Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Những ngày 19 tháng 5 với Bác Hồ kính yêu

Mỗi người dân Việt Nam ai cũng biết ngày 19 tháng 5 là một ngày vô cùng ý nghĩa – Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Bác Hồ là người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta và chính Người cùng Đảng ta lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thế nhưng, mãi đến ngày 19 tháng 5 năm 1946, năm đó Bác Hồ 56 tuổi, lần đầu tiên nhân dân ta mới có dịp kỷ niệm ngày sinh của Người. Khi đó, tại Bắc Bộ Phủ, Bác Hồ tổ chức tiếp đại biểu các cháu thiếu nhi Thủ đô Hà Nội, các chiến sĩ tự vệ, các hướng đạo sinh và các đại biểu Nam Bộ đến chúc thọ Bác. Bác Hồ đã chụp ảnh chung với các cháu thiếu nhi và nói chuyện với các đại biểu Nam bộ. Tại buổi gặp mặt này, Bác thổ lộ: “Thật ra, các báo ở đây làm to sinh nhật tôi, chứ tuổi 56 chưa có gì đáng chúc thọ, cũng hãy còn như thanh niên cả mà trước các anh các chị trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thật thấy làm xấu hổ rằng trong Nam chưa được thái bình”.

Từ đó, ngày 19 tháng 5 hằng năm là ngày sinh của một lãnh tụ, của “cha già dân tộc” ai ai cũng hướng tới. Tuy nhiên, đối với Bác, Người không tỏ ra quan tâm tới sinh nhật của mình, không muốn có sự khác biệt giữa Người với nhân dân. Vì vậy, cứ vào dịp đó, Bác Hồ thường căn dặn các địa phương, các cơ quan, đoàn thể là không nên tổ chức chúc thọ linh đình làm tốn thời giờ, tiền của của nhân dân, trong khi cuộc kháng chiến còn kéo dài, đời sống người dân còn nhiều gian khó. Có lần Bác Hồ đã nói: “Bác cảm ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi công việc hết sức khẩn trương mà lại còn tổ chức chúc thọ một cá nhân là không nên”. Hoặc có lần Bác nói: “Hôm nay, đồng bào cho tôi nhiều hoa bánh. Những thứ đó đáng giá cả. Xin đồng bào nghĩ đến các đồng bào nghèo khó, hơn là hao phí cho tôi”.

Vào dịp 19 tháng 5 các năm 1960, 1961, 1962, 1965, 1966, Bác Hồ thường ra nước ngoài, trong đó có Trung Quốc. Một dịp, Bác Hồ nói rõ ý của mình với Nguyên soái Diệp Kiếm Anh: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ ở trong nước. Vì vậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ”. Một lần khác, Bác Hồ viết thư gửi Đặng Dĩnh Siêu – một cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn gián, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, “tránh tặng quà”.

Với mục đích đó, trong tất cả các dịp sinh nhật của mình, nếu không ra nước ngoài thì Bác Hồ thường tránh những cuộc chúc thọ, tặng quà bằng cách xuống cơ sở, đến với đồng bào hoặc nếu vì tình huống bất đắc dĩ, Người thường cố gắng “hoãn binh” bằng những bài thơ rất ý nhị. Trong nhiều dịp 19 tháng 5 Bác Hồ đã để lại cho chúng ta những vần thơ bất hủ về niềm lạc quan, yêu đời, sự say mê quên cả tuổi tác, chỉ mong sao cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp cách mạng, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Vào dịp ngày 19 tháng 5 năm 1949, Bác Hồ làm bài thơ “Không đề”, nói lên tâm trạng của mình:

“Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà,
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già.
Chờ cho kháng chiến thành công đã,
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”.

Trước ngày 19 tháng 5 năm 1951, trong một cuộc họp cán bộ các cơ quan Trung ương ở Tuyên Quang, để cảm ơn và đáp lại những lời chúc thọ của mọi người, Bác Hồ đã làm bài thơ mà cho đến nay rất nhiều người trong chúng ta đều thuộc và coi đó như là tấm gương sáng để noi theo:

“Sáu mươi tuổi vẫn còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên.
Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe
Trần mà như thế kém gì tiên”.

Trước ngày 19 tháng 5 năm 1953, Bác Hồ làm một bài thơ chữ Hán (Sáu mươi ba tuổi) với niềm lạc quan, yêu đời, phong thái ung dung, tự tại. Bài thơ được dịch là:

“Chưa năm mươi tuổi đã kêu già
Sáu ba mình vẫn nghĩ là đương trai.
Sống quen thanh đạm nhẹ người,
Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung”.

Dịp sinh nhật lần thứ 74, tháng 5 năm 1965, Bác lại làm thơ thể hiện mong ước, đau đáu chờ đợi một ngày Bắc – Nam xum họp một nhà:

“Bảy mươi tư tuổi vẫn chưa già
Cố gắng làm tròn nhiệm vụ ta.
Bao giờ Nam – Bắc một nhà,
Dân giàu, nước mạnh thì ta vui lòng”.

Vào ngày 19 tháng 5 năm 1965, Bác Hồ thăm Trung Quốc, tới quê hương của Khổng Tử, thăm khu di tích Khổng phủ, Khổng miếu, Khổng lâm, trên đường về Tế Nam, thủ phủ của tỉnh Sơn Đông, Người đã làm bài thơ chư Hán phỏng Khúc Phụ:

“Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ,
Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa.
Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ?
Lấp loáng bia xưa chút ánh tà”.

Vào dịp sinh nhật lần thứ 77 của mình, tháng 5 năm 1967, Bác Hồ sang Trung Quốc. Từ Quảng Châu, Người đã viết bài thơ gửi Bộ Chính trị:

“Thời gian đã chóng tựa con thoi,
Thấm thoắt xa nhà một tháng rồi.
Nghìn dặm vui nghe tin thắng trận,
Một mình nằm tính việc xa xôi”.

Vào ngày 20 tháng 5 năm 1968, tại Lễ khai mạc Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa III, sau khi nghe Báo cáo và lời chúc thọ của các đại biểu dự họp, Bác Hồ có nói: “… lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm tôi thấy mình như trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ thế này:

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước, ta cùng con em ta”.

Đồng thời với việc đi cơ sở, gặp gỡ đồng chí, đồng bào, bắt đầu từ năm 1965, vào dịp sinh nhật của mình, Bác Hồ bắt đầu viết “mấy lời” để lại cho mai sau. Bản Di chúc đầu tiên Bác đề “Nhân dịp mừng 75 tuổi”. Cuối bản Di chúc, Bác ghi: “Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 1965”. Cùng với chữ ký của Người là chữ ký “chứng kiến” của Bí thư Thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn. Từ đó, mỗi dịp sinh nhật, Bác đem ra xem lại và bổ sung, chỉnh sửa.

Ngày 19 tháng 5 năm 1969, sinh nhật cuối cùng của Người, sau khi tiếp các cháu là con của các đồng chí phục vụ đến chức thọ, Bác xem kỹ lại toàn bộ bản Di chúc mà mình đã viết, bổ sung vào các năm trước. Sau đó, Bác tiếp chị Phạm Thị Quyên (vợ của Anh hùng – Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi) và chị Nguyễn Thị Châu, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên – Sinh viên giải phóng khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đến chúc thọ. Tiếp đó, Bác viết thư khen các cháu thiếu niên hợp tác xã Măng Non thôn Phú Mẫn, xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Ninh) vì đã có nhiều thành tích trong việc chăm sóc tốt trâu, bò. Đây cũng là bức thư cuối cùng Bác viết gửi cho các cháu thiếu nhi. Cùng ngày, Bác còn tặng ảnh chân dung của mình cho cán bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An, Đảng bộ tỉnh Nghệ An, cán bộ, công nhân Nhà máy xi măng Hải Phòng.

Trong suốt 24 năm, kể từ ngày 19 tháng 5 năm 1946, năm đầu tiên nhân dân ta tổ chức kỷ niệm ngày sinh của Bác, đến ngày 19 tháng 5 năm 1969, trước khi từ giã cõi đời này, Chủ tịch Hồ Chí Minh không dành riêng cho mình bất cứ một thứ gì, suốt đời Người dành cho độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Những ngày 19 tháng 5 là những ngày mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”.

Vũ Bình Minh
xaydungdang.org.vn

Cuộc gặp gỡ tháng 5

(ĐCSVN)– Sáng nay 19-5, Kỷ niệm 116 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Khu di tích Phủ chủ tịch, gần 40 cán bộ, nhân viên – những người đã từng sống, làm việc và phục vụ Bác Hồ kính yêu, đã có buổi gặp mặt thân mật, đầy xúc động…

Theo sáng kiến của hai bác Phùng Thế Tài và Tạ Quang Chiến – hai người từng trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, hàng năm, cứ vào ngày này, không cần thông báo cũng không cần giấy mời, bất cứ ai đã từng có thời gian làm việc và phục vụ bên Bác lại về đây tụ họp cùng ôn lại những kỷ niệm về Người…

Tại buổi gặp, ông Phan Đức Mấn Giám đốc Công ty khách sạn Du lịch Kim Liên – đơn vị từng được Bác về thăm, đã tặng Khu Di tích chiếc máy quay phim. Ông tâm sự: “Với chiếc máy quay này, tôi mong chúng ta sẽ ghi lại được ngày càng nhiều hơn kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu và lưu giữ nhiều hình ảnh sống động của các nhân chứng lịch sử về Bác Hồ”. 

