Thư viện

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ ngoại giao Việt – Nga

49

Tiếp tục đọc

Advertisements

Nguyễn Ái Quốc trên đất nước của Lê-nin (1923 – 1924)

Nguyễn Ái QuốcNgày 5/6/1911, với tâm nguyện “muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào”(1), người thanh niên 21 tuổi Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình tìm đường giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm. Người đã tới nhiều nước, làm nhiều nghề để sống và hoạt động cách mạng. Qua hoạt động thực tiễn trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới, Người đã gặp và tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy ở học thuyết Mác-Lênin con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Người quyết định đi theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên năm 1920.

Tiếp tục đọc

Sắc lệnh số 195-SL ngày 01 tháng 6 năm 1948 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, đế quốc xâm lược, giữa lúc cuộc kháng chiến vào giai đoạn khó khăn và quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được ý nghĩa quan trọng và to lớn của thi đua ái quốc. Để phong trào thi đua đạt được kết quả tốt, Người đã quan tâm tới việc xây dựng và tổ chức bộ máy, công tác chỉ đạo và đào tạo cán bộ cho phong trào, chính vì vậy, ngày 01/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 195 thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc. Sau đó, nhân kỷ niệm 1.000 Ngày Kháng chiến toàn quốc, ngày 11/6/1948, nhằm phát huy cao độ tinh thần yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi và chính thức phát động cuộc vận động thi đua ái quốc với mục đích: Diệt giặc đói; diệt giặc dốt; diệt giặc ngoại xâm với cách làm là dựa vào lực lượng và tinh thần của dân để đạt kết quả: Dân tộc độc lập – dân quyền tự do – dân sinh hạnh phúc.

Đã 65 năm trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử của Sắc lệnh và Lời kêu gọi thi đua ái quốc vẫn còn nguyên giá trị sâu sắc cho đến tận ngày nay và mãi về sau. Đó là động lực mạnh mẽ để cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sỹ và nhân dân cả nước nỗ lực phấn đấu, hăng hái thi đua, đoàn kết đồng lòng xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, phát triển, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, sánh vai với bạn bè quốc tế như Bác kính yêu vẫn hằng mong muốn.

Nhân kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2013), chúng ta cùng đọc lại toàn văn Sắc lệnh này.

Bai tong hop 2.1Sac lenh 1
Sắc lệnh số 195-SL ngày 01/6/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa v/v thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc Trung ương (TTLTQG III, P. Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 07, tờ 39).
Ảnh internet

Bai tong hop 2. 2ban hieu trieu quoc dan
Bản Hiệu triệu quốc dân thi đua ái quốc ngày 19/6/1948 của Ban Vận động thi đua ái quốc. (TTLTQG III, P. Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 130, tờ 52). Ảnh internet

Sắc lệnh được đánh trên nền giấy màu nâu, khổ 27cm x 17cm, cuối Sắc lệnh có chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 07, tờ 39.

Nội dung Sắc lệnh gồm 6 Điều, quy định thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc từ Trung ương đến khu, tỉnh, huyện, xã và thành phần của Ban Vận động, đồng thời cũng quy định nhiệm vụ của Ban vận động thi đua ái quốc các cấp.

SẮC LỆNH

CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 195 NGÀY 1 THÁNG 6 NĂM 1948
———————-

CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Chiểu theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ,

Sau khi Ban Thường trực Quốc hội đã thoả thuận,

RA SẮC LỆNH:

Điều 1

Nay thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc Trung ương. Ban này gồm có các đại biểu Chính phủ, Quốc hội và các đoàn thể nhân dân.

Điều 2

Các đại biểu nói trên do Sắc lệnh chỉ định.

Điều 3

Tại các liên khu, tỉnh, huyện và xã đều đặt Ban Vận động thi đua ái quốc.

Mỗi ban gồm có từ 3 đến 5 người trong đó có đại diện Uỷ ban Kháng chiến Hành chính, các đoàn thể nhân dân và nhân sĩ.

Tuy vậy, các Ban Vận động thi đua ái quốc cấp huyện và cấp xã, số người có thể ít hơn.

Điều 4

Các đại biểu trong các ban từ liên khu đến xã do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính cấp mình chỉ định.

Điều 5

Các Ban Vận động thi đua ái quốc các cấp có nhiệm vụ:

1- Vận động, đôn đốc, thu thập và phổ biến kinh nghiệm về việc thi đua.

2- Các Uỷ ban Kháng chiến Hành chính liên khu, tỉnh, huyện, xã đạt kế hoạch thi đua ái quốc cho địa phương mình. Nhưng có thể uỷ quyền ấy cho các Ban Vận động thi đua ái quốc cấp mình.

Điều 6

Các vị Bộ trưởng chiểu Sắc lệnh thi hành.

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

Huyền Trang (st)

Những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Với dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là sự kết tinh những gì tốt đẹp, ưu tú nhất của trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam. Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh của dân tộc, cho bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Tinh hoa của dân tộc, lương tâm và khí phách của thời đại đã được thể hiện chân thực và cảm động, trong sáng và đẹp đẽ, cao thượng và bất khuất qua con người, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Khi đã tìm thấy con đường cách mạng và nhận thức được chân lý của thời đại cách mạng nhờ giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, với sự thức tỉnh và cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã dồn tất cả nỗ lực và tinh lực của đời mình để thực hiện đến cùng lý tưởng và mục tiêu cách mạng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chủ đạo, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình đó, Người vừa học tập và nghiên cứu lý luận, vừa tham gia các phong trào đấu tranh chính trị của công nhân và lao động ở những nơi Người đi qua, đã trực tiếp lăn lộn và trải nghiệm suốt mấy thập kỷ trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Bằng con đường lao động, vô sản hóa, Người làm đủ mọi nghề, đi qua nhiều miền đất khác nhau, tham gia các sinh hoạt của công nhân, thợ thuyền, ở ngay sào huyệt của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân, Người có điều kiện quan sát trực tiếp tình cảnh sống của những người lao động dưới ách áp bức bóc lột tàn bạo của tư bản ở chính quốc đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Thực tiễn này đã giúp Người nhận rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản và thực dân, cũng như hình thành ở Người tình hữu ái giai cấp đối với những người cùng khổ. Cũng chính thực tiễn này đã cung cấp cho Người những căn cứ để xác minh một sự thật mà Người đã từng hoài nghi về “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” do giai cấp tư sản đưa ra. Người muốn hiểu rõ đằng sau những lời đẹp đẽ trong châm ngôn tư sản ấy, thực chất của nó là cái gì? Mười năm đầu trong cuộc đi tìm chân lý tại chính quê hương của chủ nghĩa tư bản đã đem lại cho Người những thu hoạch lớn, những kết luận chính trị quan trọng, tác động sâu sắc đến tư tưởng, quan điểm, đường lối của Người. Đó là, ở đâu đâu đế quốc tư bản thực dân cũng dã man, tàn bạo, cũng đầy rẫy những quan hệ phi nhân tính; ở đâu đâu những người lao động nghèo khổ, bần cùng cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau, họ phải được tập hợp lại, chủ động đấu tranh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”.

Trong quá trình tìm đường cứu nước cứu dân và định hình đường lối chính trị giải phóng, giành độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ hoạt động ở châu Âu, ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa, mà Người còn hoạt động ở phương Đông, châu Á, tìm hiểu thực tiễn các phong trào đấu tranh ở Trung Quốc và Thái Lan. Những cứ liệu từ thực tiễn đó giúp cho Người so sánh, phân tích, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các kết cấu kinh tế – xã hội, các mâu thuẫn giai cấp và dân tộc ở những khu vực địa chính trị tiêu biểu, nơi diễn ra những phân hóa và mâu thuẫn giai cấp, dân tộc rất khác nhau giữa phương Tây và phương Đông, giữa các nước tư bản châu Âu với các nước châu Á đang còn tồn tại rất nhiều tàn tích phong kiến và đang là đối tượng khai thác, nô dịch của chủ nghĩa thực dân.

Mối quan tâm đặc biệt nổi bật của Người là tình hình Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam khi đã mất độc lập chủ quyền và đang bị chủ nghĩa thực dân đè nén, thống trị. Do đó, đối với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu, khảo sát thế giới, khu vực và quốc tế cũng chỉ nhằm hướng tới giải phóng và phát triển dân tộc mình, đặt cách mạng Việt Nam trong phong trào cách mạng thế giới, sao cho phù hợp với trào lưu, xu thế chung của lịch sử thế giới và thời đại.

Bước ngoặt lớn trong sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là khi Người giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Chỉ có cuộc cách mạng này mới giải phóng được giai cấp vô sản, giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân, mới thực hiện được độc lập tự do, hoà bình và hạnh phúc cho các dân tộc.

Sự kiện lịch sử đánh dấu bước ngoặt đó là vào năm 1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua, Người đã cùng với những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân Pháp tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước tiến bộ, Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trở thành người chiến sĩ xã hội chủ nghĩa (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.241).

Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nghiên cứu, khảo sát trực tiếp tại nước Nga Xôviết của Lênin, thấy rõ sự sinh thành chủ nghĩa xã hội, nhất là những cải cách kinh tế với chính sách kinh tế mới (NEP) do Lênin khởi xướng làm hồi sinh nước Nga. Người có điều kiện nghiên cứu sâu hơn chủ nghĩa Lênin cũng như ảnh hưởng rộng lớn của Cách mạng Tháng Mười, mở ra thời đại mới – quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Những tư tưởng đó đã được Người nghiền ngẫm sâu sắc, đã củng cố và khẳng định niềm tin của Người về cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, lực lượng lãnh đạo cuộc cách mạng đó chỉ có thể là giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản. Như thế, từ 1911 đến 1920 là một thập kỷ Người tìm đường và đã thấy con đường sẽ đi. Từ 1920-1924 và sau đó từ 1925-1927 khi Người viết các tác phẩm lý luận, truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam, nhất là Đường Kách mệnh (1927), đó là một giai đoạn lịch sử đặc biệt, hình thành về cơ bản lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Người. Đó cũng là thời gian mà Người chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính dảng cách mạng kiểu mới ở Việt Nam. Tư tưởng và phương pháp cách mạng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện tập trung, cô đọng trong các văn kiện đầu tiên thành lập Đảng, do chính Người trực tiếp soạn thảo: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng, tháng 2-1930.

Các mốc thời gian và sự kiện sau đó phản ánh những hoạt động vô cùng phong phú, kiên định, tích cực sáng tạo, nhưng cũng đầy thử thách đối với Người. Chính thực tiễn lịch sử cách mạng đã là sự thẩm định khách quan, công tâm nhất đối với giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây thực sự là điểm nổi bật về sức sáng tạo vượt trước của Hồ Chí Minh, về bản lĩnh Hồ Chí Minh. Cho đến khi Người về nước (1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì tư tưởng, phương pháp cách mạng đầy sáng tạo của Người mới được khẳng định đầy đủ, nhanh chóng đi vào thực tiễn, đem lại lời giải đúng đắn nhất về lý luận để thúc đẩy cách mạng trong thực tiễn. Đó chính là chân giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Những sáng tạo và cống hiến lịch sử của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện ở những điểm nổi bật sau đây:

Một là, nhận thức sáng tạo về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Mác – Lênin. Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, Người nhận thấy một trong những ưu điểm đặc sắc nhất của lý luận Mác – Lênin là phép biện chứng. Đó là phép biện chứng của phát triển xã hội, là khoa học và cách mạng của sự phát triển, xóa bỏ trật tự xã hội cũ bất công, tàn bạo và hướng tới xây dựng trật tự xã hội mới, dân chủ, công bằng và nhân đạo, xứng đáng nhất với con người – đó là chủ nghĩa cộng sản. Người cũng đặc biệt đề cao học thuyết cách mạng của Lênin, cả trí tuệ khoa học, tính triệt để cách mạng lẫn đạo đức và nhân cách của người sáng lập ra học thuyết Đảng kiểu mới, lãnh đạo thành công cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử, biến chủ nghĩa xã hội từ một học thuyết lý luận thành hiện thực xã hội mới, một chế độ xã hội mới.

Người nhận rõ chủ nghĩa Mác – Lênin là biểu hiện và kết tinh tinh hoa trí tuệ và tư tưởng của thời đại, của văn hoá nhân loại. Song, Người cũng đặt ra một vấn đề hết sức nghiêm túc về nhận thức khoa học: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” (Sđd, t.1, tr.465). Người đặt vấn đề về sự cần thiết phải vận dụng quan điểm và phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác để xem xét sự khác nhau cơ bản giữa kết cấu kinh tế và kết cấu giai cấp – xã hội giữa phương Tây với phương Đông. Người cũng nêu rõ, mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay đổi phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không? và Người khẳng định, đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản. Người còn giải thích rằng, thật ra là có, vì sự Tây phương hóa ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông – nói cách khác, chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó (Sđd, t.1, tr.465). Nếu phân hoá giai cấp đã trở nên rõ rệt và đối kháng giai cấp từ sự phân hóa ấy là sâu sắc và gay gắt ở phương Tây trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông và Việt Nam lại không hẳn là như vậy. ở đây, nổi bật lên mâu thuẫn dân tộc và xã hội với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân từ bên ngoài xâm lược vào chứ không phải là mâu thuẫn giai cấp. Do đó, nếu giải phóng giai cấp và đấu tranh giai cấp như một đặc trưng nổi bật và là một đòi hỏi bức xúc ở phương Tây tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông, trong đó có Việt Nam lại nổi lên đặc trưng khác, đó là giải phóng dân tộc, là giải quyết mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân xâm lược để giành độc lập, xóa bỏ tình trạng thuộc địa và phụ thuộc dưới ách đô hộ, thống trị của thực dân.

Đó là lý do giải thích vì sao Người chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp trong dân tộc để tạo ra sức mạnh giải phóng. Trong khi tin tưởng chắc chắn rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác là đúng đắn không chỉ ở phương Tây mà còn ở phương Đông, Người còn có dự báo đầy mẫn cảm rằng, chủ nghĩa cộng sản dễ áp dụng và cách mạng cộng sản chủ nghĩa dễ thành công hơn chính trong thực tiễn phương Đông, châu Á và Việt Nam. Một trong những cơ sở luận chứng cho giả thuyết đó là sức đoàn kết dân tộc, truyền thống cộng đồng đã tỏ ra rất gần gũi với bản chất của chủ nghĩa cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn nêu ra một luận điểm rất khoa học và sáng tạo, tỏ rõ chính kiến độc lập đầy bản lĩnh của Người. Đó là, muốn áp dụng chủ nghĩa Mác, áp dụng lý thuyết cộng sản của Mác vào phương Đông và Việt Nam thì phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Sđd, t.1, tr.465). Người cũng xác định rằng, nhiệm vụ ấy đang đặt ra về mặt lý luận mà những người cộng sản phải đáp ứng.

Những luận điểm nêu trên được Nguyễn Ái Quốc nói rõ vào năm 1924, đủ thấy tư chất và bản lĩnh sáng tạo của người cộng sản trẻ tuổi với sức bay của tư duy và tư tưởng vượt trước thời đại như thế nào. Sau này, Người còn có nhiều luận điểm sáng tạo khác đối với việc nhận thức bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Có thể nêu một vài thí dụ tiêu biểu. Người nhìn nhận chủ nghĩa Mác – Lênin trong dòng chảy của sự tiến hoá tư tưởng, biết thâu thái tất cả những gì tiến bộ, ưu tú, tinh hoa của tư tưởng, văn hóa nhân loại để vừa hiểu rõ sự phong phú của tư tưởng, văn hoá nhân loại, vừa thấy sự phát triển nhảy vọt của những tư tưởng mácxít vốn không tách rời, không ở bên ngoài mà ở trong tổng số và tổng hợp của toàn bộ những giá trị tinh hoa đó. Chẳng thế mà, trong khi tin và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn rất trân trọng tư tưởng từ bi, bác ái của đạo Phật, khoan dung văn hoá cao cả của chúa Giêsu, tinh thần thực tiễn trong Tam dân chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là khoa học và cách mạng, mà còn là đạo đức và văn hóa. Người đã từng chỉ rõ, đọc hàng trăm, hàng nghìn quyển sách Mác – Lênin mà ăn ở với nhau không có tình có nghĩa thì làm sao gọi là Mác – Lênin được. Người cũng là nhà tư tưởng mácxít nổi bật nhất khi tiếp cận chủ nghĩa xã hội, tiếp cận nền chính trị của giai cấp công nhân và bản chất của đảng cộng sản từ góc độ đạo đức học và văn hoá đạo đức. Người nói, chủ nghĩa xã hội đối lập với chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, chính trị cốt ở đoàn kết và thanh khiết, Đảng là đạo đức, là văn minh.

Chân lý – một vấn đề của nhận thức luận khoa học – được Hồ Chí Minh mở rộng sang bình diện đạo đức học. Cái gì tốt cho dân, có lợi cho dân, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân, làm công bộc trung thành và tận tụy của dân là phục tùng chân lý cao nhất, là lựa chọn một lẽ sống cao thượng nhất.

Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đặc biệt chú trọng yêu cầu sáng tạo, không máy móc rập khuôn, muốn vậy phải hiểu rõ đặc điểm, hoàn cảnh và những điều kiện lịch sử cụ thể. Người căn dặn chúng ta phải chú ý học tập kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em, nhưng không được sao chép mà phải có tinh thần độc lập tự chủ. Người nói rõ, ta và Liên Xô rất khác nhau về trình độ phát triển, về lịch sử và văn hoá. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm khác với Liên Xô vẫn là người mácxít.

Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc thù của Việt Nam là điểm xuất phát về lý luận và thực tiễn, về ý thức hệ của Hồ Chí Minh. Đó chẳng những là cơ sở để có những phát kiến sáng tạo, những cống hiến của Hồ Chí Minh về tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự cống hiến đặc sắc của Người, góp phần làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin và kho tàng lý luận cách mạng thế giới.

Hai là, vạch trần bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân và nêu lên tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa phải phối hợp chặt chẽ với cách mạng vô sản ở chính quốc. Nguyễn Ái Quốc là người đã viết tác phẩm lý luận mácxít Bản án chế độ thực dân Pháp rất nổi tiếng vào năm 1925. Tác phẩm này là một tổng kết lịch sử, một cáo trạng đối với chủ nghĩa thực dân, để sau đó 20 năm, vào năm 1945, Người viết nên Tuyên ngôn độc lập, khai sinh chế độ dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam độc lập, đồng thời là cáo chung chế độ thực dân ở Việt Nam sau hơn 80 năm tồn tại của nó.

Người phân tích: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” (Sđd, t.1, tr.298). Cách mạng phải có sự phối hợp ở cả chính quốc và thuộc địa, giống như một con chim hai cánh, một cánh vỗ ở thuộc địa, một cánh vỗ ở chính quốc. Sự diễn đạt cụ thể và giản dị trên đây đã hàm chứa tư tưởng về tính triệt để của cách mạng chống chủ nghĩa tư bản, thực dân và tính tất yếu của sự phối hợp các phong trào cách mạng vì mục tiêu giải phóng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc và ở các nước tư bản chủ nghĩa. Đó là biểu hiện lập trường cách mạng triệt để và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trên toàn thế giới.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhận rõ, đối với những người lao động và vô sản ở khắp mọi nơi, dù màu da có khác nhau nhưng họ đều có chung một kẻ thù và cũng có chung một mục tiêu tranh đấu. Đế quốc thực dân ở đâu đâu cũng là ác quỷ, phải đánh đổ nó đi. Còn anh em vô sản ở đâu đâu cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau. Trên đời này, suy đến cùng, cũng chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản (Sđd, t.1, tr.266).

