Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bảo vệ tiếng loa truyền thanh

40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

Ông Vũ Văn Viễn. Ảnh: Hoàng Thùy

QĐND – 40 năm sau Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, chúng tôi đã gõ cửa nhà “tư lệnh” của hệ thống phát thanh thời kỳ đó – ông Vũ Văn Viễn, nguyên Giám đốc Xí nghiệp truyền thanh Hà Nội. Ở cái tuổi 80, sức đã yếu, tai đã nặng nhưng nhắc đến 12 ngày đêm hào hùng ấy, ông Viễn vẫn rất hăng say và tự hào.

– Phóng viên (PV): Thưa ông, hệ thống truyền thanh của Thủ đô trong những ngày chiến tranh ác liệt của tháng 12-1972 chắc chắn phải có điều gì thật đặc biệt mới khiến phương Tây thán phục đến vậy?

Ông Vũ Văn Viễn: Hứng chịu bom đạn, nhà cửa bị phá nát, đường sá bị cày xới nhưng hệ thống truyền thanh phòng không của Hà Nội vẫn được những người công nhân cần mẫn bảo vệ, thực hiện nhiệm vụ báo động trọn vẹn, không hề bị ngừng tắt hay bất cứ một sai sót gì. Sự to rõ và trong sáng của tiếng nói Thủ đô vẫn hiên ngang vang lên trong tiếng gầm rú của máy bay Mỹ. Gần 200 công nhân, kể cả những công nhân sửa chữa đường dây đều an toàn, không có thương vong về người, chỉ có duy nhất một đồng chí bị thương nhẹ sau vài ngày đã bình phục. Đang ở gia đình ngày nghỉ, có báo động, có bom đạn là anh chị em không ngần ngại đạp thẳng xe đến Xí nghiệp nhận nhiệm vụ. Cả người bị bom sập hầm như anh Nguyễn Trọng Nhị nhưng vừa đứng dậy được là xông ngay vào trận tuyến. Cả những công nhân nhà cửa bị bom địch phá tan như anh Vũ Duy Lễ, Nguyễn Công Niết, Lê Quang Nhánh… cũng xếp khó khăn riêng, xông lên chiến đấu.

– PV: Đế quốc Mỹ bất ngờ tấn công và ném bom ở Hà Nội, hệ thống truyền thanh của chúng ta có rơi vào thế bị động không?

Ông Vũ Văn Viễn: Chiều 18-12-1972, Bộ tư lệnh Thủ đô đã cho nhóm phóng viên thường trú ở hầm chỉ huy Hội đồng phòng không nhân dân thành phố biết khả năng địch sẽ đánh lớn vào Hà Nội đêm nay. Được lệnh của Hội đồng phòng không nhân dân thành phố, Đài truyền đi từ hầm chỉ huy của Hội đồng phòng không nhân dân thành phố lên mạng lưới truyền thanh toàn thành phố băng ghi âm tiếng còi báo động và hướng dẫn phòng không nhân dân: “Đồng bào chú ý! Giặc Mỹ đang thua to, chúng âm mưu đánh phá điên cuồng vào Hà Nội. Hội đồng phòng không nhân dân thành phố ra lệnh, khi có báo động, mọi người phải xuống hầm trú ẩn, không ai được đi lại, đứng ngồi trên mặt đất”. Đây là một mệnh lệnh báo tin có máy bay B-52 vào đánh phá Hà Nội và là mệnh lệnh cho hệ thống truyền thanh lúc đó: Phải đảm bảo đường dây luôn thông suốt.

Người dân phố Khâm Thiên đi sơ tán.Ảnh: Chu Chí Thành

– PV: Đó không phải là yêu cầu dễ thực hiện khi mà bom đạn của Mỹ dội xuống ngày càng nhiều với tần suất ném ngày càng dày đặc…

Ông Vũ Văn Viễn: Chỉ sau hai ngày đế quốc Mỹ rải thảm, những khu vực trọng điểm như ga Yên Viên, ga Dục Nội, Cổ Loa, các bến phà… là những điểm cơ sở hạ tầng kỹ thuật đường dây bị đánh phá nặng nề. Hơn 130km đường dây có dấu vết của bom đạn để lại, hàng nghìn chiếc loa ở nội, ngoại thành, trong đó quá nửa tổng số xã (58 xã) của 4 huyện ngoại thành bị mất tiếng. Tại tất cả những điểm này đều có mặt những chiến sĩ công nhân. Họ đang làm việc mà như chiến đấu và đã chiến đấu rất dũng cảm. Những chiếc xe đạp lọc cọc phi trên đường, đối chọi với máy bay hiện đại, bom đạn tối tân của kẻ thù.

Trên mặt trận các trạm máy, nơi đầu não phát ra các mệnh lệnh của Hội đồng phòng không cũng là nơi chiến đấu rất căng thẳng. Suốt 12 ngày đêm, những nữ công nhân như Vũ Thanh Vân, Ngô Thị Lai, Doãn Thị Chắt… đã gắn liền cuộc sống của mình với máy phát, ăn cạnh máy, nằm cạnh máy, làm việc cùng máy, thức thâu đêm với máy. Dưới tầm B-52, có lúc hơi bom dội làm rung cả máy, ánh chớp bom sáng lóe cả phòng máy nhưng chị em rất bình tĩnh điều khiển những thao tác máy chính xác và kịp thời phát đi những mệnh lệnh chiến đấu và tin chiến thắng làm nức lòng người dân Thủ đô.

– PV: Trong trận Điện Biên Phủ trên không, thời khắc nào khó khăn nhất với ông và các công nhân chiến sĩ của Xí nghiệp?

Ông Vũ Văn Viễn: Đêm 20-12-1972, Chủ tịch Hội đồng phòng không Thành phố đã điện một lần nữa xuống cho chúng tôi yêu cầu: Phải đảm bảo bằng được tiếng loa ở những khu vực trọng điểm, đặc biệt là khu ga Yên Viên, ga Dục Nội, Đông Anh… để cho đội dân quân vận chuyển hết hàng hóa tập kết ở đây đi. Số hàng hóa, thuốc men rất lớn, lên đến hàng nghìn tấn do Liên Xô ủng hộ và viện trợ chúng ta để từ đây chuyển cho cả nước, nhất là cho chiến trường miền Nam. Giặc Mỹ biết nên liên tục cho máy bay quần thảo và giã bom không ngừng nghỉ xuống khu vực này. Với tính chất quan trọng và cấp bách như vậy, ngay sau khi nhận lệnh, trong đêm 20-12, đích thân tôi đã lên đường sang khu vực này chỉ huy trực tiếp để vừa đảm bảo cho loa thông suốt vừa hạn chế đến mức thấp nhất thương vong về người.

– PV: Ông và các đồng nghiệp của mình đã giải bài toán khó trên như thế nào?

Ông Vũ Văn Viễn: Vì bị công phá ác liệt, không kể ngày hay đêm, hệ thống truyền thanh của huyện Đông Anh bị phá hủy phải nói là rất kinh khủng. Công nhân không thể nối hết được các đường dây bị phá mà còn dễ bị dính đạn. Quan trọng, sửa chữa chậm giây phút nào, tiếng loa có nguy cơ bị ngừng giây phút đó. Đây là điều không được phép xảy ra. Cả đêm 20-12, tôi cùng các anh em ở tổ đảng của trạm Đông Anh thức trắng, họp bàn để tìm ra bằng được biện pháp thực hiện. Có rất nhiều phương án được đưa ra, tính toán… và cuối cùng rồi cũng chọn được một biện pháp hiệu quả nhất. Thay vì mắc từng loa một, chúng tôi quyết định kéo dây đến một nơi xa vùng trọng điểm (khoảng 2-3km) để đánh lừa địch, mắc ở đầu gió và sử dụng loa to hướng vào đó. Nếu một loa không đủ thì mắc cả chùm 2-3 loa. Nhờ vậy, các vùng trọng điểm vẫn duy trì được tiếng loa ngay cả khi có máy bay địch bắn phá mà không có công nhân nào thiệt mạng.

– PV: Xin cảm ơn ông!

ĐỨC HẠNH (thực hiện)
qdnd.vn

Tự hào về bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Vượt lên những mất mát, đau thương, quân và dân Hà Nội, nòng cốt là Bộ đội Phòng không-Không quân đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của đế quốc Mỹ, làm nên một trận “Điện Biên Phủ trên không” sáng chói… 40 năm đã qua, nhưng chiến thắng này vẫn mãi lắng đọng trong tâm hồn mỗi người dân nước Việt.

Nhớ mãi 12 ngày đêm năm ấy

Còn nhớ, trước khi đánh Hà Nội và vùng phụ cận bằng máy bay ném bom chiến lược B-52, đế quốc Mỹ đã cho nhiều loại tiêm kích và cường kích khác đồng thời tấn công các kho tàng, bến bãi, khu dân cư, nhà trường, bệnh viên… Nhiều khu phố, trường học, bệnh viện, làng xã bị bon Mỹ san phẳng. Những quân và dân Thủ đô không hề nao núng. Lực lượng phòng không – không quân ta vẫn chắc tay súng đánh trả lại những đợt tấn công của kẻ thù. Còn những người công dân, nông dân chúng tôi vẫn chắc tay búa, tay cày thi đua tăng gia sản xuất. Sau mỗi trận bom của kẻ thù, chúng tôi lại mang cuốc, xẻng ra giúp bộ đội phòng không củng cố trận địa.

Cuốn sách “25 trận đánh bắn rơi B-52”. Ảnh: Nguyễn Chí Hòa

Đế quốc Mỹ định dùng sức mạnh quân sự để khuất phục nhân dân ta. Nhưng vượt lên những mất mát, đau thương, quân và dân Hà Nội, nòng cốt là Bộ đội Phòng không-Không quân đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của đế quốc Mỹ, làm nên một trận “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” buộc Mỹ phải thú nhận thất bại và đặt bút ký vào bản Hiệp định đình chiến, chấm dứt sự có mặt của quân đội Mỹ ở Việt Nam.