Cũng trong buổi gặp mặt đầy xúc động này, ông Nguyễn Sơn – Công ty khách sạn Du lịch Kim Liên đã viết bài thơ nói lên tình cảm của mình – đối với Bác khi vào thắp hương tưởng nhớ người:

“Trước Lăng người
Con dâng một Đài sen
Nhớ Ngày sinh nhật Bác
Trong nhớ thương lòng con khẽ hát
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người
Hồ Chí Minh con theo Bác trọn đời”

Kim Dung-Việt Hà
cpv.org.vn

Cảm nhận sáng 19 tháng 5 tại Lăng Bác

Đồng chí Nguyễn Văn Khôi, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội tham dự khai trương tuyến phố đi bộ tại phía Nam đường Hùng Vương

Hôm nay, trên Quảng trường Ba Đình nhộn nhịp, cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đang khẩn trương chuẩn bị thực hiện nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác; chuẩn bị khai trương tuyến phố đi bộ khu vực Lăng; lắp đặt mái che và chuẩn bị địa điểm nơi tập kết để phục vụ đồng bào trong nước và khách quốc tế về viếng Người.

Đúng 6 giờ sáng, Quốc ca trên Quảng trường Ba Đình vang lên, mọi ánh mắt đều đổ dồn về lá cờ Tổ quốc đang tung bay trước Lăng Bác. Biểu tượng của Tổ quốc và hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh luôn hoà quyện nơi Ba Đình lịch sử. Nơi đó, những chiến sỹ tiêu binh danh dự ngày đêm thành kính và trang nghiêm thực hiện nghi lễ chào cờ.

Toàn cảnh đồng bào và khách quốc tế về Lăng viếng Bác.

Đông đảo đồng bào và khách quốc tế đã về Lăng viếng Bác nhân dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người

Lễ chào cờ vừa kết thúc, cũng là thời điểm bắt đầu khai trương tuyến phố đi bộ tại khu vực Lăng. Dự Lễ khai trương có đồng chí Nguyễn Văn Khôi, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội; Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng lãnh đạo, chỉ huy các ban, ngành, cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Hà Nội và Ban Quản lý Lăng.

Đoàn trường Phổ thông dân tộc Nội trú Sông Mã, Sơn La vào Lăng viếng Bác

Được biết, hôm nay Lăng Bác sẽ mở cửa đón khách từ 7 giờ 15 phút, sớm hơn so với mọi ngày 15 phút. Nhưng từ 6 giờ sáng, trước cổng số 17 phố Ngọc Hà đã rất đông đồng bào và khách quốc tế xếp hàng chuẩn bị vào Lăng viếng Bác. Cụ Phùng Thanh Huân, 78 tuổi ở Đông Quang, Ba Vì, Hà Nội cho biết: “Tôi về từ chiều hôm qua. Biết hôm nay khách đến viếng Bác rất đông, nên từ 5 giờ sáng, tôi giục cháu đưa đến đây sớm. Đã 3 lần đi viếng Bác, nhưng lần này có cảm giác đặc biệt. Bởi tôi sẽ là người khách đầu tiên được nhìn thấy Bác trong Ngày sinh của Người”. Cùng trong dòng người đầu tiên viếng Bác, bà Trương Thị Cúc, 66 tuổi ở Trấn Hưng, Gia Trung, Gia Viễn, Ninh Bình đã bắt đầu đi từ lúc 2 giờ sáng. Bà nói: “Từ năm 2000 đến nay, 12 lần tôi đều chọn đúng ngày 19/5 để về Lăng viếng Bác. Năm nào dòng người viếng Bác đều rất đông, nhưng đối với những người nông dân như chúng tôi có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay ơn Đảng, ơn Bác nhiều lắm. Tôi còn làm cả bài thơ “Dâng Bác”, trong đó có đoạn: Các con áo vải màu nâu tím/ Về Lăng viếng Bác nhớ ơn Người/ Trong Lăng Bác như vừa chợp mắt/ Đón ngày ngày con cháu viếng thăm”.

Dòng người từ các ngả đường Điện Biên Phủ, Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn, Kim Mã hướng về Lăng Bác mỗi lúc một đông. Bởi lẽ ai cũng muốn đến viếng Bác đúng vào dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người. Là cán bộ thực hiện nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Đinh Văn Khang, Chính trị viên Đội Cảnh vệ Đặc biệt, Đoàn H75, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng cho biết: “Đơn vị đã chuẩn bị chu đáo để sẵn sàng phục vụ khách. Ngày thường chiến sỹ gác 30 phút đổi ca một lần. Nhưng hôm nay, anh em sẵn sàng phục vụ thêm ca, thêm giờ, có đồng chí đứng hướng dẫn, phục vụ khách suốt lễ viếng. Tuy thấm mệt nhưng mọi người đều cảm thấy rất vui, được phục vụ nhiều đồng bào và khách quốc tế về Lăng viếng Bác trong ngày lễ trọng thể này”.

Đoàn Phật tử thiền phái Trúc Lâm, Yên Hưng, Yên Tử, Quảng Ninh vào Lăng viếng Bác

Trong dòng người tụ hội về bên Lăng Bác hôm nay, chúng tôi thấy có các tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang của tỉnh Hưng Yên tại Hà Nội; Đoàn đại biểu Người Anh hùng và thân nhân Anh hùng liệt sỹ; Đoàn Phật tử thiền phái Trúc Lâm, Yên Hưng, Yên Tử, Quảng Ninh và các thành phần dân tộc, tôn giáo. Các cháu ở Trường Phổ thông dân tộc Nội trú Sông Mã, Sơn La đã mong chờ, hồi hộp cả tháng nay khi biết thông báo sẽ được về Lăng viếng Bác trong dịp 19/5. Cô giáo Bùi Thị Hải, Hiệu trưởng Nhà trường cho biết: “Từ ngày 19/4 đến 19/5/2012, Nhà trường phát động phong trào thi đua “Dành nhiều điểm tốt kính dâng lên Bác”. Thầy thi đua dạy giỏi, trò thi đua học tốt. Trong số 16 thầy cô giáo và 66 học sinh về viếng Bác hôm nay đều rất tiêu biểu. Nổi bật là cháu Sộng Thị Dung, dân tộc Mông ở bản Nà Ham, xã Mường Gai, Sông Mã, gia đình nghèo nhưng vượt khó, học giỏi và cháu Vừa Thị Ca, lớp 8A ở bản Hổi Pản, xã Huổi Một, Sông Mã, bị khuyết tật nhưng 8 năm liền đều là học sinh giỏi”.
Không chỉ đồng bào trong nước, mà rất đông những người khách quốc tế cũng đều thể hiện tình cảm đặc biệt đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đoàn khách du lịch đến từ Ôx-trây-li-a, các bạn Jana, Javren và David còn rất trẻ cho biết: “Đây là lần đầu tiên đến Việt Nam và điểm tham quan đầu tiên là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy chưa hiểu nhiều về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng chứng kiến dòng người xếp hàng dài chờ đợi rất lâu, dưới trời nắng nóng, oi bức để được vào Lăng viếng Người, thì chúng tôi cảm nhận được tình cảm sâu nặng của nhân dân Việt Nam dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi rất muốn ở đất nước mình cũng có lãnh tụ vĩ đại được nhân dân kính trọng như Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Còn anh Andrea đến từ I-ta-li-a cho biết: “Tôi đã tìm hiểu về đất nước Việt Nam, về Hồ Chí Minh. Biết Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Ở đất nước các bạn “Việt Nam – Hồ Chí Minh” luôn gắn liền với nhau”. Lần đầu đến Việt Nam, nhưng tôi thật ngỡ ngàng về kiến trúc Công trình Lăng rất đẹp, rất trang trọng trong không gian Quảng trường Ba Đình rộng lớn. Đặc biệt là hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm trong Lăng rất thanh thản, bình yên, thể hiện cuộc sống thanh bình của đất nước các bạn”.

Những người khách cuối cùng trong dòng người về viếng Bác hôm nay lặng lẽ rời Công trình Lăng. 11 giờ 15 phút buổi Lễ viếng kết thúc. Trong thời gian 4 giờ tổ chức viếng, tại Lăng Bác đã đón tiếp gần 18 ngàn lượt người, trong đó có hơn 4 ngàn lượt khách quốc tế đến từ khắp mọi miền Tổ quốc và vùng lãnh thổ trên thế giới về viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người./.

