Tag Archive | Quân sự

Điện Biên Phủ trên không: SAM-3 chưa kịp tham chiến

Trong năm 1972, Việt Nam nhận viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc hai tổ hợp tên lửa phòng không mới, SAM-3 và Hồng Kỳ 2 (HQ-2).

(ĐVO) Câu hỏi đặt ra là liệu 2 loại tên lửa phòng không mới này có tham gia chiến dịch bảo vệ thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc trong 12 ngày đêm cuối năm 1972?

“Nuối tiếc” SAM-3

SAM-3 là hệ thống tên lửa đất đối không (Liên Xô gọi là S-125 Pechora) do Cục Thiết kế Trung ương Almaz nghiên cứu phát triển và đưa vào sử dụng từ năm 1961.

SAM-3 có tầm bắn hiệu quả ngắn hơn và độ cao diệt mục tiêu thấp hơn so với SA-2. Nhưng tên lửa rất hiệu quả khi tấn công mục tiêu bay thấp, cơ động cao và có khả năng kháng nhiễu điện tử mạnh hơn so với SA-2.

Một hệ thống SAM-3 gồm: 3 bệ phóng (mỗi bệ 4 đạn) và đài điều khiển hỏa lực SNR-125.

Đạn tên lửa dùng cho SAM-3 thiết kế 2 tầng động cơ: động cơ khởi tốc nhiên liệu rắn (thời gian đốt 2,6 giây) và động cơ hành trình nhiên liệu rắn (thời gian đốt 18,7 giây).

Trên tầng động cơ khởi tốc có gắn 4 cánh vây hình chữ nhật, ở phần thân trên có 4 cánh vây cố định và 4 vây chuyển động nhỏ hơn ở đầu tên lửa. Tên lửa được điều khiển bằng sóng vô tuyến.

Hai biến thể đạn chính dùng cho SAM-3 gồm: đạn V-600 có đầu đạn nổ tạo mảnh (nặng 60kg) và tầm bắn 15.000m; đạn V-601 lắp đầu đạn nổ tạo mảnh (nặng 70kg, số mảnh tạo 4.500), vùng sát thương tới 35.000m, độ cao bay 18.000m.

Được đưa vào phục vụ trong lực lượng phòng không Liên Xô từ những năm 1960 nhưng mãi tới năm 1972, Liên Xô bắt đầu viện trợ tên lửa SAM-3 cho Việt Nam.

Nếu các trung đoàn SAM-3 kịp thời triển khai chiến đấu thì có thể chúng ta đã bắn rơi nhiều B-52 hơn.

Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, từ tháng 6/1972, cán bộ chiến sĩ của ta mới sang Liên Xô học tập sử dụng SAM-3. “SAM-3 có tốc độ bắn rất nhanh, độ cao tuy không lớn hơn so với SA-2 nhưng ở trong tầm với tới B-52. SAM-3 có xác suất trúng mục tiêu cao hơn”, ông nói.

Ngày 5/12/1972, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 277 (trang bị SAM-3) về tới Hà Nội, đóng quân tại Vân Nội, Vân Trì, Đông Anh, Hà Nội. Tại đây, trung đoàn đã củng cố lại tổ chức, sắp xếp lại cán bộ, quán triệt, nhiệm vụ, chuẩn bị trận địa, chờ vũ khí – khí tài về là triển khai chiến đấu ngay.

Tới đêm 18/12, Trung đoàn 276 – đơn vị SAM-3 thứ hai về đến ga Kép (Bắc Giang) được lệnh dừng lại. Trung đoàn cho bộ đội xuống tàu, kịp thời sơ tán về làng Kép Hạ để chờ các đoàn tàu chở vũ khí khí tài về triển khai chiến đấu.

Với quyết tâm cao, mặc mưa bom bão đạn, địch đánh phá suốt ngày đêm, ban chỉ huy trung đoàn 276 tập trung mọi khả năng cho tiểu đoàn hỏa lực 169 hoàn chỉnh đồng bộ bước vào chiến dịch trước. Tiểu đoàn 169 đã chiếm lĩnh và triển khai trận địa ở Bắc Hồng (Đông Anh, Hà Nội), các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật làm việc hết sức mình triển khai nhanh dây chuyền lắp ráp được 4 quả đạn SAM-3 chuyển cho tiểu đoàn 169.

Rất tiếc, khi công tác chuẩn bị chiến đấu hoàn tất, tên lửa đã nằm trên bệ sẵn sàng diệt B-52 thì chiến dịch phòng không đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của Đế Quốc Mỹ vào Hà Nội kết thúc.

“Trong niềm hân hoan đón mừng chiến thắng của dân tộc, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 276 ai cũng nuối tiếc đã không kịp phóng đạn đánh vào những chiếc máy bay cuối cùng của địch trên bầu trời Hà Nội. Nhiều người đã thốt lên: Nếu như đạn về đồng bộ với vũ khí khí tài thì trung đoàn đã phát huy được hỏa lực tham gia những trận đánh cuối cùng bảo vệ Hà Nội”, tài liệu Lịch sử Trung đoàn 276 viết.

Thất vọng Hồng Kỳ 2

Hệ thống tên lửa phòng không tầm trung – cao Hồng Kỳ 2 (HQ-2) do Trung Quốc thiết kế cải tiến từ thế hệ Hồng Kỳ 1 (HQ-1) được nước này sao chép từ hệ thống S-75 Dvina của Liên Xô.

Trang bị của một hệ thống tên lửa HQ-2 tương tự hệ thống S-75 Dvina của Liên Xô với 6 bệ phóng và đài điều khiển hỏa lực cùng các xe hỗ trợ khác.

Đạn tên lửa HQ-2 thiết kế 2 tầng gồm tầng khởi tốc dùng nhiên liệu rắn và động cơ hành trình dùng nhiên liệu lỏng. Tên lửa lắp đầu đạn nổ tạo mảnh nặng 190kg, vùng sát thương 12-32km, độ cao diệt mục tiêu 12-32km, tốc độ hành trình 1.150m/s. Đạn HQ-2 có độ chính xác trong phát bắn đầu tiên là 68%.

So với HQ-1, HQ-2 được giới thiệu là cải tiến mạnh về khả năng kháng nhiễu điện tử đối phó với các loại máy bay Mỹ. Nhưng thực tế, trên chiến trường Việt Nam, HQ-2 không thể hiện được nhiều.

Dù đã được cải tiến nhưng HQ-2 không thể đối phó với nhiễu điện tử của Mỹ.

Đầu những năm 1970, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam một Trung đoàn tên lửa HQ-2.

Ngày 6/5/1972, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 73/QĐ-QP giao cho Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức thêm Trung đoàn tên lửa 268 do đồng chí Trịnh Đình Xuyến làm trung đoàn trưởng và đồng chí Yến làm chính ủy.

Trung đoàn 268 biên chế 3 tiểu đoàn hỏa lực 38-39-49 và tiểu đoàn kỹ thuật 50. Đoàn 268 trang bị hệ thống tên lửa đất đối không HQ-2.

Toàn thể cán bộ và chiến sĩ trung đoàn do chuyên gia Trung Quốc trực tiếp huấn luyện. Ngay sau khi huấn luyện xong, hệ thống HQ-2 được đưa vào chiến đấu thử nghiệm nhưng không phát huy hiệu quả trong điều kiện nhiễu điện tử phức tạp.

“Hồng Kỳ 2 là loại tên lửa cải tiến từ S-75 Dvina nhưng cải tiến không triệt để. Trong quá trình chiến đấu, Hồng Kỳ 2 rất khó bắt mục tiêu trong điều kiện bị đối phương gây nhiễu điện tử mạnh, đạn phóng lên rơi xuống đất”, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt cho biết.

Như vậy, cả hai hệ thống tên lửa mới của phòng không Việt Nam trong năm 1972 là SAM-3 và HQ-2 đều không tham chiến trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không. Trong khi việc không thể triển khai kịp SAM-3 là điều đáng tiếc thì HQ-2 là sự thất vọng khi không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật chiến đấu.

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt sinh năm 1938 tại Hưng yên. Ông nhập ngũ tháng 2/1960, năm 1972 ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) cấp bậc Thượng úy. Năm 1973, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Năm 1999, ông được phong hàm Trung tướng – Phó tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân. Năm 2003, ông chính thức nghỉ hưu.

baodatviet.vn

Điện Biên phủ trên không: Không thiếu đạn, không ‘nối tầng’ SAM-2

(ĐVO) Vậy thực hư chuyện này là như thế nào?

SAM-2 thừa sức với tới B-52

Máy bay ném bom chiến lược B-52 là thiết kế đồ sộ của ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ. Chiếc máy bay có chiều dài lên tới 48,5m, sải cánh 56,4m, cao tới 12,4m, trọng lượng cất cánh tối đa tới 220 tấn.

B-52 trang bị 4 cặp (8 chiếc) động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy cho phép đưa “con quái vật 220 tấn” lên trời cao, đạt tốc độ tối đa hơn 1.000km/h, bán kính tác chiến hơn 7.000km. B-52 có khả năng mang gần 30 tấn bom trong khoang.

Đặc biệt, trong khi bay ném bom, B-52 thường bay ở độ cao ném bom hiệu quả 11-12.000m, trần bay khi ném bom tối đa là 17.000m.

Trong khi đó, về phần mình, SAM-2 trang bị cho bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam có vùng sát thương xa đến 34km, độ cao đạt 27km, hoàn toàn thừa sức vượt qua trần bay của B-52 để bắn hạ “siêu pháo đài bay” này.

SAM-2 là cái tên mà phương Tây định danh Hệ thống tên lửa đất đối không tầm cao S-75 Dvina.

S-75 Dvina thừa sức tiêu diệt B-52 mà không cần “nối tầng”.

Trong quá trình sử dụng ở Liên Xô và Việt Nam, SAM-2 nhiều lần bắn hạ mục tiêu ở độ cao 19-20km.

Ngày 1/5/1960, phòng không Liên Xô đã sử dụng tên lửa SAM-2 để bắn hạ một máy bay trinh thám tầng cao U-2 của Mỹ ở độ cao 20km.

Còn ở Việt Nam, ngày 26/7/1965, Tiểu đoàn 64 (Trung đoàn 263) đã dùng SAM-2 bắn rơi tại chỗ một máy bay không người lái tầng cao BQM-34A ở độ cao tới 19km.

Ngày 7/2/1966, Tiểu đoàn 84 (Trung đoàn 238) bắn rơi tại chỗ một BQM-34A ở độ cao 20km.

Như vậy, qua những thí dụ kể trên và so sánh thông số kỹ thuật cơ bản của SAM-2 và B-52 có thể khẳng định không cần thiết phải “nối tầng” SAM-2.

Cũng nhận xét về vấn đề này, trong cuốn “Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam” tác giả Lưu Trọng Lân viết: “Chúng ta thấy rõ việc cải tiến nâng cao tầm bắn cho tên lửa SAM-2 là không cần thiết, mà trong thực tế là không hề diễn ra. Đây là sự hiểu lầm đáng tiếc của một vài nhà báo”.

Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, trong quá trình triển khai chiến đấu trong nhiều năm, bộ đội Việt Nam cùng chuyên gia Liên Xô thực hiện một số cải tiến bộ khí tài nhưng là ở những mặt khác, không phải là “nối tầng”.