40 năm đã qua, nhưng những kỷ niệm về 12 ngày đêm sát cánh cùng bộ đội phòng không – không quân chiến đấu bảo vệ Thủ đô luôn sống động trong mỗi chúng tôi. Giờ đây, ở cái tuổi “Thất thập cổ lai hy” chúng tôi vẫn tích cực giáo dục truyền thống bất khuất kiên cường của dân tộc cho các thế hệ con cháu. Chúng tôi dạy thế hệ trẻ hôm nay rằng, không sức mạnh nào có thể bẻ gãy ý chí, chiến thắng được khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Đó là truyền thống văn hóa từ hàng ngàn năm đã kết tinh thành sức mạnh, thành điểm tựa cho một đất nước.

NGUYỄN VIẾT ĐỨC

(Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội)

Bắn rơi B-52 tại chỗ có ý nghĩa mở màn

Trận đánh B-52 đêm 22-11-1972 là một trong những trận đánh đẹp, thắng lợi giòn giã. Ngay ngày hôm sau ban tác chiến Sư đoàn 361, Ban Tác chiến (Quân chủng PK-KQ) từ Hà Nội vào sở chỉ huy trung đoàn ở Nghệ An để chúc mừng và họp rút kinh nghiệm trận đánh thắng B-52 của đơn vị nhằm tìm cách đánh tốt nhất, hiệu quả nhất để bổ sung vào quyển sách đỏ “Cách đánh B-52” của quân chủng PK-KP và phổ biến, rút kinh nghiệm cho các đơn vị trong toàn quân. Từ những kinh nghiệm và cách đánh có hiệu quả của E263 một trận đánh có ý nghĩa mở màn nó như một niềm khích lệ, động viên và cổ vũ cho các trắc thủ ở các đơn vị tên lửa vững tin và quyết đánh, quyết thắng B-52 cho dù chúng có dùng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt như thế nào cũng không thể khuất phục được ý chí quyết đánh và quyết thắng của dân tộc Việt Nam.

Chỉ sau 26 ngày kể từ trận thua đau đêm 22-11-1972, máy bay Mỹ liều lĩnh đánh phá vào Hà Nội. Chúng tưởng sẽ “ngon ăn”. Nhưng chúng đã lầm, chúng đã bay vào thế trận của lòng dân, bay vào thế trận như thiên la địa võng, tầng tầng, lớp lớp của lực lượng phòng không: Cao xạ, tên lửa, không quân của quân và dân miền Bắc để rồi chuốc lấy thất bại nặng nề.

Trận bắn rơi B-52 tại chỗ của E263 có ý nghĩa như một trận mở màn cho trận đại thắng của bộ đội tên lửa nói riêng và lực lượng PK-KQ Hà Nội và miền Bắc nói chung đã làm nên chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu buộc Mỹ phải ký kết hiệp định Pa-ri.

ĐÀO QUANG CƠ

(Thôn Đình, Tiên Lữ, Lập Thạch, Vĩnh Phúc)

Thêm một tư liệu quý

Nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, Sư đoàn Phòng không 361 (Quân chủng Phòng không-Không quân) kết hợp với Ban liên lạc Bạn chiến đấu của Sư đoàn đã cho xuất bản cuốn sách “25 trận đánh bắn rơi B-52”. Cuốn sách chỉ dày 100 trang, khổ 25x27cm, được in màu bằng giấy ảnh, bìa cứng, được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản vào tháng 12-2012. Đọc cuốn sách bạn đọc nói chung và thế hệ trẻ hiện nay được hiểu thêm về 25 trận đánh bắn rơi 25 máy bay B-52 của Sư đoàn Phòng không 361 trong chiến dịch 12 ngày đêm lịch sử tháng 12-1972. Đây cũng là bài học tổng kết về xây dựng thế trận phòng không nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và tinh thần dám đánh, biết đánh và quyết thắng của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn Phòng không 361 anh hùng.

Cuốn sách còn cung cấp cho bạn đọc một số dữ liệu chính về thời gian, địa điểm, danh sách kíp chiến đấu, sơ đồ các trận đánh, diễn biến của từng trận… phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và hiểu sâu sắc hơn về truyền thống Sư đoàn Phòng không 361 anh hùng.

NGUYỄN CHÍ HÒA

(ngõ 445 đường Lạc Long Quân, Tây Hồ, Hà Nội)

Tập làm chiến sĩ

Nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, 68 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 23 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân, ngày 20-12, thầy và trò Trường THCS Hà Trung, TP Hạ Long, (Quảng Ninh) đã có buổi hoạt động ngoại khóa “Tập làm chiến sĩ” tại Trung đoàn 213, Sư đoàn 363 (Quân chủng Phòng không – Không quân). Tại đây, thầy và trò nhà trường được lãnh đạo đơn vị giới thiệu về truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân chủng Phòng không-Không quân và truyền thống đơn vị. Bên cạnh đó, thầy và trò nhà trường còn được nghe giới thiệu về truyền thống của bộ đội phòng không-không quân trong 12 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thủ đô, làm nên chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.

Cô Đàm Thị Thanh Tâm, Hiệu trưởng nhà trường xúc động nói: Buổi giáo dục ngoại khóa này rất có ý nghĩa đối với thầy và trò nhà trường. Đối với giáo viên chúng tôi hiểu thêm về truyền thống chiến đấu kiên cường dũng cảm sáng tạo của quân đội ta, đặc biệt là các anh bộ đội phòng không-không quân trong chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Tin rằng sau buổi dã ngoại này, việc dạy và học lịch sử của nhà trường sẽ có nhiều chuyển biến tích cực.

Các em học sinh đang tập xếp đặt nội vụ vệ sinh cá nhân. Ảnh: Cao Thanh Đông

Nguyễn Phương Anh, học sinh lớp 7A tâm sự: Trước đây chúng em hiểu chưa nhiều về truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhất là về Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Nay được nghe các bác, các chú bộ đội giới thiệu về truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân chủng Phòng không, chúng em đã thêm hiểu và tự hào hơn về thế hệ ông, cha mình. Chúng em sẽ cố gắng học tập thật tốt để sau này trở thành những công dân có ích cho xã hội, góp phần xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời Bác dạy trước lúc Người đi xa.

Còn theo Lê Thị Lan, học sinh lớp 8B: chuyến đi này để lại trong chúng em nhiều ấn tượng tốt đẹp về anh Bộ đội Cụ Hồ. Nhất là khi được tập làm chiến sĩ, chúng em rất vui và càng cảm phục các anh bộ đội.

Cao Thành Đông

(Hà Lầm, Hạ Long, Quảng Ninh)
qdnd.vn

“Đầu sỏ “52” nát mặt dày”

Cuộc sống – Trang viết

QĐND – Chiến công của quân và dân ta trong 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” làm nức lòng bạn bè quốc tế và tạo môi trường để các nhà văn, nhà thơ “mặc sức” tung hoành, thỏa chí với ngòi bút sắc bén của mình. Nhiều chi tiết rất thú vị đã được các nhà văn phát hiện, ví như chuyện Tiểu đoàn tên lửa 72 – đơn vị bắn B-52D rơi tại chỗ ở làng hoa Ngọc Hà vốn được thành lập ở núi rừng Yên Thế, chiến khu xưa của nghĩa quân Đề Thám và xác chiếc máy bay đơn vị bắn rơi lại rơi ngay trên đường Hoàng Hoa Thám, giữa Thủ đô.

Nhà văn Nguyễn Tuân có mặt ở Ngọc Hà trong những ngày ác liệt ấy, đã viết bài ký rất hay: “Cánh B-52 rụng xuống một thôn hoa Hà Nội”. Trong đó có đoạn: “Đình Hữu Tiệp trước đây là nơi tuyển lựa chim họa mi hót hay thì nay là nơi triển lãm xác đại bàng Mỹ gãy cánh. Lòng hồ con trước đình, ngoi lên một cái đầu lâu Đuy-ra khổng lồ, với ký hiệu B-52. Trên cái cục Mỹ to tướng chềnh ềnh trên mặt hồ đó, vươn lên một tấm biển còn ướt nước sơn viết bằng chữ ta. Dọc ngang cái làng hiền xưa nay chỉ chuyên một nghề lành là giồng hoa, ầm ầm tung tóe lên vô khối là những cục Mỹ giết người ấy. Đúng là thằng siêu đế quốc Mỹ đêm trước vừa bĩnh vào thôn hoa. Bà Huấn tổ hợp tác hoa Bờ Hồ nói như gỡ tay ai chịt cổ mình: “Đấy, ông xem, B-52 có mảnh nào rơi đúng vào luống hoa cả làng chúng tôi đâu…”.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” làm nức lòng nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Thất bại nhục nhã của B-52 làm Nhà Trắng, Lầu Năm Góc điên đầu. Thần tượng B-52 của Mỹ tan tành mây khói trước thiên la địa võng lưới lửa phòng không của nhân dân Việt Nam khiến nhiều bài thơ trào phúng ra đời. Trong đó có bài của nhà thơ Thanh Tịnh, đăng Báo Quân đội nhân dân ngày 7-1-1973 với tiêu đề “Đầu sỏ “52” nát mặt dày”; trong đó có đoạn: “Băm bốn “năm hai” cuối bảy hai/Xác văng tung tóe với đầu thui/Siêu âm liền biến siêu… đun nước/Cánh pháo đài bay hóa mảng dài/Xác “bê” chưa thấy chiếc nào nguyên/Chỉ thấy phi hành mấy chục tên/Mặt mũi râu ria còn đủ cả/Mặc quần áo ngủ nói như rên/Thằng móc trên cây, thằng dưới ao/Đứa lê xuống rãnh, đứa chui rào/Tên đầy đỉa bám, tên ruồi bám/Còn “xiếc” “năm hai” đủ kiểu nhào”.

