Tag Archive | Tin tức

Chủ tịch Hồ Chí Minh và quá trình tiếp quản Thủ đô Hà Nội

Vừa tròn 55 năm kể từ khi cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp thắng lợi, song dư âm của chiến thắng Điện Biên Phủ và vị thế của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ tháng 7 năm 1954 vẫn còn đọng lại trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế những ấn tượng sâu sắc. Và cũng vừa tròn 55 năm, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô trong niềm vui hân hoan miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng.

Để chuẩn bị cho ngày về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, từ Thủ đô kháng chiến Việt Bắc gió ngàn, ngày 5-9-1954, tại huyện Đại Từ (Thái Nguyên), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ, nhân viên ccá cơ quan Trung ương, các đơn vị bộ đội, công an và và thanh niên xung phong. Sau khi nêu đặc điểm, tình hình mới và giải đáp một số thắc mắc về vấn đề lương bổng, về công việc của mọi người khi chuẩn bị về thành phố, Người căn dặn mọi người phẩi luôn luôn giữ gìn đạo đức và nhân cách của mình và phải luôn ghi nhớ khi “về xuôi phải làm gương mẫu trong mọi việc, phải tuỳ theo hoàn cảnh của mình mà gần gũi, giúp đỡ nhân dân. Gương mẫu trong lời nói, việc làm sao cho người ta thấy rõ mình là con người kháng chiến”[1]. Cũng theo Người, trong những năm kháng chiến. Mỗi người đều đã học đưqợc nhiều đức tính tốt. Khi về xuôi, nhất là về thành thị, sẽ có nhiều người phức tập, sẽ có nhiều thứ quyễn rũ mình vào thói xấu, và “bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường”, vì nó “làm hại mình mà mình không thấy”. Vì thế, muốn giữ vững nhân cách, mỗi người đều phải “luôn thực hành 4 chữ mà Bác thường nói. Đó là: Cần, Kiệm, Liêm, Chính”[2]. Cuối cùng, Người nhấn mạnh: Việc nước là việc chung, nên phải đoàn kết, phải dùng năng lực của mọi người để cố gắng công tác.

Tiếp đó, tại phiên họp của Hội đồng Chính phủ ngày 11-12/9/1954 về vấn đề thực hiện Hiệp định đình chiến, tiếp quản Thủ đô và giải quyết một số công tác cụ thể khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hội đồng Chính phủ quyết định vấn đề tổ chức chuẩn bị tiếp quản Thủ đô, “thông qua bản Tám chính sách và Mười điều kỷ luật, thành lập ngay uỷ ban hành chính Hà Nội bên cạnh uỷ bvan quân chính Hà Nội,… Trong uỷ ban hành chính Hà Nội cần có thành lập tư sản và nhân sĩ dân chủ”[3]. Ngày 15/9/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nơi ở và làm việc của cán bộ cao cấp Bộ Tổng tham mưu ở Đại từ, Thái Nguyên.

Trong buổi gặp đó, Người trao đổi với các cán bộ cao cấp “một số công việc phải làm” và nhiệm vụ của quân đội khi vào tiép quản Thủ đô.

Tiếp đó, Người chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ ngày 17-18/9/1954, bàn về các công việc của vùng mới giải phóng và kế hoạch tiếp quản Thủ đô, và nhấn mạnh: Uỷ ban quân chính Hà Nội được giao nhiệm vụ là cơ quan lãnh đạo tối cao trong Hà Nội, thống nhất mọi quyền lãnh đạo đối với các ngành hoạt động.

Ngày 19-9-1954, tại Đền Hùng – nơi kết tụ hồn thiêng sông núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ đền Giếng thăm đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và quay trở lại đền Giếng. Tại đây, Người đã nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong trên đường chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô và nhấn mạnh vinh dự to lớn này. Người nói rằng: “Bác cháu ta gặp nhau tại đây trong tình cờ nhưng lại rất có ý nghĩa. Ngày xưa, các Vua Hùng đã có công dựng nước. Ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước… Trải qua bao thời đại đấu tranh, ông cha ta mới giữ được Thủ đô, tám chín năm nay, do quân ta kiên quyết kháng chiến nên mới có thắng lợi trở về Hà Nội. Vì thế các chú được Trung ương và Chính phủ giao cho nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô là được nhận một vinh dự lớn “[4].

Và cũng theo Người, dù miền Bắc đã được giải phóng, dù chúng ta đã về tiếp quản Thủ đô, nhưng không có nghĩa là chiến tranh đã lùi xa. Một nửa đất nước – miền Nam Thành đồng Tổ quốc vẫn đang rên xiết trong vòng vây của kẻ thù, vẫn phải “đi trước về sau”, để tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nên không thể say sưa với chiến thắng mà quên đi những tháng năm gian lao vất vả, quên đi nhiệm vụ chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trước ngày 10-10-1954, với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “Giữ gìn trật tự an ninh” đăng báo Nhân dân, số 237, và lại một lần nữa căn dặn các đơn vị bộ đội chuẩn bị vào tiếp quản Hà Nội. Từ việc chỉ rõ 4 điều bộ đội nên tránh: “Chớ tự kiêu, tự mãn; Chớ rượu chè, cờ bạc, trai gái, hút thuốc phiện; Chớ để lộ bí mật. Chớ xa xỉ, tham ô, lãng phí” và 6 điều phải làm: “ Phải kính trọng nhân dân, giúp đỡ nhân dân, đoàn kết với nhân dân; Phải khiêm tố, nghiêm chỉnh. Phải giữ gìn tính chất trong sạch, chất phác của người chiến sĩ cách mạng. Phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Phải làm đúng mười điều kỷ luật. Phải luôn luôn cảnh giác, và phải thực hiện tự phê bình và phê bình để tiến bộ không ngừng”[5], để làm tròn nhiệm vụ cao quý của những người chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam, để xứng danh là “bộ đội Cụ Hồ”, Người đồng thời nhắc nhở: “Suốt tám năm kháng chiến, các chú đã làm kiểu mẫu anh dũng, do đó mà chúng ta đã thắng lợi. Ngày nay chúng ta về thành thị, các chú cũng phải làm kiểu mẫu đúng đắn, để tranh lấy thắng lợi trong hoà bình”. Bởi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ có làm được như vậy, tình quân – dân “như cá với nước” trong bao năm qua mới được bền vững, sức mạnh của khối đại đoàn kết quân dân mới được củng cố và nhân lên.

Trong niềm vui của ngày trở về Thủ đô được giải phóng và đón những người con của miền Nam ruột thịt ra Bắc tập kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã quyết định “đại xá tội phạm”. Giữa bộn bề công việc, thực hiện nhiệm vụ nhằm ổn định sinh hoạt, bảo vệ tài sản cho những gia đình, đồng bào bị bắt ép, dụ dỗ “di cư theo Chúa và Nam mà lúc đi không giao cho ai trông coi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho nhân dân quan tâm, bảo vệ, để sau này “trả lại cho những đồng bào ấy khi họ trở về”.

Trước tình hình mới của Thủ đô sau ngày giải phóng, đi cùng thuận lợi là những khó khăn chất chồng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi nhân ngày Thủ đô được giải phóng. Trong Lời kêu gọi nhân ngày Thủ đô giải phóng, đăng trên báo Nhân dân ngày 9-10/10/1954, Người chỉ rõ: Thủ đô được giải phóng là kết quả hy sinh chiến đấu của quân và dân ta suốt tám, chín năm kháng chiến. Nay đã “muôn dặm một nhà, lòng vui mừng khôn xiết kể”, Người kêu gọi Chính phủ và nhân dân Hà Nội hãy đoàn kết nhất trí, giữ gìn trật tự trị an, vượt qua những khó khăn, hy sinh đau đớn trong hoàn cảnh mới để cùng nhau cố gắng khôi phục, củng cố, phát triển đời sống vật chất, đời sống tinh thần, “làm cho Hà Nội thành một Thủ đô yên ổn, tươi vui và phồn thịnh”. Đồng thời, chúng ta phải cùng nhau “gây nên một phong trào càn, kiệm, liêm, chính và mỹ tục, thuần phong” để Hà Nội xứng đáng với tên gọi: Thủ đô “ngàn năm văn hiến”. Phát huy truyền thống văn vật của “thứ nhất kinh kỳ”, nhân dân Thủ đô hãy duy trì và khôi phục mọi hoạt động sản xuất, buôn bán, kinh tế, tài chính, khôi phục và phát triển các hoạt động văn hoá, thực hiện tự do dân chủ, kêu gọi ngoại kiều yên tâm làm ăn,… để Thủ đô ngày một hồi sinh và phát triển.

Cũng trong Lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân, nên Chính phủ có quyết tâm, đồng bào đồng tâm nhất trí cùng Chính phủ, giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình Chính phủ “để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đày tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân”.

Tiếp đó, khi chúng tâ đã tiếp quản Thủ đô, trong bài báo “ổn định sinh hoạt”, đăng báo Nhân dân , số 238, ngày 13-14/10/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ngắn gọn: Mỗi người dân Hà Nội, bất kỳ thuộc tầng lớp nào, đang làm công việc gì, cũng đều cần phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình, đó là cần “phải góp phần vào công việc ổn định sinh hoạt của Thủ đô ta” và điều kiện để vượt qua được mọi khó khăn thử thách chính là “đoàn kết chặt chẽ, quyết tâm cố gắng”.

Công việc tiếp quản Thủ đô đã hoàn thành, và thắng lợi to lớn đó có sự đóng góp không nhỏ của đồng bào, quân đội, cán bộ… Sự góp sức của các cơ quan, đoàn thể, cửa các lực lượng quân đội, công an, của đông đảo các tầng lớp nhân dân Thủ đô trên nhiều lĩnh vực đã góp phần làm giảm thiểu những khó khăn của Thủ đô trước tình hình mới. Xem xét những người có công đặc biệt trong việc bảo vệ và tiếp quản Thủ đô, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội đồng chính phủ đã đề nghị Chính phủ khen thưởng những tập thể và cá nhân có nhiều thành tích đóng góp cho một Thủ đô hoàn toàn giải phóng.

Ngày 15-10-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà nội. Người ở trong Nhà thương đồn Thuỷ, nay là Bệnh viện Hữu Nghị. Ngày 16-10-1954 tại Bắc Bộ Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian tiếp đoàn đại biểu nhân dân Thủ đô. Trong không khí phấn khởi và nỗi vui mừng Hà Nội được giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ khen ngợi những cố gắng của nhân dân, chiến sĩ Thủ đô trong việc làm tốt “chủ trương, chính sách của Chính phủ trong tiếp quản Thủ đô”. Cũng tại buổi tiếp đó, Người suy ngẫm và nói rằng việc khôi phục cuộc sống hoà bình là công việc hết sức khó khăn, “nhưng là khó khăn trong sự phát triển”. Công việc to tát đó phải giải quyết dần dần, từng bước, có kế hoạch, có trật tự, và đặc biệt phải có sự tham gia của nhân dân trong việc đề xuất ý kiến thiết thực và hợp lý, đôn đốc và phê bình hoạt động của Chính phủ. Để Thủ đô ngày một giàu đẹp, đồng bào hãy cố gắng làm theo đúng chính sách của Chính phủ, tăng cường đoàn kết trong nước và ngoài nước, hăng hái phấn đấu và gương mẫu để thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước, “để xây dựng một đời sống sung sướng, tươi đẹp, thái bình mãi mãi cho con cháu chúng ta”.

Đầu tháng 11-1954, tại một phiên họp khác của Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề thực hiện đình chiến, tăng cường cán bộ ngoại giao và tổ chức tiếp quản Thủ đô, Hội đồng đã chuẩn y việc tổ chức lại một số cơ quan tại Hà Nội, khôi phục Di tích lịch sử chùa Một Cột và quyết định tổ chức sẽ có cuộc duyệt binh lớn và biểu tình lớn đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô

55 năm sau ngày về tiếp quản Thủ đô, cũng là 55 năm Đảng bộ, các cấp chính quyền và nhân dân Thủ đô thực hiện những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển Hà Nội trở thành “dẫn đầu cho nhân dân cả nước”. Dù trong khói lửa của chiến tranh hay trong hoà bình, nhân dân cả nước đều hướng về Hà Nội, hướng về trái tim của cả nước. Một Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội với bề dày truyền thống oai hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước luôn được bảo tồn và phát triển, hôm nay đã ngày một rộng mở và đi lên sẽ luôn xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của một đất nước Việt Nam XHCN hội nhập và phát triển.

Càng yêu Hà Nội, tự hào về “Hà Nội – trái tim của cả nước, mối người dân Hà Nội càng thấm thía lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Phải xây dựng được “trụ sở trong lòng nhân dân”, và hơn lúc nào hết lời căn dặn đó càng trở nên có ý nghĩa khi chúng ta đang thực hiện sâu rộng công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, triển khai giai đoạn 2 Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Bởi rằng, không có mối liên hệ máu thịt Đảng – Dân, không gắn bó với nhân dân, không có sự góp sức của nhân dân, thì không thể có một Hà Nội “niềm tin yêu và hy vọng” trước những thách thức của hôm nay và mai sau./.

ThS. Nguyễn Đoàn Phượng
Đại học Quốc gia Hà Nội

(1)Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng TW Đảng
(2) Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Nxb. CTQG, H, 2007, t.5, tr.496
(3) Biên bản Hội đồng chính phủ 1954
(4) Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Sđd, t.5, tr.502
(5) Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Sđd, t.5, tr.509

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng với Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (mở rộng) về cách mạng miền Nam

Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử đã buộc thực dân Pháp và đế quốc Mỹ phải chấp nhận thất bại. Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Đông Dương được ký kết, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Theo tinh thần của Hiệp định, tháng 7/1956, “một cuộc Tổng tuyển cử tự do trong cả nước phải được tổ chức để thống nhất nước ta”[1], nhưng đế quốc Mỹ đã coi “giải pháp” Giơnevơ là một thảm họa. Ngoại trưởng Đalét (Dulles) đã phát biểu rằng: “Sự cần thiết phải ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam là điều không thể thoái thác được”[2], và đó là “một khu vực phải nắm lấy bằng bất kỳ giá nào”, nên Mỹ nhanh chóng nhảy vào miền Nam Việt Nam.

1. Với dã tâm chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành bàn đạp tấn công miền Bắc và các nước XHCN, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai do Ngô Đình Diệm đứng đầu đã dùng quân đội, bộ máy công an, mật vụ thẳng tay đàn áp những người yêu nước; khủng bố, bắt giam và mở các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” để chống lại nhân dân miền Nam, chống lại cách mạng, chống lại nguyện vọng hòa bình, thống nhất nước nhà của nhân dân hai miền Nam Bắc.

Đứng trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chủ trương ổn định, củng cố miền Bắc, xây dựng miền Bắc theo con đường XHCN; tiến hành đấu tranh chính trị đòi thực hiện Hiệp định Giơnevơ, tìm phương pháp đấu tranh thích hợp để vừa duy trì, đẩy mạnh cách mạng miền Nam, hạn chế tổn thất, vừa bảo vệ được miền Bắc và hệ thống XHCN, bảo vệ hoà bình khu vực và hòa bình thế giới.

Ngay từ tháng 7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương” và chúng “đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương“. Và trên cơ sở phân tích tình hình cách mạng trong nước và quốc tế, Người khẳng định: “Mục tiêu bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”[3].

Từ mục tiêu, từ khát vọng độc lập tự do và thống nhất nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta, đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng”. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ: cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ, nên muốn “giành lấy thắng lợi, toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta từ Bắc đến Nam cần phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng phải thống nhất, hành động phải nhất trí” [4]. Song khi hoà bình ở Việt Nam đang bị đe doạ nghiêm trọng vì Hiệp định Giơnevơ bị chính quyền Ngô Đình Diệm vi phạm, trả lời phỏng vấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “sẽ dùng mọi biện pháp đấu tranh bằng đường lối hoà bình để Hiệp định Giơnevơ được thực hiện triệt để”[5]. Và dù tương quan lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam đã có sự thay đổi lớn sau khi ta thực hiện nghiêm chỉnh việc chuyển quân tập kết ra miền Bắc, và dù không còn lực lượng vũ trang, nhưng với ưu thế về chính trị, với lực lượng quần chúng nhân dân đông đảo, các tầng lớp đồng bào miền Nam vẫn đang bền bỉ, kiên cường đấu tranh chống lại ách thống trị tàn bạo của Mỹ – Diệm theo tư tưởng chỉ đạo của Người và Trung ương Đảng.

