Tag Archive | Thời sự

Vài nét về Cụ Hồ – Phần 1

Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC], viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết gì về Hồ Chí Minh thì rất dễ, vì muốn viết sao cũng được. Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả lòng thù hận, thì có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến trình độ, và không cần đến liêm sỉ. Thảm thay, hiện tượng này chúng ta thường thấy xảy ra trong vài khu rừng diễn đàn truyền thông hải ngoại, nơi đây một thiểu số người Việt có vẻ như không có mấy trình độ văn hóa, giáo dục thường lên tiếng. Nhưng viết cho đúng với nhân cách, khả năng, tư tưởng và con người của Hồ Chí Minh thì quả thật là khó, vì điều này đòi hỏi trước hết là một sự lương thiện trí thức, một sự hiểu biết đứng đắn về cuộc đời của ông Hồ, và nhất là, về ông đã làm gì cho đất nước Việt Nam.

Riêng đối với tôi, viết về ông Hồ lại càng khó hơn, vì xuất thân từ Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, đã cầm súng chống Cộng trong thời gian 8 năm rưỡi, khoảng thời gian tôi ở trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã đi Mỹ học, và đã về phục vụ trong ngành giáo dục ở miền Nam cho đến ngày chót, đương nhiên tôi đã ở phía Quốc Gia rồi.  Nhưng cuộc chiến Quốc – Cộng đã chấm dứt hơn 30 năm rồi, bây giờ còn nói đến chuyện Quốc – Cộng có phải là ngớ ngẩn không? Thời gian chỉ trôi có một chiều, một thế hệ già nua như chúng tôi đang lần lượt rủ nhau đi vào dĩ vãng để nhường chỗ cho một thế hệ trẻ hơn, đầy nhiệt huyết, với những kiến thức thời đại, biết thế nào là con đường quốc gia, dân tộc, và dứt khoát từ chối, không để cho đầu óc bị ô nhiễm bởi những thù hận của lớp trước, dù các bậc cha anh vô trí có muốn truyền lại.  Với tâm cảnh như trên, vậy tôi phải viết về ông Hồ ra sao? Viết theo sự hiểu biết giới hạn của mình thì rất có thể “sai đường lối của một số người đang tham gia cuộc “thánh chiến chống Cộng”” và phải đội thêm vài cái nón cối nữa. Nhưng chẳng sao, tôi ở xứ lạnh, mùa Đông sắp đến, càng ấm đầu.

Được đào tạo trong ngành Khoa Học Vật Lý, đối với tôi, sự lương thiện trí thức phải để lên hàng đầu, và phương pháp khảo cứu mọi vấn đề phải cẩn trọng, không để cho tình cảm thiên kiến lôi cuốn, tuy tôi tự biết, vì không có cái mặc cảm của Thượng đế (God complex), nên tôi không thể tránh khỏi có đôi chút thiên kiến khi viết về lịch sử. Một người nào đó đã chẳng từng nói: “Người nào viết sử mà không có đôi chút thiên kiến chắc phải có cái mặc cảm mình là Thượng đế (hay mặc cảm của Thượng đế) [Those who write about history without bias must have a God complex]. Để giảm thiểu thiên kiến, phương pháp khảo cứu của tôi là đọc nhiều sách về cùng một vấn đề, rồi từ đó kiếm ra một mẫu số chung. Điều này chưa hẳn là tuyệt đối  đúng, nhưng ít ra cũng không xa sự thực là bao nhiêu.

Riêng về ông Hồ, đọc những tài liệu của giới CCCĐ hay CCCC  ở hải ngoại thì cũng như không đọc, vì không biết thêm được điều gì mới lạ, ngoài những cường điệu chứng tỏ trình độ thấp kém về lịch sử của người viết. Còn dùng những tài liệu trong nước, phải gội đầu sẵn để đội thêm vài cái mũ của những kẻ không hề biết lý luận, không có khả năng thảo luận trí thức. Không phải là trong những tài liệu thuộc cả hai phe “Quốc-Cộng” này không có những chi tiết đúng, nhưng những chi tiết này chúng ta cũng có thể tìm thấy trong kho tàng tài liệu ngày nay trên thế giới, từ tác phẩm của những nhà nghiên cứu trong môi trường đại học, các chính khách, cựu tướng lãnh v..v…, và từ các tài liệu có trong các văn khố của một số quốc gia. Vậy thì tốt hơn hết là đi tìm tài liệu không thuộc hai phe Quốc, Cộng.

Bài viết này không có mục đích viết tất cả về ông Hồ Chí Minh, tôi không có khả năng như vậy.  Nhân đọc loạt bài ông Minh Võ phê bình cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của William J. Duiker cùng đọc bài khảo cứu, có thể nói là một bài giáo khoa của giáo sư Sử học Nguyễn Mạnh Quang, về những vị lãnh đạo Việt  Nam trong thời cận đại như Hồ Chí Minh, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, đăng trên giaodiemonline.com tháng 11, 2006, tôi chỉ muốn bổ túc và thu hẹp trên một vài khía cạnh về ông Hồ Chí Minh: vị thế của ông Hồ Chí Minh trên chính trường quốc tế, trong lòng dân tộc Việt Nam, và nhất là, phải chăng ông là người Cộng sản cực đoan, tay sai của Nga Sô và Trung Cộng như một số người chống Cộng cực đoan ở hải ngoại, điển hình là ông Minh Võ, thường rêu rao.  Còn những con cờ Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, và Nguyễn Văn Thiệu của Pháp và Mỹ thì có lẽ không cần phải nhắc tới.  Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang đã viết quá đủ về những nhân vật này rồi, nhất là về ông “Phán Quan Tây Ban Nha” Ngô Đình Diệm.(Link: http://www.giaodiemonline.com/nov/chuong18.htm )

Trước khi đi vào những vấn đề này, tôi có một nhận xét tổng quát về những luận điệu xuyên tạc, đả kích ông Hồ Chí Minh của một số người có vẻ như không có mấy trình độ. Không có gì ngu xuẩn hơn là so sánh ông Hồ với Hitler. Những người này hầu như không hề biết gì đến dư luận thế giới, nhất là trong các nước tiến bộ Âu Mỹ, đã nhận định về ông Hồ Chí Minh như thế nào.  Hãy vào Internet đánh tên Ho Chi Minh thì sẽ thấy Thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào. Hay hãy đọc những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các học giả, tướng lãnh Mỹ, và ngay cả hai cuốn In Retrospect và Argument Without End của cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara. Phần nhận định tích cực về Hồ Chí Minh tràn ngập so với phần tiêu cực thưa thớt của một số người Việt hải ngoại mà tên tuổi không đáng kể, và chỉ như những con đom đóm lập lòe trên vài diễn đàn điện tử ít có giá trị trí thức của đám người Việt còn mang nặng lòng hận thù Quốc-Cộng, chống Cộng cuối mùa, chống Cộng khi đã không còn Cộng..

Và những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đình Diệm của họ nhân dịp 1/11 thì hãy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004, trong đó chúng ta có thể thấy những tên quen thuộc như Tần Thủy Hoàng, Võ Hậu, Từ Hi, Richard III, Mary I, Ceasar Borgia v..v.. và trong thời cận đại: Hitler, Mao Trạch Đông, Stalin, Pol Pot, Sadam Hussein, Kim Jung II, và, lạ lùng thay, có cả tên Ngô Đình Diệm (President of South Vietnam) mà lại không có tên Hồ Chí Minh trong danh sách này.  Mỗi tên trong danh sách đều có kèm theo một tiểu sử ngắn và sơ lược những hành động chuyên quyền và độc tài của nhân vật đó. Thế này là thế nào, chẳng có lẽ Nigel Cawthorne cũng như nhiều trí thức Tây phương đều là tay sai của CSVN, hay là những người ngu cả hay sao?

Cách đây sáu năm, năm 2000, sử gia William J. Duiker có xuất bản cuốn “Ho Chi Minh, A Life”.  Cuốn này được giới trí thức, học giả Âu Mỹ đánh giá khá cao và cho rằng đó là một cuốn nghiên cứu sâu rộng nhất về con người và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh. Đọc Duiker và phối kiểm với những đoạn viết về ông Hồ của nhiều tác giả khác trong thế giới Tây phương, chúng ta có thể rút tỉa ra những điều không xa với sự thật là bao nhiêu.

Trước hết, quốc tế đối với ông Hồ ra sao? Tôi xin được nhắc lại một đoạn  trong bài của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang mà giáo sư đã trích dẫn từ cuốn “Ho Chi Minh” của William J. Duiker:

“Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền thì khắp địa cầu đưa ra  nhận xét về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai ngàn (22000)  bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và chia buồn với nhân dân ViệtNam. Một số các nước theo chủ nghĩa xã hội tổ chức buổi lễ truy điệu ông và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô Mạc Tư Khoa chính thức ca tụng ông như là “người con vĩ đại của dân tộc anh hùng Việt Nam, một người lãnh đạo xuất sắc  của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế, và là người bạn vĩ đại của Liên Bang Sô Viết.” Các nước trong Thế Giới Thứ Ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với những lời ca tụng  ông như là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một bài báo phát hành ở Ấn Độ mô tả ông như là tinh túy của “dân tộc và là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ.” Những bài báo khác đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn của ông. Một bài xã luận trong một tờ báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận “Ông có một tấm lòng bao la như vũ trụ và có một tình thương vô bờ bến đối vào các trẻ em. Ông là gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả  mọi phạm vi.” 

Phản ứng từ các thủ đô Tây Phương thì không biểu lộ mạnh mẽ. Tòa Bạch Ốc lặng thinh và các viên chức cao cấp trong chính quyền của Tổng Thống Nixon cũng không bình luận gì cả. Nhưng việc chú ý đến cái chết cúa ông Hồ Chí Minh đối với giới truyền thông trong các nước Tây Phương thật là mãnh liệt. Những tờ báo ủng hộ các phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ  ca tụng ông như là một địch thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những người lép vế  thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội cũng đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng  ông như là  một người đã tận hiến cả cuộc đời cho đại cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc bị bóc lột ở trên thế giới.”

Nguyên văn: (“The news of Ho Chi Minh’ s death was greeted with a outpouring of comment from around the globe. Eulogies flowed in from major world capitals, and Hanoi received more than twenty-two thousand messages from 121 countries  offering the Vietnamese people condolences for the death of their leader. A number of socialists states held memorial services of their own and editorial comment were predictable favorable. An official statement from Moscow lauded Ho as  a “great son of the heroic Vietnamse people, the outstanding leader of the international Communist and national liberation movement, and a great friend of the Soviet Union.” From the Third World countries came praise for his role as a defender of the oppressed. An article published in India described him as the essence of “the people, the embodiment of the ardent aspiration for freedom, of their endurance and struggle.” Others referred to his simplicity of manner and high moral standing. Remarked an editorial in Uruguayan newspaper: “He had a heart as immense as the universe and in a boundless love for the children. He is a model of simplicity in all fields.”

Reaction from Western capitals was more muted. The White House refrained from comment, and senior Nixon administration officials followed suite. But attention to Ho’s death in the Western news media was intense. Newspapers that supported the antiwar cause tended to describe him in favorable terms as a worthy adversary and a defender of the weak and oppressed. Even those who had admandtly opposed the Hanoi regime accorded him a measure of respect as one who had dedicated himself first and foremost to the independence and unification of his country, as well as a prominent spokeperson for the exploited peoples of the world.”) [Đây là đoạn đầu của Chương cuối: “Epilogue: From Man To Myth” , trang 562.  TCN]

Trên đây, Duiker đã viết lại một sự kiện. Sự kiện này, hơn gì hết, đã loại bỏ tất cả những gì mà một số người Việt hải ngoại hay ở trong nước viết tiêu cực theo cảm tính về ông Hồ. Cho nên bất kể những luận điệu nhằm hạ uy tín của ông Hồ đều không thể thuyết phục được ai, ít nhất là trong giới hiểu biết, nhất là những luận điệu này lại thuộc loại hạ cấp, đầy hận thù, vụn vặt, chỉ nhắm vào những tiểu tiết mà không nhìn thấy những mặt to lớn của sự việc, và chỉ có thể lấy được sự đồng tình của một số người nhỏ nhoi thu hẹp trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại..

Có một bài viết về ông Hồ Chí Minh của Wilfred Burchett khá hay: Ho Chi Minh: An Appreciation (pipeline.com). Wilfred Burchett là một ký giả Úc nổi tiếng, đã từng được Ngoại Trưởng Henri Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Mỹ và Hà Nội. Năm 1968, ông đã viết một cuốn có tính cách tiên đoán: “Việt Nam Sẽ Thắng” (Vietnam Will Win) và năm 1977 ông xuất bản cuốn “Châu Chấu Và Voi: Tại Sao [Nam] Việt Nam Sụp Đổ”(Grasshoppers and Elephants: Why Vietnam Fell). Theo tôi, Burchett viết hay, không phải vì tác giả ca tụng ông Hồ, mà tác giả đã viết về những gì đã tạo nên ông Hồ: Không phải thuần túy chỉ là Marx, là Lenin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đã tạo nên ông Hồ. Có thể nói, tác giả hiểu Việt Nam hơn rất nhiều người tự cho mình là trí thức. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Burchett:

“Chính sách của Mỹ là làm cho người Việt Nam cảm thấy mình thuộc một sắc dân thấp kém (racial inferiors), không có quyền về căn cước quốc gia (have no right for national identity).  Họ thường bị gọi là “gooks”, “slopes” và “dinks”, và trên những phúc trình chính thức, làng Mỹ Lai trở thành “Thành phố hồng” (Pinkville) [có nghĩa là thành phố CS] và dân làng bị tàn sát chỉ là “những người Á đông” (oriental human beings). [với ý coi thường, miệt thị]

Sự thực là người nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ (Reality is that the humblest Vietnamese peasant, even illiterate, is usually culturally and morally superior to his American adversary). Hắn ta biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của hắn – không chỉ vì đất nước hắn có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn Mỹ để mà biết đến – mà vì những điều này đã thấm vào trong người hắn từ sữa mẹ (literally absorbs it with his mother’s milk). Ngay từ bé, hắn sống lên trong một môi trường tràn ngập với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, hoặc qua những màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2000 năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát di động, hoặc những truyền thuyết về các “thần hoàng làng”, [thường là các anh hùng giúp nước của xóm làng, được nhà Vua sắc phong], hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đã bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị đàn áp bởi ngoại nhân nên đòi hỏi một sự đứng lên để chống đối v..v… Sự hiểu biết về 2000 năm tranh đấu chống kẻ xâm lăng có đầy trong dòng máu của người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất. Chỉ một điều này cũng là một nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, một sự tin tưởng vào tương lai và coi thường những kẻ toan tính phá vỡ những đức tính mà những chuyên viên trong cái “hồ tư duy” (think tank)[của Mỹ] không thể hiểu được (The knowledge of two thousand years’ struggle against invaders is in the bloodstream of the humblest, mud-stained peasant. This alone is an inexhaustible source of courage and stoicism; of confidence in the future and contempt for those who try to wreck the present-qualities incomprehensible to the “think tank” specialists).

