Tag Archive | Thời sự

Học sinh kiều bào tại Lào thi tìm hiểu về Bác Hồ

(VOV) – Ngày 16/5, Hội Người Việt tại thủ đô Vientiane phối hợp Đại sứ quán Việt Nam tổ chức cuộc thi tìm hiểu về Bác Hồ cho học sinh bậc tiểu học, mẫu giáo, thu hút hàng ngàn con em kiều bào và học sinh Lào tham gia.

Sự kiện nằm trong khuôn khổ các họat động Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam- Lào và kỷ niệm các ngày lễ lớn của hai nước Việt Nam và Lào của cộng đồng người Việt Nam tại nước bạn.

Sống và học tập trên đất nước Lào anh em, các thế hệ người Việt vẫn luôn nhớ cội nguồn tổ tiên của mình. Bên cạnh các tiết mục văn nghệ ca ngợi quê hương đất nước và Bác Hồ kính yêu, các em còn tham gia cuộc thi tìm hiểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp 122 năm ngày sinh của Người.

Các em thiếu niên nhi đồng đã tham gia rất hào hứng với những câu hỏi và hiểu biết cơ bản về thân thế, sự nghiệp và quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nhân cách giản dị mà vĩ đại của Bác.

Đại đa số các em đều nắm bắt rất kỹ và trả lời đúng các câu hỏi, qua đây giúp nhiều em khác hiểu biết thêm về Bác Hồ và đất nước Việt Nam thân yêu. Cuộc thi cũng giúp rèn luyện kỹ năng nói, nghe và tư duy bằng tiếng Việt cho thế hệ trẻ cộng đồng người Việt Nam tại Lào./.

Quốc Khánh (từ Vientiane)
vov.vn

Tháng 5, người Kor Trà Bồng về thăm Lăng Bác

(VOV) – Trong suy nghĩ của người Kor Trà Bồng, Bác Hồ là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, là ý chí đấu tranh bền bỉ vì độc lập của dân tộc.

Những ngày tháng 5 này, hàng triệu người con đất Việt lại về Quảng trường Ba Đình lịch sử, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hòa cùng muôn triệu trái tim ấy, có những người con của dân tộc Kor, ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi – một trong những dân tộc đã tự nguyện mang họ của Bác- họ Hồ nhằm tỏ lòng thành kính đối với vị lãnh tụ kính yêu và thể hiện sự thủy chung của đồng bào đối với con đường, mà Bác Hồ và Đảng đã lựa chọn.

43 năm trước, giữa lúc chiến tranh ác liệt, đồng bào Kor ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi nghe tin Bác mất. Chiến tranh chưa kết thúc mà Bác đã ra đi, ngày toàn thắng sẽ không còn được đón Bác vào thăm. Ý nghĩ đó thôi thúc các già làng người Kor ở Trà Bồng phải làm gì đó để thể hiện tấm lòng thành kính với Bác, thủy chung, sắt son với con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn. Nguyện vọng mang họ Bác Hồ của người Kor bắt nguồn từ đó.

Đại diện người dân Kor Quảng Ngãi ra thăm Lăng Bác

 

Ông Hồ Minh Sơn, ở xã Trà Tân, nguyên là Bí thư tỉnh Đoàn Quảng Ngãi nhớ lại: Đêm đầu tiên người Kor chính thức mang họ Bác Hồ, rừng quế Trà Bồng sáng bừng lửa đuốc và nồng nàn men rượu cần. Trong tiếng cồng tiếng chiêng rộn ràng, dân làng nắm tay nhau múa hát cả đêm không biết mệt. Họ vui vì từ nay vinh dự được mang họ Bác, tự nguyện gắn bó cuộc đời của dân tộc mình với Bác. Với họ, đó là cách để người Kor tỏ lòng biết ơn vị lãnh tụ kính yêu đã đem ánh sáng tự do, độc lập cho dân tộc. Trong suy nghĩ của người Kor Trà Bồng, Bác Hồ là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, là ý chí đấu tranh bền bỉ vì độc lập của dân tộc. Đi theo con đường mà Bác Hồ và Đảng lựa chọn là chuẩn mực đạo đức, lối sống của người Kor.

Ông Hồ Minh Sơn khẳng định: “Bác Hồ nói như mặt Trời, ở đâu cũng sáng hết. Không ở đâu, người dân tin như người Kor tin Bác Hồ. Đồng bào nói rằng bây giờ không có gì để trả công ơn của Bác, chỉ có gắn nòi giống của người dân tộc Kor này vào tên họ của Bác Hồ. Cho nên khi Bác mất, đồng bào mong muốn được đổi họ Đinh  để mang họ Bác Hồ”.

Anh Hồ Văn Liệu, ở xã Trà Thuỷ, huyện Trà Bồng không khỏi xúc động: “Đây là lần đầu tiên tôi ra đây thăm Lăng Bác, được xem phim tài liệu về những giờ phút cuối đời của Bác, tôi rất xúc động. Được vào thăm Bác, thấy Bác đang nằm yên giấc, tôi cảm động lắm. Tình cảm của Bác bao la, dành hết cho đồng bào cả nước. Dù là Chủ tịch nước nhưng Bác sống rất giản dị. Bác muốn làm sao cho đất nước chúng ta được hòa bình, độc lập, dân tộc ta được ấm no, bình đẳng hạnh phúc. Tình cảm của Bác chúng tôi rất ghi nhớ và không biết đền đáp như thế nào”.

Bà con xúc động khi nhắc tới kỷ niệm với Bác

 

Tự hào được mang họ Bác, người Kor Trà Bồng hôm nay luôn đoàn kết một lòng, chung tay xây dựng quê hương đổi mới, giàu đẹp như tâm nguyện của Bác trước lúc đi xa. Ông Hồ Văn Thịnh, Trưởng ban tổ chức Huyện uỷ Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi cho biết: Được ra thăm Bác, hiểu hơn về cuộc đời thanh bạch, giản dị của vị lãnh tụ, những cán bộ, đảng viên như ông càng ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình, quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

“Lâu nay, Trung ương đã triển khai nhiều chuyên đề về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt là chuyên đề học tập về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Với ý nghĩa đó, chúng tôi cho rằng làm công tác cán bộ, truớc hết mỗi cán bộ, công nhân viên chức trong các cơ quan Nhà nước của Đảng phải có cái tâm, cái tầm, chăm lo đời sống cho người dân” – ông Thịnh chia sẻ.

Tháng 5 về bên Người, đồng bào Kor ở miền Tây Quảng Ngãi càng vững tin hơn vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Mỗi người con của dân tộc Kor hôm nay ai cũng tâm nguyện suốt đời phấn đấu xây dựng quê hương Trà Bồng quật khởi ngày càng giàu đẹp, thoả lòng mong ước của Bác Hồ, sống xứng đáng với tình cảm yêu thương mà Bác đã dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số, xứng đáng là những người con mang họ của Bác./.

Vân Thiêng- Minh Châm/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Những giai điệu bất tử: Đêm Trường Sơn nhớ Bác

(VOV) – Bài hát “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” của nhạc sĩ Trần Chung, phổ thơ của Nguyễn Trung Thu là bài bát có sức sống lâu bền trong tâm khảm nhiều thế hệ công chúng.

Bài hát có cái gì đó rất gần gũi, phù hợp với phong cách của Bác: ung dung, tự tại, giản dị, sâu sắc, mặn mà và luôn lạc quan, bay bổng, trẻ trung, tự nhiên. Chủ thể cảm xúc trong bài hát là những người lính Trường Sơn đang hành quân ra mặt trận. Họ suy nghĩ và cảm xúc thật hồn nhiên và đầy lãng mạn. Chắc chắn đây phải là những người lính còn rất trẻ: “Đêm Trường Sơn/Chúng cháu nhìn trăng, nhìn cây/Cảnh về khuya như vẽ/Bâng khuâng, chúng cháu thấy/Bác như đã đến nơi này…”

Cảnh ở đây chỉ có trăng và cây, lại đã về khuya. Con người có vẻ như lọt thỏm vào giữa thiên nhiên. Các chàng lính trẻ, lãng mạn đến “bâng khuâng” rồi hình dung như có Bác vừa đi qua. Các chàng lính trẻ không tưởng tượng ra hình ảnh ai khác, mà lại là vị lãnh tụ rất đỗi kính yêu. Đủ thấy sự gắn bó tự nhiên, máu thịt, gần gũi thân quen như thế nào giữa Bác và chiến sĩ. Những âm hình có vẻ rất sơ sài, hầu như toàn nốt đen và trắng, vài chỗ có móc đơn, móc kép, chẳng luyến láy cầu kỳ, phức tạp.

Nghe bài hát: Đêm Trường Sơn nhớ Bác – Thể hiện: Tốp ca Quân khu 7

Về giai điệu, chẳng có phát triển nào đột biến với những quãng nhảy đáng kể, chỉ được tiến hành bình ổn, tuần tự, tất cả đều có sự chuẩn bị rất “logic” cho sự đón nhận, tiếp thu của người nghe. Vậy mà bài hát đã đem đến ấn tượng thật phong phú, sinh động và đa dạng. Màu tối của giai điệu biểu hiện rất “đắt” không khí đêm khuya ở rừng Trường Sơn, nhưng cái dào dạt ở đoạn B của bài hát với những ô nhịp liên tiếp được hát luyến, liền mạch lại khiến người nghe có cảm giác trời như sắp về sáng, một ngày mới đang chờ đón các chiến sĩ.

Nhạc sĩ đã xử lý rất khéo phần âm nhạc để chuyển tải nội dung hai câu “Đêm Trường Sơn, nghe tiếng suối trong như tiếng hát xa, mà ngỡ như từ Pắc Bó suối về đây ngân nga”. Mạch âm nhạc từ tốn nhưng lại không kém phần dào dạt. Nghe mà hình dung ra dòng suối tận Pắc Bó chảy về Trường Sơn hát ngân nga. Và câu nhạc ấy cũng rất có duyên khi đổ dồn về câu kết: “Đường Trường Sơn mang bóng hình của Bác. Đường Trường Sơn chúng cháu dồn chân bước. Con đường của Bác mới đi qua”.

Cả bài hát là ý nghĩ, sự tưởng tượng của các chiến sĩ về hình ảnh của Bác ở Trường Sơn chứ điều đó chưa xảy ra, nghĩa là hư chứ không phải là thực, bởi vì “Bâng khuâng chúng cháu nghĩ Bác như đã đến nơi này”. Và đến câu kết: “Con đường của Bác mới đi qua” cũng vẫn trong cái mạch tưởng tượng của những chàng lính trẻ. Những câu cuối cùng đầy hứng khởi âm nhạc được mô tiến cao dần để vút lên nốt cao nhất ở tiếng mới (nốt lá trong giọng mi thứ). Có cảm giác như đã là hiện thực, như là Bác đã xuất hiện bên cạnh, trước các chiến sĩ. Cả bài là trầm ngâm, lãng mạn, là đêm khuya khoắt, là những tâm tình thì cuối bài là tiếng reo vang, bởi như đã nói, các chàng lính hình dung như đã nhìn thấy Bác. Quả là một sự xử lý âm nhạc quyện với lời thơ không thể khác được.