Người đề cập tới tình hình Đông Dương và những cơ sở cho sự chín muồi cách mạng ở đó. Đó vừa là những khẳng định khoa học, vừa là những dự báo chính trị mẫn cảm. Người viết: “người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương” (Sđd, t.1, tr.28). Theo đánh giá của Người, “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến. Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” (Sđd, t.1, tr.28). Cho đến khi, Luận cương của Lênin được Người hấp thụ như tìm thấy cẩm nang đi đường, Người đã xác định rõ ràng con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản.

Ba là, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp trên lập trường giai cấp công nhân. Trong những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, không phải tất cả những người cách mạng và yêu nước, dù đứng trên lập trường cộng sản, đã ý thức đầy đủ và thật sự quan tâm tới vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Song, đây lại là vấn đề cốt tử mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú ý, từ khi tham gia hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp. Người đã thẳng thắn phê phán thái độ thờ ơ hoặc lãng quên phong trào cách mạng ở thuộc địa và đòi hỏi Đảng Cộng sản phải xác định rõ trách nhiệm của Đảng đối với việc thúc đẩy và phối hợp hành động với các phong trào cách mạng ở thuộc địa. Người đã sớm đi đến một kết luận quan trọng: sự nghiệp giải phóng dân tộc phải đồng thời gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng xã hội; cả hai cuộc giải phóng đó đều là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, là sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Các bản tham luận nổi tiếng của Người tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (17/6 đến 8/7 năm 1924) đã chứng tỏ điều đó.

Những luận điểm sau đây cho thấy tính hệ thống và sự nhất quán của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới” (Sđd, t.1, tr.416). “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân trên thế giới”, “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (Sđd, t.9, tr.314).

Cái mới và bản lĩnh sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản là ở chỗ:

– Không tách rời giai cấp khỏi dân tộc.

– Giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân, trên nền tảng ý thức hệ của giai cấp công nhân nên cách mạng giải phóng dân tộc với mục tiêu giành độc lập dân tộc phải do giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cũng do đó, con đường tiến lên của dân tộc và của xã hội Việt Nam chỉ có thể là con đường xã hội chủ nghĩa, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội bằng cách quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Thực tiễn khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng và phát triển đã mở ra con đường phát triển tốt đẹp nhất cho dân tộc Việt Nam : Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng lý luận cho cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, đã tìm thấy con đường phát triển đúng đắn, hợp lý, có triển vọng nhất, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế phát triển của thời đại.

Bốn là, nhờ có lý luận và phương pháp cách mạng đúng đắn, Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng lãnh đạo nhân dân và dân tộc ta đánh bại chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và mới, đưa dân tộc ta vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong của thế giới, xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội cũng có những nét sáng tạo đặc sắc, có giá trị và ý nghĩa hiện đại, không chỉ với nước ta mà còn đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác trong loại hình “phát triển rút ngắn” và “quá độ gián tiếp”, do bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện từng bước từ dân chủ nhân dân tới chủ nghĩa xã hội.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có cả một hệ vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội, từ đặc trưng, bản chất, mục tiêu, con đường, phương thức, mô hình và bước đi cũng như những giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong sự kết hợp giữa tính phổ biến với tính đặc thù, tính giai cấp – dân tộc – nhân dân với tính thời đại và tính nhân loại trong thế giới đương đại ngày nay.

Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học bằng cách bổ sung một cách tiếp cận đạo đức học cũng đồng thời là một quan niệm cụ thể về chủ nghĩa xã hội. Người đã dự cảm từ rất sớm một vấn đề mà ngày nay ta càng thấy rõ tính hệ trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội: Không đánh bại chủ nghĩa cá nhân thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (Sđd, t.9, tr.291).

Cũng như vậy, không đảm bảo thực hành dân chủ rộng rãi thì không thể chống được quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng. Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội là đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Thành bại của chủ nghĩa xã hội tùy thuộc vào chỗ, những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là đội ngũ tiên phong có đủ dũng khí và quyết tâm để đánh thắng thứ “giặc nội xâm” mà Người coi là kẻ thù nguy hiểm nhất hay không? Do đó, chủ nghĩa xã hội không chỉ là kinh tế – một nền kinh tế phồn vinh, giàu có, một thể chế chính trị dân chủ – pháp quyền, đảm bảo quyền làm chủ thực chất của nhân dân, một xã hội công bằng, bình đẳng cho sự phát triển hài hoà cá nhân và cộng đồng, mà còn là một nền tảng đạo đức trong sạch, thấm sâu vào các quan hệ xã hội lành mạnh, một hệ giá trị văn hoá nhân bản, nhân đạo và nhân văn, kết hợp được truyền thống, bản sắc dân tộc với những tinh hoa của thời đại vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho mọi con người, mọi dân tộc.

Sự sâu sắc và tinh tế văn hóa, đặc biệt là văn hóa đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đem vào tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội một nhiệm vụ chiến lược – “trồng người”, đào tạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, coi đó là công việc gốc của Đảng; và thực hành đạo đức cách mạng được Người quan tâm suốt đời như một chiến lược, cả tư tưởng lẫn hành động. Chiến lược đó là cốt lõi của chiến lược con người, chiến lược xây dựng, phát triển, đồng thời là chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội, làm cho cách mạng, Đảng cách mạng, người cách mạng, có sức mạnh tự bảo vệ. Điều đó cho thấy, tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở tầm thời đại và hiện đại như thế nào, nhất là đem tư tưởng của Người soi rọi vào tình hình hiện nay cũng như trước những đòi hỏi mới của thời đại, trong xu thế toàn cầu hoá và trong bối cảnh hội nhập.

Người chỉ rõ, bản chất sâu xa và tính ưu việt nổi bật của chủ nghĩa xã hội là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Người khẳng định, không gì quý bằng dân, không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân, và dân chủ là quý báu nhất trên đời của dân. Là chủ thể gốc của mọi quyền lực, nhân dân phải là chủ sở hữu đích thực của dân chủ, phải là chủ xã hội, chủ nhà nước, kiểm soát được nhà nước của mình và xã hội phải là một xã hội dân chủ. Người còn nhấn mạnh, thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Vậy là, Người đã thấy vai trò động lực của dân chủ đối với tiến bộ và phát triển, đối với chủ nghĩa xã hội.

Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ khoa học, cách mạng mà còn là đạo đức, là văn hoá, tức là nhân văn. Người từng nói, chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học sẽ là nguồn sức mạnh vô tận, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận (Sđd, t.9, tr.131). Phải xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa sao cho đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày càng tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Tất cả đều nhằm vào hạnh phúc của nhân dân. Dân chỉ biết đến dân chủ khi dân được ăn no, mặc ấm. Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân vẫn cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì (Sđd, t.4, tr.152).

Mấu chốt của xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh là phải dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân. Việc gì có lợi cho dân phải quyết làm cho bằng được. Việc gì có hại tới dân phải quyết tránh cho bằng được. Quyền làm chủ của dân, hạnh phúc của dân, sự phát triển tự do, dân chủ, công bằng trong xã hội – đó là những giá trị đảm bảo cho chế độ phát triển bền vững và chủ nghĩa xã hội thực sự là một xã hội văn hoá cao, trong đó, con người là con người xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ và làm chủ, dân tộc trở thành một dân tộc thông thái. Chủ nghĩa xã hội nhân dân và nhân văn trong chiều sâu triết lý nhân văn chủ nghĩa của Hồ Chí Minh là ở đó. Trong những tư tưởng hàm xúc đó đã toát lên đầy đủ những vấn đề cốt yếu về mục tiêu, bản chất, động lực, cách làm và bước đi của chủ nghĩa xã hội. Đó là chủ nghĩa xã hội Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là một trong những cống hiến sáng tạo nổi bật của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Năm là, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện một quan hệ biện chứng, thấm nhuần sâu sắc quan điểm thực tiễn – phát triển và đổi mới. Những luận giải cô đọng, hàm xúc của Hồ Chí Minh cho thấy, độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện của chủ nghĩa xã hội, đó là nền tảng chính trị, là cơ sở dân tộc và chủ quyền nhân dân của chủ nghĩa xã hội. Theo đó, chủ nghĩa xã hội sinh thành, phát triển và hoàn thiện là đảm bảo thực chất, đầy đủ và bền vững nhất của độc lập dân tộc. Đó cũng là thước đo dân chủ và tự do của phát triển xã hội, một xã hội văn minh, hiện đại mà lịch sử tìm thấy sự biểu hiện tốt nhất ở chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội, đó cũng chính là cách thức tổ chức xã hội tốt nhất để làm cho Tổ quốc, đất nước, quốc gia – dân tộc trường tồn, con người cá nhân và cộng đồng xã hội được phát triển tự do, toàn diện mọi khả năng sáng tạo, được thụ hưởng hạnh phúc vật chất, tinh thần trong một môi trường lành mạnh, tốt đẹp nhất. Đó cũng chính là hàm ý sâu xa trong một chân lý lớn mà Hồ Chí Minh nêu ra: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Giá trị ấy cũng chính là chủ nghĩa xã hội, một chủ nghĩa xã hội phát triển thông qua đổi mới, sáng tạo và hiện đại hóa.

GS.TS Tô Huy Rứa
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TW Đảng,
Trưởng ban Tuyên giáo TW, Chủ tịch Hội đồng Lý luận TW
xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc và chấn hưng đất nước

(ĐCSVN)Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc ta. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng của Người là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là xây dựng đất nước đi đôi với giữ nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc

Lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước Việt Nam gắn liền với những cuộc đấu tranh của lớp lớp ông cha nhằm chống lại kẻ thù ngoại bang âm mưu chia cắt và nô dịch dân tộc ta. Trong lịch sử nhân loại, việc đấu tranh chống ngoại xâm không phải là đặc điểm riêng của một dân tộc nào, song thật hiếm có một dân tộc như Việt Nam, thường xuyên phải đấu tranh chống lại nhiều kẻ thù mạnh hơn để giành lại quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Quyền thiêng liêng ấy đã được Lý Thường Kiệt khẳng định từ thế kỷ XI, Nguyễn Trãi nhấn mạnh trong “Bình Ngô đại cáo”, thế kỷ XV.

Từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã xâm chiếm hầu hết các quốc gia ở Á, phi, Mỹ La tinh, nền độc lập của Việt Nam bị đế quốc Pháp tước đoạt, nước Việt Nam bị chia cắt thành 3 miền với 3 chế độ cai trị khác nhau. “Độc lập dân tộc và thống nhất đất nước” đã trở thành ước mơ, khát vọng cháy bỏng của mỗi người dân Việt. Lớp lớp văn thân, sĩ phu và những người yêu nước đã chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, tất cả các phong trào đấu tranh, các cuộc khởi nghĩa đều bị thất bại, bị dìm trong máu.

Cùng chung ước mơ, khát vọng của dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận ra, những hạn chế trong đường lối đấu tranh giành độc lập của các thế hệ cha ông, ”không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào”. Vượt qua những lối mòn cứu nước của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước. Vận mệnh của nước, của dân gắn bó mật thiết với một quyết định mà lịch sử đã chứng minh là sáng suốt phi thường. Trải qua gần 10 năm bôn ba nhiều châu lục, gắn bó với phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước và giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn. Từ đó, hoài bão mang lại độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào chi phối toàn bộ tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. Được hỏi về lý do bỏ phiếu tán thành Đảng Xã hội Pháp đi theo con đường Quốc tế Cộng sản, Quốc tế thứ ba, Hồ Chí Minh đã trả lời nữ đồng chí Rôdơ rằng: ”Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Cũng ngay tại Pa ri, khi Bộ trưởng thuộc địa Pháp Anbe Xarô gọi Hồ Chí Minh đến lấy cớ “hỏi thăm” để răn đe, Người đã thẳng thắn trả lời: ”Cái mà tôi cần trên đời này là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

Trước khi rời Pháp, tìm đường về nước, giữa năm 1923 Hồ Chí Minh đã viết thư gởi các bạn trong “Hội liên hiệp thuộc địa”, nêu rõ những nhiệm vụ sắp tới trong chuyến đi bí mật của mình là: ”Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Hồ Chí Minh khẳng định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, ”chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ để giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, Hồ Chí Minh đã khẳng định cách mạng trước hết cần có đảng cách mạng. Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác- Lênin ”làm cốt”, phải gắn bó máu thịt với nhân dân, phải đặt quyền lợi của toàn dân tộc lên trên hết. Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng là Người luôn dành cho yếu tố dân tộc một vị trí đặc biệt. Điều đó được thể hiện từ việc xác định các yếu tố cấu thành Đảng, xác định đường lối đến việc đặt tên Đảng. Theo đó, trong tiến trình cách mạng, nhất là ở những thời điểm có ý nghĩa quyết định như khi chuẩn bị Tổng khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám 1945 hay những năm tháng cam go của kháng chiến chống Mỹ sau này, Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh quyền lợi dân tộc, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ VIII, năm 1945 dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh đã xác định: ”Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cúng không đòi lại được”.

Đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh luôn là sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh khẳng định chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước, Người tìm ra những, lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là châu Âu, cách mạng thuộc địa có thể thành công trước cách mạng chính quốc. Đồng chí Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuất sắc nhất của Hồ Chí Minh cho rằng những người nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh rất hào hứng và thú vị, tìm thấy biết bao luận điểm độc đáo của Nguyễn Ái Quốc về sự nghiệp cách mạng ở các nước thuộc địa, nghĩa là xung quanh vấn đề độc lập dân tộc. Đồng chí Phạm Văn Đồng viết: ”Ở đây, người ta không thể không ngạc nhiên cao độ lúc Hồ Chí Minh khẳng định rằng cách mạng thuộc địa có thể diễn ra và thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc”.

Trong tiến trình lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sớm vượt trước các bậc tiền bối và những người cùng thời trong việc tập hợp lực lượng, tiên đoán và chớp thời cơ cho công cuộc giải phóng. Hồ Chí Minh đã đoàn kết tất cả các lực lượng trong nước, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ. Đây là điểm tựa vững chắc để làm lên những chiến- công – những “đại thành công” của người Anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh.

Khi Hồ Chí Minh đi xa, miền Nam chưa được giải phóng. Tuy nhiên, đường lối chống Mỹ và đặc biệt là giải pháp để kết thúc cuộc đụng đầu lịch sử này, đã được Hồ Chí Minh nêu lên trong ngày đầu tiên của năm 1969: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Niềm tin chiến thắng đã được Hồ Chí Minh khẳng định ”chắc chắn” trong “Di chúc” của Người.

Cần nhấn mạnh rằng, những chiến công giải phóng vĩ đại nhất của dân tộc ta: Cách mạng Tháng Tám 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu tháng 5- 1954, đặc biệt là sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng 4- 1975, đều gắn liền với những sáng tạo cách mạng, những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh. Đánh giá tổng quát công lao của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: ”Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

Hồ Chí Minh là người đi tiên phong trong công cuộc giải phóng thuộc địa. Đối với các dân tộc ở Á, Phi, Mỹ La tinh, Hồ Chí Minh là ”người thầy của nghệ thuật giành tự do độc lập”. Tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá lớn.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp chấn hưng đất nước

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc không thể tách rời chấn hưng đất nước. Vì vậy, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã chú ý đến việc khôi phục kinh tế chấn hưng đất nước. Với Hồ Chí Minh, thắng đế quốc phong kiến, thắng kẻ thù giai cấp là tương đối dễ, chấn hưng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa khó khăn hơn. Đây là cơ sở để Hồ Chí Minh đòi hỏi trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng phải mạnh hơn bao giờ hết, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới phương thức cầm quyền của Đảng. Cách đây 75 năm, năm 1930, Hồ Chí Minh đã cho rằng ”phương thức lãnh đạo quần chúng vô cùng quan trọng, Đảng phải hết sức quan tâm”. Đối với Hồ Chí Minh, phương thức lãnh đạo của Đảng liên quan chặt chẽ với kiện toàn tổ chức, sửa đổi, cải tiến lề lối làm việc, nâng cao tính tổ chức, kỷ luật, đạo đức cách mạng của toàn thể cán bộ, đảng viên.

Vấn đề cơ bản của các cuộc cách mạng là vấn đề nhà nước. Suốt đời mình, đặc biệt là 24 năm ( 1945 – 1969) trên cương vị là người đứng đầu nhà nước, Hồ Chí Minh đã hình thành một lý luận về nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: ”Để xây dựng chủ nghãi xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, chúng ta cần phải tăng cường sự lãnh đạo của giai cấp công nhân với nhà nước dân chủ cộng hoà”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước đã được Người hiện thực hoá trên đất nước ta. Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: ”Trên thực tế, Người đã thiết lập một chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân như Hiến pháp năm 1946 đã ghi”. Nhà nước ấy là nhân tố quan trọng nhất trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, chấn hưng đất nước.

Trong sự nghiệp chấn hưng đất nước, phát triển kinh tế trở thành nhiệm vụ trung tâm. Từ sau tháng 7- 1954, đến trước khi qua đời, từ những bối cảnh và cách tiếp cận khác nhau, Hồ Chí Minh nhiều lần chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách, quan trọng nhất đối với nước ta là biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, có nông nghiệp hiện đại, công nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học kỹ thuật tiên tiến. Người khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”. Phát biểu tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ chín (khóa II), tháng 4 năm 1956 Hồ Chí Minh chỉ rõ: ”Phải luôn luôn nhớ rằng điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay là nhằm cải thiện dần đời sống của nhân dân”. Quan điểm trên được Hồ Chí Minh chốt lại trong “Di chúc”: ”Đảng cần phải có kế hoạch thật tối để phát triển kinh tế và văn hoá nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế, về các thành phần kinh tế trong đó kinh tế quốc doanh ”là kinh tế lãnh đạo và phát triển hơn cả” vẫn có ý nghĩa thời sự đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay.

Hồ Chí Minh khẳng định để giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, chấn hưng đất nước mỗi người Việt Nam cần phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đồng thời tranh thủ đến mức cao nhất đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, yêu chuộng hoà bình, dân chủ trên thế giới, kết hợp chặt chẽ nội lực với ngoại lực, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Cách đây hơn 80 năm, ngay trên đất pháp, Hồ Chí Minh đã nói: “Tổ tiên ta đã treo bao tấm gương đạo đức và dũng cảm, chí khí và tự tôn”. Tấm gương chí khí, tự tôn ấy được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển lên tầm cao và chiều sâu mới. Nếu trong đấu tranh giành chính quyền ở vào thời điểm quyết định, tháng Tám 1945, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta thì trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, chấn hưng đất nước. Người đòi hỏi: ”Dân ta phải giữ nước ta”. Khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh vạch rõ: ”Trước đây nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến, thì ngày nay lại càng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh cần kiệm xây dựng nước nhà”. Người nhắc nhở mỗi chúng ta đã là người chủ thì phải tự mình biết lo toan gánh vác, không ỷ lại ngồi chờ, mỗi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nước nhà, ai cũng phải là một chiến sĩ dũng cảm phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh cho rằng độc lập, tự do có quan hệ chặt chẽ với tự lực, tự cường. Theo Người có tự lực mới độc lập, có tự cường mới tự do. Hồ Chí Minh khẳng định: ”Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác đến giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.