Tiếp đó, trước yêu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam, trong văn kiện Đề cương cách mạng miền Nam (8/1956), đồng chí Lê Duẩn đã khẳng định: Muốn chống Mỹ- Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống lại Mỹ- Diệm để cứu nước và tự cứu mình. Đó con đường cách mạng, là “quá trình xây dựng lực lượng chính trị từ ít đến nhiều, củng cố và phát triển phong trào đấu tranh của quần chúng từ thấp đến cao, từ những bước tuần tự đến những bước nhảy vọt để làm lay chuyển bộ máy cai trị của Mỹ Diệm”[6].

Thực hiện đường lối, phương pháp đó, hình thức đấu tranh chính trị đã được sử dụng, thay thế cho hình thức đấu tranh quân sự. Các tổ chức quần chúng công khai được thành lập, các phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, đấu tranh chống âm mưu chia cắt đất nước, chống quân dịch,v.v..đã lan rộng, thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng. Phong trào đấu tranh ngày càng phát triển, đặc biệt là cuộc đấu tranh chống “tố cộng”, “diệt cộng”, song trong bầu không khí nghẹt thở, cách mạng miền Nam vẫn đang đứng trước những khó khăn chưa từng thấy.

Trước tình hình đó, tháng 10/1956, Bộ chính trị đã nhận thấy, trong những năm 1954-1956, những tổn thất của phong trào cách mạng miền Nam, một phần là do trong quá trình chỉ đạo, “Trung ương đã không nắm vững phương châm giữ gìn lực lượng từ lúc đầu, cho nên trong việc chấn chỉnh tổ chức của Đảng sau khi rút quân, cũng như trong sự chỉ đạo qua một thời kỳ khá dài, lực lượng của ta đã bị bộc lộ”, phần khác là vì chưa nhận thức sâu sắc bản chất cách mạng của nhiệm vụ thống nhất nước nhà, nên “sự lãnh đạo của Trung ương đã nặng về đấu tranh pháp lý, đấu tranh để thi hành Hiệp định Giơnevơ”[7].

Tiếp đó, với “quyết tâm thực hiện vai trò tiên phong của mình” và để “phong trào cách mạng vẫn giữ vững và tiến lên”, để giữ gìn lực lượng và tiếp tục hoạt động trong tình thế khắc nghiệt, các tổ chức cơ sở Đảng ở miền Nam đã kịp thời tổ chức lại và rút vào hoạt động bí mật, mặc dù Mỹ Diệm đã dùng nhiều thủ đoạn rất dã man hòng tiêu diệt những người cộng sản miền Nam.

Và trên tinh thần quán triệt sâu sắc rằng, đấu tranh chính trị cũng không có nghĩa là “tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định”, từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, từ những tổn thất do những hành động ngày càng tàn bạo của địch và trước những hình thức đấu tranh, khả năng phát triển của phong trào cách mạng miền Nam, “yêu cầu vũ trang chống khủng bố ngày càng trở nên cấp thiết”. ở nhiều địa phương, nhân dân bí mật lấy vũ khí đã chôn giấu, đã dùng vũ khí tự tạo và cướp súng của địch để tiêu diệt những kẻ ác ôn và tự bảo vệ mình. Đã có những đại đội vũ trang được thành lập ở chiến khu Đ, ở Nam Bộ và ở Liên khu V, đã có những trận đánh diễn ra ở Thủ Dầu Một, Biên Hoà, v.v..Như vậy là, trong khi địch ngày càng tăng cường khủng bố những người yêu nước và các chiến sĩ cách mạng, mở các cuộc hành quân càn quét, dồn dân vào các trại tập trung, thì ở khắp các địa bàn, lực lượng vũ trang và các căn cứ địa cách mạng đã được xây dựng lại.

Từ đấu tranh chính trị là chính, phong trào cách mạng miền Nam đã phát triển thành đấu tranh chính trị kết hợp có vũ trang tự vệ, và đi liền cùng đó là lực lượng chính trị của quần chúng được bảo tồn. Các phong trào đấu tranh ngày càng quyết liệt. Khát vọng độc lập tự do của nhân dân miền Nam ngày càng sục sôi và sự phát triển phong trào đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh có vũ trang của đồng bào miền Nam chính là sự phản ứng tất yếu của nhân dân miền Nam để bảo vệ quyền sống hàng ngày đang bị chà đạp. Hình thức đấu tranh đó phản ánh “yêu cầu chính trị của quần chúng đang rất khát khao độc lập tự do và thống nhất nước nhà”[8]. Sau đó, tuy đã có dự kiến mức độ bạo lực phải được nâng cao trong đấu tranh cách mạng, song trên thực tế, đấu tranh chính trị có kết hợp vũ trang tự vệ ở miền Nam cũng chưa phải là phương pháp và hình thức đấu tranh hiệu quả, nhằm chống trả sự chống phá của địch và để giảm bớt tổn thất của quần chúng.

Tháng 12/1957, xác định về nhiệm vụ cách mạng của hai miền, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định việc đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược ở cả hai miền Nam Bắc. Theo Người, cả hai nhiệm vụ đều quan trọng. Coi nhẹ một nhiệm vụ nào cũng là sai lầm. Nhiệm vụ củng cố miền Bắc, tiến dần lên CNXH có tính chất quyết định cho toàn bộ những thắng lợi của cách mạng nước nhà trong giai đoạn mới, và lực lượng cách mạng ở miền Nam được duy trì và phát triển thì đó là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị này, nhân dân miền Bắc đã vượt qua nhiều thử thách, đạt được nhiều thành tích trong xây dựng và phát triển, trở thành hậu thuẫn vững chắc cho cách mạng cả nước. Còn ở miền Nam, trong những năm 1957, 1958, phong trào đấu tranh chính trị có kết hợp vũ trang tự vệ của quần chúng mặc dù đã được nâng cao, song không tránh khỏi những khó khăn và tổn thất, lý do là vì ta chưa tìm ra được phương pháp và hình thức đấu tranh thích hợp để quần chúng chủ động “chống trả” sự đàn áp tàn bạo của kẻ thù. Hình thức đấu tranh chính trị có sử dụng bạo lực chính trị đã tỏ ra không đủ mạnh để đối phó có hiệu lực với địch và tạo chuyển biến cơ bản cục diện chiến trường và tình hình miền Nam.

Trong khi Mỹ – Diệm ngày càng trắng trợn, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam, trong khi thực tiễn đòi hỏi phải được tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời và yêu cầu phải có một hình thức đấu tranh cách mạng cao hơn, nhằm đáp ứng nguyện vọng của nhân dân miền Nam và đưa phong trào cách mạng miền Nam phát triển đã trở nên bức thiết, thì những thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế cũng có những tác động không nhỏ đến sự phát triển của cách mạng Việt Nam nói chung và cách mạng miền Nam nói riêng.

Trên thế giới, lúc này chủ nghĩa xét lại hiện đại, chủ nghĩa cơ hội đang lũng đoạn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Mỹ, tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự của chúng đã gây tâm lý “sợ Mỹ”, “ngại Mỹ” trong một số Đảng Cộng sản. Mặt khác, các nước XHCN đã trở thành một hệ thống, song những mâu thuẫn, bất đồng và những rạn nứt trong phe XHCN; giữa Liên Xô và Trung Quốc đã gây khó khăn cho phong trào cách mạng thế giới, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt là, dù đã từng ủng hộ, viện trợ cho Việt Nam trong khôi phục, cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá, giáo dục, v.v.. nhưng cả Trung Quốc và Liên Xô đều không ủng hộ đấu tranh vũ trang ở miền Nam.

Thực hiện đường lối hòa hoãn Xô – Mỹ, chủ trương của Liên Xô là: giữ nguyên hiện trạng hai miền của Việt Nam, không ủng hộ đấu tranh vũ trang ở miền Nam Việt Nam với lý do tế nhị: “Đốm lửa cháy rừng”! Còn Trung Quốc, từ lâu vẫn có ý định duy trì tình trạng hai miền của Việt Nam, tránh việc trực tiếp phải tham gia chiến tranh, nên thuyết phục Việt Nam “phải trường kỳ mai phục”, không nên đấu tranh vũ trang ở miền Nam, vì rằng: “Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc”[9].

2. Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và bằng bản lĩnh, trí tuệ của mình, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung trí lực, từng bước xác định chủ trương, đường lối và biện pháp cách mạng đúng đắn đưa cách mạng hai miền phát triển. Một trong những văn kiện quan trọng, tạo bước phát triển nhảy vọt về chất của phong trào cách mạng miền Nam là Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15 mở rộng (Hội nghị Trung ương lần thứ 15 họp nhiều đợt: Đợt 1 (12-22/1/1959) là Hội nghị Trung ương mở rộng, Đợt 2 (10-15/7/1959), v.v. và Nghị quyết của Hội nghị được thông qua trong đợt cuối cùng).

Nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 dựa trên cơ sở phân tích kỹ điều kiện cách mạng cả nước và điều kiện cụ thể của hai miền Nam Bắc; phân tích kỹ tình hình thế giới, xu thế phát triển của cách mạng thế giới; tương quan so sánh lực lượng ta và địch, v.v.., từ đó chỉ rõ nhiệm vụ chung của cách mạng cả nước, và con đường phát triển cách mạng của mỗi miền.

Đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam được nêu rõ trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (mở rộng). Trên cơ sở phân tích những đặc điểm của tình hình miền Nam (tính chất xã hội miền Nam, thái độ các giai cấp ở miền Nam), Nghị quyết nêu rõ:

“1, Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

2, Trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, v.v.. “[10]

Về phương hướng phát triển của cách mạng miền Nam, Nghị quyết chỉ rõ, để tự giải phóng mình khỏi xiềng xích nô lệ, “ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không còn con đường nào khác” và cách mạng miền Nam không thể đi ra ngoài quy luật chung của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, đó là “khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”. Đó chính “là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”[11].

Cũng theo Nghị quyết, vì chế độ Mỹ Diệm dựa vào vũ lực để tồn tại, và chúng ta dựa vào lực lượng quần chúng, dùng lực lượng quần chúng đánh đổ chúng, nên “cần phải có một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ, phải tích cực xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng, thì mới có thể có điều kiện nắm lấy thời cơ thuận lợi và giành lấy thắng lợi cuối cùng”[12]. Nghị quyết nêu rõ, cách mạng miền Nam vẫn có khả năng phát triển hoà bình, tuy nhiên vì bản chất phản động và hiếu chiến của Mỹ – Diệm, cho nên phương hướng cơ bản vẫn là khởi nghĩa giành chính quyền, và “trong những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ”.

3. Từ Nghị quyết, có thể thấy rằng, Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã khẳng định dứt khoát: con đường cách mạng miền Nam là con đường khởi nghĩa giành chính quyền. Và điều đặc biệt là chủ trương khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân (khởi nghĩa bằng lực lượng chính trị của quần chúng, có sự hỗ trợ của đấu tranh vũ trang) lại được quyết định trong bối cảnh lực lượng cách mạng ở miền Nam đang bị tổn thất không nhỏ. Điều đó cho thấy tầm nhìn ra, sự tiên lượng và quyết định của Người và Bộ chỉ huy tối cao trong những thời khắc khó khăn của lịch sử dựa trên sự phân tích, đánh giá một cách khách quan tình hình, tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, đồng thời khẳng định niềm tin của Người và Trung ương Đảng vào sức mạnh nội lực, tinh thần đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam.

Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 ra đời khi tình thế cách mạng và những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa từng phần tại các địa phương đã chín muồi, đúng như Ngô Đình Nhu từng nhận định: Chế độ miền Nam đang ngồi trên ngọn núi lửa sắp phun. ánh sáng của nghị quyết đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam, đưa phong trào cách mạng phát triển nên một nấc thang mới. Cho nên, có những nơi chưa nhận được văn bản chính thức, chỉ lĩnh hội tinh thần của Nghị quyết “cho phép tiến hành đấu tranh vũ trang”, đã nhanh chóng phát động khởi nghĩa. Hình thức đấu tranh “mang tính bạo lực” của quần chúng ở nhiều nơi đã có sự tham gia của lực lượng vũ trang, nửa vũ trang ở những mức độ khác nhau. Các trận đánh đầu tiên của lực lượng vũ trang và tự vệ miền Nam đã diễn ra ở Tây Ninh, Thủ Dầu Một,v.v.. rồi tiếp đến là Bác ái (Ninh Thuận, Trà Bồng (Quảng Ngãi).

Bằng nhiều phương thức đấu tranh sáng tạo, phong phú, những cuộc khởi nghĩa ở miền núi Liên khu V, ở cực Nam Trung Bộ, và đặc biệt là các cuộc khởi nghĩa của đồng bào các tỉnh miền Trung Nam Bộ, miền Đông Nam Bộ có đà phát triển và ngày càng lan rộng từ giữa năm 1959 đến cuối năm 1960. Phong trào “Đồng khởi” của nhân dân miền Nam đã làm tan rã từng mảng bộ máy kìm kẹp của chế độ nguỵ quyền cơ sở ở nông thôn, làm lung lay tận gốc bộ máy chính quyền thực dân kiểu mới, đẩy địch vào thế bị động. Quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết, trên cơ sở xác định đúng phương châm châm chỉ đạo đồng khởi, đề ra chủ trương và giải pháp phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương, tạo yếu tố bất ngờ, đảm bảo chắc thắng cho đồng khởi, từ trong Đồng khởi, quyền làm chủ của nhân dân được xác lập ở “1383 trong tổng số 2627 xã”; lực lượng vũ trang, bán vũ trang được xây dựng và từng bước trưởng thành.

Thắng lợi của phong trào đồng khởi đã khôi phục lại các căn cứ địa cách mạng, tạo điều kiện cho vùng giải phóng được mở rộng, thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng ở các đồn điền, nhà máy, ở các trung tâm đô thị phát triển mạnh. Thắng lợi đó đã làm phá sản chiến lược chiến tranh đầu tiên của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam, góp phần đưa đến sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20/12/1960.

Với Đồng khởi, cách mạng miền Nam đã có bước nhảy vọt, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công cách mạng. Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam mở đầu bằng phong trào Đồng khởi đã làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự của cha ông ta trong lịch sử. Khởi sự bằng Đồng khởi, quân dân miền Nam đã chứng minh nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng: “Thế lực của Mỹ ngày nay trên thế giới ngày càng sa sút, thế lực của chúng ở miền Nam căn bản không phải mạnh. Tình hình ngày càng chuyển biến bất lợi cho chúng, có lợi cho ta”[13] là hoàn toàn đúng đắn.

Nghị quyết đồng thời cho thấy quyết định của Người và Đảng ta thực sự “đã tạo ra một phương thức mới, tạo đột biến cho tình hình, đưa cách mạng chuyển sang bước nhảy vọt thần kỳ”, khẳng định tầm vóc trí tuệ, bản lĩnh và tư duy của Hồ Chí Minh và Đảng ta về cách thức mở đầu cuộc chiến tranh nhân dân chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

Quyết định của Người và Trung ương Đảng về đường lối, nhiệm vụ, phương pháp của cách mạng miền Nam thể hiện trong Nghị quyết Trung uương 15 (mở rộng) cũng cho thấy quyết tâm tiến hành chiến tranh cách mạng của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Trong bối cảnh quốc tế vô cùng phức tạp, trong hoàn cảnh cách mạng đang chuyển giai đoạn đấu tranh, nội dung của Nghị quyết lần thứ 15 về cách mạng miền Nam đã phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, khẳng định quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng về giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quyết tâm đó thể hiện tư tưởng độc lập, tự chủ, táo bạo của Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh trong bối cảnh đầy khó khăn, thử thách, dù không được sự ủng hộ của một số đảng anh em.

Hơn 15 năm sau khi Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (mở rộng) về cách mạng miền Nam ra đời, với đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước được cụ thể hoá trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III năm 1960 và nhiều nghị quyết Trung ương khác, mùa xuân năm 1975, với Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân miền Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Miền Nam được giải phóng, hai miền Nam Bắc sum họp một nhà. Nhiều năm sau đó, trong Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – thắng lợi và bài học, Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị nhận định: Nghị quyết 15 rất đúng đắn, sáng tạo phù hợp thời cơ lịch sử – “Nó là ngọn lửa dấy lên cao trào Đồng khởi làm xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam lúc bấy giờ”[14], tạo đà cho những thắng lợi của cách mạng miền Nam trong những năm sau đó ./.