 “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” cực kỳ ngắn gọn, khúc chiết, giản dị về âm nhạc và hàm xúc, chân thật, sâu sắc về lời ca – những điều không dễ đạt được trong một ca khúc. Trong những bài hát viết về Bác, “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” là một gương mặt rất riêng, hồn hậu, đặc sắc, rực rỡ nhưng giản dị, thánh thiện. Cả hai tác giả đã qua đời nhưng “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” thì mãi còn đó./.

Nhạc sỹ Nguyễn Đình San/VOV – Báo TNVN
vov.vn

Càng nhớ lời Bác dạy

(Chinhphu.vn) – Ngay từ năm 1945, trả lời phỏng vấn của các nhà báo thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các đại biểu trí thức dự
Hội nghị chính trị đặc biệt (tháng 3 -1964) – Ảnh: Tư liệu

Và từ đó cho đến khi từ giã cõi đời, Người đã dành cả cuộc đời mình, phấn đấu để đạt được khát vọng đó. Khát vọng của Người chính là mục tiêu của toàn Đảng, để Đảng trở thành người lãnh đạo đưa nhân dân ta đến đài hạnh phúc, bởi đối với mỗi người dân cũng như đối với toàn thể dân tộc, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Trong hoàn cảnh Đảng trở thành Đảng cầm quyền, thì đối với mỗi cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân chính là một “kẻ thù hung ác”. Hồ Chủ tịch đã nhiều lần chỉ ra những căn bệnh đang tồn tại trong các cơ quan Đảng, chính quyền, trong một bộ phận đảng viên. Đó là bệnh tự mãn, tự túc, hiếu danh hiếu vị, tư tưởng địa phương chủ nghĩa; đầu óc hẹp hòi, đặt lợi ích địa phương, cục bộ lên trên lợi ích của quốc gia; óc bè phái, óc quân phiệt, quan liêu, lối làm việc bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa là những “ung nhọt” phá hoại đạo đức, văn minh của Đảng cầm quyền.

Mắc những bệnh như trên, người thì bòn rút của công, cậy quyền, ỷ thế, nhận hối lộ; người thì dối trên, lừa dưới, chạy chức chạy quyền nhằm “vinh thân phì gia”, phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng.

Kết quả là quần chúng không tin họ, càng không yêu họ và ngày càng rời xa họ. Đó là những con sâu mọt trong Đảng, là kẻ thù của nhân dân và của chủ nghĩa xã hội (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9).

Là người sáng lập, người luôn quan tâm rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt nêu rõ những biểu hiện, những tác hại của các tệ nạn; mặt khác, Người nhấn mạnh rằng: Chừng nào cán bộ, đảng viên của Đảng chưa chiến thắng được những nọc độc của chủ nghĩa cá nhân, thì chừng đó trong Đảng vẫn sẽ còn những hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như vậy, Đảng không thể “là đạo đức, là văn minh” lại càng không thể lãnh đạo được quần chúng.

Từ tháng 4/2006, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã thẳng thắn chỉ ra những tổn tại trong Đảng như “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém cả về nhân phẩm và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng… Bệnh cơ hội chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền… làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ra Nghị quyết, trong đó tiếp tục chỉ ra: “Công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục… nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Nổi lên một số vấn đề cấp bách sau đây:

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc… Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước”.

Nhớ lại những lời dạy của Bác năm xưa, trước tình trạng này, công tác xây dựng Đảng phải được đặt lên hàng đầu và cần phải được tiến hành trên cả 3 mặt: Tư tưởng, chính trị và tổ chức.

Về tư tưởng, phải lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng cho tư tưởng và hành động của mọi đảng viên.

Coi dân là gốc, coi lợi ích của người dân là lợi ích tối cao. Ngoài lợi ích của dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Việc gì có lợi cho dân thì khó mấy cũng phải làm. Việc gì có hại cho dân, thì dù hại ít cũng phải tránh.

Về chính trị, thì phải nắm vững hai mục tiêu: Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.

Nhằm hai mục tiêu ấy, trong cuộc sống, phải phấn đấu thực hiện phương châm: “mình vì mọi người, để mọi người vì mỗi người”. Cá nhân lo đóng góp cho xã hội, để xã hội có điều kiện cơ sở lo cho mỗi cá nhân. Trên cơ sở cống hiến tận tình của mỗi cá nhân, mà xã hội lo cho sự phân phối công bằng trong xã hội, xóa bỏ được tình trạng bần cùng hóa.

Về tổ chức, công tác xây dựng Đảng không thể chấp nhận tình trạng Đảng đông nhưng không mạnh. Đảng phải là một tổ chức có hệ thống chặt chẽ; các cấp bộ Đảng phải đảm bảo nguyên tắc dân chủ-tập trung; phải thống nhất ý chí để thống nhất hành động; phải thực hiện kỷ luật nghiêm minh, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa, mất phẩm chất, không chịu sửa chữa sai lầm, gây tác hại đến uy tín của Đảng, mất lòng tin của nhân dân.

Xây dựng Đảng được thành công, ta mới củng cố được một chính quyền vững mạnh vì dân và được lòng dân nhiệt tình ủng hộ.

Trần Thái Bình
baodientu.chinhphu.vn

Tấm gương trọn đời vì nước, vì dân

QĐND – Hôm nay, cả nước tưng bừng kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Kỷ niệm sinh nhật Bác năm nay đúng vào dịp Ban Bí thư tổ chức Hội nghị sơ kết một năm triển khai thực hiện Chỉ thị 03 “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đồng thời toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang tích cực thi đua, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết đại hội đảng các cấp, nhất là việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng.

Mỗi dịp kỷ niệm Ngày sinh của Bác Hồ là một lần chúng ta thấy rõ hơn giá trị to lớn về tư tưởng, tấm gương đạo đức sáng ngời Hồ Chí Minh. Một trong những tư tưởng vĩ đại nhất mà Người để lại cho Đảng ta, dân tộc ta là tình yêu thương con người, vì con người, vì cuộc sống ấm no và hạnh phúc của nhân dân. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác luôn quan tâm đến con người, chăm lo phát triển con người. Cả cuộc đời, Bác đã dành tất cả tình yêu thương cho đồng bào, đồng chí; cho cụ già, trẻ em, các cháu gái, trai, từ miền xuôi đến miền ngược; từ Bắc đến Nam… Bác tâm niệm: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó là tư tưởng lớn lao và cũng là thông điệp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến quốc dân đồng bào, thể hiện trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với nhân dân.

Thấm nhuần lời dạy của Người, trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bằng trách nhiệm và tình thương bao la, Đảng đã lãnh đạo dân tộc ta vượt qua muôn vàn chông gai thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử. Đặc biệt, thực hiện đường lối Đổi mới, Đảng đã quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc đưa đất nước phát triển; vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định trên thế giới. Đó là thành quả vĩ đại từ giá trị to lớn của tư tưởng vì dân, thương dân mà Bác Hồ kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ảnh: internet
Tuy nhiên, soi mình vào thực tiễn, vẫn còn đâu đó tình trạng đội ngũ cán bộ của Đảng làm phiền dân, chưa thực sự quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; vẫn còn biểu hiện của sự quan liêu, cửa quyền, xa dân. Thậm chí, một bộ phận không nhỏ cán bộ ngại tiếp xúc với dân, thiếu quan tâm đến cuộc sống của người dân. Tình trạng trên dẫn đến việc cán bộ “mắc” bệnh quan liêu, có những hành động đi ngược lại lợi ích của đa số nhân dân, gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm tổn hại đến uy tín của Đảng, của Nhà nước; làm giảm hiệu lực thực thi pháp luật.

Sinh thời, Bác từng dạy: “Một Đảng cầm quyền mà để cho người dân nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Đảng với nhân dân…”, “nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Tư tưởng đó của Người mang bản chất cốt lõi là Đảng, Nhà nước không có lợi ích gì khác ngoài việc chăm lo cuộc sống hạnh phúc, ấm no trong độc lập, tự do, hòa bình thật sự của nhân dân. Vì vậy, chính sách của Đảng, quyết sách của Nhà nước; hành động của từng cán bộ, đảng viên đều phải hướng đến mục đích cuối cùng là vì nhân dân. Đó là giá trị nhân văn cao đẹp, là biểu hiện tiến bộ của xã hội xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tư tưởng thương dân, vì dân của Bác mãi mãi là ánh đuốc soi sáng cho tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, đạo đức của mỗi chúng ta; nâng bước ta đi trên những chặng đường gian lao mà đầy vinh quang phía trước.

Thiết thực kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta không chỉ thể hiện lòng tôn kính đối với vị lãnh tụ kính yêu, mà hơn lúc nào hết phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc những giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc cùng tinh hoa văn hóa thế giới. Đó là tài sản vĩnh hằng của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, học Bác và làm theo Bác đặt ra yêu cầu đối với mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng sự nỗ lực phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội đã được Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định; chủ động, tự giác quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, nhằm tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, để Đảng ta thực sự là đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân, đưa đất nước ngày càng phát triển.

Để Đảng ta thực sự là Đảng do Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, trên hết và trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, nắm vững những nội dung cốt lõi được xác định trong Chỉ thị 03 “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) để tự soi mình, tự sửa chữa, hoàn thiện mình; kết hợp chặt chẽ giữa nói với làm. Mọi hành động, lời nói; mọi chủ trương, quyết sách đều phải đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lên trên hết; tích cực sửa chữa, gạt bỏ bệnh quan liêu, hành chính, mệnh lệnh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Học Bác và làm theo Bác phải rất tự giác và trở thành công việc thường xuyên, hằng ngày trong đời sống, sinh hoạt, công tác của từng cán bộ, đảng viên, quần chúng.

Quân đội ta gần 68 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu đã tỏ rõ là đội quân trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Ngay sau Đại hội XI của Đảng, toàn Đảng bộ Quân đội đang nỗ lực triển khai các biện pháp, với nhiều cách làm sáng tạo, thiết thực; tạo được sự chuyển biến vững chắc, đồng bộ trên các lĩnh vực công tác. Với tinh thần ấy, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nguyện đem hết tài trí, sức lực của mình bảo vệ và xây dựng đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân, xứng đáng là đội quân mang phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

QĐND
qdnd.vn

Hồ Chí Minh, dân tộc và nhân loại

Thường kính cẩn nghe HÒA THƯỢNG THÍCH CHƠN THIỆN – ĐBQH, PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, TIẾN SĨ KHOA HỌC – nói về vô ngã, trong nhiều lần chuyện trò, sự uyên bác của Hòa Thượng không dừng lại ở hai cái tên Đức Phật và Hồ Chí Minh, nhưng đó là hai cái tên được nhắc đến nhiều nhất… Chúng tôi tự sự:

– Thưa Hòa Thượng, lần này chúng ta đề cập tới một vấn đề khó, không phải để nhìn lại, không phải làm sáng tỏ hơn mà tự sự về cái chúng ta thường có – Hồ Chí Minh tồn tại trong mỗi con người Việt Nam yêu nước, trong sự nghiệp của chúng ta, trong đời thường và cả trong đức tin Phật giáo… thưa Hòa Thượng, có thể nêu nhận xét ngắn gọn nhất về Người?– Đề cập đến Hồ Chí Minh là một vấn đề rất khó, đúng như nhận định: “…chúng ta đề cập đến vấn đề khó, không phải để nhìn lại, không phải làm sáng tỏ hơn mà tự sự về cái chúng ta thường có…”. Ở đây, tôi đề cập đến Người chỉ vì lòng ngưỡng mộ, dù nhận thức và ngôn ngữ của mình có hạn chế đến mức nào đi chăng nữa.