Ông Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những điều trên. Và đúng là, cũng như một cái gì đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái gì đó trong Hồ Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm (Ho Chi Minh epitomizes all this. And just as there was something of every Vietnamese in Ho Chi Minh so there is something of Ho Chi Minh in almost every present-day Vietnamese, so strong is his imprint on the Vietnamese nation.) .

Một vấn đề mà Tổng thống Nixon cũng như các vị tiền nhiệm có thể không lưu ý đến nhưng chắc chắn là dân Việt Nam không thể không biết, đó là Hồ Chí Minh là của toàn thể quốc gia Việt Nam (that Ho Chi Minh belongs to the whole Vietnamese nation). Không có một lằn danh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ. (No line arbitrarily drawn along the 17th parallel could divorce the people of the South from Ho Chi Minh because his capital happened to be on the northern side of the line. Ho Chi Minh was the accepted leader and source of inspiration for all Vietnamese – except the handful who served Japanese, French and American masters in turn.)

Lẽ dĩ nhiên, một số người Việt “Quốc Gia” ở hải ngoại không thể đồng ý với nhận định trên, điều này có lẽ cũng không lấy gì làm khó hiểu. Nhưng trên phương diện nghiên cứu trí thức, một câu hỏi cần được đặt ra: có bao nhiêu phần đúng trong nhận định của Burchett?  Nếu chúng ta thuộc lịch sử Việt Nam, nếu chúng ta biết đến những truyền thống trong xã hội làng mạc Việt Nam, nếu chúng ta để tâm nghiên cứu về hai cuộc chiến ở Việt Nam, với Pháp rồi với Mỹ, thì có lẽ chúng ta không cần đặt ra câu hỏi trên.

Vấn đề tiếp theo tôi muốn nói đến là: ông Hồ Chí Minh là con người Cộng Sản như thế nào?  Chúng ta biết rằng, ông Hồ Chí Minh chưa bao giờ phủ nhận mình là người Cộng Sản và đã từng khẳng định là Lenin đã gây cảm hứng cho ông trong công cuộc giành lại độc lập cho đất nước. Nhưng muốn hiểu ông Hồ là người Cộng sản như thế nào, có lẽ chúng ta nên biết đến quan niệm của một số trí thức ngoại quốc, những người thường ở trong môi trường đại học, đặt sự tôn trọng sự lương thiện trí thức lên hàng đầu, và vì chính uy tín của họ, nên không thể viết theo cảm tính mà không nghiên cứu kỹ vấn đề, hay tự hạ mình rơi vào vòng tranh chấp Quốc-Cộng mà họ không thuộc phe nào và không có lý do gì để ủng hộ hay chống đối một phe nào..

Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Stanley I. Kutler điểm cuốn “Ho Chi Minh, A Life”, Kutler là tác giả cuốn “The Wars of Watergate” và là chủ biên của “The Encyclopedia of the Vietnam War.” . Stanley Kutler cho rằng trong tác phẩm của mình, Duiker đã viết về một nhà cách mạng ái quốc gần với Thomas Jefferson hơn là với V. I. Lenin [A patriot closer to Thomas Jefferson than to V.I. Lenin].  (Điều này, không phải chỉ có mình Duiker mới nhận định như trên, mà một số tác giả Mỹ khác cũng có cùng một nhận định như vậy. TCN)

Trước hết, Kutler cho rằng chế độ thực dân đã cáo chung một thế kỷ nay rồi và vai trò của ông Hồ đã đi vào quá khứ.  Ngày nay, Việt Nam là một phần của nền kinh tế toàn cầu, có nghĩa là có những liên doanh mang lại lợi nhuận cho chính phủ, cho một số viên chức được ưu đãi, và cho những công ty Tây phương. Nhưng Kutler ghi nhận là:

“Tuy nhiên, thế giới có một bộ mặt khác vì ông Hồ, và những người như ông, những người đã lo lắng, chiến đấu và hi sinh để giải phóng quốc gia của họ thoát khỏi sự sỉ nhục và gông cùm của sự chuyên chế bạo ngược ngoại quốc.”  (Nevertheless, the world is a different place because of Ho, and others like him, who agitated, fought and died to liberate their lands from the stigma and yoke of foreign tyranny.)

Sau đó Kutler viết: “Duiker đã đi quá sự tranh luận đơn giản trong thời Chiến Tranh Lạnh về vấn đề ông Hồ là người Cộng sản theo chính thống Mác-Lênin hay là một nhà ái quốc quốc gia, hiến thân cho cuộc giải phóng và thống nhất đất nước?” (Duiker has moved beyond the simplistic Cold War debate of whether Ho was a dedicated Communist, beholden to Marxist-Leninist orthodoxy, or whether he was a patriot and a nationalist, dedicated to freeing and uniting his country.)  “Duiker đã nhận định đúng, Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào Cộng sản quốc tế, nhưng ông luôn luôn là một người quốc gia đã mang lại sự lãnh đạo, viễn kiến và sự cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết “(Duiker rightly notes that Ho had deep roots in the international Communist movement; but he was a constant nationalist who provided leadership, vision and a firm commitment to the principle of self-determination.)…

“Ông Hồ không hề nao núng khi dùng chủ nghĩa Cộng Sản cho những mục đích quốc gia.  Lời tuyên bố của ông: “các dân ở Đông Dương vẫn sống và sẽ còn sống mãi” khó mà phù hợp với chủ nghĩa Mác. Duiker nhấn mạnh là, đối với ông Hồ, độc lập quốc gia bao giờ cũng là mục tiêu chủ yếu, trong khi chủ thuyết về một cộng sản không tưởng vẫn là một vấn đề mơ hồ, bất định cho tương lai” [Ho unabashedly used communism for his own nationalist ends. His statement that “the peoples of Indochina still live and will live forever” is hardly compatible with Marxism. Duiker insists that for Ho, national independence always was the primary goal, while the doctrine of a communist utopia remained a vague, indefinite matter for the future.] Duiker cũng nhắc lại cho chúng ta là rất tiếc vì những nhận định hời hợt về cuộc Chiến Tranh Lạnh mà Paris và rồi Washington đã thất bại không nắm lấy tay ông Hồ, để đưa đến những hậu quả sâu đậm cho người Việt Nam và cho thế giới (Duiker painfully reminds us that external Cold War considerations led to the failure of Paris and then Washington to grasp Ho’s hand, resulting in profound consequences for the Vietnamese people and the world.)

Lẽ dĩ nhiên, cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của Duiker không làm những người mang nặng lòng hận thù Cộng Sản hài lòng, và họ đã lên tiếng chê sử gia Duiker cũng như tất cả các tác giả Âu Mỹ viết về ông Hồ mà không đúng ý họ là ngu dốt, là những người ngoại quốc, đâu có biết gì về ông Hồ bằng người Việt Nam. Chỉ có những người vô tên tuổi, vô văn hóa, và chẳng biết gì mấy về Việt Nam như họ mới có thể biết rõ về ông Hồ, dù rất có thể họ chưa bao giờ thấy mặt ông Hồ, và chỉ biết ông Hồ qua những luận điệu tuyên truyền chống Cộng ở hải ngoại và qua vài chi tiết lặt vặt trong những tác phẩm của những người sau này chống Đảng như Vũ Thư Hiên, Bùi Ngọc Tấn, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần v..v…. Điển hình cho loại người này trên Internet là Minh Võ, một người rất năng nổ trong chiến dịch “No Hồ” ở hải ngoại, viết trên diễn đàn điện tử Đàn Chim Việt, một diễn đàn có vẻ như là nơi để cho một số người nhân danh tự do ngôn luận vào đó chửi lộn. Minh Võ đang cố gắng phá đổ cái mà ông ta gọi là “thần tượng Hồ Chí Minh”, dù rằng chẳng có ai coi ông Hồ là thần tượng, vì hầu như mọi người dân trong nước đều coi ông Hồ đơn giản là “Bác Hồ”. Nhưng trình độ hiểu biết, khả năng lý luận, và thủ đoạn bịa đặt sự kiện của ông Minh Võ không cho phép ông ta đạt được mục đích, cho nên những điều ông ta phê bình Duiker cũng như những điều ông ấy viết về ông Hồ không có mấy giá trị trí thức, để lộ rõ một kiến thức kém cỏi và viết với một tâm trạng thù hận và thiếu sự lương thiện trí thức trong đó. Điều này chúng ta có thể chứng minh rất dễ dàng, nhưng tôi để cho phần sau.

Trước hết chúng ta hãy đọc thêm vài tài liệu về ông Hồ:

Trong tờ “Les Collections de L’Histoire”, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme”  có bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” [L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh] của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn Giảng Danh Dự tại Đại Học  Denis-Diderot, Paris-VII.  Chúng ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết chứng tỏ ngay cả Nga và Tàu cũng không tin tưởng ông Hồ Chí Minh là người Cộng Sản chính thống (orthodox communist).  Giáo sư Brocheux viết, trang 33:

Đối với Quốc (Nguyễn Ái Quốc), chủ thuyết Mác Lênin đã đưa lên những phương tiện hành động, như là ông ta đã giảng giải nhiều năm sau: “Chúng ta phải hiểu rằng giật độc lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ rất khó khăn mà người ta không thể hoàn thành mà không có một sự ngoại viện, không cần thiết phải là một sự viện trợ vũ khí mà dưới dạng cố vấn và tiếp xúc. Chúng ta không lấy lại được độc lập bằng cách ném bom hay bằng những hành động tương tự. Đó là sự sai lầm của những nhà cách mạng lúc đầu đã phạm phải [Có lẽ ông Hồ muốn nói đến cuộc ám sát thất bại của Phạm Hồng Thái đối với Toàn Quyền Merlin]. Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép mình vào kỷ luật. Chúng ta cũng còn cần đến một lòng tin, một phúc âm, một sự phân tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh. Chủ thuyết Mác-Lênin đã cung cấp cho tôi đường lối hành động này.”

(Pour Quoc, le marxisme-léninisme offre des moyens d’action, comme il l’a expliqué des années plus tard: “Vous devez comprendre qu’arracher l’indépendance à une puissance comme la France est une tâche formidable qu’on ne peut accomplir sans une aide extérieure et pas nécessairement une aide en armes mais sous la forme de conseils et de contacts.  On ne gagne pas l’indépendance en jetant des bombes et par des actes de ce type.  Ce fut l’erreur que les premiers révolutinaires commirent.  On gagne l’indépendance en s’organisant et en se diciplinant. On a aussi besoin d’une foi, d’un évangile, d’une analyse pratique, on peut même parler d’une bible.  Le marxisme-léninisme m’a fourni cette panoplie.)

Thực ra thì có lẽ ông Hồ muốn nói đến Những Luận Đề Về Những Vấn Đề Quốc Gia Và Thuộc Địa (Theses on The National and The Colonial Questions) của Lê-nin đưa lên trong Đại Hội II Cộng Sản Quốc Tế (Second Congress of the Communist International) vào năm 1920 để nghị thảo mà ông biết đến trong Đệ Tam Quốc tế.  Chúng ta đã biết, chính ông Hồ Chí Minh đã thành thực công nhận là mới đầu ông không hiểu hết những từ và ý tưởng chính trị khó khăn trong bản văn trên, nhưng rồi đọc đi đọc lại ông mới thấm và hiểu rõ, và ý thức được là những luận đề này đã giúp cho ông ta thấy con đường thích hợp nhất để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thuộc địa, thực dân. Và ông Hồ đã thành công.

Chúng ta hãy đọc tiếp vài đoạn khác của Giáo sư Brocheux.  Trước hết là một tài liệu trích dẫn từ một tài liệu trong văn khố của Nga Sô, mới được sử gia Alain Ruscio phổ biến năm 1990, trang 34-36:

“Năm 1934, Ông Hồ trở lại Moscou. Stalin đã nắm chắc quyền lực, và những cuộc thanh trừng lớn bắt đầu năm 1937. Có vẻ như con người Hồ Chí Minh tương lai là nạn nhân, vì từ ngày trở lại Moscou, ông ta không được tin cậy để giao phó cho một trách nhiệm nào. Không còn nghi ngờ gì nữa người ta đã trách cứ là ông ta ngả về tinh thần quốc gia trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay vì tinh thần cách mạng vô sản quốc tế.”

(En 1934, il est de retour à Moscou. Staline raffermit son pouvoir, les grandes purges vont débuter en 1937. Il apparait avec certitude que le futur Ho Chi Minh faillit en être victime car, depuis son retour, il ne s’est vu confier aucune responsabilité. Sans doute lui reproche-t’on de préférer le nationalisme qui sous-tend le combat anti-colonial à l’internationalisme de la révolution prolatérienne.)

“Về vấn đề này, ông Hồ đã bày tỏ quan điểm của mình từ năm 1924.. Được huấn luyện về cách mạng và chủ thuyết Marx bởi Tây phương, tuy nhiên Quốc đã nhìn theo đặc tính Á Đông: “Cuộc đấu tranh giai cấp ở Đông phương không giống như ở Tây phương. Marx đã xây dựng lý thuyết của mình trên một căn bản triết lý nào đó của lịch sử.  Nhưng là lịch sử nào? Đó là lịch sử Âu Châu. Nhưng Âu Châu là gì? Không phải là tất cả nhân loại.” 

(À ce sujet, il a expliqué son point de vue dès 1924… Éduqué par l’Occident à la révolution et au marxisme, Quoc est pourtant persuadé, de la spécifícité de l’Orient: “ La lutte de classes ne se manifeste pas en Indochine comme en Occident.” ; Marx a bâti sa doctrine sur une certaine philosophie de l’histoire.  Mais quelle histoire?  Celle de l’Europe.  Mais qu’est ce que l’Europe?  Ce n’est pas toute l’humanité).

“Hồ Chí Minh có thực sự là mgười Mác-xít không?  Hay ông ta chỉ là người Quốc Gia sau lớp sơn đỏ, như một thành viên Cộng Sản Quốc Tế, ông M. N. Roy, người Ấn Độ, đã nói?  Vấn đề này đáng được đặt ra..  Nếu chắc chắn là ông ta đã đọc bản Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản, nếu đã nhiều lần ông ta nói là chịu ảnh hưởng trí thức và chính trị của Lê-nin, thì sự gắn bó của  ông với chủ nghĩa Mác không bao giờ có tính cách giáo điều.“

(Ho Chi Minh était-il vraiment marxiste?  Ou n’était-il qu’un “nationaliste peint en rouge”, comme l’a dit un membre du Komintern, l’Indien M.N. Roy?  La question mérite đêtre posée…  S’il a certainement lu le Manifeste du Parti Communiste, s’il dit maintes reprises sa dette intellectuelle et politique envers Lénine, son adhésion au Marxisme ne fut, pour autant, jamais dogmatique.)