TS. Văn Thị Thanh Mai
Bảo tàng Hồ Chí Minh


Chú thích:

(1) Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Văn kiện Quốc hội toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2007, t.2, tr. 40
(2) Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, H,1971, t.1, tr.27
(3) Biên bản Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7, khoá II, ĐVBQ 29, Lưu trữ Trung ương Đảng, tr.8
(4)Dẫn theo: Hoàng Trang, Đỉnh cao của tư tưởng Hồ Chí Minh trong 30 năm chiến tranh giải phóng, Tạp chí Lịch sử Quân sự, 5/2005, tr.19
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.8, tr. 159
(6) Lê Duẩn Tuyển tập (1950-1965), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 115-116
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.17, tr. 424
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 43
(9) Bộ Ngoại giao, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung quốc trong 30 năm qua, H, 1979, tr.24
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 81-82
(11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 82
(12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 82-83
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 28
[14] Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 1996, tr.44

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Đạo đức yêu nước thương dân

Đạo đức yêu nước thương dân – một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử dân tộc, chúng ta thấy hơn một ngàn năm bị phương Bắc thống trị thì cũng hơn một ngàn năm dân tộc Việt Nam đã kiên trì cuộc đấu tranh yêu nước bất khuất – để giành lại đất nước mở ra kỷ nguyên phát triển rực rỡ.

Mở đầu là hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị. Đất nước sau 190 năm bị đặt dưới ách đô hộ của nhà Hán, dân tình khốn khổ trăm bề, hai Bà đã phát động cuộc chiến đấu với khẩu hiệu: Khôi phục sự nghiệp của các vua Hùng. Mặc dù chỉ giữ được nền tự chủ 3 năm (40-43) nhưng tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước đã ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tất cả các thế hệ người Việt Nam chúng ta. Tiếp bước hai bà Trưng, bà Triệu ở tuổi 23 đã phất cờ: Cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng giữ, đánh đuổi quân Ngô, dựng quyền tự chủ, cởi ách nô lệ cho giang sơn… Ý chí cao cả của Bà Trưng, Bà Triệu chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân tộc ta lúc ấy cao biết chừng nào.Với ý chí không chịu khuất phục kẻ thù phất cờ khởi nghĩa của Lý Bôn, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Phùng Hải; rồi đến cuộc nổi dậy năm 905 của Khúc Thừa Dụ đã nắm quyền cai trị toàn bộ đất nước trong thực tế, chấm dứt ách đô hộ của người Hán. Người Hán mở hai cuộc phản kích hòng đặt lại ách đô hộ, nhưng đã bị Ngô Quyền đánh bại trên sông Bạch Đằng năm 938, chấm dứt vĩnh viễn thời kỳ Bắc thuộc.

Thân dân vốn là chính sách nổi tiếng của các vua Hùng. Vua và dân cùng đi săn khi bắt được những con thú rừng (hươu, nai…) vua chỉ ăn bộ lòng còn thịt thì để nhường thần dân. Các triều Lê, Lý, Trần đều có chính sách sử dụng những người có tài năng, đức độ trong nhân dân, trong các tôn giáo; mở cửa cho sự du nhập các trào lưu tư tưởng của nước ngoài, khuyến khích sự chọn lọc, đồng thời Việt hoá, biến những giáo lý chính trị đạo đức của Nho giáo thành những tín điều yêu nước, thương dân, tín nghĩa với bạn bè, hoà thuận trong gia đình, kính trọng ông bà, cha mẹ, vợ chồng hiếu nghĩa, yêu thương lẫn nhau, lên án tệ chuyên quyền, áp chế và cuộc sống sa đoạ của vua, quan.

Trong bài hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn, có những câu nổi bật để lại cho đời về lòng yêu nước, đồng cam cộng khổ giữa chủ tướng và quân sĩ. “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ giận chưa thể xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù… Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ ta thăng chức, lương ít ta cấp bổng, đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười…”.

Nguyễn Trãi trong Đại Cáo Bình Ngô đã tỏ rõ tư tưởng yêu dân, thương dân, tin dân, nên “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.

Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ cũng đã khẳng định rõ ràng tư tưởng vì dân, vì nước trong chiếu lên ngôi: “Ta sinh ra ở đất Tây Sơn, không có một tấc đất, vốn không có chí làm vua, chỉ vì gặp thời loạn, muốn giúp đời yên dân mà phải đứng ra gánh vác việc nước. Xong việc, ta sẽ trả lại tất cả, không ham phú quý. Ta sẽ làm một người thường, cưỡi một con lừa đỏ, rong chơi mọi miền đất nước cho thỏa lòng mong ước”.

Trải bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, các triều đại thịnh đạt ở nước ta đã kiên trì chính sách lấy nước làm trọng, lấy dân làm gốc, vua tôi một lòng, cha con nhất trí, anh em gắng sức nên thời loạn đã động viên được toàn dân, trẻ già, trai gái, không phân biệt giàu nghèo, dân tộc đứng lên kiên quyết chống giặc, bảo vệ đất nước. Trong thời bình đã thực hiện chính sách yên dân, bồi dưỡng sức dân, trọng dụng những người hiền tài, mong sao cho “Thôn cùng xóm vắng vơi đi những nỗi hờn giận, oán sầu“. Lê Thánh Tông đã thành công trong cải cách hành chính xây dựng một nhà nước pháp quyền nhưng cũng coi trọng cả nhân trị: “Pháp trị đi đôi với nhân trị mà nền tảng là: Tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc, tư tưởng yêu nước, bảo tồn từng tấc đất của ông cha, tư tưởng an dân – lo sao cho dân được an cư lạc nghiệp”.

Hồ Chí Minh đã nâng cao đạo đức yêu nước thương dân thành trung với nước, hiếu với dân trong thời đại mới.

Không giống những thanh niên con nhà khoa bảng cùng thời, lập chí lập thân bằng việc dùi mài kinh sử để thi đỗ làm quan, mưu cầu cuộc sống khá giả hơn người, Hồ Chí Minh có chí hướng khác hẳn. Bất bình trước cảnh mất nước, cuộc sống người dân nô lệ, lầm than, xã hội bất công, Người đã dấn thân vào con đường cứu nước cứu dân. Tháng 5-1908, khi còn là một học sinh ở Huế, Người đã tham gia cuộc biểu tình của nông dân 6 huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên đòi giảm phu đài, tạp dịch, sưu cao thuế nặng. Sau đó, người thanh niên Nguyễn Tất Thành không học ở trường Quốc Học Huế nữa mà theo cha vào Quy Nhơn.

Sớm có lòng yêu nước thương dân, Người đã đi khắp năm châu, bốn biển, tự lao động nuôi sống bản thân, quyết chí tìm đường cứu dân cứu nước. Qua 30 năm bôn ba đất khách quê người, Hồ Chí Minh càng đau lòng về tình cảnh các dân tộc thuộc địa bị chủ nghĩa đế quốc, tư bản bóc lột thậm tệ và sự bất công xã hội ở ngay những nước giàu có nhất. Người đã ý thức được một xã hội vô đạo đức sẽ đẻ ra biết bao tai hoạ mà Người đã chứng kiến ở những nơi Người đã đi qua. Trong con người Hồ Chí Minh, lý tưởng giải phóng dân tộc gắn liền với lý tưởng xây dựng nền tảng đạo đức cách mạng, ở đó quan hệ giữa người với người là quan hệ tình người, nhân nghĩa. Bởi thế khi về nước lãnh đạo phong trào cách mạng, ngay từ những lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên, Người đã có bài giảng quan trọng về đạo đức cách mạng “Tư cách của người cách mệnh” và trước khi qua đời bài viết cuối cùng của Người cũng là: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Hồ Chí Minh nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân“(1).

Xây dựng xã hội đạo đức là lý tưởng của Hồ Chí Minh. Lý tưởng ấy thể hiện trong lý tưởng sống của Người: “Tôi chỉ có một ham muốn, một ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(2).

Đạo đức trung và hiếu có từ ngàn xưa của dân tộc ta, được Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo trong thời đại mới: Trung với nước, hiếu với dân. Hồ Chí Minh cho rằng quần chúng nổi dậy lật đổ chế độ cũ tất yếu là người làm chủ chế độ mới. Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân là bước ngoặt chưa từng xuất hiện trong lịch sử của dân tộc ta, trở thành sức mạnh vô biên để kháng chiến và kiến quốc. Người nói: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chính quyền từ xã đên chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(3).

Hồ Chí Minh gắn liền trung với hiếu, hiếu với trung. Chưa thấy người có hiếu mà phạm tội bất trung. Người cán bộ, đảng viên chân chính phải là người vừa trung với nước vừa hiếu với dân. Không thể xứng đáng làm người công bộc, người “đầy tớ thật trung thành” của nhân dân nếu không quan tâm đến những khó khăn, thiếu thốn, khốn khổ của nhân dân thậm chí còn tìm cách chiếm đoạt của cải, ức hiếp tinh thần của dân. Hồ Chí Minh răn dạy và yêu cầu cán bộ, đảng viên: “Việc gì có lợi cho dân thì gắng sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh” .

Trong bài “Đạo đức cách mạng”, viết năm 1958, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân. Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào”(4).

Theo đồng chí Hoàng Tùng nguyên Bí thư Trung ương Đảng: “Hồ Chí Minh luôn luôn từ chối nắm quyền lực. Khi bị Quốc tế cộng sản phê phán một cách không công bằng và không được giao công tác, Người không hề oán giận, nhưng kiên trì chân lý. Nhiều lần Người từ chối nhận chức Tổng Bí thư. Khi làm Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Người vẫn nêu ra vai trò tập thể Bộ Chính trị, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Chính phủ. Người dứt khoát bác bỏ tham vọng quyền lực, chỉ muốn sẻ bớt cho người khác, nhưng làm việc hết sức mình với tinh thần trách nhiệm gương mẫu”(5).

Có thể nói, Hồ Chí Minh là mẫu mực tuyệt vời kết tinh đạo đức trung với nước hiếu với dân từ ngàn xưa của dân tộc Việt Nam đã nâng lên tầm cao mới trong thời đại ngày nay. Trước khi từ biệt cõi trần, Người viết trong Di chúc:“Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”(6). Chúng ta mãi mãi thấm sâu lời căn dặn của Người: “Giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(7).

____

(1) Hå ChÝ Minh toµn tËp, NXBCTQG, H.2000, tËp 5, tr.252-253, 698. (2) S®d, tËp 4, tr.161. (4) S®d, tËp 9, tr.288. (6,7) Di chóc Chñ tÞch Hå ChÝ Minh, BCTTW §CSVN, H.1969. (3) Tõ t­ duy truyÒn thèng ®Õn t­ t­ëng Hå ChÝ Minh cña Hoµng Tïng, NXBCTQG, H.1998, tËp 2, tr.113.

Hà Văn Tải

xaydungdang.org.vn

Miền Nam luôn trong trái tim Bác Hồ

Trong trái tim của nhà yêu nước vĩ đại Hồ Chí Minh, việc một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được hình dung như cơ thể một con người, là hiển nhiên, là tất yếu, tuyệt đối không thể phân chia, không thể cắt rời, không có bất cứ một sức mạnh nào có thể làm lung lạc được ý chí thống nhất của dân tộc Việt Nam. Trong thời điểm vận nước nguy nan, thế nước yếu như ngàn cân treo sợi tóc, kẻ thù dùng đủ mọi mưu ma chước quỷ và với nhiều thứ vũ khí tối tân, mọi loại binh hùng, tướng mạnh để chia cắt đất nước ta, âm mưu tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam mà chúng gọi là “Nam kỳ quốc”. Nhưng, Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một và Hồ Chủ tịch khẳng khái tuyên bố: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”(1).

Ra đi năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau này là Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh, đã mang theo trong trái tim mình hai hình ảnh trái ngược: một đô thành tráng lệ – “hòn ngọc Viễn đông” của Tổ quốc – bị bọn thực dân chiếm đóng và những người đồng bào cơ cực, khổ đau, tủi nhục vì mất nước. Qua nhiều năm bôn ba, tắm mình trong phong trào cách mạng thế giới, Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Năm 1927, Người về vùng biên giới Việt – Trung mở lớp huấn luyện cho số cán bộ cách mạng trẻ tuổi của ba miền để chuẩn bị cho việc thành lập một đảng cách mạng chân chính vào ba năm sau. Bài học đầu tiên Người giảng ở lớp học ấy là bài học về tinh thần yêu nước, đoàn kết. Người vạch trần âm mưu chia để trị của thực dân, chúng làm cho dân “chia rẽ phái này, bọn kia, như dân ta người Nam thì nghi người Trung, người Trung thì khinh người Bắc nên nỗi yếu đi, như đũa mỗi chiếc mỗi nơi”(2). Ba năm sau, Người đã làm một việc quan trọng nhất trong lịch sử hiện đại nước nhà, tạo ra bước ngoặt lớn trên con đường phát triển của dân tộc là xoá bỏ việc chia rẽ, bài xích lẫn nhau giữa ba tổ chức cộng sản ở ba miền, thành lập một đảng chân chính cách mạng – Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đấy xoá bỏ tị hiềm, ba miền Trung – Nam – Bắc kết đoàn như con một cha, nhà một nóc, sống chết có nhau, no đói, rách lành sẻ chia, đùm bọc, chung sức, chung lòng gìn giữ non sông, dựng xây đất nước.

Trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ và vô cùng anh dũng của dân tộc ta, từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối (1975), do đặc điểm địa – chính trị mà miền Nam luôn “đi trước, về sau”, là nơi “đầu sóng ngọn gió” của các phong trào đấu tranh giành và giữ vững sự toàn vẹn của quốc gia và bao giờ cũng là “Thành đồng Tổ quốc”. Chính vì thế trong suốt cuộc đời lo toan việc nước, Hồ Chí Minh luôn dành cho miền Nam những tình cảm đặc biệt: miền Nam luôn trong trái tim Người!

Người Việt Nam hôm nay không ai quên những năm khó khăn nhất sau Cách mạng Tháng Tám 1945: Dân đói, ngân khố trống rỗng, thù trong nham hiểm, giặc ngoài hung hãn. Nhưng đó cũng là thời kỳ bộc lộ tinh thần yêu nước quật cường, trí thông minh, óc sáng tạo và lòng tin của đồng bào vào Cụ Hồ, vào Chính phủ kháng chiến. Đồng bào miền Nam mặc dầu ở xa Trung ương, đường giao thông, liên lạc và tiếp viện khó khăn, lại phải trực tiếp đương đầu với các thế lực đế quốc thực dân âm mưu xâu xé, chia lìa Nam bộ ra khỏi đất nước Việt Nam, nhưng nhân dân miền Nam triệu người như một, vững tin vào sự sáng suốt, khôn khéo chèo lái con thuyền cách mạng quốc gia của người thuyền trưởng Hồ Chí Minh. Trái tim của lãnh tụ đã cùng một nhịp đập với hàng triệu con tim yêu nước của đồng bào mình ở miền Nam yêu thương. Trí tuệ sáng suốt và lòng dũng cảm của lãnh tụ đã gặp gỡ trí thông minh, sự can trường, tinh thần anh dũng của nhân dân miền Nam quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Sự cộng hưởng của sức mạnh Thành đồng Tổ quốc, của cả dân tộc với sức mạnh tinh thần của lãnh tụ đã nhân sức mạnh chính nghĩa Việt Nam lên triệu triệu lần.

Sau ngày tuyên bố độc lập (2-9-1945) chưa đầy một tháng, đồng bào miền Nam đã phải cầm vũ khí để bảo vệ nền độc lập của nước nhà khi thực dân Pháp lén lút đánh úp, chiếm trụ sở UBND Nam bộ tại Sài Gòn. Ngày 30-10-1945, Hồ Chủ tịch đã ra “Lời kêu gọi đồng bào Nam bộ” với những tình cảm thân thiết và một ý chí sắt đá quyết đồng tâm, hiệp lực vì sự sống còn của dân tộc. Người viết: “Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập Việt Nam, để tỏ rõ cho hoàn cầu biết rằng dân tộc Việt Nam đầy đủ tinh thần hy sinh chiến đấu…”(3). Riêng với thanh niên Nam bộ, những người con trẻ trung và gan dạ trực tiếp đem xương máu ra giữ gìn nền độc lập, Người đã gửi tới họ những lời chia sẻ, đồng cảm, ngợi ca và khích lệ: “… anh chị em đã phấn đấu cực kỳ anh dũng. Toàn thể đồng bào Việt Nam đều cảm động. Tuy máu đã đổ nhiều, nhưng tôi và toàn thể đồng bào cũng chắc rằng anh chị em thanh niên Nam bộ quyết hy sinh kháng chiến để giữ vững nền độc lập của nước nhà.