Nhận xét ngắn gọn nhất về Người thì thông thường nhiều người nói: “Người là nhà yêu nước vỹ đại”, “Người là một nhà lãnh đạo thiên tài”, hay là “Người là một nhà văn hóa tỏa sáng”.v.v… Phát biểu ngắn gọn thế nào về Người tôi cũng cảm thấy có cái gì thiêu thiếu, có một cái gì bị đánh mất, hoặc giả có cái gì trống trải làm sao ấy! Một lần, trên báo Đại Biểu Nhân Dân, tôi đã viết:

– Năm 1926, năm Người 36 tuổi, đã vạch ra 12 điều của một mẫu mực cách mạng, trong đó điểm thứ nhất và thứ hai nói rằng:

Tượng đức phật ở Bồ Đề đạo Tràng, mặt quay về hướng đông đúng tư thế khi người giác ngộ

Ảnh: Thăng Long

Điểm 1: Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại.

Điểm 2: Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức; tóm lại phải vị tha và không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm Tổ quốc trên hết ở mọi nơi và mọi lúc.

– Năm 36 tuổi, Người đã đầy lòng vong ngã, vị tha, đầy lòng cứu dân, cứu nước, cứu nhân loại, tâm thức không còn chỗ đứng cho các ý niệm về “tôi”, “của tôi”. Tâm thức ấy là đất hứa của nghìn sáng tạo chấp nối thành các thành quả của cách mạng Việt Nam cận đại và hiện đại…

Nay thì tôi nói thêm: Người là một trí tuệ lớn, một nguồn tâm lớn, cần nhìn rõ Người qua nhiều khía cạnh: quốc gia và quốc tế; văn hóa và giáo dục; chính trị và xã hội, mới có thể có phát biểu có giá trị gần gũi với Người. Để khách quan hơn, tôi xin trích dẫn thêm một vài đoạn ngắn trong phần kết của tập Hồ Chí Minh (New York, 2001), do William Duiker biên soạn (suốt hơn 40 năm về Người) rất giá trị:

“…không thể phủ nhận rằng sự nghiệp mà ông Hồ Chí Minh đã thúc đẩy và chỉ đạo đã tạo ra một thời điểm quan trọng trong thế kỷ XX, thể hiện đỉnh cao của thời đại Giải phóng Dân tộc ở thế giới thứ 3 và lần đầu tiên người ta công nhận rõ ràng những giới hạn của chính sách Hoa Kỳ về kiềm chế chủ nghĩa Cộng sản. Sau Việt Nam, thế giới sẽ không bao giờ như cũ nữa”.“Ông Hồ Chí Minh không những là người sáng lập ra Đảng của mình và sau đó là Chủ tịch nước mình mà Ông còn là nhà chiến lược chủ yếu và biểu tượng gây truyền cảm nhất của Việt Nam. Một nhà tổ chức có tài và một nhà chiến lược khôn ngoan và một lãnh tụ có sức lôi cuốn quần chúng, ông Hồ Chí Minh là một nửa Lê Nin và một nửa Gandhi, và là một sự phối hợp đầy năng động”.

“Như vậy, như câu nói đáng ghi nhớ của một triết gia Hoa Kỳ, Sidney Hook, ông Hồ Chí Minh là “Người tạo ra thời thế”, một “người con của khủng hoảng” đã kết hợp trong con người của mình hai trong số các sức mạnh trung tâm của lịch sử Việt Nam hiện đại: mong muốn độc lập dân tộc và tìm kiếm công bằng xã hội và kinh tế… Bất kể có sự phán xét như thế nào đối với di sản của ông, ông đã có chỗ trong Lăng các nhà anh hùng cách mạng đã đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có thể nói lên tiếng nói đích thực của mình”.

Cá nhân tôi, tôi chỉ biết nghiêng mình trước trí tuệ, tấm lòng vời vợi, nghị lực phi thường chiến đấu thắng mọi gian khó của Người. Người sẽ vĩ đại hơn thế, nếu đất nước Việt Nam lớn hơn ba mươi lần hiện tại! Vĩ đại và đầy kính mến!…

– Tôi nhớ, và Hòa Thượng cũng thường nhắc một nhận định của W. Duiker trong tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001), là vào năm 1924 Nguyễn Ái Quốc nhận xét: phải bổ sung vào chủ nghĩa Marx chủ nghĩa yêu nước để chủ nghĩa Marx không chỉ đúng ở châu âu mà còn đúng ở phương Đông nữa. Có thể vin vào điều này mà nhiều học giả phương Tây cho rằng, Hồ Chí Minh là dân tộc chủ nghĩa. Hòa Thượng có thể cho biết ý kiến riêng của mình được không?

– Đúng như W. Duiker đã viết trong tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001): Hồ Chủ tịch đã bổ sung vào chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa yêu nước, và đối tượng mà quốc tế vô sản đấu tranh không chỉ giải phóng giai cấp công nhân mà còn giải phóng giai cấp nông dân ở Á, Phi nữa. Và đúng như nhận định của Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, trong Hồ Chí Minh toàn tập: (Tập II, chương XI) đã viết:

“Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là một đóng góp của cách mạng Việt Nam vào kho tàng của chủ nghĩa Marx – Lê nin, vào lý luận cách mạng xã hội trong thời đại hiện nay”.

W. Duiker, trong chương “Tập làm cách mạng”, đã viết về Hồ Chí Minh – bấy giờ là Nguyễn Ái Quốc – theo lập luận của tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001) với các đoạn:

“…Nông dân bị áp bức nặng nề và nếu được tổ chức, họ có một tiềm năng cách mạng lớn. Nhưng nguồn hoạt động chính trị chủ yếu là các trí thức và nho sĩ yêu nước. Theo Anh (Nguyễn Ái Quốc), chính họ là những người đã gây ra tất cả các cuộc nổi dậy trong quá khứ. Vì vậy, điều cần thiết trước mắt là phải xây dựng hành động chung giữa các nhà yêu nước “cách mạng dân tộc” đó và một đảng Cộng Sản…”.

“…Anh Quốc khẳng định rằng Commitern chỉ có thể trở thành một Quốc tế Cộng sản thực sự khi nó bao gồm cả các đại diện nông dân châu Á trên tư cách là những người tham gia tích cực.

Vào cuối hội nghị, những người tổ chức đã nhất trí lập một Quốc tế Nông dân mới, gọi là Krestintern… phối hợp thực hiện khẩu hiệu xây dựng một chính quyền Công –  Nông…”.

“…Vai trò của giai cấp nông dân cũng rất ít được quan tâm. Sau một sự khởi đầu mạnh mẽ, Krestintern đã bị thất sủng và không còn được coi trọng bởi các phần tử quan liêu và viên chức Mátxcơva có tư tưởng thiên về giai cấp Công nhân… Nguyễn Ái Quốc đã cố gắng duy trì sức sống cho vấn đề này, và đã phát biểu về vấn đề nông dân tại một cuộc họp của Krestintern vào tháng 6.1924, nhưng ít được hưởng ứng. Khi nói chuyện với một người bạn, anh Quốc đã cười và đã tự ví mình là tiếng than trong bãi sa mạc”.

Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Marx không chỉ đúng ở châu Âu mà còn phải đúng ở phương Đông nữa

Về sau Hồ Chủ tịch phải trải qua một thời gian chịu “vất vả, lận đận” vì bị nhiều lãnh tụ quốc tế nghi ngờ Người theo chủ nghĩa dân tộc mà không hẳn là chủ nghĩa vô sản…Ngày nay, thật tỉnh táo chúng ta thấy rằng ý kiến đề đạt của Nguyễn Ái Quốc đến Commitern là rất là trí tuệ và rất là Cộng sản Quốc tế bởi các lý do:

Quốc tế vô sản sẽ được mở rộng qua Á, Phi – nơi có nhiều dân tộc bị trị – với thành phần quần chúng đông đảo chiếm hơn 80% dân số các nước là nông dân làm hậu thuẫn sẽ tạo nên một sức mạnh vô song cho Quốc tế vô sản, sẽ dễ dàng chiến thắng Tư bản.

Nếu với lực lượng đông đảo nông dân ấy bất hợp tác (và cả chống đối) với các nước tư bản, không làm giàu cho Tư bản thì Tư bản sẽ yếu đi nhiều; cách mạng sẽ cắt đứt đi cái vòi “bạch tuộc” của Tư bản, sẽ dễ dàng đánh bại Tư bản.

Giải phóng cả giai cấp nông dân bị trị thì mới đúng với ý nghĩa giải phóng các giai cấp bị Tư bản thống trị. Bấy giờ chính nghĩa của Quốc tế Cộng sản càng tỏa sáng lòng nhân ái, tỏa sáng ý nghĩa chống bất công áp bức.

Thế giới là một sự tương quan bất khả phân ly giữa cá thể và tập thể, giữa quốc gia và quốc tế, vì thế sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế là vô cùng thuận tình, thuận lý, và thuận cả sách lược.

Đối với thanh niên Nguyễn Ái Quốc, sự kết hợp trên là sự kết hợp đẹp đẽ giữa sứ mệnh giải phóng đất nước và sứ mệnh giải phóng các giai cấp bị trị của Quốc tế Cộng sản.

Thật đáng tiếc là Quốc tế Cộng sản đã giác hiểu sáng kiến đề đạt của thanh niên Nguyễn Ái Quốc khá muộn, quá muộn, một sáng kiến độc chiếu lúc bấy giờ!

– Một triết gia vĩ đại, hay một nhà thực hành vĩ đại thì ngay trong cái nhỏ bé của thường ngày cũng vẫn có tầm vóc nhân loại. Hơn nữa, vấn đề yêu nước là phạm trù lớn, thưa Hòa Thượng?

– Thế giới có một mối liên hệ chằng chịt giữa các hiện hữu. Va chạm đến vấn đề cá nhân thì liền va chạm đến cộng đồng – cộng đồng địa phương, dân tộc và nhân loại –, va chạm đến thiên nhiên, xã hội. Vì vậy tư tưởng của các triết gia, chưa nói đến triết gia vĩ đại, các nhà hành động lớn thường đi vào phổ quát của vấn đề nhân sinh, nhân loại từ một vấn đề cá nhân bình thường. Với các nhà thơ, nhà văn cũng thế: cảm xúc luôn đi vào phổ quát. Nói đến thân phận Thúy Kiều, Nguyễn Du đi vào thân phận của kiếp người:

“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau…”

Khó mà tách cá thể ra khỏi cộng đồng, khó mà tách vấn đề yêu nước khỏi vấn đề yêu nhân loại. Cũng vậy, khó mà tách rời vấn đề công – nông của nước nhà và thế giới. Hồ Chí Minh lên đường cứu nước, thoạt đầu là vì dân tộc, nhưng khi đụng chạm với quốc tế thì liền nối kết ngay với vấn đề công – nông thế giới. Theo tài liệu của CRN (http://www.cercledereflexion), “Thanh niên Nguyễn Tất Thành đến Paris liên hệ với tổ chức kín “Tam Điểm” năm 1919 và gia nhập đại đường Benjamin Franklin tại Thụy Sĩ” (đây là một tổ chức nhân bản và khát vọng chân lý chống lại với mọi chủ trương xâm lược, bóc lột, đàn áp). Sau đó, năm 1926, Người đã viết một trong mười hai điều mẫu mực cách mạng rằng: “Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại”. Nếu từ chủ trương bổ sung chủ nghĩa yêu nước vào phong trào Quốc tế Cộng sản mà kết luận Nguyễn Ái Quốc theo chủ nghĩa dân tộc (nghĩa là không quốc tế) là một tư duy máy móc và thiển cận. Chỉ những ai thiếu tâm hồn yêu con người yêu đất nước thật sự mới có thiển kiến ấy, bởi vì họ không có trải nghiệm về tình yêu. Huống nữa, với trí tuệ, nêu vấn đề dân tộc thì dễ xúc tiếp với quần chúng, dễ tác động quần chúng hơn là vấn đề quốc tế sâu xa và khá mơ hồ đối với họ. Chân lý vẫn đứng về phía Nguyễn Ái Quốc.