Thiếu đạn tên lửa đánh B-52?

Bên cạnh thông tin sai lệch về “nối tầng tên lửa đánh B-52”, một thông tin khác cũng gây tranh cãi trong nhiều năm là vấn đề thiếu đạn để đánh B-52. Thực tế việc thiếu đạn trong chiến dịch 12 ngày đêm không hoàn toàn chính xác.

Trao đổi với Đất Việt về vấn đề này Trung tướng Nguyễn văn Phiệt cho biết: “Trong cả chiến dịch 12 ngày đêm, chúng ta bắn chưa đến 350 quả đạn, nếu so với kho đạn ở Hà Nội thì còn hơn 300 quả. Như vậy, chúng ta vẫn còn thừa đạn đánh B-52. Đó là chưa kể việc chúng ta “hồi sinh” hàng trăm quả đạn hỏng, hết thời gian phục vụ kịp thời đánh B-52”.

Cũng theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, việc thiếu đạn ở các tiểu đoàn hỏa lực chủ yếu là do lắp ráp đạn không kịp. Đạn tên lửa SAM-2 khi chuyển từ Liên Xô sang đều ở trong tình trạng tháo rời. Từng bộ phận tên lửa được sếp gọn trong các thùng bảo quản. Chúng sẽ được các đơn vị kỹ thuật (thường gọi là Tiểu đoàn 5) lắp ráp lại, kiểm tra hệ thống điện, nạp nhiên liệu và chuyển đến tiểu đoàn hỏa lực.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ bầu trời Hà Nội, dù rất nỗ lực, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 5 làm việc với cường độ cao hết mức nhưng vẫn không thể nào đáp ứng được yêu cầu của các tiểu đoàn hỏa lực nên mới xảy ra tình trạng “trắng đạn” trên bệ phóng tại một số khẩu đội tên lửa.

“Một vấn đề nữa cũng làm chậm việc chuyển đạn cho các đơn vị hỏa lực, các xe chở đạn không thể vào trận địa do các tuyến đường giao thông bị đánh phá dữ dội. Ví dụ, trong trận đánh rạng ngày 21/12, Trung đoàn chúng tôi có 4 tiểu đoàn thì 2 tiểu đoàn hết đạn, tiểu đoàn 57 còn 4 đạn, tiểu đoàn 93 còn 5 đạn. Nhưng xe tiếp đạn không về được do đường bị đánh phá nên không thể vào chuyển đạn mặc dù chỉ cách trận địa vài kilomet”, Trung tướng Phiệt cho biết.

Bộ đội tên lửa đưa đạn vào bệ phóng.

Ngoài ra, còn có một số sự hiểu lầm khác do phim ảnh chưa truyền tải đúng thực tế. Trong bộ phim “Hà Nội 12 ngày đêm” của đạo diễn Bùi Đình Hạc, có cảnh cán bộ lắp ráp đạn nói với người chiến sĩ lái xe rằng “đơn vị nào đánh giỏi thì cho nhiều đạn”. Đây là một câu nói hoàn toàn sai!

Thực tế, việc chuyển đạn từ Tiểu đoàn này sang Tiểu đoàn khác là điều bất khả thi. Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, đạn tên lửa của mỗi Tiểu đoàn – Trung đoàn tên lửa được chuyển sang có “cốt, phách” (khác nhau. Việc thay đạn tên lửa từ đơn vị này sang đơn vị khác phải thay đúng “cốt, phách” mới điều khiển được. Việc thay thế này sẽ mất rất nhiều thời gian.

“Cốt” ở đây có thể được hiểu là tần số các rãnh đạn (của đài điểu khiển), để đạn tên lửa khi phóng đi (nhiều quả cùng lúc) sẽ không bị lẫn với cánh sóng điều khiển mỗi đài điều khiển hỏa lực hay trong cùng một đài điểu khiển.

Mỗi tiểu đoàn được phân 3 “cốt” (6 đạn trên bệ, 2 đạn/cốt) đài điểu khiển có 3 rãnh  để điều khiển các quả tên lửa. Trong một trung đoàn, mỗi tiểu đoàn có một “phách” riêng để khi phóng đạn không lẫn sóng điều khiển mỗi đài giữa các tiểu đoàn.

Mỗi tiểu đoàn SAM-2 trang bị 24 quả đạn, trong đó 6 quả nằm trên bệ phóng, 12 quả nằm ở tiểu đoàn kỹ thuật (trong đó có 6 quả đã lắp ráp nhưng chưa kiểm tra và 6 quả chưa lắp ráp).

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt sinh năm 1938 tại Hưng yên. Ông nhập ngũ tháng 2/1960, năm 1972 ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) cấp bậc Thượng úy. Năm 1973, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Năm 1999, ông được phong hàm Trung tướng – Phó tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân. Năm 2003, ông chính thức nghỉ hưu.

baodatviet.vn

17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 4)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bộ đội Không quân Nhân dân Việt Nam lập nhiều chiến công xuất sắc bắn hạ các máy bay hiện đại của địch.

>> Kỳ 1: Đạn pháo đan lưới lửa
>> Kỳ 2: “Mắt thần” canh giữ bầu trời
>> Kỳ 3: Rồng lửa SA-2 – Nỗi kinh hoàng của giặc trời

(ĐVO) Kỳ 3: “Én bạc” tiêu diệt “Con ma, Thần Sấm”

Sao Đỏ – Yên Thế cùng ghi công

Ngày 23/8/1967, trung đoàn không quân tiêm kích 921 và 923 lần đầu chiến đấu phối hợp giữa loại máy bay khác nhau, MiG-17 và MiG-21 giành thắng lợi bắn rơi 5 máy bay địch.

Nhận lệnh từ sở chỉ huy, lúc 14h58 phi công Nguyễn Nhật Chiêu (số 1) và Nguyễn Văn Cốc (số 2) thuộc trung đoàn 921 (Sao Đỏ) cất cánh từ Nội Bài bay về hướng Tuyên Quang.

Phát hiện địch số lượng 20 chiếc, cự ly 10-15km, ở tầm thích hợp phi công Nguyễn Nhật Chiêu ấn nút phóng tên lửa bắn hạ một F-4. Khi chuẩn bị thoát ly, ông tiếp tục thấy  8 máy bay địch. Cách 1.500m, âm lượng bắt mục tiêu của đầu tự dẫn tên lửa đạt lớn nhất, ông ấn nút phóng quả thứ hai đánh trúng chiếc số 2 của địch. Về gần tới sân bay, Nguyễn Nhật Chiêu lại thấy thêm 4 F-105 nhưng không có điều kiện công kích tiếp.

Bay số 2 – phi công Nguyễn Văn Cốc tăng tốc lên ngang số 1, cách địch 1.000m, ông ấn nút phóng tên lửa diệt thêm một F-4. Có thể nói, đây là lần đầu tiên biên đội MiG-21 vận dụng thành công chiến thuật “số 2 đồng thời công kích” đạt hiệu quả cao.

Phi công Nguyễn Nhật Chiêu (trái) và Nguyễn Văn Cốc (phải).

Cùng thời gian trong ngày 23/8, tại sân bay Sao Vàng – căn cứ trung đoàn tiêm kích 923 Yên Thế, biên đội 4 máy bay MiG-17 do các phi công Cao Thanh Tịnh (số 1) – Lê Văn Phong (số 2) – Nguyễn Văn Thọ (số 3) – Lê Hồng Điệp (số 4) cất cánh đánh địch.

Dưới sự dẫn đường của Sở chỉ huy, khi đang giảm độ cao, số 1 phát hiện tốp F-105, cự ly còn cách 300m ông xiết cò bắn hạ một F-105. Số 2 làm nhiệm vụ yểm hộ, bảo vệ cho số 1 công kích. Khi thấy 4 chiếc F-4 lao về phía mình, ở cự ly cho phép ông bắn hạ một F-4. Tuy nhiên, trên đường trở về sân bay, máy bay anh bị trúng đạn địch, anh đã anh dũng hi sinh.

Số 3 phát hiện địch ở khu vực đỉnh núi Tam Đảo, nhiều lần công kích nhưng không trúng mục tiêu. Số 4 làm nhiệm vụ yểm họ cho số 3 cho tới khi trận đánh kết thúc. Cả hai đã về hạ cánh an toàn.

1 chọi 36

Sáng ngày 3/1/1968, phát hiện máy bay địch vào đánh Hà Nội, cả hai trung đoàn 921 và 923 đồng loạt xuất kích tiêu diệt địch. Trong trận này, ta đã diệt hai chiếc F-105. Tuy nhiên, khi trở về sân bay một MiG-21 của trung đoàn 921 bị hỏng do hạ cánh ngoài đường băng. Vì thế lực lượng trực chiến chỉ còn đúng một chiếc.

15h chiều ngày 3/1/1968, địch tiếp tục huy động 36 chiếc máy bay gồm cường kích F-105 và tiêm kích F-4 hộ tống từ phía Yên Châu, Sơn La về hướng Hà Nội. Được phép của Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân và Bộ tư lệnh Không quân, trung đoàn quyết định cho chiếc MiG-21 duy nhất do phi công Hà Văn Chúc điều khiển xuất kích đánh địch.

Bay tới vùng trời Yên Châu, Sơn La, đồng chí phát hiện ba tốp địch bay phía trước, một tốp F-4 lướt qua trên đầu. Một tốp F-4 từ phía khác phát hiện ra máy bay ta liền lao tới đón đầu.

Sau nhiều lần được sĩ quan dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên dẫn vào công kích địch, máy bay của Hà Văn Chúc và quân địch đã vượt qua quãng đường dài quần lượn, bám đuổi nhau về tới vùng trời Tam Đảo, phát hiện phía trước  8 chiếc F-105 đang dần khép vào đội hình, đồng chí lao xuống.

Đến cự ly có lợi, anh giữ máy bay ổn định và ấn nút phóng tên lửa vào một máy bay địch, F-105 bùng cháy. Đội hình địch rối loạn, tan vỡ ngay lập tức. Đặc biệt, tên giặc lái nhảy dù là Đại tá liên đội phó Không quân Mỹ tại Korat (Thái Lan) đồng thời cũng chỉ huy 35 chiếc còn lại.

Chiều hôm đó, bộ đội tên lửa còn bắn rơi thêm 2 máy bay địch nữa. Phi công Hà Văn Chúc đã ứng dụng có hiệu quả chiến thuật đánh nhanh, thọc sâu, bằng lực lượng rất nhỏ đánh vào đội hình lớn của địch. Điều này góp phần phát triển lên một bước mới về nghệ thuật tác chiến của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Sao Đỏ – Lam Sơn sát cánh

Ngày 27/6/1972, lực lượng không quân ta lần đầu tiên đánh thử nghiệm thành công phương pháp chiến đấu hiệp đồng giữa các trung đoàn không quân tiêm kích khác nhau trên cùng một mặt trận, một hướng đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Nhận báo cáo phát hiện có hai phi công Mỹ nhảy dù tại khu vực Mộc Châu, đồng thời theo dõi trên bản tiêu đồ thấy xuất hiện máy bay địch bay về hướng Mộc Châu. Sở chỉ huy binh chủng không quân nhận định: lực lượng vào tìm cứu phi công Mỹ nhảy dù và ra lệnh đánh theo phương án đã định.