Nguyễn Hữu Mạnh
old.bqllang.gov.vn

Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn

Yeu bac long ta trong sang hon

Tháng năm về, chúng ta lại rộn ràng, bâng khuâng nhớ Bác, nhớ ngày sinh của vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất. Suốt cả cuộc đời, Người đã cống hiến, hy sinh cho nền độc lập, tự do của dân tộc, cho ấm no, hạnh phúc, hoà bình của nhân dân. Trong toàn bộ di sản Người để lại, bản Di chúc có giá trị bất tử, thiêng liêng, kết tinh hồn sông núi và trí tuệ, trái tim bao la của Người. Khi biết mình sắp phải đi gặp Cụ Các Mác, Lênin, đivào cuộc trường chinh nhẹ cánh bay, Người đã căn dặn toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải đoàn kết, cố gắng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược để xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Và cuối cùng, Người để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Ngày nay, mỗi lần lật mở từng trang Di chúc, chúng ta lại xúc động tự hào vì dân tộc ta có Bác, Người luôn trằn trọc, băn khoăn vì lo nỗi nước nhà, Người đã kinh qua bao thăng trầm sóng gió, bôn ba hải ngoại để tìm hình của nước, với một ham muốn tột bậc “đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Những tư tưởng vĩ đại ấy toát lên từ chính cuộc đời giản dị, thanh cao. Với bộ quần áo kaki, đôi dép cao su, Người đã đi khắp năm châu bốn bể tìm con đường giải phóng dân tộc, góp phần vào phong trào đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân loại cần lao. Tuy không được chứng kiến ngày Bắc – Nam sum họp, thống nhất, Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân, nhưng trong Di chúc, Người đã hình dung rất rõ về tương lai tất thắng của dân tộc “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”. Và lịch sử đã chứng minh chân lí muôn đời: chính nghĩa thắng phi nghĩa. Chúng ta chiến thắng nhờ vào sự đồng tâm nhất trí, tinh thần đoàn kết, truyền thống yêu nước nồng nàn của nhân dân, và đặc biệt là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng. Vì vậy trong Di chúc, điều đầu tiên Người căn dặn là vấn đề về Đảng. Người viết:

“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.(1)

Không chỉ đến Di chúc Người mới đề cập đến vấn đề xây dựng, tổ chức đảng mà trongSửa đổi làm việc (1947) Người cũng đã thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh mà đảng viên và các tổ chức Đảng thường mắc phải như: Bệnh chủ quan, thói ba hoa, quan liêu, lãng phí, chuộng hình thức, hư danh…, những thói hư tật xấu ấy sẽ làm băng hoại đạo đức cách mạng. Vì thế, cần phải trau dồi phẩm chất cách mạng, thắt chặt tinh thần đoàn kết, nghiêm khắc tự phê bình và phê bình để Đảng ngày càng trong sạch. Người từng viết: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí. Cũng như người có bệnh nếu giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc để bệnh lâu ngày nặng thêm, nguy hiểm đến tính mạng. Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh mẽ, chắc chắn, chân chính”(2.) Thực tế đã chứng minh, ở đâu cơ sở Đảng làm tốt nhiệm vụ của mình, gương mẫu đi đầu trong mọi công việc thì luôn được nhân dân tin yêu, kính trọng, yên tâm trao quyền lãnh đạo.

Những lời Người viết trong Di chúc đến nay vẫn mang tính thời sự, bởi Người đã nói trúng, nói đúng vào những vấn đề trọng tâm, cốt yếu, có tính muôn thuở là bài học về đạo đức cách mạng. Nếu không có tinh thần đoàn kết, yêu thương thì không thể tạo ra sức mạnh, thậm chí lại là cơ hội cho chủ nghĩa cá nhân, chia bè kết cánh, tham quyền cố vị nảy sinh. Đó là mầm mống của những hiểm họa khi con người đứng trên tập thể, cộng đồng để sai khiến, chỉ huy.

Để Đảng thật sự trong sạch, đòi hỏi mỗi đảng viên phải ý thức rõ về vai trò, sứ mệnh của mình, thấy được ý nghĩa lớn lao cao cả khi được đứng vào hàng ngũ tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, được nhân dân tin yêu, ngưỡng mộ. Trong Đảng phải thực hành tiết kiệm, dân chủ, công khai, đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện sai trái, tiêu cực. Và một trong những phẩm chất quý báu, một yêu cầu tiên quyết của người đảng viên là phải thấm nhuần đạo đức cách mạng. Đạo đức ấy là lòng yêu Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân, chia sẻ vui buồn với quần chúng, sống chan hoà, gương mẫu, có lòng vị tha, nhân ái… Đạo đức cách mạng của mỗi người là tấm gương để cá nhân khác soi vào, tự răn mình phải sống tốt hơn, sống có ý nghĩa, có lí có tình, phù hợp với thuần phong mĩ tục, với đạo lí, truyền thống tốt đẹp của cha ông. Từng lời, từng chữ trong Di chúc đều thấm đượm tư tưởng, tình cảm của Người. Đó là mong ước, khát khao mà trọn đời Người cố gắng ươm mầm, vun trồng, gây dựng, hình thành các tổ chức, cơ sở Đảng, cũng như chăm lo, tạo điều kiện phát triển đội ngũ kế cận cho Đảng làm nên sự lớn mạnh, cường thịnh, phồn vinh của đất nước. Những lời ấy thật giản dị, gần gũi nhưng rất đỗi thiêng liêng như những châm ngôn để mỗi cán bộ, đảng viên phải tự răn mình: “Phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đúng như lời răn dạy của cổ nhân và những bậc hiền triết thuở xưa “Tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu / Hậu thiên hạ nhi lạc chi lạc” (Phàm người làm quan phải biết lo cái lo trước thiên hạ và vui cái vui sau thiên hạ), phải tu nhân tích đức, sống hợp qui luật thì sẽ đắc nhân tâm.

Ngày nay, sau hơn 40 năm thực hiện Di chúc, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đã ra sức hăng hái thi đua lao động sản xuất, kiến thiết nước nhà, tiến tới xây dựng thành công CNXH như mong ước của Người. Những điều Người căn dặn trong Di chúc như sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp cách mạng, là kim chỉ nam hành động thôi thúc, cổ vũ, động viên nhân dân tiến lên, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xây dựng cuộc sống mới.

Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập, hợp tác, bên cạnh những yếu tố tích cực thì vẫn còn đó bao vấn đề nhức nhối đang đặt ra với bao mặt trái của của giao lưu văn hoá toàn cầu đem lại. Lối tư duy cũ, tâm lí ăn xổi ở thì, lối sống thực dụng cá nhân, chạy chọt, luồn cúi vì danh vọng tiền tài, vì lợi ích riêng của bản thân, gia đình mà nhiều cán bộ, đảng viên bất chấp pháp luật và đạo đức xã hội chà đạp lên những lí tưởng đẹp đẽ mà cha anh và các thế hệ đi trước đã hy sinh xương máu gây dựng nên.

Trước tình trạng tha hoá về đạo đức cách mạng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, Nghị quyết số 12-NQ/TƯ của Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã kịp thời ra đời đề cập đến những vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay. Nghị quyết nêu rõ:

“Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lí, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lí tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tuỳ tiện, vô nguyên tắc…”.(3)

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên có nhiều, song chủ yếu là do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Có thể nói Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh trầm kha khó chữa, mang tính dây chuyền, ăn sâu trong nếp nghĩ của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lí, làm suy giảm niềm tin của nhân dân.

Những kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XI vừa có tính tổng kết, vừa mở ra bao vấn đề cấp bách, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên đến các chi bộ Đảng phải phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng, đẩy lùi tham ô, lãng phí, sống gần dân, hiểu dân, coi dân và yêu dân như yêu chính người thân máu mủ ruột thịt. Từ Trung ương đến địa phương phải làm mạnh mẽ, quyết liệt tạo sự chuyển biến tích cực trong Đảng, giữ gìn sự trong sạch của Đảng, xứng đáng với niềm tin tưởng, kì vọng của Bác: Đảng ta là đạo đức, là văn minh.

Tư tưởng xuyên suốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI là sự tiếp nối, phát huy những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay. Tuy có nhiều điểm mới nhưng nội dung cốt yếu vẫn là vấn đề tu dưỡng tính Đảng và đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần cách mạng, học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ vĩ đại: Cả cuộc đời vì nước vì dân.

Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ được phát động trong toàn Đảng toàn dân đã tạo ra đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng rộng khắp, có tác động sâu sắc tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số cán bộ, đảng viên chưa thấm nhuần tư tưởng của Người.

Chúng ta cần phải nghiêm khắc tự phê bình và phê bình, kiên quyết xử lí những trường hợp vi phạm, truy tố trước pháp luật những hành vi gây tổn thất, lãng phí tiền của Nhà nước, xâm hại đến lợi ích, đời sống nhân dân. Bên cạnh đó phải tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của người đứng đầu trước vận mệnh, số phận quốc gia, dân tộc, tạo ra một xã hội thực sự dân chủ, công bằng, văn minh. Tư tưởng, đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không ở đâu xa mà thật gần gũi, giản dị.

Tuy Bác đã đi xa nhưng những tư tưởng nhân văn – tư tưởng vì con người của Bác vẫn toả sáng đến mãi mai sau.

Tháng Năm về mang theo bao tia nắng chói chang của mặt trời chân lí cách mạng, mang màu xanh của cây lá hoà bình, mang hương thơm ngọt lành, dịu mát của hoa sen, và mang cả nỗi nhớ đong đầy, thiết tha, sâu nặng của người dân Việt Nam nhớ Bác với lòng biết ơn vô hạn. Để rồi “Mỗi khi lòng xao xuyến rung rinh / Môi ta thầm kêu: Bác Hồ Chí Minh”. Nhớ Bác, yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn./.