– Một nghịch lý từ kinh nghiệm làm việc, thường thì sự phối hợp giữa việc chung và việc riêng hay có độ vênh. Đây là hai vấn đề lớn, vấn đề dân tộc gần hơn và vấn đề giai cấp mang tính toàn cầu hơn. Lựa chọn phối hợp chắc chắn cũng không phải là việc dễ ngay cả đối với vỹ nhân, thưa Hòa Thượng?

– Vấn đề phối hợp nhuần nhuyễn giữa việc chung và việc riêng là vấn đề của trí tuệ, vấn đề của tâm lý đã được huấn luyện, và là vấn đề của nghệ thuật. Ở mặt nhận thức thì dễ thực hiện hơn là thực tế, bởi trên thực tế phải đối mặt với nhiều khác biệt về vấn đề tập quán nhận thức và hành động. Văn hóa phương Tây và văn hóa Trung Quốc thường xác định quá rõ ràng từng cá thể trong đó có cá thể của cá nhân và cá thể cộng đồng. Ở đó, rất khó hành xử cho các nhà tư tưởng lớn và hành động lớn. Như  Hồ Chí Minh – bấy giờ là Nguyễn Ái Quốc – đã từng ví mình “là lời than giữa sa mạc” khi không thể thuyết phục được tập thể chấp nhận sự phối hợp giữa chủ nghĩa quốc tế với chủ nghĩa yêu nước. Vượt qua được trở ngại này, đòi hỏi có một trí tuệ lớn, một nỗ lực lớn, và cả với một cơ duyên lớn.  Nguyễn Ái Quốc đã buông lời than, thì thường tình như ta còn có thể làm gì được hơn thế. Chỉ còn lại một trường hợp duy nhất có thể thực hiện là khi văn hóa của nhân loại cùng nhất trí rằng cái chung và cái riêng, cá nhân và tập thể là các thực thể cộng sinh, cộng tồn, không có tách ly và không có mâu thuẫn. Thì bấy giờ đề đạt của Nguyễn Ái Quốc hẳn là được tập thể Commitern hoan hỷ đón nhận, và W.Duiker đã không phải ghi lại lời than ấy.

– Xin Hòa Thượng đề cập thêm một chút về đức hy sinh, có phải cứ thực hành học thuyết là phải hy sinh hay không? Bài học của Đức Phật và bài học của Hồ Chí Minh về đức hy sinh là gì? Có điểm gì giống và khác nhau thưa Hòa Thượng?

– Trước hết từ hy sinh có nghĩa là tự nguyện nhận về mình một sự mất mát nào đó, bao gồm cả thân mạng, vì phục vụ cho tha nhân, tập thể, tổ quốc hay nhân loại. Đấy là nghĩa từ. Trên thực tế, nhiều trường hợp gọi là hy sinh mà thật ra không phải là một sự hy sinh: nó đánh đổi giá trị này bằng một giá trị khác cao đẹp hơn, lợi ích hơn, cao thượng hơn, hay hạnh phúc hơn. Một người từ bỏ niềm vui cá nhân để phục vụ bố mẹ, chăm sóc gia đình, hay để làm việc công ích, người ấy trên thực tế không hy sinh gì cả, mà là đang sống với niềm vui lớn hơn, hạnh phúc hơn. Ở đây, từ hy sinh bị phá sản.

Trường hợp Hồ Chủ tịch, rũ bỏ tất cả đời sống riêng tư (tuổi trẻ, tuổi thành niên và tuổi người lớn) để theo đuổi chỉ một mục đích: tìm đường cứu dân, cứu nước. Người đời nói rằng Người đã hy sinh tất cả vì tổ quốc, nhân dân. Trên thực tế đó là hành động chọn lựa của một vỹ nhân, sống với tâm hồn cao thượng và hạnh phúc cao thượng mà không có một ý nghĩa nào hy sinh ở đây cả. Từ hy sinh ở đây trở thành trống rỗng, bởi vì đó là sự hành xử của một vỹ nhân, một bậc trí tuệ và nhân ái. Sự hy sinh không làm thành một vỹ nhân, mà sự hành xử trí tuệ, nhân ái (yêu nước, yêu con người) mới làm nên vỹ nhân. Người là một nhà cách mạng trí tuệ trọn đời sống để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam, nhân dân các nước bị trị, và để xây dựng công bằng xã hội. Ở đây, nếu nói hy sinh thì sẽ tầm thường hóa một nhân cách lỗi lạc. Nhân cách lỗi lạc sống như thế, hạnh phúc như thế, và được người đời (nhân dân) ngưỡng mộ, tôn kính như thế.

Với đức Phật, đức Phật không chỉ rũ bỏ đời sống riêng tư, mà còn rũ bỏ cả ngôi báu (ngai vàng), rũ bỏ triều đình, cung phi mỹ nữ, và rũ bỏ cả nhân dân “khốn khó”, của đất nước của Ngài vì lòng thương tưởng muốn cứu độ nhân dân, nhân loại, chúng sinh khỏi nỗi khổ nghìn đời của sinh, già, bệnh, chết để đi tìm đạo giải thoát khổ mà Ngài tin nhất định có (có khổ sinh ắt hẳn có khổ diệt). Ở đây Ngài không hy sinh gì cả, mà chỉ đi trên con đường của một vỹ nhân giải thoát, đấng giác ngộ, đi đến chân hạnh phúc của chân giải thoát. Người đời, về sau, tôn xưng và đảnh lễ Ngài là đấng giác ngộ, đấng đại hùng, đại lực, đại từ bi; tôn xưng và đảnh lễ niệm ân Ngài vì Ngài đã giới thiệu một nếp sống Giới, Định, Tuệ vượt qua mọi ưu, bi, khổ, não ở đời. Người đời không tôn xưng và đảnh lễ vì Ngài đã “hy sinh” vương vị.

Hai bậc vỹ nhân có điểm tương đồng ở chỗ rũ bỏ trần gian, rũ bỏ đời sống riêng tư để theo đuổi lý tưởng cao thượng của mình. Hai bậc vỹ nhân khác nhau ở điểm: một đi vào cuộc cách mạng xã hội đầy thị phi, truân chuyên; một đi vào cuộc cách mạng tâm linh, giải thoát, con đường chiến thắng tự ngã để đi vào giải thoát toàn triệt. Một thuộc “trần thế”, một thuộc “xuất thế”. Thực nghĩa là vậy. Nếu một người cán bộ, chiến sĩ cách mạng thấy rằng mình đang chịu (hay bị) hy sinh thì hẳn không phải là một cán bộ, chiến sĩ cách mạng thực thụ (chỉ nửa vời). Nếu một tu sĩ thấy mình hy sinh đời sống gia đình, thì ắt hẳn không phải là một vị chân tu. Ý nghĩa là thế.

Từ nguồn hạnh phúc cao thượng của các bậc vỹ nhân, ta có thể rút ra một bài học có ý nghĩa: có hai nguồn hạnh phúc: một thuộc về vật chất đến từ sự thỏa mãn liên hệ đến tai, mắt, mũi, lưỡi, và thân; một thuộc về tinh thần là hạnh phúc do tâm lý cảm nhận; hạnh phúc tinh thần bao giờ cũng có nguồn rung động cao hơn nhiều so với hạnh phúc đến từ vật chất. Hạnh phúc cao thượng nhất là hạnh phúc giải thoát. Trung thành thực hành lý tưởng bao giờ cũng đón nhận được nguồn hạnh phúc cao cả như là phần tưởng thưởng. Nguồn hạnh phúc tâm lý luôn là nguồn vị tha, vì tha nhân và cộng đồng: Càng vong ngã, càng hạnh phúc: đây là kinh nghiệm từ con đường tu tập giải thoát của nhà Phật. Vong ngã vị tha là nếp sống của trí tuệ, mà không phải là một sự hy sinh. Đây là bài học đòi hỏi trải nghiệm.

– Xin chân thành cảm ơn Hòa Thượng!

Thăng Long thực hiện
daibieunhandan.vn

Những ngày 19 tháng 5

ND – Cứ mỗi dịp Tháng 5 về, lòng mỗi người chúng ta lại bâng khuâng nhớ về kỷ niệm của những ngày 19-5 khi Bác Hồ kính yêu còn sống.

Chợt nhớ lại ngày 19- 5-1946, lần đầu tiên nhân dân ta kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta. Từ đó trở đi, cứ đến dịp 19-5, toàn dân ta cùng sống những giờ phút đặc biệt, niềm vui lâng lâng, kính yêu Bác vô hạn. Cũng vào dịp này toàn dân lại dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất học tập, công tác, mừng Ngày sinh Bác Hồ kính yêu.

Là lãnh tụ tối cao, nhưng Bác Hồ luôn gần gũi nhân dân. Hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm ngày sinh của mình, Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình. Vì Người sợ tốn thời giờ, tiền bạc của nhân dân, trong lúc đời sống và cuộc chiến đấu của nhân dân còn khó khăn, gian khổ.

Ở Hà Nội, đúng ngày 19-5, Bác thường đi làm việc, thăm hỏi một nơi khác để tránh những nghi lễ phiền phức tốn kém. Có năm, vào dịp Ngày sinh của Bác, Bác Hồ sang công tác bên Trung Quốc. Hôm ở nhà nghỉ Bắc Kinh, các đồng chí ở đây biết Ngày sinh của Bác nên chuẩn bị chúc thọ, Người nói với cán bộ phụ trách nhà nghỉ: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ trong nước. Vì vậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ tôi ở đây”.

Và vào một dịp ngày sinh năm khác, Bác sang Trung Quốc với ý nghĩa như Người đã viết trong thư gửi bà Ðặng Dĩnh Siêu – Cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn giản, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, “tránh tặng quà”.

Ngày 19-5, Bác vắng nhà. Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ tổ chức đánh bắt cá thịt tại ao cá mà Người vẫn hằng ngày chăm sóc, để biếu các cụ già, các cháu bé, các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước cho anh chị em trong cơ quan phục vụ Bác cải thiện bữa ăn. Việc này vừa thể hiện sự quan tâm chăm lo của Bác đối với mọi người, vừa là để cảm ơn mọi người tận tụy công tác chăm lo cuộc sống hằng ngày của Bác.