11h49 từ sân bay Nội Bài (trung đoàn 921 Sao Đỏ), biên đội Phạm Phú Thái – Bùi Thanh Liêm cất cánh. Tới 11h53, từ sân bay Kép (trung đoàn 927 Lam Sơn), biên đội Nguyễn Đức Soát – Ngô Duy Thư cất cánh.

Cả hai biên đội được dẫn vào Mộc Châu tạo thành hai mũi phát hiện và công kích tiêu diệt địch. Biên đội Soát – Thư liên tục được sở chỉ huy thông báo địch, thực hiện phương pháp đồng thời công kích. Nguyễn Đức Soát (số 1) tiếp cận mục tiêu, đường ngắm ổn định, ấn nút phóng liên tiếp 2 quả tên lửa đánh trúng chiếc F-4. Đồng thời, khi số 1 công kích, Ngô Duy Thư (số 2) tiếp cận và bắn tên lửa diệt thêm một F-4.

Cùng thời gian, Phạm Phú Thái (số 1) – Bùi Thanh Liêm (số 2) được mặt đất dẫn tới khu vực Nghĩa Lộ – Vạn yên. Ở độ cao 3.000m, điểm ngắm ổn định, số 1 phóng tên lửa diệt một F-4, tiếp đến số 2 phóng một quả  tên lửa diệt chiếc F-4 còn lại.

Trận đánh kết thúc thắng lợi, công tác tổ chức chỉ huy cũng như phi công đầy sáng tạo, mưu trí. Cả 4 phi công bắn rơi 4 máy bay F-4 của địch và về hạ cánh an toàn.

Chui vào “điểm chết”

Ngày 5/7/1972, nhận lệnh từ cấp trên, biên đội MiG-21 do Nguyễn Tiến Sâm – Hạ Vĩnh Thành trực tại sân bay Nội Bài cất cánh đánh địch bảo vệ đường số 1, tuyến giao thông huyết mạch đưa hàng viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa vào nước ta.

Sau 22 phút, từ lúc cất cánh tới lúc trở về sân bay hạ cánh an toàn, biên đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cản phá thành công, phá vỡ đội hình địch, bắn rơi 2 chiếc F-4 ở khu vực Thái Nguyên.

Biên đội tiêm kích MiG-21 xuất kích.

Đặc biệt, trong trận đánh phi công Nguyễn Tiến Sâm sau khi bắn trúng một chiếc F-4, do anh bay quá gần nên cả chiếc MiG-21 đã lao vào điểm nổ của máy bay địch. Thiếu oxy làm động cơ tắt máy, anh bình tĩnh xử lý mở máy trên không và trở về sân bay an toàn trong niềm vui sướng của đồng đội. Chiếc MiG-21 bị ám khói đen toàn bộ do chui qua điểm nổ máy bay địch.

Lấy máy bay địch đánh địch

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, bộ đội không quân cũng tham gia chiến đấu với trận đánh ngày 28/4 oanh tạc sân bay Tân Sơn Nhất phá hủy nhiều máy bay ngụy quân.

Điểm đặc biệt trong chiến công này, không quân ta đã dùng máy bay chiến lợi phẩm A-37 thu giữ được từ những sân bay ở các tỉnh đã giải phóng để đánh địch. Phi đội đặc biệt này lấy tên “phi đội quyết thắng” với 6 phi công: Nguyễn Thành Trung, Từ Đễ, Nguyễn Văn Lục, Hoàng Mai Vương, Trần Văn On, Hán Văn Quảng cùng 5 máy bay cường kích A-37.

Các phi công ta từ ngoài bắc được khẩn trương huấn luyện chuyển loại từ MiG-17 sang A-37. Chỉ sau 5 ngày bay chuyển loại, 16h17 phút cả phi đội  đã cất cánh. Mặc dù thời tiết phức tạp, Nguyễn Thành Trung (số 1) vẫn bình tĩnh dẫn đội hình bay đến sân bay Tân Sơn Nhất.

Từ độ cao khoảng 1.600m, Nguyễn Thành Trung bổ nhào cắt bom nhưng bom không ra. Từ Đễ (số 2) cắt bom 2 quả/lượt, cả 4 quả bom rơi trúng mục tiêu, những cột khói bốc lên giữa khu vực để máy bay. Trong ống nghe của các phi công vang lên tiếng quát hỏi hoảng hốt: “A-37 của phi đoàn nào?” không ai trả lời.

Tiếp đó, Nguyễn Văn Lục (số 3), Hoàng Mai Vương và Trần Văn On (số 4),  Hán Văn Quảng (số 5) bổ nhào cắt bom. Những trái bom đều rơi trúng mục tiêu. Không quân ngụy hoàn toàn bị bất ngờ, tới lúc số 5 vào cắt bom chúng mới biết. Qua vô tuyến, phi công ta nghe được những tiếng kêu: “Tân Sơn Nhất bị oanh kích”.

Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng đồng chí Lê Văn Tri, Đào Đình Luyện chụp ảnh kỷ niệm với Phi đội Quyết Thắng.

Nguyễn Thành Trung và Nguyễn Văn Lục nhanh chóng vào cắt bom lần thứ hai, nhưng đến lần thứ ba Nguyễn Thành Trung phải cắt bom bằng hệ thống “khẩn cấp”, 4 quả bom mới rời khỏi máy bay, một khối lửa lớn bùng lên từ bãi đỗ những máy bay F-5 đang đậu.

Các phi công thoát ly trở về trong điều kiện mây dày đặc, đạn pháo phòng không của địch ở dinh Độc Lập bắn lên. Tất cả lần lượt hạ cánh an toàn lúc 18h5 phút.

Trận tập kích đã phá hủy và làm hỏng nặng cụm máy bay tập trung ở khu vực sân đỗ gồm 24 chiếc A-37 và F-5E, 4 chiếc máy bay vận tải, tiêu diệt hàng trăm tên địch.

Những tiếng bom của Không quân Nhân dân Việt Nam được xem như hiệu lệnh tổng công kích cho đại quân ta đồng loạt nổ súng, tiến công giải phóng Sài Gòn, cắt cầu hàng không di tản của địch.

Bằng những máy bay và bom đạn vừa thủ được của địch, không quân ta đã đánh vào một trong những sào huyệt cuối cùng của Mỹ – Ngụy, góp phần giành thắng lợi cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc.

Lê Nam
baodatviet.vn

17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 3)

Bộ đội tên lửa đã lập nhiều công lớn bắn hạ hàng trăm loại máy bay hiện đại của địch, đặc biệt là “pháo đài bay” B-52 tạo nên chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”.

>> Kỳ 1: Đạn pháo đan lưới lửa
>> Kỳ 2: “Mắt thần” canh giữ bầu trời

(ĐVO) Kỳ 3: Rồng lửa SA-2 – Nỗi kinh hoàng của giặc trời

Thiếu tá Hải quân John McCain.

Hạ “chim ưng” trên vùng cấm

Trưa ngày 26/10/1967, tại trận địa Dương Tế, tiểu đoàn tên lửa 61 phát sóng bắt được một tốp máy bay địch ở phương vị 360, cự ly 23km, độ cao 4.600m. Khi các đơn vị khác phát hiện mục tiêu, cự ly đã quá gần không còn khả năng xạ kích (phóng tên lửa).

Duy nhất chỉ có tiểu đoàn 61 đủ khả năng đánh nhưng mục tiêu lại bay trong vùng cấm bắn (góc cấm bắn để bảo đảm an toàn cho mặt đất). Đối với các cán bộ chiến sĩ, đánh hay không là quyết định rất táo bạo và chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc với trách nhiệm rất cao.

Vì trong phạm vi xác xuất nhỏ bé nào đó, tên lửa không có điều khiển hoặc khi phóng tên lửa lên đúng mục tiêu bổ nhào, đạn rơi xuống đất giữa lòng Hà Nội có thể gây tổn thất khó lường.

Nhưng nếu không đánh để địch vào Hà Nội, ném bom nhà máy điện Yên Phụ – nguồn cung cấp điện cả thành phố, hậu quả và trách nhiệm của đơn vị với thủ đô rất lớn.

Đồng chí chính ủy Nguyễn Ly Sơn ngồi trong xe điều khiển đã hạ lệnh cho tiểu đoàn tiêu diệt tốp mục tiêu này.

Ngay lập tức, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Lan chỉ huy, sĩ quan điều khiển Nguyễn Xuân Đài, trắc thủ góc tà Trịnh Văn Hưng, trắc thủ phương vị Nguyễn Trọng Vinh, trắc thủ cự ly Lê Quang Khánh tập trung cao độ vào nhiệm vụ phóng và lái quả đạn tới mục tiêu.

A-4E “Chim ưng nhà trời” mang loại bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình Valley đã chiếm được đỉnh cao bổ nhào lao xuống nhà máy điện Yên Phụ.

Chiếc A-4E xuống độ cao 1.800m thì tên lửa gặp nổ, mục tiêu bị tiêu diệt và rơi xuống bãi xi măng nhà máy điện lúc 11h57 khi chưa kịp thả bom. Viên phi công – Thiếu tá Jonh McCain bị bắt sống.

Vít cổ “kẻ phá đám” A-6A

22h1 ngày 24/3/1967, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng 77 Nguyễn Ngọc Điền và kíp điều khiển (gồm sĩ quan điều khiển Đinh Thế Văn, trắc thủ góc tà Nguyễn Văn Cư, trắc thủ cự ly Kiều Thanh tịnh, trắc thủ phương vị Nguyễn Văn Đức) đã bắn rơi tại chỗ một chiếc A-6A ở đồng Đông sân bay Kép. Đây là chiếc A-6A bị bắn rơi tại chỗ đầu tiên của đơn vị.

Chiếc thắng ngày 24/3/1967 của tiểu đoàn 77 góp phần cùng lực lượng phòng không đánh thắng thủ đoạn bay thấp, đánh lén ban đêm của địch.

Từ năm 1966 tới 1972, tiểu đoàn 77 còn bắn rơi thêm 18 máy bay Mỹ các loại. Ngày 3/9/1973, tiểu đoàn được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Rồng lửa bắt ‘bóng ma’ AC-130

Trong kháng chiến chống Mỹ, tuyến đường Trường Sơn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong con đường vận tải vũ khí – hàng hóa từ Bắc vào Nam. Không quân Mỹ đã tìm mọi cách, dùng nhiều chiến thuật, huy động các loại phương tiện cực kỳ hiện đại nhằm ngăn chặn tuyến đường này.

Một trong những phương tiện nguy hiểm mà Mỹ sử dụng, AC-130 – máy bay vận tải quân sự được cải tiến thành máy bay trinh sát vũ trang.

AC-130 trang bị hệ thống quan sát hồng ngoại và khuyếch đại ánh sáng mờ tới 4 vạn lần, nên nó phát hiện mục tiêu dưới đất rất chính xác. AC-130 có hỏa lực mạnh: pháo bắn thẳng cỡ nòng 40mm và đại liên 6 nòng cỡ 20mm.

Loại máy bay này đã gây cho ta rất nhiều thiệt hại. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh đoàn 559 và Bộ tư lệnh phòng không – Không quân chỉ thị cho sư đoàn phòng không 377 nghiên cứu tiêu diệt AC-130 nhằm đảm bảo luôn thông suốt tuyến đường vận chuyển chiến lược.