Khôi phục và phát triển kirth tế chấn hưng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, bị chiến tranh tàn phá nặng nề là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Trong điều kiện đó việc tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của các nước, nhất là những nước có trình độ kinh tế, kỹ thuật phát triển trở nên cần thiết và cấp bách. Thực tế cho thấy, Hồ Chí Minh đã sớm hình thành những quan điểm hợp tác, đoàn kết, mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đúng đắn.

Chưa đầy 2 tháng sau Tuyên ngôn độc lập, ngày l/11/1945 Hồ Chí Minh đã nhân danh Hội văn hoá Việt Nam, nhân danh tất cả các kỹ sư, luật sư, giáo sư và trí thức Việt Nam gởi tới Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lời đề nghị được gửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định một mặt, thiết lập những mối quan hệ văn hoá thân thiết với thanh niên Mỹ và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”.

Cuối năm 1946, Hồ Chí Minh gởi thư tới Liên Hợp quốc nêu bật quan điểm: Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực, dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, kỹ thuật nước ngoài vào tất cả các ngành kỹ thuật của Việt Nam, đồng thời Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế. Hồ Chí Minh chỉ rõ cần ”có những sự thương lượng để dung hoà quyền lợi của cả hai bên”, để có thể ”mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu đến giúp chúng ta trong việc kiến thiết quốc gia”.

Mối quan hệ giữa độc lập tự chủ , tự lực cánh sinh với hợp tác, ủng hộ, giúp đỡ quốc tế được Hồ Chí Minh luận giải khá sâu sắc. Theo Người : ”Ta được các nước bạn giúp là có thêm điều kiện tự lực cánh sinh”. Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta, ta phải khéo dùng số vốn ấy để bồi bổ lực lượng, phát triển khả năng của ta, tuyệt đối không ỷ lại, đợi chờ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nói riêng, vẫn là nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho hành động đối với sự phát triển của Việt Nam trong thế kỷ XXI.

3. Tiếp nối sự nghiệp giải phóng dân tộc, chấn hưng đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Từ quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông, trong thời đại mới, Hồ Chí Minh khẳng định con đường phát triển của Việt Nam chỉ có thể là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: ”Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn xác định lý tưởng và mục tiêu phấn đấu của cách mạng nước ta là độc lập dân tộc gắn liền vời chủ nghĩa xã hội”. Mục tiêu và lý tưởng đó luôn được quán triệt trong chủ tương, đường lối và thể hiện sinh động trong thực tiễn gần 20 năm đổi mới.

Đại hội VI, Đại hội đổi mới đòi hỏi: ”Chúng ta phải thấu suốt và thực hiện đúng quan điểm ”Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, ”Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”.

Trong xây dựng và chấn hưng đất nước thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta nhất quán quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm. Gần 20 năm qua, trí tuệ, sức lực của toàn Đảng, toàn dân tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực này, nên kết quả đạt được là to lớn. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ chín (khoá IX), Hội nghị có nhiệm vụ kiểm điểm nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, đồng thời chỉ ra những hạn chế, yếu kém, mục tiêu và giải pháp thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội trong những năm còn lại, đã nêu lên 4 kết quả quan trọng nhất:

l.Nền kinh tế đã vượt qua giai đoạn suy giảm, đạt mức tăng trưởng khá cao, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số lĩnh vực và sản phẩm có chuyển biến.

2.Cơ cấu của nền kinh tế tiếp tục có bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá và từng bước hiện đại hoá, phát huy các lợi thế so sánh.

3.Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế, có tiến bộ đáng kể trong việc phát huy các nguồn nội lực của đất nước, của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển, đồng thời tiếp tục mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế.

4.Thể chế kinh tế tiếp tục được đổi mới, đang tiếp tục hình thành và phát triển các loại thị trường.

Cần nhắc lại rằng những thành tựu kinh tế nêu trên không thể tách rời việc Đảng, Nhà nước ta quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh. Ngay cả trong lĩnh vực kết hợp nội lực với ngoại lực cũng thể hiện điều đó. Văn kiện Đại hội IX viết: ”Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước”.

Bên cạnh những thành tựu, nền kinh tế nước ta vẫn còn những yếu kém cần phải khắc phục. Đó là tốc độ tăng trưởng chưa đạt mục tiêu Đại hội IX đề ra, chưa tương xứng với mức tăng đầu tư và tiềm năng của nền kinh tế, sức cạnh tranh thấp, kinh tế phát triển chưa bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, nhất là hiện đại hoá còn chậm, việc thực hiện chính sách phát triển các thành phần kinh tế còn thiếu nhất quán… Để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, để có thể bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu như Hồ Chí Minh đã đặt ra cách đây 60 năm, chúng ta phải cố gắng nhiều hơn trong phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng, Nhà nước ta nhấn mạnh giáo dục và đào tạo cùng với khoa học-công nghệ là quốc sách hàng đầu, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội. Chủ trương đúng đắn ấy đã đưa lại những kết quả quan trọng:

1.Giáo dục, đào tạo, khoa học-công nghệ có bước phát triển mới.

2.Phát triển văn hoá, xây dựng đời sống văn hoá và nếp sống văn minh, có tiến bộ ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước.

Tuy vậy, những hạn chế trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và văn hoá mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ chín (khoá IX) chỉ ra cũng rất đáng được quan tâm:
Một là, sự phát triển của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chưa tương xứng với quốc sách hàng đầu.
Hai là, nhân tố văn hoá và con người trong phát triển chưa được nhận thức đầy đủ và chưa được coi trọng đúng mức ở nhiều cấp, nhiều ngành.

Có thể nói, gần đây nhận thức của Đảng về nhân tố văn hoá có bước phát triển. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ chín (khoá IX), Đảng ta cho rằng: ”Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chết”. Đến Hội nghị lần thứ mười (khoá IX), tháng 6-2004, Đảng chỉ rõ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội. Sự gắn kết chặt chẽ kinh tế, chính trị, văn hoá như trên là phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Cách đây gần nửa thế kỷ, năm 1956, Hồ Chí Minh đã nói khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá cần rất nhiều cán bộ. ”Vậy phải đào tạo cán bộ, cán bộ phải có văn hoá làm gốc”.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đối với nước ta, dựng nước đi đôi với giữ nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt tư tưởng đó, Văn kiện Đại hội IX viết: ”Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc”. Trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong những năm đổi mới đã đạt một số kết quả sau đây:

Một là, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với lực lượng vũ trang.

Hai là, tiếp tục xây dựng quân đội và công an nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, vững vàng về chính trị, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Đảng và nhân dân.

Ba là, xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là ở những vùng trọng điểm.

Bốn là, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giải quyết có hiệu quả các vụ, việc đột xuất, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tội phạm, góp phần bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam, người khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới. Trong quá trình đó, Đảng luôn xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt và ngày càng quan tâm hơn tới tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân mình. Thực tế cho thấy, còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên cấp cao suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Tuy vậy, thành tựu quan trọng của sự nghiệp đổi mới đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam -Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

Trước khi qua đời, Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta điều mong muốn cuối cùng của Người là: “Toàn Đảng, toàn dân xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Đổi mới trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là để thực hiện điều mong muốn trên đây của Hồ Chí Minh một cách đúng đắn nhất, có hiệu quả nhất.

PGS.TS Vũ Đình Hoè
Phó giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương nỗ lực thực hiện các biện pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, đẩy lùi nạn đói năm 1945

Trên cương vị là người đứng đầu Chính phủ cách mạng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đói nghèo cũng là một thứ giặc nguy hiểm như giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Theo Người: “Nước nhà đã giành được độc lập tự do mà dân vẫn còn đói nghèo cực khổ thì độc lập tự do không có ích gì”. Trước tình hình này, Chính phủ đã đưa ra chủ trương phải diệt “giặc đói” và có nhiều sáng kiến được thực hiện. Nhờ đó, nguy cơ “giặc đói” đã được giảm dần, song để xoá bỏ nạn đói từ gốc, điều cơ bản là phải phát triển sản xuất.

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Người đã nêu sáu vấn đề cấp bách trong đó cứu đói là một trong sáu nhiệm vụ khẩn cấp hàng đầu. Người nói: “Nhân dân đang đói… Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói … Những người thoát chết đói nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống”.

Người đã nêu ra biện pháp khắc phục: “Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất…”. Trong bài viết “Gửi nông gia Việt Nam” in trên báo “Tấc đất” (12/1945) (Một tờ báo ra đời nhằm tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nhân dân tăng gia sản xuất), Bác nói: “Thực túc thì binh cường. Cấy nhiều thì khỏi đói. Chúng ta thực hiện tấc đất tấc vàng thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó. Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do độc lập”.

Để tăng gia sức sản xuất nông sản, cuối năm 1945, Bộ trưởng bộ Quốc dân kinh tế đã ra một loạt các bản Nghị định, Thông tư, Thông cáo về vấn đề này, đó là Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp (26/10/1945), Nghị định số 41 BKT bắt buộc các điền chủ có ruộng đất giồng mầu phải khai với Uỷ ban Nhân dân hàng xã (15/11/1945), Thông tư số 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu (21/11/1945), Thông cáo về việc hô hào các nhà tư bản đem tiền gửi vào các Nông phố Ngân quỹ, Nghị định liên bộ số 103 (Nội vụ và Canh nông) thiết lập một tiểu ban canh nông tại mỗi tỉnh, phủ, huyện, châu, xã (20/11/1945).

Dưới đây là các văn bản được đề cập:

Nguồn: Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

Các văn bản đã tập trung vào những vấn đề lớn cần giải quyết nhằm chấn hưng nông nghiệp, đó là: tình thế hiện thời, cảnh quẫn bách của nông dân, những ruộng hoặc đồn điền vô chủ và vấn đề di dân.

Về tình thế hiện thời, Chính phủ xác định: một nạn đói thảm khốc vừa qua, một nạn đói khác lại đang sắp hoàn hành, tám tỉnh Bắc bộ bị lụt, “làm thiệt hại ước chừng 27 vạn 4 nghìn tấn thóc chiêm, tiếp theo nạn hạn – nạn hán đã kéo dài từ hai tháng nay, vụ mùa sắp tới đây, tại Bắc bộ, rất đáng lo ngại: 60 phần trăm mùa màng chắc chắn bị hỏng, vì lẽ thiếu nước, hay côn trùng cắn hại bông lúa.”(1) “còn trong Nam Bộ vì giá gạo năm ngoái quá rẻ, nên ít nhiều điền chủ không chịu cày cấy. Và hiện nay đồng bào ta đang kháng chiến với bọn thực dân Pháp nên số thóc gạo sản xuất sẽ lại hao hụt nhiều. Việc tiếp tế cho Trung và Bắc Bộ sẽ gặp nhiều sự khó khăn hoặc có thể bị gián đoạn.”(2)

Dân quê nghèo thì yên chí rằng số thóc gạo của nhà giầu (điền chủ Pháp kiều hoặc Việt Nam) sẽ đem chia cho dân cày cấy.

Các chủ ấp, chủ đồn điền thì hồi hộp e sợ, không biết cày cấy có được gặt không, bỏ vốn ra khai khẩn có được thu lợi không. Đến những người có ít ruộng cũng có những mối lo ngại như vậy…”(3)

Chừng ấy khó khăn đã đẩy chúng ta vào tình thế: “nếu ta không tìm ngay phương sách cấp cứu đem ra thi hành cấp tốc, thì e rằng nạn đói sẽ không tránh khỏi và sẽ khủng khiếp hơn là nạn xâm lăng hiện thời của bọn thực dân Pháp tại Nam Bộ.”

Chính phủ đã chỉ đạo Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, huyện, xã kế hoạch giải quyết: “là tăng gia sức sản xuất nông sản bằng kế hoạch chấn hưng nông nghiệp”.(4)

Về tâm lý bấp bênh của nông dân cũng như của các chủ ấp, chủ đồn điền làm cho họ chưa thực sự muốn bắt tay vào cày cấy thì Chính phủ đưa ra những quyết sách rất rõ ràng để trấn an như sau:

“ Những điền sản và hoa lợi không bị đem chia. Ai cày cấy sẽ được gặt, ai giồng giọt sẽ được thu hoa lợi;

Nông dân phải bình tĩnh nghĩ đến nạn đói rét sắp tới mà cố làm ăn, không nên vì thời cuộc mà sao nhãng việc cày cấy, giồng giọt…

Uỷ ban Nhân dân cần phải để ý, bài trừ những tin đồn nhảm phản đối chính sách khuyến nông của Chính phủ; và hết sức tuyên truyền cổ động để nông dân từ nghèo đến giầu ai cũng yên lòng làm ăn, tin ở Chính phủ và nhiệt tâm hợp tác với các cơ quan của nha Nông Mục Thuỷ Lâm.”(5)

Về cảnh quẫn bách của nông dân, Bộ trưởng bộ Quốc dân kinh tế đưa ra phương án giải quyết là “khuyến khích” và “giúp đỡ”:

“Khuyến khích dân quê và thành thị nên ra sức giồng giọt, không nên bỏ một tấc đất nào… Thứ gì ăn được nên cố sức giồng… Phải làm cho dân hiểu rằng từ nay đến tháng tư, tháng năm… nhiều tỉnh đồng bào thiếu ăn nhiều lắm. Một mảnh đất giồng bột, giồng sắn… cũng sẽ cứu được bao mạng người.”

“Giúp đỡ nông – dân bằng mọi phương – diện.Để giúp vốn cho nông dân, các nông phố, ngân hàng và bình dân ngân quỹ đã được lệnh cho nông dân vay dễ dàng và nhanh chóng hơn trước… Uỷ ban Nhân dân nên cổ động để các nhà tư bản đem gửi tiền vào bình dân ngân quỹ, vì đó là một cách gián tiếp giúp nông dân có vốn cày cấy.”(6)

“Dùng tiền như thế, các nhà tư bản sẽ vừa làm trọn nghĩa vụ của mình đối với đồng bào, lại vừa có lời nữa, là vì đến kì hạn thu lại vốn, người gửi tiền sẽ được hưởng một số lãi tính như sau này…”(7)

“… Chính phủ có thể khuyến khích các nhà giầu có sẵn giống cho nhà nghèo vay, hoặc khuyên các điền chủ nên gieo nhiều mạ chiêm để sau này bán cho nơi thiếu. Ở một vài nơi khó khăn, Chính phủ có thể đảm nhận công việc vay ở những nơi thừa rồi cho vay lại những nơi thiếu… Để ngăn ngừa nạn dịch trâu bò, sở thú y đã tìm cách cấp tốc chế thuốc tiêm trừ dịch. Nhưng ta cũng nên phái ngay những nhân viên chuyên môn đi các nơi truyền bá những môn vệ sinh thường thức để phòng bệnh đó hoặc để ngăn ngừa các bệnh đó đỡ bành trướng.”(8)

Để khẩn cấp đẩy lùi nạn đói, một trong những việc làm được coi trọng trước mắt nữa là “cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng mầu”: “…giồng màu…quốc dân có thêm thực phẩm thay thóc gạo để ăn và sống qua được mấy tháng giêng, hai, ba, tư là những tháng giáp hạt đáng lo ngại nhất.”(9)

Ngoài ra, Chính phủ chỉ thị cho các huyện lỵ, phủ lỵ hay tỉnh lỵ nên “thành lập một hoặc nhiều khu giồng màu công cộng, mục đích để thu hoa lợi dùng vào việc tiếp tế hoặc cứu tế”.(10)

Đối với những ruộng hoặc đồn điền vô chủ, Uỷ ban Nhân dân sẽ giảm cho họ 25% số thóc thu được giữ lại làm của công dưới sự kiểm soát của một “Uỷ ban điều tra về đồn điền và đất hoang” sẽ lập ra sau này… “Còn số thóc tá điền được hưởng, Uỷ ban nhân dân có nhiệm vụ ra lệnh cho người khác phải trọng quyền lợi của họ. Vì rằng nếu tá điền không được hưởng số thóc đó thì họ sẽ không trông nom và vụ sau khó có người cày cấy”

“… Các ruộng đất có thể cấy vụ chiêm này hoặc giồng màu nhưng hiện nay hãy còn bỏ hoang vì chủ ruộng đã xiêu bạt phương xa hoặc đã chết rồi thì Chính phủ cho các nông dân còn ở lại mà có sẵn vốn để làm ăn, được phép cày cấy giồng giọt. Chính phủ coi họ như đã mua mầu những ruộng đó trong hạn một năm nhưng không phải trả tiền chỉ phải khai trước với Uỷ ban Nhân dân địa phương.

… Các đồn – điền giồng cây lâu năm như chè, trầu, cao su… nếu có những đồn – điền hạng này vô chủ thì phải có những phương pháp bảo thủ không nên để cho dân chúng phá hoại. Uỷ ban Nhân dân nên giải thích cho dân hiểu rằng những nông sản này là những tài nguyên của nước mình. Giữ được, nước ta sẽ có hàng bán ra nước ngoài để mua hàng khác, dân ta sẽ có công việc làm…”(11)

Đối với vấn đề di dân, Chính phủ yêu cầu: “Muốn cứu những miền đói, ta có thể vận tiền, vận thóc ở các nơi khác đến tiếp tế cho họ. Nhưng ta cũng có thể đem dân đói đến những nơi có đồn điền bỏ hoang. Số thóc hoặc hoa lợi U.B.N.D thu được từ trước hoặc sắp thu được sẽ đem cứu tế hoặc cho vay để làm vốn lúc đầu. Ruộng bãi, thì đã có sẵn để họ có thể sinh nghiệp được ít nhất là một năm. Nhà ở, họ cũng có thể có sẵn ở các ấp hoặc các đồn – điền ấy. Vậy chỉ cần cấp cho họ ít lương ăn đường và ít nông – cụ.

Như vậy ta sẽ giúp cho dân nghèo có công ăn việc làm trong lúc đói kém và khiến cho ruộng nương đồi bãi bớt hoang phế trong lúc chờ đợi.”(12)

Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp; Nghị định số 41 BKT bắt buộc các điền chủ có ruộng đất giồng mầu phải khai với Uỷ ban Nhân dân hàng xã; Thông tư số 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu; Thông cáo về việc hô hào các nhà tư bản đem tiền gửi vào các Nông phố Ngân quỹ, Nghị định liên bộ số 103 (Nội vụ và Canh nông) thiết lập một tiểu ban canh nông tại mỗi tỉnh, phủ, huyện, châu, xã thực sự có ý nghĩa hết sức to lớn trong bối cảnh lúc bấy giờ. Các văn bản trên cơ sở phân tích thấu đáo, đánh giá sâu sắc tình hình thực tiễn đã vạch ra được những biện pháp tháo gỡ khó khăn. Nhờ đó trở thành kim chỉ nam định hướng cho các tỉnh, huyện, xã trong khôi phục nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân, đẩy lùi nguy cơ một nạn đói mới đang đến gần.