Theo Nguyễn Huy Phòng/ Tạp chí Tuyên giáo
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

_________

(1) Di chúc, Nxb.CTQG, H.1999, tr.38

(2) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.5, tr.261

(3) Nghị quyết số 12-NQ/TƯ, Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, năm 2012

Những bài học quý qua mỗi dịp sinh nhật Bác Hồ

Bác Hồ trong một lần về thăm xã Nam Chính, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Nhà thơ Tố Hữu trong bài “Theo chân Bác” đã viết: “Như đỉnh non cao tự giấu mình/ Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh”. Sự từ chối lễ nghi phiền phức của vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Ðảng trong những dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện sự khiêm tốn, giản dị mà cao thượng biết bao! Đó là bản chất của người cách mạng chân chính – người ‘‘đầy tớ” trung thành của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Người trở nên cao đẹp, vĩ đại. Tấm lòng và đạo đức cách mạng sáng ngời của Người mãi mãi là tấm gương sáng để các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

“Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân, cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam…”. Cuộc đời 79 mùa xuân tươi sáng, Bác đã cống hiến trọn vẹn cho dân, cho nước. Bác vui với niềm vui chung của dân tộc, Bác đau khi nhìn thấy nhân dân lầm than, nước mất, nhà tan… Vì vậy, sinh thời, cứ đến dịp 19-5, kỷ niệm ngày sinh của mình, Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức linh đình vì Người sợ tốn thời giờ, tiền bạc của nhân dân trong lúc đời sống và cuộc chiến đấu của nhân dân ta còn nhiều khó khăn, gian khổ.

Trên cương vị là chủ tịch nước, hằng năm, vào ngày sinh của mình, Bác thường đi làm việc hoặc đến thăm hỏi một số nơi để tránh những nghi lễ phiền phức, tốn kém. Có năm, vào dịp ngày sinh của Bác, Người sang công tác tại Trung Quốc. Ở đây, các đồng chí nước bạn biết ngày sinh của Bác nên chuẩn bị chúc thọ. Thấy vậy, Người ân cần nói với cán bộ phụ trách nhà nghỉ: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ trong nước. Vì vậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ tôi ở đây”. Vào một dịp sinh nhật năm khác, Bác sang Trung Quốc với ý nghĩa như Người đã viết trong thư gửi bà Ðặng Dĩnh Siêu – Cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn giản, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, tránh “tặng quà”.

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, có lần Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc vào đúng dịp sinh nhật của Người. Trước khi đi, Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ ở nhà đánh bắt cá tại ao cá mà Người vẫn hằng ngày chăm sóc, biếu các cụ già, các cháu bé, các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước và anh chị em trong cơ quan hằng ngày vẫn phục vụ, chăm sóc Bác để cải thiện bữa ăn. Việc làm của Người vừa thể hiện sự quan tâm, chăm lo đời sống đối với mọi người, vừa là để cảm ơn mọi người đã tận tụy công tác, chăm lo cuộc sống hằng ngày cho Bác.

Mỗi dịp sinh nhật, thay việc tổ chức tiệc chúc thọ linh đình, tặng quà, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan đoàn thể trong nước và bè bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết. Đặc biệt, Người còn làm thơ nói về tuổi tác của mình thay những lời cảm tạ. Mỗi bức thư, mỗi dòng thơ của Bác Hồ tuy nói về ngày sinh của mình, nhưng lại là tình cảm, trách nhiệm của Người đối với non song đất nước, đồng bào, đồng chí, cao hơn là nguyên tắc sống của một lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam suốt đời “Trung với Ðảng, hiếu với dân”; đồng thời, thể hiện đường lối lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam về “thực hành tiết kiệm”, chống xa hoa, lãng phí trước hoàn cảnh đất nước còn không ít khó khăn, thiếu thốn! Năm 1965, nhân dịp sinh nhật lần thứ 75, trong tài liệu “Tuyệt đối bí mật” của mình, lần đầu tiên Bác viết: “Năm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khoẻ mạnh. Tuy vậy, tôi cũng là lớp người “xưa nay hiếm”… tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột”. Tài liệu này được Bác bắt đầu viết vào ngày 15-5-1965, có sự chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất BCH TƯ Đảng.

Ba năm sau, tình trạng sức khỏe của Bác giảm sút! Người đã nhiều lần sửa đi sửa lại và đặt bút viết câu mở đầu vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để gửi lại cho đời sau vào lúc 9h ngày 10-5-1968: “Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây…”. Vì vậy, sinh nhật lần thứ 78 của mình, Bác không “vắng nhà” như những năm trước mà dành tất cả thời gian, tập trung suy nghĩ, sửa chữa bản “Di chúc” – “tài sản vô giá” của Người để lại cho dân tộc Việt Nam. Năm đó, Bác viết thêm vào “tài sản” của mình một số nội dung cụ thể, căn dặn những việc phải làm ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi là hàn gắn vết thương chiến tranh, chỉnh đốn Ðảng; chăm lo đời sống của nhân dân… Những lời căn dặn, chỉ dẫn thiêng liêng và tình cảm thiết tha của Người đã trở thành mệnh lệnh trái tim đối với mỗi người dân Việt Nam không chỉ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà còn là cương lĩnh hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc hiện nay.

Sinh nhật lần thứ 78, tuy Bác không đi công tác xa như những năm trước, nhưng buổi tối ngày 18-5-1968, Bác lên nhà nghỉ ở Hồ Tây. Trưa ngày 19-5, Bác và một số anh em phục vụ, lái xe, bảo vệ cùng ăn một bữa cơm thân mật nhân ngày sinh của Người. Cũng nhân sinh nhật lần thứ 78, sau khi dự khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa III, ngày 20-5-1968, bằng những lời lẽ chân tình, mộc mạc, kèm theo bốn câu thơ chan chứa tình cảm, thể hiện khí phách của Người trước toàn dân tộc: “Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thế thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ này: Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm/Vẫn vững hai vai việc nước nhà/Kháng chiến dân ta đang thắng lớn/Tiến bước! Ta cùng con em ta… Lời thơ như tiếp thêm sức mạnh tinh thần, cổ vũ, động viên toàn dân tộc tiếp tục “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Câu kết của bài thơ như lời hứa danh dự của Bác trước dân tộc: Bác luôn sát cánh, tiến bước cùng dân tộc Việt Nam không chỉ đến ngày non sông thu về một mối mà cho cả đến tận những năm tháng bây giờ, cả nước đang tiếp tục tiến bước trên con đường dựng xây đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Mỗi dịp sinh nhật của Người luôn là một bài học quý giá cho chúng ta trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào của đất nước. Sinh nhật của Người giản dị, thanh cao như chính con người Bác vậy! Sinh nhật là dịp để Người bày tỏ tình cảm bao la của mình đối với toàn dân tộc. Tình cảm của Người được nhà thơ Tố Hữu khắc hoạ trong bài “Theo chân Bác”: “Như đỉnh non cao tự giấu mình/ Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh”. Sự từ chối lễ nghi phiền phức của vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Ðảng trong những dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện sự khiêm tốn, giản dị mà cao thượng biết bao! Đó là bản chất của người cách mạng chân chính – người ‘‘đầy tớ” trung thành của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Người trở nên cao đẹp, vĩ đại. Tấm lòng và đạo đức cách mạng sáng ngời của Người mãi mãi là tấm gương sáng để các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

Năm nay, kỷ niệm sinh nhật Bác đúng vào dịp toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thực hiện Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay”. Ôn lại những bài học quý giá, những việc làm giản dị, trong sáng qua mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là dịp để chúng ta tu chỉnh lại chính mình khi soi chung tấm gương lớn! Mong sao khi soi vào tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những đồng chí lãnh đạo, chủ chốt càng gương mẫu học tập và làm theo Người, nhanh chóng khắc phục sự suy thoái đạo đức, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền; qua đó, công khai, lên tiếng đấu tranh với tệ tham nhũng, quan liêu, xa hoa, lãng phí, cục bộ địa phương…

Sinh nhật Bác cũng là dịp để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phát động nhiều phong trào thi đua lao động, sản xuất, học tập, công tác, lập nhiều thành tích xuất sắc mừng ngày sinh Bác Hồ kính yêu. Đây không chỉ là dịp để mỗi chúng ta bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Bác mà còn là dịp để dân tộc Việt Nam báo công với Bác về những thành tích cả nước đạt được và quyết tâm sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, sai lầm để tiếp tục đưa đất nước Việt Nam sánh vai các cường quốc năm châu như sinh thời Người hằng mong.

Phạm Thị Nhung
Trường Sỹ quan Lục quân II
xaydungdang.org.vn

Thiếu nhi cả nước về Lăng báo công dâng Bác

Năm học 2011-2012 đã kết thúc thắng lợi. Cùng với nhân dân cả nước nô nức kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Bác kính yêu, kỷ niệm 71 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, học sinh khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Lăng để báo cáo với Người những thành tích mà các em đã đạt được trong những năm qua, kính dâng lên Người những bông hoa ngàn việc tốt của các em, thể hiện lòng biết ơn vô bờ bến đối với Bác Hồ – người đã đem lại hoà bình, độc lập cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

thieu nhiNhững lời hứa quyết tâm trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ là động lực to lớn
để các thế hệ học sinh vươn lên trong học tập và rèn luyện

Bác ơi, chúng cháu đã về đây

Những đứa cháu ngoan đứng sum vầy

Trước anh linh Bác lòng thanh thản

Thành tích nở hoa khăn đỏ bay.

Bác để tình thương cho chúng con

Một đời thanh bạch chẳng vàng son

Mong manh áo vải hồn muôn trượng

Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

Trong những ngày tháng 5, Ban Quản lý Lăng đã phục vụ số lượng lớn học sinh ở các trường khắp các tỉnh, thành phố về báo công dâng Bác như: Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Bình, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Nội… Ngày cao điểm có tới 4 đoàn. Tính từ ngày 01/5/2012 đến ngày 31/5/2012 đã có 23 đoàn tổ chức báo công dâng Bác cho các cháu thiếu niên, nhi đồng.