AC-130 đền tội trên con đường huyền thoại Trường Sơn.

Tiểu đoàn 67, trung đoàn tên lửa 275 hành quân vào chiến trường đưa “rồng lửa” SA-2 lùng diệt AC-130. Trên đường đi, tiểu đoàn 67 bị không quân địch phát hiện và đánh hư hỏng một vài phương tiện, khí tài nhưng với tinh thần quyết tâm các chiến sĩ vẫn thiết lập trận địa sẵn sàng đón tiêu diệt địch.

2h10 ngày 29/10/1972, đài radar phát hiện một tốp máy bay ở cự ly 28km, phương vị 220 độ, kíp trắc thủ xác định đây là AC-130. Trắc thủ số 2 qua đường dây thông tin đọc phần tử của mục tiêu cho nhân viên tiêu đồ đánh dấu đường bay lên bảng tiêu đồ hỏa lực 5×5. Đài 2 đã sẵn sàng, ba rãnh, hai bệ, hai đạn.

Tới 2h50, tình huống khó đã phát sinh khi hỏng đường truyền tín hiệu từ đài P12 sang đài điều khiển, tiểu đoàn phó Nguyễn Lành quyết định đánh theo phần tử của tiêu đồ hỏa lực 5×5, khi mục tiêu vào đến cự ly 20km, đài 2 nâng cao thế, chuẩn bị liên tục 2 đạn và đồng bộ.

Mục tiêu vào tới 15km, kíp điều khiển (gồm sĩ quan điều khiển Hà Viết Bá, trắc thủ góc tà Nguyễn Đăng Dương, trắc thủ phương vị Ngô Văn Bằng, trắc thủ cự ly Ngô Văn Chàng) mở công tắc ăng ten phát hiện AC-130 ở cự ly 14km, phương vị 192 độ, độ cao 3km. Dù trên màn hình sóng có nhiễu râu, nhiễu tích cực song các chiến sĩ vẫn thấy mục tiêu.

Tiểu đoàn phó Nguyễn Lành ra lệnh: “tiêu diệt tốp số 1, phương pháp điều khiển K, hai quả, ngòi nổ vô tuyến, cự ly phóng 13km, phương vị 192 độ, giãn cách 6 giây”. Ngay tức khắc, sĩ quan điều khiển ấn nút phóng hai quả đạn, “rồng lửa” rời bệ lao về phía “bóng ma” AC-130.

Đạn điều khiển gặp mục tiêu ở cự ly 11km, phương vị 193 độ, độ cao 3km. Chiếc AC-130 bốc cháy rơi tại chỗ ở bản Nopo cách trận địa 6km lúc 3h.

Đây là trận đánh thực hiện phóng hai quả đạn tên lửa bắn rơi tại chỗ một chiếc AC-130 đầu tiên của trung đoàn và là chiếc rơi tại chỗ đầu tiên trong mùa khô 1971-1972.

Chiến thắng đã buộc AC-130 phải ngừng hoạt động một thời gian ở khu vực này, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch vận chuyển Quang Trung giành thắng lợi.

5 phút hai B-52

Trong chiến dịch bảo vệ vùng trời miền Bắc tháng 12/1972 trước cuộc tập kích đường không tàn bạo của Đế quốc Mỹ. Bộ đội tên lửa lập nhiều chiến công, điển hình là những trận tiêu diệt máy bay ném bom chiến lược B-52 – niềm tự hào của Không quân Mỹ.

Sáng ngày 21/12/1972, lúc 4h36 tiểu đoàn 57 (trung đoàn tên lửa 261) được lệnh vào chiến đấu cấp 1, cấp trên giao nhiệm vụ cho đơn vị phải tiêu diệt tốp B-52 số 518.

Tình hình lúc đó, đài radar nhìn vòng P12 bị nhiễu nặng…khi mục tiêu đến cự ly 55km, đài K8-60 bắt được mục tiêu. Đài trưởng radar ra lệnh phóng quả đạn thứ nhất đánh máy bay địch ở “cự ly 55km, phương vị 3300, cao 12km” nhưng đạn tên lửa hỏng.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt lệnh phóng tiếp quả thứ 2, cự ly 25km, đạn bay đến mục tiêu, B52 bị tiêu diệt, bốc cháy lúc 5h9.

Trên bệ phóng trận địa tiểu đoàn chỉ còn một quả đạn, đồng chí Nguyễn Văn Phiệt hội ý nhanh với chính trị viên Nguyễn Văn Ưởng quyết tâm bắn rơi tại chỗ máy bay địch, tiêu diệt tốp 532, mục tiêu đã vào cự ly 38km.

Sau khi nâng cao thế kiểm tra không thấy mục tiêu, chỉ có nhiễu, tiểu đoàn trưởng ra lệnh: “hạ cao thế, phương pháp 3 điểm, cự ly 35km, ngòi nổ 11,5 giây chậm”.

Quả đạn duy nhất rời bệ nhằm tốp B-52 lao tới…sĩ quan điều khiển vừa quan sát vừa đọc cự ly bay của đạn: “cự ly 15km, 18km, 20km, 22km, 24km, nổ” B-52 bị tiêu diệt lúc 5h14.

Chỉ sau 5 phút chiến đấu, bằng 2 quả đạn tiểu đoàn 57 đã bắn rơi hai B-52 trong đó có một chiếc rơi tại chỗ ở núi Đôi, Đa Phúc, Vĩnh Phú. Trận đánh khẳng định hiệu quả phương pháp xạ kích, bắn phát một (một quả đạn bắn vào tiêu diệt một B-52).

Bắn rơi “nguyên chiếc” B-52

23h ngày 27/12/1972, tiểu đoàn tên lửa 72 đánh địch từ hướng Đông Nam vào khu vực Văn Điển, Giáp Bát.

Tiểu đoàn 72 gồm: tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chất, sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng, trắc thủ phương vị Trương Đăng Khoa, trắc thủ góc tà Nguyễn Đức Chiêu, Lê Đông Hưởng , chính trị viên Dương Đình Phương, trắc thủ cự ly Nguyễn Văn Tuyền bám sát chính xác giải nhiễu B-52, phát hiện 3 máy bay B-52 ở độ cao 11.000m lao tới, tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt ra lệnh đánh địch bằng phương pháp T, chế độ giãn cách 6 giây.

Hai quả đạn được phóng lên ở cự ly 34, 32 và nổ trúng mục tiêu, máy bay cháy rất lớn. Điểm đặc biệt, chiếc B-52 này còn nguyên bom đạn chưa kịp ném vào mục tiêu. Cả máy bay B-52 rơi xuống quật Ba Đình, một phần xác phơi mình trên đường Hoàng Hoa Thám, cạnh vườn Bách Thảo. Phần khác rơi xuống Hồ Hữu Tiệp, 2 động cơ rơi xuống nhà bà Nguyễn Thị Nề ở tổ 51 Ngọc Hà.

Chiến công bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 của địch là chiếc B-52 duy nhất trong tổng số 16 chiếc rơi tại chỗ còn nguyên bom đạn và rơi xuống đường phố thủ đô Hà Nội gần khu vực cơ quan Trung ương của ta làm việc.

>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 2)

Lê Nam
baodatviet.vn

17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 2)

Bộ đội radar không chỉ đóng vai trò “con mắt” canh giữ, mà còn làm nhiệm vụ dẫn đường cho phi công ta tiêu diệt địch trên vùng trời, vùng biển.

>> Kỳ 1: Đạn pháo đan lưới lửa

Kỳ 2: “Mắt thần” canh giữ bầu trời

Tiêm kích đánh biển

Ngày 19/4/1972, bộ đội không quân đã làm nên chiến công xuất sắc dùng máy bay tiêm kích tấn công tàu Mỹ ngoài vùng biển Quảng Bình. Góp công lớn trong trận đánh này là bộ đội radar. Các chiến sĩ phân đội radar 403, trung đoàn 291 (gồm đại đội trưởng Nguyễn Văn Nhàn, đài trưởng Phan Thanh Hài, trắc thủ số 1 Lương Anh Tiễn, trắc thủ số 2 Nguyễn Xuân Hoan) hiệp đồng với biên đội MiG-17 do phi công Nguyễn Văn Bảy B (số 1) và Lê Xuân Dị (số 2) điều khiển.

15h30 ngày 19/4/1972, máy bay địch vào đánh phá sân bay Đồng Hới, tàu chiến địch pháo kích cây đèn biển. Phân đội radar được lệnh chiến đấu, tới 16h01, trắc thủ số 1 phát hiện 6 chiếc tàu địch ở cự ly 15km và 12 chiếc ở cự ly 25km. Đài trưởng radar lệnh cho trắc thủ số 2 nâng ăng ten sục sạo địch trên không, chú ý hướng biển. Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng nhắc radar phải bám sát tàu địch liên tục.

Đúng theo phương án đã định, trắc thủ số 2 liên tục thao tác ăng ten và thực hiện bám sát, còn trắc thủ số 1 thông báo phần tử, đài trưởng nhắc trắc thủ chú ý sục sạo và cảnh giới xung quanh máy bay ta.

Các trắc thủ tập trung thao tác và thông báo liên tục phần tử tàu địch và máy bay ta. Khi ra đến biển, độ cao máy bay MiG-17 là 50m, được lệnh công kích, trên màn hiện sóng tín hiệu MiG trùng lên tín hiệu địch.

MiG-17 do phi công Lê Xuân Dị điều khiển đã ném một quả bom 250kg trúng tháp pháo 127mm trên tàu khu trục USS Higbee, còn phi công Nguyễn Văn Bảy đánh trúng tuần dương hạm USS Oklahoma city.

Tranh vẽ minh họa máy bay MiG-17 của Không quân Nhân dân Việt Nam không kích tàu khu trục Mỹ.

Vọng quan sát báo về, một chiếc tàu địch bốc cháy. Máy bay ta vòng về hướng đất liền, đài trưởng tiếp tục nhắc trắc thủ sục sạo phát hiện máy bay địch và chú ý chống tên lửa chống radar AGM-45 Shrike.

Ngay sau khi biên đội MiG-17 về hạ cánh an toàn và được kéo vào vị trí cất giấu, đơn vị radar 403 phát hiện 2 tốp máy bay địch bay từ biển vào. Hai phút sau, địch phóng hai quả tên lửa chống radar Shrike xuống gần trận địa.

Bình tĩnh, các trắc thủ radar mau lẹ thao tác theo quy trình chống Shrike nên trận địa vẫn an toàn, 2 quả tên lửa nổ cách trận địa 1.500m.

Tuy cả 2 tàu địch đều chỉ gặp phải hư hỏng nhỏ nhưng ít nhiều đã làm quân Mỹ hoảng sợ. Lần đầu tiên sau chiến tranh thế giới thứ 2, tàu chiến hạm đội 7 bị không kích. Ngoài ra, trận duy nhất của bộ đội radar đảm bảo cho tiêm kích làm nhiệm vụ cường kích đánh cháy hạm tàu địch trên biển.

“Không để Tổ quốc bị bất ngờ”

Ngày 14/12/1972, Tổng thống Mỹ Nixon ký phê chuẩn kế hoạch mở cuộc tập kích đường không dùng máy bay ném bom B-52 cùng hàng trăm máy bay chiến đấu chiến thuật đánh phá hủy diệt các mục tiêu kinh tế, chính trị, quân sự quan trọng ở Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố lớn.