Nhờ đó, chúng ta đã thu được kết quả lớn chỉ sau một thời gian ngắn. Nhiều quãng đê bị vỡ đã được gia cố lại, đắp thêm một số đê mới. Cho đến đầu năm 1946, công tác đê điều đã hoàn thành. Vụ thu lúa chiêm năm 1946 ở Bắc Bộ đã tăng hơn vụ chiêm năm 1945 khoảng 100.000 tấn. Vụ mùa năm 1946 ở Bắc Bộ đã sản xuất trên một diện tích 890.000 ha với sản lượng 1.155.000 tấn lúa. Nạn đói bị đẩy lùi, đời sống nhân dân dần dần được ổn định. Đây “thực là một kì công của chế độ dân chủ”.(13)

Thật vậy, với tay người Việt Nam, sỏi đá đã thành cơm, rừng rậm thành vườn… (14)

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của mặt trận nông nghiệp. Những năm gần đây, trên con đường hội nhập và phát triển, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vấn đề an ninh lương thực vẫn luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nhờ đó, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn: kinh tế nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân được cải thiện, diện mạo nông thôn thay đổi rõ rệt./.

Th.S Nguyễn Hồng Nhung – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I

Chú thích

1.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
2.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115.
3.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115.
4.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
5. Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115
6.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115
7.Thông cáo của bộ Quốc dân Kinh tế về việc hô hào các nhà tư bản đem tiền gửi vào các Nông phố Ngân quỹ. Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 148.
8.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 115 – 116.
9.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
10.Thông tư 577 BKT về phương pháp cấp tốc khuyếch trương mọi việc giồng màu, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 147.
11.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 116.
12.Thông tư về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp, Việt Nam Dân quốc công báo, năm 1945, tr. 116.
13.Võ Nguyên Giáp, Báo Cứu quốc, ngày 5/9/1946, dẫn theo Lê Mậu Hãn, Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, NXB Giáo dục, 2005, tr. 30.
14.Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Trần văn Giàu, NXB Giáo dục, 1996, tr.300.

archives.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp thống nhất đất nước

Nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất đã gần 40 năm. Thành tựu vĩ đại này phải trả bằng trí tuệ và máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam. Mỗi chúng ta, những ai nhận mình là con dân nước Việt, con Lạc, cháu Hồng đều đã góp phần công sức vào thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại đó. Cần khẳng định rằng, Hồ Chí Minh là người đi tiên phong, người có công lao lớn nhất trong sự nghiệp này.

1.Hồ Chí Minh vạch trần chủ trương, chính sách, biện pháp chia cắt đất nước của các thế lực xâm lược và tay sai của chúng

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, trong nhiều tác phẩm bài nói, bài viết, đặc biệt là Bản án chế độ thực dân Pháp và những bài có tiêu đề Đông Dương, Hồ Chí Minh tố cáo chính sách “chia để trị” của Pháp đối với Đông Dương và Việt Nam. Cách đây hơn 70 năm, Hồ Chí Minh đã thấy rõ tâm địa thực dân: “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi châm ngôn “chia để trị” của nó. Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói đã bị chia năm sẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng làm nguội tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau. Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại lập nên một “liên bang” gọi là “Liên bang Đông Dương”

Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh một lần nữa vạch rõ những âm mưu thâm độc, “những luật pháp dã man” của thực dân Pháp: “Chúng lập ba chế độ khác nhau của Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết”. Cũng trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh khẳng định toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững độc lập thống nhất. Đối với Hồ Chí Minh, độc lập tự do gắn bó chặt chẽ với sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Bắc, Trung, Nam là một, không thể phân chia.

Mấy ngày sau Tuyên ngôn độc lập, những binh lính Pháp đầu tiên đã quay lại Nam Bộ. Ngày 23-9-1945, quân đội Pháp được sự giúp đỡ của quân Anh đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Hành động quân sự này đi liền với âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam. Hồ Chí Minh đã kịp thời phê phán những âm mưu, hành động đó và nhiều lần khẳng định: Nam Bộ là một bộ phận của nước Việt Nam, không ai có quyền chia rẽ, không một lực lượng nào có thể chia rẽ. Không chỉ ở trong nước mà ngay từ lần thăm nước ngoài đầu tiên, với tư cách là người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh cũng thẳng thắn vạch rõ âm mưu chia cắt đất nước của kẻ thù. Ngày 12-7-1946, trong cuộc họp báo tại Pháp, trả lời câu hỏi: “Nếu Nam Kỳ từ chối không sát nhập vào Việt Nam, Chủ tịch sẽ làm thế nào?”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nam Kỳ cùng một tổ tiên với chúng tôi, tại sao Nam Kỳ lại không muốn ở trong đất nước Việt Nam”? Người Baxcơ, người Brơtôn không nói tiếng Pháp mà vẫn là người Pháp. Người Nam Kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao lại còn nghĩ đến sự cản trở việc thống nhất nước Việt Nam?”. Cũng trong cuộc họp báo này, Hồ Chí Minh một lần nữa nhắc lại quan điểm của Chính phủ và nhân dân Việt Nam về vấn đề Nam Bộ: Nam Bộ là đất Việt Nam “đó là thịt của thịt Việt Nam, máu của máu Việt Nam”1

Thất bại tại Điện Biên Phủ, thực dân Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam. Ngay trước khi Hiệp định Giơnevơ được ky kết, ngày 15-7-1954, báo cáo tại Hội nghị lần thứ sáu (khoá II), Hồ Chí Minh vạch rõ: “Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào”. Âm mưu chia cắt lâu dài đất nước của kẻ thù mới thâm độc, xảo quyệt hơn, trắng trợn, lộ liễu hơn. Nhưng tất cả mọi âm mưu thủ đoạn đó đều bị Hồ Chí Minh vạch trần, bác bỏ.

Khi leo thang đánh phá miền Bắc, nhà cầm quyền Mỹ giải thích rằng vì miền Bắc “xâm lược” miền Nam và chúng tiến công miền Bắc là để chấm dứt sự giúp đỡ, chi viện của miền Bắc đối với miền Nam! Trước sự giải thích theo lối nguỵ biện ấy, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đó là những luận điệu dối trá hòng lừa bịp nhân dân thế giới và che đậy hành động xâm lược của Mỹ. Cần nói rõ rằng, đánh đổ bọn xâm lược Mỹ để giữ làng, giữ nước, giành quyền quyết định lấy công việc nội bộ của mình,…đó là quyền thiêng liêng của mọi người Việt Nam ở miền Bắc cũng như ở miền Nam”. Hồ Chí Minh kiên quyết bác bỏ luận điệu của đế quốc Mỹ cho rằng miền Nam Việt Nam là nước láng giềng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 18-11-1965, khi nhà báo Anh đặt câu hỏi: Xin Chủ tịch cho biết y kiến về việc Mỹ cho rằng họ ném bom miền Bắc là để Ngài ngừng ủng hộ cách mạng miền Nam, vì vậy Mỹ sẽ ngừng ném bom ngay tức khắc nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để cho nước làng giềng được yên, Hồ Chí Minh khẳng định: “Luận điệu cho rằng miền Nam của Tổ quốc chúng tôi là một nước “láng giềng” riêng biệt của miền Bắc là một luận điệu gian trá. Cũng như nói rằng những bang ở phía Nam là một nước riêng biệt với những bang ở phía Bắc của Hoa Kỳ”2

Như vậy, cả chủ nghĩa thực dân cũ lẫn chủ nghĩa thực dân mới đều thống nhất và có mục tiêu chung trong việc chia cắt lâu dài nước ta. Tất cả những âm mưu, thủ đoạn của chúng đều bị người anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh bác bỏ trên cơ sở nắm vững không chỉ truyền thống, lịch sử của Việt Nam mà cả truyền thống, lịch sử của chính các nước đi xâm lược.

Cần nói thêm rằng, âm mưu, hoạt động chia cắt đất nước của các thế lực xâm lược thường nhận được sự hỗ trợ của một số rất ít người trong nước. Tất cả những kẻ tiếp tay cho ngoại bang, đi ngược lại lợi ích của dân tộc và Tổ quốc, đều bị Hồ Chí Minh nghiêm khắc lên án và khép vào tội nặng nề nhất, nhục nhã nhất: tội theo giặc, bán nước cầu vinh

2. Hồ Chí Minh tiêu biểu cho ý chí và nguyện vọng thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam

Với Hồ Chí Minh, con đường độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp thống nhất đất nước. Đó là chân lý, là lẽ sống của mỗi người Việt Nam. Hồ Chí Minh vạch rõ: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam; sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Không chỉ với đồng bào Nam Bộ hay nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh mới bày tỏ y nguyện thống nhất đất nước của mình, mà trên nhiều diễn đàn quốc tế Người vẫn nhấn mạnh đến quan điểm đó. Tháng 2-1958, nói chuyện với Hội những người ấn, nghiên cứu các vấn đề quốc tế, tại ấn Độ, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Việt Nam là một dân tộc có chung một lịch sử, một thứ tiếng, một nền kinh tế và văn hoá. Nước Việt Nam là một khối thống nhất… Nguyện vọng tha thiết, y chí sắt đá của toàn dân Việt Nam là thực hiện thống nhất đất nước… Đấu tranh cho thống nhất là con đường sống của nhân dân Việt Nam”

Có thể nói, mối quan tâm thường xuyên, lớn nhất của Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động cách mạng là thống nhất đất nước. Hồ Chí Minh thể hiện sự quan tâm của mình đối với vấn đề Bắc Nam sum họp bằng những tình cảm rất đặc biệt.

Năm 1946, thời điểm chính quyền cách mạng non trẻ bị thù trong giặc ngoài đẩy vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” thì nguy cơ chia cắt đất nước cũng nghiêm trọng nhất. Trong điều kiện ấy, Hồ Chí Minh càng thể hiện ý chí quyêt tâm thống nhất đất nước của mình.

Sáng sớm ngày 31-5-1946, ngay trước khi lên đường sang Pháp, Hồ Chí Minh gửi tới đồng bào Nam Bộ bức thư, làm xúc động đồng bào cả nước. Bức thư viết: “Được tin tôi cùng Đoàn đại biểu qua Pháp để mở cuộc đàm phán chính thức, đồng bào cả nước, nhất là đồng bào Nam Bộ đều lấy làm bâng khuâng. Bâng khuâng vì chưa rõ tương lai của Nam Bộ sẽ như thế nào?..

Tôi xin đồng bào cứ bình tĩnh. Tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước”4. Thật cảm động. Sau khi đi Pháp về, ngày 23-10-1946, Hồ Chí Minh lại tuyên bố với quốc dân đồng bào: “Không ai có thể chia rẽ con một nhà, không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam ta… Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn dân tộc, tư tưởng thống nhất đất nước được thể chế hoá trong bộ luật cao nhất của nhà nước Dân chủ Cộng hoà non trẻ. Điều 2 của Hiến pháp 1946, Hiến pháp do Hồ Chí Minh làm Trưởng ban soạn thảo và được Quốc hội thông qua ngày 9-1-1946 viết: “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia.”

Những năm tháng chống Mỹ cứu nước, cả dân tộc sống trong nỗi đau chia cắt, trong đó người đau đớn nhất là Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh nói: ở miền Nam mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi. Chính vì vậy mà Hồ Chí Minh cho rằng niềm vui lớn nhất của Người là niềm vui Bắc Nam sum họp. Tại Lễ bế mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa III, Hồ Chí Minh đã đọc bốn câu thơ:

“Bảy mươi tư tuổi vẫn chưa già
Cố gắng làm tròn nhiệm vụ ta
Bao giờ Nam Bắc một nhà
Dân giàu nước mạnh thì ta vui lòng”

Tiếp tục ý tưởng và tư duy ấy, bài thơ chúc mừng năm mới cuối cùng, năm 1969 của Hồ Chí Minh được khép lại bằng hai câu thơ:

“Tiến lên! chiến sĩ đồng bào
Bắc – Nam sum họp xuân nào vui hơn”

Với Hồ Chí Minh, niềm vui chỉ trọn vẹn, nhiệm vụ trước Đảng, trước dân chỉ được coi là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khi Tổ quốc thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà. Vì vậy Hồ Chí Minh đã từ chối những phần thưởng cao quý nhất mà Tổ quốc và nhân dân trao tặng cho Người. Biết tin Quốc hội sẽ tặng mình Huân chương Sao vàng, huân chương cao quy nhất của Nhà nước ta, Hồ Chí Minh đã báo cáo với Quốc hội: Xin cho phép tôi chưa nhận huân chương ấy vì Tổ quốc ta hiện đang bị chia cắt làm đôi, hãy chờ “đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hòa bình thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi huân chương cao quy. Như vậy toàn dân ta sẽ sung sướng vui mừng”.5 Cũng với suy nghĩ ấy, Hồ Chí Minh đã từ chối những phần thưởng của bạn bè quốc tế. Nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô quyết định tặng Người Huân chương Lênin. Nhận được tin này, ngày 6-11-1967, Hồ Chí Minh gửi điện tới Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô. Bức điện viết: “Tôi vô cùng cảm động và cám ơn các đồng chí”, nhưng lúc này “toàn quân và toàn dân Việt Nam chúng tôi đang phải hy sinh xương máu để đánh Mỹ, cứu nước. Vì lẽ đó…xin các đồng chí hãy tạm hoãn việc trao tặng phần thưởng cực kỳ cao quý ấy. Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, tôi sẽ đại diện cho toàn thể đồng bào tôi, trân trọng và vui mừng lãnh lấy Huân chương mang tên Lênin vĩ đại”

3. Để thống nhất đất nước phải kiên quyết chống xâm lược và bọn tay sai của chúng

Hồ Chí Minh cho rằng để “đánh thắng cái liên minh ghê gớm giữa thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai” trong âm mưu và hành động chia cắt đất nước, chúng ta quyết tâm chiến đấu, chấp nhận những hy sinh to lớn. Tháng 10-1945, nghĩa là khi nhân dân Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp được một tháng, Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ: “Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của đất nước. Dẫu có phải hy sinh đến nửa dân tộc, ta cũng quyết hi sinh”6

Với đế quốc Mỹ, kẻ thù mạnh hơn ta về nhiều mặt, chí quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh càng mạnh mẽ hơn. Đặc biệt khi Mỹ ồ ạt đưa hàng chục vạn quân Mỹ và chư hầu trực tiếp tham chiếm ở miền Nam, đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc, kể cả thủ đô Hà Nội thì quyết tâm thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của Hồ Chí Minh lại son sắt hơn bao giờ hết. Hồ Chí Minh khẳng định: đế quốc Mỹ “có thể đưa 50 vạn quân, một triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc, chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc được Hồ Chí Minh thể hiện đậm nét trong Di chúc của Người. Dự đoán rằng cuộc chiến đấu càng gần thắng lợi càng nhiều gian khổ, hy sinh, trong Di chúc viết năm 1965, Hồ Chí Minh vẫn tin tưởng rằng: dù có phải hy sinh nhiều của, nhiều người, chúng ta nhất định đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào Nam – Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Đến Di chúc viết năm 1969, Hồ Chí Minh chốt lại: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn”.

Thực hiện Di chúc và khát vọng thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã đồng tâm hiệp lực “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, thu giang sơn về một mối. Cần khẳng định rằng thành tích lớn nhất, có ý nghĩa nhất mà Đảng Cộng sản và dân tộc ta kính dâng lên người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là nước Việt Nam độc lập, thống nhất vào năm 1975, đúng như dự đoán của Người 15 năm trước đó – năm 1960./

Nguyễn Thu Hiền
Nhà Xuất bản Lý luận Chính trị

Chú thích:
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.4, tr.272.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.11, tr.546.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1996, t.8, tr.38.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.4, tr.246.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.11, tr.61-62.
6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.4, tr.79

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và chuyến thăm hữu nghị lần đầu tiên các nước XHCN

Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ về đình chiến, lập lại hòa bình ở Đông Dương đư­ợc ký kết ngày 20/7/1954, trong lời kêu gọi gửi đồng bào cả n­ước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định cuộc đấu tranh củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất đất nư­ớc, hoàn thành độc lập, dân chủ của nhân dân ta trên cơ sở hiệp thương Tổng tuyển cử như­ Hiệp định Giơnevơđã quy định. là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ vì: “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương”[1]. Vì vậy, việc chính quyền Oasinhtơn và Sài Gòn vi phạm Hiệp định, cố tình chia cắt đất nư­ớc ta càng làm tăng thêm nguyện vọng, ý chí thống nhất nư­ớc nhà của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Từ nhận thức sâu sắc rằng, đấu tranh để thi hành Hiệp định Giơnevơlà mặt pháp lý của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Việc tranh thủ sự đồng tình quốc tế là một yếu tố không thể thiếu đư­ợc trong sự nghiệp đấu tranh thực hiện thống nhất nư­ớc nhà. Thực hiện đường lối ngoại giao có định hướng, có trọng tâm, vừa biểu hiện sự tôn trọng và gắn kết với phe XHCN anh em, vừa khẳng định sự đánh giá đúng đắn vai trò của Liên Xô và Trung Quốc, tại Hội nghị Bộ Chính trị lần thứ 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác, thực hiện việc phối hợp chặt chẽ với các nước anh em trong hoạt động quốc tế và đấu tranh ngoại giao”[2].

Quán triệt sâu sắc tinh thần đó, nhằm thắt chặt thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam, Chính phủ nư­ớc Việt Nam DCCH với nhân dân và chính phủ các nư­ớc XHCN anh em đối với cuộc đấu tranh củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, và dân chủ của nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ nước ta lên đường đi thăm đi thăm hữu nghị chính thức Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ (22/6 – 22/7/1955).

Tuyên bố trước khi lên đường đi thăm Liên Xô và Trung Quốc, Người nói: “tin chắc rằng cuộc đi thăm này sẽ thắt chặt thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam DCCH với nhân dân và Chính phủ hai nước bạn”[3]. Tại ga Nam Ninh- Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng: Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, mặc dầu trường kỳ và mãnh liệt, nhưng nhất định thắng lợi, “đã được và sẽ luôn luôn được sự khuyến khích và ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Trung Quốc”. Trước thịnh tình của Đảng cộng sản, Chính phủ và nhân dân nước CHND Trung Hoa khi đón đoàn tại sân bay Bắc Kinh, Người phát biểu: “Việc sang thăm Trung Quốc của Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam DCCH nhất định sẽ làm cho tình hữu nghị không gì lay chuyển nổi giữa nhân dân hai nước càng được tăng cường thêm và nhất định sẽ có ích cho hoà bình thế giới”[4]. Trong buổi tiệc do Thủ tướng Chu Ân Lai chiêu đãi đoàn, diễn văn của Người khẳng định: ủng hộ 5 nguyên tắc chung sống hoà bình mà Trung Quốc đã tham gia ký kết, sẵn sàng đặt quan hệ bình thường về kinh tế và văn hoá trên nguyên tắc bình đẳng, hai bên đều có lợi,v.v..đồng thời nêu rõ: Sự giúp đỡ hữu nghị quý báu của Trung Quốc “đã thành một lực lượng quan trọng luôn luôn cổ vũ chúng tôi”[5] trong công cuụoc đấu tranh thống nhất Tổ quốc và xây dựng lại đất nước. Trong những ngày ở thăm Trung Quốc, Người và đoàn đại biểu ta đã đi thăm nhiều nơi, Người đã có bài thơ Vịnh Vạn lý trường thành: Thấy nói trường thành dài vạn dặm; Đầu từ Đông Hải, cuối Tây Cương; Hàng ngàn trăm vạn người lao động; Xây đắp ngôi thành trấn một phương.

