chứ trên thực tế, việc tiếp thu và thông qua hành động loại suy của Người còn được thể hiện rất nhiều như: đối với việc tiếp thu Phật giáo (tư tưởng từ bi bác ái, tinh thần bình đẳng, nếp sống giản dị, coi trọng lao động (Phật giáo Thiền tông: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”), triết học và tư tưởng phương Tây (tư tưởng dân chủ và tiến bộ, coi trọng tự do con người: Tuyên ngôn 1776 của nước Mỹ, tư tưởng của Rút xô, Môngtexkiơ) v.v… Từ chỗ nhìn nhận về 4 học thuyết, chủ nghĩa, Người nói về mình: “tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ”. Đây là lời nói có tính khiêm nhường, nhưng không hoàn toàn, bởi xem xét ở khía cạnh khác, phẩm chất trung thực của Hồ Chí Minh lại nổi lên. Trong khoa học, một thực tế khách quan là, một nhà khoa học lớn suốt đời theo đuổi chân lý, cố nhiên phải phát biểu chân lý ấy bằng nhiều công trình, Người ấy sẽ đào tạo ra các học trò theo trường phái của mình, phát triển tư tưởng của mình lên tầm cao mới. Nhưng, trong khoa học lại không thể có một người nhận mình là học trò của một người vĩ đại trong khi đã không tuân theo tôn chỉ khoa học của người đó. Vậy nên, ở đây khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là muốn làm người học trò nhỏ thì cũng là rất trung thực (bởi vì mục đích của Người là tìm con đường tư tưởng để cứu nước chứ không phải làm khoa học). Hơn nữa, nếu phân tích kỹ câu nói của Người ta lại thấy Người nhìn nhận rất đúng bản thân: Người một mặt tự nhận là học trò, mặt khác lại không thừa nhận là học trò trung thành của một học thuyết, chủ nghĩa nào, hiểu theo nghĩa thuần túy tiếp thu. Người chọn lọc cái ưu điểm của mỗi học thuyết để phát triển tư tưởng của mình. Ở đây có vấn đề nhạy cảm đó là học thuyết Mác – Lênin, tôi xin giải thích để tránh hiểu nhầm. Người là học trò của Mác, Ăngghen, Lênin, nhưng không phải là học trò thuần túy tiếp thu máy móc tư tưởng của họ. Người nhìn nhận học thuyết Mác xít rồi đối chiếu với thực tiễn cách mạng Việt Nam để tìm ra hướng đi. Riêng luận điểm, “Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước” đã là một đóng góp vĩ đại cho học thuyết Mác xít thời hiện đại (bởi vì học thuyết Mác xít chỉ nghiên cứu đấu tranh giai cấp, và cho rằng, giải phóng dân tộc chỉ thành công khi giải phóng giai cấp, các dân tộc bị áp bức chỉ giải phóng được mình khi cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp ở chính quốc thắng lợi). Như vậy có thể thấy, ở đây một mặt, Người khiêm nhường nhận là học trò (tức tầm tư tưởng, trí tuệ không sánh bằng Khổng Tử, Giêsu, Mác, Ăngghen, Lênin, Tôn Trung Sơn), một mặt Người đã trung thực với bản thân. Nếu nói Hồ Chí Minh là ai khi học tập các học thuyết, chủ nghĩa ấy, thì theo tôi, Hồ Chí Minh là một người khác – khác so với học trò của các vị tiền bối đó và vì… “vô tiền khoáng hậu”.

Bình diện thứ hai, Người nói về văn hóa dân tộc: đó là một nền văn hóa có bề dày lịch sử. Khi Người nói “tôi chính là… một người yêu nước”, thì ẩn đằng sau câu nói ấy, chúng ta phải hiểu là đất nước chúng ta có truyền thống tốt đẹp, có bề dày văn hóa (không phải đất nước nào cũng có bề dày văn hóa, kể cả những đất nước nền kinh tế, khoa học phát triển). Nói tôi là người yêu nước nghĩa là đứng trên lập trường dân tộc, lấy dân tộc làm gốc, trên cơ sở cái dân tộc tiếp thu cái bên ngoài để làm giàu thêm. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải liên hệ với phát biểu của Người ở những câu kế trên để thấy tại sao chúng ta cần phải tiếp thu bên ngoài và tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại phải ra đi tìm đường cứu nước vào những năm đầu thế kỷ XX?

Có thể nói rằng, trước khi thực dân Pháp vào Việt Nam, đất nước chúng ta vẫn chỉ quen thuộc với tâm tính á Đông, trong đó đất nước có quan hệ mật thiết nhất với chúng ta là Trung Hoa. Vì chúng ta gần gũi với Trung Hoa (ở đây hiểu về khía cạnh tâm tính, thế giới quan), nên dân tộc chúng ta không bị xáo trộn nhiều khi Trung Hoa xâm lược, đặc biệt là về cấu trúc xã hội. Cũng vì thế nên chúng ta đánh thắng các cuộc xâm lược của Trung Hoa trong khi vẫn dùng những tiềm lực cũ (như phương pháp đấu tranh, phương tiện thiết bị quân sự, lực lượng quân đội… ). Nhưng đến khi người Pháp vào nước ta thì nước ta bị xáo trộn nhiều, các chí sĩ nhiệt thành bế tắc trong lựa chọn con đường cứu nước (bởi vì một lí do cơ bản là chúng ta không thể cứu nước theo con đường và cách thức cũ được nữa). Giữa lúc bế tắc đó, Nguyễn ái Quốc đã lựa chọn con đường đến với đất nước kẻ thù để tìm hiểu họ. Đây là một hành động vĩ đại vì Nguyễn Ái Quốc vốn quen với Nho học, lại nhỏ bé trước những bậc cha anh như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…, tìm một con đường đi, trong khi tương lai thì chưa thể hình dung được. Nhưng cần phải chỉ ra cho rõ ràng rằng, Nguyễn Ái Quốc ra đi đến đất nước kẻ thù không phải chỉ là việc đi để tìm hiểu họ, biết họ phục vụ cho riêng mình, hay nói là “cứu nước” nhưng đang rất mơ hồ, chung chung, chưa xác định được đường hướng (vì lúc này Người mới hai mươi tuổi). Cái vĩ đại của Nguyễn Ái Quốc ở đây là muốn ra đi để đưa cái mới, cái tốt đẹp về cho dân tộc trên cơ sở nền văn hiến và lịch sử văn hóa dân tộc đã hun đúc từ ngàn đời. Nghĩa là phải chọn cái dân tộc làm gốc, tiếp thu những cái tốt đẹp bên ngoài là để làm giàu thêm bản sắc, làm nên những người Việt mới (tâm thức vẫn mãi mãi là tâm thức người Việt) chứ không phải những người Việt khác (khác với truyền thống, quay lưng với truyền thống). Đây là một tư tưởng lớn. Có tìm hiểu được nền văn hóa, văn minh mới, có làm cho người dân nước Việt bấy lâu bị che kín tầm nhìn thấy được khoảng trời khác để tiếp thu, chuyển hóa thành con người mới thì người Việt mới tự giải phóng được cho mình. Dĩ nhiên là nếu tiếp thu mà trở thành con người khác với truyền thống thì chúng ta sẽ gần với kẻ thù, là anh em với kẻ thù, có nghĩa là chúng ta không cần phải giải phóng dân tộc nữa.

Thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu trả lời trên là sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lúc chúng ta đã có Đảng Cộng sản lãnh đạo, chúng ta đã có chính quyền, nhưng tại sao Người vẫn không nói mình là người cộng sản? Ngoài việc để giữ hòa khí với Tàu Tưởng, trong khi Tàu Tưởng có khả năng hợp tác với quân Pháp, lại trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động bất lợi cho cách mạng Việt Nam, thì theo tôi, bởi vì hơn hết, Người hiểu được dân tộc (và hiểu được chính bản thân mình, bản thân là một người ái quốc, đứng trên lập trường chủ nghĩa yêu nước, không trở thành một người của trường phái nào), Người tự hào về truyền thống của dân tộc (trong đó nổi bật là truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng), Người phân biệt được sự khác biệt giữa dân tộc với cái bên ngoài, kể cả với chủ nghĩa Cộng sản. Chủ nghĩa Cộng sản do Mác – Ăngghen sáng lập, Lênin kế thừa và phát huy, dựa trên cơ sở học thuyết thặng dư và lí luận về đấu tranh giai cấp, chỉ áp dụng trước hết cho chính quốc. Mác cũng nói, cách mạng ở các nước thuộc địa chỉ thành công khi đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản đã hoàn thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở hiểu dân tộc – hiểu văn hóa, tâm thức dân tộc kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, khác với phương Tây, nên đã phát biểu một luận điểm hết sức quan trọng đó là các nước bị áp bức, bóc lột cũng có thể tự giải phóng mình khỏi ách thống trị của thực dân và Người đã đưa ra quan điểm: cách mạng ở Việt Nam sẽ tiến hành giải phóng dân tộc kết hợp với giải phóng giai cấp. Phương Tây trên cơ sở coi trọng cá nhân, cá nhân là trung tâm luận, người Việt và Á Đông nói chung lại coi trọng cộng đồng, gia tộc, coi trọng nhân cách. Vì coi trọng nhân cách, trọng cộng đồng nên người Việt coi cách mạng cũng là một bộ phận tạo thành nhân cách (hành đạo), tức xét chính trị trong đạo đức, coi đạo đức có vai trò cải tạo thế giới (Phương Tây lại đặt chính trị ngoài đạo đức, chính trị là một hoạt động tổ chức xã hội). Điều này lí giải tại sao ở Việt Nam lại có những bà mẹ như Mẹ Thứ, hy sinh 10 người con cho cách mạng mà không nghĩ bất cứ điều gì, lại có hàng vạn người tình nguyện ra chiến trường biết là ra đi khó có ngày trở lại, … làm cho kẻ thù phải kinh ngạc mà thốt lên là không thể hiểu được con người Việt Nam. Đây có thể cũng là nguyên nhân cơ bản để Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm: làm chính trị là thực hành đạo đức, “học chủ nghĩa Mác – Lênin để sống với nhau có nghĩa có tình”(3), cho nên ở Việt Nam mới có chuyện là giáo dục bằng tấm gương, một tấm gương sáng còn hơn vạn kinh sách. Đó cũng là một trong những lí do Chủ tịch Hồ Chí Minh âm thầm cắt dán trên một ngàn tấm gương “người tốt, việc tốt” giữa lúc mối quan hệ anh em XHCN không đồng thuận.

Từ quan điểm, văn hóa phải luôn tiếp biến với bên ngoài, phải lấy cái dân tộc làm gốc, ta mới lí giải vì sao hai kẻ thù xa lạ với ta là Pháp và Mỹ lại phải chịu đầu hàng một dân tộc nhỏ bé, nền kinh tế yếu kém, lạc hậu, khoa học – kỹ thuật chưa phát triển. Chúng ta chiến thắng hai kẻ thù đế quốc khi chúng ta có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chỉ có Đảng Cộng sản lãnh đạo chúng ta mới thực hành được cách mạng giải phóng dân tộc. Nhưng, Đảng chỉ là vạch ra đường lối, Đảng chỉ chỉ đường (đấy là cái mà trước đây chúng ta chưa có), cái quyết định thắng lợi là tinh thần dân tộc, là tâm thức trong mỗi người con Việt Nam (Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập – “câu chuyện” chỉ có ở Việt Nam). Đó là cái bất diệt. Mỹ không thể hiểu vì sao một cường quốc đứng đầu thế giới, vũ khí tối tân lại thua trận tại Việt Nam trong khi Mỹ rất hiểu về chế độ Cộng sản chủ nghĩa. Điều này có thể giải thích là do Việt Nam không chỉ đánh Mỹ bằng chế độ Cộng sản mà bằng truyền thống lịch sử hàng ngàn năm. Chủ nghĩa Cộng sản chỉ là cái cư trú, cái mới đến, cái hòa vào tâm thức dân tộc suốt hàng ngàn năm ở Việt Nam, làm tốt đẹp thêm con người Việt Nam. Nếu có thể nói về Chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam thì chỉ có thể nói Chủ nghĩa Cộng sản – Việt Nam mà thôi, nghĩa là vẫn là tâm thức người Việt Nam, giống như ngày nay người Việt Nam có sang Âu, sang Mỹ thì cốt tủy vẫn là người Việt Nam: cách đi đứng, kiểu tư duy, kiểu lựa chọn…

Những lí giải trên giúp ta hiểu được vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nhận mình là người yêu nước, và suốt đời Người vẫn là một người yêu nước nhiệt thành. Người yêu nước và hiểu dân tộc đến nỗi Người luôn chuyển hóa kinh sách, lý luận thành cách nói hàng ngày của người Việt(4). Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước chỉ với hành trang là VĂN HÓA, khi trở về lãnh đạo đất nước, người thanh niên năm ấy, với tên gọi Hồ Chí Minh, cũng luôn yêu cầu phải thực hành văn hóa, vì văn hóa. Điều này chứng tỏ một quan điểm quan trọng trong tư tưởng của Người đó là: lấy văn hóa làm gốc, văn hóa là mục đích, là động cơ để thực hành chính trị, chính trị và tổ chức xã hội nói chung là để phục vụ cho văn hóa. Sau này có một người đã hiểu Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết công trình Văn hóa và đổi mới. Đó là Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Công trình xuất bản vào những năm cuối đời, như một di huấn quan trọng. Cố Thủ tướng viết: “Đổi mới phải bắt nguồn và bắt rễ từ mảnh đất văn hóa, truyền thống văn hóa của dân tộc, tinh hoa văn hóa của thời đại… Từ mảnh đất văn hóa đó, sự nghiệp đổi mới, bao quát mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến chính trị và hệ thống chính trị của nước ta, ngày càng mở rộng và phát triển theo chiều cao và bề sâu”(5). Theo tôi đây là những đóng góp, bổ sung quan trọng cho học thuyết Mác xít vì học thuyết Mác xít chưa nhìn nhận thực đúng vai trò của văn hóa. Đấy cũng là lí do khiến triết gia Pháp Jean Paul Sartre không tán thành chủ nghĩa Mác về quan điểm văn hóa mặc dù ông tán thành quan điểm phát triển.

Theo Nguyễn Mạnh Hà
Báo Văn hóa Nghệ An
Thu Hiền (st)

1. “Hồ Chí Minh truyện”, Trương Niệm Thức dịch, Nxb Tam Liên, Thượng Hải, tháng 6-1949, dẫn theo: Nguyễn Đình Chú, Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh với Nho giáo, website: http://hoinhavanvietnam.vn. (xin chú thích thêm là, từ sau bản dịch năm 1949, các bản xuất bản sau đó của Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, không có đoạn Bác Hồ trả lời nhà báo nêu trên).
2. Mai Quốc Liên, Tư duy Hồ Chí Minh, TC Văn hoá Hà Tĩnh, số 132, 2009, tr.02.
3. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.34.
4. Xem thêm: Nguyễn Mạnh Hà, Đi xa để tái sinh mãi mãi – một cách nhìn về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, số 315, 2010.
5. Phạm Văn Đồng, Văn hóa và Đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.103.

bqllang.gov.vn

Nhận rõ để sửa chữa khuyết điểm

Trước khi ra đi, Bác đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế bản Di chúc vô cùng quý báu… Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Và trước khi “lên đường để đi gặp các cụ Các Mác, Lê-nin”, Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế bản Di chúc vô cùng quý báu. Trong đó, những lời căn dặn đầu tiên Người dành để nói về Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hội nghị phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc vận động: Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ động: Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ

Trước hết, Người nhắc về mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội quân tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng là nhằm “lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho dân”. Nói cách khác, mục đích của Đảng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Muốn đạt được mục đích đó, Đảng phải có trách nhiệm “vận động và tổ chức dân chúng”. Vai trò, sứ mạng của Đảng như là “người cầm lái”, người dẫn đường, đứng mũi chịu sào trong mọi hành động. Đảng có trách nhiệm hoạch định đường lối đúng đắn và đưa đường lối đó “vào nhân gian”, để giác ngộ, tập hợp, tổ chức nhân dân đứng lên đấu tranh thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Là Đảng cầm quyền nên Đảng càng phải ý thức đầy đủ, sâu sắc chức trách xã hội của mình. Theo Người, nếu không gắn bó mật thiết với nhân dân, không tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thì Đảng sẽ rơi vào tình trạng quan liêu, từ đó sẽ mất đi sức sống vốn có của Đảng. Dựa vào dân, gắn bó mật thiết với nhân dân là điều kiện tồn tại và phát triển của Đảng. Chỉ có qua thực tế hoạt động, Đảng mới tổng kết, đúc rút ý kiến của nhân dân để từ đó thành chủ trương, đường lối của người lãnh đạo rồi quay trở lại lãnh đạo, phục vụ quần chúng. Người căn dặn lãnh đạo phải biết lắng nghe ý kiến của nhân dân nhưng tuyệt đối không theo đuôi quần chúng.