Năm học 2011-2012 với chủ đề:

Vâng lời Bác dạy

Học giỏi chăm ngoan

Làm nghìn việc tốt

Tiến bước lên Đoàn

Các trường đã tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục truyền thống, giáo dục đạo đức, lối sống, giúp đội viên hoàn thiện nhân cách, nuôi dưỡng ước mơ trở thành con ngoan, trò giỏi bằng những hình thức giao lưu, hội diễn văn nghệ, các hoạt động về nguồn.

thieu nhi 2Thực hiện lễ kết nạp Đội tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phong trào “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” đã được các trường đặc biệt quan tâm. Các em đã nhận chăm sóc, giúp đỡ thường xuyên các gia đình thương binh, liệt sỹ, có Liên đội đã tổ chức chương trình “Nối vòng tay nhân ái” với những người khuyết tật nhằm quyên góp tiền giúp đỡ những người khuyết tật…

Trong phong trào Trần Quốc Toản, các Liên đội đã triển khai phong trào “Kế hoạch nhỏ” được các bạn đội viên tích cực hưởng ứng. Để thực hiện tốt cuộc vận động “Thiếu nhi Việt Nam thi đua thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy”, các Liên đội đã xây dựng nhiều tiêu chí thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy tới từng đội viên gắn với nhiệm vụ của người học sinh.

Để nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường, các trường đã tổ chức những đợt thi đua trong học tập chào mừng các ngày lễ lớn trong năm học như: 20/10, 20/11, 3/2, 8/3, 26/3, 30/4, 19/5… Qua hình thức thi đua này đã có rất nhiều những tấm gương sáng, tiêu biểu trong học tập và rèn luyện, là những tấm gương tốt cho các bạn học tập; tổ chức có hiệu quả các hoạt động giúp đỡ thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn, xây dựng các quỹ học bổng “Thiếu nhi nghèo vượt khó”, “Học sinh nghèo hiếu học”, tổ chức các hoạt động tình nghĩa như “Tấm áo tặng bạn”…

Phong trào “Thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Vì màu xanh quê hương”, “Trường em xanh, sạch, đẹp” xây dựng môi trường thân thiện, không bạo lực được các em học sinh tích cực hưởng ứng bằng các hoạt động bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh trường học, đường làng ngõ xóm, tham gia tu sửa, làm mới các di tích lịch sử, nghĩa trang liệt sỹ tại địa phương mình. Với những cố gắng phấn đấu bằng nhiều hình thức hoạt động phong phú, trong năm học vừa qua, các trường đã đạt được rất nhiều thành tích như đạt danh hiệu trường chuẩn quốc gia, trường tiên tiến xuất sắc, nhiều em học sinh đạt giải cấp quốc gia, cấp tỉnh, thành phố…

Trước anh linh Bác, các em đã hứa với Bác cố gắng nhiều hơn nữa để đạt thành tích cao hơn, vâng lời Bác dạy, học giỏi, chăm ngoan, chăm làm để xứng đáng là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ, góp phần xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như ước mơ của Bác.

Đó là những thành tích, những phong trào tiêu biểu, những mô hình hoạt động hay của thiếu nhi cả nước dâng lên Bác Hồ trong những ngày tháng Năm đầy ý nghĩa./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Tr­ường THCS Sơn Đông, thị xã Sơn Tây, Hà Nội tổ chức lễ báo công dâng Bác tại Khu Di tích K9

Ngày 16 tháng 5 năm 2012, tại Khu Di tích K9, Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội, hơn 100 đội viên tiêu biểu đại diện cho hơn 600 đội viên Trư­ờng THCS Sơn Đông, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã tổ chức lễ báo công dâng Bác, nhân kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người.

truong Son dong bao cong 2012Đội viên tiêu biểu Tr­ường THCS Sơn Đông tổ chức lễ báo công tại Khu Di tích K9

Thực hiện ch­ương trình “Học tốt, chăm ngoan vì ngày mai t­ươi sáng”, năm học vừa qua, đội viên, thiếu niên Tr­ường THCS Sơn Đông đã nêu cao tinh thần vượt khó, học tốt, rèn luyện tốt và đạt đ­ược những thành tích đáng khích lệ. Thông qua các phong trào: “Hoa điểm 10”, “Giờ học tốt, ngày học tốt”, toàn trường đã thực hiện đ­ược 167 ngày học tốt, 1497 giờ học tốt góp phần hoàn thành tốt ch­ương trình giáo dục của trư­ờng. Năm học 2011- 2012 đã có 11 học sinh đạt danh hiệu Học sinh giỏi cấp thị xã Sơn Tây, 125 học sinh đạt danh hiệu Học sinh giỏi toàn diện, 226 học sinh đạt danh hiệu Học sinh tiên tiến. Cùng với thi đua học tốt, đội viên, thiếu niên trong Tr­ường không ngừng tích cực tu dưỡng, rèn luyện, học tập theo tấm gư­ơng đạo đức của Bác. Năm qua, đã có 400 học sinh đạt danh hiệu Cháu ngoan Bác Hồ, 535 học sinh tu dưỡng đạo đức tốt. Bên cạnh đó các đội viên còn hăng say rèn luyện, tham gia và giành đ­ược nhiều giải cao trong Hội thi Thể dục thể thao khối các trư­ờng THCS. Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, năm qua các đội viên, thiếu niên còn tiết kiệm đóng góp ủng hộ hàng chục triệu đồng cho quỹ khuyết tật, ch­ương trình “Trái tim không tật nguyền”, quỹ “Viên gạch hồng” và hàng trăm ngày công lao động công ích.

Tr­ước anh linh của Ng­ười, các đội viên Trư­ờng THCS Sơn Đông hứa sẽ phát huy hơn nữa những thành tích đã đạt đ­ược, hăng hái thi đua học tốt, rèn tốt phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ, góp phần thực hiện tốt chư­ơng trình “Trư­ờng học thân thiện, học sinh tích cực” trong những năm học tới.

Hải Tiếp

bqllang.gov.vn

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương báo công dâng Bác

Vienhuyethoc201Kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 16/5/2012, toàn thể đoàn viên, thanh niên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương tổ chức lễ báo công dâng Bác, báo cáo với Người về những kết quả công tác Đoàn đã đạt được trong năm 2011.

Thực hiện lời dạy của Bác “Lương y phải như từ mẫu”, đoàn viên, thanh niên của Viện đã không ngừng rèn luyện về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, kiến thức chuyên môn, tận tâm không quản khó khăn, gian khổ cứu chữa cho những người bệnh không may mắc các bệnh hiểm nghèo. Người bệnh đến Viện luôn cảm thấy đây như là ngôi nhà thứ hai của mình, nhân viên y tế như là người thân của họ vậy. Họ đã truyền nhau một thông điệp: “Hiếm có ở đâu tốt được như ở Viện này”. Sự ghi nhận đó của người bệnh là một món quà vô giá để các bạn đoàn viên thanh niên tiếp tục giữ trọn niềm tin và vững vàng trên con đường sự nghiệp mà mình đã lựa chọn.

Thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, Đoàn đã tổ chức nhiều công trình, phần việc thanh niên có ý nghĩa được Trung ương Đoàn, Thành Đoàn và Quận Đoàn biểu dương, khen thưởng như: Mô hình “5 sẵn sàng”, mô hình “Điểm hiến máu cố định tại Viện”, mô hình “Điểm cắt tóc miễn phí cho người bệnh”, mô hình “Âm nhạc cho người bệnh”.

Tích cực giáo dục bồi dưỡng đoàn viên ưu tú trở thành đảng viên cộng sản chân chính, trong đó đã có 4 đồng chí được chuyển đảng chính thức; 5 đồng chí được kết nạp Đảng; 15 đồng chí tham gia khóa học tìm hiểu về Đảng. Không ngừng củng cố, xây dựng tổ chức đoàn Viện ngày một lớn mạnh: Thành lập 20 Chi đoàn mới trên cơ sở 4 Chi đoàn trực thuộc (với trên 350 đoàn viên). Tổ chức Đại hội Chi đoàn và Đoàn Viện (là Đại hội điểm của Quận Đoàn Đống Đa cho nhiều đơn vị đến tham quan, học tập). Tiếp tục kiện toàn được đội ngũ cán bộ trẻ, ưu tú, năng nổ nhiệt tình trong công tác đoàn và trong cả chuyên môn được giao; tích cực tham gia hoạt động nhân đạo, từ thiện, đền ơn đáp nghĩa như: Tổ chức tốt Điểm Hiến máu tại Viện và đã thu gom được 6.686 đơn vị máu. Trong đó có 273 đơn vị máu do chính cán bộ, đoàn viên thanh niên của Viện hiến tặng.

Vienhuyethoc202Đoàn viên, thanh niên Viện Huyết học – Truyền máu
Trung ương vào Lăng viếng Bác

Đoàn viên, thanh niên đã tham gia 5 đợt khám chữa bệnh nhân đạo, trong đó có một đợt tại nước bạn Lào. Phối hợp với các nhà tài trợ tổ chức chương trình “Kết nối yêu thương” cho các bệnh nhân nhi, ủng hộ quỹ “Trái tim nhân ái”, ủng hộ sửa nhà cho cựu thanh niên xung phong quận Đống Đa.