Không chỉ các văn nghệ sĩ trong nước mà nhiều văn nghệ sĩ có tên tuổi trên thế giới và ngay tại nước Mỹ cũng đã viết những tác phẩm ca ngợi Việt Nam, tố cáo tội ác tày trời của chính quyền Mỹ. Nữ minh tinh Giên Phôn-đa của nước Mỹ đã thốt lên trong nước mắt: “Tôi đau nỗi đau mất mát của nhân dân Việt Nam, cho nỗi đau mất mát của chính đất nước tôi, một nước tự cho mình là văn minh, mà tội ác lại như thời kỳ hoang dã”.

Chính Kít-xinh-giơ, cánh tay phải của Ních-xơn trong chiến dịch sử dụng B-52 hủy diệt Hà Nội đã thừa nhận: “Thế giới phê phán hành động của chúng tôi là thất nhân tâm, là không bào chữa được. Quyết liệt nhất là Thụy Điển, họ đã so sánh chúng tôi với Hít-le. Báo Pháp gọi cuộc tàn sát vào Hà Nội là kinh tởm. Báo ở Nhật Bản nhận xét: Mỹ là tên khổng lồ mù quáng”…

MÃ TÙNG
qdnd.vn

“Liên hoàn kế” diệt máy bay địch

QĐND – Tên lửa SAM2, qua bàn tay tài hoa và cái đầu thông minh của bộ đội phòng không Việt Nam đã trở thành nỗi khiếp đảm của B-52 Mỹ. Nhưng ít người biết, để lập nên những kỳ tích trong 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, tên lửa đã có trận đánh hợp đồng “liên hoàn kế” cùng các loại pháo phòng không đầu tiên từ ngày 24-7-1965.

Ông Nguyễn Ngọc Quỳ, một chiến sĩ tham gia trận đánh đó, kể rằng: Trận này, 2 tiểu đoàn tên lửa 63 và 64 thuộc Trung đoàn 236 tham gia. Để phối hợp, Quân chủng Phòng không – Không quân điều động thêm Trung đoàn 220 pháo cao xạ 100mm và Trung đoàn 234 pháo cao xạ 57mm cùng một số đơn vị khác tham gia.

Cựu chiến binh Trung đoàn 236 gặp mặt, ôn lại chiến thắng trận đầu.

Trận địa chủ yếu thuộc địa bàn huyện Ba Vì (Hà Nội). Ta bố trí ba cụm liên kết, lấy các tiểu đoàn tên lửa làm cơ sở. Cụm 1 được bố trí ở Đồi Chùa; cụm 2 ở Võ Khuy và cụm 3 ở giữa. Kế hoạch của ta là dùng tên lửa đánh máy bay địch, cao xạ chỉ đánh bảo vệ tên lửa khi máy bay địch vào trận địa. Tên lửa đánh xong thì đưa mồi nhử là tên lửa “cót tre” (làm bằng cót tre) vào thế chỗ để nhử địch, tạo thế liên hoàn để đánh lớn.

13 giờ 53 phút ngày 24-7-1965, hai tiểu đoàn tên lửa tập trung diệt tốp máy bay F4C của địch ở độ cao 8km đang trên đường vào ném bom Hà Nội. Bị đánh bất ngờ, địch không kịp trở tay. Ngay đêm đó, hai tiểu đoàn tên lửa của ta rút ra ngoài, bố trí trận địa gần đó, ngụy trang kín đáo để chuẩn bị đánh bồi. Tại trận địa cũ, ta bố trí tên lửa cót tre lừa địch. Ngày 25-7, địch không dám bén mảng đến khu vực. Ngày 26-7, chúng mới dùng máy bay trinh sát tầm cao BQM và máy bay trinh sát chiến thuật RF101 vào dò la để chuẩn bị trả đũa. Hai máy bay trinh sát lại bị ta bắn hạ trong ngày 26-7 càng khiến địch cay cú. Ngày 27-7-1965, địch sử dụng 48 máy bay của hai biên đội U-bon và Tắc-ly phối hợp đánh phá hai trận địa tên lửa cót tre của ta. Chúng đã mắc bẫy. Các loại pháo phòng không cùng tên lửa thật của ta chỉ chờ lúc ấy, bắn rơi tại chỗ 5 máy bay, bắn bị thương hai chiếc khác và bắt được nhiều giặc lái.

Trận đầu ra quân của tên lửa, ta đã dùng “liên hoàn kế” đánh cho Mỹ bại hoại. Từ đây, bộ đội tên lửa liên tục phát huy ưu thế, cách đánh độc đáo của ta để tiêu diệt nhiều máy bay địch. Đỉnh cao là Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, tên lửa đã lập công xuất sắc, được nhân dân yêu mến tặng cho danh hiệu “Rồng lửa Thăng Long”.

Bài và ảnh: TRÚC LINH-BẢO ANH
qdnd.vn

Ra trận dưới đuốc lửa B-52

QĐND – Đúng những ngày quân và dân Hà Nội bước vào 12 ngày đêm Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thì Trường Sĩ quan Lục quân 1 (nay là Trường Đại học Trần Quốc Tuấn) diễn ra một sự kiện làm những người trong cuộc khó quên: Khóa học 33-Tiểu đoàn 9 được lệnh kết thúc trước một năm trong chương trình đào tạo 3 năm, học viên tốt nghiệp phần lớn lên đường vào mặt trận nhận nhiệm vụ chiến đấu (tiểu đoàn có 251 học viên tốt nghiệp, trừ 9 đồng chí được chọn ở lại trường công tác, số còn lại được điều về các đơn vị chiến đấu).

Do tiểu đoàn sơ tán rải rác ở các xã Đồng Trúc, Hạ Bằng, Thạch Thất (Hà Tây cũ) không có điều kiện làm lễ tốt nghiệp tập trung, ngày 21-12-1972, sau lễ tổng kết khóa học của từng đại đội, học viên được quán triệt sẵn sàng về các đơn vị chiến đấu nhận nhiệm vụ, phần lớn các đơn vị đang trong mặt trận phía Nam.

Đêm hôm ấy, 23-12, trong lúc trên bầu trời Thủ đô, bao trùm cả vùng Sơn Tây, tiếng máy bay các loại ầm ì; tiếng tên lửa, pháo cao xạ của ta nổ giòn phía Hà Nội, bắc sông Hồng; các đại đội của tiểu đoàn được lệnh báo động, từng người ba lô gọn gàng lặng lẽ ra vị trí tập kết. Không lâu sau, ai về đơn vị nào, hướng nào đã yên vị trên xe có ký hiệu của đơn vị đó. Lệnh xuất phát, đoàn xe bật đèn gầm, xuyên đêm thẳng hướng Hà Đông-Giáp Bát-Hà Nội.

Khi đoàn xe đi qua Văn Điển, Giáp Bát, cảnh tượng tàn khốc của chiến tranh đập vào mắt anh em. Những căn nhà bên đường vừa bị trúng bom địch, khói bom vẫn âm ỉ tỏa lên làm mỗi người đều căm phẫn tội ác tày trời của địch. Trước đó, ngày 22-12, được biết máy bay B-52 đã rải thảm, đánh phá Bệnh viện Bạch Mai, ga Giáp Bát, Văn Điển, Gia Lâm, giờ ai cũng nóng lòng, muốn nhanh chóng có mặt ở chiến trường.

Sau mấy ngày hành quân, đoàn quân đã có mặt tại địa điểm tập kết bàn giao cho Bộ tư lệnh Mặt trận B5 tại Bãi Hà (Vĩnh Linh) đúng thời gian quy định, an toàn và từng người được khẩn trương biên chế về đơn vị chiến đấu.

Lúc này, anh em được Bộ tư lệnh Mặt trận quán triệt: Sau thất bại choáng váng trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Mỹ sẽ phải ký Hiệp định Pa-ri kết thúc chiến tranh, các đơn vị chiến đấu được bổ sung cán bộ chỉ huy, được đào tạo cơ bản là rất quý sẽ giúp đơn vị tăng cường sức chiến đấu mở rộng vùng giải phóng trước khi hiệp định được ký kết. Hiểu như thế, anh em ai cũng khâm phục sự tính toán chiến lược của trên và càng tự hào về sự có mặt ở chiến trường lúc này.

Những ngày sau đó, hầu hết các đồng chí vừa về đơn vị đã tham gia chiến đấu bảo vệ tuyến phòng thủ Quảng Trị. Một số đồng chí đã anh dũng hy sinh trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực như Nguyễn Hữu Hoãn (Quảng Bình), Phùng Thiên Hổ… khi tham gia đánh trận Thượng Đức.

Do yêu cầu nhiệm vụ, một số sau đó được lệnh trở ra miền Bắc bổ sung cho Bộ tư lệnh Thiết giáp đào tạo chỉ huy xe tăng. Và trong đội hình xe tăng các hướng dũng mãnh tiến về giải phóng Sài Gòn (tháng 4-1975) đều có anh em tham gia.

Trong khói lửa chiến tranh, hầu như lớp tốt nghiệp đặc biệt này đều phấn đấu hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ. Có những người là vinh dự có mặt trong thời khắc vẻ vang kết thúc chiến tranh như Trương Quang Siều, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 đã chỉ huy đơn vị đánh chiếm Đài phát thanh ngụy quyền Sài Gòn. Sau đó còn đi tìm, động viên nhân viên kỹ thuật của đài trở lại vị trí làm việc để phát sóng lời đầu hàng quân giải phóng vô điều kiện của tướng Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu.

Đó còn là Trung tướng Nguyễn Văn Đạo, trưởng thành nhanh trong chiến đấu và xây dựng, năm 2006 là Tư lệnh Quân khu 1; Phan Khuê Tảo là Tư lệnh Quân đoàn 1, Phó đô đốc, Phó tư lệnh Quân chủng Hải quân; Bùi Duy Nhâm, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội, đại biểu Quốc hội khóa XII… Ở đâu, làm việc gì những học viên Khóa 33 cũng phát huy truyền thống vẻ vang từ cái nôi đào tạo của Trường Sĩ quan Lục quân 1 anh hùng, luôn hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đại tá TRỊNH THANH PHI, cựu học viên Đại đội 31
qdnd.vn

Ngày 29-12-1972: Chiếc máy bay B-52 cuối cùng bị bắn rơi

Ngày này 40 năm trước

QĐND – Ngày 29-12-1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không-Không quân động viên cán bộ, chiến sĩ. Tại đây, Đại tướng phân tích tình hình và chỉ đạo Quân chủng tập trung đạn tên lửa đánh trận quyết định, bắn rơi nhiều máy bay B-52, buộc Mỹ phải ngừng hẳn cuộc tập kích.