Mặt khác, Người đặc biệt nhấn mạnh vai trò đoàn kết trong Đảng. Người dặn phải “Giữ gìn sự đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Chỉ khi Đảng đoàn kết, thống nhất thì mới phát huy được sức mạnh của tổ chức, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và mới tập hợp, lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Sự đoàn kết, thống nhất giúp cho Đảng vượt qua mọi khó khăn, vững vàng trong mọi thử thách. Cơ sở để xây dựng khối đoàn kết trong Đảng cả về tư tưởng, tổ chức, hành động chính là đường lối, quan điểm và Điều lệ Đảng. Người căn dặn để thực hiện sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng thì phải “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất”. Mỗi đảng viên phải phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Có tự phê bình tốt thì mới phê bình người khác tốt được. Đây là biện pháp để rèn luyện đảng viên, nhằm tăng cường sự đoàn kết nội bộ. Người chỉ rõ “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Để thực hiện có hiệu quả việc phê bình và tự phê bình, đòi hỏi mỗi người phải trung thực, chân thành với bản thân cũng như với người khác, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Đặc biệt “mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Theo quan niệm của Người, đạo đức cách mạng được thể hiện tập trung ở nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Người cán bộ của Đảng phải là người có đạo đức và phấn đấu vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đồng thời, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hội nhập ngày càng sâu, rộng với bên ngoài. Vì vậy, bên cạnh những thuận lợi, chúng ta cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới. Sự tấn công thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch, những mặt trái của cơ chế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế… đã và đang tác động nhiều chiều đến đời sống của nhân dân và mỗi cán bộ, đảng viên. Trong hoàn cảnh này, để hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình, Đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng chỉnh đốn thật vững vàng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Trong đó, việc nghiên cứu và học tập tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chung và thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người nói riêng là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên./.

Theo TRẦN VĂN LỢI
Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bài học về ý chí quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nguyên giá trị với tuổi trẻ hôm nay

Tuổi trẻ thế hệ Hồ Chí Minh. (Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Bài học về nghị lực và ý chí quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên giá trị đối với tuổi trẻ Việt Nam hôm nay. Bài học ấy nhắc nhở tuổi trẻ rằng, để xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, còn phải vượt qua nhiều khó khăn thử thách, đòi hỏi thanh niên phải phát huy tốt vai trò xung kích…

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước, mặc dù biết rằng sẽ rất khó khăn, vất vả và cả hiểm nguy. Lúc đó có người khuyên anh không nên đi và hỏi nếu đi ra nước ngoài thì sống thế nào? Nguyễn Tất Thành đã xòe hai bàn tay ra và nói: Đây, sẽ sống bằng chính cái này! Điều đó đã cho thấy nghị lực và ý chí quyết tâm của Người ngay từ buổi đầu của hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân.

Rời Bến cảng Sài Gòn, Người xuống làm phụ bếp trên con tàu của Pháp với một tên mới là Ba. Hàng ngày, anh Ba phải làm việc từ 4 giờ sáng, công việc vất vả suốt cả ngày, đến 9 giờ tối mới xong. Sau khi làm xong mọi việc, anh tranh thủ học tập, đọc hoặc viết đến 11, 12 giờ đêm mới nghỉ, để 4 giờ sáng hôm sau lại bắt tay vào những công việc của một ngày mới. Sau một tháng lênh đênh trên biển, ngày 6/7/1911, tàu cập cảng Mác-xây, một thành phố lớn của nước Pháp. Anh ngạc nhiên thấy ở Pháp cũng có những người nghèo khổ như ở nước mình.

Đầu năm 1912, Nguyễn Tất Thành từ Pháp qua Châu Phi sau đó sang Mỹ. Tại đây anh có dịp hiểu rõ được cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ với bản Tuyên ngôn Độc lập nổi tiếng. Giữa năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ để sang Anh, mới đầu anh xin làm chân quét tuyết cho một trường học, sau đó làm đốt lò ở trung tâm sưởi ấm của thành phố Luân Đôn. Đây là một công việc rất nặng nhọc, trong hầm hết sức nóng, ngoài trời vô cùng lạnh nhưng anh không có đủ quần áo ấm để mặc. Với số tiền ít ỏi dành dụm được, không đủ trang trải cho cuộc sống nên anh phải đến làm thuê cho một khách sạn, với những công việc như rửa nồi, chảo, bát đĩa và phụ bếp. Anh vừa lao động vừa học tập và tham gia Hội những người lao động hải ngoại ở Luân Đôn.

Những năm tháng làm việc vô cùng vất vả ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã tích luỹ thêm được những hiểu biết về chế độ chính trị của xã hội tư bản, về đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc và thuộc địa; đồng thời tự trang bị cho mình một trình độ kiến thức khá vững vàng về tiếng Anh – một công cụ giao tiếp rất quan trọng trong sinh hoạt và đấu tranh chính trị.

Giữa năm 1916, Nguyễn Tất Thành quay trở lại nước Pháp và hoà mình với quần chúng lao động nghèo giữa thành phố Pa-ri tráng lệ, sau đó gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Ở Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc sống chủ yếu bằng nghề in phóng ảnh, do việc làm không ổn định, đời sống gặp nhiều khó khăn nên phải nhận thêm việc vẽ quạt, lọ hoa và chao đèn. Từ khi gửi “Bản yêu sách tám điểm” tới Hội nghị Véc-xây thì sự tìm kiếm việc làm của anh càng khó khăn, nên khi có bất cứ việc gì kiếm được tiền anh đều phải tranh thủ làm và hết sức tiết kiệm chi tiêu để đề phòng những lúc thất nghiệp hay ốm đau. Anh ăn uống rất tằn tiện; về mùa đông giá lạnh, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, anh để viên gạch vào cạnh lò bếp, chiều về lấy ra bọc vào trong những tờ báo cũ để xuống giường nằm cho đỡ rét.

Tháng 7 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô. Sau đó, Người sang Quảng Châu bắt liên lạc với nhóm trung kiên để xây dựng các tổ chức cách mạng. Hoạt động ở Trung Quốc được gần ba năm, Nguyễn Ái Quốc quay trở lại Mát-xcơ-va, sau đó bí mật trở lại Pháp và một số nước khác.

Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm đến Hương Cảng để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cảnh sát Anh, Pháp ráo riết truy tìm Nguyễn Ái Quốc. Ngày 6/6, cảnh sát Anh bắt được Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Kông và đưa về giam giữ tại nhà tù Vích-to-ri-a. Bị kẻ thù giam cầm hơn một năm, trong điều kiện sống vô cùng khó khăn, thiếu thốn nên sức khoẻ của Nguyễn Ái Quốc ngày càng suy giảm, bệnh tình tái phát. Song, được sự giúp đỡ nhiệt tình của Luật sư Lô-dơ-bai, kẻ địch buộc phải trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc.