Với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, luôn đề phòng cảnh giác trước mọi âm mưu thâm hiểm của kẻ địch. Quân dân miền Bắc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính phủ đã chuẩn bị đầy đủ kế hoạch đối phó với cuộc chiến gian khổ, khó khăn này.

Đóng góp một phần công không nhỏ trong chiến dịch 12 ngày đêm này, bên cạnh các đơn vị pháo phòng không, tên lửa, không quân tiêm kích, bộ đội radar là đơn vị cảnh giới, phát hiện sớm mục tiêu địch, để “Tổ quốc không bị bất ngờ”.

Ngay trong đêm đầu tiên của chiến dịch (ngày 18/12), các chiến sĩ đại đội radar 45 (trung đoàn 291) đã phát hiện sớm B-52 vào đánh phá miền bắc trước 35 phút. Lúc 18h14 sở chi huy trung tâm báo động mạng radar cảnh giới. Tới 19h, đại đội 45 nằm ở phía Tây Trường Sơn phát hiện tốp máy bay từ Mường Phín (Hạ Lào) bay lên phía bắc, một phút sau đại đội 16 của trung đoàn báo cáo có nhiễu B-52.

Mặc dù mục tiêu chưa hiện rõ, nhiễu tạp lại dày, nhưng bằng kinh nghiệm đã tích lỹ được, trắc thủ đo cao Tô Trọng Huy mạnh dạn quả đoán B-52 ở tọa độ X. Nhận báo cáo, trung đoàn trưởng Đỗ Năm lệnh cho đại đội 45 mở máy.

Đại đội trưởng Đinh Hữu Thuần nhanh chóng lệnh cho các trắc thủ, chỉ ít phút sau đài trưởng Nghiêm Đình Tích và các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích đã thấy ba dải nhiễu B-52 ở đúng tọa độ mà Tô Trọng Huy thông báo, đài radar đại đội  45 bình thường đã bắt được những tốp B-52 đi ném bom Cánh Đồng Chum Xiêng Khoảng (Thượng Lào).

Hình sóng B-52 trên các loại radar của ta.

Những tốp B-52 này thường cất cánh từ Utapao (Thái Lan) bay qua sông Mekong ngược lên phía bắc, thường đến phương vị 270, 280,290 độ là chúng rẽ trái. Vì vậy, tọa độ trở nên quen thuộc với các trắc thủ.

Nhưng lần này, chúng vượt qua phương vị 290 mà vẫn chưa đổi hướng bay, mục tiêu vào đến phương vị 300, ý nghĩ lóe lên trong đầu Nghiêm Đình Tích: B-52 bay vào miền Bắc. Ông báo cáo lên đại đội trưởng Đinh Hữu Thuần giọng rành rọt: “Đúng B-52! Mục tiêu sắp bay vào vùng trời miền Bắc”.

Từ sở chỉ huy trung đoàn 291 ở Nghệ An, các phần tử của đại đội 45 được phát thẳng về trung tâm và báo cáo ngay với Tư lênh Quân chủng. Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu báo cao lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đồng thời lệnh báo động B-52 toàn miền bắc lúc 19h45.

Những tin báo đó đã bảo đảm cho Bộ tư lệnh Quân chủng nắm chắc địch, hạ quyết tâm sử dụng lực lượng và bảo đảm cho các đơn vị phòng không ba thứ quân chuyển cấp chiến đấu sớm 35 phút. Ngay trong đêm đầu bắn rơi 8 máy bay địch, trong đó có 3 chiếc B-52 (2 chiếc rơi tại chỗ).

Nhỏ, thấp cũng không thoát

Trong chiến tranh Việt Nam, Không quân Mỹ sử dụng rất nhiều loại máy bay trinh thám tầm cao SR-71, U-2 tới máy bay không người lái BQM-34A. Ở tầm thấp, chúng dùng loại UAV 147 khá nguy hiểm.

Đây là loại UAV có hình dáng nhỏ nhưng có tốc độ bay nhanh (250m/giây), tầm bay thấp (dưới 1.000 m hoặc 200-300 m). Nó thường được vận tải cơ C-130 thả ở vị trí địa hình đồi núi, lợi dụng lòng sông khe núi bay vào tìm kiếm các trận địa bố phòng của ta.

Đối với loại này, bộ đội pháo cao xạ khó bắn, còn tên lửa thì càng khó hơn. Vì vậy, bộ đội radar quyết tâm tìm mọi phương án “bắt” loại UAV này lộ diện, tạo điều kiện cho bộ đội phòng không bắn hạ.

Lúc 4h15 ngày 6/8/1969, đài radar của đại đội 19 và 46 đang làm nhiệm vụ cảnh giới thì phát hiện tín hiệu một vận tải cơ C-130 cách bờ biển 130km.

Chỉ huy trung đoàn ra lệnh mở máy tăng cường đài radar P15 của đại đội 25, ngay khi chiếc UAV 147SRE-16 vừa phóng khỏi C-130 liền bị các trắc thủ Lê Đỗ Ngoạn (đại đội 46) và Nguyễn Văn Giằng (đại đội 25) phát hiện thông báo kịp thời.

Từng mũi đường bay không người lái được kéo nhanh trên bàn đánh dấu, các trắc thủ bám sát liên tục. Những tin báo của trung đoàn đã giúp hai trung đoàn tên lửa 236 và 257 chuyển cấp chiến chiến đấu nhanh chóng xác định chính xác vị trí mục tiêu địch.

Tới 4h26, tiểu đoàn tên lửa 61 (trung đoàn 236) đã bắn rơi tại chỗ một chiếc 147SRE-16 của Mỹ.

Lê Nam
baodatviet.vn

17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 1)

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, bộ đội pháo phòng không luôn là đơn vị mở đầu những chiến công tiêu diệt máy bay địch trên bầu trời Tổ quốc.

Nhân dịp bảo tàng PKKQ tổ chức triển lãm “Một số trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ”, Đất Việt xin giới thiệu thông tin và hình ảnh về 17 trận đánh tiêu biểu:

(ĐVO) Kỳ 1: Đạn pháo đan lưới lửa

Hạ “giặc 5 đầu” B-24

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Không quân Pháp đưa tới lòng chảo Điên Biên đội hình máy bay hùng hậu hiện đại (B-24, B-25, F-6F, F-8F, SB-20, C-47, C-119,…). Tuy nhiên, chúng đã vấp phải lưới lửa phòng không của bộ đội pháo cao xạ, hầu hết các loại phi cơ này đều bị bắn rơi.

Nhưng có một loại mà mãi tới gần cuối chiến dịch ta vẫn chưa hạ được, máy bay ném bom B-24. Trước tình hình này, Bộ chỉ huy chiến dịch yêu cầu lực lượng phòng không nghiên cứu tìm cách bắn rơi B-24.

B-24 trang bị bốn động cơ cánh quạt, bộ đội ta thường gọi “giặc 5 đầu”, với “ 4 đầu” tương ứng 4 động cơ cánh quạt lắp trên cánh và “một đầu” là mũi máy bay.

Qua quá trình nghiên cứu, phía ta xác định được B-24 thường ném bom ở độ cao 3.000-3.500m, ngoài cự ly bắn hiệu quả của pháo 37mm. Dù vậy, B-24 có điểm yếu “to xác” và đường bay “ổn định”. Vì thế, nếu ta chọn thời cơ bắn chính xác, vị trí đặt pháo trên điểm cao hợp lý thì hoàn toàn có thể tiêu diệt được B-24.

Khoảng 10h ngày 12/4/1954, trinh sát của ta phát hiện “hướng 12! Một B24!”. Khi đó, Đại đội phó đại đội 828 (trung đoàn cao xạ 367) Nguyễn Đỗ Hưu bình tĩnh quan sát, còn trắc thủ liên tục báo cự ly: “6.000!…5.000!…4.000!…3.000!…”

Đúng độ cao hiệu quả, đồng chí Nguyễn Đỗ Hưu ra lệnh bắn, đồng loạt cả bốn khẩu 37mm nổ súng. Loạt 12 viên 37mm đã “chém phăng đầu dài nhất” của B-24. Chiếc B-24 mất điều khiển, từ độ cao 3.000m lao thẳng xuống cánh đồng Bản Kéo.

Đây là chiếc máy bay ném bom đầu tiên bị bắn rơi và cũng là chiếc thứ 59 bị hạ trong chiến dịch góp phần chặn đứt cầu hàng không của Pháp tăng cường cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Với chiến thắng này, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tặng thưởng đại đội 828 Huân chương Quân công hạng Nhì.

“Radar giả” lừa máy bay địch

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, bằng chiến thuật dùng trận địa radar, pháo, tên lửa làm bằng…cót tre, bộ đội phòng không đã đánh lừa, phục kích bắn hạ nhiều máy bay địch.

Lần đầu ta sử dụng chiến thuật này trong trận chiến đấu ngày 26/3/1965 của tiểu đoàn pháo 8 – Trường sỹ quan cao xạ bảo vệ trận địa radar ở Rú Nài (Hà Tĩnh).

Tình hình lúc đó, đầu năm 1965 địch tăng cường không quân đánh phá nhiều trận địa radar ở Vĩnh Linh, Quảng Bình nhằm bịt “con mắt” canh trời miền Bắc. Bộ tư lệnh quân chủng PKKQ đưa ra nhận định, địch sẽ đánh tiếp vào đơn vị đóng ở Rú Nài – Hà Tĩnh.

Đại đội trưởng đại đội 82 và trinh sát viên đang xử lý tình huống chiến đấu.

Vì vậy, phía ta quyết định tổ chức trận phục kích nhử địch tiêu diệt chúng. Khoảng 17h30 ngày 25/3, đại đội radar 13 cơ động về vị trí dự bị, còn ở Rú Nài cho dựng trận địa radar giả lằm bằng cót, tre.

Tới 13h ngày 26/3, đại đội radar 13 phát hiện địch và thông báo “mục tiêu bay từ hướng 34 về hướng số 4 cự ly 50km”, ngay lập tức sở chỉ huy lệnh cho tiểu đoàn 8 vào vị trí chiến đấu. Ở cự ly 26km, kính TZK phát hiện nhiều tốp mục tiêu bay từ hướng 4 và 14 gồm các loại phản lực F8U, F4H vào đến tầm 20km.

Mục tiêu hướng 14 chia làm hai đường bay với 8 chiếc F8U bay thẳng vào, ba tốp bay về hướng 1. Tiểu đoàn 8 hạ lênh, “toàn tiểu đoàn tiêu diệt mục tiêu hướng 14”. Lúc này, máy bay địch theo đội hình bàn tay xòe, rồi chuyển sang đội hình so le đôi, lấy mũi Sót làm điểm kiểm tra bay vào nâng độ cao chiếm đỉnh, bổ nhào đánh trận địa giả ở Rú Nài.

Khi mục tiêu bổ nhào đến cự ly hiệu quả, đại đội 82/83 đồng loạt nổ súng bắn trúng 2 chiếc F-8U, cả hai bốc cháy lao nhanh ra biển thoát thân.