Rời Trung Quốc, hành trình tiếp theo là Mông Cổ. Tại Thủ đô Ulan Bato, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: Việt Nam và Mông Cổ tuy cách xa về khoảng cách địa lý, “nhưng cùng chung một lý tưởng, cùng chung một ý chí: bảo vệ hoà bình và xây dựng đời sống tự do, hạnh phúc”[6]. Người rất vui mừng trước những thành tích xây dựng CNXH của nhân dân Mông Cổ, tỏ lòng biết ơn “các bạn đã đồng tình và ủng hộ” nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, cũng như trong cuộc đấu tranh để củng cố hoà bình, thống nhất nước nhà. Người cũng tin tưởng rằng, “tình hữu nghị và sự hợp tác giữa hai nước” nhất định sẽ ngày càng phát triển, góp phần bảo vệ hoà bình châu á và thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vào viếng lăng Xukhê Bato, nhà lãnh đạo sáng lập nước Mông Cổ, thăm bảo tàng lịch sử, bảo tàng sinh vật học, một ngôi chùa và một làng du mục.

Tạm biệt thảo nguyên Mông Cổ sang thăm Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu ta đi đến đâu cũng được đón tiếp nồng hậu. Tại sân bay thành phố Xvéclốp, Người “sung sướng chuyển tới các bạn lời chào anh em của nhân dân Việt Nam”, đồng thời khẳng định: “Sự đón tiếp của các bạn đã nói lên mối tình nồng hậu của các dân tộc ở Liên xô vĩ đại đối với nhân dân nước Việt Nam DCCH”[7]. Tại sân bay Mátxcơ va, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Hiện nay nhân dân Việt Nam có nhiều nhiệm vụ quan trọng, đó là củng cố hoà bình, hoàn thành thống nhất bằng Tổng tuyển cử tự do theo Hiệp định Giơnevơ, khôi phục và phát triển kinh tế sau những năm dài chiến tranh, vì vậy “để thực hiện những nhiệm vụ đó, chúng tôi tin chắc sẽ được Liên Xô, các nước anh em khác và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới giúp đỡ”[8]. Cũng trong bài phát biểu này, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ sự nhiệt liệt ủng hộ chính sách của Liên Xô và chủ trương giải quyết các vấn đề quốc tế đang tranh chấp bằng thương lượng, ủng hộ bản Tuyên bố chung của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Buganin với Thủ tướng Ấn Độ Nêru.

Trong những ngày thăm Liên Xô, Người viết trong sổ vàng lưu niệm tại Điện Cremli: “Lênin, người thầy vĩ đại của cách mệnh vô sản. Cũng là một vị đạo đức rất cao, dạy chúng ta phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Tinh thần Lênin muôn đời bất diệt”. Được đi thăm nhiều công trình kiến thiết vĩ đại, nhà máy điện nguyên tử, các trường đại học, trại nghỉ hè của thiếu nhi v,v.. Người phát biểu: Sự đón tiếp ân cần, thân mật như anh em ruột thịt của Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô đã làm cho Người và đoàn rất cảm động. Trong cuộc hội đàm với Chính phủ Liên Xô, Người và Chính phủ Việt Nam đã “nhất trí nhận định về nhiều vấn đề quốc tế, và tán thành việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa hai nước”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chính phủ Liên Xô đồng tình ủng hộ, lại còn thiết thực giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước Việt Nam. “Sự giúp đỡ vô tư ấy làm cho nhân dân Việt Nam thêm tin tưởng và thêm sức mạnh đấu tranh và đồng thời còn làm cho chúng tôi thấy rõ trách nhiệm to lớn của mình”[9]. Trước khi lên đường về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các lưu học sinh ở Mátxcơva, dặn dò các cháu chăm học, đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, ngày càng tiến bộ, v.v.. để “mai sau về nước phục vụ nhân dân”.

Tại kỳ họp thứ năm của Quốc hội khoá I (15-20/9/1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo trước Quốc hội về chuyến đi thăm hữu nghị 3 nước anh em. Người tin tưởng: “Mục đích cuộc đi thăm là nhằm củng cố thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn và phát triển thêm sự hợp tác về chính trị, kinh tế, văn hoá giữa các nước bạn và nước ta. Mục đích ấy đã hoàn toàn đạt được”[10]. Người đã báo cáo về sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ, và nhấn mạnh: “Trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng chủ quyền và độc lập của ta, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc đã giúp ta tiền bạc, máy móc và kỹ thuật để ta khôi phục và phát triển kinh tế của ta. Liên Xô tặng ta 400 triệu đồng rúp trong 2 năm, giúp ta khôi phục và xây dựng 25 xí nghiệp…, Liên Xô và Trung Quốc đều giúp ta đào tạo cán bộ chuyên môn và phái các nhà chuyên môn sang giúp ta…Mông Cổ tặng ta một số thịt và một số bò, một số cừu để ta lập một nông trường chăn nuôi”[11]. Ngoài ra, chúng ta còn đồng ý mở rộng hợp tác về văn hoá, giáo dục, y tế, v.v.. Sự giúp đỡ khảng khái, vô tư, quý báu đó của các nước bạn như anh em giúp nhau, tuyệt đối không có chút gì vụ lợi không chỉ giúp đỡ chúng ta “trong cuộc đấu tranh giành thống nhất, nước ta mau giàu mạnh, dân ta được ấm no”, mà còn giúp chúng ta “có thêm điều kiện để tự lực cánh sinh”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chuyến thăm hữu nghị 3 nước anh em của Người và Chính phủ ta đã đạt được mục đích về cả chính trị và kinh tế. Những bản tuyên bố chung của đoàn đại biểu ta và Chính phủ Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ đều thể hiện rõ sự ủng hộ của nước bạn đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, “đều nhất trí nhấn mạnh sự quan trọng của việc hiệp thư­ơng giữa Chính phủ ta và chính quyền miền Nam theo đúng Hiệp định Giơnevơ để bàn về việc chuẩn bị tổng tuyển cử tự do trong cả nư­ớc nhằm mục đích thống nhất đất n­ước Việt Nam”[12].

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tư­ởng rằng, thông qua chuyến thăm hữu nghị 3 nước anh em, tình hữu nghị giữa Việt Nam và các nư­ớc anh em, vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH được củng cố vững chắc. Những tuyên bố, lời phát biểu, lời đáp từ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại nước bạn cũng đã thu hút sự chú ý của dư luận thế giới, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam DCCH với các nư­ớc, làm cho các nư­ớc hiểu hơn về đất nư­ớc và con ng­ười Việt Nam, về cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập và CNXH của nhân dân Việt Nam, mang lại sự ủng hộ rất quý báu của các nư­ớc, đặt cơ sở cho đường lối vận động Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược sau đó. oạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã nhận đư­ợc sự ủng hộ của các n­ước XHCN anh em, của nhân dân tiến bộ trên thế giới, góp phần thiết thực nâng cao uy tín của nư­ớc Việt Nam DCCH trên trư­ờng quốc tế.

Tạ Quang Giảng
Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội

Chú thích:

(1) Biên bản Hội nghị BCHTƯ lần thứ 6 khoá II, lưu Văn phòng Trung ương Đảng, ĐVBQ 29, tr.5
(2) Biên bản Hội nghị BCHTƯ lần thứ 7 khoá II, lưu Văn phòng Trung ương Đảng, ĐVBQ 29, tr23
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.8, tr.1
(4) Hồ Chí Minh, Sđd, t.8, tr.5
(5) Hồ Chí Minh, Sđd, t.8, tr.8
(6) Hồ Chí Minh, Sđd, t.8, tr.15
(7)Hồ Chí Minh, Sđd, t.8, tr.19
(8) Hồ Chí Minh, Sđd, t.8, tr.20
(9) Hồ Chí Minh, Sđd, t.8, tr.24
(10) Hồ Chí Minh, Sđd, t.8, tr.69
(11) Hồ Chí Minh, Sđd, t.8, tr.70
(12) Phạm Ngọc Anh, Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền của con người, Nxb. CTQG, H, 2005, tr. 70

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và quá trình tiếp quản Thủ đô Hà Nội

Vừa tròn 55 năm kể từ khi cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp thắng lợi, song dư âm của chiến thắng Điện Biên Phủ và vị thế của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ tháng 7 năm 1954 vẫn còn đọng lại trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế những ấn tượng sâu sắc. Và cũng vừa tròn 55 năm, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô trong niềm vui hân hoan miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng.

Để chuẩn bị cho ngày về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, từ Thủ đô kháng chiến Việt Bắc gió ngàn, ngày 5-9-1954, tại huyện Đại Từ (Thái Nguyên), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ, nhân viên ccá cơ quan Trung ương, các đơn vị bộ đội, công an và và thanh niên xung phong. Sau khi nêu đặc điểm, tình hình mới và giải đáp một số thắc mắc về vấn đề lương bổng, về công việc của mọi người khi chuẩn bị về thành phố, Người căn dặn mọi người phẩi luôn luôn giữ gìn đạo đức và nhân cách của mình và phải luôn ghi nhớ khi “về xuôi phải làm gương mẫu trong mọi việc, phải tuỳ theo hoàn cảnh của mình mà gần gũi, giúp đỡ nhân dân. Gương mẫu trong lời nói, việc làm sao cho người ta thấy rõ mình là con người kháng chiến”[1]. Cũng theo Người, trong những năm kháng chiến. Mỗi người đều đã học đưqợc nhiều đức tính tốt. Khi về xuôi, nhất là về thành thị, sẽ có nhiều người phức tập, sẽ có nhiều thứ quyễn rũ mình vào thói xấu, và “bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường”, vì nó “làm hại mình mà mình không thấy”. Vì thế, muốn giữ vững nhân cách, mỗi người đều phải “luôn thực hành 4 chữ mà Bác thường nói. Đó là: Cần, Kiệm, Liêm, Chính”[2]. Cuối cùng, Người nhấn mạnh: Việc nước là việc chung, nên phải đoàn kết, phải dùng năng lực của mọi người để cố gắng công tác.

Tiếp đó, tại phiên họp của Hội đồng Chính phủ ngày 11-12/9/1954 về vấn đề thực hiện Hiệp định đình chiến, tiếp quản Thủ đô và giải quyết một số công tác cụ thể khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hội đồng Chính phủ quyết định vấn đề tổ chức chuẩn bị tiếp quản Thủ đô, “thông qua bản Tám chính sách và Mười điều kỷ luật, thành lập ngay uỷ ban hành chính Hà Nội bên cạnh uỷ bvan quân chính Hà Nội,… Trong uỷ ban hành chính Hà Nội cần có thành lập tư sản và nhân sĩ dân chủ”[3]. Ngày 15/9/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nơi ở và làm việc của cán bộ cao cấp Bộ Tổng tham mưu ở Đại từ, Thái Nguyên.

Trong buổi gặp đó, Người trao đổi với các cán bộ cao cấp “một số công việc phải làm” và nhiệm vụ của quân đội khi vào tiép quản Thủ đô.

Tiếp đó, Người chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ ngày 17-18/9/1954, bàn về các công việc của vùng mới giải phóng và kế hoạch tiếp quản Thủ đô, và nhấn mạnh: Uỷ ban quân chính Hà Nội được giao nhiệm vụ là cơ quan lãnh đạo tối cao trong Hà Nội, thống nhất mọi quyền lãnh đạo đối với các ngành hoạt động.

Ngày 19-9-1954, tại Đền Hùng – nơi kết tụ hồn thiêng sông núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ đền Giếng thăm đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và quay trở lại đền Giếng. Tại đây, Người đã nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong trên đường chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô và nhấn mạnh vinh dự to lớn này. Người nói rằng: “Bác cháu ta gặp nhau tại đây trong tình cờ nhưng lại rất có ý nghĩa. Ngày xưa, các Vua Hùng đã có công dựng nước. Ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước… Trải qua bao thời đại đấu tranh, ông cha ta mới giữ được Thủ đô, tám chín năm nay, do quân ta kiên quyết kháng chiến nên mới có thắng lợi trở về Hà Nội. Vì thế các chú được Trung ương và Chính phủ giao cho nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô là được nhận một vinh dự lớn “[4].

Và cũng theo Người, dù miền Bắc đã được giải phóng, dù chúng ta đã về tiếp quản Thủ đô, nhưng không có nghĩa là chiến tranh đã lùi xa. Một nửa đất nước – miền Nam Thành đồng Tổ quốc vẫn đang rên xiết trong vòng vây của kẻ thù, vẫn phải “đi trước về sau”, để tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nên không thể say sưa với chiến thắng mà quên đi những tháng năm gian lao vất vả, quên đi nhiệm vụ chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trước ngày 10-10-1954, với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “Giữ gìn trật tự an ninh” đăng báo Nhân dân, số 237, và lại một lần nữa căn dặn các đơn vị bộ đội chuẩn bị vào tiếp quản Hà Nội. Từ việc chỉ rõ 4 điều bộ đội nên tránh: “Chớ tự kiêu, tự mãn; Chớ rượu chè, cờ bạc, trai gái, hút thuốc phiện; Chớ để lộ bí mật. Chớ xa xỉ, tham ô, lãng phí” và 6 điều phải làm: “ Phải kính trọng nhân dân, giúp đỡ nhân dân, đoàn kết với nhân dân; Phải khiêm tố, nghiêm chỉnh. Phải giữ gìn tính chất trong sạch, chất phác của người chiến sĩ cách mạng. Phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Phải làm đúng mười điều kỷ luật. Phải luôn luôn cảnh giác, và phải thực hiện tự phê bình và phê bình để tiến bộ không ngừng”[5], để làm tròn nhiệm vụ cao quý của những người chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam, để xứng danh là “bộ đội Cụ Hồ”, Người đồng thời nhắc nhở: “Suốt tám năm kháng chiến, các chú đã làm kiểu mẫu anh dũng, do đó mà chúng ta đã thắng lợi. Ngày nay chúng ta về thành thị, các chú cũng phải làm kiểu mẫu đúng đắn, để tranh lấy thắng lợi trong hoà bình”. Bởi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ có làm được như vậy, tình quân – dân “như cá với nước” trong bao năm qua mới được bền vững, sức mạnh của khối đại đoàn kết quân dân mới được củng cố và nhân lên.

Trong niềm vui của ngày trở về Thủ đô được giải phóng và đón những người con của miền Nam ruột thịt ra Bắc tập kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã quyết định “đại xá tội phạm”. Giữa bộn bề công việc, thực hiện nhiệm vụ nhằm ổn định sinh hoạt, bảo vệ tài sản cho những gia đình, đồng bào bị bắt ép, dụ dỗ “di cư theo Chúa và Nam mà lúc đi không giao cho ai trông coi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho nhân dân quan tâm, bảo vệ, để sau này “trả lại cho những đồng bào ấy khi họ trở về”.

Trước tình hình mới của Thủ đô sau ngày giải phóng, đi cùng thuận lợi là những khó khăn chất chồng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi nhân ngày Thủ đô được giải phóng. Trong Lời kêu gọi nhân ngày Thủ đô giải phóng, đăng trên báo Nhân dân ngày 9-10/10/1954, Người chỉ rõ: Thủ đô được giải phóng là kết quả hy sinh chiến đấu của quân và dân ta suốt tám, chín năm kháng chiến. Nay đã “muôn dặm một nhà, lòng vui mừng khôn xiết kể”, Người kêu gọi Chính phủ và nhân dân Hà Nội hãy đoàn kết nhất trí, giữ gìn trật tự trị an, vượt qua những khó khăn, hy sinh đau đớn trong hoàn cảnh mới để cùng nhau cố gắng khôi phục, củng cố, phát triển đời sống vật chất, đời sống tinh thần, “làm cho Hà Nội thành một Thủ đô yên ổn, tươi vui và phồn thịnh”. Đồng thời, chúng ta phải cùng nhau “gây nên một phong trào càn, kiệm, liêm, chính và mỹ tục, thuần phong” để Hà Nội xứng đáng với tên gọi: Thủ đô “ngàn năm văn hiến”. Phát huy truyền thống văn vật của “thứ nhất kinh kỳ”, nhân dân Thủ đô hãy duy trì và khôi phục mọi hoạt động sản xuất, buôn bán, kinh tế, tài chính, khôi phục và phát triển các hoạt động văn hoá, thực hiện tự do dân chủ, kêu gọi ngoại kiều yên tâm làm ăn,… để Thủ đô ngày một hồi sinh và phát triển.

Cũng trong Lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân, nên Chính phủ có quyết tâm, đồng bào đồng tâm nhất trí cùng Chính phủ, giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình Chính phủ “để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đày tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân”.

Tiếp đó, khi chúng tâ đã tiếp quản Thủ đô, trong bài báo “ổn định sinh hoạt”, đăng báo Nhân dân , số 238, ngày 13-14/10/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ngắn gọn: Mỗi người dân Hà Nội, bất kỳ thuộc tầng lớp nào, đang làm công việc gì, cũng đều cần phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình, đó là cần “phải góp phần vào công việc ổn định sinh hoạt của Thủ đô ta” và điều kiện để vượt qua được mọi khó khăn thử thách chính là “đoàn kết chặt chẽ, quyết tâm cố gắng”.

Công việc tiếp quản Thủ đô đã hoàn thành, và thắng lợi to lớn đó có sự đóng góp không nhỏ của đồng bào, quân đội, cán bộ… Sự góp sức của các cơ quan, đoàn thể, cửa các lực lượng quân đội, công an, của đông đảo các tầng lớp nhân dân Thủ đô trên nhiều lĩnh vực đã góp phần làm giảm thiểu những khó khăn của Thủ đô trước tình hình mới. Xem xét những người có công đặc biệt trong việc bảo vệ và tiếp quản Thủ đô, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội đồng chính phủ đã đề nghị Chính phủ khen thưởng những tập thể và cá nhân có nhiều thành tích đóng góp cho một Thủ đô hoàn toàn giải phóng.

Ngày 15-10-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà nội. Người ở trong Nhà thương đồn Thuỷ, nay là Bệnh viện Hữu Nghị. Ngày 16-10-1954 tại Bắc Bộ Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian tiếp đoàn đại biểu nhân dân Thủ đô. Trong không khí phấn khởi và nỗi vui mừng Hà Nội được giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ khen ngợi những cố gắng của nhân dân, chiến sĩ Thủ đô trong việc làm tốt “chủ trương, chính sách của Chính phủ trong tiếp quản Thủ đô”. Cũng tại buổi tiếp đó, Người suy ngẫm và nói rằng việc khôi phục cuộc sống hoà bình là công việc hết sức khó khăn, “nhưng là khó khăn trong sự phát triển”. Công việc to tát đó phải giải quyết dần dần, từng bước, có kế hoạch, có trật tự, và đặc biệt phải có sự tham gia của nhân dân trong việc đề xuất ý kiến thiết thực và hợp lý, đôn đốc và phê bình hoạt động của Chính phủ. Để Thủ đô ngày một giàu đẹp, đồng bào hãy cố gắng làm theo đúng chính sách của Chính phủ, tăng cường đoàn kết trong nước và ngoài nước, hăng hái phấn đấu và gương mẫu để thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước, “để xây dựng một đời sống sung sướng, tươi đẹp, thái bình mãi mãi cho con cháu chúng ta”.

Đầu tháng 11-1954, tại một phiên họp khác của Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề thực hiện đình chiến, tăng cường cán bộ ngoại giao và tổ chức tiếp quản Thủ đô, Hội đồng đã chuẩn y việc tổ chức lại một số cơ quan tại Hà Nội, khôi phục Di tích lịch sử chùa Một Cột và quyết định tổ chức sẽ có cuộc duyệt binh lớn và biểu tình lớn đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô

55 năm sau ngày về tiếp quản Thủ đô, cũng là 55 năm Đảng bộ, các cấp chính quyền và nhân dân Thủ đô thực hiện những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển Hà Nội trở thành “dẫn đầu cho nhân dân cả nước”. Dù trong khói lửa của chiến tranh hay trong hoà bình, nhân dân cả nước đều hướng về Hà Nội, hướng về trái tim của cả nước. Một Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội với bề dày truyền thống oai hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước luôn được bảo tồn và phát triển, hôm nay đã ngày một rộng mở và đi lên sẽ luôn xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của một đất nước Việt Nam XHCN hội nhập và phát triển.

Càng yêu Hà Nội, tự hào về “Hà Nội – trái tim của cả nước, mối người dân Hà Nội càng thấm thía lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Phải xây dựng được “trụ sở trong lòng nhân dân”, và hơn lúc nào hết lời căn dặn đó càng trở nên có ý nghĩa khi chúng ta đang thực hiện sâu rộng công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, triển khai giai đoạn 2 Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Bởi rằng, không có mối liên hệ máu thịt Đảng – Dân, không gắn bó với nhân dân, không có sự góp sức của nhân dân, thì không thể có một Hà Nội “niềm tin yêu và hy vọng” trước những thách thức của hôm nay và mai sau./.

ThS. Nguyễn Đoàn Phượng
Đại học Quốc gia Hà Nội

(1)Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng TW Đảng
(2) Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Nxb. CTQG, H, 2007, t.5, tr.496
(3) Biên bản Hội đồng chính phủ 1954
(4) Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Sđd, t.5, tr.502
(5) Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Sđd, t.5, tr.509

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng với Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (mở rộng) về cách mạng miền Nam

Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử đã buộc thực dân Pháp và đế quốc Mỹ phải chấp nhận thất bại. Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Đông Dương được ký kết, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Theo tinh thần của Hiệp định, tháng 7/1956, “một cuộc Tổng tuyển cử tự do trong cả nước phải được tổ chức để thống nhất nước ta”[1], nhưng đế quốc Mỹ đã coi “giải pháp” Giơnevơ là một thảm họa. Ngoại trưởng Đalét (Dulles) đã phát biểu rằng: “Sự cần thiết phải ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam là điều không thể thoái thác được”[2], và đó là “một khu vực phải nắm lấy bằng bất kỳ giá nào”, nên Mỹ nhanh chóng nhảy vào miền Nam Việt Nam.

1. Với dã tâm chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành bàn đạp tấn công miền Bắc và các nước XHCN, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai do Ngô Đình Diệm đứng đầu đã dùng quân đội, bộ máy công an, mật vụ thẳng tay đàn áp những người yêu nước; khủng bố, bắt giam và mở các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” để chống lại nhân dân miền Nam, chống lại cách mạng, chống lại nguyện vọng hòa bình, thống nhất nước nhà của nhân dân hai miền Nam Bắc.

Đứng trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chủ trương ổn định, củng cố miền Bắc, xây dựng miền Bắc theo con đường XHCN; tiến hành đấu tranh chính trị đòi thực hiện Hiệp định Giơnevơ, tìm phương pháp đấu tranh thích hợp để vừa duy trì, đẩy mạnh cách mạng miền Nam, hạn chế tổn thất, vừa bảo vệ được miền Bắc và hệ thống XHCN, bảo vệ hoà bình khu vực và hòa bình thế giới.

Ngay từ tháng 7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương” và chúng “đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương“. Và trên cơ sở phân tích tình hình cách mạng trong nước và quốc tế, Người khẳng định: “Mục tiêu bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”[3].

Từ mục tiêu, từ khát vọng độc lập tự do và thống nhất nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta, đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng”. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ: cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ, nên muốn “giành lấy thắng lợi, toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta từ Bắc đến Nam cần phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng phải thống nhất, hành động phải nhất trí” [4]. Song khi hoà bình ở Việt Nam đang bị đe doạ nghiêm trọng vì Hiệp định Giơnevơ bị chính quyền Ngô Đình Diệm vi phạm, trả lời phỏng vấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “sẽ dùng mọi biện pháp đấu tranh bằng đường lối hoà bình để Hiệp định Giơnevơ được thực hiện triệt để”[5]. Và dù tương quan lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam đã có sự thay đổi lớn sau khi ta thực hiện nghiêm chỉnh việc chuyển quân tập kết ra miền Bắc, và dù không còn lực lượng vũ trang, nhưng với ưu thế về chính trị, với lực lượng quần chúng nhân dân đông đảo, các tầng lớp đồng bào miền Nam vẫn đang bền bỉ, kiên cường đấu tranh chống lại ách thống trị tàn bạo của Mỹ – Diệm theo tư tưởng chỉ đạo của Người và Trung ương Đảng.

Tiếp đó, trước yêu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam, trong văn kiện Đề cương cách mạng miền Nam (8/1956), đồng chí Lê Duẩn đã khẳng định: Muốn chống Mỹ- Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống lại Mỹ- Diệm để cứu nước và tự cứu mình. Đó con đường cách mạng, là “quá trình xây dựng lực lượng chính trị từ ít đến nhiều, củng cố và phát triển phong trào đấu tranh của quần chúng từ thấp đến cao, từ những bước tuần tự đến những bước nhảy vọt để làm lay chuyển bộ máy cai trị của Mỹ Diệm”[6].

Thực hiện đường lối, phương pháp đó, hình thức đấu tranh chính trị đã được sử dụng, thay thế cho hình thức đấu tranh quân sự. Các tổ chức quần chúng công khai được thành lập, các phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, đấu tranh chống âm mưu chia cắt đất nước, chống quân dịch,v.v..đã lan rộng, thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng. Phong trào đấu tranh ngày càng phát triển, đặc biệt là cuộc đấu tranh chống “tố cộng”, “diệt cộng”, song trong bầu không khí nghẹt thở, cách mạng miền Nam vẫn đang đứng trước những khó khăn chưa từng thấy.

Trước tình hình đó, tháng 10/1956, Bộ chính trị đã nhận thấy, trong những năm 1954-1956, những tổn thất của phong trào cách mạng miền Nam, một phần là do trong quá trình chỉ đạo, “Trung ương đã không nắm vững phương châm giữ gìn lực lượng từ lúc đầu, cho nên trong việc chấn chỉnh tổ chức của Đảng sau khi rút quân, cũng như trong sự chỉ đạo qua một thời kỳ khá dài, lực lượng của ta đã bị bộc lộ”, phần khác là vì chưa nhận thức sâu sắc bản chất cách mạng của nhiệm vụ thống nhất nước nhà, nên “sự lãnh đạo của Trung ương đã nặng về đấu tranh pháp lý, đấu tranh để thi hành Hiệp định Giơnevơ”[7].

Tiếp đó, với “quyết tâm thực hiện vai trò tiên phong của mình” và để “phong trào cách mạng vẫn giữ vững và tiến lên”, để giữ gìn lực lượng và tiếp tục hoạt động trong tình thế khắc nghiệt, các tổ chức cơ sở Đảng ở miền Nam đã kịp thời tổ chức lại và rút vào hoạt động bí mật, mặc dù Mỹ Diệm đã dùng nhiều thủ đoạn rất dã man hòng tiêu diệt những người cộng sản miền Nam.

Và trên tinh thần quán triệt sâu sắc rằng, đấu tranh chính trị cũng không có nghĩa là “tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định”, từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, từ những tổn thất do những hành động ngày càng tàn bạo của địch và trước những hình thức đấu tranh, khả năng phát triển của phong trào cách mạng miền Nam, “yêu cầu vũ trang chống khủng bố ngày càng trở nên cấp thiết”. ở nhiều địa phương, nhân dân bí mật lấy vũ khí đã chôn giấu, đã dùng vũ khí tự tạo và cướp súng của địch để tiêu diệt những kẻ ác ôn và tự bảo vệ mình. Đã có những đại đội vũ trang được thành lập ở chiến khu Đ, ở Nam Bộ và ở Liên khu V, đã có những trận đánh diễn ra ở Thủ Dầu Một, Biên Hoà, v.v..Như vậy là, trong khi địch ngày càng tăng cường khủng bố những người yêu nước và các chiến sĩ cách mạng, mở các cuộc hành quân càn quét, dồn dân vào các trại tập trung, thì ở khắp các địa bàn, lực lượng vũ trang và các căn cứ địa cách mạng đã được xây dựng lại.

Từ đấu tranh chính trị là chính, phong trào cách mạng miền Nam đã phát triển thành đấu tranh chính trị kết hợp có vũ trang tự vệ, và đi liền cùng đó là lực lượng chính trị của quần chúng được bảo tồn. Các phong trào đấu tranh ngày càng quyết liệt. Khát vọng độc lập tự do của nhân dân miền Nam ngày càng sục sôi và sự phát triển phong trào đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh có vũ trang của đồng bào miền Nam chính là sự phản ứng tất yếu của nhân dân miền Nam để bảo vệ quyền sống hàng ngày đang bị chà đạp. Hình thức đấu tranh đó phản ánh “yêu cầu chính trị của quần chúng đang rất khát khao độc lập tự do và thống nhất nước nhà”[8]. Sau đó, tuy đã có dự kiến mức độ bạo lực phải được nâng cao trong đấu tranh cách mạng, song trên thực tế, đấu tranh chính trị có kết hợp vũ trang tự vệ ở miền Nam cũng chưa phải là phương pháp và hình thức đấu tranh hiệu quả, nhằm chống trả sự chống phá của địch và để giảm bớt tổn thất của quần chúng.

Tháng 12/1957, xác định về nhiệm vụ cách mạng của hai miền, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định việc đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược ở cả hai miền Nam Bắc. Theo Người, cả hai nhiệm vụ đều quan trọng. Coi nhẹ một nhiệm vụ nào cũng là sai lầm. Nhiệm vụ củng cố miền Bắc, tiến dần lên CNXH có tính chất quyết định cho toàn bộ những thắng lợi của cách mạng nước nhà trong giai đoạn mới, và lực lượng cách mạng ở miền Nam được duy trì và phát triển thì đó là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị này, nhân dân miền Bắc đã vượt qua nhiều thử thách, đạt được nhiều thành tích trong xây dựng và phát triển, trở thành hậu thuẫn vững chắc cho cách mạng cả nước. Còn ở miền Nam, trong những năm 1957, 1958, phong trào đấu tranh chính trị có kết hợp vũ trang tự vệ của quần chúng mặc dù đã được nâng cao, song không tránh khỏi những khó khăn và tổn thất, lý do là vì ta chưa tìm ra được phương pháp và hình thức đấu tranh thích hợp để quần chúng chủ động “chống trả” sự đàn áp tàn bạo của kẻ thù. Hình thức đấu tranh chính trị có sử dụng bạo lực chính trị đã tỏ ra không đủ mạnh để đối phó có hiệu lực với địch và tạo chuyển biến cơ bản cục diện chiến trường và tình hình miền Nam.

Trong khi Mỹ – Diệm ngày càng trắng trợn, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam, trong khi thực tiễn đòi hỏi phải được tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời và yêu cầu phải có một hình thức đấu tranh cách mạng cao hơn, nhằm đáp ứng nguyện vọng của nhân dân miền Nam và đưa phong trào cách mạng miền Nam phát triển đã trở nên bức thiết, thì những thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế cũng có những tác động không nhỏ đến sự phát triển của cách mạng Việt Nam nói chung và cách mạng miền Nam nói riêng.

Trên thế giới, lúc này chủ nghĩa xét lại hiện đại, chủ nghĩa cơ hội đang lũng đoạn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Mỹ, tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự của chúng đã gây tâm lý “sợ Mỹ”, “ngại Mỹ” trong một số Đảng Cộng sản. Mặt khác, các nước XHCN đã trở thành một hệ thống, song những mâu thuẫn, bất đồng và những rạn nứt trong phe XHCN; giữa Liên Xô và Trung Quốc đã gây khó khăn cho phong trào cách mạng thế giới, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt là, dù đã từng ủng hộ, viện trợ cho Việt Nam trong khôi phục, cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá, giáo dục, v.v.. nhưng cả Trung Quốc và Liên Xô đều không ủng hộ đấu tranh vũ trang ở miền Nam.

Thực hiện đường lối hòa hoãn Xô – Mỹ, chủ trương của Liên Xô là: giữ nguyên hiện trạng hai miền của Việt Nam, không ủng hộ đấu tranh vũ trang ở miền Nam Việt Nam với lý do tế nhị: “Đốm lửa cháy rừng”! Còn Trung Quốc, từ lâu vẫn có ý định duy trì tình trạng hai miền của Việt Nam, tránh việc trực tiếp phải tham gia chiến tranh, nên thuyết phục Việt Nam “phải trường kỳ mai phục”, không nên đấu tranh vũ trang ở miền Nam, vì rằng: “Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc”[9].

2. Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và bằng bản lĩnh, trí tuệ của mình, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung trí lực, từng bước xác định chủ trương, đường lối và biện pháp cách mạng đúng đắn đưa cách mạng hai miền phát triển. Một trong những văn kiện quan trọng, tạo bước phát triển nhảy vọt về chất của phong trào cách mạng miền Nam là Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15 mở rộng (Hội nghị Trung ương lần thứ 15 họp nhiều đợt: Đợt 1 (12-22/1/1959) là Hội nghị Trung ương mở rộng, Đợt 2 (10-15/7/1959), v.v. và Nghị quyết của Hội nghị được thông qua trong đợt cuối cùng).

Nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 dựa trên cơ sở phân tích kỹ điều kiện cách mạng cả nước và điều kiện cụ thể của hai miền Nam Bắc; phân tích kỹ tình hình thế giới, xu thế phát triển của cách mạng thế giới; tương quan so sánh lực lượng ta và địch, v.v.., từ đó chỉ rõ nhiệm vụ chung của cách mạng cả nước, và con đường phát triển cách mạng của mỗi miền.

Đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam được nêu rõ trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (mở rộng). Trên cơ sở phân tích những đặc điểm của tình hình miền Nam (tính chất xã hội miền Nam, thái độ các giai cấp ở miền Nam), Nghị quyết nêu rõ:

“1, Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

2, Trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, v.v.. “[10]

Về phương hướng phát triển của cách mạng miền Nam, Nghị quyết chỉ rõ, để tự giải phóng mình khỏi xiềng xích nô lệ, “ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không còn con đường nào khác” và cách mạng miền Nam không thể đi ra ngoài quy luật chung của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, đó là “khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”. Đó chính “là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”[11].

Cũng theo Nghị quyết, vì chế độ Mỹ Diệm dựa vào vũ lực để tồn tại, và chúng ta dựa vào lực lượng quần chúng, dùng lực lượng quần chúng đánh đổ chúng, nên “cần phải có một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ, phải tích cực xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng, thì mới có thể có điều kiện nắm lấy thời cơ thuận lợi và giành lấy thắng lợi cuối cùng”[12]. Nghị quyết nêu rõ, cách mạng miền Nam vẫn có khả năng phát triển hoà bình, tuy nhiên vì bản chất phản động và hiếu chiến của Mỹ – Diệm, cho nên phương hướng cơ bản vẫn là khởi nghĩa giành chính quyền, và “trong những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ”.

3. Từ Nghị quyết, có thể thấy rằng, Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã khẳng định dứt khoát: con đường cách mạng miền Nam là con đường khởi nghĩa giành chính quyền. Và điều đặc biệt là chủ trương khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân (khởi nghĩa bằng lực lượng chính trị của quần chúng, có sự hỗ trợ của đấu tranh vũ trang) lại được quyết định trong bối cảnh lực lượng cách mạng ở miền Nam đang bị tổn thất không nhỏ. Điều đó cho thấy tầm nhìn ra, sự tiên lượng và quyết định của Người và Bộ chỉ huy tối cao trong những thời khắc khó khăn của lịch sử dựa trên sự phân tích, đánh giá một cách khách quan tình hình, tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, đồng thời khẳng định niềm tin của Người và Trung ương Đảng vào sức mạnh nội lực, tinh thần đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam.

Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 ra đời khi tình thế cách mạng và những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa từng phần tại các địa phương đã chín muồi, đúng như Ngô Đình Nhu từng nhận định: Chế độ miền Nam đang ngồi trên ngọn núi lửa sắp phun. ánh sáng của nghị quyết đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam, đưa phong trào cách mạng phát triển nên một nấc thang mới. Cho nên, có những nơi chưa nhận được văn bản chính thức, chỉ lĩnh hội tinh thần của Nghị quyết “cho phép tiến hành đấu tranh vũ trang”, đã nhanh chóng phát động khởi nghĩa. Hình thức đấu tranh “mang tính bạo lực” của quần chúng ở nhiều nơi đã có sự tham gia của lực lượng vũ trang, nửa vũ trang ở những mức độ khác nhau. Các trận đánh đầu tiên của lực lượng vũ trang và tự vệ miền Nam đã diễn ra ở Tây Ninh, Thủ Dầu Một,v.v.. rồi tiếp đến là Bác ái (Ninh Thuận, Trà Bồng (Quảng Ngãi).

Bằng nhiều phương thức đấu tranh sáng tạo, phong phú, những cuộc khởi nghĩa ở miền núi Liên khu V, ở cực Nam Trung Bộ, và đặc biệt là các cuộc khởi nghĩa của đồng bào các tỉnh miền Trung Nam Bộ, miền Đông Nam Bộ có đà phát triển và ngày càng lan rộng từ giữa năm 1959 đến cuối năm 1960. Phong trào “Đồng khởi” của nhân dân miền Nam đã làm tan rã từng mảng bộ máy kìm kẹp của chế độ nguỵ quyền cơ sở ở nông thôn, làm lung lay tận gốc bộ máy chính quyền thực dân kiểu mới, đẩy địch vào thế bị động. Quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết, trên cơ sở xác định đúng phương châm châm chỉ đạo đồng khởi, đề ra chủ trương và giải pháp phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương, tạo yếu tố bất ngờ, đảm bảo chắc thắng cho đồng khởi, từ trong Đồng khởi, quyền làm chủ của nhân dân được xác lập ở “1383 trong tổng số 2627 xã”; lực lượng vũ trang, bán vũ trang được xây dựng và từng bước trưởng thành.

Thắng lợi của phong trào đồng khởi đã khôi phục lại các căn cứ địa cách mạng, tạo điều kiện cho vùng giải phóng được mở rộng, thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng ở các đồn điền, nhà máy, ở các trung tâm đô thị phát triển mạnh. Thắng lợi đó đã làm phá sản chiến lược chiến tranh đầu tiên của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam, góp phần đưa đến sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20/12/1960.