Vào những dịp đó, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan đoàn thể trong nước và bầu bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết. Bác làm thơ nói về tuổi tác thay vì những lời cảm tạ. Mỗi bức thư, mỗi dòng thơ của Bác Hồ tuy nói về Ngày sinh của Bác, nhưng lại là tình cảm, trách nhiệm của Bác Hồ đối với non sông đất nước và đồng bào, đồng chí, là nguyên tắc sống của Bác: “Trung với Ðảng, hiếu với dân”, và thể hiện đường lối lãnh đạo của Ðảng ta đối với sự nghiệp cách mạng, của dân tộc ở trong từng thời điểm lịch sử.

Những ngày này tôi nhớ tới dịp kỷ niệm ngày sinh Bác 40 năm trước (5-1968), năm sức khỏe của Bác giảm sút. Ðó là vào lúc 9 giờ ngày 10- 5-1968, Bác viết câu mở đầu vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để gửi lại cho đời sau: “Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây…”. Bởi vậy, sinh nhật năm nay, Bác không vắng nhà. Và như những năm trước, Bác tập trung cho công việc suy nghĩ, sửa chữa vào bản Tài liệu dặn lại cho đời sau. Năm nay, Bác viết thêm vào bản Di chúc, dặn việc phải làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi là hàn gắn vết thương chiến tranh, chỉnh đốn Ðảng; chăm lo đời sống của nhân dân sau chiến tranh.

Tuy Bác không đi công tác xa như những năm trước, nhưng buổi tối 18- 5-1968, Bác lên nhà nghỉ ở Hồ Tây. Trưa 19-5, một bữa cơm thân mật được tổ chức ở Hồ Tây, gồm một số anh em phục vụ, lái xe, bảo vệ nhân kỷ niệm lần thứ 78 của Bác Hồ.

6 giờ 15 ngày 20-5-1968, Bác Hồ dự khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa III. Họp sớm để tránh hoạt động của máy bay Mỹ. Hội trường sôi động hẳn lên nhất là khi nghe Bác Hồ kết thúc buổi họp vào lúc 8 giờ bằng những lời chân tình và bốn câu thơ:

“Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thế thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ này:

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước! Ta cùng con em ta”

Cũng như mọi năm, vào dịp sinh nhật Bác, Bác cho anh em bảo vệ bắt cá ở ao để cải thiện bữa ăn. Năm nay anh em bảo vệ bắt được con cá trắm cỏ rất to. Khi đưa con cá để Bác xem, Bác bảo cân xem con cá nặng bao nhiêu? Anh em mượn chiếc cân bàn của nhà bếp, khi đặt con cá lên vì cá to đầu, đuôi chạm đất, đang loay hoay tìm cách cân cá, thì Bác bảo: Chú Ðỉnh (lúc đó là tổ trưởng tổ bảo vệ nhà sàn) ôm cá lên, và bước lên cân, trừ cân chú thì còn lại là cân của con cá. Theo chỉ dẫn của Bác, đồng chí Ðỉnh báo cáo, con cá nặng 24 kg. Lúc đó Bác nói vui: Bắt nó lên để cá lớn không nuốt cá bé.

Sự từ chối lễ nghi phiền phức của vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Ðảng, trong dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện sự khiêm tốn, giản dị, đó là bản chất của người đầy tớ của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Bác Hồ trở nên cao đẹp và là tấm gương mẫu mực về đức tính khiêm tốn, giản dị và đạo lý làm người cao đẹp nhất.

Bác Hồ đã đi xa gần 40 năm, nhưng mỗi người dân Việt Nam, bạn bè của nhân dân Việt Nam đều cùng chung một tình cảm: Bác Hồ không mất. Bác Hồ vẫn đời đời sống cùng non sông, đất nước và bạn bè khắp nơi. Vì vậy, vẫn như có Bác Hồ, hằng năm tới dịp Tháng 5 là toàn thể nhân dân ở khắp các miền quê Việt Nam, và cả bạn bè năm châu vẫn nô nức tổ chức kỷ niệm Ngày sinh của Bác Hồ. Kỷ niệm sinh nhật Bác năm nay đúng vào năm thứ hai toàn Ðảng, toàn dân ta thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Ôn lại những bài học quý giá, những việc làm trong sáng của Người trong dịp kỷ niệm Ngày sinh của Người, sẽ là dịp chúng ta soi chung tấm gương lớn, và mong sao mỗi cán bộ, đảng viên nhất là những người có chức có quyền, gương mẫu học và làm theo Bác, để khắc phục sự suy thoái đạo đức, lối sống bớt đi những tệ tham nhũng, quan liêu, xa hoa, lãng phí.

TS Trần Viết Hoàn
nhandan.com.vn

Tầm nhìn của một nhà chiến lược

Đền thờ Bác Hồ ở Đèo De, Định Hóa

(DVT.vn) – Chọn Việt Bắc mà trung tâm là Thái Nguyên làm Thủ đô kháng chiến, cho thấy một tầm nhìn của một nhà chiến lược.

Ngày 20/05/1947, vừa tròn 65 năm, là ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về Định Hóa, Thái Nguyên để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Tháng 5 năm 1951, nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ “Sáng Tháng 5”:

.

Vui sao một sáng Tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn

Những câu thơ này không chỉ thể hiện được tình yêu, sự tin tưởng, phấn chấn của người cách mạng đối với lãnh tụ, với thắng lợi đang đến gần mà còn cho biết sự gắn bó đặc biệt của Bác Hồ đối với “thủ đô gió ngàn”.

Bác là người xây dựng thủ đô kháng chiến, là hiện thân của thủ đô kháng chiến.

Năm 1941, sau 30 năm tìm đường cứu nước, Người trở về Tổ quốc, dừng chân ở Pắc Bó, cùng Trung ương thành lập căn cứ địa Việt Bắc chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

Trở về Cao Bằng và đứng chân ở đó có phải là một ngẫu nhiên đối với  nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc  không? Không, đó chính là suy tính, lựa chọn rất kỹ càng của một nhà chiến lược.

Người khẳng định: Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn lao cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào với Thái Nguyên và toàn quốc  thì khi phát động đấu tranh vũ trang lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ…

Xây dựng căn cứ địa là một trong những yếu tố hàng đầu, quyết định thắng lợi của mọi cuộc khởi nghĩa, mọi cuộc kháng chiến. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tích lũy được những kinh nghiệm vô giá về xây dựng căn cứ địa.

Thành phố Thái Nguyên

Phải là một nhà quân sự thiên tài, mới có được tầm nhìn chiến lược trong việc xác định và xây dựng căn cứ địa.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài phát biểu hội thảo kỷ niệm 50 năm chiến thắng Việt Bắc – Thu Đông cho biết:

“Tôi còn nhớ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng có chỉ thị xây dựng Thái Nguyên thành căn cứ địa. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong một cuộc họp, Bác nói: Hiện nay ta có hai chõ đứng chân là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn (Lạng Sơn), ta phải củng cố hai căn cứ đó, mở rộng căn cứ Cao – Bắc – Lạng. Cao Bằng có truyền thống cách mạng, lại thuận tiện cho việc liên lạc với quốc tế nhưng vị trí ở xa Trung ương quá. Vì vậy phải chọn một nơi để xây dựng thành trung tâm của căn cứ địa Việt Bắc. Nơi ấy phải có nhân dân tốt, có cơ sở chính trị tốt. Và ở nơi đó “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” (tiến có thể đánh, lui có thể giữ). Cuối cùng thì Bác đã lấy Thái Nguyên làm địa bàn trung tâm của toàn khu căn cứ Việt Bắc, và đã đề ra chủ trương mở đường Nam tiến từ Cao Bằng qua Phia Uắc xuống Nghĩa Tá (Chợ Đồn – Bắc Cạn); mặt khác đi qua Thất Khê – Bắc Sơn về đến Võ Nhai (Thái Nguyên)”…

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tiên đoán trước âm mưu, hành động của thực dân Pháp, năm 1946, Bác phái đồng chí Trần Đăng Ninh, Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc xây dựng ATK (An toàn khu).

Bác nói: “Cách mạng Tháng Tám đã do Việt Bắc mà thành công thì kháng chiến nhất định do Việt Bắc mà thắng lợi!”

Phong cảnh Hà Giang

ATK kháng chiến bao gồm các huyện Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên; Chợ Mới, Chợ Đồn của Bắc Cạn; Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa của Tuyên Quang. Định Hóa là nơi đặt đại bản doanh của Bác Hồ, T.Ư Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng Tham mưu (Võ Nguyên Giáp), Bộ Quốc phòng (Tạ Quang Bửu) và các cơ quan đầu não khác.

Ngày 20/05/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ở và làm việc tại đồi Khau Tý, xã Điềm Mặc, Định Hóa. Tại đây, Người đã viết tác phẩm nổi tiếng Sửa đỏi lề lối làm việc.

Ngày 28/05/1948, tại thôn Nà Lọm, xã Phú Đình, Định Hóa, Hội đồng Chính phủ làm lễ tấn phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp và quân hàm cấp tướng cho một số sĩ quan khác.

Ngày 06/12/1953, tại Tỉn Keo, xã Phú Đình, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1954 và quyết định mở  Chiến dịch Điện Biên Phủ…

Cũng tại ATK Thái Nguyên thời kỳ chống Pháp, Chủ tịch Xuphanuvong, Tổng Bí thư Cayxon Phomvihan của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Tổng Bí thư Sơn Ngọc Minh Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia đã từng sống và làm việc.

PVA
dvt.vn

Vĩ nhân đời thường

(Chinhphu.vn) – Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức của một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo để làm một người cách mạng, một người công dân tốt hơn.

Yêu thương con người là phải tôn trọng, quý trọng con người

Chủ tịch Hồ Chí Minh kéo lưới cùng ngư dân Sầm Sơn, Thanh Hoá (1960)

Trải qua quá trình 10 năm tìm tòi, khảo nghiệm, năm 1920 khi bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ở đây con đường giải phóng dân tộc, tìm thấy cái cẩm nang để giải phóng triệt để con người. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bởi theo Người, tình yêu thương con người không thể chung chung, trừu tượng, mà thiết thực, cụ thể, trước hết dành cho người mất nước, người cùng khổ. Chính vì vậy, Người đã nguyện dành cả cuộc đời mình để lo giải phóng cho dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công

Ngay từ ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công, tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Người đã nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành. Để làm được điều đó, Người đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói và giặc dốt. Người nhắc nhở nhiệm vụ thường xuyên là xóa đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển; người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì giàu thêm. Kinh tế có phát triển, đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới cường thịnh.

Đặc biệt, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng ra đời từ phong trào cách mạng của nhân dân, có thiên chức lãnh đạo cách mạng vì mục đích phục vụ nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm lợi ích cao nhất của mình, thì Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”([1]).

Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải có thái độ yêu kính nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, học hỏi quần chúng, thật thà, ngay thẳng, không giấu dốt, giấu khuyết điểm, giấu sai lầm; khiêm tốn, gần gũi quần chúng; không được kiêu ngạo, phải thực sự cầu thị, không được chủ quan; kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành thắng lợi mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù uy tín rất cao, có khả năng thu hút, tập hợp quần chúng rất lớn, được toàn dân suy tôn là “Cha già của dân tộc” nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn tự tay viết thư trả lời, cảm ơn một cách thân tình, chu đáo, nêu một tấm gương ứng xử rất văn hóa, đầy khiêm nhường và kính trọng đối với nhân dân.