Với những thành tích nổi bật trong năm 2011, Đoàn đã được tặng Bằng khen, Giấy khen của Trung ương Đoàn, Thành Đoàn Hà Nội về mô hình “5 sẵn sàng”; nhiều Giấy khen của Quận Đoàn Đống Đa; được công nhận là đơn dẫn đầu thi đua của Khối Công nhân viên chức Quận Đoàn Đống Đa; 1 cá nhân được tặng danh hiệu Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác, 1 kỷ niệm chương “Vì thế hệ trẻ” của Trung ương Đoàn, 1 giải thưởng “Đặng Thùy Trâm” dành cho thầy thuốc trẻ tiêu biểu của Thủ đô, nhiều đồng chí được nhận Bằng khen, Giấy khen các cấp về thành tích trong công tác hiến máu, công tác luân phiên Đề án 1816, khám chữa bệnh từ thiện.

Trong thời khắc trang trọng của buổi lễ, cán bộ, đoàn viên, thanh niên của Viện bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Bác, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất đã hiến dâng cả cuộc đời cho độc lập, tự do của dân tộc, sự ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Tư tưởng, đạo đức của Bác đã trở thành di sản tư tưởng, lý luận vô cùng to lớn và quý giá soi đường cho cách mạng Việt Nam.

Nguyện mãi khắc ghi lời dạy và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, đoàn viên thanh niên Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương quyết tâm không ngừng lao động, học tập, tu dưỡng, rèn luyện; học đi đôi với hành; nói đi đôi với làm; dám nghĩ, dám làm và làm với trách nhiệm cao, đạt kết quả tốt. Khi thành công sẽ noi gương Bác để khiêm tốn; nếu có sai lầm, khuyết điểm, sẽ noi gương Bác mà thật thà, kiên quyết sửa chữa; khi nao núng sẽ nhớ về Bác mà kiên cường, quyết tâm tiến lên phía trước./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Tuyên dương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Nhân dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, thực hiện chủ trương và kế hoạch của Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 969 về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo Đức Hồ Chí Minh từ năm 2011 – 2015. Ngày 04/5/2012 ,Đảng bộ Đoàn 195 tổ chức gặp mặt tuyên dương điển hình tiên tiến là cán bộ trẻ, cán bộ tổ, trạm, tiểu đội trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tại Hội nghị, có 11 cán bộ, tổ, trạm được lựa chọn tôn vinh là những điển hình tiên tiến xuất sắc có tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm cao, gương mẫu đi đầu trong học tập và làm theo tấm gương của Bác trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ trên cương vị là cán bộ tổ, trạm; đặc biệt luôn phấn đấu, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống trong sạch, giản dị, trong sáng, biết vượt qua mọi khó khăn, hết lòng vì nhiệm vụ, thực sự là tấm gương tiêu biểu có sức lan toả, cổ vũ động viên cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ vươn lên hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Phát biểu tuyên dương những điển hình tiên tiến của Đảng bộ trong những năm qua, Đại tá Bùi Hải Sơn, Phó Bí thư Đảng uỷ, Đoàn trưởng nhấn mạnh: Qua học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên đã nhận thức sâu sắc hơn về tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về vị trí, vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình và đơn vị, từ đó nâng cao ý thức thường xuyên trau dồi, rèn luyện bản thân, nâng cao phẩm chất, năng lực, ý thức và thái độ, tinh thần trách nhiệm, tự giác tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, tận tụy với công việc được giao; chấp hành nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy chế, quy định của đơn vị; đoàn kết thống nhất, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần xứng đáng vào thực hiện và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt.

Qua phát biểu trao đổi kinh nghiệm của Thiếu tá QNCN Vũ Ngọc Sơn, Trạm trưởng Trạm sửa chữa; Đại uý QNCN Nguyễn Văn Khải, Tổ phó, Tổ Lạnh – Nước F6 là những kinh nghiệm sâu sắc được rút ra từ thực tiễn công tác. Với cương vị là cán bộ tổ, trạm bên cạnh việc hoàn thành nhiệm vụ phải thể hiện được vai trò đối với tập thể, trong đó tinh thần trách nhiệm sự gương mẫu là yếu tố quan trọng hàng đầu, gương mẫu bằng hành động, nói đi đôi với làm, càng khó khăn lại càng phải gương mẫu đi đầu; đó là tinh thần tận tuỵ với công việc, hết lòng vì nhiệm vụ, tinh thần lao động có kỷ luật, sáng tạo, năng suất, chất lượng, hiệu quả, hoà mình với phong trào, đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; vượt qua mọi cám dỗ của đời thường, các tệ nạn xã hội để có một cuộc sống đẹp đẽ, trong sáng và giản dị, là điểm tựa tinh thần vững chắc để mỗi người phấn đấu và trưởng thành tiến bộ.

Kết luận Hội nghị, Đại tá Dương Hoàng Toán, Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Đoàn nhấn mạnh những thành tích và kết quả đạt được của tập thể, cá nhân trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Đảng bộ và đơn vị là đáng trân trọng, nhưng chỉ là bước đầu. Thời gian tới, Đảng bộ tiếp tục xác định đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng bộ, thành ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện hàng ngày của đảng viên và quần chúng; thực hiện phương châm học tập thường xuyên, làm theo bằng những công việc cụ thể hàng ngày. Gắn kết chặt chẽ với quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để mọi người nhận thức đầy đủ và sâu sắc về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phát huy vai trò, trách nhiệm, tính gương mẫu, nêu gương của cấp uỷ, cán bộ chủ trì để cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên noi theo. Đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào nội dung kiểm điểm sinh hoạt Đảng hàng tháng, kiểm điểm cuối năm của tổ chức đảng và đảng viên; coi đây là một trong những tiêu chuẩn bình xét thi đua, khen thưởng hàng năm. Tăng cường kiểm tra, giám sát của cấp ủy, phát hiện, uốn nắn kịp thời những chi bộ, đảng viên thực hiện chưa tốt. Việc biểu dương, khen thưởng, cổ vũ, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, gương mẫu, có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành nề nếp thường xuyên trong Đảng bộ vào dịp kỷ niệm Ngày sinh của Bác 19 tháng 5 hàng năm./.

Hữu Nam
bqllang.gov.vn

Công – nông – trí thức làm nên thắng lợi cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Không ngừng củng cố, nâng cao chất lượng khối liên minh công – nông – trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới. Quá trình CNH-HĐH đất nước, bên cạnh tính tất yếu của sự liên minh về chính trị, thì sự liên minh về kinh tế ngày càng có ý nghĩa quan trọng.

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, trước yêu cầu mới của tình hình và được Quốc tế Cộng sản chấp nhận, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Trên cơ sở đánh giá tình hình giai cấp và xã hội Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh thế giới, với quan điểm lý luận gắn với thực tiễn cách mạng, Người nêu cao vấn đề giải phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Người kêu gọi: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng. Liên minh công – nông – trí thức là sự cố kết của công nhân, nông dân, trí thức trong một chỉnh thể”(1).

Tiếp thu tư tưởng chỉ đạo của Người, Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ghi rõ: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(2).

Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chủ trương sáng lập ra Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh), nhằm đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, chống đế quốc, giành độc lập dân tộc, không phân biệt dân tộc, giai cấp, đảng phái, tôn giáo…

Nhằm phát huy sức mạnh của ba dân tộc Việt – Miên – Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, theo sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương ở Lào và ở Campuchia thành lập mặt trận thống nhất riêng của hai dân tộc (Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh); sau khi cách mạng thắng lợi, mỗi quốc gia sẽ thành lập một chính phủ riêng và độc lập. Đối với nước ta, Hội nghị chủ trương thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh ở giữa làm quốc kỳ.

Để đoàn kết toàn dân một cách rộng rãi, thực hiện chủ trương cứu nước do Hội nghị Trung ương lần thứ VIII nêu ra, trong bản Chương trình hành động, Việt Minh đã đề ra những chính sách cụ thể nhằm đoàn kết các tầng lớp nhân dân, tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 6/6/1941, những chính sách cụ thể, hợp lòng dân của Việt Minh đã quy tụ toàn dân dưới ngọn cờ của Đảng do Hồ Chí Minh lãnh đạo, đưa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Nhưng nhân dân Việt Nam giành được độc lập chưa bao lâu thì thù trong giặc ngoài câu kết với nhau, đất nước lâm vào cảnh “Ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai.

Xây dựng khối liên minh công – nông – trí là lực lượng cơ bản tiến hành cách mạng Việt Nam. Đường lối kháng chiến đúng đắn của Hồ Chí Minh và của Đảng đã dẫn dắt nhân dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Hòa bình được lập lại, nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã sớm xác định rõ kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là đế quốc Mỹ, vạch ra đường lối cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân; miền Bắc đã được hoàn toàn giải phóng, từng bước tiến dần xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa, nửa phong kiến, được một Đảng Cộng sản lãnh đạo đã cùng một lúc tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược và quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong điều kiện ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng phát triển và thấm sâu vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, liên minh công – nông – trí thức là một tất yếu lịch sử khách quan, được chế định bởi các cơ sở xã hội hiện thực và được hiện thực hóa qua đường lối tập hợp lực lượng của Đảng Cộng sản. Điều này cũng xác định rõ ràng liên minh công – nông – trí thức là nhu cầu tồn tại và phát triển của cả công nhân, nông dân và trí thức.

Trong khối liên minh, Hồ Chí Minh đã xác định giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo. Thông qua chính đảng của mình để đề ra đường lối cách mạng, những chủ trương lớn nhằm thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng để thực hiện đường lối đó cần phải có lực lượng.