Trong cuộc chống xâm lăng này, các bạn đã là bức Vạn Lý Trường Thành vững chắc…

Hỡi anh chị em thanh niên Nam bộ!

Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh… ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam phải toàn thắng”(4).

Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, nghe theo tiếng gọi của Bác Hồ hàng nghìn, hàng nghìn chiến sỹ giải phóng quân ở miền Bắc đã xung phong Nam tiến sát cánh cùng bà con cô bác, anh chị em trong Nam hy sinh chiến đấu và trong số họ, không ít những người còn sống, ở lại trong đó suốt đời, trở thành những đứa con của các ba, các má nơi Thành đồng Tổ quốc. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi không trọn vẹn, miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam còn phải tiếp tục đấu tranh. Những cán bộ, chiến sỹ miền Nam theo Hiệp định Giơ-ne-vơ ra tập kết ở miền Bắc được Đảng và Chính phủ tạo mọi điều kiện để ổn định đời sống, học tập, công tác trong những môi trường thuận lợi. Theo chỉ thị của Bác, Trường Bổ túc Công nông Trung ương trực thuộc Bộ trưởng Bộ Giáo dục được thành lập, đặt ngay tại trung tâm Thủ đô Hà Nội. Nhiều giáo viên giỏi của cả nước được điều động về đây giảng dạy nhằm bồi dưỡng cho những cán bộ, chiến sỹ miền Nam còn trẻ tuổi được học tập, mau chóng hoàn thành chương trình học vấn phổ thông để ưu tiên đưa họ đi đào tạo tại các trường đại học ở trong và ngoài nước. Phần lớn trong số họ sau này đã trở thành những cốt cán trên nhiều lĩnh vực quan trọng của đất nước, có những người trở thành cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, hàng loạt các trường học sinh miền Nam được xây dựng, tổ chức ăn, ở, dạy và học rất chu đáo. Những lứa học sinh ấy, hầu hết đã trở thành lực lượng chủ lực trong công việc kiến thiết xây dựng miền Nam sau ngày giải phóng. Bác Hồ thường đến thăm các trường có cán bộ và học sinh miền Nam học tập. Người động viên, cổ vũ, khuyên bảo thầy và trò cố gắng thi đua dạy tốt, học tốt để xứng đáng với đồng bào chiến sỹ ta ở miền Nam đang chiến đấu gian khổ với quân thù. Giờ đây chúng ta được chứng kiến kết quả “trồng người” của Bác mà thấy lòng như nghẹn lại trước tấm lòng thương yêu rộng như biển cả và tầm nhìn đến tận mai sau của Bác.

Miền Nam chiến đấu ngoan cường, hy sinh gian khổ, Bác nhiều lần nghẹn ngào, quặn đau khi được báo cáo về sự hy sinh mất mát của đồng bào miền Nam. Nỗi đau, tấm lòng của Bác đã làm cho mấy chục triệu con tim miền Bắc sục sôi… Trùng trùng quân đi như sóng, biết bao trai thanh, nữ tú ở miền Bắc nghe theo lời kêu gọi của Bác đã nô nức xẻ dọc Trường Sơn vào Nam đánh giặc Mỹ. Phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” được nhân dân khắp các cơ quan, trường học, nông thôn, thành thị, miền ngược, miền xuôi hưởng ứng mạnh mẽ. Phong trào “thanh niên ba sẵn sàng”, “phụ nữ ba đảm đang”, nông thôn thi đua “chắc tay súng, vững tay cày”, đảm bảo “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Công trường, nhà máy làm việc ba ca, người ở lại làm thay người ra tiền tuyến. Những đoàn xe băng băng hối hả ngày đêm, nối đuôi nhau ra tiền tuyến. Tất cả, tất cả vì miền Nam ruột thịt! Cả dân tộc tiến lên theo lời hịch truyền của Bác:

“Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào.
Tiến lên! chiến sỹ đồng bào,
Bắc – Nam xum họp, xuân nào vui hơn!”(5).

Khi tuổi cao, sức yếu, Bác vẫn dồn tâm sức cho việc chỉ đạo đấu tranh trên nhiều mặt trận, cho ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, ngoại giao để đẩy nhanh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Đêm ngày Bác thao thức, vui buồn trước những chuyển biến của phong trào đấu tranh giải phóng miền Nam! Có lần một đoàn cán bộ miền Nam đến chúc mừng sinh nhật, Bác cảm ơn và nói: “… trước các anh, các chị, trước cảnh êm vui ở miền Bắc đây, tôi thật lấy làm xấu hổ rằng trong Nam chưa được thái bình”(6). Tháng 7-1967, khi trả lời phóng viên báo Granma (Cu-ba) hỏi về tình cảm của Người đối với miền Nam, Người nói: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi chưa làm trọn nghĩa vụ đối với đồng bào miền Nam; mặc dù như vậy, tôi biết rằng đồng bào miền Nam vẫn yêu quý tôi cũng như tôi luôn luôn yêu quý đồng bào. ở miền Nam, tôi không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh mà là Bác Hồ”(7). Nhiều lần Bác gửi thư cho Bộ Chính trị, yêu cầu bố trí để Người đi thăm hỏi, động viên đồng bào, chiến sĩ miền Nam đang chiến đấu gian khổ, nhưng do tuổi Người đã cao, sức yếu nên Bộ Chính trị đề nghị Người tạm lui ngày đi, đợi đến sau ngày giải phóng, đồng bào và chiến sĩ miền Nam sẽ tưng bừng đón Bác vào thăm. Bác không muốn vậy, nên tháng 3-1968 (hơn 1 năm chỉ trước khi Bác qua đời). Bác đã gửi thư cho đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Nhớ lại… chú có ý kiến khuyên B (Bác-TĐH chú) đi thăm miền Nam “sau” ngày ta thắng lợi hoàn toàn. Nhưng chỉ đổi chữ “sau” thành chữ “trước” ngày thắng lợi hoàn toàn… Đi thăm lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em… Có lẽ Chú và các đồng chí khác e sức khoẻ của Bác không cho phép… Nhưng, thay đổi không khí… và sinh hoạt với quần chúng trong hoàn cảnh chiến đấu, sẽ giúp sức khoẻ tiến bộ mau hơn”(8).

Cho đến khi từ giã thế giới này, trái tim Hồ Chí Minh vẫn đau đáu nỗi nhớ miền Nam, chỉ ưu lo cho dân nước sau ngày thống nhất. Trên lồng ngực Hồ Chí Minh vẫn chỉ có chiếc áo ka ki bạc màu vì sương gió mà không hề có một tấm huy chương! Người Việt Nam chúng ta và mọi triết gia chân chính trên trái đất này đều hiểu rằng: Hồ Chí Minh xứng đáng với một tấm huân chương duy nhất, tấm huân chương cao quý mang tên giản dị và trường tồn cùng dân tộc là: HUÂN CHƯƠNG NHÂN DÂN. Và, như Người từng mong muốn, đồng bào miền Nam yêu quý và anh hùng thay mặt đồng bào cả nước trao tặng Người tấm huân chương cao quý đó.

______________

(1, 3, 4) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 4, tr.246, 77, 79. (2) Sđd, tập 2, tr.267. (5) Sđd, tập 12, tr.425. (6) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, NXBCTQG, tập 3, tr.202, 203. (7, 8) Sđd, tập 10, tr.373, 57.

Trần Xuân Đỉnh

xaydungdang.org.vn

Những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Với dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là sự kết tinh những gì tốt đẹp, ưu tú nhất của trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam. Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh của dân tộc, cho bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Tinh hoa của dân tộc, lương tâm và khí phách của thời đại đã được thể hiện chân thực và cảm động, trong sáng và đẹp đẽ, cao thượng và bất khuất qua con người, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Khi đã tìm thấy con đường cách mạng và nhận thức được chân lý của thời đại cách mạng nhờ giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, với sự thức tỉnh và cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã dồn tất cả nỗ lực và tinh lực của đời mình để thực hiện đến cùng lý tưởng và mục tiêu cách mạng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chủ đạo, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình đó, Người vừa học tập và nghiên cứu lý luận, vừa tham gia các phong trào đấu tranh chính trị của công nhân và lao động ở những nơi Người đi qua, đã trực tiếp lăn lộn và trải nghiệm suốt mấy thập kỷ trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Bằng con đường lao động, vô sản hóa, Người làm đủ mọi nghề, đi qua nhiều miền đất khác nhau, tham gia các sinh hoạt của công nhân, thợ thuyền, ở ngay sào huyệt của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân, Người có điều kiện quan sát trực tiếp tình cảnh sống của những người lao động dưới ách áp bức bóc lột tàn bạo của tư bản ở chính quốc đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Thực tiễn này đã giúp Người nhận rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản và thực dân, cũng như hình thành ở Người tình hữu ái giai cấp đối với những người cùng khổ. Cũng chính thực tiễn này đã cung cấp cho Người những căn cứ để xác minh một sự thật mà Người đã từng hoài nghi về “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” do giai cấp tư sản đưa ra. Người muốn hiểu rõ đằng sau những lời đẹp đẽ trong châm ngôn tư sản ấy, thực chất của nó là cái gì? Mười năm đầu trong cuộc đi tìm chân lý tại chính quê hương của chủ nghĩa tư bản đã đem lại cho Người những thu hoạch lớn, những kết luận chính trị quan trọng, tác động sâu sắc đến tư tưởng, quan điểm, đường lối của Người. Đó là, ở đâu đâu đế quốc tư bản thực dân cũng dã man, tàn bạo, cũng đầy rẫy những quan hệ phi nhân tính; ở đâu đâu những người lao động nghèo khổ, bần cùng cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau, họ phải được tập hợp lại, chủ động đấu tranh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”.

Trong quá trình tìm đường cứu nước cứu dân và định hình đường lối chính trị giải phóng, giành độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ hoạt động ở châu Âu, ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa, mà Người còn hoạt động ở phương Đông, châu Á, tìm hiểu thực tiễn các phong trào đấu tranh ở Trung Quốc và Thái Lan. Những cứ liệu từ thực tiễn đó giúp cho Người so sánh, phân tích, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các kết cấu kinh tế – xã hội, các mâu thuẫn giai cấp và dân tộc ở những khu vực địa chính trị tiêu biểu, nơi diễn ra những phân hóa và mâu thuẫn giai cấp, dân tộc rất khác nhau giữa phương Tây và phương Đông, giữa các nước tư bản châu Âu với các nước châu Á đang còn tồn tại rất nhiều tàn tích phong kiến và đang là đối tượng khai thác, nô dịch của chủ nghĩa thực dân.

Mối quan tâm đặc biệt nổi bật của Người là tình hình Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam khi đã mất độc lập chủ quyền và đang bị chủ nghĩa thực dân đè nén, thống trị. Do đó, đối với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu, khảo sát thế giới, khu vực và quốc tế cũng chỉ nhằm hướng tới giải phóng và phát triển dân tộc mình, đặt cách mạng Việt Nam trong phong trào cách mạng thế giới, sao cho phù hợp với trào lưu, xu thế chung của lịch sử thế giới và thời đại.

Bước ngoặt lớn trong sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là khi Người giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Chỉ có cuộc cách mạng này mới giải phóng được giai cấp vô sản, giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân, mới thực hiện được độc lập tự do, hoà bình và hạnh phúc cho các dân tộc.

Sự kiện lịch sử đánh dấu bước ngoặt đó là vào năm 1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua, Người đã cùng với những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân Pháp tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước tiến bộ, Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trở thành người chiến sĩ xã hội chủ nghĩa (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.241).

Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nghiên cứu, khảo sát trực tiếp tại nước Nga Xôviết của Lênin, thấy rõ sự sinh thành chủ nghĩa xã hội, nhất là những cải cách kinh tế với chính sách kinh tế mới (NEP) do Lênin khởi xướng làm hồi sinh nước Nga. Người có điều kiện nghiên cứu sâu hơn chủ nghĩa Lênin cũng như ảnh hưởng rộng lớn của Cách mạng Tháng Mười, mở ra thời đại mới – quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Những tư tưởng đó đã được Người nghiền ngẫm sâu sắc, đã củng cố và khẳng định niềm tin của Người về cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, lực lượng lãnh đạo cuộc cách mạng đó chỉ có thể là giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản. Như thế, từ 1911 đến 1920 là một thập kỷ Người tìm đường và đã thấy con đường sẽ đi. Từ 1920-1924 và sau đó từ 1925-1927 khi Người viết các tác phẩm lý luận, truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam, nhất là Đường Kách mệnh (1927), đó là một giai đoạn lịch sử đặc biệt, hình thành về cơ bản lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Người. Đó cũng là thời gian mà Người chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính dảng cách mạng kiểu mới ở Việt Nam. Tư tưởng và phương pháp cách mạng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện tập trung, cô đọng trong các văn kiện đầu tiên thành lập Đảng, do chính Người trực tiếp soạn thảo: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng, tháng 2-1930.

Các mốc thời gian và sự kiện sau đó phản ánh những hoạt động vô cùng phong phú, kiên định, tích cực sáng tạo, nhưng cũng đầy thử thách đối với Người. Chính thực tiễn lịch sử cách mạng đã là sự thẩm định khách quan, công tâm nhất đối với giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây thực sự là điểm nổi bật về sức sáng tạo vượt trước của Hồ Chí Minh, về bản lĩnh Hồ Chí Minh. Cho đến khi Người về nước (1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì tư tưởng, phương pháp cách mạng đầy sáng tạo của Người mới được khẳng định đầy đủ, nhanh chóng đi vào thực tiễn, đem lại lời giải đúng đắn nhất về lý luận để thúc đẩy cách mạng trong thực tiễn. Đó chính là chân giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Những sáng tạo và cống hiến lịch sử của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện ở những điểm nổi bật sau đây:

Một là, nhận thức sáng tạo về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Mác – Lênin. Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, Người nhận thấy một trong những ưu điểm đặc sắc nhất của lý luận Mác – Lênin là phép biện chứng. Đó là phép biện chứng của phát triển xã hội, là khoa học và cách mạng của sự phát triển, xóa bỏ trật tự xã hội cũ bất công, tàn bạo và hướng tới xây dựng trật tự xã hội mới, dân chủ, công bằng và nhân đạo, xứng đáng nhất với con người – đó là chủ nghĩa cộng sản. Người cũng đặc biệt đề cao học thuyết cách mạng của Lênin, cả trí tuệ khoa học, tính triệt để cách mạng lẫn đạo đức và nhân cách của người sáng lập ra học thuyết Đảng kiểu mới, lãnh đạo thành công cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử, biến chủ nghĩa xã hội từ một học thuyết lý luận thành hiện thực xã hội mới, một chế độ xã hội mới.

Người nhận rõ chủ nghĩa Mác – Lênin là biểu hiện và kết tinh tinh hoa trí tuệ và tư tưởng của thời đại, của văn hoá nhân loại. Song, Người cũng đặt ra một vấn đề hết sức nghiêm túc về nhận thức khoa học: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” (Sđd, t.1, tr.465). Người đặt vấn đề về sự cần thiết phải vận dụng quan điểm và phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác để xem xét sự khác nhau cơ bản giữa kết cấu kinh tế và kết cấu giai cấp – xã hội giữa phương Tây với phương Đông. Người cũng nêu rõ, mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay đổi phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không? và Người khẳng định, đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản. Người còn giải thích rằng, thật ra là có, vì sự Tây phương hóa ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông – nói cách khác, chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó (Sđd, t.1, tr.465). Nếu phân hoá giai cấp đã trở nên rõ rệt và đối kháng giai cấp từ sự phân hóa ấy là sâu sắc và gay gắt ở phương Tây trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông và Việt Nam lại không hẳn là như vậy. ở đây, nổi bật lên mâu thuẫn dân tộc và xã hội với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân từ bên ngoài xâm lược vào chứ không phải là mâu thuẫn giai cấp. Do đó, nếu giải phóng giai cấp và đấu tranh giai cấp như một đặc trưng nổi bật và là một đòi hỏi bức xúc ở phương Tây tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông, trong đó có Việt Nam lại nổi lên đặc trưng khác, đó là giải phóng dân tộc, là giải quyết mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân xâm lược để giành độc lập, xóa bỏ tình trạng thuộc địa và phụ thuộc dưới ách đô hộ, thống trị của thực dân.

Đó là lý do giải thích vì sao Người chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp trong dân tộc để tạo ra sức mạnh giải phóng. Trong khi tin tưởng chắc chắn rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác là đúng đắn không chỉ ở phương Tây mà còn ở phương Đông, Người còn có dự báo đầy mẫn cảm rằng, chủ nghĩa cộng sản dễ áp dụng và cách mạng cộng sản chủ nghĩa dễ thành công hơn chính trong thực tiễn phương Đông, châu Á và Việt Nam. Một trong những cơ sở luận chứng cho giả thuyết đó là sức đoàn kết dân tộc, truyền thống cộng đồng đã tỏ ra rất gần gũi với bản chất của chủ nghĩa cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn nêu ra một luận điểm rất khoa học và sáng tạo, tỏ rõ chính kiến độc lập đầy bản lĩnh của Người. Đó là, muốn áp dụng chủ nghĩa Mác, áp dụng lý thuyết cộng sản của Mác vào phương Đông và Việt Nam thì phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Sđd, t.1, tr.465). Người cũng xác định rằng, nhiệm vụ ấy đang đặt ra về mặt lý luận mà những người cộng sản phải đáp ứng.

Những luận điểm nêu trên được Nguyễn Ái Quốc nói rõ vào năm 1924, đủ thấy tư chất và bản lĩnh sáng tạo của người cộng sản trẻ tuổi với sức bay của tư duy và tư tưởng vượt trước thời đại như thế nào. Sau này, Người còn có nhiều luận điểm sáng tạo khác đối với việc nhận thức bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Có thể nêu một vài thí dụ tiêu biểu. Người nhìn nhận chủ nghĩa Mác – Lênin trong dòng chảy của sự tiến hoá tư tưởng, biết thâu thái tất cả những gì tiến bộ, ưu tú, tinh hoa của tư tưởng, văn hóa nhân loại để vừa hiểu rõ sự phong phú của tư tưởng, văn hoá nhân loại, vừa thấy sự phát triển nhảy vọt của những tư tưởng mácxít vốn không tách rời, không ở bên ngoài mà ở trong tổng số và tổng hợp của toàn bộ những giá trị tinh hoa đó. Chẳng thế mà, trong khi tin và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn rất trân trọng tư tưởng từ bi, bác ái của đạo Phật, khoan dung văn hoá cao cả của chúa Giêsu, tinh thần thực tiễn trong Tam dân chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là khoa học và cách mạng, mà còn là đạo đức và văn hóa. Người đã từng chỉ rõ, đọc hàng trăm, hàng nghìn quyển sách Mác – Lênin mà ăn ở với nhau không có tình có nghĩa thì làm sao gọi là Mác – Lênin được. Người cũng là nhà tư tưởng mácxít nổi bật nhất khi tiếp cận chủ nghĩa xã hội, tiếp cận nền chính trị của giai cấp công nhân và bản chất của đảng cộng sản từ góc độ đạo đức học và văn hoá đạo đức. Người nói, chủ nghĩa xã hội đối lập với chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, chính trị cốt ở đoàn kết và thanh khiết, Đảng là đạo đức, là văn minh.

Chân lý – một vấn đề của nhận thức luận khoa học – được Hồ Chí Minh mở rộng sang bình diện đạo đức học. Cái gì tốt cho dân, có lợi cho dân, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân, làm công bộc trung thành và tận tụy của dân là phục tùng chân lý cao nhất, là lựa chọn một lẽ sống cao thượng nhất.

Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đặc biệt chú trọng yêu cầu sáng tạo, không máy móc rập khuôn, muốn vậy phải hiểu rõ đặc điểm, hoàn cảnh và những điều kiện lịch sử cụ thể. Người căn dặn chúng ta phải chú ý học tập kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em, nhưng không được sao chép mà phải có tinh thần độc lập tự chủ. Người nói rõ, ta và Liên Xô rất khác nhau về trình độ phát triển, về lịch sử và văn hoá. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm khác với Liên Xô vẫn là người mácxít.

Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc thù của Việt Nam là điểm xuất phát về lý luận và thực tiễn, về ý thức hệ của Hồ Chí Minh. Đó chẳng những là cơ sở để có những phát kiến sáng tạo, những cống hiến của Hồ Chí Minh về tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự cống hiến đặc sắc của Người, góp phần làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin và kho tàng lý luận cách mạng thế giới.

Hai là, vạch trần bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân và nêu lên tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa phải phối hợp chặt chẽ với cách mạng vô sản ở chính quốc. Nguyễn Ái Quốc là người đã viết tác phẩm lý luận mácxít Bản án chế độ thực dân Pháp rất nổi tiếng vào năm 1925. Tác phẩm này là một tổng kết lịch sử, một cáo trạng đối với chủ nghĩa thực dân, để sau đó 20 năm, vào năm 1945, Người viết nên Tuyên ngôn độc lập, khai sinh chế độ dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam độc lập, đồng thời là cáo chung chế độ thực dân ở Việt Nam sau hơn 80 năm tồn tại của nó.

Người phân tích: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” (Sđd, t.1, tr.298). Cách mạng phải có sự phối hợp ở cả chính quốc và thuộc địa, giống như một con chim hai cánh, một cánh vỗ ở thuộc địa, một cánh vỗ ở chính quốc. Sự diễn đạt cụ thể và giản dị trên đây đã hàm chứa tư tưởng về tính triệt để của cách mạng chống chủ nghĩa tư bản, thực dân và tính tất yếu của sự phối hợp các phong trào cách mạng vì mục tiêu giải phóng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc và ở các nước tư bản chủ nghĩa. Đó là biểu hiện lập trường cách mạng triệt để và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trên toàn thế giới.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhận rõ, đối với những người lao động và vô sản ở khắp mọi nơi, dù màu da có khác nhau nhưng họ đều có chung một kẻ thù và cũng có chung một mục tiêu tranh đấu. Đế quốc thực dân ở đâu đâu cũng là ác quỷ, phải đánh đổ nó đi. Còn anh em vô sản ở đâu đâu cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau. Trên đời này, suy đến cùng, cũng chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản (Sđd, t.1, tr.266).

Người đề cập tới tình hình Đông Dương và những cơ sở cho sự chín muồi cách mạng ở đó. Đó vừa là những khẳng định khoa học, vừa là những dự báo chính trị mẫn cảm. Người viết: “người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương” (Sđd, t.1, tr.28). Theo đánh giá của Người, “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến. Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” (Sđd, t.1, tr.28). Cho đến khi, Luận cương của Lênin được Người hấp thụ như tìm thấy cẩm nang đi đường, Người đã xác định rõ ràng con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản.

Ba là, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp trên lập trường giai cấp công nhân. Trong những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, không phải tất cả những người cách mạng và yêu nước, dù đứng trên lập trường cộng sản, đã ý thức đầy đủ và thật sự quan tâm tới vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Song, đây lại là vấn đề cốt tử mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú ý, từ khi tham gia hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp. Người đã thẳng thắn phê phán thái độ thờ ơ hoặc lãng quên phong trào cách mạng ở thuộc địa và đòi hỏi Đảng Cộng sản phải xác định rõ trách nhiệm của Đảng đối với việc thúc đẩy và phối hợp hành động với các phong trào cách mạng ở thuộc địa. Người đã sớm đi đến một kết luận quan trọng: sự nghiệp giải phóng dân tộc phải đồng thời gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng xã hội; cả hai cuộc giải phóng đó đều là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, là sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Các bản tham luận nổi tiếng của Người tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (17/6 đến 8/7 năm 1924) đã chứng tỏ điều đó.

Những luận điểm sau đây cho thấy tính hệ thống và sự nhất quán của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới” (Sđd, t.1, tr.416). “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân trên thế giới”, “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (Sđd, t.9, tr.314).

Cái mới và bản lĩnh sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản là ở chỗ:

– Không tách rời giai cấp khỏi dân tộc.

– Giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân, trên nền tảng ý thức hệ của giai cấp công nhân nên cách mạng giải phóng dân tộc với mục tiêu giành độc lập dân tộc phải do giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cũng do đó, con đường tiến lên của dân tộc và của xã hội Việt Nam chỉ có thể là con đường xã hội chủ nghĩa, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội bằng cách quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Thực tiễn khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng và phát triển đã mở ra con đường phát triển tốt đẹp nhất cho dân tộc Việt Nam : Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng lý luận cho cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, đã tìm thấy con đường phát triển đúng đắn, hợp lý, có triển vọng nhất, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế phát triển của thời đại.

Bốn là, nhờ có lý luận và phương pháp cách mạng đúng đắn, Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng lãnh đạo nhân dân và dân tộc ta đánh bại chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và mới, đưa dân tộc ta vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong của thế giới, xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội cũng có những nét sáng tạo đặc sắc, có giá trị và ý nghĩa hiện đại, không chỉ với nước ta mà còn đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác trong loại hình “phát triển rút ngắn” và “quá độ gián tiếp”, do bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện từng bước từ dân chủ nhân dân tới chủ nghĩa xã hội.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có cả một hệ vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội, từ đặc trưng, bản chất, mục tiêu, con đường, phương thức, mô hình và bước đi cũng như những giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong sự kết hợp giữa tính phổ biến với tính đặc thù, tính giai cấp – dân tộc – nhân dân với tính thời đại và tính nhân loại trong thế giới đương đại ngày nay.

Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học bằng cách bổ sung một cách tiếp cận đạo đức học cũng đồng thời là một quan niệm cụ thể về chủ nghĩa xã hội. Người đã dự cảm từ rất sớm một vấn đề mà ngày nay ta càng thấy rõ tính hệ trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội: Không đánh bại chủ nghĩa cá nhân thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (Sđd, t.9, tr.291).

Cũng như vậy, không đảm bảo thực hành dân chủ rộng rãi thì không thể chống được quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng. Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội là đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Thành bại của chủ nghĩa xã hội tùy thuộc vào chỗ, những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là đội ngũ tiên phong có đủ dũng khí và quyết tâm để đánh thắng thứ “giặc nội xâm” mà Người coi là kẻ thù nguy hiểm nhất hay không? Do đó, chủ nghĩa xã hội không chỉ là kinh tế – một nền kinh tế phồn vinh, giàu có, một thể chế chính trị dân chủ – pháp quyền, đảm bảo quyền làm chủ thực chất của nhân dân, một xã hội công bằng, bình đẳng cho sự phát triển hài hoà cá nhân và cộng đồng, mà còn là một nền tảng đạo đức trong sạch, thấm sâu vào các quan hệ xã hội lành mạnh, một hệ giá trị văn hoá nhân bản, nhân đạo và nhân văn, kết hợp được truyền thống, bản sắc dân tộc với những tinh hoa của thời đại vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho mọi con người, mọi dân tộc.

Sự sâu sắc và tinh tế văn hóa, đặc biệt là văn hóa đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đem vào tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội một nhiệm vụ chiến lược – “trồng người”, đào tạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, coi đó là công việc gốc của Đảng; và thực hành đạo đức cách mạng được Người quan tâm suốt đời như một chiến lược, cả tư tưởng lẫn hành động. Chiến lược đó là cốt lõi của chiến lược con người, chiến lược xây dựng, phát triển, đồng thời là chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội, làm cho cách mạng, Đảng cách mạng, người cách mạng, có sức mạnh tự bảo vệ. Điều đó cho thấy, tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở tầm thời đại và hiện đại như thế nào, nhất là đem tư tưởng của Người soi rọi vào tình hình hiện nay cũng như trước những đòi hỏi mới của thời đại, trong xu thế toàn cầu hoá và trong bối cảnh hội nhập.

Người chỉ rõ, bản chất sâu xa và tính ưu việt nổi bật của chủ nghĩa xã hội là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Người khẳng định, không gì quý bằng dân, không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân, và dân chủ là quý báu nhất trên đời của dân. Là chủ thể gốc của mọi quyền lực, nhân dân phải là chủ sở hữu đích thực của dân chủ, phải là chủ xã hội, chủ nhà nước, kiểm soát được nhà nước của mình và xã hội phải là một xã hội dân chủ. Người còn nhấn mạnh, thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Vậy là, Người đã thấy vai trò động lực của dân chủ đối với tiến bộ và phát triển, đối với chủ nghĩa xã hội.

Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ khoa học, cách mạng mà còn là đạo đức, là văn hoá, tức là nhân văn. Người từng nói, chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học sẽ là nguồn sức mạnh vô tận, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận (Sđd, t.9, tr.131). Phải xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa sao cho đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày càng tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Tất cả đều nhằm vào hạnh phúc của nhân dân. Dân chỉ biết đến dân chủ khi dân được ăn no, mặc ấm. Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân vẫn cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì (Sđd, t.4, tr.152).

Mấu chốt của xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh là phải dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân. Việc gì có lợi cho dân phải quyết làm cho bằng được. Việc gì có hại tới dân phải quyết tránh cho bằng được. Quyền làm chủ của dân, hạnh phúc của dân, sự phát triển tự do, dân chủ, công bằng trong xã hội – đó là những giá trị đảm bảo cho chế độ phát triển bền vững và chủ nghĩa xã hội thực sự là một xã hội văn hoá cao, trong đó, con người là con người xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ và làm chủ, dân tộc trở thành một dân tộc thông thái. Chủ nghĩa xã hội nhân dân và nhân văn trong chiều sâu triết lý nhân văn chủ nghĩa của Hồ Chí Minh là ở đó. Trong những tư tưởng hàm xúc đó đã toát lên đầy đủ những vấn đề cốt yếu về mục tiêu, bản chất, động lực, cách làm và bước đi của chủ nghĩa xã hội. Đó là chủ nghĩa xã hội Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là một trong những cống hiến sáng tạo nổi bật của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Năm là, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện một quan hệ biện chứng, thấm nhuần sâu sắc quan điểm thực tiễn – phát triển và đổi mới. Những luận giải cô đọng, hàm xúc của Hồ Chí Minh cho thấy, độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện của chủ nghĩa xã hội, đó là nền tảng chính trị, là cơ sở dân tộc và chủ quyền nhân dân của chủ nghĩa xã hội. Theo đó, chủ nghĩa xã hội sinh thành, phát triển và hoàn thiện là đảm bảo thực chất, đầy đủ và bền vững nhất của độc lập dân tộc. Đó cũng là thước đo dân chủ và tự do của phát triển xã hội, một xã hội văn minh, hiện đại mà lịch sử tìm thấy sự biểu hiện tốt nhất ở chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội, đó cũng chính là cách thức tổ chức xã hội tốt nhất để làm cho Tổ quốc, đất nước, quốc gia – dân tộc trường tồn, con người cá nhân và cộng đồng xã hội được phát triển tự do, toàn diện mọi khả năng sáng tạo, được thụ hưởng hạnh phúc vật chất, tinh thần trong một môi trường lành mạnh, tốt đẹp nhất. Đó cũng chính là hàm ý sâu xa trong một chân lý lớn mà Hồ Chí Minh nêu ra: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Giá trị ấy cũng chính là chủ nghĩa xã hội, một chủ nghĩa xã hội phát triển thông qua đổi mới, sáng tạo và hiện đại hóa.

GS.TS Tô Huy Rứa
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TW Đảng,
Trưởng ban Tuyên giáo TW, Chủ tịch Hội đồng Lý luận TW

xaydungdang.org.vn

Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc vô sản

TCCSĐT – Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là một tư tưởng khoa học và cách mạng. Nó được Đảng ta vận dụng trong toàn bộ tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập và tiếp tục theo đuổi lý tưởng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay, mọi sự hiểu lầm hay cố tình xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải tiếp tục được đấu tranh loại bỏ để làm cho tư tưởng vĩ đại ấy ngày càng trong sáng hơn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài của cách mạng Việt Nam. Người đã để lại một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, một cuộc cách mạng vừa phải giành độc lập dân tộc thực sự, vừa phải giải quyết vấn đề dân chủ triệt để, giải phóng nhân dân lao động hoàn toàn thoát khỏi áp bức, bóc lột. Và, luận điểm trung tâm, xuyên suốt để giải quyết triệt để cả hai vấn đề ấy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, như thế, vấn đề dân tộc cần phải được giải quyết theo lập trường của giai cấp vô sản. Gần một thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân tộc Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, căn bản, có ý nghĩa lịch sử và thời đại.