“Năm 1963, người Cộng Sản Lưu Thiếu Kỳ đã phác họa một hình ảnh chính trị của ông Hồ, nếu đúng, cho thấy một vị thế không thoải mái[của ông Hồ] đưa đến một sự gắn bó đôi đàng với lòng yêu nước chấp nhận thỏa hiệp, và chủ nghĩa xã hội độc quyền: “Hồ luôn luôn là người hữu khuynh.. Khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, ông ta không thể quyết định là thiết lập một chế độ tư bản hay một chế độ theo xã hội chủ nghĩa.  Chúng tôi đã quyết định cho ông ta.””

(Le communist Chinois Liu Shaoqi esquisse en 1963 un portrait politique de Ho qui, s’il est exact, indique la position inconfortable qui résulte d’une double adhésion au patriotisme consensuel et au socialisme exclusif: “Ho a toujours été un droitiste.. Lorsque la guerre d’Indochine prit fin, il ne put se décider à choisir d’instaurer soit un régime capitaliste soit un régime socialiste.  Ce fut nous qui décidâmes pour lui.”)

“Không có gì minh họa rõ hơn sự tương phản giữa Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản là những trao đổi quan niệm của Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ với ông Hồ Chí Minh vào năm 1960.  Ông Hồ đã tuyên bố rằng ngay cả việc giết kẻ thù cũng không được đạo đức; Mao đã trả lời ông ta: “Tưởng Giới Thạch giết, tôi giết, đó không phải là một vấn đề đạo đức.  Và Lưu Thiếu Kỳ thêm vào là viện đến đạo đức khi ta phải đối phó với những tên tư bản chống cách mạng là không thích đáng .”

(Rien n’illustre mieux le contraste entre Ho Chi Minh et d’autres dirigeants communistes que les propos que Mao Zedong et Liu Shaoqi tinrent à Ho Chi Minh en 1960.  Ho avait déclaré qu’il n’était pas moral de tuer même ses adversaires; Mao lui répliqua: “Chiang Kaishek tue, je tue, ce n’est pas une question de morale.”  Et Liu Shaoqi de renchérir qu’il n’était pas pertinent d’invoquer la morale lorsqu’on avait affaire aux contre-révolutionnaires capitalistes.)

Trong cuốn “The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble Books, NY, 2005”, trang 493, cũng có viết:

“Ông Hồ ít quan tâm đến những chi tiết tế nhị của chủ thuyết Mao và Lê-nin; thiên tài của ông ta là về hành động chính trị, và lý tưởng của ông ta có thể khá co dãn chừng nào mà nó đưa tới mục đích đã ám ảnh ông ta: nền độc lập và thống nhất của Việt Nam.”  (Ho was less concerned with niceties of doctrine than Mao and Lenin; his genius was for political action, and his ideology was capable of considerable stretching as long as it tended toward the purpose that obsessed him: the independence and unification of Vietnam.)

Trong cuốn Cracks In The Empire, South End Press, Boston, 1981, Paul Joseph, Giáo sư xã hội học, đại học Tufts, viết, trang 83:

“Dù rằng thiếu bằng chứng, Washington tiếp tục cho rằng cuộc đấu tranh chống Pháp (ở Việt Nam) là do sự hứng khởi và chỉ đạo từ Liên Bang Sô Viết.  Thí dụ, trong bức công điện gửi cho Thủ Tướng (Pháp) Ramadier, đại sứ Mỹ vẫn sai lầm cho rằng Việt Minh là một phong trào mà “triết lý và tổ chức chính trị đều phát khởi từ và bị  kiểm soát bởi điện Kremlin. Tuy vậy tình báo Mỹ đã cố gắng, và thất bại, để kiếm ra bằng chứng là có mối liên hệ kiểm soát giữa Moscou và Hồ Chí Minh.  Một công điện của Bộ ngoại giao gửi cho đại sứ Mỹ ở Trung Quốc viết “Bộ không có bằng chứng nào về sự nối kết trực tiếp giữa ông Hồ và Moscou nhưng cho rằng có.”

(Despite a lack of evidence,Washington continued to perceive the anti-French struggle (in Vietnam) as something inspired and directed from the Soviet Union. For example, in the cable to Premier Ramadier cited above, the American embassador falsely maintained that the Vietminh was a movement whose “philosophy and political organization emanated from and was controlled by the Kremlin.” Yet American intelligence had tried, and failed, to substantiate the existence of controlling ties between Moscou and Ho Chi Minh. A State Department cable to the US Ambassador in China read “the Department has no evidence of a direct link between Ho and Moscou but assumes it exists..)

Marilyn B. Young, trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990, HarperPerennial, New York, 1991, viết, trang 4:

“Trong vài năm tới, những văn bản Hồ Chí Minh viết bị tố cáo vì những “mùi hôi quốc gia” trong đó, và sự ủng hộ của ông Hồ về một liên minh rộng rãi bao gồm cả các địa chủ cỡ nhỏ và trung bình, miễn là họ yêu nước, bị đả kích là kẻ xét lại và là kẻ hợp tác (với kẻ thù).  Phải mười năm sau sự tranh luận đắng cay về mối liên hệ giữa cách mạng quốc gia và cách mạng xã hội mới được giải quyết, theo đường lối lúc đầu đưa ra bởi ông Hồ, sự thành lập Việt Minh (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội.”

(Over the next few years, Ho Chi Minh’s writings were denounced for their “nationalist stench”, and his support for a broad alliance that could include even small and medium landowners, provided they were patriotic, was attacked as reformist and collaborationist.  A decade would pass before this bitter debate on the relationship between national and social revolution was resolved, along the lines initially by Ho, in the formation of the Viet Minh.)

Trên đây chỉ là vài tài liệu trong số hàng trăm tài liệu khác có những nhận định tương tự  rải rác trong những cuốn sách mà tôi đã đọc. Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể nào trích dẫn tất cả những nhận định ấy trong phạm vi một bài viết như thế này.  Điều này đòi hỏi nhiều thời gian và thích hợp trong một cuốn sách viết ông Hồ hơn.  Nhưng qua những tài liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng ông Hồ không phải là tay sai của Nga và Tàu như một số người có đầu mà không có óc cố tình lên án ông ta là tay sai của Đệ Tam Quốc Tế, hay tệ hơn nữa là “điệp viên của Cộng Sản Quốc tế” [Minh Võ]. Họ không hề biết chính trị của ông Hồ giữa Nga và Tàu, đã khôn khéo từ chối không nhận đề nghị của Nga cũng như Tàu gửi quân tình nguyện vào đánh giúp. Chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer, Chương 9: “Giữa Con Gấu Nga Và Con Rồng Tàu” (Between Russian Bear and Chinese Dragon), trang 109:

“Đến Bắc Kinh dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách Mạng Trung Quốc, ông Hồ cẩn thận đứng giữa Mao Trạch Đông và đại diện của Nga Sô, Miklai Suslov.  Trong những cuộc đàm phán riêng, ông Hồ đã thành công lấy được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moscou để tăng gia giúp thêm vũ khí và viện trợ dân sự, nhưng khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam.  Ông Hồ biết rõ là nếu để cho con gấu Nga hay con rồng Trung Hoa được đặt chân vào cửa ngõ Hà Nội thì dần dần cửa ngõ này sẽ bị cưỡng bách mở rộng ra cho đến khi Bắc Việt mất đi nền độc lập và trở thành một quốc gia bị chiếm.”

(Visiting Peking in 1959 for the 10th anniversary of the Chinese Revolution, Ho was careful to stand between Mao Tse-Tung and Chief Soviet Delegate Mikhail Suslov. In private negotiations,  he managed to win pledges of additional arms and aid from both Peking and Moscou, but adroitly declined their offers to send “volunteer” troops or military advisers. Ho knew that if either the Russian bear or the Chinese dragon were allowed to trust a foot inside Hanoi’s door, that door would gradually be forced open until North Vietnam lost its independence and became a captive nation.)

Đọc về ông Hồ chúng ta thấy rõ Mỹ và Pháp, vì những nhận định chính trị sai lầm, đã  càng ngày càng đẩy ông ta về phía Cộng Sản, và ông ta không có con đường nào khác, vì để thực hiện  mục đích không hề thay đổi của ông là thực hiện nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, nên ông ta cần đến các đồng minh. [Hãy nghĩ đến chuyện ông viết 8 bức thư cho Tổng Thống Truman, đến chuyện Mỹ giúp 80% quân phí cho Pháp trở lại tái lập nền đô hộ ở Đông Dương, và rồi dựng lên chế độ Ngô Đình Diệm, vi phạm hiệp định Genève, ngăn chận cuộc bầu cử vào năm 1956 để thống nhất đất nước.]

Cuối cùng, vị thế của ông Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam ra sao?  Chúng ta đã biết, Wilfred Burchett đã nhận định ở trên:

Hồ Chí Minh là của toàn thể quốc gia Việt Nam (that Ho Chi Minh belongs to the whole Vietnamese nation.)  Không có một lằn danh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ.

Nhận định này đúng hay sai?  Có lẽ câu trả lời thiết thực nhất là của Hoàng Xuân Ba trong bài “Hai Câu Chuyện Hoàn Toàn Trung Thực”,  mới đây đăng trên Đàn Chim Việt:

Chuyện thứ nhất :  lá cờ đỏ sao vàng trên mạng:

Trưa 2/9/2006, ngày quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đang nói chuyện với một người bạn Việt Kiều trên Yahoo Messenger (YM) tôi bất ngờ nhận được thông điệp của một người bạn trẻ Việt Nam: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”,  kèm theo đó là lời kêu gọi hãy thay đổi avatar (hình ảnh đại diện) trên YM bằng lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ biểu trưng cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhìn lại danh sách nickname của mình trên YM, tôi thấy rất đông các bạn trẻ thay đổi avatar bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng.

Sáng nay, 4/9/2006, báo Tuổi Trẻ đăng bài: “Mừng Quốc khánh trên mạng”. Trong bài viết này, tác giả mô tả lại hình ảnh nhà nhà treo cờ, người người treo cờ trên mạng: “Lần đầu tiên, cư dân trên mạng đón lễ Quốc khánh hoành tráng bằng cách đưa hình ảnh lá cờ Tổ quốc lên mạng trang trọng trên các blog (nhật ký cá nhân trên mạng) và trên avatar trong công cụ chat YM của mình trong ngày 2-9. Và ngày 3-9, tất cả đều đồng loạt thay vào đó là chân dung của Bác Hồ”.

Chuyện thứ hai : lăng ông Hồ Chí Minh :

Tôi đã có dịp gặp gỡ trên mạng với bạn đọc của DCVOnline gần đây qua bài Tản mạn vể xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội, đăng ngày 31/08/2006 (với hàng chục ý kiến khác nhau). Cũng dịp công tác này, tôi tranh thủ được một thời gian ngắn để ghé thăm lăng ông Hồ với mục đích tìm hiểu xem thái độ, tình cảm của người dân Việt Nam và nhất là người dân Hà Nội đối với ông Hồ ra sao. Điều làm tôi thật bất ngờ là có rất nhiều cá nhân đến viếng thăm lăng ông, các đoàn viếng lăng vào ra tấp nập. Để vào thăm lăng của ông tôi được một anh bảo vệ cầm loa phóng thanh bắt phải đứng xếp vào hai hàng dọc, một đặc trưng của xã hội chủ nghĩa, rồi theo đó vào lăng. Quả thật tôi cảm nhận được sự trang nghiêm của lăng mộ ông Hồ và cả sự sùng bái của những người dân bình thường viếng thăm lăng. Một cách tự động, tất cả mọi người đều kính cẩn, nghiêm trang khi đi ngang qua xác ông được đặt trong một cái hòm rất rộng, bốn bên là kính trong suốt. Trông ông không giống như những bức hình chụp mà tôi từng thấy, khuôn mặt trông vẫn còn rất tươi tắn hồng hào nhưng trông giả chứ không thật, có lẽ bị đánh sáp.

 Báo chí Việt Nam sáng 4/9/2006 đều đồng loạt đăng tin về việc có hàng vạn người đến viếng thăm lăng ông Hồ. Báo Tuổi Trẻ viết: “Sáng 2/9, đoàn người vào lăng viếng Bác dài ra tận hai phía trên phố Ngọc Hà và Hùng Vương. Đông nhất là các đoàn học sinh và người già từ các tỉnh Thái Nguyên, Hà Tây. Còn có rất nhiều đoàn đến từ tỉnh xa như Cao Bằng, Nghệ An, Quảng Trị, Bình Phước… Có nhiều người nước ngoài cũng đứng trong đoàn người từng bước vào lăng. Khu vực quảng trường trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nào cũng đông kín người”.

 Một thông tin đáng chú ý đó là thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa, trưởng Ban quản lý lăng kiêm tư lệnh Bộ tư lệnh bảo vệ lăng ông Hồ cho biết đến hết buổi viếng ngày 2/9 chỉ khoảng 25.000 lượt người được vào viếng lăng ông, số còn lại đành phải chờ đến hôm sau. Tôi tin rằng con số trên rất thật bởi vì tôi đã được tận mắt chứng kiến dòng người xếp hàng dài vào viếng lăng ông Hồ, không nhất thiết phải do cơ quan hay các hội đoàn tổ chức.

Duiker cũng viết, trang 566: “Mỗi tuần có hơn 15000 người đến viếng thăm Lăng ông Hồ” (More than 15000 visit the mausoleum each week)

Tại sao ngày nay người dân Việt Nam vẫn còn kính ngưỡng ông Hồ Chí Minh, tuy rằng trên diễn đàn truyền thông hải ngoại có cả một chiến dịch để xóa bỏ “thần tượng Hồ Chí Minh”? Lý do rất dễ hiểu là phần lớn những điều viết về ông Hồ của giới chống Cộng là sai lầm, là vô căn cứ, bắt nguồn từ lòng thù hận một chiều của những người gọi là Quốc Gia, chứ không đặt trên những sự thật và sự kiện lịch sử. Thật vậy, những người chống Cộng cực đoan như Minh Võ chỉ nhìn thấy những điều lặt vặt như chúng ta thấy trong bài ông ta phê bình cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của William J.Duiker. Để có thể thêm vài chi tiết về ông Hồ Chí Minh, có lẽ tôi cũng nên điểm qua bài phê bình Duiker của Minh Võ.