Bằng hành động và chính sách thực tiễn, giai cấp công nhân thu hút mọi tầng lớp lao động, trước hết là nông dân và trí thức về phía mình, cùng với họ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là điều kiện để giai cấp công nhân củng cố vai trò chính trị tiên phong của mình.

Về phía nông dân, do địa vị kinh tế – xã hội và bản chất giai cấp của mình, nông dân tự nguyện tìm đến với giai cấp công nhân. Nếu không liên kết với công nhân, trí thức thì họ sẽ bị các giai cấp bóc lột lợi dụng, lôi kéo trở lại cuộc sống nô lệ, bị áp bức, bóc lột. (Ngày nay, sự tiến bộ của nông dân đã ngày càng gắn bó hơn với công nhân và trí thức. Để đẩy nhanh sản xuất nông sản hàng hóa, làm cho nông nghiệp phát triển bền vững, nông dân rất cần tới sự hỗ trợ của công nghiệp và những tri thức khoa học kỹ thuật. Đây là nhu cầu thiết thực để nông dân tìm đến và gắn bó với các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở dịch vụ kỹ thuật. Công nghiệp và khoa học góp phần đắc lực vào quá trình giải phóng người nông dân, giúp họ tiếp xúc với nền văn minh nhân loại hiện đại, đồng thời có dịp để phát huy các giá trị văn hóa được tích tụ trong quá trình lao động, xây dựng ở nông thôn).

Về phía tầng lớp trí thức, là một tầng lớp xã hội đặc biệt có đặc trưng nổi bật là lao động trí óc sáng tạo. Trong công cuộc đấu tranh giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nhân, nông dân rất cần trí thức. Công nhân và nông dân tạo nên những cơ sở vật chất, điều kiện sinh hoạt và làm việc cần thiết, đặt ra các nhu cầu làm động lực cho sự tìm tòi sáng tạo, hoạt động nghiên cứu của trí thức. Ngược lại, các lĩnh vực hoạt động của công nhân, nông dân sẽ là môi trường để trí thức đem khoa học kỹ thuật vào phục vụ cuộc sống. (Ngày nay Khối liên minh công – nông – trí thức ở nước ta đã và đang tiếp tục làm thay đổi các quan hệ xã hội theo xu hướng đoàn kết, hòa hợp và trở thành một động lực của tiến bộ xã hội).

Hồ Chí Minh quan niệm liên minh công – nông – trí thức là sự cố kết của công nhân, nông dân, trí thức trong một chỉnh thể. Mỗi yếu tố có một vị trí, vai trò đặc thù không thể thay thế và đổi chỗ cho nhau. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, phải làm thế nào xứng đáng là lãnh đạo để người ta tin cậy. Sức mạnh và chất lượng của khối liên minh phụ thuộc vào chất lượng của từng thành tố. Và chất lượng của khối liên minh sẽ nhân lên sức mạnh cho cả công nhân, nông dân, trí thức. Vì thế, củng cố và tăng cường khối liên minh công – nông – trí thức gắn liền chặt chẽ với quá trình xây dựng và phát triển giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Đối với quan hệ giữa giai cấp lãnh đạo và lực lượng cách mạng đông đảo nhất trong dân cư, Hồ Chí Minh xác định: “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi. Cho nên công nhân phải chăm chú đến vấn đề nông dân, phải củng cố công nông liên minh”(3). Người cũng chỉ rõ: “Nông dân, công nhân, lao động trí óc đều phải dựa vào nhau. Nông dân không có sự giúp đỡ của công nhân thì không được. Công nhân không có nông dân cũng không được. Lao động trí óc không có công nhân, nông dân cũng không được”(4).

Liên minh công – nông – trí thức là hạt nhân, cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp, thu hút mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ vào một mặt trận chung thống nhất vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Không ngừng củng cố, nâng cao chất lượng liên minh công – nông – trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới.

Cả về mặt lý luận và thực tiễn đều khẳng định: Liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức luôn luôn là vấn đề có tính chiến lược của cách mạng, kể cả trong cách mạng dân tộc, dân chủ cũng như cách mạng XHCN. Đó là lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc thống nhất, nguồn sức mạnh và động lực to lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nếu như trong cách mạng dân tộc, dân chủ, nội dung liên minh công – nông – trí thức chủ yếu về chính trị nhằm tập hợp lực lượng đấu tranh giành chính quyền, giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước, thì trong cách mạng xã hội chủ nghĩa với công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm, bên cạnh tính tất yếu của sự liên minh về chính trị, thì sự liên minh về kinh tế ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.

Tăng cường củng cố và xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vững chắc làm hạt nhân cho khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đó là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, của giai cấp, tầng lớp xã hội. Trong đó, giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn có vai trò và vị trí rất quan trọng. Giai cấp công nhân có nhiệm vụ giúp đỡ, hỗ trợ giai cấp nông dân thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Phát huy vai trò làm chủ của giai cấp công nhân trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, làm chủ trong các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đồng thời, phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và trí thức, cũng như khối đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh cả nước thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước . /.

Theo Phạm Thắng / Tạp chí Tuyên giáo
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

________________

1- Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb. CTQG, H. 2006.
2- Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. CTQG, H. 2004.
3 – Nguyễn Khoa Điềm: 20 năm đổi mới thực hiện tiến bộ công bằng xã hội và phát triển văn hóa, Nxb. CTQG. H.2005
4 – Hồng Hà: Sức mạnh Nhân dân, Nxb. CTQG, H. 2000

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên

Mục đích học tập

Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc học tập nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên. Người đã chỉ rõ mục đích của việc học tập và những biện pháp cơ bản để đạt mục đích đó: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, “giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”. Từ nhận thức đúng đắn mục đích của việc học tập mà cán bộ, đảng viên phấn đấu không ngừng trong học tập rèn luyện để hoàn thành nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao cho.

Nội dung học tập

Hồ Chí Minh cho rằng học tập của cán bộ, đảng viên phải xuất phát từ yêu cầu thực tế thiết thực, không phô trương, hình thức. Phải học cặn kẽ, thấu đáo, cụ thể và sâu sắc đến tận bản chất vấn đề. Theo Bác, mỗi người phải biết một nghề, làm việc gì học việc ấy và làm nghề gì phải thạo nghề ấy. Nếu là cán bộ lãnh đạo, thì lãnh đạo ngành nào phải biết chuyên môn về ngành ấy. Mọi cán bộ, đảng viên đều phải nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, văn hoá, kỹ thuật, lao động sản xuất… Những nội dung đó là hết sức cơ bản và gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong đó, Người nhấn mạnh học tập chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm trang bị cho mỗi người thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học để nhận thức và hành động đúng đắn, kiên quyết, sáng tạo và hiệu quả.

Theo Hồ Chí Minh, nội dung học tập phải toàn diện, “ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân”(2). Người cán bộ cách mạng phải được đào tạo rèn luyện về phẩm chất và năng lực để hoàn thiện nhân cách trong tình hình mới. Người xác định nội dung học tập gắn với thực hiện nhiệm vụ mà mỗi cán bộ, đảng viên đảm nhiệm. Đối với cán bộ quân đội, Người đặt ra yêu cầu phải tích cực học tập nâng cao trình độ chính trị, quân sự, lòng trung thành với Đảng với Tổ quốc, nhân dân… Theo Bác, quân đội ta trước hết phải là đội quân tuyên truyền vận động nhân dân làm cách mạng, do vậy, mỗi quân nhân phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, vận động nhân dân để nhân dân tin theo Đảng, thực hiện sự nghiệp cách mạng vẻ vang.

Học tập suốt đời, lấy tự học làm cốt

Theo Bác, mỗi cán bộ, đảng viên có vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước, do đó phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ hiểu biết mọi mặt, có tư duy độc lập và sáng tạo, cải tiến phương pháp làm việc, nâng cao chất lượng công tác. Theo Người, vấn đề học tập là “suốt đời” chứ không phải chỉ là lớp học, khoá học hoặc mang tính “thời vụ”, rồi sau đó lại “đâu vào đấy”. Người chống thói qua loa đại khái, lười học, lười suy nghĩ dẫn đến tình trạng khi giải quyết công việc thì “được chăng hay chớ”, “gặp đâu làm đấy”, chất lượng công việc thấp, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Người chỉ rõ: “Cán bộ và đảng viên ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập. Đó là một khuyết điểm rất to. Khác nào người thày thuốc chỉ đi chữa người khác, mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa”(3). Do đó, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “ham học tập để nâng cao trình độ của mình”(4)vàcoi đây là một tiêu chuẩn, một giá trị đạo đức của người cán bộ, đảng viên.Từ đó,Người vạch rõ phương hướng, nhiệm vụ đối với cán bộ, đảng viên là không được nhãng việc học tập, phải tu dưỡng không ngừng, đối với người cán bộ “chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”(5). Người đặt lên hàng đầu “lấy tự học làm cốt”(6), cán bộ, đảng viên phải biết “tự động học tập”, phải xác định tư tưởng cho đúng. Học tập phải trở thành nhu cầu, thói quen, hành vi hàng ngày của cán bộ, đảng viên. Cán bộ nào lười học, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận, cập nhật thông tin mới, những hiểu biết mới cũng là một biểu hiện suy thoái về đạo đức.