Trên hướng số 1 có hai chiếc F-8U và hai F4H ở độ cao 4.000m bay vào nhằm thu hút hỏa lực và phát hiện pháo phòng không của ta. Tốp thứ 2 địch phát hiện hỏa lực phòng không, chúng tách tốp hai chiếc bổ nhào đánh đại đội 82, còn lại đánh đại đội 27.

Trận đánh ngày càng ác liệt, hỏa lực tiểu đoàn bắn lên mãnh liệt diệt chiếc đi đầu sau khi đã cắt bom, chiếc này trúng đạn lao ra rơi ngoài biển. Ba khẩu pháo đại đội 37 bị đất đá bắn vào, máy nạp đạn bị tắc.

Trên cao, một tốp AD-6 độ cao 1.000m từ hướng 34, chếch hướng 4 bay vào, đại đội 27 phát hiện mục tiêu bay thấp hướng 34, cự ly 7.000m. Sau khi khôi phục 3 khẩu pháo, đại đội nổ súng hạ chiếc AD-6.

Còn một tốp F-4H bay thấp vào từ cửa Sót trinh sát kết quả sau trận đánh, đại đội 82/83 đã kịp thời phát hiện nổ súng bắn rơi chiếc đi đầu. Trận đánh kết thúc lúc 13h56, bộ đội ta xuất sắc bắn rơi 5 máy bay địch.

Tên lửa…cót, tre trổ tài

Ngày 24/7/1965, tiểu đoàn tên lửa 63/64 đã phóng 4 quả SA-2 bắn rơi một máy bay F-4H của Không quân Mỹ tại khu vực Suối Hai – Trung Hà (Sơn Tây). Đòn đánh này làm giặc Mỹ choáng váng, không kịp phản ứng. Ở Mỹ, Tổng thống Johnson phải bỏ dở kỳ nghỉ để về Nhà Trắng.

Đoán chắc, địch sẽ tìm mọi cách để tấn công, phá hủy các trận địa tên lửa. Phía ta đã nhanh chóng tìm ra cách đối phó “độc đáo”. Ngày trong đêm ngày 24/7, tiểu đoàn 63/64 cơ động triển khai trận địa dã chiến ở Kim Đái và Thượng Thụy.

Thay vào hai trận địa Chùa Ghề và Võ Khuy là bộ khí tài tên lửa giả làm bằng cót, tre nhằm “nhử địch” tấn công tạo điều kiện cho lưới đạn phòng không tiêu diệt.

Ngày 27/7, lúc 14h18 trinh sát cụm A phát hiện tốp 8 chiếc F-105 chia hai hướng đánh vào trận địa tên lửa Chùa Ghề và Ngọc Nhị (Võ Khuy). Chúng bị đại đội 1 trung đoàn 234 bắn hạ một chiếc.

Khẩu đội pháo của tiểu đoàn 1, trung đoàn 234 tham gia phục kích bắn rơi máy bay Mỹ.

Tiếp đó, tốp F-105 khác từ khe núi phía đỉnh Tân Viên, lần lượt hai chiếc một bay thấp bổ nhào đánh trận địa Ngọc Nhị (Võ Khuy). Ngay lập tức, hai đội đội pháo 37mm của trường sĩ quan phòng không phối hợp phân cụm B đánh trả quyết liệt. Tới phút thứ 12, quân ta bắn hạ một chiếc F-105 ở Thanh Sơn, Phú Thọ, tên giặc lái nhảy dù và được trực thăng cứu thoát.

14h25 hai trực thăng cứu nạn có AD-6 yểm trợ bay vào cứu giặc lái ở Ba Trại, trung đoàn 224 đã bắn rơi một AD-6, bắt sống giặc lái. Tuy nhiên, đại đội 1 của trung đoàn 224 trúng bom địch làm 6 chiến sĩ bỏng nặng, 2 hy sinh.

Tới 14h50, 8 chiếc F-105 từ đỉnh Lưỡi Hái xông vào đánh trận địa Chùa Ghề và trận địa pháo phòng không. Pháo 57mm của tiểu đoàn 3 đã hiệp đồng với trận địa khác bắn rơi một F-105 tại trận, bắt sống giặc lái.

14h51 tốp cuối bốn chiếc F-105 xuất hiện từ đỉnh Tản Viên (Ba Vì) lao xuống đánh trận địa Ngọc Nhị (Võ Khuy). Đại đội 2 trung đoàn 234 tiếp tục bắn rơi thêm một F-105 đồng thời bắt sống giặc lái. Trận đánh tới đây kết thúc, ta phục kích bắn hạ liền 4 chiếc F-105 và một chiếc AD-6.

2 phút diệt 5 máy bay

Ngày 17/10/1967, tiểu đoàn pháo phòng không 18 (sư đoàn 365) đã tạo nên chiến thắng “2 phút bắn rơi 5 máy bay địch, trong đó có 4 chiếc rơi tại chỗ” bảo vệ Đáp Cầu (Hà Bắc).

Lúc 10h41, kính TZK của tiểu đoàn bắt được mục tiêu hướng 34 cực ly 35km, đang bay theo trục đường 18. Trong đó, tốp đầu 4 chiếc F-4C bay chếch về hướng Bắc Giang, tốp hai F-105D bay về hướng số 3, 32.

Đến cự ly 10km, địch chuyển từ đội hình bốn chiếc bàn tay xòe thành đội hình so le đôi lần lượt lượn vòng về hướng 32, lấy thị xã Bắc Ninh (tháp nhà thờ) làm điểm bổ nhào đánh cầu.

Đến cự ly hiệu quả, đạn từ trận địa pháo đại đội 10/34/36 lao thẳng vào chiếc thứ 1 và 3. Còn đại đội 8/9 bắn vào chiếc thứ 2 và 4. Mỗi chiếc một điểm xạ, cả tốp F105D đi đầu bị bắn hạ tại chỗ. Giặc lái nhảy dù bị quân dân Hà Bắc bắt sống.

Thấy tốp đầu bị diệt gọn, tốp F-105D bay sau tiếp tục bổ nhào theo đường bay tốp đầu. Hỏa lực của 5 đại đội tiếp tục “bủa lưới” bắn chặn địch, thêm một chiếc F-105D bị hạ. Đội hình địch rối loạn, phi công hốt hoảng ném bom bừa bãi rồi rút chạy. Đây là trận đánh hỏa lực pháo phòng không ôm sát mục tiêu bảo vệ, chỉ trong 2 phút diệt 5 chiếc, bắt sống nhiều phi công địch.

(còn nữa)

>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)

Lê Nam
baodatviet.vn

Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 4)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bộ đội Không quân Nhân dân Việt Nam lập nhiều chiến công xuất sắc bắn hạ các máy bay hiện đại của địch.

Dưới đây là một vài hình ảnh tư liệu về bộ đội không quân:


Biên đội MiG-21 của phi công Nguyễn Nhật Chiêu và Nguyễn Văn Cốc xuất kích chiến đấu. Ngày 23/8/1967, hai phi công đã bắn hạ 3 chiếc máy bay địch.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, phi công Nguyễn Nhật Chiêu (bên trái) đã bắn rơi 6 máy bay địch còn phi công Nguyễn Văn Cốc (bên phải) bắn rơi 9 máy bay Mỹ – người bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất của bộ đội không quân.


Trong ngày 23/8/1967, phối hợp với biên đội MiG-21 của trung đoàn 921 là biên đội 4 MiG-17 (trung đoàn 932) do các phi công: Cao Thanh Tịnh, Lê Văn Phong, Nguyễn Văn Thọ, Lê Hồng Điệp cùng đánh địch tiêu diệt hai máy bay Mỹ.


Biên đội tiêm kích MiG-17 xuất kích.


Phi công Hà Văn Chúc (trái) và chiếc MiG-21 (số hiệu 4320) đã cùng ông lập công xuất sắc bắn rơi chiếc F-105 ngày 3/1/1968 trong điều kiện hết sức khó khăn “1 chọi 36”.


Biên đội Nguyễn Đức Soát – Ngô Duy Thư (trung đoàn 927) và biên đội Phạm Phú Thái – Bùi Thanh Liêm (trung đoàn 921) sau trận đánh bắn rơi 4 máy bay Mỹ trên vùng trời Sơn Lan, ngày 27/6/1972.

Trong kháng chiến chống Mỹ, phi công Nguyễn Đức Soát (bên trái) đã bắn rơi 6 máy bay  và phi công Ngô Duy Thư (bên phải) bắn hạ 3 máy bay.


Phi công Phạm Phú Thái (bên trái) bắn rơi 4 máy bay và Bùi Thanh Liêm bắn rơi 3 máy bay trong kháng chiến chống Mỹ.


Trong trận đánh ngày 5/7/1972, phi công Nguyễn Tiến Sâm (bên trái) đã lập chiến công đặc biệt. Sau khi bắn trúng máy bay địch, do bay quá gần cả chiếc MiG-21 đã lao vào điểm nổ. Do thiếu oxy, động cơ MiG-21 bị tắt, đồng chí đã bình tĩnh mở máy trên không về hạ cánh an toàn.

Phi công Hạ Vĩnh Thành (bên phải) bắn hạ một F-4 trong trận ngày 5/7/1972. Đồng chí sau này chuyển sang công tác tại cục hàng không dân dụng Việt Nam.


Kíp sĩ quan dẫn đường cho biên đội Nguyễn Tiến Sâm – Hạ Vĩnh Thành đánh địch ngày 5/7/1972.


Máy bay A-37 trên đường vào ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, chiều ngày 28/4/1975.

Phi đội Quyết Thắng sau khi chiến thắng trở về.


Quang cảnh sân bay Tân Sơn Nhất đổ nát, đầy xác máy bay bị phá hủy sau trận ném bom của phi đội Quyết Thắng ngày 28/4/1975.

>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 2)
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 3)

Lê Quân
baodatviet.vn

Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 3)

Bộ đội tên lửa đã lập nhiều công lớn bắn hạ hàng trăm loại máy bay hiện đại của địch, đặc biệt là “pháo đài bay” B-52 tạo nên chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”.

(ĐVO) Dưới đây là một số hình ảnh tư liệu:


“Chim ưng nhà trời” A-4E xuất kích từ tàu sân bay Mỹ vào đánh phá miền Bắc Việt Nam.


Chiến sĩ tiểu đoàn tên lửa 61 luyện tập chiến đấu bảo vệ Hà Nội. Ngày 26/10/1967, đơn vị lập công bắn rơi A-4E trên “vùng cấm”.


Thiếu tá Hải quân John McCain lái chiếc A-4E bị bắn rơi ngày 26/10/1967.


Mũ bay của phi công John McCain.

Máy bay cường kích A-6A mà quân Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam.


Và mảnh xác A-6A bị bộ đội tên lửa tiểu đoàn 77 (trung đoàn 257) bắn rơi ngày 24/3/1967.


Bộ đội tiểu đoàn tên lửa 77 làm công tác bảo quản vũ khí đảm bảo cho trận đánh.


Tiểu đội đạn tiểu đoàn 77 góp phần lập công bắn rơi máy bay Mỹ A-6A.


Chiến sĩ tiểu đoàn 67 (trung đoàn 275) sẵn sàng chiến đấu, đơn vị đã bắn rơi “bóng ma” AC-130 ngày 29/10/1972.


Xác AC-130 bị bắn rơi tại chỗ lúc 3h chiều ngày 29/10/1972.