Với Đồng khởi, cách mạng miền Nam đã có bước nhảy vọt, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công cách mạng. Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam mở đầu bằng phong trào Đồng khởi đã làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự của cha ông ta trong lịch sử. Khởi sự bằng Đồng khởi, quân dân miền Nam đã chứng minh nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng: “Thế lực của Mỹ ngày nay trên thế giới ngày càng sa sút, thế lực của chúng ở miền Nam căn bản không phải mạnh. Tình hình ngày càng chuyển biến bất lợi cho chúng, có lợi cho ta”[13] là hoàn toàn đúng đắn.

Nghị quyết đồng thời cho thấy quyết định của Người và Đảng ta thực sự “đã tạo ra một phương thức mới, tạo đột biến cho tình hình, đưa cách mạng chuyển sang bước nhảy vọt thần kỳ”, khẳng định tầm vóc trí tuệ, bản lĩnh và tư duy của Hồ Chí Minh và Đảng ta về cách thức mở đầu cuộc chiến tranh nhân dân chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

Quyết định của Người và Trung ương Đảng về đường lối, nhiệm vụ, phương pháp của cách mạng miền Nam thể hiện trong Nghị quyết Trung uương 15 (mở rộng) cũng cho thấy quyết tâm tiến hành chiến tranh cách mạng của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Trong bối cảnh quốc tế vô cùng phức tạp, trong hoàn cảnh cách mạng đang chuyển giai đoạn đấu tranh, nội dung của Nghị quyết lần thứ 15 về cách mạng miền Nam đã phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, khẳng định quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng về giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quyết tâm đó thể hiện tư tưởng độc lập, tự chủ, táo bạo của Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh trong bối cảnh đầy khó khăn, thử thách, dù không được sự ủng hộ của một số đảng anh em.

Hơn 15 năm sau khi Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (mở rộng) về cách mạng miền Nam ra đời, với đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước được cụ thể hoá trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III năm 1960 và nhiều nghị quyết Trung ương khác, mùa xuân năm 1975, với Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân miền Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Miền Nam được giải phóng, hai miền Nam Bắc sum họp một nhà. Nhiều năm sau đó, trong Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – thắng lợi và bài học, Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị nhận định: Nghị quyết 15 rất đúng đắn, sáng tạo phù hợp thời cơ lịch sử – “Nó là ngọn lửa dấy lên cao trào Đồng khởi làm xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam lúc bấy giờ”[14], tạo đà cho những thắng lợi của cách mạng miền Nam trong những năm sau đó ./.

TS. Văn Thị Thanh Mai
Bảo tàng Hồ Chí Minh


Chú thích:

(1) Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Văn kiện Quốc hội toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2007, t.2, tr. 40
(2) Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, H,1971, t.1, tr.27
(3) Biên bản Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7, khoá II, ĐVBQ 29, Lưu trữ Trung ương Đảng, tr.8
(4)Dẫn theo: Hoàng Trang, Đỉnh cao của tư tưởng Hồ Chí Minh trong 30 năm chiến tranh giải phóng, Tạp chí Lịch sử Quân sự, 5/2005, tr.19
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.8, tr. 159
(6) Lê Duẩn Tuyển tập (1950-1965), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 115-116
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.17, tr. 424
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 43
(9) Bộ Ngoại giao, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung quốc trong 30 năm qua, H, 1979, tr.24
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 81-82
(11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 82
(12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 82-83
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 28
[14] Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 1996, tr.44

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Với dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là sự kết tinh những gì tốt đẹp, ưu tú nhất của trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam. Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh của dân tộc, cho bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Tinh hoa của dân tộc, lương tâm và khí phách của thời đại đã được thể hiện chân thực và cảm động, trong sáng và đẹp đẽ, cao thượng và bất khuất qua con người, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Khi đã tìm thấy con đường cách mạng và nhận thức được chân lý của thời đại cách mạng nhờ giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, với sự thức tỉnh và cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã dồn tất cả nỗ lực và tinh lực của đời mình để thực hiện đến cùng lý tưởng và mục tiêu cách mạng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chủ đạo, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình đó, Người vừa học tập và nghiên cứu lý luận, vừa tham gia các phong trào đấu tranh chính trị của công nhân và lao động ở những nơi Người đi qua, đã trực tiếp lăn lộn và trải nghiệm suốt mấy thập kỷ trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Bằng con đường lao động, vô sản hóa, Người làm đủ mọi nghề, đi qua nhiều miền đất khác nhau, tham gia các sinh hoạt của công nhân, thợ thuyền, ở ngay sào huyệt của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân, Người có điều kiện quan sát trực tiếp tình cảnh sống của những người lao động dưới ách áp bức bóc lột tàn bạo của tư bản ở chính quốc đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Thực tiễn này đã giúp Người nhận rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản và thực dân, cũng như hình thành ở Người tình hữu ái giai cấp đối với những người cùng khổ. Cũng chính thực tiễn này đã cung cấp cho Người những căn cứ để xác minh một sự thật mà Người đã từng hoài nghi về “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” do giai cấp tư sản đưa ra. Người muốn hiểu rõ đằng sau những lời đẹp đẽ trong châm ngôn tư sản ấy, thực chất của nó là cái gì? Mười năm đầu trong cuộc đi tìm chân lý tại chính quê hương của chủ nghĩa tư bản đã đem lại cho Người những thu hoạch lớn, những kết luận chính trị quan trọng, tác động sâu sắc đến tư tưởng, quan điểm, đường lối của Người. Đó là, ở đâu đâu đế quốc tư bản thực dân cũng dã man, tàn bạo, cũng đầy rẫy những quan hệ phi nhân tính; ở đâu đâu những người lao động nghèo khổ, bần cùng cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau, họ phải được tập hợp lại, chủ động đấu tranh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”.

Trong quá trình tìm đường cứu nước cứu dân và định hình đường lối chính trị giải phóng, giành độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ hoạt động ở châu Âu, ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa, mà Người còn hoạt động ở phương Đông, châu Á, tìm hiểu thực tiễn các phong trào đấu tranh ở Trung Quốc và Thái Lan. Những cứ liệu từ thực tiễn đó giúp cho Người so sánh, phân tích, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các kết cấu kinh tế – xã hội, các mâu thuẫn giai cấp và dân tộc ở những khu vực địa chính trị tiêu biểu, nơi diễn ra những phân hóa và mâu thuẫn giai cấp, dân tộc rất khác nhau giữa phương Tây và phương Đông, giữa các nước tư bản châu Âu với các nước châu Á đang còn tồn tại rất nhiều tàn tích phong kiến và đang là đối tượng khai thác, nô dịch của chủ nghĩa thực dân.

Mối quan tâm đặc biệt nổi bật của Người là tình hình Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam khi đã mất độc lập chủ quyền và đang bị chủ nghĩa thực dân đè nén, thống trị. Do đó, đối với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu, khảo sát thế giới, khu vực và quốc tế cũng chỉ nhằm hướng tới giải phóng và phát triển dân tộc mình, đặt cách mạng Việt Nam trong phong trào cách mạng thế giới, sao cho phù hợp với trào lưu, xu thế chung của lịch sử thế giới và thời đại.

Bước ngoặt lớn trong sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là khi Người giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Chỉ có cuộc cách mạng này mới giải phóng được giai cấp vô sản, giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân, mới thực hiện được độc lập tự do, hoà bình và hạnh phúc cho các dân tộc.

Sự kiện lịch sử đánh dấu bước ngoặt đó là vào năm 1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua, Người đã cùng với những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân Pháp tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước tiến bộ, Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trở thành người chiến sĩ xã hội chủ nghĩa (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.241).

Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nghiên cứu, khảo sát trực tiếp tại nước Nga Xôviết của Lênin, thấy rõ sự sinh thành chủ nghĩa xã hội, nhất là những cải cách kinh tế với chính sách kinh tế mới (NEP) do Lênin khởi xướng làm hồi sinh nước Nga. Người có điều kiện nghiên cứu sâu hơn chủ nghĩa Lênin cũng như ảnh hưởng rộng lớn của Cách mạng Tháng Mười, mở ra thời đại mới – quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Những tư tưởng đó đã được Người nghiền ngẫm sâu sắc, đã củng cố và khẳng định niềm tin của Người về cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, lực lượng lãnh đạo cuộc cách mạng đó chỉ có thể là giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản. Như thế, từ 1911 đến 1920 là một thập kỷ Người tìm đường và đã thấy con đường sẽ đi. Từ 1920-1924 và sau đó từ 1925-1927 khi Người viết các tác phẩm lý luận, truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam, nhất là Đường Kách mệnh (1927), đó là một giai đoạn lịch sử đặc biệt, hình thành về cơ bản lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Người. Đó cũng là thời gian mà Người chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính dảng cách mạng kiểu mới ở Việt Nam. Tư tưởng và phương pháp cách mạng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện tập trung, cô đọng trong các văn kiện đầu tiên thành lập Đảng, do chính Người trực tiếp soạn thảo: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng, tháng 2-1930.

Các mốc thời gian và sự kiện sau đó phản ánh những hoạt động vô cùng phong phú, kiên định, tích cực sáng tạo, nhưng cũng đầy thử thách đối với Người. Chính thực tiễn lịch sử cách mạng đã là sự thẩm định khách quan, công tâm nhất đối với giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây thực sự là điểm nổi bật về sức sáng tạo vượt trước của Hồ Chí Minh, về bản lĩnh Hồ Chí Minh. Cho đến khi Người về nước (1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì tư tưởng, phương pháp cách mạng đầy sáng tạo của Người mới được khẳng định đầy đủ, nhanh chóng đi vào thực tiễn, đem lại lời giải đúng đắn nhất về lý luận để thúc đẩy cách mạng trong thực tiễn. Đó chính là chân giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Những sáng tạo và cống hiến lịch sử của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện ở những điểm nổi bật sau đây:

Một là, nhận thức sáng tạo về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Mác – Lênin. Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, Người nhận thấy một trong những ưu điểm đặc sắc nhất của lý luận Mác – Lênin là phép biện chứng. Đó là phép biện chứng của phát triển xã hội, là khoa học và cách mạng của sự phát triển, xóa bỏ trật tự xã hội cũ bất công, tàn bạo và hướng tới xây dựng trật tự xã hội mới, dân chủ, công bằng và nhân đạo, xứng đáng nhất với con người – đó là chủ nghĩa cộng sản. Người cũng đặc biệt đề cao học thuyết cách mạng của Lênin, cả trí tuệ khoa học, tính triệt để cách mạng lẫn đạo đức và nhân cách của người sáng lập ra học thuyết Đảng kiểu mới, lãnh đạo thành công cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử, biến chủ nghĩa xã hội từ một học thuyết lý luận thành hiện thực xã hội mới, một chế độ xã hội mới.

Người nhận rõ chủ nghĩa Mác – Lênin là biểu hiện và kết tinh tinh hoa trí tuệ và tư tưởng của thời đại, của văn hoá nhân loại. Song, Người cũng đặt ra một vấn đề hết sức nghiêm túc về nhận thức khoa học: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” (Sđd, t.1, tr.465). Người đặt vấn đề về sự cần thiết phải vận dụng quan điểm và phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác để xem xét sự khác nhau cơ bản giữa kết cấu kinh tế và kết cấu giai cấp – xã hội giữa phương Tây với phương Đông. Người cũng nêu rõ, mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay đổi phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không? và Người khẳng định, đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản. Người còn giải thích rằng, thật ra là có, vì sự Tây phương hóa ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông – nói cách khác, chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó (Sđd, t.1, tr.465). Nếu phân hoá giai cấp đã trở nên rõ rệt và đối kháng giai cấp từ sự phân hóa ấy là sâu sắc và gay gắt ở phương Tây trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông và Việt Nam lại không hẳn là như vậy. ở đây, nổi bật lên mâu thuẫn dân tộc và xã hội với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân từ bên ngoài xâm lược vào chứ không phải là mâu thuẫn giai cấp. Do đó, nếu giải phóng giai cấp và đấu tranh giai cấp như một đặc trưng nổi bật và là một đòi hỏi bức xúc ở phương Tây tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông, trong đó có Việt Nam lại nổi lên đặc trưng khác, đó là giải phóng dân tộc, là giải quyết mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân xâm lược để giành độc lập, xóa bỏ tình trạng thuộc địa và phụ thuộc dưới ách đô hộ, thống trị của thực dân.

Đó là lý do giải thích vì sao Người chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp trong dân tộc để tạo ra sức mạnh giải phóng. Trong khi tin tưởng chắc chắn rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác là đúng đắn không chỉ ở phương Tây mà còn ở phương Đông, Người còn có dự báo đầy mẫn cảm rằng, chủ nghĩa cộng sản dễ áp dụng và cách mạng cộng sản chủ nghĩa dễ thành công hơn chính trong thực tiễn phương Đông, châu Á và Việt Nam. Một trong những cơ sở luận chứng cho giả thuyết đó là sức đoàn kết dân tộc, truyền thống cộng đồng đã tỏ ra rất gần gũi với bản chất của chủ nghĩa cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn nêu ra một luận điểm rất khoa học và sáng tạo, tỏ rõ chính kiến độc lập đầy bản lĩnh của Người. Đó là, muốn áp dụng chủ nghĩa Mác, áp dụng lý thuyết cộng sản của Mác vào phương Đông và Việt Nam thì phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Sđd, t.1, tr.465). Người cũng xác định rằng, nhiệm vụ ấy đang đặt ra về mặt lý luận mà những người cộng sản phải đáp ứng.

Những luận điểm nêu trên được Nguyễn Ái Quốc nói rõ vào năm 1924, đủ thấy tư chất và bản lĩnh sáng tạo của người cộng sản trẻ tuổi với sức bay của tư duy và tư tưởng vượt trước thời đại như thế nào. Sau này, Người còn có nhiều luận điểm sáng tạo khác đối với việc nhận thức bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Có thể nêu một vài thí dụ tiêu biểu. Người nhìn nhận chủ nghĩa Mác – Lênin trong dòng chảy của sự tiến hoá tư tưởng, biết thâu thái tất cả những gì tiến bộ, ưu tú, tinh hoa của tư tưởng, văn hóa nhân loại để vừa hiểu rõ sự phong phú của tư tưởng, văn hoá nhân loại, vừa thấy sự phát triển nhảy vọt của những tư tưởng mácxít vốn không tách rời, không ở bên ngoài mà ở trong tổng số và tổng hợp của toàn bộ những giá trị tinh hoa đó. Chẳng thế mà, trong khi tin và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn rất trân trọng tư tưởng từ bi, bác ái của đạo Phật, khoan dung văn hoá cao cả của chúa Giêsu, tinh thần thực tiễn trong Tam dân chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là khoa học và cách mạng, mà còn là đạo đức và văn hóa. Người đã từng chỉ rõ, đọc hàng trăm, hàng nghìn quyển sách Mác – Lênin mà ăn ở với nhau không có tình có nghĩa thì làm sao gọi là Mác – Lênin được. Người cũng là nhà tư tưởng mácxít nổi bật nhất khi tiếp cận chủ nghĩa xã hội, tiếp cận nền chính trị của giai cấp công nhân và bản chất của đảng cộng sản từ góc độ đạo đức học và văn hoá đạo đức. Người nói, chủ nghĩa xã hội đối lập với chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, chính trị cốt ở đoàn kết và thanh khiết, Đảng là đạo đức, là văn minh.

Chân lý – một vấn đề của nhận thức luận khoa học – được Hồ Chí Minh mở rộng sang bình diện đạo đức học. Cái gì tốt cho dân, có lợi cho dân, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân, làm công bộc trung thành và tận tụy của dân là phục tùng chân lý cao nhất, là lựa chọn một lẽ sống cao thượng nhất.

Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đặc biệt chú trọng yêu cầu sáng tạo, không máy móc rập khuôn, muốn vậy phải hiểu rõ đặc điểm, hoàn cảnh và những điều kiện lịch sử cụ thể. Người căn dặn chúng ta phải chú ý học tập kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em, nhưng không được sao chép mà phải có tinh thần độc lập tự chủ. Người nói rõ, ta và Liên Xô rất khác nhau về trình độ phát triển, về lịch sử và văn hoá. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm khác với Liên Xô vẫn là người mácxít.

Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc thù của Việt Nam là điểm xuất phát về lý luận và thực tiễn, về ý thức hệ của Hồ Chí Minh. Đó chẳng những là cơ sở để có những phát kiến sáng tạo, những cống hiến của Hồ Chí Minh về tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự cống hiến đặc sắc của Người, góp phần làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin và kho tàng lý luận cách mạng thế giới.

Hai là, vạch trần bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân và nêu lên tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa phải phối hợp chặt chẽ với cách mạng vô sản ở chính quốc. Nguyễn Ái Quốc là người đã viết tác phẩm lý luận mácxít Bản án chế độ thực dân Pháp rất nổi tiếng vào năm 1925. Tác phẩm này là một tổng kết lịch sử, một cáo trạng đối với chủ nghĩa thực dân, để sau đó 20 năm, vào năm 1945, Người viết nên Tuyên ngôn độc lập, khai sinh chế độ dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam độc lập, đồng thời là cáo chung chế độ thực dân ở Việt Nam sau hơn 80 năm tồn tại của nó.

Người phân tích: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” (Sđd, t.1, tr.298). Cách mạng phải có sự phối hợp ở cả chính quốc và thuộc địa, giống như một con chim hai cánh, một cánh vỗ ở thuộc địa, một cánh vỗ ở chính quốc. Sự diễn đạt cụ thể và giản dị trên đây đã hàm chứa tư tưởng về tính triệt để của cách mạng chống chủ nghĩa tư bản, thực dân và tính tất yếu của sự phối hợp các phong trào cách mạng vì mục tiêu giải phóng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc và ở các nước tư bản chủ nghĩa. Đó là biểu hiện lập trường cách mạng triệt để và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trên toàn thế giới.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhận rõ, đối với những người lao động và vô sản ở khắp mọi nơi, dù màu da có khác nhau nhưng họ đều có chung một kẻ thù và cũng có chung một mục tiêu tranh đấu. Đế quốc thực dân ở đâu đâu cũng là ác quỷ, phải đánh đổ nó đi. Còn anh em vô sản ở đâu đâu cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau. Trên đời này, suy đến cùng, cũng chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản (Sđd, t.1, tr.266).

Người đề cập tới tình hình Đông Dương và những cơ sở cho sự chín muồi cách mạng ở đó. Đó vừa là những khẳng định khoa học, vừa là những dự báo chính trị mẫn cảm. Người viết: “người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương” (Sđd, t.1, tr.28). Theo đánh giá của Người, “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến. Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” (Sđd, t.1, tr.28). Cho đến khi, Luận cương của Lênin được Người hấp thụ như tìm thấy cẩm nang đi đường, Người đã xác định rõ ràng con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản.