Thế nhưng, gần đây lại có luận điểm cho rằng: “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Đây là một luận điểm không hiểu hoặc cố tình không hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó làm mất đi một “tính từ” không chỉ làm thay đổi ngữ nghĩa của tiếng Việt, mà như vậy, nó làm mất đi sự hoàn hảo, làm biến dạng một khái niệm.

Vấn đề dân tộc luôn gắn liền với vấn đề giai cấp. Chủ nghĩa dân tộc bao giờ cũng bảo vệ lợi ích, dựa trên lập trường của một giai cấp nhất định, không có chủ nghĩa dân tộc phi giai cấp, chủ nghĩa dân tộc chung chung, cải lương. Lịch sử đã cho thấy, từ khi dân tộc xuất hiện cho đến nay, giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất thống trị luôn nắm quyền thống trị dân tộc. Giai cấp thống trị dân tộc bao giờ cũng giải quyết vấn đề dân tộc, bảo vệ độc lập, tự chủ và phát triển dân tộc theo hình ảnh và lợi ích của giai cấp mình. Vì thế, chủ nghĩa dân tộc, với tính cách là hệ tư tưởng chính trị và tâm lý đòi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc, bao giờ cũng phụ thuộc vào lập trường, quan điểm của giai cấp thống trị dân tộc.

Gắn liền với các giai cấp đã nắm quyền thống trị dân tộc là các cách tương ứng bảo vệ độc lập, tự chủ và phát triển dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc. Giai cấp phong kiến, tư sản và vô sản nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc khác nhau. Nhân loại từng biết, chủ nghĩa dân tộc truyền thống thể hiện lòng yêu nước lâu đời của một dân tộc, chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa dân tộc vô sản, chủ nghĩa dân tộc cách mạng, chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi… Không có dân tộc phi giai cấp. Chưa có và chừng nào còn giai cấp sẽ không có chủ nghĩa dân tộc phi giai cấp. Chủ nghĩa dân tộc luôn mang tính giai cấp, chủ nghĩa dân tộc luôn có “tính từ” như đã nói.

Cũng cần lưu ý rằng, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã rất chú ý bản chất giai cấp trong khi đề cập đến chủ nghĩa dân tộc. Ngay từ những năm đầu đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Người đã phân biệt rõ “chủ nghĩa dân tộc bản xứ” – chủ nghĩa dân tộc truyền thống ở các nước thuộc địa, với “chủ nghĩa quốc tế” – chủ nghĩa dân tộc theo lập trường của giai cấp vô sản. Người viết “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước… Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản… Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi… nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(1). Người luôn nhắc nhở khi giải quyết vấn đề dân tộc phải đứng vững trên lập trường vô sản, tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô-vanh cũng như chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại.

Do vậy, khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là “chủ nghĩa dân tộc” là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ nội dung cách mạng, tiên tiến nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. V.I.Lê-nin đã từng cảnh báo: “Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của các giai cấp này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”(2).

Đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam rên xiết dưới ách thống trị của thực dân và phong kiến. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành, với lòng yêu nước, thương dân, với nhãn quan chính trị sắc sảo đã nhận thấy không thể cứu nước và giải phóng dân tộc theo cách cũ, chẳng hạn, phong trào Cần Vương, đại biểu cho hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến; phong trào nông dân Yên Thế mà thực chất cũng theo khuynh hướng tư tưởng phong kiến, cũng không thể theo con đường của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, đại biểu cho khuynh hướng tư tưởng tư sản dân tộc thuần tuý…

Với quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, sau gần mười năm qua nhiều châu lục, tìm hiểu chủ nghĩa thực dân, đế quốc cả ở “chính quốc” và thuộc địa của chúng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được xu hướng phát triển tất yếu của thời đại, Người đã gặp chủ nghĩa Mác – Lê-nin và trở thành người cộng sản. Người cộng sản Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc…”(3) Người chỉ rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(4).

Bằng sự phân tích sâu sắc trên cơ sở cứ liệu lịch sử chính xác, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ cho nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa thấy rằng, công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không thể đi theo con đường cách mạng tư sản, vì đó là “cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(5). Con đường đúng theo Nguyễn Ái Quốc là con đường Cách mạng Tháng Mười Nga – con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư (Các Mác- TG)và Lê-nin”(6).

Người rút ra kết luận: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc gắn bó thống nhất với tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng, trong thời đại ngày nay, con đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc do đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo sẽ là tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định: cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Bởi: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(7). Và theo Người, chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do; về bản chất, chủ nghĩa xã hội là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ, một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm là không hưởng. Đó cũng là ước nguyện cháy bỏng của Người khi ra đi vào cõi vĩnh hằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(8).

Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập, trong Chính cương vắn tắt do Người khởi thảo đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong triển vọng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người đã làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa giải phóng dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đặt nền tảng cho bước chuyển biến từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Người khẳng định: chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội, và chỉ có làm cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữ vững những thành quả do sự nghiệp giải phóng dân tộc mang lại.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, người chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này “là ra sức xây dựng và củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(9). Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 3-1960), luận điểm này đã được tái khẳng định, những năm tháng cuối đời, Người vẫn không quên căn dặn đảng viên: “không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới”(10). Chỉ hơn một tháng trước khi từ trần, trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Nhân đạo, Người đã tiếp tục khẳng định thêm một lần nữa: “chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới”(11).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ xã hội đã định hướng chính trị, chỉ đạo nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm nghiệm, khẳng định thành công trong giai đoạn Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc (1945-1954), giai đoạn tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, trong đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là cơ sở vững chắc của cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà (1954-1975), cũng như giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn kế tiếp, đặc biệt là nó vẫn luôn có ý nghĩa thời sự đối với công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.

Hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc phải gắn liền với quyết tâm chính trị lớn nhằm đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” đang được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới nhằm ra sức phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(12).

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội chính là luận điểm trung tâm, nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một đóng góp của cách mạng Việt Nam vào kho tàng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, vào lý luận cách mạng xã hội trong thời đại hiện nay. Thực tiễn cách mạng đã chứng tỏ sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam cần thiết, có thể và hiện thực đã được giải quyết theo lập trường của giai cấp vô sản, chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vì vậy thực chất là chủ nghĩa dân tộc vô sản.

Kết luận trên cũng có nghĩa là luận điểm “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một cách hiểu và diễn đạt không chính xác, không đầy đủ và xuyên tạc tư tưởng của Người. Luận điểm sai trái ấy đi ngược lại lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – tư tưởng chỉ đạo chiến lược lớn xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam. Rõ ràng luận điểm ấy muốn Việt Nam từ bỏ ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, từ bỏ con đường mà dân tộc ta đã lựa chọn và quyết hy sinh phấn đấu trong hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Luận điểm “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một luận điệu có ý đồ chính trị rõ ràng, muốn “lập lờ đánh lận con đen”, muốn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tách rời độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thực chất là cổ suý cho quan điểm muốn nước ra từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Tại Đại hội XI, Đảng ta chỉ rõ bài học đầu tiên của quá trình 20 năm đổi mới là: ”Phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(13). Mọi sự tách rời độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự nhận thức chưa đầy đủ, chưa hiểu hoặc cố tình xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều đó sẽ dẫn đến không nhận rõ mục tiêu chính trị của Đảng; mơ hồ, thậm chí dao động, sự mập mờ về tư tưởng bởi không nắm vững nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; và tất yếu trong hành động sẽ dẫn đến mất định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự mơ hồ về chính trị, dao động về tư tưởng, mất định hướng trong hành động như vậy sẽ là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến nguy cơ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước mà chúng ta cần tích cực, chủ động đấu tranh ngăn chặn, khắc phục.

—————————————

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2000, t1, tr 466-467
(2) V.I.Lê-nin: Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t23, tr 57
(3)Hồ Chí Minh. Sđd, t1, tr 461
(4) Hồ Chí Minh. Sđd, t2, tr 268
(5) Hồ Chí Minh. Sđd, t3, tr 268
(6) Hồ Chí Minh. Sđd, t3, tr 280
(7) Hồ Chí Minh. Sđd, t4, tr 56
(8) Hồ Chí Minh. Sđd, t4, tr 161
(9) Hồ Chí Minh. Sđd, t9, tr 156
(10) Hồ Chí Minh. Sđd, t12, tr 93
(11) Hồ Chí Minh. Sđd, t12, tr 474
(12) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 tr 266
(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, sdd , tr 70

Dương Quốc Dũng
Đại tá, PGS, TS, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội nhân văn quân đội, Bộ Quốc phòng.

tapchicongsan.org.vn

Sôi nổi các hoạt động kỷ niệm Ngày thành lập Đảng

* Lãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

QĐND – Kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930/3-2-2012), sáng 3-2, Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh-vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Dự lễ viếng có các đồng chí: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng; nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm; cùng các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ, Phó chủ tịch Quốc hội và các đồng chí lão thành cách mạng.

Tiếp đó, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu Đoàn đại biểu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam đến đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ.

Cùng ngày, đoàn đại biểu các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và thành phố Hà Nội đã đặt hoa, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ. (TTXVN)

* Chiều 3-2, Đảng ủy Thành đoàn TP Hồ Chí Minh long trọng tổ chức mít tinh kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Đảng. Tại buổi lễ, tuổi trẻ thành phố hứa quyết tâm, phát huy truyền thống, phấn đấu học tập, lao động tốt và được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Dịp này, Đảng ủy Thành đoàn cũng chúc mừng và tặng kỷ niệm chương cho các đảng viên có nhiều tuổi Đảng và đạt thành tích xuất sắc trong học tập, công tác. (HÙNG KHOA)

* Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn 1 đã chỉ đạo các đơn vị tiến hành nhiều hoạt động thiết thực lập thành tích cao nhất kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng. Nội dung trọng tâm của các hoạt động trong dịp này là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống; chuẩn bị chu đáo mọi mặt cho năm huấn luyện và đón nhận chiến sĩ mới đợt 1-2012. (Vân Hà)

* Cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh đợt thi đua đột kích với chủ đề “Mừng Đảng, mừng Xuân”, các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đoàn 2 cũng đã có nhiều hoạt động thiết thực. Một trong những vấn đề được Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo là cấp ủy, chỉ huy các cấp tập trung nghiên cứu, nắm vững những vấn đề trọng tâm, cốt lõi được nêu trong Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) về công tác xây dựng Đảng, từ đó xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp, sát thực, mang lại kết quả cao (Hồng Đại)

* Ngày 3-2, nhiều tổ chức đảng thuộc Đảng bộ Binh chủng Tăng-Thiết giáp tiến hành lễ kết nạp những quần chúng ưu tú vào Đảng. Cũng trong dịp này, Thường vụ Đảng ủy Binh chủng tổ chức lễ trao tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng cho 30 đồng chí; phát thẻ đảng viên cho 51 đồng chí. (Mai Lan)

* Sáng 3-2, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi tổ chức buổi gặp mặt nhân kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Đảng và quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khóa XI). Tại buổi lễ, các đại biểu cùng nhau ôn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng; đồng thời quán triệt tinh thần các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI), nêu bật một số nội dung, chương trình trọng tâm trong triển khai thực hiện. (Đăng Lâm)

* Tỉnh ủy Khánh Hòa cũng đã tổ chức lễ kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng và phát động thi đua tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2012. Tại buổi lễ, Tỉnh ủy Khánh Hòa kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong tỉnh tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị; qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ năm 2012, phấn đấu đưa Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2015. (Tiên Minh)

* Kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh Bình Định, đại diện các sở, ban ngành, đoàn thể, hội và các cấp ủy đảng, chính quyền các địa phương đã đến dâng hương, dâng hoa tại các Nhà lưu niệm thành lập các Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại Bình Định. (Viết Ý)

* “Tự hào tiến bước dưới cờ Đảng” là nội dung buổi tọa đàm do Tỉnh đoàn Bình Thuận tổ chức sáng 3-2, thu hút sự tham gia của đông đảo các đoàn viên ưu tú, đảng viên trẻ trong tỉnh. Tại buổi tọa đàm, các đại biểu cùng nhau trao đổi về những kế hoạch xây dựng tổ chức Đảng, hướng phấn đấu rèn luyện để trở thành đảng viên. Đây là dịp để thế hệ trẻ bày tỏ mong muốn, nguyện vọng với Đảng, nỗ lực phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (Hồng Hiếu)

qdnd.vn

Bài báo cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng

Cách đây tròn mười năm, Báo Nhân Dân kỷ niệm 50 năm Ngày ra số đầu, tôi có dịp được gặp lão đồng chí Vũ Kỳ, nguyên thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được nghe kể những kỷ niệm về Người đối với Báo Nhân Dân. Chiều hôm ấy, mưa xuân như phủ lớp sương khói mờ ảo trên mọi phố phường Hà Nội.

Căn nhà ông mới được cấp ở phố Hoàng Cầu còn thơm mùi vôi, đồ đạc tuềnh toàng, chỉ có giá sách rất đầy đặn vây quanh phòng khách. Do đã hẹn trước, ông mở cửa đón tôi vui vẻ, niềm nở và rất đỗi chan hòa.

– Nào, bây giờ chúng ta nói chuyện về Bác Hồ với chủ đề gì?

– Thưa, xin bác vui lòng kể lại những kỷ niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc rèn dạy Báo Nhân Dân? Tôi đặt câu hỏi.

Ông suy ngẫm một hồi lâu rồi nở nụ cười rạng rỡ, đôi mắt cũng cười theo.

– Báo Nhân Dân, báo Ðảng. Bác Hồ viết về xây dựng Ðảng trên Báo Nhân Dân nhé!

Ðúng quá rồi! Tôi nhẩm tính, từ khi Báo Nhân Dân ra số đầu, đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về cõi vĩnh hằng là quãng thời gian 18 năm. Người đã viết cho báo Ðảng 1.205 bài báo. Bài báo cuối cùng của Bác Hồ viết về xây dựng Ðảng là bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đăng số báo ra ngày 3-2-1969. Ðó là bài báo thứ 1.204 mà Người viết cho Báo Nhân Dân.

Dừng ở bài báo này, đồng chí Vũ Kỳ kể: Trước ngày 3-2 năm ấy, Bác Hồ giao đồng chí Tố Hữu dự thảo cho Người một bài báo nói về chống chủ nghĩa cá nhân, đề cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bài báo viết xong, Bác Hồ cho gọi đồng chí Tố Hữu đến để xem lại bài Bác đã sửa chữa. Ðồng chí Vũ Kỳ cũng được Bác cho cùng dự. Nhìn thấy bài được sửa chữa, đồng chí Tố Hữu nói:

– Thưa Bác, Bác đã chữa hết cho cháu rồi.

– Không, phần nói về đạo đức cách mạng của chú, Bác vẫn giữ nguyên đấy chứ!

Ðồng chí Tố Hữu đưa mắt nhìn đồng chí Vũ Kỳ rồi thưa:

– Phần lớn cán bộ, đảng viên đều nêu cao đạo đức cách mạng, số người mang nặng chủ nghĩa cá nhân chỉ là thiểu số! Do vậy xin Bác cho sửa tít của bài báo thành “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” thay vì: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ và nói:

– Các chú nói có lý nhưng chưa hợp lý. Vợ chồng chú Kỳ tằn tiện sắm được bộ bàn ghế mới. Trước khi kê nó vào nhà thì phải quét sạch nhà cửa đã. Ý kiến của hai chú là đa số, Bác đồng ý về tên bài báo. Nhưng nội dung của bài báo Bác vẫn giữ nguyên ý kiến: “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nêu cao đạo đức cách mạng”.

Thế đã rõ thái độ kiên quyết như thế nào của Bác Hồ đối với chủ nghĩa cá nhân. Ðồng chí Vũ Kỳ còn cho biết, bài báo viết xong, Bác bảo cho đánh máy thành nhiều bản để gửi cho từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị sửa trực tiếp vào bản thảo và trả ngay trong ngày. Ðến chiều, Bác hỏi:

– Chú Kỳ cho biết ai là người sửa nhiều nhất?