Cán bộ, trắc thủ các tiểu đoàn tên lửa bắn rơi máy bay B-52 về thăm Sư đoàn 361. Ảnh: Hương Hồng Thu.

Chấp hành sự chỉ đạo của trên, Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân lệnh cho Sư đoàn 361 chuẩn bị tốt khí tài, tập trung đánh đúng đối tượng B-52. Ban ngày, Không quân Mỹ huy động 60 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá các trận địa tên lửa, sân bay, cầu phà và các đầu mối giao thông ở Hà Nội; 10 lần chiếc máy bay Hải quân Mỹ đánh phá các mục tiêu ở Hải Phòng, Quảng Ninh.

Đêm 29-12-1972, Mỹ sử dụng 57 lần chiếc máy bay B-52 và 50 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống vào ném bom khu vực Trại Cau, thành phố Thái Nguyên; khu vực Đồng Mỏ (Lạng Sơn) và Kim Anh (Vĩnh Phú); 18 lần chiếc máy bay F-111 đánh phá các sân bay và một số mục tiêu ở Hà Nội. Không quân ta cất cánh bắn rơi một máy bay F-4. Tiểu đoàn tên lửa 79 (Trung đoàn 257) bắn rơi một chiếc máy bay B-52. Đây là chiếc máy bay B-52 cuối cùng bị bắn rơi trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm tháng 12-1972.

XUÂN GIANG (tổng hợp)
qdnd.vn

Chủ tịch nước tiếp các cựu chiến binh tham gia Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND Online – Chiều 28-12, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp đoàn 40 cựu chiến binh, cựu dân quân tự vệ trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Cùng tham gia đoàn có Thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; Trung tướng Phương Minh Hòa, Tư lệnh và Trung tướng Nguyễn Văn Thanh, Chính ủy Quân chủng PK-KQ.

Trước buổi gặp mặt, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ân cần trò chuyện, hỏi thăm sức khỏe của các cựu chiến binh, cựu dân quân tự vệ và chụp ảnh lưu niệm cùng đoàn đại biểu.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu

Phát biểu tại buổi gặp Chủ tịch nước, Trung tướng Nguyễn Văn Thanh thay mặt Quân chủng PK-KQ và đoàn đại biểu, báo cáo khái quát về những đóng góp của quân, dân miền Bắc nói chung, đóng góp của bộ đội PK-KQ nói riêng trong cuộc chống chiến dịch tập kích đường không chiến lược của Mỹ vào Thủ đô Hà Nội và các vùng phụ cận, cuối tháng 12-1972. Đồng chí Chính ủy Quân chủng cũng báo cáo kết quả huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của Quân chủng PK-KQ trong thời gian qua.

Thay mặt cán bộ, chiến sĩ Quân chủng PK-KQ, Trung tướng Nguyễn Văn Thanh hứa với Chủ tịch nước: Toàn Quân chủng PK-KQ sẽ tiếp tục phát huy truyền thống từ Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”; không ngừng xây dựng mối đoàn kết, thống nhất, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng Quân chủng PK-KQ “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, góp phần bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc.

Chủ tịch nước phát biểu trong buổi tiếp các cựu chiến binh, cựu dân quân tự vệ

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Phó tư lệnh Chính trị Quân chủng PK-KQ, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 371); Trung tướng Phạm Tuân-phi công tiêu diệt một máy bay B-52 của Mỹ trong Chiến dịch và một số đại biểu đã phát biểu, nói lên những suy nghĩ của mình trong buổi gặp Chủ tịch nước. Các ý kiến đều tiếp tục khẳng định sự chuẩn bị chu đáo cũng như sự mưu trí, sáng tạo, tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân, dân Hà Nội trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972. Thượng tá Nguyễn Hữu Toàn, Trưởng Ban Thanh niên Quân chủng PK-KQ hứa với Chủ tịch nước: Tuổi trẻ Quân chủng PK-KQ sẽ kế tục xứng đáng thành tích vẻ vang của các thế hệ cha anh đã làm nên kỳ tích trên bầu trời Hà Nội tháng 12-1972, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc, Quân đội và Quân chủng PK-KQ giao phó.

Thân mật trò chuyện với các cựu chiến binh, cựu dân quân tự vệ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch nước tiếp tục khẳng định, từ những nhận định sáng suốt và sự chỉ đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân miền Bắc đã chủ động chuẩn bị đánh B-52 từ rất sớm. Nhờ sự chủ động ấy, chúng ta đã vững vàng bước vào Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Và sau 12 ngày đêm, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng lừng lẫy “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Chủ tịch nước cũng khẳng định, Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” đã buộc Mỹ phải chấp nhận thất bại, trở lại bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri. Chiến thắng đó đã tạo ra thế và lực mới, giúp chúng ta thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Chủ tịch nước tặng quà lưu niệm cho các đại biểu

“Để giành được thắng lợi to lớn đó, nhiều đồng bào, đồng chí của chúng ta đã ngã xuống trong 12 ngày đêm ác liệt. Chiến thắng đó còn được làm nên nhờ sự giúp đỡ quý báu từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao những đóng góp to lớn của các cựu chiến binh, cựu dân quân tự vệ trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972. Chủ tịch nước mong muốn, để tiếp tục phát huy truyền thống từ Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, các cựu chiến binh tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của quê hương, đất nước. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đặc biệt nhấn mạnh, với bản lĩnh, kinh nghiệm có được từ cuộc chống tập kích đường không chiến lược của Mỹ, các cựu chiến binh cần tiếp tục truyền lại cho lớp cán bộ, chiến sĩ hôm nay, để xây dựng Quân chủng PK-KQ và Quân đội ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tin, ảnh: HOÀNG HÀ-DUY ĐÔNG
qdnd.vn

Dấu ấn chiến công thời đại

Di tích Chiến thắng B-52 tại Hà Nội:

QĐND – Chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là một trong những chiến công hiển hách nhất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Để dấu ấn chiến công này còn vang vọng mãi với non sông, một trong những giải pháp quan trọng là ngay từ bây giờ phải quan tâm chăm lo giữ gìn, bảo tồn và phát huy tốt các giá trị di tích liên quan đến Chiến thắng B-52 trên địa bàn Hà Nội.

Chứng tích thảm bại của “pháo đài bay B-52” giữa lòng Thủ đô

Một ngày gần cuối tháng 12-2012, chúng tôi trở lại hồ Hữu Tiệp – nơi mà đêm 27-12-1972, một chiếc B-52 của đế quốc Mỹ đã bị quân ta bắn hạ và rơi xuống lòng hồ. Khác hẳn với cảnh nhếch nhác về cảnh quan, môi trường ở địa điểm di tích lịch sử này mà Báo Quân đội nhân dân từng phản ánh cách đây hơn một năm, hiện nay xung quanh di tích hồ Hữu Tiệp đã được tôn tạo khá khang trang và vệ sinh sạch sẽ hơn. Bia ghi lại chứng tích, bảng chỉ dẫn và bảng thuyết minh sự kiện lịch sử đã được làm mới, tường rào bảo vệ hồ đã được tu sửa lại, trên mặt nước lòng hồ không còn lênh láng bèo và rác rưởi như trước.

Hai du khách Ô-xtrây-li-a đến tham quan di tích lịch sử hồ Hữu Tiệp (ảnh chụp ngày 21-12-2012).

Ông Phạm Văn Mành, Bí thư Đảng ủy phường Ngọc Hà, quận Ba Đình cho chúng tôi biết: Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, thời gian qua, cùng với việc đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm cho cộng đồng cùng tham gia giữ gìn, bảo vệ cảnh quan, môi trường di tích hồ Hữu Tiệp, UBND phường đã huy động lực lượng thanh niên thường xuyên vớt bèo để góp phần làm sạch lòng hồ, quét dọn đường đi lối lại trong khu vực di tích. Một vài hộ dân và tiểu thương để rác rưởi, đất cát xây dựng vương vãi trước đây gây mất vệ sinh, mỹ quan ở khu vực này đã được các chính quyền chấn chỉnh kịp thời. Đến nay, toàn bộ khu vực di tích lịch sử hồ Hữu Tiệp đã được chỉnh trang, tôn tạo để đón các đoàn đại biểu, du khách trong nước và quốc tế đến tham quan. “Nói đến làng hoa Ngọc Hà là nói đến hồ Hữu Tiệp có xác máy bay B-52 của Mỹ. Đã từ lâu, cán bộ, nhân dân phường Ngọc Hà rất vinh dự, tự hào vì có một di tích lịch sử liên quan đến Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tại địa phương mình. Để di tích hồ Hữu Tiệp luôn là một bằng chứng về thảm bại của “pháo đài bay B-52” của Mỹ giữa lòng Thủ đô, chúng tôi sẽ phối hợp với các cơ quan văn hóa của quận và thành phố, nhất là với Bảo tàng Chiến thắng B-52 để cùng quản lý, bảo vệ và phát huy tốt giá trị di tích lịch sử này” – Ông Phạm Văn Mành nói.

Xây dựng, tu bổ bia tôn vinh chiến thắng của quân dân ta

Cùng với việc tôn tạo di tích hồ Hữu Tiệp, bà Nguyễn Thị Thủy, Trưởng phòng Nghiên cứu và phát huy giá trị di tích (Ban quản lý di tích – danh thắng Hà Nội) cho biết: Trong dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, các quận, huyện của Hà Nội đã hoàn thành việc xây dựng, cải tạo, tu bổ bia chứng tích lịch sử tại 7 địa điểm máy bay B-52 bị bắn rơi trên địa bàn Thủ đô. Hai địa điểm được dựng bia mới gồm: Thôn Đại Định, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai và thôn Mai Trai, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì. Ngoài ra, tại địa điểm máy bay B-52 bị bắn rơi tại đồng Trầm, thôn Xuân Tảo, xã Xuân Giang, huyện Sóc Sơn, do máy bay rơi hai điểm khác nhau nên địa phương đã xây dựng, cải tạo cả hai bia chứng tích, trong đó một bia trên đê sông Cà Lồ, một bia nằm giữa cánh đồng Trầm.