Biết bao câu chuyện thường ngày đã nói lên tình thương yêu con người, sự quan tâm rất cặn kẽ, tỉ mỉ của Người đối với đồng bào, đồng chí và chiến sĩ. Làm phụ bếp bên nước Anh, khi rửa bát đĩa, Bác để riêng những thức ǎn thừa còn lại, gói vào một gói, khi về mang ra cho những người nghèo khổ ǎn xin ngoài đường. Dự tiệc chiêu đãi ở Paris, ra về Bác dành quả táo cho em nhỏ. Giữa cánh đồng khô nóng Ấn Độ, những giọt nước mắt cảm thông của Người đã rơi trên vai ông lão nông dân áo quần rách nát. Mùa hè đến, mồ hôi thấm áo, Người nghĩ đến những chiến sỹ phòng không trên trận địa nóng bỏng. Đi công tác ở nước ngoài được biết có loại cây lá xanh quanh nǎm không rụng lá, Người nghĩ tới chị lao công đêm đêm vất vả quét lá nên tìm cách đưa loại cây ấy về nước. Đưa anh hùng Trần Thị Lý đi thăm vườn Phủ Chủ tịch, Bác không đưa chị đi trên những con đường sỏi vì Bác biết chân chị dẫm trên sỏi thì ảnh hưởng vết thương trên đầu.

Trái tim Bác là vậy, trải đều tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí. Bởi vì Bác quan niệm rằng: Yêu thương con người là phải tôn trọng, quý trọng con người. Bác tôn trọng từ các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao công quét rác. Đối với Bác, từ Chủ tịch nước tới người lao động bình thường, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều được coi trọng, đều vẻ vang như nhau.

Tư tưởng yêu thương con người được Hồ Chí Minh nêu lên và vận động mọi người cùng thực hiện suốt cả cuộc đời. Khi nằm trên giường bệnh trong những ngày Người đau nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đề cập một lời nào về diễn biến sức khỏe của mình. Những giây phút cuối cùng đó, Bác còn nghĩ đến miền Nam, đến hạnh phúc và niềm vui của đồng bào miền Bắc. Người hỏi: “Trong Nam, mấy hôm nay đánh thế nào?”, Người hỏi “Quốc khánh năm nay, có đốt pháo hoa cho đồng bào vui không?”. Và trong bản Di chúc, khi để lại “muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh thiếu niên và nhi đồng”, và “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”, Người vẫn ân cần nhắc nhở toàn Đảng phải tiếp tục chăm lo cho con người. Trước hết là những người đã hy sinh một phần xương máu cho công cuộc kháng chiến, là cha mẹ, vợ con thương binh, liệt sĩ, là bà con nông dân, là thanh niên, phụ nữ… lo cho hiện tại, lo đào tạo cho tương lai…

Rạng ngời cốt cách vĩ nhân trong đời thường

Với thế giới, cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất sôi nổi, Người là một trong những nhân vật làm nên thế kỷ XX, với đất nước, Người là vị lãnh tụ tối cao được kính mến nhưng đời sống của Người rất bình thường, vô cùng giản dị, khiêm tốn. Cuộc đời của Người, từ lúc làm một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Công-poanh, nước Pháp, đến khi làm Chủ tịch nước sống giữa Thủ đô Hà Nội, vẫn là một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã từ câu nói, tác phong đến vật dùng tư trang hàng ngày, từ ǎn uống đến sở thích sống hoà mình với nhân dân.

Ở nơi đâu Bác cũng tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm mang nặng tình đồng chí để vượt qua thử thách, gian nan thiếu thốn của cuộc kháng chiến. Bác yêu cầu chỗ ở cho Bác phải là nơi yên tĩnh, bí mật, nơi có bóng cây thoáng mát và có đất để tǎng gia, gần nguồn nước, phía sau có núi để dễ làm hầm trú ẩn, thuận lợi cho liên lạc dễ dàng di chuyển.

Cách chọn địa điểm dựng lán trại của Bác được anh em ghi thành bài văn vần như sau: “Trên có núi, dưới có sông – Có đất ta trồng – Có bãi ta vui – Tiện đường sang Bộ Tổng – Thuận lối tới Trung ương – Nhà thoáng gió, kín mái – Gần dân không gần đường”.

Kháng chiến thắng lợi, trở về Thủ đô Hà Nội, nhưng Bác không về ở trong ngôi nhà Toàn quyền cũ vì Bác bảo, Bác chứ không phải vua, Chủ tịch một nước còn nghèo, chưa có quyền hưởng thụ quá mức trung bình của người dân. Bác quyết định chọn cho mình ngôi nhà của người thợ điện ngày trước, nơi mà mùa nóng thì nhiệt độ cao hơn hẳn xung quanh, ngày thiếu ánh sáng phải thắp đèn.

Nǎm 1958, Trung ương quyết định xây nhà cho Bác, nhưng Bác đề nghị chỉ nên làm một căn nhà nho nhỏ theo kiểu nhà đồng bào dân tộc ở Việt Bắc, giống như ngôi nhà Bác đã từng ở trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngôi nhà sàn của Bác được xây dựng bằng gỗ bình thường, được thiết kế theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc ở Việt Bắc: nhà hai tầng, xung quanh có mành che, tầng dưới để thoáng. Nét kiến trúc thanh nhã, trang trí không cầu kỳ này khiến công trình trở thành một kiến trúc độc đáo, mang sắc thái riêng nhưng rất hài hoà với thiên nhiên và các công trình kiến trúc xung quanh.

Trong nhà chỉ có những đồ dùng rất gần gũi với Bác: Một chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, chiếc máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách cần thiết hàng ngày. Trước nhà là một vườn hoa nhỏ, trồng nhiều loại hoa thơm. Phía ngoài là hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh quê hương Nghệ An, nơi Bác sinh ra và lớn lên. Trong hồ nước rộng hơn 3.000m2 trước nhà sàn, Bác nuôi cá vì theo Người nuôi cá ở đây vừa cải tạo môi trường sống trong lành, cải thiện bữa ăn hàng ngày, vừa là một cách thư giãn thú vị sau giờ làm việc khi Người cho cá ăn. Nhà sàn của Bác hoà hợp với thiên nhiên là thế đấy! Nó tạo ra nét bình dị gần gũi với mọi người dân Việt Nam ở khắp mọi miền Tổ quốc.

Khi đi thǎm các địa phương xa, phải ở lại qua đêm, các đồng chí địa phương thường bố trí cho Bác nơi ở tốt nhất, nhưng Bác cũng không đồng ý. Bác tự chọn cho mình chỗ ngủ, có khi bố trí gần bãi biển, có lúc cạnh trận địa pháo. Chủ tịch Hồ Chí Minh là vậy, với tư tưởng tác phong luôn gần dân, luôn luôn giữ mức sống như của người dân bình thường, hoà cùng nhịp sống, nỗi niềm của người dân.

Không chỉ nơi ở đơn sơ, đồ dùng của Bác cũng thật giản dị. Đôi dép cao su làm từ lốp cũ xe ôtô, Bác dùng đến mòn vẹt phải đóng đinh bao lần. Đôi dép đã theo Bác trên những nẻo đường Pắc Bó, Điện Biên trong kháng chiến, trở về thủ đô Hà Nội khi hòa bình lập lại, sang cả Ấn Độ khi Người đi thăm các nước anh em. Đôi dép đã góp phần tạo nên huyền thoại về một vị Chủ tịch nước dân chủ nhất thế giới như lời báo chí Ấn Độ đã từng ca ngợi. Rồi bộ bà ba nâu, bộ quần áo kaki, đôi tất vá đến hai, ba lần. Chỉ khi đi ra nước ngoài Bác mới mặc áo sơ mi và mới đồng ý may bộ quần áo dạ đen.

Bác thích món cá kho, bát canh và quả cà xứ Nghệ. Bác thích ăn những con cá tự nuôi, những ngọn rau tự trồng và còn chia những thứ đó cho các đồng chí sống gần Bác. Bác ngồi xếp bằng bên cửa sổ nhà sàn ngắm trăng, Bác xắn gọn quần và rảo bước nhanh qua suối hay đi bên bờ ruộng như một cụ già nông thôn thực thụ. Bác còn bế em nhỏ hoặc ngồi bón cơm cho trẻ như bất kỳ một người bình thường nào ta gặp. Bác còn nắm chắc tay gàu sòng tưới nước mà không ngỡ ngàng, lúng túng.

Là Chủ tịch nước nhưng trong nếp sinh hoạt thường ngày những việc nào làm được, Bác tự làm, việc nào không làm được Bác mới nhờ đến những anh em phục vụ. Tất cả những chi tiết đó, hình ảnh đó tự nói lên nhiều điều: một tư thế giản dị, ung dung, tự tại, luôn phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của một lãnh tụ mẫu mực.

Bác là tấm gương tiêu biểu tiết kiệm của công, thái độ giữ gìn tài sản chung của nhân dân được Bác luôn luôn chú ý. Đi đâu Bác chỉ dùng một chiếc xe Pôbêđa do nhân dân Liên Xô gửi tặng. Xe dùng đã lâu ngày nên cũ và hay hỏng vặt, vǎn phòng đề nghị Bác cho đổi xe khác tốt hơn, Bác không đồng ý Bác bảo: “Ai thích đi nhanh, thích êm thì đổi. Còn Bác thì không”.

Câu chuyện cành san hô

Bác rất nghiêm khắc trong việc tự phê bình, Bác căn dặn cán bộ phải “tự phê bình cái sai của mình trong mỗi việc làm, mỗi trận đánh giống như rửa mặt hàng ngày cho sạch vết nhơ”([2]). Đồng chí giúp việc của Bác kể rằng, có lần Tỉnh ủy Quảng Ninh biếu Bác một cành san hô to, đẹp lắm, màu sắc trắng hồng như ngọc. Bác thích lắm dùng làm quà biếu người lãnh đạo một Đảng anh em. Mọi việc thu xếp xong. Cành san hô để ở nhà khách Phủ Chủ tịch, chờ Bác ra xem lần chót rồi bỏ vào hòm, ô tô đợi sẵn, chở ra sân bay, gửi đi.

Lúc để ở nhà khách, anh em xúm lại xem. Thấy nó đẹp quá ai cũng trầm trồ. Ai cũng muốn nhìn và ai cũng muốn sờ một chút. Xô đẩy thế nào đó, một anh lỡ tay đánh rơi, vỡ làm đôi. Mọi người sợ quá, đến mức không dám đứng đấy mà nhận lỗi của mình nữa. Bác cũng bị bất ngờ, tưởng xong đâu đấy hết, thì đã vỡ rồi. Bị bất ngờ như thế nhưng một nét nhíu lông mày Bác cũng không có, một lời nói nặng càng không có nữa. Bác làm vui trước cho anh em. Bác biết là anh em sợ lắm, làm thế nào trấn tĩnh được tinh thần anh em: “Thôi, phận san hô nó mỏng manh, con san hô về đất rồi. Anh em đi đâu, gọi các chú ấy ra đây. Bây giờ Bác, cháu ta tính thế nào nhỉ, lại đây cùng nhau bàn xem gỡ cái chuyện này thế nào”.