Xem tiếp Phần 2

Trần Chung Ngọc

Nguồn: giaodiemonline.com
Vkyno (st)

Bác Hồ phê bình: Thế này là “vua liêu” rồi…

QĐND -Trường Bổ túc văn hóa Công nông Trung ương (gọi tắt là Trường Bổ túc Công nông) ra đời vào tháng 11-1955. Bác Hồ 3 lần về kiểm tra trường. Sự sâu sát tình hình và những nhận xét phê bình của Người vẫn nguyên vẹn tính thời sự hôm nay, không chỉ riêng cho ngành giáo dục.

Ðôi dòng sử trường

Sau năm 1954, tại khu cỏ hoang làng Giáp Bát gần kề Quốc lộ 1 Hà Nội mọc lên khu nhà tạm Trường Bổ túc Công nông. Trường Phổ thông Lao động Trung ương do Bác Hồ đặt tên mở tại Tuyên Quang từ năm 1951 cũng được chuyển về sáp nhập (tách ra năm 1961, tồn tại tới năm 1977, 10.000 học sinh ra trường). Trường Bổ túc Công nông hoạt động đến năm 1964 thì giải thể, 7000 học viên tốt nghiệp cấp ba thi vào đại học ở trong và ngoài nước. Hè năm 1958, trường mở lớp “học vượt” – hai tháng học chương trình cấp ba để kịp thi vào đại học năm sau. Trong số này có nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải. Từ mái trường công nông, hàng trăm, rồi hàng nghìn, hàng vạn thầy giáo, cô giáo kế nghiệp.

Nhưng, chớ vì thế mà…

Bác Hồ thăm Trường Bổ túc văn hóa Công nông Trung ương ngày 4-10-1957. Ảnh tư liệu

“Lỗ mũi to bằng quả cà chua”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm theo dõi việc ăn ở, dạy và học của trường. Ba năm liền về thăm (1956, 1957, 1958), nói đúng hơn, Người về kiểm tra.

Trong tập Hồi ký “Mái trường Công nông thuở ấy” (NXB Lao động, 1996), tác giả Trần Ngọc Trác kể lại: Sáng thứ sáu ngày 4-10-1957, hai cán bộ Phủ Chủ tịch về trường gặp lãnh đạo bàn việc bảo vệ Bác buổi chiều về thăm. Bí mật bị bại lộ. Nhà trường ra lệnh bỏ nghỉ trưa, dồn mọi lực lượng sửa sang, tổng vệ sinh trong ngoài nơi ăn ở, đi lại. Hai giờ chiều, 4000 thầy trò, cán bộ, công nhân viên đã “cấm trại” tại khu hội trường. Bác không vào nơi xếp hàng đón tiếp mà đi tắt ra nhà bếp, khu vệ sinh, mấy lớp học, nhà ở, nhà tắm, bể nước, các vòi nước công cộng dọc lối đi đều trơ vòi không… nước – cuộc họp nào của Ðảng bộ, lãnh đạo nhà trường cũng phải bàn mà không giải quyết được. Mấy “cụ học viên” là cán bộ trung cao cấp gay gắt phê phán cả lãnh đạo Bộ, thành phố “đem con bỏ chợ”… Thứ trưởng Hà Huy Giáp vốn “dị ứng” với căn bệnh thành tích đã “khai thật” với Bác…

Vào hội trường, Bác bước lên bục giảng, hai tay ra hiệu im lặng, ngồi xuống giữa tiếng hô vang: Hồ Chủ tịch muôn năm… Muôn năm… Người hỏi:

– Ở đây cô chú nào nhiều tuổi và hoạt động lâu năm nhất?

Ðây đó, chỗ nọ chỗ kia thấy có mấy “cụ” tóc muối tiêu nhìn ngó, ý như thăm dò (có thể nghĩ được Bác “tuyên dương” chăng?). Một “cụ” ở khối phổ thông lao động phấn khởi đứng lên:

– Thưa Bác, cháu ạ!

– Chú hoạt động cách mạng được bao lâu?

– Thưa Bác, từ năm 1930 ạ!

– Vậy, chú hoạt động có lâu năm hơn Bác không?

“Cụ” nọ hiểu ra, không kịp… chui xuống đất. Cả hội trường im phăng phắc. Bác đưa tay để “người bệnh công thần” ngồi xuống, nhẹ nhàng nói:

– Làm cách mạng là làm việc cho dân, cho nước. Nếu làm mà kể công thì ông Mác, ông Lê-nin lỗ mũi phải to bằng quả cà chua. Bác đưa tay lên mũi: To như thế này này!

Cả hội trường suy ngẫm, im lặng. Lãnh đạo thì hiểu thói kể công của mấy ông từ chiến trường ra đã đến tai Bác làm Người phiền lòng. Bác lại hỏi: “Trong trường có bao nhiêu học viên?”. Hiệu trưởng nắm con số chiêu sinh đầu năm học thì thưa: 3.700. Hiệu phó Tổ chức ghi sổ sĩ số “đầu vào” lại báo cáo: 3.600. Hiệu phó phụ trách chuyên môn “nắm chắc” con số từng khối, lớp thì khẳng định chính xác phải là 3.550. Thế nhưng, Trưởng phòng Hành chính quản trị lại đứng lên báo cáo con số chấm cơm là 3.512 học viên.

Bác chăm chú nghe, nghiêm nét mặt: “Các con số đá nhau. Thế này là “vua liêu rồi chứ chẳng còn là quan liêu nữa!”. Cả hội trường ngỡ ngàng, lãnh đạo trường lúng túng. Bác đột ngột hỏi: “Các cô, các chú có thể đào cho Bác mỗi người một mét khối đất được không?”.

– Dạ, có ạ! Có ạ! – Cả hội trường nhất loạt đồng thanh thưa với Bác. Ai cũng nghĩ Bác kêu gọi làm thủy lợi vì trường vừa mới được Chính phủ khen về thành tích đắp đê Mai Lâm? – Không! Thì ra ý Bác: Mỗi người đào một mét khối đất. Cả trường sẽ đào được 3.500m3. Tại sao không đào giếng lấy nước mà dùng, lại cứ ngồi mà kêu ca trách móc Ðảng bộ với cấp trên?

Thật có một không hai cách phê bình ví von, dí dỏm mà sâu sắc, nhiều ý nghĩa, vui vẻ cả, nhưng mỗi người đều nhận ra một phần lỗi ở mình. Cuối cùng, Bác tươi cười hỏi:

– Các cô, các chú, các cháu có đồng ý như Bác phê bình không? Ai thật lòng đồng ý để sửa chữa thì giơ tay nào?

Tất cả đều giơ tay – Nhà giáo ưu tú Nguyễn Văn Tiêu trong Ban liên lạc Trường Bổ túc Công nông nhớ lại không khí tràn ngập niềm vui, hạnh phúc và lưu luyến tiễn Bác ra về.

TRỊNH TỐ LONG
qdnd.vn

Những hồi ức về một mùa thu

Cụ Vi Văn Định với con cháu và các con rể (GS Hồ Đắc Di - hàng đầu, bên phải và GS Nguyễn Văn Huyên - hàng sau, bên trái) ở vùng Ngòi Quẵng, Chiêm Hóa, Tuyên Quang

TTCT – Chính ngọn cờ đại nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lôi cuốn được trăm ngàn nhân sĩ, trí thức dấn thân, bền chí đi theo con đường cách mạng gian khó, hiểm nguy.

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, cụ Phan Kế Toại giữ chức khâm sai đại thần, làm việc tại Bắc Bộ phủ. Người con trai cụ Toại là anh Phan Kế An, sinh viên Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, tham gia phong trào sinh viên cứu quốc, thường bí mật tìm mua vũ khí cho Việt Minh rồi cất giấu trong nhà cụ ở làng Mông Phụ, xã Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây).

Nghe phong thanh vậy, nhưng bọn Nhật chưa vội “động thủ” mà gửi công văn cho quan khâm sai, khuyến cáo về một “trào lưu nguy hiểm”, rồi nhắc nhở: “Rất tiếc, trong số đó có cả quí công tử!”

Cụ Toại xem xong bức công văn, cười, rồi đưa cho anh Phan Kế An xem để đề phòng. Bọn Nhật đâu có ngờ chính quan khâm sai cũng đã lặng lẽ mua ủng hộ Việt Minh 500 đồng tín phiếu!

Gần đây, trong cuốn Hồi ký Thanh Nghị, luật sư Vũ Đình Hòe kể lại: Theo gợi ý của ông Dương Đức Hiền – một lãnh đạo phong trào sinh viên cứu quốc, ông Vũ Đình Hòe tìm gặp ông Nguyễn Văn Huyên, em vợ cụ Toại, nhờ ông Huyên “tháp tùng” để vào Bắc Bộ phủ “thăm” cụ. Ông Hòe nói:

– Anh em trí thức Hà Nội rất hoan nghênh cụ “cáo ốm”, không chịu đi hiểu dụ nhân dân “bán” thóc cho Nhật. Nhưng anh em muốn cụ làm mạnh hơn!…

Cụ Toại liền vặn lại ông Hòe:

– Thế ông là Việt Minh à?

Ông Hòe bèn lảng sang chuyện khác.

Cụ Toại mỉm cười, nói nhỏ:

– Thôi, ông đừng giấu tôi nữa! Con cháu tôi cũng vào Việt Minh rồi mà!

Phó thủ tướng Chính phủ kháng chiến Phan Kế Toại cùng con trai là họa sĩ Phan Kế An ở Tân Trào, Tuyên Quang

Việt Minh chủ trương giúp cụ Toại, không để cụ bị bọn Nhật lợi dụng đàn áp cách mạng, và để khi thời cơ tới thì việc tiếp quản chính quyền tránh được đổ máu. Nhưng sau bị Nhật o ép quá, cụ Toại đành từ chức, trao lại quyền cho ông Nguyễn Văn Chữ vào ngày 17-8-1945, chỉ hai ngày trước khi nổ ra cuộc biểu tình bao vây Bắc Bộ phủ.

Trong một thiên hồi ký, giáo sư Nguyễn Xiển cho biết: tình hình biến chuyển mau lẹ, đang giữ chức giám đốc Đài Thiên văn Phủ Liễn ở Kiến An, Hải Phòng, ông đạp xe một mạch về Hà Nội, đúng vào lúc quần chúng đang bao vây Bắc Bộ phủ, bọn bảo an binh bên trong đang chờ lệnh của quan khâm sai Nguyễn Văn Chữ (mới được Nhật đưa lên thay cụ Toại).

“Tôi liền dựng xe đạp – giáo sư Nguyễn Xiển kể – vượt hàng rào sắt vào gặp ông Chữ, nói với ông ta: “Nhật đầu hàng rồi, quần chúng đang bao vây tòa nhà này, các ông chống thế nào được? Để tránh đổ máu, ông nên ra gặp họ đi!”.

Đầu năm 1947, cụ Phan Kế Toại nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời lên Việt Bắc tham gia Chính phủ kháng chiến. Cùng lên Đinh Hóa vào ngày đầu nổ súng chống Pháp còn có các cụ Bùi Bằng Đoàn, Vi Văn Định, linh mục Phạm Bá Trực…

***

…Mùa hè nóng bỏng năm 1946.

Mặc dù phải lo toan biết bao công việc, trước khi lên đường sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không quên giao nhiệm vụ cho ông Hoàng Hữu Nam, thứ trưởng Bộ Nội vụ, phải đón cho kỳ được cụ Vi Văn Định – nguyên tổng đốc Thái Bình – về sống ở Hà Nội, kẻo “hữu sự thì không kịp”!

Phát xít Đức chiếm Paris, quân Nhật tiến vào Đông Dương. Năm 1942, cụ Vi xin hưu, về ở ẩn tại bản quê dưới chân núi Mẫu Sơn. Cụ Vi có ba chàng rể sống ở Hà Nội, đều được cách mạng tin cậy giao trọng trách: Nguyễn Văn Huyên – bộ trưởng Bộ Giáo dục; Hồ Đắc Di – hiệu trưởng Trường đại học Y kiêm giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Trung ương quân đội); Tôn Thất Tùng – giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức).

Bác nói: “Con cháu cụ Vi đều đi với cách mạng cả. Hãy mời cụ về Hà Nội!” và dặn phải cho những cán bộ cách mạng trước đây từng bị cụ Vi bắt giam (khi cụ còn là tổng đốc) cầm giấy mời của Chính phủ trân trọng trao tận tay cụ, để cụ thấy ta không giữ hận thù mà thật lòng đoàn kết. Ông Ba Ngọ, một cựu chính trị phạm, được giao việc đó, cùng đoàn cán bộ Chính phủ đến Bản Chu, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Ông Ba Ngọ tha thiết mời cụ quay trở lại Hà Nội (cụ có một tòa biệt thự ở góc hồ Thiền Quang). Nhưng cụ từ chối:

– Tôi nay già yếu rồi! Chắc chẳng đóng góp được gì. Xin để cho “lão giả an chi”!

Ông Ba Ngọ cùng đoàn cán bộ đành lui ra nghỉ tạm tại thị xã Lạng Sơn. Hai hôm sau, ông lại quay trở vào Bản Chu. Lần này, cụ Vi không nỡ từ chối. Cụ cho mời tất cả bà con trong làng và các trại vùng quanh, tất cả khoảng vài nghìn người (cụ vốn thuộc dòng họ “thiên hộ hầu”) đến dự bữa cỗ tiễn biệt. Nhà nước ta đã giữ trọn lời hứa, chăm sóc cụ Vi cho đến lúc cụ qua đời tại Hà Nội, ngày 20-12-1975, thọ 96 tuổi.

HÀM CHÂU
cpv.org.vn

Nơi Bác Hồ định đô kháng chiến

Dòng sông lặng ngắt như tờ
Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo
Bốn bề phong cảnh vắng teo
Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan
Lòng riêng riêng những bàn hoàn
Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng
Thuyền về trời đã rạng đông
Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi.

Thiếu nữ ở Thủ đô kháng chiến Tuyên Quang hôm nay. Ảnh: Đồng Khắc Thọ

Đó là bài thơ của Bác Hồ mang tựa đề Đi thuyền trên sông Đáy. Nhân đầu Xuân năm Rồng, tôi muốn nói đôi điều với chiến sĩ ta, nhìn từ phía lịch sử.