Các Cựu chiến binh tham quan Bảo tàng Chiến thắng B-52.

Còn 4 địa điểm khác liên quan đến máy bay B-52 bị bắn rơi cũng được tu bổ, tôn tạo bia chứng tích, gồm: Thôn Đường Hai, xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn; thôn Yên Thường, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm; Tổ 16A, phố Định Công, phường Định Công; Số nhà 201 phố Trương Định, phường Tương Mai thuộc quận Hoàng Mai. Được biết, các bia ghi nhớ chứng tích này được làm bằng đá granit tự nhiên, màu huyết dụ, chữ khắc phủ nhũ màu vàng. Trên bia khắc khi rõ vị trí, thời gian, đơn vị, trận địa bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 của Mỹ.

Nói về ý nghĩa của việc làm này, bà Nguyễn Thị Thủy nhấn mạnh: “Thông qua việc xây dựng, tu bổ các bia chứng tích tại 7 địa điểm máy bay B-52 bị bắn rơi, thành phố Hà Nội muốn ghi lại một dấu ấn chiến công oanh liệt nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX, đồng thời nhằm tôn vinh những đơn vị quân đội đã lập công đặc biệt xuất sắc, góp phần cùng quân dân thủ đô Hà Nội làm nên chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972”.

Cần bảo tồn di tích lâu dài cho các thế hệ mai sau

Một trong những thiết chế văn hóa hàng đầu lưu giữ những dấu ấn chiến công trong 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” hiện nay là Bảo tàng Chiến thắng B-52. Được xây dựng và khánh thành vào dịp kỷ niệm 25 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (tháng 12-1997), Bảo tàng hiện có gần 9000 hiện vật, trong đó có nhiều mảnh xác máy bay B-52 và hàng trăm hiện vật liên quan đến sự kiện lịch sử quân dân Thủ đô đối đầu với “không lực mạnh nhất của Mỹ lúc bấy giờ”.

Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, Thiếu tá Phạm Anh Tuấn, Phó giám đốc Bảo tàng Chiến thắng B-52 cho biết: Đến nay, toàn bộ hệ thống trưng bày sự kiện lịch sử Chiến thắng B-52 đã được nâng cấp; sa bàn diễn biến trận đánh 12 ngày đêm với diện tích 200m2 được bố trí tại trung tâm nhà trưng bày cùng với các phim video trên 3 màn hình và hệ thống ánh sáng, âm thanh, tạo khói… nhằm tái tạo một cách rõ nét, sống động về thời gian, không gian chiến đấu quyết liệt của trận đánh 12 ngày đêm. Vị trí máy bay, ra-đa, tên lửa, hệ thống pháo tại khu trưng bày ngoài trời cũng được sắp đặt lại một cách quy mô hơn. Trong một tháng trở lại đây, mỗi ngày Bảo tàng đón hàng nghìn lượt khách đến tham quan. Thời gian tới, Bảo tàng sẽ tiếp tục sưu tầm, trưng bày, giới thiệu các hiện vật liên quan đến Chiến thắng B-52 để làm một kênh “tiếp lửa truyền thống” cho thế hệ trẻ.

Một giờ học ngoại khóa của học sinh Thủ đô tại Bảo tàng Chiến thắng B-52

Qua tìm hiểu được biết, trong số gần 200 di tích cách mạng kháng chiến trên địa bàn Hà Nội, số di tích gắn liền với sự kiện 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” chiếm tỷ lệ không nhiều, nhưng rất giàu ý nghĩa giáo dục truyền thống cách mạng. Tuy nhiên, một số di tích nằm ở những vị trí có mật độ dân cư đông đúc như phường Ngọc Hà (Ba Đình), phường Định Công và Tương Mai (Hoàng Mai) nên việc quản lý, bảo vệ di tích không tránh khỏi những khó khăn nhất định. Do quá trình đô thị hóa, giá trị “tấc đất, tấc vàng” ở Thủ đô đã tác động không nhỏ tới công tác bảo tồn và phát huy các di tích liên quan đến Chiến thắng B-52 tại Hà Nội. Trò chuyện với chúng tôi, ông Phạm Văn Mành, Bí thư Đảng ủy phường Ngọc Hà cho biết: “Mong muốn lớn nhất của phường là các cơ quan chức năng của thành phố Hà Nội và quận Ba Đình sớm nghiên cứu, mở rộng ngõ 55, vì đây là con đường vào tham quan hồ Hữu Tiệp nhưng hiện nay quá chật hẹp nên du khách đi lại khó khăn”.

Sự kiện 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tuy diễn ra rất ngắn so với cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta trong thế kỷ XX, nhưng là minh chứng sống động về ý chí quật cường, bản lĩnh vô song và trí tuệ sáng tạo tuyệt vời của quân và dân ta trong cuộc đối đầu với cuộc chiến tranh công nghệ cao của đế quốc Mỹ. Vì vậy, để những di tích gắn liền với sự kiện đặc biệt này được lưu giữ lâu dài cho các thế hệ mai sau, chúng tôi cho rằng, cùng với việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, giới thiệu để nhân dân hiểu rõ mục đích, tầm quan trọng của việc quản lý, bảo vệ di tích Chiến thắng B-52, các cấp, các ngành, nhất là ngành văn hóa và các địa phương có di tích cần phải có kế hoạch, giải pháp căn cơ để bảo tồn thật tốt các di tích Chiến thắng B-52 hiện có trên địa bàn Hà Nội. Đó là một cách tri ân thiết thực nhất đối với các thế hệ cha anh đã làm nên một chiến công mang tầm thời đại ở thế kỷ XX.

Bài và ảnh: THIỆN VĂN
qdnd.vn

Chủ động về chiến lược bảo đảm hậu cần

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đánh dấu mốc quan trọng kết thúc 8 năm chiến tranh phá hoại chống miền Bắc Việt Nam của đế quốc Mỹ, đập tan cái gọi là “sức mạnh quân sự Mỹ” từ năm 1965 mà chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II là một ví dụ điển hình. Đây “Không chỉ là một trận thắng của một chiến dịch mà là bước ngoặt của lịch sử” – như lời đánh giá của nhà sử học Dương Trung Quốc. Tuy nhiên, có một khía cạnh ít được đề cập, đó còn là kết quả của sự chủ động về chiến lược đối với công tác hậu cần.

Nghị quyết 19 của Đảng ủy Tổng cục Hậu cần (TCHC) cuối năm 1971 đã nhấn mạnh: Phải chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, hậu cần, kỹ thuật, đảm bảo cho bộ đội SSCĐ đánh thắng địch nếu chúng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc; Tăng thêm lực lượng, phương tiện cho Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ); Nhanh chóng xây dựng các tuyến đường ống vận chuyển xăng dầu từ hậu phương vào các chiến trường. Từ việc nắm vững đối tượng tác chiến là B-52, đánh phá có tính chất hủy diệt và rút kinh nghiệm công tác sơ tán phòng không trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, Tổng cục Hậu cần đã chỉ đạo hậu cần Quân chủng PK-KQ thực hiện tốt hai yêu cầu cơ bản là: “Sơ tán không để địch đánh phá gây thiệt hại lớn, đồng thời phải bảo đảm các mặt công tác không bị ngừng trệ”. Chỉ đạo sơ tán các cơ sở hậu cần ra khỏi các khu vực tập trung lớn, nhất là nhà ga, đầu mối giao thông quan trọng… Sơ tán, di chuyển là biện pháp quan trọng để đánh địch, bảo đảm an toàn; nhưng đồng thời nảy sinh khó khăn: Cơ sở, đơn vị hậu cần bị phân tán trên địa bàn rộng; kho tàng, trạm, xưởng, bệnh viện… phải triển khai hoạt động trong điều kiện dã ngoại gây trở ngại cho triển khai chế độ, nền nếp bảo đảm, chỉ huy, quản lý hậu cần. TCHC đã chỉ đạo chuyển phương thức bảo đảm từ “tuần tự trên-dưới” sang bảo đảm theo khu vực; phân cấp bảo đảm kết hợp với bảo đảm vượt cấp, phối hợp chặt chẽ các lực lượng bảo đảm cho tác chiến. Tăng cường lực lượng dự trữ cần thiết cho các đơn vị, thực hiện kết hợp giữa hậu cần quân đội với các cơ quan, ban, ngành Nhà nước, dựa vào chính quyền và nhân dân các địa phương để tổ chức bảo đảm tại chỗ cho các đơn vị tác chiến và hoạt động trên từng khu vực; tăng cường khả năng bảo đảm độc lập trên từng hướng chiến lược, địa bàn tác chiến, giảm đến mức thấp nhất yêu cầu vận chuyển bảo đảm trong quá trình diễn biến tác chiến.