Kíp trắc thủ tiểu đoàn 67 (trung đoàn 257) tham gia bắn rơi AC-130.


Sĩ quan điều khiển – Trung úy Nguyễn Đình Kiên (đứng đầu bên phải) và kíp trắc thủ thuộc tiểu đoàn 57 (trung đoàn 261) lập công bắn rơi 4 B-52 trong 12 ngày đêm cuối năm 1972. Đặc biệt là trận đánh tiêu diệt 2 B-52 trong 5 phút.


Đồng chí Thượng úy Nguyễn Văn Phiệt (tiểu đoàn 57) họp rút kinh nghiệm cùng kíp trắc thủ.


Đơn vị radar P-12 thuộc tiểu đoàn 57 vào lệnh chiến đấu cấp 1.


Tiểu đoàn tên lửa 72 (trung đoàn 285) huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao.


Kíp trắc thủ tiểu đoàn 72 trực tiếp bắn rơi B-52 còn mang nguyên bom đêm 27/12/1972.

>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 2)

>> Kỳ 1: Đạn pháo đan lưới lửa
>> Kỳ 2: “Mắt thần” canh giữ bầu trời

Lê Quân
baodatviet.vn

Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 2)

Bộ đội radar không chỉ đóng vai trò “con mắt” canh giữ, mà còn làm nhiệm vụ dẫn đường cho phi công ta tiêu diệt địch trên vùng trời, vùng biển.

>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)

Dưới đây là một vài hình ảnh về 3 trận đánh tiêu biểu của bộ đội radar:

Đài radar trung đoàn 291 dẫn đường cho biên đội MiG-17 ném bom tàu khu trục Mỹ ngày 19/4/1972.


Các cán bộ của ta thông qua lần cuối kế hoạch đánh tàu chiến Mỹ.


Đại đội trưởng Lê Xuân Dị và phi công Nguyễn Văn Bảy B tham gia đánh tàu chiến Mỹ ngày 19/4/1972.


Tháp pháo 127mm trên tàu USS Higbee sau khi trúng bom từ MiG-17.


Tiêm kích MiG-17 (số hiệu 2047) do phi công Nguyễn Văn Bảy B điều khiển ném bom tàu USS Oklahama City.


Đài radar P-35 của trung đoàn 291 phát hiện B-52 vào đánh phá miền Bắc trước 35 phút, ngày 18/12/1972.


Các chiến sĩ radar đã góp công lớn trong chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972.


Đài radar đại đội 25 (trung đoàn 291) phát hiện, bám bắt UAV 147SRE-16 phục vụ cho đơn vị hỏa lực bắn rơi ngày 6/8/1969.


Vọng quan sát mắt đại đội 25 (trung đoàn 291) luôn cảnh giác bổ trợ phát hiện UAV bay thấp.


Đồng chí Nguyễn Văn Giằng – trắc thủ giỏi của binh chủng radar đang trao đổi kinh nghiệm bắt mục tiêu bay thấp.

Lê Quân
baodatviet.vn

Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)

Bộ đội pháo phòng không trong 2cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã lập nhiều công lớn góp phần tạo nên chiến thắng toàn thể dân tộc trước giặc xâm lăng.

Dưới đây là một vài hình ảnh tư liệu về các trận đánh của bộ đội pháo phòng không:

Máy bay B-24 cùng loại với chiếc bị bắn rơi tại tại Điện Biên Phủ (ngày 12/4/1954). Nó có khả năng mang tối đa 3.600kg nhưng tầm hoạt động chỉ có 650km. Nếu mang 1.200kg bom thì tầm bay tăng lên gần 2.000km.

B-24 đền tội ở lòng chảo Điện Biên Phủ, bức ảnh được các phóng viên báo Quân đội Nhân dân có mặt tại đó ghi lại.

Hiện vật băng đạn và vỏ đạn pháo 37mm, đại đội 828 (trung đoàn 367) dùng để bắn hạ B-24.

Khẩu đội 4, đại đội 82 (tiểu đoàn 8 – Trường sĩ quan cao xạ) tham gia trận đánh ngày 26/3/1965 bảo vệ trận địa radar ở Rú Nài, Hà Tĩnh.

Đại đội trưởng và chính trị viên đại đội 82 đang xử lý tình huống chiến đấu.

Tên lửa “giả” bằng cót, tre tham gia nghi binh trong trận đánh ngày 27/7/1965 bắn rơi 5 máy bay Mỹ.

Cán bộ, chiến sĩ khẩu đội 2, đại đội 1, tiểu đoàn 1 pháo phòng không tự hành AM trên vị trí chiến đấu (trận ngày 27/7/1965).

Các khẩu đội pháo thuộc tiểu đoàn 18 bảo vệ Đáp Cầu (Hà Bắc). Trong trận đánh 17/10/1965, toàn bộ tiểu đoàn trong vòng 2 phút đã bắn rơi 5 máy bay địch.

Đồng chí Nguyễn Xuân Đạo, trắc thủ đại đội 4, tiểu đoàn 18 tham gia đánh địch ngày 17/10/1967 bảo vệ Đáp Cầu (Hà Bắc).

Cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 18 trên mâm pháo sẵn sàng chiến đấu.

>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 1)

Lê Quân
baodatviet.vn

Bắn hạ B-52 và F-117A: Hai chiến công, một niềm tự hào (kỳ 2)

Đến nay, dù đã nhận câu trả lời về việc một quả tên lửa cũ kỹ từ những năm 1960 lại có thể kết liễu “kỳ quan kỹ thuật” ngốn hàng tỷ đô la để chế tạo, giới quân sự Mỹ vẫn chưa hết lo lắng.

Ngày 27/3/1999, giới quân sự Mỹ bàng hoàng khi nhận được tin: 20h42 (giờ Belgrade), cách phía Tây Belgrade 30 km, những mảnh vụn của một chiếc máy bay F-117A rơi xuống đất sau khi bị lực lượng phòng không Serbia xé bỏ tấm áo tàng hình “huyền thoại” và giáng đòn trừng phạt.

Đơn vị lập chiến công vang dội trên là tiểu đoàn 3, lữ đoàn tên lửa phòng không 250, có nhiệm vụ bảo vệ bầu trời thủ đô Belgrade, do đại tá Dani Zoltán chỉ huy.

Xác F-117A bị bắn rơi ở ngoại ô Belgrade. Ảnh: serbnews.com

Tiểu đoàn 3 có hơn 200 người, được trang bị các radar sục sạo và điều khiển, 4 bệ phóng tên lửa phòng không S-125 Neva (SA-3 Goa), mỗi bệ lắp 4 tên lửa.

Ngoài thành tích vang dội kể trên, tiểu đoàn 3 còn bắn rơi một chiếc F-16 và nhiều lần chiến đấu xuất sắc trong cuộc chiến 78 ngày, bẻ gãy nhiều cuộc tập kích của máy bay NATO. Trong khi đó, không quân NATO không tiêu diệt nổi một radar hay bệ phóng nào của tiểu đoàn 3.

Tàng hình không có nghĩa là vô hình

Sau 6 năm loay hoay tìm hiểu nguyên nhân, Mỹ đã nhận được câu trả lời từ đại tá Dani Zoltán, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3. Thế nhưng, sự đơn giản trong câu trả lời từ phía Dani Zoltán khiến giới quân sự Mỹ càng thêm lo lắng.

Hệ thống tên lửa phòng không S-125 tuy cũ, song các radar bước sóng dài (tần số thấp) của nó lại phát hiện F-117A tốt hơn các radar hiện đại bước sóng ngắn (tần số cao), nhưng đó không phải là tất cả.

Theo đại tá Dani Zoltán, bí quyết hạ F-117A không chỉ gồm các biện pháp kỹ thuật mà còn ở khâu chuẩn bị chiến dịch. Đây cũng là bài học mà Việt Nam đúc rút trong quãng thời gian hơn 7 năm đối đầu với Không lực Mỹ.

Xác B-52 bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội. Ảnh tư liệu

Trí tuệ, nghệ thuật quân sự và ý chí của các dân tộc khao khát độc lập tự do, có thể, đã không nằm trong tính toán của người Mỹ khi họ thiết kế những máy bay hiện đại như B-52 hay F-117A.

Năm 2005, sau khi về hưu, Dani Zoltán đã tổng kết những nguyên nhân góp phần vào chiến thắng hạ gục F-117A:

– Chú trọng huấn luyện bộ đội sử dụng vũ khí, khí tài

Zoltán biết rõ từng người lính dưới quyền và hoàn toàn tin tưởng họ. Một thời gian dài trước khi NATO bắt đầu không kích, ông thường xuyên cho binh sĩ luyện tập sử dụng thành thục vũ khí, khí tài trong biên chế.

– Bảo mật thông tin liên lạc

Zoltán tổ chức hệ thống liên lạc qua cáp hữu tuyến (không dùng vô tuyến điện và điện thoại di động) và dùng giao liên chạy bộ hay đi ô tô để liên lạc nhằm tránh trinh sát điện tử của NATO nghe lén nội dung điện đàm. Vì thế, NATO không thể xác định được vị trí của tiểu đoàn 3 để chế áp bằng tên lửa chống radar HARM và bom thông minh.

– Các radar và bệ phóng liên tục thay đổi trận địa

Zoltán sử dụng một bộ phận quân số thường xuyên đi tìm kiếm các trận địa mới để triển khai đơn vị, thực hành triển khai, thu hồi và di chuyển vũ khí, khí tài.

Trong 78 ngày không kích, đơn vị đã di chuyển hơn 100.000 km. Mỗi lần rút đi, đơn vị để lại các bộ tạo giả radar và các mô hình làm bằng vật liệu sẵn có để nhử máy bay NATO đến đánh phá.

Zoltán không công khai đối đầu với máy bay ném bom để tránh bộc lộ vị trí các radar và tên lửa của đơn vị mà nằm im phục kích đón lõng để chờ cơ hội bắn rơi F-117A.

Mảnh kính buồng lái F-117 bị bắn rơi ở Serbia. Ảnh: serbnews.com

– Tổ chức hoạt động tình báo và trinh sát

Nam Tư đã cho tình báo giám sát căn cứ không quân Aviano (Italia), nơi xuất phát của đa số máy bay ném bom NATO. Khi máy bay ném bom cất cánh, các điệp viên ở gần căn cứ liền gọi điện thoại về Belgrade thông báo chủng loại, số lượng máy bay cất cánh.

Tại Serbia, mạng lưới đài quan sát được triển khai để theo dõi, thông báo máy bay NATO xâm nhập và đường bay của chúng. Nhờ vậy, Zoltán không cần bật liên tục các radar mà chỉ bật trong thời gian ngắn vào thời điểm cần thiết để tránh bị các máy bay AWACS của NATO phát hiện và điều máy bay tiêm kích tới đánh phá.

Phía Nam Tư cũng chặn thu và nghe lén được phi công NATO trao đổi với các máy bay AWACS nên biết được đường bay và kế hoạch ném bom của chúng.

– Tổ chức nghiên cứu sớm về F-117A

Khoảng 10 năm trước khi cuộc không kích của NATO, Zoltán đã cố gắng thu thập và nghiên cứu tất cả những thông tin trên báo chí và dư luận về công nghệ tàng hình của Mỹ, F-117A. Zoltán đi đến kết luận “không có máy bay nào là vô hình cả mà chỉ khó phát hiện hơn thôi”.