Từ Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc trở lại Mát-xcơ-va để tham gia các hoạt động của Quốc tế Cộng sản. Cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục bí mật trở lại Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức đảng ở hải ngoại và tìm đường về nước để trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Ngày 28/1/1941, khi sương mù còn phủ dày đặc trên các đỉnh núi, Nguyễn Ái Quốc đã rời Nậm Quang – Trung Quốc lên đường về nước. Giây phút đầu tiên đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng, nơi địa đầu Tổ quốc, xiết bao cảm động với người con đã bao năm xa nước. Phút giây đó, sau này Người kể lại: “Xa Tổ quốc đã hơn 30 năm. Đã mất bao thời gian và sức lực tìm liên lạc mà không được. Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động”(1).
Trở về Tổ quốc sau hơn 30 năm xa cách, Bác lại cùng với các đồng chí lãnh đạo của Đảng tiếp tục vượt qua những khó khăn thử thách mới để chèo lái con thuyền cách mạng tiến lên. Tuy nhiên, tình hình cách mạng lúc này có những bước phát triển mới đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế để chống đế quốc. Vì vậy, ngày 13/8/1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên mới là Hồ Chí Minh lại lên đường đi Trung Quốc. Sau 15 ngày đi bộ trên đất Quảng Tây, ngày 27/8/1942, Người bị Nhà đương cục Tĩnh Tây bắt giam, kẻ địch đã đối xử hết sức tàn bạo với Người, có những lúc cái chết cận kề nhưng Người vẫn bình tĩnh tự tin vào lý tưởng và con đường cứu dân, cứu nước mà mình đã chọn. Một lần nữa sức mạnh của nghị lực, ý chí quyết tâm đã giúp Người đạp bằng mọi hiểm nguy, mưu trí đấu tranh thoát khỏi được nanh vuốt của kẻ thù để trở về với đồng chí, đồng bào, lãnh đạo cách mạng tiến lên giành thắng lợi.

Người đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đã để lại cho chúng ta, nhất là thanh niên Việt Nam những bài học quý giá về nghị lực và ý chí quyết tâm trong hành trình tìm đường cứu nước.

Bằng chính sự trải nghiệm của mình, Người hiểu rất rõ vai trò và sức mạnh của thanh niên. Người chỉ rõ: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình” (2).

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo giáo dục, đào tạo các thế hệ thanh niên Việt Nam ngày càng phát triển trưởng thành về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Hiện nay trước yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đại đa số thanh niên nước nhà đã và đang nắm bắt được thời cơ vận hội, chủ động vượt qua mọi khó khăn thử thách, ra sức học tập, rèn luyện phấn đấu vươn lên, cống hiến cho đất nước. Song, cũng còn một bộ phận không nhỏ thanh niên phai nhạt lý tưởng cách mạng, ngại khó khăn gian khổ, thiếu nghị lực và ý chí phấn đấu vươn lên, bị tiêm nhiễm bởi văn hoá độc hại của phương Tây, chạy theo vật chất tầm thường, sống ích kỷ hẹp hòi, chỉ đòi hỏi được hưởng thụ mà quên đi trách nhiệm, nghĩa vụ của tuổi trẻ đối với Tổ quốc, với non sông đất nước. Để khắc phục tình trạng đó và phát huy ngày càng tốt hơn vai trò xung kích của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các cấp cần tiếp tục quan tâm chăm lo giáo dục, nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng cho thanh niên, trong đó cần tập trung làm tốt một số nội dung, giải pháp sau đây:

Thứ nhất, các cấp cần tiếp tục quán triệt nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với công tác thanh niên cũng như giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Bởi, thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc, là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, đề cao vai trò của thanh niên, xác định thanh niên là lực lượng xung kích, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc.

Tuy nhiên, hiện nay một số địa phương, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, còn biểu hiện xem nhẹ công tác thanh niên, nhất là ở những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các đơn vị kinh tế tư nhân. Để khắc phục tình trạng đó và từng bước “hình thành lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc của sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đẩy mạnh CHN, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN”(3), các cấp cần phải “đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống…”(4) cho thanh niên. Đó là trách nhiệm của toàn xã hội, mà trước hết là của cấp uỷ đảng, cùng với sự nỗ lực phấn đấu rèn luyện của chính mỗi đoàn viên, thanh niên.

Hai là, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên thông qua các phong trào hoạt động, gắn với đẩy mạnh thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên là đòi hỏi khách quan, là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quan trọng trong tình hình hiện nay.

Từ khi có Đảng lãnh đạo, thanh niên Việt Nam đã phát huy tốt vai trò xung kích. Từ những Thanh niên cứu quốc, đến phong trào như: Thanh niên Ba sẵn sàng, Năm xung phong; Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác; Thanh niên quân đội thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh bộ đội Cụ Hồ… Đó chính là những môi trường tốt để tập hợp, động viên, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đến các phong trào hoạt động của thanh niên, chưa tạo môi trường thuận lợi cho tuổi trẻ vui chơi giải trí, để thông qua đó định hướng tư tưởng và hành động cho thanh niên.

Khẳng định vai trò của môi trường vui chơi giải trí lành mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong vui chơi cũng có giáo dục, cần có những thú vui chơi văn hoá, thể dục có tính chất tập thể và quần chúng” (5). Vì vậy, các cấp cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức tốt các phong trào và hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh của thanh niên, nhất là khi điều kiện đời sống của các tầng lớp nhân dân ngày càng được nâng cao. Đồng thời, trong tình hình hiện nay, việc giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên phải gắn với đẩy mạnh triển khai thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Bởi, lý tưởng cách mạng là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết quả thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là thước đo sự giác ngộ lý tưởng cách mạng của thanh niên, đồng thời trách nhiệm của thanh niên là phải xung kích đi đầu trong triển khai thực hiện, qua đó rèn luyện có được nghị lực, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng và Nhà nước ta đặt trọn niềm tin vào thế hệ trẻ, song cũng đòi hỏi “Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn gian khổ để tiến mãi không ngừng”(6). Tương lai của đất nước, của dân tộc đang nằm trong tay thế hệ trẻ. Chúng ta có thể vượt ra khỏi đói nghèo để trở thành quốc gia giàu có, phát triển về mọi mặt được hay không? Tất cả đang trông chờ vào ý chí, nghị lực, bản lĩnh, hành động và việc làm của tuổi trẻ; phụ thuộc vào sự quan tâm giáo dục, đào tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Để họ có thể hiểu rõ hơn ai hết: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì? mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào”(7).

Ba là, tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, bảo đảm tính toàn diện, gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn. Trong những năm qua, Đảng, nhà nước và các tổ chức đoàn đã từng bước cụ thể hoá nội dung giáo dục phù hợp với sự vận động phát triển của nhiệm vụ cách mạng, với từng lĩnh vực, đối tượng cụ thể, vì thế chất lượng ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, trước sự phát triển mau lẹ của tình hình thế giới, khu vực, trong nước; sự phát triển của khoa học – công nghệ; đặc biệt, trước những âm mưu thủ đoạn thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, thì việc tiếp tục đổi mới nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên đang đặt ra cấp thiết. Để làm sao cho tuổi trẻ dễ tiếp thu, không cảm thấy máy móc, trừu tượng hoặc “công thức” hoá, gắn được lý luận với thực tiễn và định hướng hành động cho tuổi trẻ, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tính Đảng.

Nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng không chỉ là xây dựng cho thanh niên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; phát huy tinh thần yêu nước và chế độ, mà còn có phẩm chất đạo đức lối sống trong sạch lành mạnh; không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tức là phải trên cơ sở giáo dục toàn diện, khẳng định điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”(8).

Phải gắn đổi mới nội dung với đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục để đạt hiệu quả cao nhất. Phải đa dạng hoá hơn nữa hình thức, phương pháp giáo dục thông qua các hoạt động xã hội, hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh của thanh niên. Cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các hoạt động và có các cơ chế, chính sách phù hợp, nhằm động viên thanh niên học tập phấn đấu vươn lên. Phải phát huy tốt vai trò trách nhiệm và sự nêu gương của các thế hệ đi trước để thông qua đó giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh niên. Thế hệ đi trước phải vững tin ở tuổi trẻ, thế hệ trẻ phải luôn biết ơn và khiêm tốn học tập các thế hệ đi trước, để tất cả “Những người cộng sản chúng ta không được một phút nào quên được lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho CNXH hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên thế giới”(9).

Phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn các cấp thực sự trong sạch vững mạnh về mọi mặt, là lực lượng nòng cốt trong các phong trào hoạt động của tuổi trẻ. Đồng thời phải phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các tổ chức Đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn các cấp đối với công tác thanh niên. Khẳng định điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trung ương Đoàn cần phải tăng cường hơn nữa việc giáo dục tinh thần yêu nước, giác ngộ giai cấp và đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên”(10). Như vậy chắc chắn các thế hệ thanh niên nước ta sẽ vững bước tiến lên, kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của cha anh trong thời kỳ mới.