Ba là, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp trên lập trường giai cấp công nhân. Trong những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, không phải tất cả những người cách mạng và yêu nước, dù đứng trên lập trường cộng sản, đã ý thức đầy đủ và thật sự quan tâm tới vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Song, đây lại là vấn đề cốt tử mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú ý, từ khi tham gia hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp. Người đã thẳng thắn phê phán thái độ thờ ơ hoặc lãng quên phong trào cách mạng ở thuộc địa và đòi hỏi Đảng Cộng sản phải xác định rõ trách nhiệm của Đảng đối với việc thúc đẩy và phối hợp hành động với các phong trào cách mạng ở thuộc địa. Người đã sớm đi đến một kết luận quan trọng: sự nghiệp giải phóng dân tộc phải đồng thời gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng xã hội; cả hai cuộc giải phóng đó đều là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, là sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Các bản tham luận nổi tiếng của Người tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (17/6 đến 8/7 năm 1924) đã chứng tỏ điều đó.

Những luận điểm sau đây cho thấy tính hệ thống và sự nhất quán của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới” (Sđd, t.1, tr.416). “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân trên thế giới”, “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (Sđd, t.9, tr.314).

Cái mới và bản lĩnh sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản là ở chỗ:

– Không tách rời giai cấp khỏi dân tộc.

– Giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân, trên nền tảng ý thức hệ của giai cấp công nhân nên cách mạng giải phóng dân tộc với mục tiêu giành độc lập dân tộc phải do giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cũng do đó, con đường tiến lên của dân tộc và của xã hội Việt Nam chỉ có thể là con đường xã hội chủ nghĩa, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội bằng cách quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Thực tiễn khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng và phát triển đã mở ra con đường phát triển tốt đẹp nhất cho dân tộc Việt Nam : Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng lý luận cho cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, đã tìm thấy con đường phát triển đúng đắn, hợp lý, có triển vọng nhất, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế phát triển của thời đại.

Bốn là, nhờ có lý luận và phương pháp cách mạng đúng đắn, Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng lãnh đạo nhân dân và dân tộc ta đánh bại chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và mới, đưa dân tộc ta vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong của thế giới, xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội cũng có những nét sáng tạo đặc sắc, có giá trị và ý nghĩa hiện đại, không chỉ với nước ta mà còn đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác trong loại hình “phát triển rút ngắn” và “quá độ gián tiếp”, do bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện từng bước từ dân chủ nhân dân tới chủ nghĩa xã hội.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có cả một hệ vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội, từ đặc trưng, bản chất, mục tiêu, con đường, phương thức, mô hình và bước đi cũng như những giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong sự kết hợp giữa tính phổ biến với tính đặc thù, tính giai cấp – dân tộc – nhân dân với tính thời đại và tính nhân loại trong thế giới đương đại ngày nay.

Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học bằng cách bổ sung một cách tiếp cận đạo đức học cũng đồng thời là một quan niệm cụ thể về chủ nghĩa xã hội. Người đã dự cảm từ rất sớm một vấn đề mà ngày nay ta càng thấy rõ tính hệ trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội: Không đánh bại chủ nghĩa cá nhân thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (Sđd, t.9, tr.291).

Cũng như vậy, không đảm bảo thực hành dân chủ rộng rãi thì không thể chống được quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng. Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội là đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Thành bại của chủ nghĩa xã hội tùy thuộc vào chỗ, những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là đội ngũ tiên phong có đủ dũng khí và quyết tâm để đánh thắng thứ “giặc nội xâm” mà Người coi là kẻ thù nguy hiểm nhất hay không? Do đó, chủ nghĩa xã hội không chỉ là kinh tế – một nền kinh tế phồn vinh, giàu có, một thể chế chính trị dân chủ – pháp quyền, đảm bảo quyền làm chủ thực chất của nhân dân, một xã hội công bằng, bình đẳng cho sự phát triển hài hoà cá nhân và cộng đồng, mà còn là một nền tảng đạo đức trong sạch, thấm sâu vào các quan hệ xã hội lành mạnh, một hệ giá trị văn hoá nhân bản, nhân đạo và nhân văn, kết hợp được truyền thống, bản sắc dân tộc với những tinh hoa của thời đại vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho mọi con người, mọi dân tộc.

Sự sâu sắc và tinh tế văn hóa, đặc biệt là văn hóa đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đem vào tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội một nhiệm vụ chiến lược – “trồng người”, đào tạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, coi đó là công việc gốc của Đảng; và thực hành đạo đức cách mạng được Người quan tâm suốt đời như một chiến lược, cả tư tưởng lẫn hành động. Chiến lược đó là cốt lõi của chiến lược con người, chiến lược xây dựng, phát triển, đồng thời là chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội, làm cho cách mạng, Đảng cách mạng, người cách mạng, có sức mạnh tự bảo vệ. Điều đó cho thấy, tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở tầm thời đại và hiện đại như thế nào, nhất là đem tư tưởng của Người soi rọi vào tình hình hiện nay cũng như trước những đòi hỏi mới của thời đại, trong xu thế toàn cầu hoá và trong bối cảnh hội nhập.

Người chỉ rõ, bản chất sâu xa và tính ưu việt nổi bật của chủ nghĩa xã hội là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Người khẳng định, không gì quý bằng dân, không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân, và dân chủ là quý báu nhất trên đời của dân. Là chủ thể gốc của mọi quyền lực, nhân dân phải là chủ sở hữu đích thực của dân chủ, phải là chủ xã hội, chủ nhà nước, kiểm soát được nhà nước của mình và xã hội phải là một xã hội dân chủ. Người còn nhấn mạnh, thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Vậy là, Người đã thấy vai trò động lực của dân chủ đối với tiến bộ và phát triển, đối với chủ nghĩa xã hội.

Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ khoa học, cách mạng mà còn là đạo đức, là văn hoá, tức là nhân văn. Người từng nói, chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học sẽ là nguồn sức mạnh vô tận, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận (Sđd, t.9, tr.131). Phải xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa sao cho đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày càng tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Tất cả đều nhằm vào hạnh phúc của nhân dân. Dân chỉ biết đến dân chủ khi dân được ăn no, mặc ấm. Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân vẫn cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì (Sđd, t.4, tr.152).

Mấu chốt của xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh là phải dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân. Việc gì có lợi cho dân phải quyết làm cho bằng được. Việc gì có hại tới dân phải quyết tránh cho bằng được. Quyền làm chủ của dân, hạnh phúc của dân, sự phát triển tự do, dân chủ, công bằng trong xã hội – đó là những giá trị đảm bảo cho chế độ phát triển bền vững và chủ nghĩa xã hội thực sự là một xã hội văn hoá cao, trong đó, con người là con người xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ và làm chủ, dân tộc trở thành một dân tộc thông thái. Chủ nghĩa xã hội nhân dân và nhân văn trong chiều sâu triết lý nhân văn chủ nghĩa của Hồ Chí Minh là ở đó. Trong những tư tưởng hàm xúc đó đã toát lên đầy đủ những vấn đề cốt yếu về mục tiêu, bản chất, động lực, cách làm và bước đi của chủ nghĩa xã hội. Đó là chủ nghĩa xã hội Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là một trong những cống hiến sáng tạo nổi bật của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Năm là, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện một quan hệ biện chứng, thấm nhuần sâu sắc quan điểm thực tiễn – phát triển và đổi mới. Những luận giải cô đọng, hàm xúc của Hồ Chí Minh cho thấy, độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện của chủ nghĩa xã hội, đó là nền tảng chính trị, là cơ sở dân tộc và chủ quyền nhân dân của chủ nghĩa xã hội. Theo đó, chủ nghĩa xã hội sinh thành, phát triển và hoàn thiện là đảm bảo thực chất, đầy đủ và bền vững nhất của độc lập dân tộc. Đó cũng là thước đo dân chủ và tự do của phát triển xã hội, một xã hội văn minh, hiện đại mà lịch sử tìm thấy sự biểu hiện tốt nhất ở chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội, đó cũng chính là cách thức tổ chức xã hội tốt nhất để làm cho Tổ quốc, đất nước, quốc gia – dân tộc trường tồn, con người cá nhân và cộng đồng xã hội được phát triển tự do, toàn diện mọi khả năng sáng tạo, được thụ hưởng hạnh phúc vật chất, tinh thần trong một môi trường lành mạnh, tốt đẹp nhất. Đó cũng chính là hàm ý sâu xa trong một chân lý lớn mà Hồ Chí Minh nêu ra: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Giá trị ấy cũng chính là chủ nghĩa xã hội, một chủ nghĩa xã hội phát triển thông qua đổi mới, sáng tạo và hiện đại hóa.

GS.TS Tô Huy Rứa
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TW Đảng,
Trưởng ban Tuyên giáo TW, Chủ tịch Hội đồng Lý luận TW

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hóa Việt Nam những ngày đầu cách mạng

Văn hóa luôn là vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm. Kế tục sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới và quá độ tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và Chính phủ phát động toàn dân xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhân dịp đầu xuân 2011, chúng tôi xin giới thiệu bài tường thuật buổi làm việc của Hồ Chủ tịch về văn hóa với đại biểu đoàn văn hóa lâm thời Bắc Bộ đã được đăng trên Tạp chí Tri Tân số 205, tháng 9/1945, trang 4-5.

Tri Tân là tạp chí có khuynh hướng dân tộc, yêu nước chuyên về khảo cứu, số 1 ra ngày 3/6/1941, trụ sở 349 Phố Huế – Hà Nội, do cụ Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng làm chủ nhiệm. Đều đặn ra hằng tuần, Tri Tân đã thu hút được đông đảo các cây bút có uy tín thời đó như Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (sau là Chủ tịch Quốc hội đầu tiên), Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Chu Thiên Hoàng Minh Giám (nhà văn, tác giả Bóng nước Hồ Gươm), Biệt Lam Trần Huy Bá, Đặng Thai Mai (nguyên Viện trưởng Viện Văn học, Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996), Vệ Thạch Đào Duy Anh (Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000), Kiều Thanh Quế… đến các cây bút trẻ mới xuất hiện nhưng sớm gây được tiếng vang như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi…

5h chiều 7/9/1945, ban quản trị lâm thời đoàn văn hóa Bắc Bộ đang họp tại nhà văn hóa (hội Khai trí Tiến đức cũ) thì có tin điện thoại của Bộ Ngoại giao cho biết rằng Cụ Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ lâm thời muốn hội đàm với đại biểu đoàn văn hóa khoảng 19h.

Ba anh Trương Tửu, Thượng Sỹ, Nguyễn Đức Quỳnh do anh Nguyễn Hữu Đang hướng dẫn, lên Bắc Bộ phủ để yết kiến Cụ Hồ Chủ tịch.

Biết tiếng Cụ đã lâu, lần đầu được gặp Cụ trong bộ y phục quá giản dị, chúng tôi không giấu nổi sự cảm động. Nét mặt gân guốc, đôi mắt quắc thước, điệu bộ hồn nhiên bộc lộ một tinh thần tranh đấu cương quyết và một tâm hồn nhân đạo, chân thành.

Hồ Chủ tịch với Luật sư Vũ Trọng Khánh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Giáo sư Đặng Thai Mai, ông Nguyễn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại thoái vị), ông Vũ Đình Huỳnh (người đeo kính đen đứng sau ông Vĩnh Thụy) – Bí thư của Hồ Chủ tịch, ông Ngô Quang Châu, ông Trần Huy Liệu – Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, ông Lưu Văn Lợi, ông Nguyễn Đình Thi (từ trái sang phải).

Sau mấy lời giới thiệu của anh Nguyễn Hữu Đang, anh Trương Tửu nhân danh Chủ tịch Ủy ban Văn hóa lâm thời Bắc Bộ Việt Nam, chào mừng Cụ Hồ, tán thành cuộc cách mạng dân chủ vừa đắc thắng và đặt lòng tín nhiệm vào tài năng sáng suốt của Cụ trong công việc lãnh đạo dân tộc đường giải phóng.

Lời nói thủng thẳng và rành rọt, Cụ Hồ cảm ơn anh em trong giới văn hóa:

– Theo ý riêng của tôi, lời Cụ Hồ nói, trong sự giải phóng dân tộc và kiến thiết một nước Việt Nam mới, nhiệm vụ của các ngài trong giới văn hóa cũng rất là nặng nề quan trọng. Dân tộc chúng ta đã bước sang một giai đoạn mới tất nhiên phải có một chính thể mới và một văn hóa mới. Khi chúng ta còn bị nô lệ thì văn hóa của chúng ta cũng mang nặng những dấu tích nô lệ. Bây giờ độc lập, văn hóa cũng phải có những dấu tích độc lập. Phải độc lập trước đã rồi văn hóa mới phát triển được. Dân tộc còn bị áp chế, hàng triệu đồng bào chúng ta vẫn còn chết đói đầy đường thì các ngài có thể ngồi trong tháp ngà mà sáng tác được không? Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hóa nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là: Củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn cho đất nước một văn hóa mới và phải làm thế nào cho văn hóa Việt Nam sẽ chiếm được một địa vị trong nền văn hóa thế giới.

– Thưa Cụ, lời anh Trương Tửu đáp lại, toàn thể anh em trong giới văn hóa chúng tôi, bao lâu nay, vẫn sống trong sự áp bức ngột ngạt của chính sách thực dân. Tuy vậy dù cường quyền áp bức đến bực nào, anh em chúng tôi cũng vẫn cố gắng vươn đến một ánh sáng, vươn đến độc lập và tự do. Ngày nay sự giải phóng của dân tộc đã thực hiện một phần rất lớn. Các ánh sáng tự do cần thiết cho sự phát triển của văn hóa mà chúng tôi hằng khao khát đã nhờ sự giải phóng ấy mà bắt đầu tưng bừng, cho nên đối với chúng tôi, tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà trong lúc này cũng tức là tranh đấu cho sự giải phóng của nền văn hóa Việt Nam.

Cụ Hồ Chủ tịch gật đầu tỏ ý bằng lòng:

– Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng của quốc dân, tranh đấu cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hóa mới. Cái văn hóa mới này cần phải có tính cách khoa học, tính cách đại chúng thì mới thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện đại.

Cụ nói tới đây thì anh Nguyễn Đức Quỳnh xin phép Cụ trình bày một vài ý kiến:

– Thưa Cụ, lời anh Quỳnh nói, Cụ đã nói đến tính cách khoa học của văn hóa mới, chúng tôi xin đề cập đến sự hợp tác của các nhà kỹ thuật, chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia. Theo chỗ chúng tôi nhận xét, ít lâu nay thì các nhà kỹ thuật chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia hình như vẫn còn chút ít ngần ngại khi muốn hợp tác với Chính phủ để thi thố tài năng của mình. Họ là những người sống bằng kỹ nghệ và chỉ muốn làm việc cho kỹ thuật. Họ muốn được quyền đứng ngoài những xu hướng chính trị của đảng phái để phụng sự Tổ quốc.

Mắt Cụ Hồ sáng hẳn lên. Cụ với tay cầm quản bút ghi trên một tờ giấy để trước mặt Cụ (chúng tôi thấy Cụ ghi bằng chữ Hán), Cụ đặt quản bút xuống chậm rãi nói:

– Tôi nhờ ngài thanh minh với tất cả những anh em trong giới kỹ thuật chuyên môn rằng: Nước Việt Nam không phải của Việt Minh. Nước Việt Nam là của quốc dân Việt Nam. Chính phủ lâm thời hiện thời này không phải là Việt Minh là của toàn thể quốc dân.

Cụ dừng lại giơ tay phải lên như muốn xua đuổi một điều ngộ nhận của nhiều người đối với Chính phủ, và nói tiếp:

– Đấy ngài xem… Trong Chính phủ lâm thời có cả vua, quan lại cũng có, địa chủ cũng có, nông dân cũng có, công nhân cũng có. Đây là một Chính phủ Liên hiệp quốc gia, không có màu sắc quốc gia nào lấn át cả. Lúc này bất cứ người nào miễn là có tài và đừng phản cách mạng thì có thể phụng sự được quốc gia, toàn quốc. Trong lúc chung quanh mình bao nhiêu người đói khát, mình có thừa thóc gạo, phải đem mà giúp ích cho đồng bào. Nếu có thể mà lúc này không đem tài năng ra phụng sự quốc dân thì không những quốc dân có quyền chê trách mà ngay đến chính anh có tài đó cũng phải chê trách. Chừng như có một ý kiến gì mạnh mẽ mới nảy ra trong óc Cụ, mắt Cụ bỗng trở nên hân hoan và nghiêm trọng. Đôi mắt Cụ như lắng sâu vào trào lưu tiến hóa của lịch sử. Và Cụ hỏi:

– Thật chưa bao giờ dân nước chúng ta có một sự đoàn kết rộng đến thế. Bổn phận chúng ta ngày nay – bổn phận của các ngài là làm sao cho sự đoàn kết rộng ra, càng ngày càng sâu xuống, phải củng cố sự đoàn kết ấy cho nó bắt rễ xuống, cho nó bền chặt mãi.

Cụ dừng lại, cảm động, gian phòng im lặng.

Sợ mất thêm nhiều thì giờ của Cụ, anh Trương Tửu liền tường trình đại cương công việc của đoàn văn hóa Bắc Bộ Việt Nam đang tiến hành:

1. Tổ chức cuộc trưng bày văn hóa.

2. Dự thảo một chương trình của tuần lễ văn hóa.

3. Vận động đại hội nghị toàn quốc văn hóa.

Nghe nói tiếng “toàn quốc”, Cụ Hồ gật đầu:

Đại hội nghị toàn quốc văn hóa… phải, phải làm thế mới được. Từ trước đến giờ, chính sách thực dân Pháp đã chia rẽ chúng ta nhiều lắm rồi. Tôi mong rằng các ngài cố gắng làm được như thế, tổ chức mau chóng cuộc đại hội nghị văn hóa toàn quốc, gây được mối liên lạc mật thiết của quốc dân và văn hóa. Chính phủ sẽ giúp đỡ các ngài những phương tiện để thực hành công việc đó.

Công việc đã kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Ông Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ mở cửa phòng bước vào, rút đồng hồ ở túi ra ghé tai Cụ Hồ báo cáo việc gì đó… Chúng tôi đoán rằng Cụ sắp phải tiếp đoàn đại biểu của giới khác, vội đứng dậy. Anh Trương Tửu thay mặt anh em trong đoàn văn hóa cảm ơn Cụ một lần nữa. Cụ cũng đứng dậy, nhờ chúng tôi chuyển lời chào của Cụ đến tất cả anh em trong đoàn văn hóa, và ngỏ ý mong anh em đoàn kết chặt chẽ với quốc dân để cùng tranh đấu cho sự giải phóng dân tộc.

Sau khi bắt tay Cụ Hồ Chủ tịch, chúng tôi lui về, trong lòng chan chứa cảm tình thành thực và tín nhiệm đối với Cụ Chủ tịch Chính phủ lâm thời.

Đến ngày 24/11/1946, Đại hội nghị văn hóa toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội với sự góp mặt của các đại biểu từ Bắc chí Nam. Đại hội dự kiến họp trong 7 ngày nhưng vì thực dân Pháp ngày càng lộ bộ mặt gây hấn, ngày kháng chiến toàn quốc đã gần kíp, Đại hội chỉ họp trong 1 ngày. Báo Cứu quốc thời đó đưa tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự và phát biểu ý kiến trong vòng 40 phút. Nhưng hiện nay, theo nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy bài phát biểu đó của Người

Kiều Mai Sơn

cand.com.vn