Dù chiến sĩ ta đã lên hay chưa lên Sơn Dương, Tuyên Quang hẳn đã nghe, đã đọc “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”. Tân Trào là “Thủ đô Khu giải phóng” trước năm 1945. Sự tôn danh dân dã thôi mà trở nên thiêng liêng cao quý, chứ đâu có văn bản quy pháp gì – ý dân là ý trời mà! Ý trời thành văn hẳn hoi, chẳng rõ tự bao giờ, là hai câu đối trong đình:

Để Giang tả bảo linh nguyên hội
Ngọc tỉnh hữu triều thụy Khí chung

Để Giang là tên chữ Hán của dòng sông, nôm na gọi sông Đáy Con, Tiểu Đáy. Tôi khi nghe lần đầu tên sông Phó Đáy lại nghĩ Phó là phụ, là thứ, là nhánh… của sông Đáy. Đâu phải! Ngọn nguồn như bao con sông khác: Những dòng suối nhỏ, những tia nước róc rách từ khe núi cao nhảy ra – con sông lớn chảy từ lòng suối nhỏ. Dòng Phó Đáy hợp lưu những dòng suối từ dãy núi Phia Bi Oóc trên Bắc Kạn, qua các huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), Định Hóa (Thái Nguyên), Chiêm Hóa, Yên Sơn, Sơn Dương (Tuyên Quang) về gần trên ngã ba Việt Trì, Phú Thọ thì hòa chung vào dòng sông Lô lịch sử.

Năm 1953-1954, chính tôi là cán bộ TNXP, quân của Đoàn trưởng Vũ Kỳ, Đội trưởng đặc trách ATK Tạ Quang Chiến đóng quân bên này Chợ Chu, Định Hóa, bên kia Hùng Hợi, Yên Sơn.

Núi Hồng sừng sững như một trường thành cách ngăn địa giới hai tỉnh. Trong sách Bác Hồ với Thái Nguyên – Thái Nguyên với Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Tôi bàn với hai anh Tấn và Song Hào đề nghị Bác chọn Tân Trào vì Chợ Chu tuy cơ sở chính trị, kinh tế đều tốt nhưng có đường thông thương với Thái Nguyên dễ bị uy hiếp; còn Tân Trào dân cư có thưa thớt, kinh tế có khó khăn nhưng địa thế hiểm trở hơn. Châu Sơn Dương còn cách tỉnh lỵ Tuyên Quang bởi con sông Lô, tiện bảo vệ”.

Vậy là ngày 21-5-1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tân Trào, đặt cơ quan đầu não lãnh đạo công cuộc giành độc lập – nơi đây được tôn danh Thủ đô của Khu giải phóng gồm 6 tỉnh: Cao-Bắc-Lạng, Hà-Tuyên-Thái cho đến sau ngày 19-8, Người về Hà Nội. Rồi Toàn quốc kháng chiến, ngày 2-4-1947, Bác trở lại làng Sảo cũng thuộc Tân Trào, bắt đầu cuộc định đô mới, cùng tọa lạc bên “dòng sông nguồn thiêng Để Giang”.

Anh em đi tìm địa điểm mới đã thuộc lòng lời Bác dặn:

Trên có núi, dưới có sông
Có đất gieo trồng, có bãi vui chơi
Tiện đường sang Bộ Tổng
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng ráo, kín mái
Gần Dân, không gần đường.

Xin phép viết hoa chữ “dân” bởi chữ đó như cuộc đời máu thịt của Bác Hồ. Ngày ấy, chúng tôi thực hành triệt để kỷ luật “3 không”: Không biết, không hỏi, không nói. Xã Bình Yên có tới 7 thôn, 8 dân tộc anh em sinh sống. BKT12 chỉ ở gọn trong thung lũng đại ngàn bên tả ngạn Phó Đáy, nay là rộc ruộng trồng lúa.

Đường Hồ Chí Minh xuyên Việt từ Pác Bó sẽ qua Tân Trào – Thác Dẫng về Đền Hùng và đi khắp nước. Mong sao, Thác Dẫng nhanh chóng dựng xây một công trình – một tháp cao vút có ngôi sao chói sáng, xứng danh Hồ Chí Minh.

Trịnh Tố Long
qdnd.vn

Chiếc chuyên cơ từng chở Bác Hồ sẽ được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

QĐND Online – Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với Quân chủng PKKQ đã thành lập đoàn công tác tiến hành khảo sát và xác minh lý lịch khoa học cho chiếc máy bay IL-14 mang số hiệu VN-C 516 hiện đang lưu giữ tại Trung đoàn Không quân 918-Quân chủng PKKQ. Chiếc IL-14 số hiệu VN-C 516 là một trong số những máy bay do chính phủ Liên Xô tặng nhân dân Việt Nam từ năm 1958, được Quân đội nhân dân Việt Nam sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Chiếc IL-14 này có ý nghĩa đặc biệt vì nó là một trong những chiếc chuyên cơ Bác Hồ từng sử dụng lúc sinh thời.

Chiếc chuyên cơ IL-14 mang số hiệu VN-C 516 khi mới được phát hiện

Thượng tá Lê Tôn Văn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bảo đảm kỹ thuật hàng không Trung đoàn Không quân 918 cho biết: “Chúng tôi đã kiểm tra toàn bộ các thông số kĩ thuật của chiếc IL-14. Hiện nay, công tác phục hồi nguyên trạng đang được thực hiện và dự kiến đến hết quý 1 năm 2012 sẽ hoàn thành”.

Theo kết quả làm việc gần đây nhất giữa Bảo tàng Lịch sử Quân sự với Quân chủng PKKQ, sau khi kết thúc quá trình phục hồi trạng thái ban đầu cho chiếc chuyên cơ này, hai bên sẽ tiến hành bàn giao và di dời về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Đây là một hiện vật có giá trị sẽ được Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trưng bày đúng vào dịp kỷ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890/19-5-2012).

Tin, ảnh: Bích Trang
qdnd.vn

“Miệng nói, tay làm, giúp các chú là tốt hơn…”

Ông Lê Bá Cải – Ủy viên Ban Liên lạc những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ hiện ở khu tập thể Văn phòng Chính phủ phường Phương Mai (Hà Nội) còn giữ được tấm ảnh quý giá và nhớ mãi những câu chuyện như bài học Bác dạy …

Bác Hồ hỏi chuyện anh Nguyễn Văn Nuôi – đang chống que chọc lò rèn lưỡi cày – Ảnh: Đinh Đăng Định

Cưa cây phải để hở mạch

Đầu năm 1953, ông Cải cùng nhiều thanh niên quê Thanh Hóa được tuyển chọn điều lên chiến khu Việt Bắc, bổ sung vào Đội Xây dựng thuộc Ban kiểm tra 12 – bí danh của Chủ tịch Phủ – Thủ tướng phủ tại An toàn khu (ATK) Sơn Dương, Tuyên Quang.

Cuối năm đó, một đêm cả vùng bị cơn lốc mạnh làm đổ nhiều cây chắn ngang đường. Đội được lệnh phân làm nhiều tổ đi giải tỏa các con đường mòn khi trời sáng.

Tổ ông Cải có 6 người: Nguyễn Văn Chừng, Nguyễn Văn Quang, Lê Văn Tước, Phạm Văn Chi và Nguyễn Văn Sách. Anh em chia từng cặp, đang chăm chú cưa từng đoạn cây thì bỗng thấy Bác đi ngựa cùng bốn người nữa đi tới.

Anh em vội đứng lên chào Bác, luống cuống quên cả việc đang làm. Bác xuống ngựa, rồi tiến tới chỗ mọi người đang bối rối. Bác bảo: “Các chú chào Bác xong lại tiếp tục công việc, khẩn trương lên chứ, sao còn đứng đấy”.

Bấy giờ ai nấy mới vội chạy về vị trí đang làm, cầm cưa. Nhưng luống cuống cưa mắc kẹt, kéo đẩy đều không được. Bác bảo cặp cưa Cải – Quang: “Các chú phải một chân giữ cây, một chân đè lên thân cây hai bên cho nó hở mạch thì cưa mới nhanh được:.

Bác nhìn sang cặp Tước – Chi, lưỡi cưa cũng đang mắc kẹt giữa thân cây dài vắt qua đường. Người nói vui, thân mật: “Mấy chú này chắc chưa quen cầm cưa. Cây này dài, đè chân lên mạch càng ngậm chặt, các chú phải kê đỡ dưới mạch hoặc một người nâng mạch cưa lên”.

Một người đi cùng Bác cũng đứng hướng dẫn thêm. Anh vừa nói, vừa chỉ tay ra hiệu. Bác đến bên vỗ vai: “Chú nói đúng. Nhưng miệng nói tay làm giúp các chú cho nhanh, càng đúng hơn”.

Mọi người cùng cười vui vẻ và Bác cũng giúp một tay dọn dẹp rất nhanh một lối đi nhỏ.

May mà Bác ra sớm

Tác phong làm việc của Bác Hồ rất sâu sát và đặc biệt, giao việc cho ai, dù tin vẫn phải kiểm tra.

Lần ấy, hè năm 1957, Bác tiếp Đoàn văn công Trung Quốc sang biểu diễn. Ông Trần Quý Kiên – Phó Văn phòng được Chánh văn phòng Phan Mỹ giao nhiệm vụ trực tiếp bày bàn ghế để Chủ tịch nước tiếp khách.

Ông Cải cùng anh em được phân công xếp bàn ghế hình chữ T phủ khăn trắng và sắp ghế hai bên. Trước 8 giờ 15 phút, Bác ra xem liền hỏi: – Chú Mỹ, chú Kiên đâu? Anh em nhớn nhác nhìn nhau, vội tìm hai ông. Bác chỉ dãy bàn vội hỏi:

– Các chú quên rồi sao? Hôm nay Bác tiếp khách hoa quả. Bày chữ T thế này khách đến họ lại tưởng ăn tiệc mặn…

Nói rồi, Bác tự tay ra hiệu mọi người xúm vào kê lại bàn ghế hình chữ U để khách ngồi quanh. Vừa bày lại xong, nhìn ra cổng Phủ Chủ tịch, đoàn xe khách từ từ tiến vào sân.

Tinh thần thế là tốt

Năm 1962, trên khắp miền Bắc, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển mạnh. Đâu đâu cũng nêu cao khẩu hiệu tất cả để phục vụ nông nghiệp.

Chi đoàn Thanh niên cơ quan đề xuất, được Chánh Văn phòng Phan Mỹ ủng hộ, anh em xây một lò đúc lưỡi cày 51 ở phía sau đình Hội đồng (nay là phòng họp lớn của Chính phủ).

Hôm khai lò, anh em không ngờ Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến xem. Bác hỏi đoàn viên đứng lò Nguyễn Văn Nuôi: “Các chú đúc được bao nhiều lưỡi cày rồi?”

– Dạ thưa Bác, chúng cháu mới đúc thử 10 chiếc ạ!

Bác lại hỏi: Thế các chú đúc ra định đem bán hay làm gì?

Cả Bác cháu cùng cười ồ lên. Anh em chưa ai nghĩ ra nên trả lời Bác như thế nào thì Chánh Văn phòng Phan Mỹ đỡ lời: “Thưa Bác, chi đoàn báo cáo là lưỡi cày đúc được sẽ đem tặng các hợp tác xã làm ăn giỏi ạ”.

Bác khen: Làm được cày 51 là “Tất cả cho nông nghiệp”. Tinh thần của việc làm như thế là tốt…

Theo Trịnh Tố Long – Tiền Phong

tuoitre.vn

Người lính già xây nhà thờ Bác Hồ giữa đại ngàn rừng núi

QĐND Online – Lặn lộn với đời binh nghiệp hơn nửa đời người và 3 lần may mắn được gặp Bác Hồ. Trở lại với thời bình, ông lấy toàn bộ tiền lương hưu, vay mượn xóm giềng và xây một ngôi nhà thờ Bác để không chỉ ông mà những người dân ở vùng sơn cước Bắc Trà My (tỉnh Quảng Nam) có một nơi đàng hoàng để thờ phụng Bác. Ông là người mang biệt danh “tử vì dân” – tên thật là Võ Như Thông (thị trấn Trà My, huyện miền núi Bắc Trà My).

Lời khấn cho dân tộc

Nếu có dịp đi trên tỉnh lộ DT616 từ Bắc Trà My lên Nam Trà My sẽ nhìn thấy một ngôi nhà thờ với bức tượng Bác Hồ cao hơn 3m hướng nhìn về phía dòng sông, xung quanh là những cây kiểng xanh tươi. Đó là nhà thờ mà ông “tử vì dân” đã xây dựng bằng những đồng lương hưu được tích cóp từ hơn nửa đời người.

Gần 80 tuổi, nhưng ngày nào ông cũng tất bật chăm chút cho ngôi nhà thờ Bác. Điều dễ nhận ra nhất của người cựu binh già này là giọng nói rất hào sảng, ánh mắt trìu mến, như tuổi thanh niên.

Bước chân vào đời quân ngũ từ thời 13 tuổi ở chiến trường khu V, ông được đưa ra Bắc tập kết, xong lại vào Nam đánh giặc, “trước khi lên đường về Nam, chúng tôi phải lấy cho mình những cái tên mới để nếu có bị địch bắt cũng không lộ, không bị ảnh hưởng đến gia đình. Đồng đội có người lấy tên là Quảng Nam, Nguyễn Mít hay lấy tên vợ…còn tôi lần lựa mãi và mang tên “tử vì dân”. Không ngờ rằng cái tên đó lại thành “thương hiệu” – ông Thông nói. “Thương hiệu” bởi giờ đây ở vùng miền núi này từ người Ca Dong, M’nông cho đến những cán bộ thôn, xã chỉ biết biệt danh “tử vì dân” mà ít ai biết tên thật của ông. “Tôi cũng như nhiều đồng đội chỉ nghĩ một lẽ đơn giản là đã ra chiến trường thì xác định là hy sinh, nhưng hy sinh là vì ai?. Tất nhiên đó là dân, là nước rồi” – ông lý giải.

Ngôi nhà thờ Bác Hồ khang trang giữa núi rừng Bắc Trà My

Năm 2007, ông gọi vợ lại thổ lộ: “Tôi muốn làm một ngôi nhà thờ Bác. Mà sợ tuổi đã cao không biết có được toại nguyện không?”. Bà Huỳnh Thị Thuyền (vợ ông) không những không can ngăn mà còn trấn an: “Bao nhiêu năm ông đương đầu với chết chóc tôi có bao giờ can ngăn. Chừ ông thấy việc mình ưng thì cứ làm, nếu ông chết, còn tôi, còn các con”. Vậy là 2 vợ chồng ông cùng gật đầu làm “dự án”…

Rồi xóm giềng thắc mắc không hiểu vì sao 2 vợ chồng già này thường xuyên “hạ sơn” đi về vùng đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng). Cho đến một ngày, họ thấy xe chở về một bức tượng Bác Hồ bằng đá nhìn vừa giản dị lại rất thân thương. Rồi ông lấy toàn bộ phía mặt tiền “đắc địa” nhất của miếng đất để đặt tượng Bác, phía sau là khu nhà với gần 100 cuốn sách, báo, tranh ảnh các tư liệu về Bác và gia đình, trước cổng ông làm hai cây cột lớn với 2 câu đối ca tụng vị lãnh tụ …cả khu nhà thờ rộng hơn 100m2 với số tiền đầu tư gần 200 triệu đồng. Sau bao nhiêu năm ấp ủ, đúng dịp kỷ niệm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 5-6-2009, ông đã thắp nén hương thành kính xin Bác được lập nhà thờ để người dân miền núi có nơi hương khói cho Bác.