Chúng ta vô cùng tự hào về Người. “Chính Người đã làm rạng rỡ non sông đất nước ta”, để chúng ta có được như ngày hôm nay. Trong bối cảnh của thời đại hội nhập và phát triển, thanh niên nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận hội mới để phát triển phấn đấu vươn lên, đóng góp sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài học về nghị lực và ý chí quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên giá trị đối với tuổi trẻ Việt Nam hôm nay. Bài học ấy nhắc nhở tuổi trẻ rằng, để xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, còn phải vượt qua nhiều khó khăn thử thách, đòi hỏi thanh niên phải phát huy tốt vai trò xung kích, ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; có được nghị lực và ý chí quyết tâm, không ngừng nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng, để “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”; hoàn thành xuất sắc sứ mệnh vẻ vang của tuổi trẻ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Theo Phạm Thắng
Tạp chí Tuyengiao.vn
Tâm Trang (st)

_______________________

(1) Tiểu sử Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 270.
(2), (7) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập 4, tr.185, 65.
(3), (4) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI – Báo Nhân dân, ngày 19/3/2011.
(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập 3, tr. 75.
(6), (10) Sđd, tập 5, tr. 112, 114.
(8) Sđd, tập 10, tr. 306.
(9) Sđd, tập 7, tr. 445.

cpv.org.vn

Bản di chúc có chữ “Tuyệt đối bí mật” của Bác Hồ

Hồ Chí Minh bắt đầu viết di chúc vào dịp sinh nhật lần thứ 75 của Người vào ngày 10/5/1965 và sửa lại trong dịp sinh tiếp theo. Người mang di chúc ra viết và dặn lại Vũ Kỳ: “Chú cất giữ cẩn thận, sang năm, mồng 10 tháng 5 nhớ đưa lại cho Bác”. Mở đầu Bản Di chúc năm 1965 có đoạn: “Nhân dịp mừng 75 tuổi… Năm nay tôi 75 tuổi, tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng là lớp người “xưa nay hiếm”…”.

Bản Di chúc của Bác mang nét độc đáo rất riêng, dù bút tích Người ghi rõ “Tuyệt đối bí mật” nhưng đây lại là tài liệu được công bố rộng rãi nhất, được nhiều thế hệ học tập, noi theo. Di chúc của Hồ Chủ tịch đã được Bộ Chính trị cho xuất bản và công bố cùng ngày tổ chức lễ quốc tang 9/9/1969.

Những bút tích của Người còn lại trong các Bản Di chúc đã cho thấy, đây là văn bản được Người tập trung thời gian suy nghĩ, chỉnh sửa nhiều nhất so với các văn bản bút tích Người để lại. Điều đó, thể hiện tinh thần trách nhiệm của Người trước sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhưng đó còn là tấm lòng của vị lãnh tụ với tương lai đất nước.

Hồ Chí Minh bắt đầu viết chúc thư mà Người gọi là tài liệu “Tuyệt đối bí mật” vào 9h sáng ngày 10/5/1965, dịp Người tròn 75 tuổi. “Chọn đúng vào một ngày tháng Năm, nhân dịp sinh nhật mình; chọn đúng vào lúc 9h, giờ đẹp nhất của một ngày; chọn đúng vào lúc sức khỏe tốt nhất trong những năm gần đây… để viết về ngày ra đi của mình…” (Bác Hồ viết di chúc như thế nào – Hồi ký của đồng chí Vũ Kỳ). Rồi từ đó, mỗi năm, từ mồng 10 đến 20 tháng 5, mỗi hôm, Người dành trọn 1 tiếng, từ 9h đến 10h để chỉnh sửa Di chúc.

Ngoài những nội dung mang tính độc đáo, Di chúc của Hồ Chủ tịch còn có một quá trình lưu giữ, bảo quản cũng độc đáo không kém. Vì những lý do khách quan, vào năm 1989, toàn văn Di chúc của Hồ Chủ tịch cũng như ngày mất của Người mới được công bố bằng Thông báo của Bộ Chính trị khóa VI.

Thường lúc chuẩn bị về trời, tâm lý con người thể hiện qua di chúc là nghĩ và viết về quá khứ, về cuộc đời đã trải qua, đặc biệt là phải quan tâm đến sự việc quan trọng nhất của đời mình đang xảy ra ở thời điểm viết di chúc. Ấy vậy mà di chúc của Bác, chỉ nói đến tương lai của đất nước, dân tộc. Và nhất là những việc của tương lai cần phải làm.

Bác chỉ viết một câu vừa dự báo, vừa khẳng định: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người nhưng nhất định thắng lợi” (Bản Di chúc ngày 15/5/1965).

Và điều lạ nữa là Bác, trong toàn bộ Di chúc và các bản bổ sung, cụm từ “xã hội chủ nghĩa” chỉ được Bác viết một lần khi nói về thanh niên – “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế, xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên”.

Từ “cộng sản” được Bác viết một lần trong phần “về phong trào cộng sản thế giới” nhưng là để nói đến sự “bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em”. Như vậy Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản cũng là điều tất yếu như cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhất định thắng lợi như Bác đã dự báo.

Ngày Bác mất cũng trùng với ngày Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Bác khai sinh, ngày 2/9/1945. Di chúc của Bác với những giá trị độc đáo đã trở thành tài sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam.

Không chỉ hiện nay mà Di chúc của Bác Hồ mãi mãi về sau vẫn là ngọn đuốc soi đường, là kim chỉ nam cho mọi người, mọi thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo Hoàng Lâm
Báo Giáo dục Việt Nam
Huyền Trang (St)
cpv.org.vn

Tri ân những người có công với cách mạng

Hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ (27/7), Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trực tiếp là Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trong cả nước để tổ chức đón tiếp các đoàn Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Người có công với cách mạng về Lăng viếng Bác, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và tham quan các di tích lịch sử, văn hoá ở Thủ đô Hà Nội.

Mới hơn 6 giờ sáng ngày 17/4/2012, nhưng các đại biểu trong Đoàn Người có công với cách mạng của thành phố Cần Thơ đã tề tựu đông đủ tại Nhà khách Quốc tế số 8 – Hùng Vương để chuẩn bị vào Lăng viếng Bác. Tranh thủ gặp Phó Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Trần Minh Đăng chúng tôi được biết: “Thành phố Cần Thơ hiện nay có 32.060 người có công với cách mạng. Trong đó có 95 cán bộ lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa, 271 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, 30 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong kháng chiến, 2.850 thương bệnh binh, 8.230 liệt sỹ… những còn rất nhiều người chưa một lần được ra thăm Lăng Bác. Lần này, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các cấp, các ngành của Thành phố đã lựa chọn, ưu tiên 50 đại biểu, phần lớn là những Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và những đồng chí thương binh nặng được ra Thủ đô Hà Nội viếng Bác Hồ”.

Nhìn các má, các ba hầu hết tuổi đã ngoài 70, sức khỏe tuy đã giảm sút, lại đi suốt chặng đường dài hơn 1.500 km, nhưng trong khóe mắt ai nấy đều ánh lên niềm vui “sắp được gặp Bác rồi”. Quây quần trò chuyện tại khuôn viên Nhà khách, bác Nguyễn Văn Của, thương binh hạng 1/4 còn nhớ như in hình ảnh của 48 năm về trước: “Đúng vào ngày 19/5/1964, kỷ niệm 74 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại đội 1, Địa phương quân huyện Châu Thành của chúng tôi đã chiến đấu chống lại 7 đại đội nguỵ quân của địch đi càn quét. Trận chiến đấu vô cùng cam go, ác liệt suốt gần một ngày trời nhưng địch không chiếm được. Trước khi rút lui, địch còn gọi pháo binh vùi dập. Sau đó tôi thấy tim mình đau nhói và ngất lịm đi. Khi tỉnh dậy đã biết mình đang điều trị trong Quân y viện tiền phương được ba ngày. Sau nhiều năm điều trị, hiện giờ 2 mảnh đạn vẫn còn găm trong ngực. Nhưng đau thương nhất lại là những ngày nghe tin Bác Hồ mất. Không ai bảo ai, mà toàn thể cán bộ, y bác sĩ, đến các bệnh nhân trong Viện Quân y tiền phương của tỉnh tự tay may băng đen để tang Bác 7 ngày”.

Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tiếp và gắn
Huy hiệu Bác Hồ cho các thành viên trong Đoàn

Giờ viếng Bác chưa bắt đầu, nhưng lượng người vào trong khuôn viên Nhà khách mỗi lúc một đông. Có điều đặc biệt là hầu như trên ngực áo ai cũng lấp lánh những Huân chương và nhiều Huy hiệu cao quý. Đoàn nào đến cũng được các nhân viên Ban Đón tiếp thuộc Cơ quan Văn phòng tiếp đón, hướng dẫn, mời vào phòng khách, phòng xem phim tài liệu tận tình chu đáo. Nhận ra chúng tôi, đồng chí Trung tá Lương Kỳ Hải, Trưởng Ban Đón tiếp chia sẻ: “Riêng ngày hôm nay chúng tôi đón tiếp 5 đoàn người có công với cách mạng thuộc thành phố Cần Thơ, các tỉnh Kon Tum, Bình Dương, Cao Bằng và Đoàn cán bộ Lão thành cách mạng đang nghỉ dưỡng tại Đại Lải. Và tới đây, sẽ tiếp tục đón hơn 80 đoàn Người có công ở khắp mọi miền về Lăng viếng Bác. Riêng những đoàn ở các tỉnh phía Nam, chúng tôi còn cử cán bộ, nhân viên đón từ bến tàu, sân bay và phục vụ đoàn khi đi tham quan các di tích ở Thủ đô Hà Nội. Dẫu công việc bận rộn, vất vả, nhưng chúng tôi đều tự nhủ: Đón tiếp tận tình, chu đáo cũng là thể hiện tình cảm tri ân những người có công với cách mạng”.

Từng đoàn Người có công với cách mạng trước khi đi viếng Bác đều được các hướng dẫn viên giới thiệu chi tiết về nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và quá trình xây dựng Công trình Lăng của Người; được xem phim tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Lăng Bác. Sau khi đi viếng Bác, tham quan Nhà sàn và Bảo tàng Hồ Chí Minh, chúng tôi gặp lại Đoàn Cần Thơ. Nhìn các má, các ba đều vui vẻ, phấn khởi chúng tôi cũng yên tâm. Trước khi chia tay để Đoàn trở về Nhà khách ở số 12 Ngô Quyền, bác Võ Bá Tường và bác Nguyễn Văn Tài đều bùi ngùi xúc động: “Chúng tôi đều tham gia kháng chiến từ năm 13 tuổi, đều là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, chỉ cần duy nhất một lần này được ra Hà Nội và vào Lăng viếng Bác Hồ là chúng tôi đã mãn nguyện lắm rồi. Chỉ thương nhiều đồng đội hiện nay tuổi cao, sức yếu, bệnh trọng, suốt ngày mong mỏi hoài mà vẫn chưa một lần được gặp Bác. Liệu các đồng chí đó có còn sống để chờ ngày được gặp Bác không? Rất mong các cháu hãy chăm sóc, giữ gìn thi hài Bác Hồ thật tốt, thật lâu dài, để nhiều đồng đội, con cháu của chúng tôi, cũng như nhiều thế hệ người Việt Nam được vào Lăng viếng Người”.

Lời mong mỏi của các má, các ba trong Đoàn Cần Thơ cũng là lời nhắn nhủ đến các cấp, các ngành, các địa phương hãy dành sự quan tâm đặc biệt, tổ chức cho những đồng chí Lão thành cách mạng, các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí thương binh nặng, các gia đình chính sách… được về Lăng viếng Bác Hồ, tham quan Thủ đô. Đó cũng là sự tri ân những người có công với cách mạng./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

“Thoả lòng Bác mong….”

1. Cho đến nay, hầu như tất cả người Việt Nam mình, từ già đến trẻ, cũng như rất đông đồng bào ở nước ngoài, đều thuộc và có thể hát say sưa bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” của nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Nhìn các em thơ trong lớp mẫu giáo vừa vỗ tay vừa hát –mà nếu cô giáo không ra hiệu dừng lại, thì các cháu có thể hát mãi, hát đi hát lại nhiều lần. Bài ca xúc tích, đã trải qua gần 40 năm, và chắc sẽ còn được hát trong nhiều năm nữa, bởi nó đã thể hiện đúng tình cảm, niềm vui và những suy nghĩ của người Việt Nam mình trong ngày đại thắng lịch sử đó. Theo lời tác giả kể lại, những thôi thúc, những cảm xúc hồ hởi của ngày 30 tháng 4 năm xưa đã khiến ông ngồi viết một mạch trong 2 tiếng đồng hồ, không sửa một chữ nào. Hai tiếng đồng hồ để toàn dân cùng ca hát trong 40 năm. Đối với một nhạc sĩ sáng tác, có hạnh phúc nào lớn hơn, và có giải thưởng nào lớn hơn ?

Không người dân nào không thuộc lời bài hát
“Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”
Ảnh: Hoàng Long

Lớp tuổi trên dưới 50 chắc chưa ai quên ngày tháng hào hùng đó. Bài hát được truyền trên loa phát thanh suốt ngày và cứ thế, già trẻ, lớn bé đều say sưa hát theo. (Ngày đó, đã làm gì có máy thu vô tuyến truyền hình, thậm chí mãi mấy năm sau mới có cái cột phát VTTH ở phố Quán Sứ và cái máy phát sóng thử nghiệm đầu tiên được anh chị em trong nghề gọi vui là khẩu “súng ngựa trời” !) Lương thời bao cấp nhỏ nhoi, gạo nước đều phải tem phiếu, nhưng các gia đình đều rủ nhau đi mua một bánh pháo Bình Đà để đốt ăn mừng (hồi đó còn được phép đốt pháo), nổ râm ran trong ngày 30 tháng 4 và cả ngày hôm sau.

Vậy mà đã là 37 năm rồi đấy ! Có những bé ra đời đúng ngày 30 tháng 4 lịch sử, được bố mẹ đặt tên là Huy Hoàng (theo lời ca “Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng”) hôm nay cũng đã ngót 40, chắc đã có vợ con, chồng con đề huề và cả nhà vẫn thuộc lòng bài hát thân quen.

Ít lâu sau còn có một bài hát nữa – bài “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” thấm sâu vào lòng người với câu hát mở đầu “Từ thành phố này Người đã ra đi…” của nhạc sĩ Cao Việt Bách. Đã có nhiều ca sĩ nổi tiếng, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú…trình bày bài ca này, với tình cảm da diết, xúc động khi nhắc đến Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước từ Bến Nhà Rồng, mà ngày chiến thắng Bác chưa kịp về với miền Nam. Các nghệ sĩ đã hát bằng cả trái tim mình, nhưng không hiểu sao, tôi vẫn bồi hồi khi được nghe và xem trên đài VTTH tường thuật lại một buổi biểu diễn (hay hội diễn gì đó) : một linh mục cùng với dàn kèn đồng của một xứ đạo tỉnh Hà Nam Ninh (khi chưa tách tỉnh như bây giờ) bước lên sân khấu hát bài này. Mãi đến hôm nay, kỷ niệm 37 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, lời ca từ bài hát vẫn nói với chúng ta những điều thiêng liêng: “Thoả lòng Bác mong : Nước non này nghìn năm vững bền!”

2. Vững và bền, đó là điều tâm niệm, là mục tiêu của toàn thể dân tộc ta, đất nước ta từ thuở ngàn xưa. Chẳng phải mỗi ngày, chúng ta đều nhắc lại, ghi nhớ lại chân lý này khi bài Quốc ca của chúng ta vang lên “Tiến lên ! Cùng tiến lên ! Nước non Việt Nam ta vững bền !” đó sao ?