Cuối cùng phải lấy một bức ảnh to của Bác, Bác đề tặng và ký vào gửi biếu. Người lỡ tay đánh vỡ con san hô thấy Bác độ lượng như vậy, cảm động, giàn giụa nước mắt. Nhưng mà câu chuyện chưa hết. Đến buổi tối hôm đó, làm việc với đồng chí phụ trách văn phòng xong, Bác bảo: “Hôm nay còn thừa thì giờ, bây giờ chú kể cho Bác nghe cành san hô ấy bị vỡ thế nào?”. Đồng chí này kể lại từ đầu. Bác phát hiện chi tiết này: người đánh vỡ là đồng chí lái xe. Bác bảo: “Thế này nguyên nhân không phải là lỡ tay, giá như là chú, phụ trách văn phòng, hay một chú nào khác có nhiệm vụ cầm cành san hô đặt vào hòm mà đánh vỡ thì đúng là lỡ tay. Đây không phải. Chú lái xe thì có nhiệm vụ gì sờ vào cành san hô. San hô đẹp thì để anh em nhìn ngắm, được rồi, muốn sờ tay vào nó cũng được, nhưng cứ từng người, việc gì phải xúm vào, rồi người xô đằng này, người đẩy đằng kia. Và không có tổ chức, không có nền nếp, xúm vào như thế cho nên mới đi đến chỗ có người lỡ tay ẩy nó rơi vỡ. Nguyên nhân ở trong tổ chức và nếp làm việc, không phải ở chỗ lỡ tay. Nói lỡ tay là nói qua loa cho xong. Nếu chú thấy đúng như thế, lần nào họp, anh em bàn lại chuyện này rút kinh nghiệm, sửa đổi đi. Bảo là lỡ tay, đến lần sau, có cái tặng phẩm đẹp lại xúm vào xem, lại xô, lại đẩy, lại rơi vỡ lần nữa, lại lỡ tay lần nữa”([3]). Bác là như thế. Một sai sót nhỏ cũng không bỏ qua, rút kinh nghiệm để sửa chữa, nhưng vẫn không nói nặng một lời nào.

Rất bình thường và cũng rất sâu sắc, phong cách sinh hoạt của Bác là tấm gương, là cách Bác dạy bảo cán bộ được làm việc gần Bác một cách thiết thực nhất.

Năm 1946, Bác sang Pháp với tư cách khách mời của Chính phủ Pháp, ở khách sạn, Bác không ngủ trên giường mà ngủ trên sàn, ăn sáng vào lúc sáu giờ, và tự giặt lấy quần áo lót… Các đồng chí cùng đi cảm thấy kỳ lạ vì giữa một thủ đô hoa lệ, thành phố ánh sáng như Paris mà Bác cứ khăng khăng giữ những thói quen ở trong nước. Nhưng sau đó thì ai cũng hiểu rằng, Bác muốn cho tất cả cùng theo gương Bác để tự kiềm mình trước mọi cám dỗ của cuộc sống ở đây. Đồng thời, Bác cũng nhắc nhở mọi người rằng nước mình còn nghèo, mà cái nghèo thì không phải dễ dàng nhanh chóng khắc phục, còn phải chịu đựng nó lâu dài, vậy thì thói quen sống giản dị, khiêm tốn là thói quen tốt, cần rèn luyện để giữ nó.

Một nhà báo Australia viết rằng: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn. Cả cuộc đời Bác là tấm gương sáng về sự tận tụy, đức hy sinh vì nước, vì dân, không một chút riêng tư. Bác đã xa chúng ta, nhưng nhân dân ta vẫn còn tìm thấy Bác, vẫn được gặp Bác trong từng hành động cách mạng, trong tình thương yêu với già trẻ, gái trai, trong nét sinh hoạt đời thường rất giản dị, chan hòa, chừng mực, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, rất quý trọng thời gian, chẳng có ham muốn danh lợi riêng cho mình.

Hơn 40 năm đã trôi qua, mỗi một câu chuyện về Bác đều trở thành một bài học vô giá về nhân cách, về đạo đức cho mỗi chúng ta học tập và làm theo trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Đảng và Nhà nước ta phát động. Việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác đã và đang trở thành hành động tự giác, tích cực của nhiều cán bộ, đảng viên, quần chúng trên mọi miền đất nước. Tư tưởng của Bác, tấm gương đạo đức của Bác vẫn đang bay cao, tỏa sáng, để tạo dựng nên lớp lớp những chiến sĩ, những cán bộ, những con người của thế hệ Hồ Chí Minh mới trọn đời vì nước, vì dân, vì hòa bình, độc lập và sự tiến bộ trên thế giới. Đúng như lời thủ tướng Ấn Độ I.Gandi đã từng ca ngợi: “Tên tuổi của Người sẽ trường tồn như nhân dân của Người. Đức độ lượng, tính giản dị, tình yêu nhân loại, sự tận tụy hy sinh và lòng dũng cảm của Người sẽ cổ vũ các thế hệ mai sau”([4]).

Bùi Kim Hồng
Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch


[1Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.380

[2Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb Chính trị quốc gia, t.2, tr.205

[3Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Sđd, t.2, tr.595

[4Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, 1970, t.1, tr.160

baodientu.chinhphu.vn

Những ngày 19 tháng 5 với Bác Hồ kính yêu

Mỗi người dân Việt Nam ai cũng biết ngày 19 tháng 5 là một ngày vô cùng ý nghĩa – Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Bác Hồ là người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta và chính Người cùng Đảng ta lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thế nhưng, mãi đến ngày 19 tháng 5 năm 1946, năm đó Bác Hồ 56 tuổi, lần đầu tiên nhân dân ta mới có dịp kỷ niệm ngày sinh của Người. Khi đó, tại Bắc Bộ Phủ, Bác Hồ tổ chức tiếp đại biểu các cháu thiếu nhi Thủ đô Hà Nội, các chiến sĩ tự vệ, các hướng đạo sinh và các đại biểu Nam Bộ đến chúc thọ Bác. Bác Hồ đã chụp ảnh chung với các cháu thiếu nhi và nói chuyện với các đại biểu Nam bộ. Tại buổi gặp mặt này, Bác thổ lộ: “Thật ra, các báo ở đây làm to sinh nhật tôi, chứ tuổi 56 chưa có gì đáng chúc thọ, cũng hãy còn như thanh niên cả mà trước các anh các chị trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thật thấy làm xấu hổ rằng trong Nam chưa được thái bình”.

Từ đó, ngày 19 tháng 5 hằng năm là ngày sinh của một lãnh tụ, của “cha già dân tộc” ai ai cũng hướng tới. Tuy nhiên, đối với Bác, Người không tỏ ra quan tâm tới sinh nhật của mình, không muốn có sự khác biệt giữa Người với nhân dân. Vì vậy, cứ vào dịp đó, Bác Hồ thường căn dặn các địa phương, các cơ quan, đoàn thể là không nên tổ chức chúc thọ linh đình làm tốn thời giờ, tiền của của nhân dân, trong khi cuộc kháng chiến còn kéo dài, đời sống người dân còn nhiều gian khó. Có lần Bác Hồ đã nói: “Bác cảm ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi công việc hết sức khẩn trương mà lại còn tổ chức chúc thọ một cá nhân là không nên”. Hoặc có lần Bác nói: “Hôm nay, đồng bào cho tôi nhiều hoa bánh. Những thứ đó đáng giá cả. Xin đồng bào nghĩ đến các đồng bào nghèo khó, hơn là hao phí cho tôi”.

Vào dịp 19 tháng 5 các năm 1960, 1961, 1962, 1965, 1966, Bác Hồ thường ra nước ngoài, trong đó có Trung Quốc. Một dịp, Bác Hồ nói rõ ý của mình với Nguyên soái Diệp Kiếm Anh: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ ở trong nước. Vì vậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ”. Một lần khác, Bác Hồ viết thư gửi Đặng Dĩnh Siêu – một cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn gián, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, “tránh tặng quà”.

Với mục đích đó, trong tất cả các dịp sinh nhật của mình, nếu không ra nước ngoài thì Bác Hồ thường tránh những cuộc chúc thọ, tặng quà bằng cách xuống cơ sở, đến với đồng bào hoặc nếu vì tình huống bất đắc dĩ, Người thường cố gắng “hoãn binh” bằng những bài thơ rất ý nhị. Trong nhiều dịp 19 tháng 5 Bác Hồ đã để lại cho chúng ta những vần thơ bất hủ về niềm lạc quan, yêu đời, sự say mê quên cả tuổi tác, chỉ mong sao cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp cách mạng, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Vào dịp ngày 19 tháng 5 năm 1949, Bác Hồ làm bài thơ “Không đề”, nói lên tâm trạng của mình:

“Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà,
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già.
Chờ cho kháng chiến thành công đã,
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”.

Trước ngày 19 tháng 5 năm 1951, trong một cuộc họp cán bộ các cơ quan Trung ương ở Tuyên Quang, để cảm ơn và đáp lại những lời chúc thọ của mọi người, Bác Hồ đã làm bài thơ mà cho đến nay rất nhiều người trong chúng ta đều thuộc và coi đó như là tấm gương sáng để noi theo:

“Sáu mươi tuổi vẫn còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên.
Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe
Trần mà như thế kém gì tiên”.

Trước ngày 19 tháng 5 năm 1953, Bác Hồ làm một bài thơ chữ Hán (Sáu mươi ba tuổi) với niềm lạc quan, yêu đời, phong thái ung dung, tự tại. Bài thơ được dịch là:

“Chưa năm mươi tuổi đã kêu già
Sáu ba mình vẫn nghĩ là đương trai.
Sống quen thanh đạm nhẹ người,
Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung”.

Dịp sinh nhật lần thứ 74, tháng 5 năm 1965, Bác lại làm thơ thể hiện mong ước, đau đáu chờ đợi một ngày Bắc – Nam xum họp một nhà:

“Bảy mươi tư tuổi vẫn chưa già
Cố gắng làm tròn nhiệm vụ ta.
Bao giờ Nam – Bắc một nhà,
Dân giàu, nước mạnh thì ta vui lòng”.

Vào ngày 19 tháng 5 năm 1965, Bác Hồ thăm Trung Quốc, tới quê hương của Khổng Tử, thăm khu di tích Khổng phủ, Khổng miếu, Khổng lâm, trên đường về Tế Nam, thủ phủ của tỉnh Sơn Đông, Người đã làm bài thơ chư Hán phỏng Khúc Phụ:

“Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ,
Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa.
Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ?
Lấp loáng bia xưa chút ánh tà”.

Vào dịp sinh nhật lần thứ 77 của mình, tháng 5 năm 1967, Bác Hồ sang Trung Quốc. Từ Quảng Châu, Người đã viết bài thơ gửi Bộ Chính trị:

“Thời gian đã chóng tựa con thoi,
Thấm thoắt xa nhà một tháng rồi.
Nghìn dặm vui nghe tin thắng trận,
Một mình nằm tính việc xa xôi”.

Vào ngày 20 tháng 5 năm 1968, tại Lễ khai mạc Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa III, sau khi nghe Báo cáo và lời chúc thọ của các đại biểu dự họp, Bác Hồ có nói: “… lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm tôi thấy mình như trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ thế này:

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước, ta cùng con em ta”.

Đồng thời với việc đi cơ sở, gặp gỡ đồng chí, đồng bào, bắt đầu từ năm 1965, vào dịp sinh nhật của mình, Bác Hồ bắt đầu viết “mấy lời” để lại cho mai sau. Bản Di chúc đầu tiên Bác đề “Nhân dịp mừng 75 tuổi”. Cuối bản Di chúc, Bác ghi: “Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 1965”. Cùng với chữ ký của Người là chữ ký “chứng kiến” của Bí thư Thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn. Từ đó, mỗi dịp sinh nhật, Bác đem ra xem lại và bổ sung, chỉnh sửa.