– Thưa Bác, đồng chí Trường Chinh sửa nhiều nhất.

– Vậy chú lấy bản sửa của đồng chí Trường Chinh làm bản chính để tiếp thụ ý kiến của tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị.

Ðó là phong cách làm việc dân chủ, tôn trọng ý kiến mọi người của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng theo tôi, còn một hàm ý nữa, thông qua việc lấy ý kiến đóng góp vào bài báo, Người muốn những đồng chí, những cộng sự của Người cùng suy nghĩ và hành động cho nhiệm vụ thật nặng nề “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” mà Người là biểu tượng rực rỡ của đức tính cao thượng ấy.

43 mùa Xuân đã trôi qua kể từ khi bài báo ra đời, hôm nay chúng ta cùng đọc lại những câu, những chữ Người viết về chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện tệ hại của nó, càng suy ngẫm càng thấm thía. Bác viết: “… còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém.

Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.

Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Ðảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân…”.

Trong bài báo đó, Người căn dặn để cán bộ, đảng viên xứng đáng với lời khen chân thành của nhân dân “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, Ðảng ta phải tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Ðảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”. Ðúng là trong Ðảng phải nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình thì mới mở đường cho quần chúng nhân dân thật thà phê bình cán bộ, đảng viên.

Những tháng, ngày của năm 1969, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ngày càng gian khổ, ác liệt, bệnh của Người ngày một nặng thêm nhưng Bác Hồ vẫn dành những lời căn dặn chân thành, tha thiết nhất cho mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta. Bởi vì Người đã biết rõ, chủ nghĩa cá nhân với những biểu hiện đã nêu là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Mùa Xuân này, một mặt tập trung lãnh đạo kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, mặt khác, Ðảng ta triển khai thực hiện cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Chúng ta học lại bài báo để tìm thấy ở đó nguồn năng lượng mới, nguồn sáng mới để tiếp tục xây dựng Ðảng ta ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Theo Phạm Đạo/Nhân dân

baodatviet.vn

Gắn kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình (TPB và PB) cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau: Thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình. Củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm. Coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB.

Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Bên cạnh sự tự giác thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra. Công tác này nhất thiết phải gắn bó mật thiết với TPB và PB một cách nghiêm túc. Lề lối làm việc phải dân chủ, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. TPB và PB nhau theo tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác kiểm tra là bộ phận cấu thành quan trọng của công tác xây dựng đảng, được tiến hành dựa trên các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng nhưng đồng thời phải làm tốt công tác TPB và PB. Trên cơ sở các nguyên tắc, Điều lệ Đảng về xử lý kỷ luật trong Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: phải gắn kết chặt chẽ, phát huy cao độ vai trò công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng theo Điều lệ Đảng trên cơ sở TPB và PB, lấy giáo dục thuyết phục, cảm hóa là chính, giúp đồng chí mình tiến bộ, giúp tổ chức đảng lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

Trong giai đoạn cách mạng mới, trước những yêu cầu đặt ra từ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm không ngừng kiện toàn và nâng cao sức lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, đấu tranh thắng lợi trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị tư tưởng, đòi hỏi công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng càng phải gắn bó mật thiết với công tác TPB và PB. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra giám sát trong Đảng với công tác TPB và PB sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng đảng, xây dựng ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức lối sống cho mỗi cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu; nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB, cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

Một là, thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình.

Đối với đảng viên, cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ phụ trách công tác kiểm tra, giám sát, các tổ chức đảng và các cấp ủy cần phải có nhận thức đúng về sự kết hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB. Đây còn là một trong những nguyên tắc trong công tác lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo ở đâu, lĩnh vực gì, nhiệm vụ nào đều phải gắn liền công tác kiểm tra giám sát ở lĩnh vực, nhiệm vụ đó.

Công tác kiểm tra, giám sát ở các tổ chức cơ sở đảng phải được tiến hành theo nguyên tắc Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên. Quá trình kiểm tra, giám sát phải gắn với TPB và PB để giáo dục, thuyết phục, uốn nắn đảng viên, cán bộ, định hướng công tác lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng, tạo điều kiện phát huy dân chủ trong Đảng, giữ vững nguyên tắc và chế độ sinh hoạt đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh, đủ sức lãnh đạo hoàn thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Công tác kiểm tra, giám sát gắn với TPB và PB là nhằm làm cho tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững định hướng chính trị, nhận thức tư tưởng, trau dồi phẩm chất đạo đức trong sáng. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách dân chủ, đúng nguyên tắc, gắn với tự trọng, tự giác trong TPB và PB.

Hai là, củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong công tác kiểm tra, giám sát đòi hỏi phải làm tốt công tác củng cố kiện toàn cơ cấu ủy ban kiểm tra các cấp, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát đủ về số lượng và có năng lực và trình độ hoàn thành nhiệm vụ chức trách được giao.

Trước khi bắt đầu cho một nhiệm kỳ mới, các tổ chức đảng từ Trung ương tới cơ sở phải làm tốt công tác củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp. Chức năng, nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra phải được xác định phù hợp với tính chất nhiệm vụ lãnh đạo của từng tổ chức đảng cụ thể. Điều đó cũng có nghĩa, ủy ban kiểm tra các cấp và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải được kiện toàn đồng bộ, ngang tầm với tính chất nhiệm vụ được giao. Yêu cầu đặt ra là: Đối với người cán bộ làm công tác kiểm tra phải tận tụy, công tâm, trung thực, liêm khiết, khách quan, dân chủ, có lý có tình, kiên quyết và khôn khéo; đối với ủy ban kiểm tra các cấp là sự dân chủ, đoàn kết, thống nhất, kỷ cương trên cơ sở các nguyên tắc được quy định trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Người cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát cũng như uỷ ban kiểm tra cần chủ động, đồng bộ, sâu sát, tỉ mỉ, khách quan, thận trọng trong mọi khâu, mọi bước của công việc kiểm tra, giám sát, đảm bảo tính công minh, chính xác, kịp thời.

Ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải đóng vai trò nòng cốt trong công tác tham mưu nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra được lựa chọn phải thường xuyên học tập, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, tự kiểm tra, giám sát mình và chịu sự giám sát, phê bình của cấp ủy, chi bộ và quần chúng; ra sức nâng cao trình độ mọi mặt, mẫn cán, nhạy cảm, tinh thông nghiệp vụ.

Ba là, coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB .

Công tác kiểm tra được tiến hành theo phân cấp, cấp trên kiểm tra cấp dưới, ủy ban kiểm tra cấp ủy cùng cấp kiểm tra đảng viên thuộc quyền về chấp hành nguyên tắc, chế độ, phục tùng kỷ luật Đảng và thực hiện nghị quyết các cấp. Công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Trong đó, TPB và PB là nguyên tắc cơ bản trong sinh hoạt đảng mà các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phải tự giác chấp hành. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB là một giải pháp khoa học nhằm tăng cường sức mạnh và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, chủ động cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm và giải quyết dứt điểm các vụ việc trên cơ sở nguyên tắc Điều lệ Đảng.

Trung tá, Thạc sĩ Nguyễn Minh Đức
Trường Đại học Nguyễn Huệ

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về phương thức lãnh đạo của Đảng

Lãnh đạo đúng nghĩa là:

1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng. Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.

2. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong.

3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.285-286.

Chúng ta phải kiên quyết bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh. Chúng ta phải kiên quyết thực hành theo nguyên tắc sau đây:

1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.

2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết.

Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.

3. Chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”. Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó, và lúc đó, đưa ra tranh đấu.

4. Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng. Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa nó thành cách chỉ đạo nhân dân.

5. “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”.

Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 5, tr.297-298.

Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát.

Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi.

Song, muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: Một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín.

Sđd, tập 5, tr.287.

xaydungdang.org.vn

Cách lãnh đạo

Người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng.

1. Lãnh đạo và kiểm soát

“Chẳng những phải lãnh đạo quần chúng, mà lại phải học hỏi quần chúng”.

Câu đó nghĩa là gì ?

Nghĩa là: người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng.

Nghĩa là một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng.

Nghĩa là phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”.

Lãnh đạo đúng nghĩa là thế nào ?

Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà viết kế hoạch, ra mệnh lệnh.

Lãnh đạo đúng nghĩa là:

1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng. Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.

2. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong.

3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được.

Những người lãnh đạo chỉ trông thấy một mặt của công việc, của sự thay đổi của mọi người: trông từ trên xuống. Vì vậy sự trông thấy có hạn.

Trái lại, dân chúng trông thấy công việc, sự thay đổi của mọi người, một mặt khác: họ trông thấy từ dưới lên. Nên sự trông thấy cũng có hạn.

Vì vậy, muốn giải quyết vấn đề cho đúng, ắt phải hợp kinh nghiệm cả hai bên lại.

Muốn như thế, người lãnh đạo ắt phải có mối liên hệ chặt chẽ giữa mình với các tầng lớp người, với dân chúng.

Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi.

Vì vậy, cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại.

Chọn người và thay người cũng là một vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo.

Những người mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc, phải thải đi. Ngoài ra còn có hai hạng người, cũng phải chú ý:

Một là có những người cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng và của Chính phủ. Thế là họ kiêu ngạo, họ phá kỷ luật của Đảng, của Chính phủ.

Cần phải mời các ông đó xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật, để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ vững kỷ luật của Đảng và của Chính phủ.

Hai là hạng người nói suông. Hạng người này tuy là thật thà, trung thành, nhưng không có nǎng lực làm việc, chỉ biết nói suông.

Một thí dụ: Hôm nọ tôi hỏi một cán bộ L:

– Mùa màng nǎm nay thế nào ?

L trả lời: Việc đó tôi đã động viên nhân dân rồi.

Hỏi: Rồi sao nữa ?

L trả lời : Tôi đã bày tỏ vấn đề đó một cách rất đầy đủ.

Hỏi: Rồi sao nữa ?

L trả lời: Công tác xem chừng khá.

Hỏi: Rồi sao nữa ?

L trả lời : Chắc là có tiến bộ.

Hỏi: Nói tóm lại đã cày cấy được mấy mẫu ?

L trả lời : Ở vùng chúng tôi, cày cấy hiện nay chưa đâu ra đâu cả!

Trong Đảng ta, có một số người như thế. Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được. Những người như thế cũng không thể dùng vào công việc thực tế.

Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát.

Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi.

Song, muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín.

Kiểm soát cách thế nào ?

Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà chờ người ta báo cáo, mà phải đi tận nơi, xem tận chỗ.

Vì ba điều mà cần phải có kiểm soát như thế:

1. Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu.

2. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan.

3. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết.

Kiểm soát có hai cách: một cách là từ trên xuống. Tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả những công việc của cán bộ mình.

Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó. Cách này là cách tốt nhất để kiểm soát các nhân viên.

Còn ở trong Đảng, khi khai hội, các đảng viên nghe những người lãnh đạo báo cáo công việc, các đảng viên phê bình những khuyết điểm, cử hoặc không cử đồng chí nọ hoặc đồng chí kia vào cơ quan lãnh đạo. Đó là kiểm soát theo nguyên tắc dân chủ tập trung, phê bình và tự phê bình, những nguyên tắc mà Đảng phải thực hành triệt để.

Ở quần chúng, khai hội, phê bình và bày tỏ ý kiến, bầu cử các uỷ ban, các hội đồng…. Đó là những cách quần chúng kiểm soát những người lãnh đạo.

2. Lãnh đạo thế nào ?

Bất kỳ công việc gì, cũng phải dùng hai cách lãnh đạo sau đây: một là liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng. Hai là liên hợp người lãnh đạo với quần chúng.

Thế nào là liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng?

Bất kỳ việc gì, nếu không có chính sách chung, kêu gọi chung, không thể động viên khắp quần chúng.

Song, nếu người lãnh đạo chỉ làm chung, làm khắp cả một lúc, mà không trực tiếp nhằm một nơi nào đó, thực hành cho kỳ được, rồi lấy kinh nghiệm nơi đó mà chỉ đạo những nơi khác, thì không thể biết chính sách của mình đúng hay sai. Cũng không thể làm cho nội dung của chính sách đó đầy đủ, thiết thực.

Thí dụ: việc chỉnh đốn Đảng. Ngoài những kế hoạch chung về việc đó, mỗi cơ quan hoặc mỗi bộ đội phải chọn vài ba bộ phận trong cơ quan hay bộ đội mình, nghiên cứu rõ ràng và xem xét kỹ lưỡng sự phát triển (công việc chỉnh đốn Đảng) trong những bộ phận đó.

Đồng thời, trong vài ba bộ phận đó, người lãnh đạo lại chọn nǎm, ba người cán bộ kiểu mẫu, nghiên cứu kỹ càng lịch sử của họ, kinh nghiệm, tư tưởng, tính nết của họ, sự học tập và công tác của họ.

Người lãnh đạo phải tự mình chỉ đạo những người phụ trách trong bộ phận đó, giúp họ giải quyết những vấn đề thực tế, để rút kinh nghiệm.

Những người phụ trách trong một cơ quan hoặc một bộ đội, cũng chọn vài ba bộ phận, rồi cũng làm theo cách đó.

Đó là một cách vừa lãnh đạo vừa học tập.

Bất kỳ người lãnh đạo nào, nếu không học tập nổi những việc thiết thực, những người thiết thực và những bộ phận thiết thực của cấp dưới, để rút kinh nghiệm, thì nhất định không biết chỉ đạo chung cho tất cả các bộ phận.

Mỗi cán bộ phụ trách cần phải làm theo cách này cho kỳ được.

Thế nào là liên hợp lãnh đạo với quần chúng ?

Bất kỳ việc gì (thí dụ việc chỉnh đốn Đảng), người lãnh đạo phải có một số người hǎng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo. Nhóm trung kiên này phải mật thiết liên hợp với quần chúng, công việc mới thành.

Nếu chỉ có sự hǎng hái của nhóm trung kiên, mà không liên hợp với sự hǎng hái của quần chúng, nhóm trung kiên sẽ phải chạy suốt ngày mà không kết quả mấy.

Nếu chỉ có sự hǎng hái của quần chúng mà không có sự hǎng hái của nhóm trung kiên để tổ chức và dìu dắt, thì sự hǎng hái của quần chúng sẽ không bền và không thể tiến tới.

Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hǎng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hǎng hái và hạng kém đều ít hơn.

Vì vậy, người lãnh đạo phải dùng hạng hǎng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do trung kiên đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém tiến lên.

Nhóm trung kiên đó phải do công tác và tranh đấu trong đám quần chúng mà nảy nở ra, chứ không phải tự ngoài quần chúng, xa cách quần chúng mà có được.

Mỗi cuộc tranh đấu thường có ba giai đoạn, ba bước: bước đầu, bước giữa và bước cuối cùng. Nhóm trung kiên lãnh đạo trong mỗi cuộc tranh đấu, không có thể mà cũng không nên luôn luôn y nguyên như cũ. Trong mỗi giai đoạn, cần phải luôn luôn cất nhắc những người hǎng hái trong giai đoạn đó, để thay thế cho những người cũ bị đào thải hoặc vì tài không xứng chức, hoặc hủ hoá.

Những nơi công việc không chạy đều vì không có nhóm lãnh đạo mật thiết liên hợp với quần chúng. Thí dụ: trong một trường học, nếu không có một nhóm thầy giáo, chức viên và học sinh hǎng hái nhất trong trường, từ mười người đến vài mươi người, đoàn kết thành nhóm trung kiên lãnh đạo, thì công việc của trường đó nhất định uể oải.

Vì vậy, bất kỳ cơ quan nào, bộ đội nào, cũng cần phải chọn một nhóm người hǎng hái, trung thành, có nǎng lực, giữ kỷ luật, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo.

Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng.

Nghĩa là gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống. Rồi đem nó tuyên truyền, giải thích cho quần chúng, và làm cho nó thành ý kiến của quần chúng, và làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó. Đồng thời nhân lúc quần chúng thực hành, ta xem xét lại, coi ý kiến đó đúng hay không. Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành.

Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước.

Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt.

Vì không biết đoàn kết những phần tử hǎng hái, tổ chức họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo, hoặc vì không biết làm cho trung kiên đó mật thiết liên hợp với quần chúng, cho nên sự lãnh đạo xa rời quần chúng mà sinh ra bệnh quan liêu.