Do lường trước được những khó khăn trong công tác vận chuyển, TCHC đã chỉ đạo đi đôi với tranh thủ mọi khả năng vận chuyển của Nhà nước, tập trung xây dựng, mở rộng lực lượng vận tải quân sự; tăng cường lực lượng vận tải cơ giới, nhanh chóng xây dựng, mở các tuyến giao thông vận tải chiến lược. Đồng thời tăng thêm lực lượng, phương tiện vận tải cho quân chủng, kết hợp các loại vận tải cơ giới và thô sơ, thủy và bộ để nâng cao khả năng tự vận chuyển theo phân công, phân cấp ở từng đơn vị. Trong suốt 12 ngày đêm chiến dịch, mặc dù bom đạn địch phong tỏa cả đường bộ, đường không, đường sông, đường biển, tập trung 60% số lần xuất kích, 54% số trận đánh phá của không quân vào các mục tiêu giao thông vận tải, nhưng với khẩu hiệu “mở đường mà tiến, đánh địch mà đi”, giao thông vận tải vẫn được giữ thông suốt. Thành phố Hải Phòng đã đề ra chủ trương “quân sự hóa” ngành giao thông vận tải nhằm nâng cao chất lượng công tác của ngành. Xuất hiện nhiều gương dũng cảm phá thủy lôi, bom nổ chậm để thông đường, thông xe, kịp thời chi viện cho các trận địa thực hiện nhiệm vụ cơ động đánh địch. Nhờ có sự chỉ đạo chiến lược, chúng ta đã làm tốt công tác phòng tránh, sơ tán, tổ chức tham gia đánh địch bảo vệ an toàn cơ sở lực lượng vật chất kỹ thuật ở các cấp; nhanh chóng chuyển hướng về mặt tổ chức, xây dựng, phát triển lực lượng, điều chỉnh bố trí các đơn vị, cơ sở bảo đảm phù hợp điều kiện chiến tranh; coi trọng xây dựng, mở rộng các tuyến hành lang vận tải chi viện chiến lược, không ngừng phát huy sức mạnh bảo đảm cho các chiến trường đánh thắng. Quân chủng PK-KQ là đơn vị tiêu thụ xăng dầu rất lớn, vì vậy, việc chuẩn bị xăng dầu, nhất là nhiên liệu bay cho chiến dịch được TCHC chỉ đạo sát sao. Các sân bay đều có dự trữ đủ theo quy định và theo sức chứa của sân bay, bảo đảm cho từ 30 đến 40 ngày chiến đấu. Trước ngày mở màn chiến dịch, Sư đoàn Không quân 371 đã tiếp nhận 6.261 tấn nhiên liệu bay TC-1, dầu mỡ phụ bảo đảm đủ đến quý I-1973. Các kho chiến lược của TCHC cũng chuẩn bị sẵn sàng chi viện trực tiếp cho các sân bay trên các hướng.

Quán triệt quan điểm “Không ngừng nâng cao khả năng bảo đảm chiến đấu cho quân đội”, ngành hậu cần đã ra sức xây dựng, mở rộng tổ chức lực lượng, phát triển mạnh cơ sở, đơn vị bảo đảm, tăng cường tổ chức lực lượng hậu cần chiến lược đi đôi mở rộng phân cấp, kiện toàn lực lượng, nâng cao khả năng bảo đảm của hậu cần các cấp. Hệ thống cơ sở thu dung điều trị được nhanh chóng mở rộng, đã nâng cao rõ rệt khả năng điều trị ở các tuyến. Thực hiện kết hợp quân y và dân y xây dựng mạng lưới cấp cứu, tải thương, điều trị rộng khắp, hình thành các khu vực bảo đảm quân dân y trên các địa bàn tác chiến với một số cơ sở điều trị làm trung tâm kỹ thuật ở từng khu vực bảo đảm; tăng cường khả năng cho các tuyến trước; tăng cường chất lượng cán bộ và phương tiện kỹ thuật, dự trữ thuốc men cho các đơn vị chiến đấu độc lập ở xa. TCHC trực tiếp chỉ đạo Quân y Quân chủng PK-KQ làm tốt tổ chức cứu chữa, điều trị thương binh, bệnh binh; thực hiện tốt chủ trương “tích cực chủ động đánh địch kết hợp phòng tránh để chiến đấu lâu dài”, nên mặc dù Mỹ đã huy động cao độ sức mạnh của không quân để đánh phá, nhưng số thương vong đã được hạn chế. Các phương án cấp cứu hàng loạt đã được dự kiến trước, các tổ đội chống sập, chống cháy nổ được thành lập. Đặc biệt, công tác kiểm tra từ quân chủng đến đơn vị được làm nhiều lần, vật chất được bổ sung kịp thời, nên mặc dù có tới 24 đơn vị, trận địa bị máy bay địch đánh trúng, có đơn vị bị thương số lượng lớn, nhưng đã giải quyết cấp cứu tốt thương binh, 100% được băng bó, hồi sức, chống choáng đưa đến tuyến sau, giảm thời gian điều trị, trả nhanh quân số về chiến đấu…

Như vậy, có thể thấy đường lối lãnh đạo của Đảng đã được vận dụng sáng tạo vào thực hiện nhiệm vụ bảo đảm hậu cần, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch phòng không năm 1972. Có nhiều bài học được rút ra trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai, đặc biệt là cần nghiên cứu nắm chắc tình hình địch, ta, địa hình, thời tiết, tình hình kinh tế-xã hội địa phương, chuẩn bị về cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật; từng bước nghiên cứu đổi mới, hoàn thiện phương thức bảo đảm phù hợp điều kiện tác chiến mới, tạo nên thế và lực bảo đảm kịp thời, đầy đủ cho chiến đấu và giành chiến thắng của các lực lượng PK-KQ.

Đại tá, TS NGUYỄN ĐÔNG THỨC
qdnd.vn

Giá trị to lớn của nhân tố chính trị, tinh thần

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Thời gian càng lùi xa thì ý nghĩa lịch sử và tầm vóc của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” càng rực sáng. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là biểu tượng cao đẹp về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố chính trị, tinh thần có ý nghĩa quyết định và được thể hiện trước hết ở đường lối lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Bác Hồ và Quân ủy Trung ương. Trên cơ sở nắm bắt quy luật khách quan, với tầm nhìn xa, trông rộng, với tư duy chính trị, quân sự sắc sảo, độc đáo, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra âm mưu, thủ đoạn thâm độc của Đế quốc Mỹ ngay từ đầu năm 1960 và dự báo: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội”… “Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Từ dự báo chiến lược đó Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Quân chủng Phòng không – Không quân và các quân khu “Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược đánh phá trở lại miền Bắc”. Tháng 11-1972, trong một cuộc họp quan trọng của Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định: Âm mưu của Mỹ cho B-52 đánh thủ đô Hà Nội – linh hồn của cuộc kháng chiến – sẽ là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô…

Sát cánh cùng Bộ đội ra-đa, tên lửa, lực lượng pháo cao xạ cũng được củng cố, với quyết tâm tạo nên lưới lửa dày đặc, thiêu cháy giặc trời. Ảnh tư liệu

Những dự báo, chỉ thị, chỉ đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu vang lên như lời hịch kêu gọi toàn dân, toàn quân ta “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Cháy bỏng ý chí quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết thắng B-52, quân và dân miền Bắc, đặc biệt là quân và dân Hà Nội, mà nòng cốt là Bộ đội Phòng không – Không quân đã xây dựng ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú, công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã góp phần khơi dậy lòng tự tôn dân tộc; truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông, xây dựng lòng trung thành tuyệt đối của cán bộ, chiến sĩ vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng, niềm tin tất thắng vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc, hình thành bản lĩnh vững vàng của người chiến sĩ: Bình tĩnh, tự tin, không phiêu lưu mạo hiểm, không hoảng sợ trước sức mạnh vũ khí, trang bị của Mỹ. Với phương châm “người trước – súng sau”, khi mà kẻ thù tác chiến bằng phương tiện chiến tranh hiện đại, thì Đảng ta chỉ đạo, lấy yếu tố con người với nghị lực chiến đấu phi thường, với sức mạnh sáng tạo, trình độ cao về nghệ thuật tác chiến, làm chủ vũ khí trang bị hiện có, trong thế trận chiến tranh nhân dân để đánh địch.

Biến ý chí quyết tâm thành hành động cách mạng, với tinh thần hết sức khẩn trương, Bộ đội Phòng không – Không quân đã mở những “Hội nghị Diên Hồng” dân chủ bàn bạc, nghiên cứu, tìm ra cách đánh B-52 để huấn luyện, thống nhất các phương án tác chiến; điều chỉnh lực lượng, bổ sung khí tài, xây dựng thế trận phòng không – không quân; chấn chỉnh công tác bảo đảm phục vụ chiến đấu… Các lực lượng phòng không – không quân được bố trí tác chiến theo nhiều hướng, nhiều tầng, nhiều lớp tạo thành “vành đai lửa” trong thế trận “thiên la địa võng” trên bầu trời Hà Nội sẵn sàng tiêu diệt địch. Sau 12 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không chủ yếu bằng B-52 của đế quốc Mỹ, làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, giáng đòn quyết định vào cố gắng cuối cùng của Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử làm tiền đề để đi đến thắng lợi trọn vẹn của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Bốn mươi năm đã trôi qua, nhìn lại Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” chúng ta càng thấy rõ nhân tố chính trị, tinh thần làm nên chiến thắng là kết tinh của truyền thống yêu nước Việt Nam trường tồn suốt chiều dài lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được nâng lên một tầm cao mới, trở thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó là sức mạnh của cuộc chiến tranh chính nghĩa – cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả của các nước XHCN anh em, nhất là Liên Xô, Trung Quốc; sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng, dân chủ, hòa bình và của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ. Đó còn là sự thể hiện sức sống mãnh liệt của học thuyết Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng; đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Bác Hồ kính yêu, tài mưu lược của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong việc kết hợp hài hòa giữa ý chí kiên định, bản lĩnh vững vàng, tài trí tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta với năng lực lãnh đạo, chỉ huy khai thác hiệu quả tính năng, tác dụng các vũ khí được trang bị.

Tự hào về Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đang tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, vươn lên giành thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, như Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ ra. Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đứng trước cả những thuận lợi và thách thức đan xen. Các thế lực thù địch đang ráo riết tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng nước ta và khi có thời cơ chúng sẽ sẵn sàng phát động cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao. Do vậy, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới, chúng ta phải xây dựng, chuẩn bị toàn diện, nhằm huy động cao nhất sức mạnh tổng hợp của cả nước, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Trong đó, xây dựng, phát huy nhân tố chính trị, tinh thần của nhân dân và quân đội vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Để xây dựng và phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trước hết phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trang bị vũ khí, kỹ thuật ngày càng hiện đại cho lực lượng vũ trang trước hết cho một số lực lượng, trong đó có Bộ đội Phòng không – Không quân. Chủ động xây dựng, phát triển, huy động tiềm lực chính trị – tinh thần sẵn có thành sức mạnh chính trị – tinh thần khi chiến tranh xảy ra nhằm đánh thắng chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch.