Từ đó, cứ đến ngày Bác mất là ông lại chuẩn bị hương nhang, hoa quả…rồi kêu tất cả con trai, gái, cháu, chắt về nhà. Đốt hương, đứng trước Bác, ông khấn: “….Bác phù hộ, độ trì cho con cháu Việt Nam luôn được hoà bình, ấm no, hạnh phúc”. Ông nói chưa bao giờ ông khấn gì cho gia đình, ông chỉ khấn cho đồng bào được hạnh phúc. Nhiều người thấy ông khấn lạ như vậy cũng thắc mắc lắm. Ông tâm sự: “Tôi làm nhà thờ Bác để mọi người cùng thể hiện lòng thành kính. Lời khấn với lãnh tụ như Bác là khấn cho cả dân tộc trong đó có cả gia đình tôi đó thôi” .

Dự án cuối đời của người lính

Từ ngày ông “tử vì dân” có nhà thờ Bác cũng là lúc người dân ở tổ Đồng Trường 2 (thị trấn Trà My) cùng xum họp với nhau về đây để làm ngày giỗ chung. Thỏa lòng mong mỏi của ông và người dân dành tặng cho Bác. “Nhà nào cũng có bàn thờ Bác, nhưng họ vẫn muốn đến đây để thể hiện tấm lòng của cả một cộng đồng luôn dạt dào với Bác” – ông Thông chia sẻ.

Thời gian đầu, có người hỏi ông sao không bảo họ cũng đến làm giỗ Bác. Ông ngắn gọn rằng: “Giỗ cha tôi thì tôi mời liền. Còn giỗ Bác thì nhà nào cũng có vì thế đâu cần phải mời”. Và không chỉ có người dân ở Đồng Trường 2, mà giờ đây số người đến nhà thờ Bác vào những ngày giỗ đã mở rộng đến các bản, các xã xa xôi. Không chỉ vậy, trong số những người đến đây còn có rất nhiều cụ đã ngoài 80 tuổi, lại có những gia đình cả 2 – 3 người cùng đi đến nhà thờ Bác. Và đến nay thì danh sách đã hơn 40 hộ dân tham gia làm giỗ chung ở đây.

Người cựu binh mái tóc đã bạc trắng, “mê mẩn” kể về kỷ niệm của anh lính khi được gặp Bác lần đầu ở Nghệ An thời chiến tranh. Ông say sưa kể, khi đó Bác về thăm đơn vị, cứ 15 phút lại điện hỏi xem xe của Bác đã đến đâu, cho tới khi còn cách Vinh 7 km thì cả đơn vị đã đứng nghiêm để đón Bác. “Lúc đó theo kế hoạch Bác chỉ nói chuyện được 15 phút thôi. Nhưng một số đồng chí quyết định mắc lỗi với Bác là cúp điện loa máy, để Bác ở lại với anh được lâu hơn. Và lính tráng chúng tôi đã được gặp Bác, được bắt tay Bác bằng xương bằng thịt chứ không còn trên hình ảnh. Đó là kỷ niệm không bao giờ quên trong đời lính của tôi” – ông xúc động kể. Sau này, khi ra Hà Nội công tác, ông còn có may mắn được gặp Bác 2 lần nữa.

Sau lần đầu tư cho nhà thờ Bác, hiện ông “tử vì dân” đang ấp ủ thực hiện thêm một nhà thờ bên cạnh Bác, đó là thờ luật sư Lô-Giơ-Bai, ân nhân giúp Bác trong vụ án Hồng Kông năm xưa. “Tôi đang sưu tầm các tư liệu về luật sư, có lẽ sẽ tốn nhiều thời gian, công sức…và có thể tôi không còn đủ sức lực để làm. Nhưng sẽ có vợ, con tôi tiếp tục công việc này’ – ông chia sẻ.

Đoàn Văn Cường
qdnd.vn

Bác Hồ – người khai sinh báo chí cách mạng Việt Nam

Hàng năm, cứ đến Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21-6, chúng ta lại không khỏi bồi hồi nhớ tới vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại- Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam, người đã khai sáng nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trên 2000 bài báo từ bài viết đầu tiên, Quyền của các dân tộc thuộc địa trên Báo Nhân đạo của Pháp ngày 18-6-1919 đến bài báo cuối cùng, Thư trả lời tổng thống Mỹ trên Báo Nhân dân ngày 25-8-1969, tức chỉ một tuần trước ngày Bác đi xa. Hồ Chí Minh là người sáng lập và đồng sáng lập 9 tờ báo và tạp chí như: Le Paria (Người cùng khổ) in bằng tiếng Pháp ra số đầu tiên vào ngày 1-4-1922 tại Pari, Quốc tế Nông dân – 1924; Thanh niên – 1925, Công nông – 1925, Lính Kách mệnh- 1925, Thân ái- 1928, Tạp chí Đỏ, tiền thân của Tạp chí Cộng sản hiện nay- 1929, Việt Nam Độc lập – 1941, Cứu quốc – 1942. Năm 1925, cùng với việc thành lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Nguyễn Ái Quốc sáng lập tờ Báo Thanh niên. Với việc sáng lập Báo Thanh niên, Hồ Chí Minh đã chính thức khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, bởi tờ báo là trường học bồi dưỡng, tập hợp lực lượng cách mạng.

Trong cuộc đời làm báo của mình, Hồ Chí Minh sử dụng trên dưới 150 bút danh, viết nhiều tác phẩm báo chí xuất sắc với nhiều chủ đề đa dạng sinh động, văn phong độc đáo, gần gũi với mọi người. Bác là người chỉ đạo, cộng tác viên mật thiết cho các tờ báo của Đảng, đặc biệt là Báo Sự Thật – Nhân Dân hiện nay- cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Tổng cộng Bác đã viết và đăng tổng cộng 1.205 bài trên báo Nhân Dân kể từ số đầu tiên, ngày 11-3-1951. Hồ Chí Minh còn là cộng tác viên của nhiều tờ báo trên thế giới như Thiên Tân (Tờ báo của Mỹ xuất bản tại Bắc Kinh); Báo Yi Che Pao của Triều Tiên; Nhân Đạo, Đời sống thợ thuyền, Dân chúng của Pháp; Sự thật của Liên Xô cũ v.v…

Là nhà báo vĩ đại, đồng thời Hồ Chí Minh cũng để lại cho đội ngũ các thế hệ nhà báo những bài học và kinh nghiệm quý báu từ chính cuộc đời làm báo của mình. Tháng 5-1949, trong thư gửi lớp viết báo đầu tiên Huỳnh Thúc Kháng ở Việt Bắc, Người viết “Muốn viết báo khá thì cần: 1. Gần gũi quàn chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực; 2. Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài mà học kinh nghiệm của người; 3. Khi viết xong bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cản thận. Tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu; 4. Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ…”. Tại Đại hội lần thứ II, Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 16-4-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “…Tất cả những người làm báo (…) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta phải có đường lối chính trị đúng…phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng…; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Ngoài việc viết báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có nhiều bài viết về công việc viết báo nhằm chia sẻ kinh nghiệm với người làm báo. Nói chuyện tại Đại hội lần thứ III, Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8-9-1962, Người nói “Kinh nghiệm của tôi là thế này: mỗi khi viết một bài báo thì đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong thì nhờ anh em xem và sửa giùm”.

Với 50 năm gắn bó và hoạt động trong lĩnh vực báo chí, Chủ tịc Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản báo chí vô cùng đồ sộ, đồng thời cũng để lại một tấm gương cao đẹp về đạo đức nghề nghiệp. Người thực sự là một nhà báo vĩ đại của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Theo dvhnn.org.vn

hcmpc.com.vn

Học cách đi cơ sở, tiếp xúc với nhân dân của Bác Hồ

QĐND – Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, trong bài phát biểu kết luận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Để chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chúng ta phải tiến hành đồng bộ các giải pháp, nhưng có một việc mà mọi cán bộ, đảng viên có thể làm ngay, không tốn kém đầu tư chút công sức, của cải nào, càng không phải chờ kế hoạch của Bộ Chính trị, đó là việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: Làm theo phải toàn diện, nhưng trước hết, từng đồng chí cán bộ cấp cao phải học tập cách đi cơ sở, gặp gỡ, tiếp xúc, lắng nghe ý kiến nhân dân của Bác Hồ. Hiện nay, nhiều đồng chí trong Bộ Chính trị đề nghị các địa phương không căng khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng” mỗi khi có lãnh đạo Trung ương về thăm và làm việc, nhưng các đồng chí chấp hành chưa nghiêm…

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc/Ảnh tư liệu

Sinh thời, mỗi khi Bác Hồ về thăm địa phương nào, thấy địa phương chăng đèn, kết hoa, căng khẩu hiệu chào mừng, Bác đều góp ý: Bác là “công bộc” về thăm, kiểm tra, nắm tình hình nhân dân chứ không phải ông vua, ông quan. Sau những lần như vậy, các địa phương đều sửa được bệnh “hình thức” đó. Tuy nhiên, để nắm được thực chất đời sống của người dân, Bác Hồ còn tự tổ chức những chuyến đi bí mật, trực tiếp gặp gỡ những người nghèo khổ, những hoàn cảnh éo le. Câu chuyện “Bác không đến thăm thím thì thăm ai” do một chiến sĩ bảo vệ kể về lần Người giao cho các đồng chí thư ký, bảo vệ phải tìm cho Bác một gia đình nghèo nhất Hà Nội để Bác đến thăm vào đêm Giao thừa, đã phản ánh tư tưởng, tác phong gần dân, trọng dân và hiểu dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người luôn xác định, với từng đối tượng người dân phải có cách tiếp cận phù hợp thì người dân mới nói hết tâm tư, tình cảm với cán bộ, nhất là cán bộ cấp cao.

Trong nhiều bài viết, bài nói để lại cho đời sau, Bác Hồ luôn nhấn mạnh: Cán bộ cấp Trung ương về địa phương làm việc, đó là trách nhiệm. Các địa phương cứ chăng đèn, kết hoa, hô khẩu hiệu sẽ khiến cho buổi làm việc trở nên lễ nghi, nặng tính hình thức, vừa tốn kém, vừa khiến lãnh đạo thêm xa dân. Quan liêu, xa rời thực tế là căn bệnh nguy hại nhất đối với cán bộ, nhất là cán bộ cấp Trung ương. Thực tế đã có rất nhiều bài học về việc cấp trực thuộc Trung ương báo cáo một đằng, làm một nẻo khiến lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước đánh giá không sát tình hình, đưa ra quyết sách không phù hợp, gây hậu quả xấu. Chẳng hạn như chuyện những vấn đề tiêu cực ở Thái Bình trước đây: Cấp cơ sở có vấn đề, cấp huyện, cấp tỉnh “nhùng nhằng” mãi không giải quyết được nhưng ngay cả khi có cán bộ cấp Trung ương về kiểm tra, tỉnh vẫn không báo cáo đầy đủ, thực chất vấn đề khiến những vụ việc nhỏ kéo dài, thành ra chuyện lớn.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong cách gặp gỡ nhân dân, khắc phục tình trạng “nhiệt liệt chào mừng” hiện nay, không chỉ là trách nhiệm của địa phương mà còn của chính các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Thứ nhất, khi thấy địa phương phô trương, hình thức thì tự đồng chí đó phải chấn chỉnh, góp ý cho địa phương ngay. Thứ hai, trong điều kiện truyền thông phát triển như hiện nay, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần có quy định về việc cán bộ cấp cao phải trực tiếp đi gặp dân, nghe dân phản ánh bao nhiêu buổi; buổi nào cho phép báo chí đi theo tuyên truyền, buổi nào phải hạn chế tối đa số lượng người đi theo… Ngay như việc ăn uống, sinh hoạt khi đi thăm, làm việc với địa phương cũng vậy, cần quy định rõ hoàn cảnh nào cán bộ phải tự túc, hoàn cảnh nào thì gặp gỡ, ăn uống, sinh hoạt thân mật với địa phương, cấp dưới… Nghiêm khắc với cán bộ cấp cao như vậy thì địa phương, cấp dưới mới có cơ sở thực hiện. Hiệu quả của những quy định như vậy sẽ rất lớn.

Khắc phục được bệnh phô trương, hình thức sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ – một công việc cấp bách hàng đầu mà Nghị quyết Trung ương 4 đã chỉ ra./.

HỒNG HẢI

qdnd.vn

Tư tưởng độc lập tự do với chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh

Việt Nam là một quốc gia dân tộc có một nền văn hóa đặc sắc đ­ược hình thành và phát triển trên một nghìn năm lịch sử. Dân Việt Nam có tinh thần cố kết, đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ thành một khối thống nhất ngày càng bền vững, có ý chí độc lập và khát vọng tự do, có ý thức về chủ quyền, thống nhất đất nư­ớc.

Độc lập tự do là quyền vô cùng thiêng liêng của dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập, tự do là dòng chủ l­ưu xuyên suốt của lịch sử, là nền tảng tinh thần của sự trư­ờng tồn và phát triển, là động lực vô địch của Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là sức mạnh để chiến đấu đánh bại quân xâm l­ược ngoại bang.  Nghiên cứu tiến trình lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh đã viết: nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, n­ước Nam đã thắng” quân phong kiến Trung Quốc đến xâm l­ược nước ta. Từ lịch sử Việt Nam và thế giới, Ng­ười đã nêu một luận điểm về quyền thiêng liêng nhất của các n­ước trên thế giới rằng: “Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc…Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực l­ượng gì chiến thắng đư­ợc họ”.

Từ giữa thế kỷ XIX, nư­ớc ta bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị. Việt Nam từ một n­ước độc lập đã biến thành một n­ước thuộc địa. Mâu thuẫn giai cấp của xã hội Việt Nam có sự chuyển biến lớn. Sự xung đột về quyền lợi giai cấp trong nội bộ dân tộc vốn không diễn ra giống như­ các n­ước phương Tây. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp trở thành mâu thuẫn chủ yếu và diễn ra ngày càng gay gắt. Dựa trên động lực của chủ nghĩa dân tộc truyền thống, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp nổi dậy đấu tranh, song vì thiếu một định hư­ớng chiến l­ược cách mạng khoa học phù hợp với yêu cầu phát triển mới của dân tộc nên ch­a thể thành công. Trong bối cảnh lịch sử đó, ng­ười thanh niên yêu nư­ớc và cấp tiến Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đã dấn thân trên các nẻo đường của thế giới để khảo sát, học hỏi, suy ngẫm về con đư­ờng cứu n­ước, giải phóng dân tộc phù hợp với điều kiện đất nư­ớc lịch sử và con ng­ời Việt Nam.