Trong những ngày tháng này, khi những lực lượng thù địch -cả trong và ngoài nước- đang xúm nhau rắp tâm phá hoại sự nghiệp của dân tộc ta, lại càng thấm thía điều này : Phải quyết tâm giữ gìn nước non ta thật vững và thật bền. Một nhúm những kẻ thuộc những cái gọi là “Phục Quốc”, “Việt Tân”…đang lăm le lật đổ chính quyền mà toà án của ta vừa đưa ra xét xử gần đây, là những dẫn chứng rõ rệt. “Phục” gì lũ chúng, “Tân” gì lũ chúng, hay chỉ là những kẻ nhận những đồng tiền nhơ nhớp của nước ngoài như một bè lũ tay sai toan tính làm suy yếu sự vững bền của đất nước ta, của dân tộc ta ? Rồi những lực lượng thù địch ở nước ngoài phụ hoạ theo, rêu rao chiêu bài cũ rích như “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”…để dẫn đường cho những tên phản bội ở trong nước, mà báo chí của ta đã vạch trần bộ mặt thật của bè lũ chúng không chỉ một lần.

Chúng ta nói công khai với niềm kiêu hãnh và tự hào rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chính là lực lượng lãnh đạo duy nhất, lãnh đạo toàn diện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ta. Chúng ta cũng đường hoàng và công khai nêu mục tiêu xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước thân yêu này, mà không có con đường nào khác. Ai đó còn mơ hồ về con đường của chủ nghĩa tư bản thì hãy nhìn vào cuộc khủng hoảng ghê gớm đang quét qua một loạt nước tư bản -từ nước phát triển nhất cho đến nước phát triển trung bình- để hiểu tại sao chúng ta quyết tâm chọn con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã vạch ra. Mặc cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống đối và phá hoại, nhân dân ta không hề nao núng. Câu trả lời đích đáng nhất cho bè lũ này, có lẽ thích hợp nhất là một câu ngạn ngữ ở phương tây “Chó cứ sủa, đoàn người cứ tiến!”.

Đảng ta, người lãnh đạo tuyệt đối của nhân dân ta, đất nước ta, cũng không hề che giấu những tồn tại, những khiếm khuyết của mình. Chỉ có một đảng vững mạnh mới công khai nói rõ những điểm còn yếu kém của mình, nói để tìm cách khắc phục và tiến lên. Nghị quyết trung ương 4 vừa qua là một minh chứng rõ ràng. Những thường dân chúng tôi cứ hay liên hệ một cách nôm na dân dã thế này : giống như trên cơ thể mọc lên một cái nhọt bọc, mưng mủ và đau đớn. Phải là một người dũng cảm, có bản lĩnh thì mới dám nghiến răng để nặn ra, và bôi thuốc cho khỏi, chứ nếu cứ che dấu, xoa dịu để cho nhẹ cơn đau thì sẽ không bao giờ khỏi được.

Lâu nay, trên báo chí của chúng ta cũng không hề che dấu những vụ việc tham nhũng, quan liêu, thoái hoá. Nhờ sự phát hiện của báo chí, của dư luận mà đã có những quan chức bị lôi ra trước vành móng ngựa, chịu kỷ luật thích đáng. Phải cám ơn và biểu dương những nhà báo, những tờ báo dũng cảm, không quản hiểm nguy –thậm chí bị trả thù, bị đánh đập- mới loại trừ được những con sâu đó.

Tuy nhiên, lại cũng phải thẳng thắn nhận xét rằng có một số tờ báo hơi thiên về việc phanh phui những vụ việc tiêu cực (không kể một vài trang báo mạng cố tình đưa những tin giật gân, moi móc đời tư của nghệ sĩ, hoặc những tấm hình hở hang phản cảm…mà có thể xếp chung vào loại báo…lá cải), quên đi hoặc coi nhẹ mặt “xây” những điển hình tốt, những gương “người tốt việc tốt”, bởi đó chính là một chức năng quan trọng của báo chí cách mạng. Báo Đại Đoàn Kết -tờ báo của Mặt trận đã rất đúng và rất trúng khi mở những chuyên trang như “Cán bộ là công bộc của dân” hoặc cuộc thi viết “Gương sáng khu dân cư”, đề cao việc “xây” bên cạnh việc “chống”. Không biết dân “ngoại đạo” mà nói như vậy có gì sai sót không, nhưng vì mong muốn góp phần xây dựng nước non ta vững và bền, nên tôi cứ mạnh dạn phản ánh như vậy.

3. Vững và bền, đó là mục tiêu của việc xây dựng đất nước ta. “Nước non Việt Nam ta vững bền” là lời của bài Quốc ca mà ta hằng tâm niệm. “Nước non này nghìn năm vững bền” là nguyện vọng của hơn 80 triệu người dân Việt Nam -cả trong và ngoài nước , là điều Bác Hồ kính yêu của toàn dân hằng mong từ khi rời bến Nhà Rồng cách đây hơn 7 thập kỷ. Kỷ niệm ngày 30 tháng 4 và cũng chỉ còn ít ngày nữa là kỷ niệm ngày sinh của Người, hôm nay chúng ta đã có thể thưa với Bác: Chúng con đã “thoả lòng Bác mong” là xây dựng “nước non này nghìn năm vững bền”, sẽ quyết tâm để nước Việt Nam ta mãi mãi “vững” và “bền”.

Nguyễn Lê Bách
qdnd.vn

Lời giới thiệu Tập 10

Tập 10 của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ hai, bao gồm những bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 1 nǎm 1960 đến tháng 12 nǎm 1962.

Những tác phẩm, bài viết in trong Tập 10 thể hiện tập trung tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tất cả các lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và các vấn đề quốc tế

Về nhiệm vụ của cách mạng cả nước, trước những biến chuyển mới của tình hình trong nước và quốc tế, trong bài Ba mươi nǎm hoạt động của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng Việt Nam hiện nay có hai nhiệm vụ phải đồng thời tiến hành: nhiệm vụ xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và nhiệm vụ tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Hai nhiệm vụ ấy đều nhằm một mục tiêu chung là: củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên nền tảng độc lập và dân chủ” (tr. 12). Tư tưởng đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lại tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng: “Nhiệm vụ hiện nay của cách mạng Việt Nam là: đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”(tr.198). Người nói: “Miền Bắc nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội” (tr. 13) để làm “cơ sở vững chắc của cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà” (tr. 198).

Trong công cuộc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Người xác định mục đích xây dựng “chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc” (tr.97), đồng thời cũng cho thấy: “Biến đổi một xã hội cũ thành một xã hội mới, không phải là một chuyện dễ. Nhưng đó là những khó khǎn trong sự trưởng thành. Toàn Đảng, toàn dân đồng sức đồng lòng thì khó khǎn gì cũng nhất định khắc phục được” (tr.545).

Xuất phát từ “đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (tr.13), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có vǎn hoá và khoa học tiên tiến.

Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài” (tr. 13).

Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp được thể hiện qua các bài nói của Người tại Hội nghị lần thứ nǎm và lần thứ bảy (1962) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) và một số bài nói, bài viết khác được công bố trên báo chí ở giai đoạn này.

Về vai trò của nông nghiệp trong nền kinh nước ta, Người nói: “nông nghiệp chiếm bộ phận lớn trong kinh tế, mà sản xuất nhỏ lại chiếm bộ phận lớn trong nông nghiệp…, nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là một nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là thị trường tiêu thụ to nhất hiện nay” (tr.14). Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Phải cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác…, để tạo điều kiện cho việc công nghiệp hóa nước nhà” (tr. 14), Người khẳng định: phải có một nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới có thể phát triển mạnh” (tr.14 – 15).

Khẳng định vị trí to lớn của nông nghiệp trong giai đoạn xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ vị trí quyết định của công nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế ở nước ta: “Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mớiphát triển. Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khoẻ và đi đều thì tiến bướcsẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích. Thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân” (tr. 545).

Đối với mục tiêu phát triển nông nghiệp, Người chỉ rõ: phát triển công nghiệp trước hết nhằm phục vụ nông nghiệp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng và cải thiện đời sống của nhân dân, tǎng cường tích luỹ để đẩy mạnh công nghiệp hoá. Trên tinh thần tự lực cánh sinh, đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần cố gắng cải tiến quản lý, đưa kỹ thuật mới vào công nghiệp để làm cho công nghiệp nước ta tiến kịp kỹ thuật tiên tiến của thế giới.

Đi đôi với việc phát triển công nghiệp và nông nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất chú ý tới việc xây dựng ngành thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, làm sao cho thương nghiệp nước ta thực sự trở thành một đòn bẩy kinh tế, làm tốt vai trò giao lưu kinh tế giữa công nghiệp với nông nghiệp, sản xuất với tiêu dùng, giữa địa phương với trung ương, trong nước với ngoài nước.

Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở giai đoạn này cho thấy mối quan tâm của Người đối với việc phát triển vǎn hoá, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Những bài viết về xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa; những bài nói chuyện của Người tại Đại hội vǎn nghệ toàn quốc lần thứ ba, ở Hội nhà báo Việt Nam, ở Hội nghị tổng kết phong trào thi đua dạy tốt, học tốt của ngành giáo dục,… đã thể hiện các quan điểm, tư tưởng của Người về cách mạng tư tưởng – vǎn hoá, xoá bỏ những tàn dư tư tưởng và hủ tục của xã hội cũ, về xây dựng nền vǎn hoá mới với nội dung xã hội chủ nghĩa mang đậm đà bản sắc dân tộc, về xây dựng con người mới, đạo đức mới, lối sống mới xã hội chủ nghĩa. Người nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí” (tr.159).

Cùng với việc xây dựng con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng đến vấn đề xây dựng, củng cố Đảng và các tổ chức quần chúng. Người luôn luôn nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, vai trò của công đoàn, thanh niên, phụ nữ, của mặt trận dân tộc thống nhất… trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Người chỉ rõ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, vì vậy cần ra sức phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của người lao động, phải kiên quyết chống lại bệnh quan liêu, mệnh lệnh, và chỉ thị cho các cơ quan nhà nước cần phải cải tiến công tác, giữ gìn kỷ luật, thực hành dân chủ… để góp phần củng cố Nhà nước.

Một nội dung quan trọng của Tập 10 là những bài nói, bài viết của Người về đường lối, phương hướng, bước đi của cách mạng miền Nam, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, phá thế kìm kẹp của địch, mở ra phong trào cách mạng rộng lớn, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam. Tập 10 cũng giới thiệu với bạn đọc những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm tiến tới hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân ta chống xâm lược.

Cũng trong Tập 10 này bạn đọc có thể thấy những tác phẩm thể hiện tư tưởng và hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm góp phần vào việc tǎng cường đoàn kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, lên án chính sách xâm lược và gây chiến của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, ủng hộ các phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới.

Trong nǎm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một loạt bài quan trọng, có giá trị tổng kết về lịch sử đấu tranh anh dũng, đầy hy sinh của Đảng sau 30 nǎm hoạt động và lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, chỉ ra những nhiệm vụ mới phải làm để đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đi tới những thắng lợi to lớn và vẻ vang hơn nữa. Người đặc biệt nhấn mạnh tới công tác xây dựng đảng nhằm làm cho Đảng thống nhất về ý chí và hành động, có đường lối đúng, có tư tưởng cách mạng triệt để, có tổ chức vững mạnh và đội ngũ đảng viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, giỏi chuyên môn, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, để hoàn thành vai trò của mình. Người chỉ rõ, trong việc xây dựng đảng cần phải chú ý tới xây dựng đảng ở cơ sở, nhất là các chi bộ phải nâng cao nǎng lực tổ chức thực tiễn vì chi bộ là nơi trực tiếp biến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực. Người nói: “Đảng ta phải chuyển mạnh. Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hǎng hái và gương mẫu” (tr.270). Do vậy, Người yêu cầu mọi đảng viên của Đảng phải không ngừng nâng cao về chính trị, tư tưởng, vǎn hoá, đạo đức, giữ vững vai trò tiên phong gương mẫu, đảng viên phải thật sự là con người mới xã hội chủ nghĩa, mới hoàn thành được các nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới mẻ và khó khǎn. Trong công tác xây dựng đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các thế hệ trong đội ngũ cán bộ của Đảng, nhằm bảo đảm tính kế thừa, tính liên tục trong sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Đảng luôn luôn đổi mới và phát triển, ngang tầm với nhiệm vụ lịch sử trong giai đoạn cách mạng mới.

*

*     *

Tập 10, Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần này, ngoài các bài đã công bố trong lần xuất bản trước, đã được bổ sung thêm 62 bài mới, tất cả đều đã được xác minh, đối chiếu, hiệu đính đầy đủ. Có thể còn thiếu những tài liệu của Người trong thời kỳ này do chúng tôi chưa sưu tầm được hoặc chưa có bản gốc để xác minh, đối chiếu… nên chưa có điều kiện đưa vào. Chúng tôi mong nhận được sự giúp đỡ của bạn đọc trong và ngoài nước để việc xuất bản các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng được đầy đủ hơn.

VIỆN NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

cpv.org.vn


Bạn muốn download trọn bộ Hồ Chí Minh toàn tập
hãy nhấn vào đây Down load

UB Dự thảo Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

 – “Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do môt người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Để hoàn thành vẻ vang vai trò này, người cách mạng kiểu mẫu phải: “1. Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại, 2. Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức, tóm lại, phải vị tha, không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm “Tổ quốc trên hết” ở mọi nơi, mọi lúc… làm việc không biết mệt mỏi”, “xem thường cái chết”, “thuận theo hoàn cảnh”, “suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động”, “dựa vào sức mạnh của dân”, “xem thường danh vị, ngôi thứ, tiền bạc”, “không cục bộ”, “không kiêu ngạo” và “Kiên trì và nhẫn nại”. Sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và nguy hiểm. Nếu người cách mạng thiếu kiên trì và nhẫn nại thì những khó khăn sẽ làm anh ta thối chí và sẽ đào ngũ giữa trận tiền”. Quan điểm Nguyễn Ái Quốc về phẩm chất “người cách mạng mẫu mực” viết trên báo “Thanh Niên” xuất bản tại Quảng Châu số ra ngày 18/9/1926.

dẢnh 1: 18/9/1945 Hồ Chí Minh tiếp các nhà tư sản có tiếng ở HN, tại Bắc Bộ phủ.

“Dòng sông lặng ngắt như tờ/ Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo/ Bốn bề phong cảnh vắng teo/ Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan/ Lòng riêng riêng những bàn hoàn/ Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng/ Thuyền về trời đã rạng đông/ Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi”. Bài thơ “Đi thuyền trên Sông Đáy” Bác sáng tác trên thuyền đi từ Khâu Lâu xuôi theo Sông Đáy về huyện Sơn Dương.

“Nam Bộ kháng chiến trước nhất. Chịu đựng gian khổ lâu nhất. Lại cách xa Chính phủ Trung ương nhất. Hoàn cảnh rất khó khăn. Nhưng sức kháng chiến ngày càng mạnh mẽ và có nhiều thành tích rất oanh liệt, vẻ vang.  Đó là vì đồng bào và bộ đội có lòng yêu nước rất nồng nàn, chí căm hờn giặc rất sâu sắc, lòng tin tưởng vào thắng lợi rất vững bền. Cho nên càng gian khổ, lại càng hăng hái. Chính như câu tục ngữ nói: Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Dù ở xa, nhưng lòng tôi và Chính phủ rất gần Nam Bộ”. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 6 năm Nam Bộ Kháng chiến, công bố ngày 18/9/1945.

Cùng ngày, trong bài báo “Chiến sĩ nấu bếp Hoàng Cầm”, đăng trên báo “Nhân Dân”, Bác động viên:“Dưới chế độ dân chủ của nước ta, bất kỳ ai làm việc gì mà cố gắng thi đua vượt mức thì tức là anh hùng… Nhiệm vụ của người nấu bếp cũng quan trọng như nhiệm vụ của người chỉ huy, vì “thực túc thì binh cường”, cơm no thì thắng giặc”.

dẢnh 2: Ngày 18/9/1946 trên tàu Dumont D; Urvilee trở về Tổ quốc.

Ngày 18/9/1945, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp khoảng 30 nhà công thương có tiếng ở Hà Nội, động viên các nhà hằng sản đóng góp cho “Tuần lễ Vàng” để “tỏ rõ cho thế giới biết người Việt Nam đồng lòng yêu nước”. (ảnh 1)   Ngày 18/9/1946, từ quân cảng Tulon, chiến hạm Dumont D’ Urville nhổ neo đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước kết thúc chuyến thăm Pháp kéo dài 4 tháng. Trên tàu còn có một số trí thức Việt kiều theo Bác về phục vụ đất nước như: Bác sĩ Trần  Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa”  (ảnh 2)…

X&N
bee.net.vn