Nâng cao cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta; kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn xâm lược kiểu mới của địch, chủ động chuyển trạng thái chính trị – tinh thần của quân và dân từ thời bình sang thời chiến.

Phải xây dựng đất nước ổn định về mọi mặt, nhất là giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên phạm vi cả nước; không ngừng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; thực hiện tốt sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ bằng việc thiết thực đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đưa các Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống, bồi dưỡng tình cảm cách mạng, khơi dậy niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của mọi cá nhân và các tổ chức xã hội; quan tâm và thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh, gắn xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Quan tâm “xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, đồng thời quan tâm xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp”.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhiều bài học quý báu, nhất là bài học về phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thượng tướng Ngô Xuân Lịch
qdnd.vn

Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam

Văn hóa dân tộc – “vũ khí bí mật” làm nên chiến thắng (*)

QĐND – Tháng 12-2012 chúng ta kỷ niệm trọng thể 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Chiến thắng này là khúc tráng ca bất tử của thời đại, nó kết tinh và tỏa sáng nhiều giá trị truyền thống của tinh hoa văn hóa dân tộc.

Dân tộc ta có cả một truyền thống tiến hành chiến tranh giữ nước. Truyền thống ấy được đúc kết từ hàng nghìn năm lịch sử, mà ở đó nhân tố quyết định chiến thắng không phải ở vũ khí mà là nhân tố con người, là những phẩm chất tinh thần đã được kết tinh thành những giá trị và ở mỗi giai đoạn thử thách khốc liệt nhất, những giá trị ấy đã tỏa sáng, trở thành nguồn lực to lớn giúp chúng ta đánh thắng kẻ thù vốn mạnh hơn ta nhiều lần cả về kinh nghiệm chiến tranh, quân số, trình độ tác chiến và trang bị.

Năm 1999, tôi đến thăm Đại học Texas Tech (Mỹ). Ở đây có Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và chính sách hậu chiến do TS James Reckner, nguyên là một đại úy CIA, chuyên nghiên cứu về vũ khí của Liên Xô và Trung Quốc ở chiến trường Việt Nam, từ 1968 đến 1970 ở chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, làm Giám đốc. Ông James Reckner kể cho tôi nghe chuyện Trung tướng Nguyễn Đình Ước đã dự một cuộc hội thảo cùng hàng chục tướng tá và các nhà khoa học người Mỹ về chiến tranh ở Việt Nam. Có một vấn đề mà nhiều người Mỹ không lý giải được là vì sao họ thua ở Việt Nam? Họ đã nghe nhiều người Việt Nam nói rằng quân đội ta là những người có lý tưởng cao cả, dũng cảm, quân đội Mỹ và đồng minh không có được điều đó nên thua là tất yếu… Họ nghe, biết vậy nhưng chưa tin. Nhưng khi Trung tướng Nguyễn Đình Ước nói, họ thua vì truyền thống văn hóa dân tộc trong một thời điểm nào đó đã nhân lên sức mạnh cho Quân đội nhân dân Việt Nam và đó là điều bí mật, là “vũ khí bí mật” của người Việt Nam, thì lúc đó họ mới tin là như thế.

Trong một bài viết ngắn gọn, sâu sắc về lòng yêu nước của người Việt Nam, Bác Hồ viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Sẵn sàng để Tổ quốc không bị bất ngờ. Ảnh: Vũ Quang Thái

Lần giở lại lịch sử dân tộc ở những thời khắc quyết định của những trận đánh lớn, mang ý nghĩa quyết định một cuộc chiến tranh như ba lần nhà Trần chiến thắng quân xâm lược Nguyên-Mông, trận đánh của Quang Trung đại phá 20 vạn quân Mãn Thanh, giải phóng kinh thành Thăng Long, thống nhất đất nước, trận Điện Biên Phủ năm 1954 có ý nghĩa kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, mở đầu một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới và trận “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 chúng ta thấy truyền thống văn hóa dân tộc như một nhân tố tạo nên chiến thắng của những trận đánh lịch sử này.

Trong một lần đến thăm Giáo sư Trần Văn Giàu, ông có trò chuyện với chúng tôi về truyền thống văn hóa và cách khai thác truyền thống ấy trong đời sống hiện đại. Là giáo sư lịch sử, đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về cách chống xâm lăng của ông cha ta, nhưng giáo sư nói rằng, cho đến tận lúc đó (2001) ông vẫn chưa lý giải được vì sao trong Cách mạng tháng 8 năm 1945 chúng ta chỉ có khoảng 5000 đảng viên mà lại lãnh đạo được nhân dân cả nước làm cuộc cách mạng dân tộc có một không hai trong lịch sử. Theo giáo sư, cái độc đáo của cuộc cách mạng ấy không phải chỉ ở chỗ chúng ta giành được độc lập mà là cách giành độc lập hết sức độc đáo, sáng tạo. Căn nguyên của sự sáng tạo này, theo giáo sư, là Việt Minh, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, biết dựa vào dân, biết khơi dậy ở nhân dân sức mạnh của lòng yêu nước, khát vọng được sống trong độc lập, tự do. Từ đó sẽ tạo ra rất nhiều cách đánh, nhiều cách phát động nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền mang tính sáng tạo đặc biệt. Ở một khía cạnh khác, ông cũng cho biết là bản thân ông không thể cắt nghĩa nổi vì sao khi chiếm Ninh Bình, đội quân xâm lược Pháp chỉ có 18 tên, trong đó có một tên ốm, mà chúng vẫn đạt được mục đích. Phải chăng đó là do vận nước ở vào lúc bĩ, hay nói đúng hơn, là lòng dân đã không còn gắn bó với chế độ nhà Nguyễn, khi mà lòng dân ly tán và xã hội bị chia rẽ đến tận tế bào thì không gì có thể cứu vãn được.

Trở lại với Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 lịch sử, chúng ta nên nhìn nhận lại quá trình chuẩn bị cho trận đánh mang tầm chiến lược này ở những thời gian và những chuẩn bị liên quan đến nó. Từ tháng 4-1972 chính quyền Mỹ đã thực hiện nhiều hành động chiến tranh và đối ngoại hòng làm suy yếu thế và lực của chúng ta. Chúng phong tỏa cảng Hải Phòng để ngăn cản con đường tiếp tế của Liên Xô và các nước XHCN khác, ném bom hủy diệt thành phố cảng, thực hiện chính sách ngoại giao hòng cô lập chúng ta. Tất cả những hành động ấy, thực tế, đã đặt chúng ta trước thử thách khốc liệt. Trước khi đánh Hà Nội và vùng phụ cận bằng máy bay ném bom chiến lược B-52, chúng cũng cho nhiều loại tiêm kích và cường kích khác đồng thời tấn công các kho tàng, bến bãi, các cơ sở dự trữ cho kháng chiến của chúng ta. Về vũ khí, ưu thế gần như tuyệt đối thuộc về phía kẻ thù. Về đội ngũ phi công, Mỹ cũng có nhiều người có nhiều giờ bay và kinh nghiệm hơn các chiến sĩ mới được “ra lò” từ trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại. Nhưng cách đánh của chúng ta, cách đánh hợp đồng binh chủng, phối hợp của các loại vũ khí thuộc đủ tầm cao, tầm thấp, cách đón lõng, phục kích, cách “giải mã” nhiễu, cách tìm đúng B-52 mà đánh của lưới lửa phòng không của chúng ta “khiến quân thù phải sợ”. Hồi ký của nhiều tướng lĩnh, nhiều nhà khoa học quân sự đã phân tích nhiều bài học lớn về chiến lược chuẩn bị đánh “pháo đài bay” ngay từ khi kẻ thù chưa hề bay vào vùng trời Hà Nội, từ chiến thuật nghi binh, táo bạo, bất ngờ, quả cảm, tìm đúng yếu huyệt kẻ thù để đánh đòn chí mạng, từ sự sáng suốt chọn thời điểm, chọn thế, chọn cách đánh cho từng binh chủng, chọn người cho từng trận v.v.. đều thấm đẫm truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông ta. Có thể nói, các quân binh chủng của chúng ta đã đánh địch theo cách và thế trận của mình, theo khả năng và sự sáng tạo của mình. Những yếu tố đó đã trở thành một bản đại hợp xướng bảo đảm cho thắng lợi cuối cùng.

Liều lĩnh, tàn bạo và tham vọng như thế nhưng cuối cùng Mỹ đã phải thú nhận thất bại và đặt bút ký vào bản Hiệp định đình chiến, chấm dứt sự có mặt của quân đội Mỹ ở Việt Nam. Chúng đã thua trận. “Vũ khí bí mật” của Việt Nam không phải nằm ở khí tài, trang bị mà ở cách đánh giàu tính sáng tạo, đầy tinh thần quả cảm, in đậm ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, được khơi dậy từ tinh thần yêu nước, căm thù giặc, từ tinh thần “chúng muốn biến ta thành tro bụi, ta hóa vàng nhân phẩm lương tâm/ Chúng muốn ta cúi mình ô nhục, ta làm sen thơm ngát giữa đời” (Tố Hữu).

Không sức mạnh nào có thể bẻ gãy ý chí của cả một dân tộc, không gì có thể chiến thắng được khát vọng của cả dân tộc. Đó là truyền thống văn hóa từ hàng ngàn năm đã kết tinh thành sức mạnh, thành điểm tựa cho một đất nước. Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của chúng ta đã khơi đúng nguồn mạch ấy và trận thắng B-52 năm 1972 chỉ là minh chứng cho sự đúng đắn này. Chúng ta đã chiến thắng là vì thế.