Bằng thiên tài trí tuệ, với phẩm chất, nhân cách và bằng hoạt động thực tiễn của mình, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, kế thừa và nâng lên tầm cao mới của thời đại nguồn giá trị văn hóa tư­ tư­ởng truyền thống, trong đó chủ nghĩa dân tộc chân chính, sự cố kết dân tộc, ý chí độc lập tự do là dòng chủ lư­u xuyên suốt lịch sử Việt Nam để kết hợp, tiếp biến và tổng hòa, phát triển biện chứng tinh hoa văn hóa ph­ơng Đông và tư­ tư­ởng các cuộc cách mạng ở châu âu, ở Mỹ thế kỷ XVII, XVIII, đặc biệt là học thuyết cách mạng của C.Mác, V.I.Lênin, để đề ra một hệ tư­ tư­ởng cách mạng toàn diện sáng tạo mang tầm vóc một học thuyết cách mạng khoa học về giải phóng và phát triển dân tộc vì độc lập, tự do.

Cùng với việc xây dựng lý luận cách mạng, Hồ Chí Minh đã tổ chức đào tạo những chiến sĩ tiên phong cách mạng, truyền bá lý luận giải phóng dân tộc vào Việt Nam và tổ chức nhân dân.

Học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc của Hồ Chí Minh đ­ược truyền vào Việt Nam đã đáp ứng khát vọng thiêng liêng và nóng bỏng của nhân dân Việt Nam, trư­ớc hết là tầng lớp học sinh, sinh viên, trí thức yêu nư­ớc và cấp tiến. Họ đã dấn thân đi vào quần chúng để tuyên truyền, vận động, tổ chức họ đấu tranh, làm dấy lên trong cả n­ước một phong trào dân tộc dân chủ ngày càng mạnh mẽ. Điều đó phản ánh khá rõ sự tr­ưởng thành về chính trị, ý thức giác ngộ của phong trào quần chúng. Nhu cầu lập “Đảng cách mệnh” đã chín muồi, đ­a đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản ở Việt Nam vào mùa Thu năm 1929.

Thực hiện trọng trách lịch sử của mình đối với dân tộc và là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền trực tiếp quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông D­ương, Hồ Chí Minh đã triệu tập đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng và Đông D­ương Cộng sản Đảng họp từ ngày 6-1-1930 tại Cửu Long, Hồng Kông để hợp nhất thành một đảng thống nhất.

Không chỉ bằng uy tín của một ng­ười mở đ­ường xây dựng học thuyết cách mạng và với tư­ cách phái viên của Quốc tế Cộng sản, mà còn bằng thái độ chân thành và sức thuyết phục lớn, Hồ Chí Minh đã chỉ cho đại diện của hai đảng rõ về những sai lầm của họ và những việc họ phải thực hiện đã đ­a đến sự đồng thuận, thống nhất cả hai đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã nhất trí thông qua Chính cư­ơng vắn tắt, Sách lư­ợc vắn tắt – đó là C­ương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng và các văn kiện quan trọng khác. Hồ Chí Minh cũng đã quyết định phải tổ chức một Ban Chấp hành Trung ­ương lâm thời.

Do chư­a có thông tin về sự ra đời của Đông D­ương Cộng sản Liên đoàn nên Hồ Chí Minh không mời đại diện của Đảng này đến dự hội nghị hợp nhất. Vì vậy, theo yêu cầu của Đông D­ương Cộng sản Liên đoàn, ngày 24-2-1930 Đảng này đã đư­ợc hợp nhất vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự hợp nhất cả ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã hoàn tất.

Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp học thuyết cách mạng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu n­ước Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX. Đây là một đặc trư­ng của sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thông qua thử thách sàng lọc, chọn lựa lịch sử, là sự hiện thực hóa trong cuộc đấu tranh của dân tộc theo “con đư­ờng cách mệnh” của Hồ Chí Minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã tạo ra một b­ước ngoặt trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Cư­ơng lĩnh cách mạng của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đư­ợc Hội nghị hợp nhất Đảng nhất trí thông qua đã đề ra chủ trương chiến lư­ợc t­ư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản; phải huy động sức mạnh của các giai cấp, tầng lớp xã hội gồm công nhân, nông dân, liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, trung tiểu địa chủ và t­ư sản bản xứ nhằm thực hiện nhiệm vụ đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc Pháp và phong kiến làm cho nư­ớc Việt Nam đ­ược độc lập, tự do.

Cư­ơng lĩnh đầu tiên của Đảng đã kết hợp biện chứng yếu tố dân tộc và giai cấp trong đó nổi bật lên như­ một điểm son sáng chói là yếu tố dân tộc, tư­ tưởng độc lập, tự do. Đó là yếu tố chủ yếu quyết định tính độc đáo về t­ư tư­ởng và chủ trư­ơng chiến lư­ợc của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam chứ không phải là điều “sai lầm chánh trị rất lớn và rất nguy hiểm cho cách mạng”!(3) . Giương cao ngọn cờ độc lập tự do là cơ sở t­ư tư­ởng chính trị, động lực lớn để thực hiện chiến lư­ợc đại đoàn kết dân tộc, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất một trong những nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ngay tại Hội nghị thống nhất Đảng, Hồ Chí Minh đã quyết định, sau khi thành lập Ban Chấp hành Trung ư­ơng lâm thời, ngoài công tác hàng ngày, phải tổ chức ngay Hội phản đế– tức là mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc.

Ban Chấp hành Trung ương ch­ưa kịp thành lập Hội phản đế để tập hợp và tổ chức quần chúng đấu tranh, song với ngọn cờ độc lập tự do của Hồ Chí Minh, ngay từ năm 1930 phong trào cách mạng có tính quần chúng rộng rãi đã nổ ra ở nhiều địa phư­ơng, tiêu biểu là các địa ph­ương có phong trào lên đến đỉnh cao nh­ư ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Ở hai tỉnh này đã phát huy được sức mạnh đoàn kết dân tộc, không chỉ có công nông, mà còn có các tầng lớp trí thức, một số sĩ phu, phú nông, trung tiểu địa chủ và một số quan lại nhỏ ở nông thôn cũng tham gia hoặc ủng hộ phong trào. Ngay cả khi phong trào cách mạng bị thực dân Pháp và tay sai khủng bố, đàn áp dã man, các tầng lớp từ trí thức, trung tiểu địa chủ có xu hướng cách mạng cũng vẫn kính phục Đảng Cộng sản, phong trào công nông và âm thầm ủng hộ cách mạng (4).

Tư­ tư­ởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh ngày càng thấm đ­ợm trong đường lối, chủ tr­ương, chính sách và tổ chức của Đảng – nhất là từ sau khi Ngư­ời về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Từ thực tiễn phong trào cách mạng những năm 1930- 1935 và sau sự chuyển hư­ớng chính trị của Đại hội lần thứ bảy của Quốc tế Cộng sản, Ban Chấp hành Trung ­ương Đảng đã có nhận thức ngày càng đúng hơn quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, giữa vấn đề chống đế quốc và chống phong kiến, trong đó vấn đề dân tộc là vấn đề chủ yếu xuyên suốt lịch sử của Việt Nam. Văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới của Đảng công bố tháng 10-1936 đã nêu rõ: “Đông D­ương là xứ thuộc địa…, nhiệm vụ của Đảng Cộng sản ở đó không những phải thâu phục đa số thợ thuyền, mà còn cần phải thâu phục quảng lại quần chúng nông dân và tiểu tư­ sản ở thành thi. Đồng thời trong lúc lập mặt trận rộng rãi chúng ta lại phải thâu phục hết các lớp trong nhân dân” (5). Đảng Cộng sản Đông D­ương, những chiến sĩ cộng sản của Đảng chính là con cháu của các dân tộc ở Đông Dương phải bênh vực anh em đồng bào bị áp bức, chiến đấu với khẩu hiệu tất cả vì Tổ quốc, Đảng phải là “Đảng của dân chúng bị áp bức, đội tiên phong cho cuộc dân tộc giải phóng” (6).

Từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Pháp – Nhật cấu kết với nhau, nhân dân các dân tộc Đông D­ương sống trong nỗi nhục một cổ hai tròng áp bức, càng làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc ở Đông Dư­ơng với Pháp – Nhật trở nên sâu sắc và gay gắt hơn bao giờ hết. Lúc này, Nhân dân Việt Nam “… ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng muốn độc lập, tự do, và đang trong t­ư thế một ng­ười lên tiếng vạn ng­ời ủng hộ” (7).

Giữa lúc đó, tháng 5- 1941 , Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp do Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định thay đổi chiến lư­ợc cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện nhiệm vụ cần kíp là đánh đuổi Pháp và Nhật, giành lại quyền độc lập, tự do. Để làm tròn nhiệm vụ thiên liêng đó đối với đất nước phải thực hiện đại đoàn kết dân tộc trong một mặt trận có tính chất dân tộc rộng rãi hơn với tên gọi là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Sau khi đánh đuổi đư­ợc Pháp – Nhật sẽ thành lập một nhá nư­ớc dân chủ mới theo thể chế dân chủ cộng hòa, là một nhà nư­ớc chung của toàn dân tộc chứ không phải của riêng một đảng phái, của một giai cấp nào cả. Chính phủ nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm cờ của toàn quốc. Chính phủ ấy do Quốc dân đại hội cử ra.

Ngày 2 5- 1 0- 194 1 , Việt Nam độc lập đồng minh – Việt Minh tuyên bố ra đời. “Việt Minh chủ trư­ơng liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau m­ưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn” (8).

Bản Ch­ương trình cứu n­ước của Việt Minh gồm 44 chính sách lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và những chính sách cụ thể đối với các tầng lớp nhân dân cốt để thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào trong cả nư­ớc mong ước là:

1 – Làm cho n­ước Việt Nam đ­ược hoàn toàn độc lập;

2 – Làm cho dân Việt Nam được sung sư­ớng, tự do.

Sự thay đổi chiến lư­ợc cách mạng t­ư sản dân quyền thành chiến lư­ợc cách mạng giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do là một chủ trư­ơng đúng đắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở chính trì để thành lập Việt Minh, một mặt trận đại đoàn kết dân tộc tiêu biểu, hoàn chỉnh về chính trị và tổ chức, trên đ­ờng hình thành và phát triển Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam. Hồ Chí Minh là Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Mặt trận, là hiện thân của khối đại đoàn kết dân tộc.

Sự ra đời và hoạt động của Việt Minh đã động viên và tập hợp đ­ược sức mạnh của dân tộc trong toàn quốc đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, xóa bỏ bộ máy của Nhật bằng cuộc khởi nghĩa dân tộc tháng 8- 1945, thành lập Chính phủ lâm thời nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Đây là một điển hình thành công về chiến lư­ợc, ph­ương thức và nghệ thuật khởi nghĩa dân tộc, đ­ưa t­ư t­ưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh thành hiện thực của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Ở Việt Nam.

Vào giữa tháng 8-1945, thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi. Cơ hội ngàn năm có một của dân tộc đã đến. Theo quyết định của Đảng và Tổng bộ Việt Minh, và Quốc dân đại hội mang tính chất và tầm vóc lịch sử một tổ chức tiền thân của Quốc hội nư­ớc Việt Nam dân chủ mới – Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhất trí quyết tâm đem sức mạnh của toàn dân tộc để chuyển xoay vận n­ước bằng cuộc khởi nghĩa dân tộc, xóa bỏ bộ máy thống trị của Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của toàn dân Việt Nam.

Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy mãnh liệt với một tinh thần dũng cảm của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam trong cả nư­ớc. Lực l­ượng quần chúng đư­ợc tổ chức từ trư­ớc hoặc mới đ­ược tham gia vào tổ chức Cứu quốc ngay trong đêm tr­ớc cuộc khởi nghĩa và cả đông đảo quần chúng chư­a tham gia vào tổ chức Việt Minh, theo mệnh lệnh của trái tim yêu nước, lòng khát khao độc lập tự do đã xuống đư­ờng đồng hành với khối quần chúng đấu tranh giành chính quyền. Ngay cả Bảo Đại cũng đã ra tuyên cáo thoái vị, để Chính phủ Dân chủ Cộng hòa thực hiện quyền điều khiển quốc dân Việt Nam và từ nay đ­ược làm dân tự do của một n­ước độc lập. Việc Bảo Đại thoái vị và 8 ngày sau lễ tuyên bố độc lập, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 23/SL (10-9- 1945 ) cử làm Cố vấn Chính phủ lâm thời là một sự kiện có ý nghĩa về cả tinh thần và tính “hợp pháp hóa” truyền thống đã đư­ợc thừa nhận trên thế giới.

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – đại biểu cho toàn dân Việt Nam, long trọng công bố Bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới rằng: “N­ước Việt Nam có quyền h­ưởng tự do và độc lập, và thực sự đã thành một n­ước tự do độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (9)

Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam phát triển đến đỉnh cao thắng lợi bằng cuộc khởi nghĩa dân tộc tháng 8-1945. Chính phủ n­ước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Chính phủ đại diện cho toàn dân Việt Nam chứ không phải của riêng thuộc về một đảng phái hoặc một giai cấp nào khác. Nghị quyết của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hanh Trung ­ương Đảng do Hồ Chí Minh đã chỉ rõ như­ vậy để chỉ đạo cho toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc.

Khởi nghĩa dân tộc hay chiến tranh giải phóng dân tộc là phư­ơng thức đấu tranh cơ bản của nhân dân các n­ước thuộc địa để giành lại quyền độc lập của dân tộc. V.I.Lênin đã từng đề cập đến những lò lửa khởi nghĩa dân tộc xuất hiện gắn liền với cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đế quốc, đã bùng cháy ở các thuộc địa, ở cả châu Âu và “đã có những mư­u đồ khởi nghĩa ở An-nam thuộc Pháp” (10). Cũng theo V.I.Lênin, khởi nghĩa dân tộc là: “một cuộc khởi nghĩa nhằm thiết lập quyền độc lập chinh trị của dân tộc bị áp bức, nghĩa là nhằm tạo ra một quốc gia dân tộc riêng biệt” (11). Và cần thấy rằng: “cuộc khởi nghĩa dân tộc cũnglà “bảo vệ Tổ quốc!”. Như­ng ai chịu khó suy nghĩ một chút thì cũng đều nhận thấy đúng nh­ư thế, vì bất cứ “một dân tộc nào nổi dậy” cũng tự “bảo vệ” chống lại dân tộc đi áp bức, bảo vệ ngôn ngữ của mình, đất đai của mình, Tổ quốc của mình. Bất cứ một sự áp bức dân tộc nào cũng gây ra sự phản kháng trong quảng đại quần chúng, và xu h­ướng của bất cứ một sự phản kháng nào của dân c­ư bị áp bức về mặt dân tộc cũng là khởi nghĩa dân tộc” (12) .

Cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là một điển hình thành công về nghệ thuật khởi nghĩa dân tộc, phản ánh rõ tiềm năng sáng tạo của Đảng, của dân tộc mà trư­ớc hết là của Hồ Chí Minh, Ng­ười đã vạch ra một hệ t­ư tưởng cách mạng Việt Nam mang tầm vóc một học thuyết giải phóng và phát triển dân tộc vì độc lập tự do. Trên cơ sở học thuyết đó, Ngư­ời đã lãnh đạo Đảng vạch ra đ­ường lối chính trị, tổ chức lực l­ượng của dân tộc theo chiến l­ược đại đoàn kết dân tộc, thực hiện ph­ương thức khởi nghĩa sáng tạo, đã dẫn đến thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng, đánh đuổi đ­ược Pháp – Nhật, giành lại quyền làm chủ đất n­ước, và nguồn giá trị văn hóa hơn ngàn năm lịch sử.

Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một điển hình thành công về sự thức tỉnh ý thức dân tộc vì độc lập, tự do, về sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Ngày 6-10- 1945 , khi nói chuyện với đại biểu các báo chí về nội trị, ngoại giao nhà n­ước, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Có một điều chúng ta đáng mừng là cách mạng Việt Nam đã có một ưu điểm so với cách mạng các n­ước Nga, Tàu, Pháp. Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều. Có nư­ớc phải chặt đầu vua. Có nước đồng bào chia đảng phái, chém giết nhau liên tiếp trong bao nhiêu năm. Nư­ớc ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để m­ưu hạnh phúc chung là n­ước được hoàn toàn độc lập và chống được giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra ngoài bờ cõi” (13). Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên n­ước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đư­a Đảng ta từ một đảng hoạt động bí mật bất hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền trong cả nư­ớc là một minh chứng về giá trị sáng tạo của học thuyết giải phóng và phát triển vì độc lập tự do và chiến l­ược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.

Gi­ương cao ngọn cờ độc lập tự do, phát huy mạnh mẽ động lực dân tộc, thực hiện chiến l­ược: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, lấy khối liên minh công nông và trí thức làm cơ sở, đoàn kết chân thành với mọi lực l­ượng yêu nư­ớc và tiến bộ của dân tộc trong cuộc Cách mạng Tháng Tám đư­ợc Hồ Chí Minh và Đảng tiếp tục phát triển trong điều kiện mới đã đ­ưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (l945 – 1954) và kháng chiến chồng Mỹ ( 1954- 1975), hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất n­ước.

PGS Lê Mậu Hãn (*)

(*) Bài tham luận tại Hội thảo “Đảng Cộng sản Việt Nam- 80 năm xây dựng và phát triển” do Học viện Chính trị- Hành chính quốc ra tổ chức ngày 26/1/2010, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930- 3/2/2010).

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t1, tr 80
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t5, tr 7
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 1998, t2, tr 236
(4) Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 1998, t2, tr229
(5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 2005, t5, tr155, 150
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t3, tr 174
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam: văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 2000, t7, tr 461
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t4, tr 4
(10), (11), (12) V.I.Lênin: toàn tập, Nxb,. Tiến bộ, M. 1981, t30, tr67, 150, 147
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t4, tr 43-44

tuyengiao.vn

“Cuộc chiến đấu khổng lồ” sau ngày thống nhất

Hồ Chủ tịch gọi công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh là “cuộc chiến đấu khổng lồ” và “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”!

Tư tưởng đổi mới của Đảng mở đường cho những thành quả to lớn trong xây dựng, phát triển đất nước.Trong ảnh: Hai cựu chiến binh ở quận 1, TP.HCM tự hào ngắm nhìn sự phát triển của TP.HCM qua triển lãm ảnh “40 năm son sắt lời thề” tại Công trường Lam Sơn. Ảnh: HTD

“Tại sao Bác lại “trước tiên nói về Đảng”? Mỗi câu chữ trong Di chúc, Bác cân nhắc rất kỹ, vì vậy khi đặt bút viết như thế thì có nghĩa vấn đề đó là nỗi quan tâm, trăn trở lớn nhất cuối đời Hồ Chủ tịch”. PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc (ảnh), Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Lịch sử Đảng, nói trong cuộc trò chuyện về 40 năm thực hiện Di chúc Hồ Chủ tịch.

Không nên rập khuôn theo nước ngoài

* Nói về công việc tái thiết đất nước sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bác hai lần nhắc đến chữ “to lớn”, “phức tạp” và Bác gọi nó là “cuộc chiến đấu khổng lồ”. Ông bình luận gì về nội dung này trong Di chúc?

PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc

– PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc: Quả thật đó là vấn đề rất lớn lao và phức tạp, được Bác nhìn thấy từ trước. Chúng ta xây dựng CNXH chưa có tiền lệ mà lại rập khuôn mô hình Xô-viết. Ta cũng có nhiều khuyết điểm như duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các chính sách, chỉ tiêu kinh tế đặt ra chưa phù hợp… Quan trọng là tư duy đổi mới chậm thành ra phát triển kinh tế của mình không những khó khăn mà từ năm 1979 bị lâm vào khủng hoảng (lạm phát, giá cả tăng, hàng hóa thiếu, đời sống nhân dân khó khăn…).

Thật may là Đảng ta đã sớm nhận ra và đến Đại hội VI (1986) thì định ra đường lối đổi mới. Đấy tôi muốn nói là xây dựng đất nước phải từ đường lối chứ đường lối sai là gay go. Trước đó, Bác cũng đã nói phải tổng kết kinh nghiệm của mình chứ không nên rập khuôn theo nước ngoài. Phải tìm ra quy luật riêng của cách mạng Việt Nam. Tôi cho rằng tư tưởng đổi mới đến nay đã đạt được những thành quả to lớn, là thực hiện đúng Di chúc Bác Hồ.

* Để khủng hoảng xảy ra, có nguyên nhân khách quan và chủ quan. Không ít người nhìn nhận rằng một trong những yếu tố chủ quan là sau cuộc kháng chiến rất vĩ đại, chúng ta đã quá kiêu hãnh nên sinh ra tư tưởng chủ quan, duy ý chí. Ông nghĩ sao?

– Đúng. Bây giờ chúng ta kết luận là đất nước bước vào khủng hoảng từ 1979, đến năm 1996 mới bước ra khỏi khủng hoảng. Nguyên nhân: Về khách quan thì trước hết là hậu quả của 30 năm chiến tranh rất nặng nề mà lúc đầu mình chưa hình dung hết. Khi kết thúc chiến tranh, mình phấn khởi lắm, lúc đầu cứ tưởng sẽ tiến rất nhanh. Nhưng dần dần những hậu quả về kinh tế, xã hội, nhận thức, tư tưởng… mới bộc lộ hết ra. Hai là sự bao vây, cấm vận của Mỹ. Ba là các cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, phía Bắc.

Nhưng trong các loại nguyên nhân, sau này Đảng ta vẫn nhận định chủ quan là chính. Đó là trong đường lối chính sách chúng ta duy trì quá lâu cơ chế cũ không còn phù hợp. Rồi trong tư duy, nhận thức, lý luận lại mắc bệnh chủ quan, duy ý chí, nóng vội. Có cái thì nóng vội, có cái thì trì trệ. Trì trệ trong việc sửa đổi cơ chế, cách thức quản lý nhưng nóng vội trong cải tạo XHCN, muốn quốc doanh, tập thể nhanh, trái với quy luật khách quan.

Năm 1947, Bác đã dùng từ “chỉnh đốn Đảng”

* Nói về tái thiết đất nước sau chiến tranh, Người đề cập “việc trước tiên cần phải làm là chỉnh đốn lại Đảng”. Như vậy, Người coi chỉnh đốn Đảng là tiền đề để phát triển đất nước?

– Đúng thế. Đường lối của Đảng mà sai thì đất nước làm sao phát triển được. Chỉ mới một chặng mà trục trặc một chút thì đất nước đã lâm vào khủng hoảng rồi…

* Thưa, toàn văn Di chúc được công bố năm 1989 bởi Bộ Chính trị Ban Chấp hành TƯ khóa VI, lúc đó mới có đoạn nói về “chỉnh đốn Đảng” và đến năm 1992 thì từ “chỉnh đốn” mới chính thức được viết trong một văn kiện của Đảng. Phải chăng nhận thức của Đảng về vấn đề này chậm hơn so với mong muốn của Bác?

– Thực ra xây dựng Đảng là công việc thường xuyên và trước đổi mới cũng có nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng. Từ năm 1974, Nghị quyết TƯ 23 khóa III đã nêu rất cụ thể về vấn đề này tuy không dùng từ “chỉnh đốn”.

Nhân đây tôi cũng phải nói từ ngữ một chút là khi dùng từ “xây dựng” thì người ta thấy bình thường hơn. Nhưng dùng chữ “chỉnh đốn” thì lại nghĩ rằng chắc có chuyện gì mới phải “chỉnh đốn”.

* Nhưng Bác đã dùng từ “chỉnh đốn”…

– Đúng vậy. Trước đây mình cứ ngại về câu chữ, cứ sợ người ngoài không hiểu. Thực ra từ năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc Bác dùng từ này rồi. Bác còn nói rằng chỉnh đốn sẽ làm cho Đảng đúng đắn, trong sạch, không chệch choạc…

Đến năm 1992, Đảng ta mới dùng từ “đổi mới và chỉnh đốn”. Nhưng sau này có lúc lại ngại từ “đổi mới” nên có giai đoạn lại dùng từ “xây dựng và chỉnh đốn”. Sau đó đến Đại hội X lại dùng từ “đổi mới”. Đó là cả một quá trình nhận thức.

* Và đổi mới là đúng!

– Phải đổi mới Đảng từ công tác tổ chức, cán bộ, công tác lý luận, cả cương lĩnh, đường lối.

“Chưa đạt yêu cầu”

* Nhiều người rất băn khoăn về sự thoái hóa, biến chất trong nội bộ Đảng dường như ngày càng gia tăng, các văn kiện của Đảng cũng cho thấy rằng trước đây là “một bộ phận đảng viên” đến “một bộ phận không nhỏ”, từ “thoái hóa, biến chất” đến “trầm trọng”, thậm chí là “sống còn đối với sự tồn vong của chế độ”… Phải chăng việc chỉnh đốn Đảng chưa làm được như ý nguyện của Bác Hồ?

– Như trên tôi đã nói là Đảng ta đã rất cố gắng. Nhưng nếu chỉ cố gắng theo kiểu hạ quyết tâm thôi thì chưa đủ. Và cần phải có những giải pháp mạnh mẽ hơn thì mới có hiệu quả hơn.

Vậy nên vừa rồi Đảng ta mới quan tâm đến mấy vấn đề thế này: Một là về lý luận được coi trọng, đặc biệt là lý luận về con đường đi lên CNXH thế nào thì bây giờ nhận thức rõ hơn. Đấy chính là chỉnh đốn chứ nếu lý luận mà sai, mà thấp kém thì cách mạng chệch choạc ngay. Hai là chú ý đến cương lĩnh, năm 1992 đã có cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

Sắp tới, Đại hội XI sẽ bổ sung cương lĩnh. Thứ ba là thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật, chính sách của nhà nước pháp quyền. Đấy cũng là nội dung cầm quyền của Đảng. Thứ tư là xây dựng cơ cấu, tổ chức của Đảng, như vừa rồi Hội nghị TƯ 4, khóa X đã sắp xếp gọn lại bộ máy của Đảng. Như vậy, về khoa học tổ chức đã có bước tiến. Cạnh đó là công tác cán bộ: đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, luân chuyển… làm bài bản hơn, bước đầu dân chủ hóa công tác này. Tiếp đó là vấn đề đạo đức.

Rất cố gắng như vậy nhưng Đại hội X cũng khẳng định là “chưa đạt yêu cầu”. Tôi tin sắp tới đại hội Đảng các cấp thì mình sẽ có thêm kinh nghiệm mới, khí thế mới.

Đổi mới chính trị là xây dựng nhà nước pháp quyền

* Khi bắt đầu đổi mới, chúng ta khẳng định lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm và trước tiên. Sau một quãng thời gian khá dài đổi mới kinh tế và thu được những thành quả nhất định, có nhiều người cho rằng kinh tế vẫn cần phải đổi mới hơn nữa và cùng với đó là đổi mới chính trị. Đã đến lúc chúng ta mạnh dạn nói đến “đổi mới chính trị” và cần phải làm như thế nào, thưa ông?

– Đổi mới kinh tế và chính trị có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu anh chỉ nói đổi mới kinh tế mà không nói đổi mới chính trị thì không đúng. Mà xét cho đến cùng là phải đổi mới chính trị. Phải từ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước như thế nào thì nó mới ra các chính sách kinh tế được chứ. Có phải tự nhiên mà có đổi mới kinh tế đâu.

Theo tôi, đổi mới về hệ thống chính trị thì có đổi mới lãnh đạo của Đảng, đổi mới nhà nước mà hay nhất là xây dựng nhà nước pháp quyền. Vấn đề này Bác Hồ đã đề cập đến từ năm 1918 khi tìm đường cứu nước. Đến sau Cách mạng Tháng Tám, nhất là Hiến pháp 1946 thể hiện rõ tinh thần nhà nước pháp quyền…

Tôi nghĩ, thực sự đổi mới thì phải quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không phải bằng mệnh lệnh và đạo lý.

LÊ KIÊN thực hiện
Theo Pháp Luật TP.HCM

tuoitre.vn

Điện mừng sinh nhật Tổng thống nước Cộng hoà Cuba (16-4-1969)

Kính gửi đồng chí Ôxvanđô Đoócticốt Tôrađô,Tổng thống nướcCộng hoà Cuba, La Havan.

Nhân dịp mừng lần thứ 50 ngày sinh của đồng chí, thay mặt nhân dân Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi đến đồng chí lời chúc mừng thân ái và nhiệt liệt nhất.

Tôi chân thành chúc đồng chí dồi dào sức khoẻ để cùng với các đông chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cuba hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống mọi âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, bảo vệ nền độc lập và chủ quyền dân tộc của nước Cuba xã hội chủ nghĩa.

Chúc tình đoàn kết chiến đấu và sự hợp tác anh em giữa hai nước chúng ta ngày càng củng cố và phát triển.

Hà Nội, ngày 16 tháng 4 nǎm 1969
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

———————–

Báo Nhân dân, số 5482, ngày 17-4-1969.
cpv.org.vn