Vì không biết gom góp ý kiến của quần chúng, kinh nghiệm của quần chúng, cho nên ý kiến của những người lãnh đạo thành ra lý luận suông, không hợp với thực tế.

Vì không biết liên hợp chính sách chung với sự thiết thực chỉ đạo riêng (như mục 2 đã nói), cho nên chính sách không có kết quả, mà sự lãnh đạo cũng hoá ra quan liêu.

Vì vậy, trong công việc chỉnh đốn Đảng, cũng như trong mọi công việc khác, quyết phải thực hành cách liên hợp sự lãnh đạo với quần chúng và liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng.

Phải dùng cách “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”.

Gom góp ý kiến và kinh nghiệm trong sự chỉ đạo từng bộ phận, đem làm ý kiến chung. Rồi lại đem ý kiến chung đó để thí nghiệm trong các bộ phận. Rồi lại đem kinh nghiệm chung và mới, đúc thành chỉ thị mới. Cứ như thế mãi.

Biết làm như vậy mới thật là biết lãnh đạo.

Bất kỳ công tác gì, chiến tranh, sản xuất, giáo dục, kiểm soát, v.v., cơ quan lãnh đạo cấp trên cần phải kinh qua những người phụ trách chung của cơ quan lãnh đạo cấp dưới, mỗi khi có việc gì liên quan đến một ngành hoạt động nào đó thuộc cấp dưới. Có như thế, mới đạt được mục đích phân công mà thống nhất.

Không nên một bộ phận nào đó thuộc cấp trên chỉ tìm thẳng dọc xuống bộ phận cùng loại thuộc những cơ quan cấp dưới (như ban tổ chức cấp trên chỉ tìm ban tổ chức cấp dưới, ban tuyên truyền cấp trên chỉ tìm ban tuyên truyền cấp dưới, v.v.), để liên lạc chỉ đạo theo hệ thống dọc, thành thử người phụ trách chung thuộc cơ quan cấp dưới, như thư ký, chủ tịch, chủ nhiệm, v.v., không biết đến, hoặc không phụ trách.

Phải cho cả người phụ trách chung và những người phụ trách bộ phận cấp dưới đều biết, đều phụ trách.

Một việc gì do người phụ trách chung chỉ huy, thì nhiều cán bộ hoặc tất cả cán bộ đều ra làm. Như thế tránh được cái tệ cán bộ không phụ trách, mà mọi người đều thành ra cán bộ cho công tác đó.

Đó cũng là một cách: người lãnh đạo liên hợp với quần chúng. Thí dụ: việc kiểm soát cán bộ trong một trường học. Nếu người lãnh đạo động viên số đông hoặc tất cả nhân viên và học sinh trong trường tham gia công việc kiểm soát, mà nhân viên trong ban kiểm tra cấp trên biết chỉ đạo đúng, theo cách “lãnh đạo liên hợp với quần chúng”, thì việc kiểm soát nhất định kết quả tốt.

Bất kỳ địa phương nào, cơ quan nào, thường trong một lúc có nhiều công việc trọng yếu. Trong một thời gian đó, lại có một việc trọng yếu nhất và vài ba việc trọng yếu vừa. Người lãnh đạo trong địa phương hoặc cơ quan đó phải xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngǎn nắp.

Đối với mỗi địa phương, mỗi cơ quan, người lãnh đạo cấp trên cần phải xét cho rõ tình hình, hoàn cảnh, và điều kiện cả địa phương hoặc cơ quan đó, mà quyết định việc gì là việc chính của thời kỳ nào. Khi đã quyết định, thì phải thực hành triệt để, cho đạt kết quả đã định.

Đó cũng là cách “lãnh đạo liên hợp với quần chúng”, chính sách chung liên hợp với chỉ đạo riêng.

Trên đây là những nguyên tắc lớn trong việc lãnh đạo.

Những cán bộ phụ trách phải theo nguyên tắc đó, đường lối đó mà làm. Đồng thời phải ra sức suy nghĩ, tìm tòi, để tǎng thêm sáng kiến của mình.

Công việc càng gay go thì sự lãnh đạo càng phải liên hợp chặt chẽ với quần chúng, càng phải liên hợp chặt chẽ chính sách chung với chỉ đạo riêng, để phá tan cách lãnh đạo lờ mờ, quan liêu, chủ quan, bàn giấy.

3. Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng

Dân chúng rất khôn khéo, rất hǎng hái, rất anh hùng.

Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng.

Vì vậy, mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng.

Mà muốn hiểu biết, học hỏi dân chúng, thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm, phải khiêm tốn, phải chịu khó. Nếu không vậy, thì dân chúng sẽ không tin chúng ta. Biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời.

Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được.

Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên.

Làm việc với dân chúng có hai cách:

1. Làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo.

Có nhiều cán bộ theo cách đó. Họ còn tự đắc rằng: làm như thế, họ vẫn “làm tròn nhiệm vụ”, làm được mau, lại không rầy rà.

Họ quên rằng: Đảng ta và Chính phủ ta làm việc là làm cho dân chúng. Việc gì, cũng vì lợi ích của dân mà làm. Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại.

2. Làm theo cách quần chúng. Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân chúng vui lòng ra sức làm.

Như thế hơi phiền một chút, phiền cho những người biếng học hỏi và giải thích. Nhưng việc gì cũng nhất định thành công.

Có người nói rằng: mọi việc họ đều phụ trách trước Đảng, trước Chính phủ. Thế là đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Họ phụ trách trước Đảng và Chính phủ, đồng thời họ phải phụ trách trước nhân dân. Mà phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ vì dân mà làm các việc, và cũng phụ trách trước nhân dân. Vì vậy nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ.

Nếu trong những chính sách, những chỉ thị, những khẩu hiệu của cấp trên, có gì khuyết điểm, cán bộ phải có tinh thần phụ trách trước nhân dân mà đề nghị những chỗ nên sửa đổi. Không làm như vậy, tức là cán bộ không phụ trách trước nhân dân, mà cũng không phụ trách trước Đảng và Chính phủ.

Việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân. Thế là phụ trách trước nhân dân.

Trái lại việc gì cũng dùng cách quan liêu, cũng chỉ ra mệnh lệnh, thế là không phụ trách trước nhân dân. Thế là đem hai chữ “mệnh lệnh” làm thành một bức tường để tách rời Đảng và Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Chính phủ.

Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân chúng, không để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh. Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi. Họ chỉ làm theo ý kiến của họ. Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất mãn.

Làm cách đó, thì dù việc đó có lợi cho dân chúng, nhưng một là vì không có ý kiến và lực lượng của dân chúng giúp đỡ nên làm không đến nơi đến chốn. Hai là vì dân chúng bị miễn cưỡng, nên không vui lòng. Ba là vì dân chúng không hiểu rõ, nên việc đó không được lâu dài, bền vững.

Vì vậy, việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc, và giải thích cho dân chúng.

Có người thường cho dân là dốt không biết gì, mình là thông thái tài giỏi. Vì vậy, họ không thèm học hỏi dân chúng, không thèm bàn bạc với dân chúng.

Đó là một sự sai lầm nguy hiểm lắm. Ai có sai lầm đó, phải mau mau sửa đổi. Nếu không sẽ luôn luôn thất bại.

Chúng ta phải biết rằng: lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng.

Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khǎn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra.

Kinh nghiệm các địa phương cho biết: nơi nào công việc kém, là vì cán bộ cách xa dân chúng, không cùng dân chúng bàn bạc, không giải thích. Nơi kha khá, là vì cán bộ biết giải thích, biết cùng dân chúng bàn bạc, nhưng chưa hoàn toàn. Nơi nào khá lắm là vì việc gì to nhỏ, cán bộ cũng biết giải thích, biết cùng dân chúng bàn bạc đến nơi đến chốn, dựa vào dân chúng.

Muốn dân chúng thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ phải thành tâm, phải chịu khó, phải khéo khơi cho họ nói. Do ý kiến và đề nghị lẻ tẻ của dân chúng, ta phải khéo gom góp lại, sắp đặt lại cho có ngǎn nắp, thứ tự rồi cùng dân chúng ra sức thi hành. Như vậy, vừa nâng cao trình độ của dân chúng, mà cũng nâng cao kinh nghiệm của mình.

Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh.

Họ so sánh bây giờ và họ so sánh thời kỳ đã qua. Họ so sánh từng việc và họ so sánh toàn bộ phận. Do sự so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thuẫn. Rồi lại do đó, họ kết luận, họ đề ra cách giải quyết.

Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy.

Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình.

Đối với cán bộ cũng vậy. Cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu, cán bộ nào có lầm lỗi mà có thể sửa đổi, ai làm việc gì hay, việc gì quấy, dân chúng cũng do cách so sánh đó, mà họ biết rõ ràng.

Vì vậy, để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Đồng thời, do sự dùi mài của dân chúng, cán bộ và dân chúng đều tiến bộ, lại do đó, cán bộ và dân chúng đoàn kết chặt chẽ thêm.

Cố nhiên, dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu.

Tuy vậy, khi đem vấn đề ra bàn trước dân chúng, họ đem các ý kiến khác nhau so sánh. So đi sánh lại, sẽ lòi ra một ý kiến mà mọi người đều tán thành, hoặc số đông người tán thành. ý kiến đó, lại bị họ so sánh tỉ mỉ từng đoạn, họ thêm điểm hay vào, bỏ điểm dở đi. ý kiến đó trở nên ý kiến đầy đủ, thiết thực.

Sau khi bàn bạc, so sánh, thêm thắt, thành một ý kiến đầy đủ, ý kiến đó tức là cái kích thước nó tỏ rõ sự phát triển trình độ của dân chúng trong nơi đó, trong lúc đó. Theo ý kiến đó mà làm, nhất định thành công. Làm không kịp ý kiến đó, là đầu cơ, nhút nhát. Làm quá ý kiến đó là mạo hiểm, hẹp hòi, “tả”.

Có nhiều cách hỏi ý kiến dân chúng. Nói chuyện với từng người. Nói chuyện với đông người. Khai hội, nói chuyện với tầng lớp này, nói chuyện với tầng lớp khác, với mọi tầng lớp.

Nếu ta chịu khó, chịu suy nghĩ, bất kỳ nói chuyện với ai cũng có ích cho tư tưởng của ta.

Cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo. Người cán bộ cũng phải dùng cách so sánh của dân chúng mà tự mình so sánh. Nghĩa là đem các ý kiến khác nhau để so sánh kỹ, phân tích kỹ các nội dung của các tầng lớp xã hội có cái ý kiến đó. Tìm ra mối mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau đó. Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai. Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng.

Thế gọi là: Tập trung ý kiến, ra sức thi hành.

So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học. Mỗi công việc, chúng ta đều phải làm như thế. Làm như thế mới tránh khỏi cái độc đoán, mới tránh khỏi sai lầm.

Nghĩa là: nói chuyện và bàn bạc với cán bộ như thế cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hǎng hái trong quần chúng. Nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hǎng hái trong quần chúng cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với nhân dân. Đó là một vấn đề rất trọng yếu cho cách làm việc của Đảng.

Từ trước đến nay, nhiều nơi công việc không chạy, chính vì cán bộ không thực hành theo nguyên tắc đó. Nếu không làm theo nguyên tắc đó, thì dù chính sách hay trǎm phần trǎm, cũng hoá ra vô dụng.

Chúng ta phải kiên quyết bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh. Chúng ta phải kiên quyết thực hành theo nguyên tắc sau đây:

1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.

2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.

3. Chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”. Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tuỳ hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó, và lúc đó, đưa ra tranh đấu.

4. Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hoá nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng. Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hoá nó thành cách chỉ đạo nhân dân.

5. “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”.

Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng.

X.Y.Z
(một trong những bút danh của Hồ Chủ tịch)

Trích chương V – Sửa đổi lối làm việc
NXB Sự thật xuất bản lần đầu 1948, xuất bản lần thứ 7 năm 1959.

Theo website Đảng Cộng sản Việt Nam

tuoitre.vn

Kỷ niệm báo Le Paria

Tranh biếm hoạ Nguyễn Ái Quốc vẽ trên báo Người cùng khổ

Một nǎm đã trôi qua kể từ khi báo Le Paria ra đời. Các bạn quan tâm đến số phận của tờ báo ngay từ buổi đầu, nhân dịp kỷ niệm này, cảm ơn tất cả những ai đã can đảm với diễn đàn nhỏ bé này, bảo vệ nhân dân các thuộc địa.

Các bạn mua dài hạn, các bạn quyên góp cho báo đến số gần đây được 645 phrǎng, hãy nhận lấy sự biết ơn chân thành của chúng tôi.

Chúng tôi đã không quá lạc quan đối với những điều dự đoán trước. Chúng tôi hiểu rõ sự nghiệp mà chúng tôi theo đuổi, đặt ra vô vàn khó khǎn. Một mặt, đông đảo dư luận châu Âu chưa được chuẩn bị để theo dõi đầy đủ quan điểm của chúng ta. Mặt khác, những người dân thuộc địa ở Pháp thường chưa quan tâm đến tình hình có quan hệ tới số phận đồng bào họ ở các thuộc địa đang phải đương đầu với mọi sự phiền nhiễu, với bạo lực của nhà cầm quyền ở địa phương, với sự bóc lột tư bản chủ nghĩa của những kẻ đi khai hóa. Cuối cùng, khoảng cách giữa Pari với châu Phi, châu Á, châu Mỹ rất xa. Những cuộc tiếp xúc giữa chúng tôi với nhân dân các thuộc địa mà Le Paria có trách nhiệm bảo vệ lại luôn luôn bị cản trở bởi những kẻ thống trị thuộc địa gây ra.

Nhưng phải thừa nhận rằng, chúng tôi đang đứng trước một điều lo lắng rất lớn. Chúng tôi đã tính trước rằng nhiệm vụ khẩn thiết của một tờ báo như tờ báo của chúng tôi là phải bảo vệ các anh em bản xứ. Việc đón nhận lấy nhiệm vụ đó đã dành cho Le Paria là đúng với điều mong muốn của chúng ta.

Sang nǎm thứ hai, chúng tôi muốn thực hiện những việc làm tốt đẹp hơn. Phải làm cho Le Paria xuất hiện trong một thời kỳ với những kết quả rực rỡ, có nhiều người tìm đến báo, với số lượng bản in tǎng hơn và số trang nhiều hơn trước. Tất cả những điều đó chỉ có thể thành sự thật nếu có được những nguồn dự trữ thích đáng. Vậy mà, không thể đòi hỏi một sự cố gắng cao hơn nữa đối với 5, 6 bạn đã nhận nhiệm vụ ngay từ đầu, đã chịu đựng từ 12 tháng qua. Có thể nói rằng riêng những việc in và gửi đi, giá 3 phrǎng mỗi số trong một nǎm là vừa phải. Để thuận tiện cho việc tuyên truyền cho tờ báo, lúc này chúng tôi thấy rằng không thể nâng giá lên ngay được.

Đối với tất cả những ai đọc báo, muốn báo sống lâu và lớn mạnh, hiểu nhiệm vụ của nó, nên mua dài hạn cho mình và vận động nhiều người mua dài hạn báo Le Paria. Cần phải làm cho trong vòng 2 hay 3 tháng tới đây, chúng ta có trên 1.000 độc giả, trên 1.000 người mua báo dài hạn. Chúng tôi cũng không ngần ngại nói ra việc quyên góp rất khiêm tốn cũng là một sự giúp đỡ rất quý báu đối với chúng tôi. Chúng tôi nói những điểm cuối cùng về các cộng tác viên. Le Paria là tiếng nói của quần chúng bị áp bức. Tất cả đều cung cấp tư liệu cho chúng ta, đều viết về chúng ta.

Các bạn Pháp, các đồng bào ở thuộc địa cư trú trên đất Pháp, các anh em bản xứ ở các thuộc địa, hãy đáp lại lời kêu gọi của chúng tôi.

Hãy làm việc cho Le Paria, cho sự diệt trừ chế độ độc đoán chống lại bọn cá mập thực dân!

Sự nghiệp giải phóng những người bị ngược đãi muôn nǎm!

Sự nghiệp giải phóng nhân dân bản xứ muôn nǎm!

NGUYỄN ÁI QUỐC
Báo Le Paria, số 14, tháng 5-1923.

tuoitre.vn