Ngày 19 tháng 5 năm 1969, sinh nhật cuối cùng của Người, sau khi tiếp các cháu là con của các đồng chí phục vụ đến chức thọ, Bác xem kỹ lại toàn bộ bản Di chúc mà mình đã viết, bổ sung vào các năm trước. Sau đó, Bác tiếp chị Phạm Thị Quyên (vợ của Anh hùng – Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi) và chị Nguyễn Thị Châu, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên – Sinh viên giải phóng khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đến chúc thọ. Tiếp đó, Bác viết thư khen các cháu thiếu niên hợp tác xã Măng Non thôn Phú Mẫn, xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Ninh) vì đã có nhiều thành tích trong việc chăm sóc tốt trâu, bò. Đây cũng là bức thư cuối cùng Bác viết gửi cho các cháu thiếu nhi. Cùng ngày, Bác còn tặng ảnh chân dung của mình cho cán bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An, Đảng bộ tỉnh Nghệ An, cán bộ, công nhân Nhà máy xi măng Hải Phòng.

Trong suốt 24 năm, kể từ ngày 19 tháng 5 năm 1946, năm đầu tiên nhân dân ta tổ chức kỷ niệm ngày sinh của Bác, đến ngày 19 tháng 5 năm 1969, trước khi từ giã cõi đời này, Chủ tịch Hồ Chí Minh không dành riêng cho mình bất cứ một thứ gì, suốt đời Người dành cho độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Những ngày 19 tháng 5 là những ngày mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”.

Vũ Bình Minh
xaydungdang.org.vn

Cuộc gặp gỡ tháng 5

(ĐCSVN)– Sáng nay 19-5, Kỷ niệm 116 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Khu di tích Phủ chủ tịch, gần 40 cán bộ, nhân viên – những người đã từng sống, làm việc và phục vụ Bác Hồ kính yêu, đã có buổi gặp mặt thân mật, đầy xúc động…

Theo sáng kiến của hai bác Phùng Thế Tài và Tạ Quang Chiến – hai người từng trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, hàng năm, cứ vào ngày này, không cần thông báo cũng không cần giấy mời, bất cứ ai đã từng có thời gian làm việc và phục vụ bên Bác lại về đây tụ họp cùng ôn lại những kỷ niệm về Người…

Tại buổi gặp, ông Phan Đức Mấn Giám đốc Công ty khách sạn Du lịch Kim Liên – đơn vị từng được Bác về thăm, đã tặng Khu Di tích chiếc máy quay phim. Ông tâm sự: “Với chiếc máy quay này, tôi mong chúng ta sẽ ghi lại được ngày càng nhiều hơn kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu và lưu giữ nhiều hình ảnh sống động của các nhân chứng lịch sử về Bác Hồ”. 

Cũng trong buổi gặp mặt đầy xúc động này, ông Nguyễn Sơn – Công ty khách sạn Du lịch Kim Liên đã viết bài thơ nói lên tình cảm của mình – đối với Bác khi vào thắp hương tưởng nhớ người:

“Trước Lăng người
Con dâng một Đài sen
Nhớ Ngày sinh nhật Bác
Trong nhớ thương lòng con khẽ hát
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người
Hồ Chí Minh con theo Bác trọn đời”

Kim Dung-Việt Hà
cpv.org.vn

Cảm nhận sáng 19 tháng 5 tại Lăng Bác

Đồng chí Nguyễn Văn Khôi, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội tham dự khai trương tuyến phố đi bộ tại phía Nam đường Hùng Vương

Hôm nay, trên Quảng trường Ba Đình nhộn nhịp, cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đang khẩn trương chuẩn bị thực hiện nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác; chuẩn bị khai trương tuyến phố đi bộ khu vực Lăng; lắp đặt mái che và chuẩn bị địa điểm nơi tập kết để phục vụ đồng bào trong nước và khách quốc tế về viếng Người.

Đúng 6 giờ sáng, Quốc ca trên Quảng trường Ba Đình vang lên, mọi ánh mắt đều đổ dồn về lá cờ Tổ quốc đang tung bay trước Lăng Bác. Biểu tượng của Tổ quốc và hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh luôn hoà quyện nơi Ba Đình lịch sử. Nơi đó, những chiến sỹ tiêu binh danh dự ngày đêm thành kính và trang nghiêm thực hiện nghi lễ chào cờ.

Toàn cảnh đồng bào và khách quốc tế về Lăng viếng Bác.

Đông đảo đồng bào và khách quốc tế đã về Lăng viếng Bác nhân dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người

Lễ chào cờ vừa kết thúc, cũng là thời điểm bắt đầu khai trương tuyến phố đi bộ tại khu vực Lăng. Dự Lễ khai trương có đồng chí Nguyễn Văn Khôi, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội; Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng lãnh đạo, chỉ huy các ban, ngành, cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Hà Nội và Ban Quản lý Lăng.

Đoàn trường Phổ thông dân tộc Nội trú Sông Mã, Sơn La vào Lăng viếng Bác

Được biết, hôm nay Lăng Bác sẽ mở cửa đón khách từ 7 giờ 15 phút, sớm hơn so với mọi ngày 15 phút. Nhưng từ 6 giờ sáng, trước cổng số 17 phố Ngọc Hà đã rất đông đồng bào và khách quốc tế xếp hàng chuẩn bị vào Lăng viếng Bác. Cụ Phùng Thanh Huân, 78 tuổi ở Đông Quang, Ba Vì, Hà Nội cho biết: “Tôi về từ chiều hôm qua. Biết hôm nay khách đến viếng Bác rất đông, nên từ 5 giờ sáng, tôi giục cháu đưa đến đây sớm. Đã 3 lần đi viếng Bác, nhưng lần này có cảm giác đặc biệt. Bởi tôi sẽ là người khách đầu tiên được nhìn thấy Bác trong Ngày sinh của Người”. Cùng trong dòng người đầu tiên viếng Bác, bà Trương Thị Cúc, 66 tuổi ở Trấn Hưng, Gia Trung, Gia Viễn, Ninh Bình đã bắt đầu đi từ lúc 2 giờ sáng. Bà nói: “Từ năm 2000 đến nay, 12 lần tôi đều chọn đúng ngày 19/5 để về Lăng viếng Bác. Năm nào dòng người viếng Bác đều rất đông, nhưng đối với những người nông dân như chúng tôi có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay ơn Đảng, ơn Bác nhiều lắm. Tôi còn làm cả bài thơ “Dâng Bác”, trong đó có đoạn: Các con áo vải màu nâu tím/ Về Lăng viếng Bác nhớ ơn Người/ Trong Lăng Bác như vừa chợp mắt/ Đón ngày ngày con cháu viếng thăm”.

Dòng người từ các ngả đường Điện Biên Phủ, Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn, Kim Mã hướng về Lăng Bác mỗi lúc một đông. Bởi lẽ ai cũng muốn đến viếng Bác đúng vào dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người. Là cán bộ thực hiện nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Đinh Văn Khang, Chính trị viên Đội Cảnh vệ Đặc biệt, Đoàn H75, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng cho biết: “Đơn vị đã chuẩn bị chu đáo để sẵn sàng phục vụ khách. Ngày thường chiến sỹ gác 30 phút đổi ca một lần. Nhưng hôm nay, anh em sẵn sàng phục vụ thêm ca, thêm giờ, có đồng chí đứng hướng dẫn, phục vụ khách suốt lễ viếng. Tuy thấm mệt nhưng mọi người đều cảm thấy rất vui, được phục vụ nhiều đồng bào và khách quốc tế về Lăng viếng Bác trong ngày lễ trọng thể này”.

Đoàn Phật tử thiền phái Trúc Lâm, Yên Hưng, Yên Tử, Quảng Ninh vào Lăng viếng Bác

Trong dòng người tụ hội về bên Lăng Bác hôm nay, chúng tôi thấy có các tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang của tỉnh Hưng Yên tại Hà Nội; Đoàn đại biểu Người Anh hùng và thân nhân Anh hùng liệt sỹ; Đoàn Phật tử thiền phái Trúc Lâm, Yên Hưng, Yên Tử, Quảng Ninh và các thành phần dân tộc, tôn giáo. Các cháu ở Trường Phổ thông dân tộc Nội trú Sông Mã, Sơn La đã mong chờ, hồi hộp cả tháng nay khi biết thông báo sẽ được về Lăng viếng Bác trong dịp 19/5. Cô giáo Bùi Thị Hải, Hiệu trưởng Nhà trường cho biết: “Từ ngày 19/4 đến 19/5/2012, Nhà trường phát động phong trào thi đua “Dành nhiều điểm tốt kính dâng lên Bác”. Thầy thi đua dạy giỏi, trò thi đua học tốt. Trong số 16 thầy cô giáo và 66 học sinh về viếng Bác hôm nay đều rất tiêu biểu. Nổi bật là cháu Sộng Thị Dung, dân tộc Mông ở bản Nà Ham, xã Mường Gai, Sông Mã, gia đình nghèo nhưng vượt khó, học giỏi và cháu Vừa Thị Ca, lớp 8A ở bản Hổi Pản, xã Huổi Một, Sông Mã, bị khuyết tật nhưng 8 năm liền đều là học sinh giỏi”.
Không chỉ đồng bào trong nước, mà rất đông những người khách quốc tế cũng đều thể hiện tình cảm đặc biệt đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đoàn khách du lịch đến từ Ôx-trây-li-a, các bạn Jana, Javren và David còn rất trẻ cho biết: “Đây là lần đầu tiên đến Việt Nam và điểm tham quan đầu tiên là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy chưa hiểu nhiều về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng chứng kiến dòng người xếp hàng dài chờ đợi rất lâu, dưới trời nắng nóng, oi bức để được vào Lăng viếng Người, thì chúng tôi cảm nhận được tình cảm sâu nặng của nhân dân Việt Nam dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi rất muốn ở đất nước mình cũng có lãnh tụ vĩ đại được nhân dân kính trọng như Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Còn anh Andrea đến từ I-ta-li-a cho biết: “Tôi đã tìm hiểu về đất nước Việt Nam, về Hồ Chí Minh. Biết Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Ở đất nước các bạn “Việt Nam – Hồ Chí Minh” luôn gắn liền với nhau”. Lần đầu đến Việt Nam, nhưng tôi thật ngỡ ngàng về kiến trúc Công trình Lăng rất đẹp, rất trang trọng trong không gian Quảng trường Ba Đình rộng lớn. Đặc biệt là hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm trong Lăng rất thanh thản, bình yên, thể hiện cuộc sống thanh bình của đất nước các bạn”.

Những người khách cuối cùng trong dòng người về viếng Bác hôm nay lặng lẽ rời Công trình Lăng. 11 giờ 15 phút buổi Lễ viếng kết thúc. Trong thời gian 4 giờ tổ chức viếng, tại Lăng Bác đã đón tiếp gần 18 ngàn lượt người, trong đó có hơn 4 ngàn lượt khách quốc tế đến từ khắp mọi miền Tổ quốc và vùng lãnh thổ trên thế giới về viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người./.

Nguyễn Hữu Mạnh
old.bqllang.gov.vn