Trên cơ sở đó, ông bố trí và sử dụng các radar để có thể phát hiện MBTH. Trước khi chiến tranh nổ ra, Nam Tư đã tổ chức các đoàn quân sự sang Iraq học hỏi kinh nghiệm đối phó với máy bay Mỹ và liên quân.

– Xác định mục tiêu và phóng tên lửa vào thời điểm cuối cùng

Tuy có khả năng tàng hình, F-117 lại bay chậm, không thể cơ động đột ngột để tránh tên lửa phòng không phóng từ tầm gần. Vì vậy, khi F-117 bị bất ngờ khi bay gần trận địa phòng không, không còn cơ hội cơ động tránh đạn tên lửa. Zoltán cho biết, tên lửa của tiểu đoàn 3 chỉ bay 13km đã hạ gục được F-117A.

– Cải tiến đối với hệ dẫn tên lửa

Dù không tiết lộ cụ thể những cải tiến này vì đây là bí mật quốc gia nhưng Zoltán hé lộ, đơn vị của ông được trang bị thiết bị bám quang-điện tử truyền hình hoặc ảnh nhiệt, những thiết bị giúp tên lửa tự dẫn tốt hơn.

– Khai thác sai lầm chiến thuật của NATO

F-117A xuất kích không có yểm hộ và không thay đổi đường bay. Chiếc F-117A bị bắn rơi đã bay theo cùng một đường bay lần thứ tư liên tục, nhờ vậy lực lượng phòng không Nam Tư đã có cơ hội chuẩn bị kỹ càng cho cuộc đi săn.

Ngay sau khi chiếc F-117A bị bắn rơi, NATO đã áp dụng ngay các biện pháp đối phó. F-117A luôn được các máy bay tiêm kích trang bị tên lửa chống radar cao tốc HARM hộ tống và thay đổi đường bay. Do đó, Zoltán không thể bắn hạ thêm chiếc F-117A nào. Tuy nhiên, ông đã đi vào lịch sử với tư cách người đầu tiên bắn rơi máy bay tàng hình.

Người hùng trở thành ông chủ cửa hàng bán bánh mì

Đại tá Dani Zoltán khi về hưu.

Vụ bắn rơi F-117A ngày 27/3/1999 làm bùng lên sự nghi ngờ không chỉ đối với F-117A mà cả toàn bộ khái niệm công nghệ tàng hình vốn là cơ sở cho thế hệ máy bay chiến đấu tối tân nhất của không quân Mỹ.

Khả năng bí mật công nghệ tàng hình của F-117A đã lọt vào tay Nga có lẽ là một trong những nguyên nhân để không quân Mỹ loại bỏ các máy bay này khỏi trang bị năm 2008.

Ngay sau khi bắn rơi F-117A, Nga đã cứ một viên tướng và công trình sư tên lửa S-125 trực tiếp đến hiện trường bắn rơi F-117A và thăm đơn vị của Zoltán. Khi đó, vị công trình sư này đã cởi đồng hồ đeo tay của mình tặng Zoltán.

Dani Zoltán là người Serbia, gốc Hung, tốt nghiệp trường Tên lửa phòng không Minsk. Sau khi về hưu, ông là chủ một lò bánh mì nhỏ ở làng Skorenovac yên tĩnh ngay phía Bắc Belgrade.

Kể từ năm 1999, Dani Zoltán thường gặp lại nhau vào ngày 27/3 ở Belgrade để ôn lại chiến công năm xưa. Đúng 20h42, đèn ở nhà hàng sẽ được tắt hết, sau đó, một chiếc máy bay F-117A làm bằng chocolate được mang ra thết đãi những người có mặt.

Nhân Vũ
baodatviet.vn

Bắn hạ B-52 và F-117A: Hai chiến công, một niềm tự hào

Chiến thắng B-52 của Việt Nam năm 1972 và việc Nam Tư bắn hạ máy bay tàng hình F-117A (1999) cho thấy, con người vẫn là yếu tố quyết định trong chiến tranh.

37 năm trước, bộ đội Phòng không – không quân (PK-KQ) Việt Nam lập nên một chiến công lịch sử có tên “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược Linebacker II của đế quốc Mỹ nhằm vào Hà Nội và Hải Phòng (18 – 30/12/1972), quật ngã hàng chục pháo đài bay B-52 Stratofortress, biểu tượng sức mạnh không lực Mỹ, buộc Mỹ ký Hiệp định Paris 1973 rút quân khỏi Việt Nam.

27 năm sau chiến công của Việt Nam, trong 78 ngày đêm chiến đấu chống lại không quân Mỹ và NATO (27/3-10/6/1999), Nam Tư dũng cảm chiến đấu và lập thành tích chấn động, lần đầu tiên bắn hạ máy bay tàng hình (MBTH) F-117A Nighthawk của Mỹ.

Hai chiến công khẳng định một chân lý: con người vẫn là yếu tố quyết định trong chiến tranh, nếu có quyết tâm, cách đánh đúng và sự thông minh, mưu trí, sáng tạo, vẫn có thể đánh thắng kẻ thù vượt trội về vũ khí và công nghệ kể cả bằng vũ khí lạc hậu.

Điều lý thú là qua lời kể của đại tá Zoltán Dani, người chỉ huy đơn vị phòng không Nam Tư đã bắn rơi F-117A, có thể thấy thấy chiến công này mang đậm dấu ấn kinh nghiệm của các cuộc chiến ở Trung Đông và trên hết là của nghệ thuật phòng không Việt Nam.

F-117A Nighthawk (Chim ưng đêm), là máy bay chiến đấu tàng hình sản xuất loạt đầu tiên trên thế giới, do hãng Lockheed (Mỹ) phát triển theo chương trình bí mật Aurora năm 1974, thực hiện chuyến bay đầu ngày 18/6/1981, đưa vào trang bị cho không quân Mỹ ngày 15/10/1983 và loại khỏi trang bị ngày 22/4/1988.

Tổng cộng đến năm 1990, Mỹ đã chế tạo 64 máy bay loại này, 5 mẫu chế thử YF-117A và 59 chiếc sản xuất loạt F-117A.

Trong 25 năm, Nighthawk đã tham gia 5 chiến dịch: xâm lược Panama năm 1989, chống Iraq năm 1991 và 2003, không kích Nam Tư năm 1999, xâm lược Afghanistan năm 2001.

Điều thú vị người được coi là cha đẻ của công nghệ máy bay tàng hình hiện đại lại là nhà vật lý và nhà toán học của… Liên Xô P.Ya. Ufimtsev.

Chính Lý thuyết tán xạ của ông đã giúp các kỹ sư của Lockheed (Mỹ) trong thập niên 1970 xây dựng khái niệm máy bay có độ bộc lộ radar thấp và chế tạo F-117A (công nghệ tàng hình thế hệ 1), đặc biệt là phát triển máy bay ném bom chiến lược B-2 Spirit (công nghệ tàng hình thế hệ 2) của hãng Northrop.

F-117A Nighthawk. Nguồn: internet

Trong cuộc chiến chống Iraq năm 1991, F-117A trở thành ngôi sao sáng chói với hiệu quả chiến đấu rất cao. F-117A đã thực hiện 1.271 phi vụ dài 7.000 giờ và thả 2.087 quả bom dẫn bằng laser GBU-10 và GBU-27 tổng trọng lượng gần 2.000 tấn, gần 1% tổng số phi vụ của không lực liên quân (và dưới 4% tổng số phi vụ chiến đấu).

Hiệu quả (số lượng phi vụ/số mục tiêu chỉ định bị diệt) là 80-95%, đánh trúng 1.669 lần, chỉ đánh trượt 418 lần. Trong khi đó, lượng máy bay F-117A chỉ chiếm 2,5% số máy bay Mỹ và đồng minh tại vùng Vịnh, F-117A tiêu diệt gần 40% số mục tiêu mặt đất ưu tiên mà không bị tổn thất nào.

Tại Quốc hội Mỹ, trung tướng Charles Horner, tư lệnh không quân liên quân tuyên bố các máy bay tàng hình như F-117A và В-2 sẽ là không thể thay thế trong các cuộc xung đột tương lai như chiến tranh ở vùng Vịnh.

Trong cuộc chiến 78 ngày chống Nam Tư, 24 chiếc F-117A được triển khai đến châu Âu và đã thực hiện gần 850 phi vụ. Tuy nhiên, khác với Iraq, phòng không Nam Tư đã kiên cường đánh trả bắn rơi tại chỗ 1 F-117 ở gần làng Budanovci, ngoại ô Belgrade ngày 27/3/1999 (ba ngày sau khi chiến dịch được mở màn) và 1 chiếc khác bị bắn bị thuơng ngày 30/4/1999, phải hạ cánh xuống căn cứ Aviano, Italy.

Đánh trả chiến dịch Sức mạnh đồng minh (Operation Allied Force)

Ngày 24/3/1999, không quân NATO bắt đầu chiến dịch không kích dài 78 ngày chống Nam Tư, cuộc chiến tranh lớn đầu tiên ở châu Âu sau Thế chiến II và một cuộc chiến tranh công nghệ cao điển hình.

Trong cuộc chiến này, trước ưu thế gần như tuyệt đối của không quân đối phương, quân đội Nam Tư đã chiến đấu kiên cường và lập công xuất sắc. Thành công nhất là họ đã cơ bản bảo toàn được lực lượng và khả năng chiến đấu.

Bất chấp những cuộc đánh phá ác liệt của kẻ thù, các tên lửa của Serbia vẫn là mối đe dọa lớn trong suốt cuộc chiến, buộc máy bay NATO phải bay ở độ cao trên 4.500 m.

Tên lửa phòng không S-125 của Nam Tư. Ảnh: http://www.vs.rs

Theo NATO, trong thời gian không kích, tại Kosovo họ đã tiêu diệt: gần 60% pháo binh và gần 40% xe tăng Nam Tư và ở sân bay Slatina tại thủ phủ Pristina của Kosovo chỉ còn 4 MiG-21 của phía Nam Tư.

Vì thế, lực lượng NATO kinh ngạc khi đếm được 60.000 quân Serbia rút khỏi Kosovo (chứ không phải 40.000 quân như họ từng nghĩ), gần 250 xe tăng, ít nhất 450 xe bọc thép chở quân, gần 600 khẩu pháo các loại, các bệ phóng tên lửa.

Họ cũng sửng sốt chứng kiến 11 chiếc MiG-29 và 21 chiếc MiG-21 lần lượt bay khỏi sân bay Slatina ở Pristina về phía Bắc, tới Belgrade ngày 12/6/1999.

Một số nhà bình luận nói, các máy bay “tàng hình” trong cuộc chiến 78 ngày không phải F-117A của Mỹ, mà chính là MiG của Serbia. Trong chiến dịch ném bom tàn bạo, NATO chỉ tiêu diệt được ba MiG-29

Theo số liệu của Nam Tư, quân đội Nam Tư đã bắn rơi tổng cộng 128 máy bay, 14 trực thăng, 60 máy bay không người lái, 454 tên lửa hành trình. Theo thông tin của NATO, trong số hơn 1.000 máy bay tham chiến, chỉ còn lại hơn 80%.

(còn tiếp)

Nhân Vũ
baodatviet.vn