GS, TS PHẠM QUANG LONG (Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội)
qdnd.vn

(*) Trích tham luận gửi về Hội thảo Khoa học “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam” – Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân

Tổ chức lực lượng chặt chẽ, bố trí trận địa linh hoạt

QĐND – Năm 1972, sau những thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam, chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn, để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ liều lĩnh thực hiện Chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ II, huy động lực lượng lớn không quân, hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam, trọng tâm là Hà Nội, Hải Phòng.

Trước mưu đồ thâm độc của kẻ thù, ngay từ tháng 6-1972, Bộ tư lệnh Thủ đô thành lập 8 đại đội tự vệ tập trung, thoát ly sản xuất. Trong nội thành, mỗi khu phố tổ chức 1 đại đội pháo phòng không 100mm gồm 5 khẩu đội để tăng cường hỏa lực bắn máy bay địch. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị phần lớn là công nhân của các xí nghiệp được tập trung lại. Riêng Xí nghiệp đóng xe ca Hà Nội đảm nhiệm tổ chức đại đội của khu Ba Đình. Ở ngoại thành, mỗi huyện tổ chức 1 đại đội bộ binh tập trung, trang bị đủ súng đạn, làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu trên địa bàn huyện. Hệ thống trận địa bắn máy bay bay thấp của DQTV được tổ chức thành 62 trận địa trực chiến, bố trí sát mục tiêu bảo vệ. Trong nội thành, những cơ quan, xí nghiệp có từ 70 tự vệ trở lên tổ chức các đơn vị chiến đấu trang bị súng máy cao xạ cơ động đánh địch nhưng không hoàn toàn thoát ly sản xuất. Các cơ quan xí nghiệp có dưới 70 tự vệ được trang bị súng bộ binh làm nhiệm vụ chiến đấu tại chỗ và là lực lượng xung kích trong khắc phục hậu quả bom, đạn địch. Ở ngoại thành, dân quân, du kích mỗi thôn xã đều chia thành ba lực lượng gồm: Lực lượng chiến đấu cơ động được trang bị súng máy cao xạ; lực lượng chiến đấu tại chỗ được trang bị súng bộ binh và lực lượng phục vụ chiến đấu… Sau khi ổn định tổ chức, tập trung huấn luyện cấp tốc, từ ngày 25-8-1972, bốn đại đội pháo 100mm của 4 khu phố nội thành lần lượt ra trực chiến, trận địa bố trí ở khu vực tiếp giáp giữa nội thành và ngoại thành.

Đại đội 4 pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô nổ súng mãnh liệt, trừng trị máy bay Mỹ đến gây tội ác trong 12 ngày đêm tháng 12/1972. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN.

19 giờ 25 phút ngày 18-12-1972, chiến dịch phòng không của ta chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ bắt đầu. DQTV Thủ đô tham gia chiến dịch có 4 đại đội pháo 100mm (20 khẩu), 192 trận địa với 721 khẩu súng máy phòng không 14,5mm, 12,7mm và hơn 40.000 DQTV trang bị súng trường, tiểu liên, súng cối sẵn sàng cơ động đánh địch đổ bộ đường không, truy bắt giặc lái. Để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bom, đạn địch, Hà Nội tổ chức cho 55 vạn người sơ tán, đào hàng vạn hố cá nhân, hàng trăm hầm tập thể, hơn 10.000km giao thông hào… Tuy VKTB thô sơ, lực lượng không nhiều nhưng do tổ chức chặt chẽ, bố trí hợp lý, làm tốt công tác PKND nên ta đã tạo được thế trận phòng không rộng khắp nhiều tầng, nhiều lớp, lưới lửa dày đặc, có thể đánh địch từ nhiều hướng, nhiều tầm, làm hạn chế ưu thế của các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ…

Bước vào chiến đấu, thế trận PKND của thủ đô Hà Nội tiếp tục được củng cố, hoàn thiện và đã phát huy ưu thế. Dưới sự chỉ huy thống nhất từ Bộ Tổng tham mưu, trực tiếp từ Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ, các đơn vị PK-KQ, các đơn vị trực chiến của DQTV đã chiến đấu mưu trí, kiên cường tiêu diệt các loại máy bay chiến lược, chiến thuật của Mỹ… Quá trình chiến đấu, LLVT Thủ đô luôn thể hiện rõ sự mưu trí, dũng cảm, kiên cường, kịp thời điều chỉnh thế trận tạo thành lưới lửa phòng không tầm thấp không cho địch tự do đánh phá các mục tiêu, buộc chúng phải nâng độ cao, tạo điều kiện cho bộ đội tên lửa và không quân phát huy ưu thế tiêu diệt máy bay B-52…

Để gây căng thẳng thường xuyên cho nhân dân ta, địch dùng thủ đoạn cho máy bay F-111 hoạt động ở độ cao thấp và rất thấp, liên tục đột nhập vùng trời Hà Nội đánh phá các mục tiêu… LLVT Thủ đô kịp thời điều chỉnh lực lượng, tổ chức đội hình, bố trí trận địa hợp lý: Tổ chức và trực tiếp chỉ huy một đại đội tự vệ với 5 súng máy cao xạ 14,5mm gồm 3 trung đội tự vệ: Nhà máy Gỗ Hà Nội, Nhà máy Cơ khí Mai Động và Nhà máy Cơ khí Lương Yên. Đại đội có nhiệm vụ bắn máy bay bay thấp, chủ yếu là F-111, bảo vệ nhà máy và các mục tiêu cảng sông Hồng, Bệnh viện Việt-Xô, Viện Quân y 108. Sáng 22-12, đại đội cơ động đến trận địa Vân Đồn, bố trí chiến đấu nhằm phục kích, đón lõng đường bay đột nhập của địch. Công tác chuẩn bị chiến đấu của đại đội xong trước 16 giờ. Vào 20 giờ, đại đội nhận lệnh vào cấp 1, toàn đại đội vào vị trí. 20 giờ 18 phút, các khẩu đội bắt mục tiêu đồng loạt nổ súng, máy bay địch trúng đạn bốc cháy rơi xuống Lương Sơn (Hòa Bình). Chiến công này đã tăng thêm niềm tin chiến thắng, động viên mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân dân Hà Nội.

Từ ngày 25-12, địch thực hiện thủ đoạn mới: Ban ngày dùng máy bay chiến thuật đánh phá ác liệt các trận địa phòng không, sân bay; Ban đêm huy động máy bay B-52 và máy bay chiến thuật, đánh phá các mục tiêu ở cả Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên… Đối phó với sự thay đổi chiến thuật của địch và rút kinh nghiệm chiến đấu, Bộ tư lệnh Thủ đô tổ chức lại thành 23 trận địa tập trung, bố trí thành từng cụm phục kích đón lõng các đường bay của địch, 4 đại đội pháo 100mm được bổ sung đạn. Nhờ đó, hiệu quả chiến đấu của quân dân ta ngày càng cao.

Với vị trí cửa ngõ, áo giáp chở che, quân dân Hà Tây luôn sát cánh, chia lửa, hiệp đồng chặt chẽ với quân dân Thủ đô tạo thế trận liên hoàn hiểm hóc vùi thây những “pháo đài bay”, “con ma”, thần sấm”, “cánh cụp, cánh xòe”, không cho chúng tiếp cận các mục tiêu đánh phá trên địa bàn Thủ đô. Trận địa phòng không tầm thấp của DQTV được tổ chức triển khai phục kích, đón lõng trên các hướng máy bay địch vào đánh phá Hà Nội. Ở khu vực thị xã Hà Đông và thị xã Sơn Tây, trận địa 12,7mm của tự vệ được triển khai bố trí ngay trên nóc các tòa nhà cao tầng. Tại các huyện: Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng, Thường Tín, Phú Xuyên… các trận địa pháo 37mm của DQTV được bố trí chốt giữ các đoạn đê xung yếu. Cùng với hệ thống trận địa phòng không tầm thấp, hàng nghìn quả khinh khí cầu có gài thêm thuốc nổ thả trên bầu trời không cho máy bay địch luồn lách tiếp cận mục tiêu và lẩn tránh đòn đánh chính xác của bộ đội tên lửa… Trong 12 ngày đêm, dân quân tập trung huyện Mỹ Đức bắn cháy 1 máy bay F-4; tự vệ Nông trường Xuân Mai bắn cháy 1 máy bay F-111, du kích tập trung huyện Chương Mỹ, các phân đội cơ động của Trung đoàn Ngô Quyền, Nguyễn Trãi phối hợp với quân dân huyện Lương Sơn vừa truy bắt giặc lái vừa tham gia tiêu diệt 1 máy bay trực thăng Mỹ đến cứu đồng bọn. Các trận địa phòng không tầm thấp của DQTV liên tục chiến đấu buộc máy bay Mỹ phải nâng độ cao, tạo điều kiện cho các đơn vị tên lửa tiêu diệt 5 máy bay các loại…

Qua 12 ngày đêm với sự phối hợp hiệp đồng chặt chẽ và tinh thần chiến đấu quả cảm, LLVT bảo vệ thủ đô Hà Nội gồm các đơn vị chủ lực đứng chân trên địa bàn và DQTV Thủ đô đã bắn rơi hàng chục máy bay B-52 và hàng chục máy bay chiến thuật của địch. Thất bại nặng nề, 7 giờ ngày 30-12-1972, Tổng thống Ních-xơn phải tuyên bố chấm dứt cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng, ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra…

Chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối năm 1972 của quân dân ta toàn thắng có ý nghĩa hết sức quan trọng, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Thắng lợi của quân dân Thủ đô là thắng lợi mang tính truyền thống, là chiến công của hào khí Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội, khởi nguồn từ đạo lý dân tộc “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo” và từ sự thấm nhuần chân lý thời đại “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Thắng lợi đã ghi thêm vào trang sử vàng của dân tộc một chiến công hiển hách, huy hoàng làm tỏa sáng và nâng giá trị văn hóa 1000 năm Thăng Long – Hà Nội lên tầm cao mới để Hà Nội thực sự trở thành “Thủ đô của phẩm giá con người”.

Thiếu tướng PHÍ QUỐC TUẤNTư lệnh Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội
qdnd.vn