Học tập mọi lúc, mọi nơi

Cán bộ, đảng viên phải tận dụng thời gian, dành công sức, tranh thủ học tập, học ở trường, lớp, sách vở và học ở nhân dân. Bác nhấn mạnh: nhân dân ta rất cần cù và sáng tạo, những giá trị văn hoá, tinh thần do nhân dân sáng tạo là nguồn tri thức, là những kinh nghiệm rất phong phú, là “những bài học quý”, do đó, cán bộ, đảng viên phải chịu khó học hỏi ở nhân dân “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”(7).Và chính thông qua học tập,tiếp xúc với nhân dân mà cán bộ, đảng viên có điều kiện gần gũi, nắm được tâm tư nguyện vọng của nhân dân, từ đó tổng kết được tình hình, nguyện vọng của dân. Từ đó, tham mưu, đề xuất tiếp tục bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, tạo niềm tin, đồng thuận của dân và toàn xã hội tiến hành sự nghiệp cách mạng. Người kiên quyết chống thói quan liêu, xa dân, không chịu học hỏi nhân dân, coi khinh dân và coi đây là những quan niệm, hành vi đối lập với phẩm chất của người cán bộ cách mạng cần phải được lên án, xử lý.

Gắn học tập và làm việc

Tư tưởng của Người về học tập nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên là phải thiết thực, bổ ích, hiệu quả, sát với với công việc của mỗi người; nếu không đạt được như vậy là “phí công, phí của, vô ích”. Bác nhấn mạnh “học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận(8). Tri thức, lý luận của cán bộ, đảng viên tích lũy được trong học tập phải nhằm giải quyết nhiệm vụ thực tiễn, làm cho hoạt động thực tiễn ngày càng đạt hiệu quả và chính thông qua hoạt động thực tiễn để sáng tạo, khái quát, tổng kết kinh nghiệm, phát hiện, bổ sung hoàn thiện đường lối cách mạng của Đảng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong học tập người học phải sáng tạo, biết kế thừa tinh hoa tri thức của dân tộc và nhân loại. Phương pháp học tập là kết hợp chặt chẽ giữa học với hành, lý luận gắn liền với thực tế, tích luỹ tri thức với rèn luyện đạo đức cách mạng. Đối với nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập “phương pháp biện chứng” chứ không rập khuôn, máy móc. Người còn cho rằng trong học tập của cán bộ, đảng viên là khó khăn, lâu dài nhưng nếu có quyết tâm cao, phương pháp học tập tốt thì mọi việc đều có thể làm được “Không có việc gì khó. Chỉ e ta không siêng… siêng học tập thì mau biết”(9).

Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định “học tập là công việc suốt đời của cán bộ, đảng viên”. Mọi cán bộ, đảng viên phải có kế hoạch thường xuyên để học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn. Học tập vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành nền nếp, chế độ. Thực tiễn cho thấy còn không ít cán bộ, đảng viên còn “học vì bằng cấp”, “cốt để tiêu chuẩn hoá chức danh”… Những biểu hiện đó là trái với tư tưởng của Bác về mục đích học tập cần được phê bình, sửa chữa, để mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng thực sự là tấm gương về học tập cho quần chúng noi theo, góp phần đưa cả nước trở thành một “xã hội học tập”, phấn đấu vì Việt Nam giàu đẹp, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 684.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 11, Nxb CTQG, H.2000, tr. 505.
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 231.
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 251.
5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 252.
6 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 273.
7 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, H.2000, tr. 50.
8 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, H.2000, tr. 497.
9 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 632.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Xuất xứ tên gọi Bộ đội Cụ Hồ

xuatxutengoibodoicuho

Suối nguồn Việt Bắc” – tranh sơn dầu của họa sỹ Phan Thăng (Ảnh: A.V) (Internet)

Mùa Thu năm Ất Dậu (1945), Cách mạng Tháng Tám thành công, các chiến sỹ giải phóng quân từ chiến khu Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội. Do yêu cầu bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, để chuẩn bị đối phó với âm mưu của bọn phản động, của thực dân Pháp đang chống phá cách mạng, hòng tái xâm lược nước ta lần nữa, ta gấp rút xây dựng các đơn vị chủ lực và thành lập dân quân tự vệ. Các quân nhân cách mạng hồi đó còn nghèo, chưa có quân trang, quân phục thống nhất.

Chỉ phân biệt ở phù hiệu đính trên mũ ca lô: Lính chủ lực thì phù hiệu nền đỏ sao vàng hình tròn, tự vệ dân quân thì phù hiệu nền đỏ sao vàng hình vuông. Hình ảnh anh Giải phóng quân lần đầu tiên xuất hiện trên văn đàn mới chỉ vẻn vẹn mấy dòng thân thương: “Trên đường phố, các anh đi hàng một theo lối đi rừng, mắt không hề nhìn hai bên phố các cửa hàng cửa hiệu đèn điện sáng trưng” (“Một lần tới Thủ đô” – Bút ký của Trần Đăng). Các chiến sỹ của ta thiếu thốn đủ bề, nhưng kỷ luật rất nghiêm, bảo vệ hiệu quả trật tự an ninh phố phường và đặc biệt rất ôn tồn, lễ phép, quý trọng nhân dân.

Đầu năm 1946, theo Hiệp định sơ bộ (ngày 6 tháng 3), ta đồng ý cho quân đội Đồng minh vào Việt Nam giải giáp quân Nhật, từ vĩ tuyến 16 trở vào do quân Anh, từ vĩ tuyến 16 trở ra do quân của Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch. Theo chân bọn Tàu Tưởng là các đảng phái phản động như Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng của nhóm Nguyễn Tường Tam), Việt Cách (Việt Nam cách mạng đồng minh của nhóm Nguyễn Hải Thần). Chúng cũng mộ lính chiếm đóng nhiều nơi, ở Hà Nội bọn chúng chốt đông nhất ở Ô Quan Chưởng, ở phố Ôn Như Hầu, ăn vận quần áo y hệt lính Tàu. Quân lính Tàu Tưởng nhếch nhác, ô hợp đã đành, quân lính Việt Quốc, Việt Cách càng tệ hại hơn. Chúng ngang nhiên hạch sách, hà hiếp dân lành. Đã đến lúc không thể đánh đồng anh lính cách mạng với bọn “lính kẻ cướp” ấy, do yêu cầu tất yếu của quần chúng mà hai tiếng “Bộ đội” thiêng liêng, thân mật ra đời, để gọi tên quân đội đằng mình (phải chăng vì quân ta hồi đó chỉ có bộ binh nên mới gọi là “Bộ đội”?).

Cho đến nay, chưa thấy ai công bố văn bản đầu tiên xuất hiện hai tiếng “Bộ đội”, nhưng chắc chắn rằng, từ ghép “Bộ đội” không thể xuất hiện trước ngày 22 tháng 12 năm 1944. Những năm đầu cách mạng, chỉ có các em thiếu nhi mới gọi Bác Hồ là Bác:

Ai yêu Bác Hồ Chí Minh
Bằng thiếu nhi Việt Nam.

(Ca khúc của Phong Nhã)

Trung Thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng…

(Thơ Hồ Chủ tịch -1948)

Hồi đó, ở Trung ương Chính phủ, mọi người vẫn kính cẩn gọi Người là “Cụ Chủ tịch”, nhân dân vẫn thân mật gọi Người là Già Hồ: “Ứng lời Già Hồ, dự ngày kháng chiến, bắt đầu mang biển đi dán khắp nơi, rợp đất rợp trời, có hai biểu ngữ: Quyết chống giặc dữ bọn chó xâm lăng và giết hết mọi thằng Việt gian bán nước…” (Báo Thiếu niên – 1946).

Còn phần lớn đều gọi Người là Ông Cụ là Cụ Hồ (Bài thơ “Muối Cụ Hồ” của Bàn Tài Đoàn – 1948), “Cơm chữ Cụ Hồ, phải đánh Tây mà giữ” (Thơ của Trung Anh – 1948), “Cụ Hồ với dân, như chân với tay, như chày với cối, như cội với cành…” (Hò giã gạo Bình Trị Thiên), hay “Tháp Mười đẹp nhất bông sen; Nước Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ” (Bảo Định Giang)… Còn hai tiếng “Bác Hồ” thân thương, trìu mến mới xuất hiện về sau. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp ở núi rừng Việt Bắc “Thủ đô gió ngàn”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cán bộ Trung ương cùng chung “ăn ngô nếp nướng… chén thịt rừng quay” như anh em trong một gia đình nên ai ai cũng gọi Người là Bác và Người gọi anh em cộng sự là “các cô các chú”…

Lại nhớ đầu năm 1946, cả nước ta, nhất là ở Hà Nội, nhân dân cơ khổ vì bọn Tàu Tưởng, rất bất bình với bọn Việt Quốc, Việt Cách. Ở chợ Đồng Xuân, chợ Bắc Qua, nơi buôn bán sầm uất đô hội nhất Hà Thành, bọn chúng ăn quỵt, mua cướp trắng trợn, bà con tiểu thương tẩy chay bất hợp tác, thậm chí còn gõ xoong, gõ nồi la ó như đuổi tà. Bà con nói thẳng vào mặt chúng: “Nhìn các anh Bộ đội Cụ Hồ kia kìa! Người nhà của chúng tao đấy! Còn chúng mày, bám gót quan thầy về đây, chỉ là quân phá hoại, đồ Việt gian bán nước!”.

Từ đó, rất tự nhiên, Bộ đội Cụ Hồ trở thành tên gọi thiêng liêng. Trên thế giới, có lẽ hiếm có một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, cả nước đều là “đồng bào” (chung một bọc) và gọi lực lượng vũ trang của mình là Bộ đội Cụ Hồ!

Theo Báo Nghệ An
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn