Tag Archive | Quân sự

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh

QĐND – Thắng lợi vĩ đại của quân và dân Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được ví như một cuộc “chiến đấu thần kỳ” và trở thành biểu tượng của lương tri và phẩm giá con người. Mỗi chiến công trong cuộc chiến đấu ấy là một kỳ tích. “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” 40 năm trước là một chiến công như thế – tiêu biểu cho khí phách anh hùng, tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Trong cuộc đụng đầu với không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời thủ đô Hà Nội 12 ngày đêm cuối năm 1972, quân và dân Việt Nam chẳng những không bị khuất phục trước sức mạnh “không thể tưởng tượng nổi” của không lực Hoa Kỳ mà còn làm cho hàng chục “pháo đài bay B-52”, “con ma”, “thần sấm” phải phơi xác ngay trên mảnh đất thiêng Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Thắng lợi giòn giã của quân và dân Việt Nam làm nức lòng bạn bè quốc tế, khiến cho dư luận thế giới ngỡ ngàng, thán phục và liên tưởng đến một “Điện Biên Phủ thứ hai – Điện Biên Phủ trên không”. Như vậy, Mỹ cũng như Pháp 18 năm trước đó (5-1954), dù đã đẩy nỗ lực quân sự lên mức cao nhất nhằm cứu vãn tình thế trong cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng cuối cùng, phải chịu thất bại trước ý chí, quyết tâm ngoan cường, trí tuệ, sức sáng tạo và bản lĩnh của quân và dân Việt Nam. Thắng lợi của 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cùng với thắng lợi trên chiến trường cả nước đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân viễn chinh về nước, làm thay đổi căn bản cục diện chiến tranh, mở ra thời cơ chiến lược để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Phát huy truyền thống “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, các đơn vị thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân đang ra sức thi đua huấn luyện giỏi, SSCĐ cao. Trong ảnh: Máy bay Trung đoàn Không quân 935, Sư đoàn Không quân 370 xuất kích thực hiện nhiệm vụ. Ảnh: Xuân Cường

Chiến công oanh liệt “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã cách đây bốn thập kỷ. Tuy nhiên, độ lùi thời gian chẳng thể làm mờ ký ức của một thời lửa đạn, mà càng làm cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về sự kiện lịch sử trọng đại này; về những nhân tố làm nên một trong những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vừa là dịp để chúng ta cùng nhau ôn lại chiến công hào hùng của quân và dân ta, đồng thời, thêm một lần khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đặc biệt, đây cũng là dịp để chúng ta đi sâu tìm tòi, nghiên cứu về những nhân tố làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, cuộc đọ sức 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 nói riêng; qua đó, làm sáng tỏ thêm sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc trong thời đại mới, mà nhân lõi của nó được biểu hiện bằng tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Từ thực tiễn lịch sử phong phú và tầm vóc, ý nghĩa to lớn của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng ta cùng nhau suy ngẫm về những vấn đề chủ yếu sau:

Một là, về nhãn quan chiến lược nhạy bén của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong dự báo, tổ chức chuẩn bị mọi mặt để đối phó với âm mưu, thủ đoạn và các bước phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ.

Binh pháp người xưa có câu: “Biết địch biết ta, trăm trận không nguy”. Kế thừa và phát huy truyền thống, kinh nghiệm dụng binh của người xưa, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở nhìn nhận đánh giá tình hình trong nước, quốc tế, nhận rõ bản chất đối tượng của cách mạng Việt Nam, tương quan so sánh lực lượng, đã hoạch định đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, phù hợp với điều kiện của đất nước. Đó là điều kiện tiên quyết để khi bước vào cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chủ động, bình tĩnh điều hành, xử lý và thực hiện các tình huống chiến lược, giữ vững và tăng cường thế tiến công.

Từ đầu năm 1965, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những dự báo về âm mưu, thủ đoạn leo thang và mở rộng chiến tranh của Mỹ. Đối với hậu phương miền Bắc, Đảng xác định, trong khi đề cao khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến lớn miền Nam, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa bằng không quân và hải quân của địch, chuẩn bị sẵn sàng để đánh bại địch trong trường hợp chúng đưa cuộc chiến tranh phá hoại đến một trình độ ác liệt gấp bội, hoặc chuyển nó thành một cuộc “chiến tranh cục bộ” ở cả miền Nam lẫn miền Bắc[1].

Đi đôi với xác định nhiệm vụ chiến lược của miền Bắc, Đảng đã chỉ đạo đẩy mạnh toàn diện các mặt công tác ở hậu phương, nhất là công tác tư tưởng và tổ chức trong điều kiện chiến tranh lan rộng ra cả nước. Đối với công tác tư tưởng, Đảng đặt ra yêu cầu: Cần phải làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhận rõ âm mưu và hành động mới của Mỹ, nhận rõ chỗ mạnh và chỗ yếu, thuận lợi và khó khăn của ta và của địch; nhận rõ ta đang chiến thắng, nhất định sẽ thắng, Mỹ đang thất bại và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Trên cơ sở đó xây dựng ý chí, niềm tin quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược; sẵn sàng đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của chúng, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, xây dựng tinh thần tự lực cánh sinh, chống chủ quan khinh địch.

Cùng với công tác tư tưởng, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan của Nhà nước, Quân đội mở các hội nghị phòng không nhân dân, xây dựng kế hoạch tác chiến phòng không, sơ tán, bảo vệ các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, kho tàng, bến bãi, trọng điểm giao thông. Lực lượng đánh máy bay và tàu chiến Mỹ với nòng cốt là Quân chủng PK-KQ và Quân chủng Hải quân đã được tăng cường về nhiều mặt, cả về người và vũ khí trang bị, cả kế hoạch tổ chức hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng khác, tạo thế trận liên hoàn của “chiến tranh nhân dân đất đối không, đất đối biển”.

Có thể nói, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quân và dân miền Bắc đã cùng cả nước bước vào cuộc trường chinh chống Mỹ và đương đầu với sự đánh phá ác liệt của không quân, hải quân Mỹ trên tư thế hiên ngang, chỉ biết ngẩng cao đầu. Ý chí và niềm tin tất thắng đã tạo ra và nhân lên sức mạnh vô cùng to lớn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn đánh phá của kẻ thù. Hậu phương miền Bắc chẳng những trụ vững trước mưa bom bão đạn của địch, mà vẫn tăng cường và đẩy mạnh hoạt động chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Với tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho phép quân và dân ta trên miền Bắc chủ động trong mọi tình huống; không bị bất ngờ trước quy mô và thủ đoạn đánh phá của địch. Trải qua hai cuộc chống chiến tranh phá hoại (1965-1968; 1972), quân và dân miền Bắc đã được tôi luyện mọi mặt và bởi vậy, khi quân Mỹ mở cuộc tập kích bằng không quân chiến lược vào thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, chúng đã bị giáng trả mạnh mẽ, đích đáng. Lưới lửa phòng không nhiều tầng của quân và dân miền Bắc trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã hợp thành thế trận “thiên la địa võng” đón đánh và tiêu diệt lực lượng không quân chiến lược và chiến thuật của Mỹ.

Rõ ràng, thắng lợi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mà quân và dân ta giành được đã chứng tỏ nhãn quan chiến lược nhạy bén, sâu rộng của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc đụng đầu với không quân chiến lược Mỹ cuối năm 1972 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán từ cuối năm 1967, rằng: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống, càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”[2].

Hai là, về xây dựng tổ chức lực lượng và thế trận nhằm phát huy sức mạnh, hiệu quả của tác chiến phòng không nhân dân trong chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ thủ đô Hà Nội.

Trong suốt quá trình của chiến tranh và nhất là trong cuộc đọ sức giữa mặt đất và bầu trời 12 ngày đêm với không lực Mỹ trên bầu trời Hà Nội cuối năm 1972, nếu chỉ bằng con số thông thường khi so sánh tương quan lực lượng, vũ khí trang bị, người ta khó có thể lý giải vì sao, thắng lợi cuối cùng lại thuộc về bên có trang bị ít hơn, kém hiện đại hơn. Câu trả lời: Chính là nhờ chúng ta dám đánh, biết đánh, với bản lĩnh Việt Nam đã xây dựng, tổ chức được lực lượng và thế trận độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, đã phát huy tối đa sức mạnh, hiệu quả của tác chiến phòng không.

Công tác xây dựng, tổ chức, bổ sung, phát triển lực lượng tác chiến phòng không đã có quá trình chuẩn bị và rèn luyện lâu dài, ngay từ khi Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, đầu năm 1965. Trong những năm này, lực lượng cao xạ từ 12 trung đoàn và 14 tiểu đoàn phát triển thành 21 trung đoàn, 41 tiểu đoàn, trong đó có 8 trung đoàn cơ động, hình thành một mạng lưới phòng không tầm thấp và tầm trung mạnh ở các yếu địa, đồng thời có khả năng cơ động, tạo thành những cụm pháo cao xạ bảo vệ từng khu vực. Ngày 1 tháng 5 năm 1965, bộ đội tên lửa phòng không ra đời (Trung đoàn 236 – Trung đoàn Sông Đà) và chỉ một tháng sau, lực lượng này phát triển thành hai trung đoàn (thêm Trung đoàn 238). Lớp cán bộ đầu tiên của hai trung đoàn được chọn từ nhiều quân binh chủng, phần đông được thử thách trong thực tế chiến đấu và công tác. Công tác huấn luyện binh chủng kỹ thuật hiện đại của lực lượng phòng không được tiến hành bài bản, hết sức khẩn trương với sự hướng dẫn của chuyên gia Liên Xô. Bộ đội không quân cũng phát triển từ một trung đoàn lên 3 trung đoàn, sử dụng hai loại máy bay chiến đấu MiG 17 và MiG 21. Bộ đội ra-đa phát triển từ 2 trung đoàn lên 4 trung đoàn thuộc Quân chủng PK-KQ[3].

Các lực lượng tác chiến phòng không của quân đội ta vừa ra đời đã bước vào cuộc thử lửa trước không quân hiện đại Mỹ. Ngay từ những trận đầu ra quân, bộ đội không quân xuất kích bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa, đầu tháng 4-1965), bộ đội tên lửa phóng quả đạn đầu tiên từ trận địa Suối Hai (Hà Tây, ngày 24-7-1965) đã giành thắng lợi giòn giã, bắn rơi máy bay hiện đại Mỹ. Thực hiện phương châm vừa huấn luyện, vừa chiến đấu, vừa rút kinh nghiệm, chúng ta đã từng bước phát triển, trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt, nhất là kỹ thuật chiến đấu và khả năng tác chiến hiệp đồng giữa các lực lượng. Bộ đội tên lửa có quá trình bám đánh B-52 trên chiến trường Khu 4. Ngày 17-9-1967, Trung đoàn tên lửa H38 (SAM2) đã bắn hạ một B-52 giữa đất thép Vĩnh Linh (Quảng Trị). Kinh nghiệm chiến đấu được phổ biến và nhân rộng, đặc biệt, xuất hiện những cuốn sách nhỏ (Phương án tháng 9[4], Hội nghị tháng 10[5], Cẩm nang bìa đỏ[6]), những hình thức tuyên truyền phổ biến kinh nghiệm chiến đấu hết sức sinh động (Gánh hát rong[7]). Trải qua quá trình chiến đấu, lực lượng tác chiến phòng không của quân đội phát triển, trưởng thành nhanh chóng, thực sự là nòng cốt cho thế trận phòng không nhân dân. Sự phối hợp, hiệp đồng giữa chiến đấu và bảo đảm chiến đấu giữa các lực lượng ngày càng chặt chẽ, hiệu quả.

Song song với công tác tổ chức và bảo đảm lực lượng chiến đấu, quân đội phối hợp với nhân dân làm tốt công tác phòng không, sơ tán, bảo đảm an toàn về người và vật chất. Đây là công việc rất lớn, đòi hỏi các ngành, các cấp, các lực lượng phải vào cuộc. Nhiều trường học, nhà trẻ, bệnh viện, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp được di dời khỏi trọng điểm đánh phá, được bố trí dưới hầm sâu, địa đạo là những hình ảnh quen thuộc của miền Bắc trong những tháng năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ.

Có thể nói, quá trình tổ chức, xây dựng mọi mặt trong những tháng năm trước đó là bước chuẩn bị kỹ càng để khi bước vào chiến dịch phòng không cuối năm 1972, quân và dân ta đã có được một lực lượng và thế trận chủ động, giáng trả mạnh mẽ lực lượng không quân Mỹ ngay từ giờ phút đầu tiên chúng bay vào ném bom, đánh phá Hà Nội (18-12-1972). Để giành và giữ thế chủ động trong cuộc đối đầu với cuộc tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ, trong công tác tổ chức lực lượng, Quân chủng PK-KQ – lực lượng chủ công được bổ sung và tăng cường một số lượng lớn cán bộ, chiến sĩ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, biên chế trong đội hình của 26 trung đoàn phòng không, 41 tiểu đoàn tên lửa, 4 trung đoàn không quân, 36 đại đội ra-đa. Trên địa bàn thủ đô Hà Nội, lực lượng cơ động của Bộ cùng với lực lượng tại chỗ và các đơn vị, tổ đội DQTV tại khu phố, phường, xã, quận, huyện, nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện… đã phối hợp tổ chức thế trận hiệp đồng chiến đấu nhiều tầng, nhiều lớp, với 30 trận địa tên lửa, 100 trận địa pháo cao xạ, hàng trăm trận địa súng pháo bắn máy bay tầm thấp được đặt trên các nóc nhà, các vị trí xung yếu.

Trong quá trình chiến đấu, với thế trận bố trí khoa học, hợp lý, các lực lượng phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả, vừa tập trung được hỏa lực nhưng đồng thời, vừa có thể đánh địch từ xa đến gần. Theo phân công, bộ đội tên lửa và không quân tập trung đánh tiêu diệt lực lượng không quân chiến lược (B-52) ở tầm bay cao; các lực lượng khác đánh tiêu diệt không quân chiến thuật. Như vậy, ở tầng nào cũng có lực lượng đánh tiêu diệt không quân địch. Lưới lửa của lực lượng ba thứ quân và thế trận phòng không nhân dân “thiên la địa võng” khiến cho không quân Mỹ lúng túng, bị động. Ở đâu, ở tầm bay nào chúng cũng bị bám đánh bằng các loại đạn từ đạn tên lửa của bộ đội chủ lực cho đến đạn súng trường của lực lượng DQTV. Với lực lượng và thế trận hoàn chỉnh, sự phối hợp chiến đấu nhịp nhàng, linh hoạt, hiệu quả, quân và dân thủ đô Hà Nội cùng quân và dân miền Bắc, nòng cốt là Quân chủng PK-KQ đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ, bắn rơi nhiều máy bay hiện đại, trong đó có 34 “pháo đài bay” B-52.

Như vậy là, sức mạnh chiến đấu không phải chỉ ở số lượng và tính hiện đại của vũ khí trang bị, mà điều quan trọng là việc bố trí lực lượng và thế trận, khả năng phối hợp hiệp đồng trong quá trình chiến đấu và bảo đảm chiến đấu. Lực lượng và thế trận của chiến tranh nhân dân trên miền Bắc đã chứng tỏ sức mạnh, hiệu quả trong tác chiến với lực lượng không quân Mỹ, mà đỉnh cao là chiến dịch 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 trên bầu trời thủ đô Hà Nội.

Lực lượng và thế trận của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, trên hết và hơn hết biểu hiện cho ý chí ngoan cường, dũng cảm, trí tuệ và sức sáng tạo của con người Việt Nam, của nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo, thể hiện trong phương châm chiến lược “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn” và thắng địch bằng “Mưu, Kế, Thế, Thời”.

Ba là, về nhân tố con người và khả năng làm chủ vũ khí trang bị, kỹ thuật.

Chúng ta đều biết, Mỹ là cường quốc hàng đầu trên thế giới, với sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật vượt trội. Sức mạnh của Mỹ đã được phô diễn trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng những sư đoàn kỵ binh (máy bay trực thăng), lữ đoàn dù, trung đoàn thiết giáp, “siêu pháo đài bay” B-52… Thế nhưng, mọi kỹ thuật hiện đại của vũ khí, trang bị, phương tiện chiến đấu, cùng với hơn nửa triệu quân Mỹ và tiền của được đổ vào chiến trường Việt Nam đã không mang tới thắng lợi cho Mỹ. Dù đã áp dụng ba chiến lược chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, Việt Nam hóa), sử dụng mọi vũ khí có trong tay (trừ bom hạt nhân), nhưng kết cục Mỹ vẫn không xoay chuyển được tình thế. Con bài cuối cùng trong nỗ lực chiến tranh của Mỹ chính là mở cuộc tập kích ồ ạt bằng không quân vào thủ đô Hà Nội, sử dụng hàng trăm “siêu pháo đài bay” B-52 để uy hiếp và phá hủy tiềm lực của hậu phương miền Bắc, hòng tạo thế mạnh trên bàn Hội nghị Pa-ri… rồi cũng thất bại nốt. Nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, trong các trận đọ sức trên chiến trường, theo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ (1962-1968) Mắc Na-ma-ra là do Mỹ không hiểu con người và nền văn hóa Việt Nam. Thật vậy, con người Việt Nam, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đã thực sự tỏa sáng trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 nói riêng.

Đặc điểm nổi bật của cuộc đối đầu giữa quân và dân ta với không quân Mỹ là tính chất, hàm lượng khoa học kỹ thuật, khả năng làm chủ vũ khí, khí tài. Mỹ đã tung vào cuộc tập kích chiến lược những phương tiện chiến đấu và vũ khí tối tân (B-52, bom điều khiển, máy tạo nhiễu), trong lúc đó, vũ khí quân ta có trong tay chỉ dừng ở mức tương đối hiện đại, đó là máy bay MiG 21, tên lửa SAM 2, pháo phòng không cỡ nòng 100mm, ra-đa P35. Chỉ riêng việc so sánh về tính năng của vũ khí, khí tài đã thấy một sự chênh lệch lớn giữa ta và địch. Thế nhưng, bước vào chiến đấu, những vũ khí bầu trời và mặt đất của quân và dân Việt Nam đã phát huy tác dụng, bám đánh và tiêu diệt nhiều máy bay hiện đại Mỹ, trong đó có B-52. Ở đây, yếu tố trung tâm, quyết định chính là con người. Con người Việt Nam, một thế hệ mới – thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh, được lớn lên, học tập và trưởng thành trong môi trường của chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa, những con người Việt Nam mới ấy được giáo dục, bồi đắp lòng yêu nước, căm thù giặc, được truyền thụ kiến thức toàn diện về tự nhiên, xã hội, có lý tưởng cách mạng, có tinh thần, bản lĩnh sẵn sàng nhận hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc, nhân dân và Đảng giao phó. Vào quân đội, họ trở thành lính bộ binh, lính pháo, xe tăng, tên lửa, ra-đa, phi công… Dù ở binh chủng nào, nhờ có kiến thức, khả năng tìm tòi và óc sáng tạo, họ đã sớm làm quen, thuần thục và thực sự làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật.

Cuộc chiến đấu sinh tử với “giặc trời” Mỹ trong 12 ngày đêm, một lần nữa minh chứng cho khối óc sáng tạo phi thường, trí thông minh và bản lĩnh của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Ra-đa P35 “vạch nhiễu tìm thù”, máy bay tiêm kích MiG bé nhỏ bắn rơi B-52, tên lửa SAM 2 và cả khẩu súng trường bắn rơi “con ma”, “thần sấm”. Con người Việt Nam bằng ý chí học hỏi vươn lên, với lòng dũng cảm, trí thông minh và sức sáng tạo đã làm cho tất cả vũ khí có trong tay đều phát huy tác dụng. Không dừng lại ở kỹ thuật sử dụng đơn thuần mà phát triển thành nghệ thuật phối hợp các loại vũ khí, tạo ra “lưới lửa” phòng không dày đặc, nhiều tầng, nhiều lớp, vòng trong, vòng ngoài, khiến cho đối phương bất ngờ, khiếp đảm và phải chịu trận. Có thể nói, thắng lợi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thực sự là nét tiêu biểu cho phẩm chất mới của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Bốn là, về sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bạn bè quốc tế và của nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Chúng ta luôn luôn ghi nhớ, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn về tinh thần, vật chất, vũ khí, trang bị kỹ thuật của chính phủ và nhân dân các nước, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc. Không chỉ giúp về vật chất, các nước bạn còn giúp đào tạo cán bộ, sĩ quan, nhân viên kỹ thuật, cử chuyên gia hướng dẫn, tham mưu, trực tiếp chiến đấu và chịu đựng gian khổ, hy sinh cùng quân và dân ta. Sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả của bè bạn là những vốn quý để tăng cường sức mạnh của công cuộc kháng chiến, tăng cường tiềm lực quân sự, khả năng và nghệ thuật tác chiến của quân đội. Đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi trong từng trận đánh, từng chiến dịch và toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chúng ta cũng ghi nhận sự ủng hộ to lớn của nhân dân và các lực lượng yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới và cả nhân dân tiến bộ Mỹ đã lên tiếng, xuống đường phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Với truyền thống và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, chúng ta luôn ghi tạc sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình trên tinh thần quốc tế vô sản của Liên Xô, Trung Quốc, các nước anh em và bạn bè thế giới.

40 năm đã qua, trở lại với một sự kiện lịch sử mà tầm vóc, ảnh hưởng và ý nghĩa của nó không chỉ đối với Tổ quốc – dân tộc Việt Nam mà còn vang vọng khắp năm châu bốn biển, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” gợi mở nhiều vấn đề cần nghiên cứu. Chúng ta cần phải tiếp tục tìm tòi, làm sáng tỏ thêm về sự kiện lịch sử này, đúc rút những kinh nghiệm quý, những bài học hay, vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là đội quân mang bản chất nhân dân sâu sắc, luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, gắn bó máu thịt với nhân dân. Trong chiến dịch 12 ngày đêm, quân đội, mà trực tiếp là lực lượng của Quân chủng Phòng không – Không quân đã cùng với quân và dân thủ đô Hà Nội, quân và dân miền Bắc lập nên chiến công vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Kỳ tích của ngày hôm qua là thực tiễn sinh động, tiêu biểu cho ý chí, nghị lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, tiêu biểu cho thắng lợi của đường lối, tư tưởng chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời thể hiện sự kế thừa, phát triển văn hóa giữ nước, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới – thời đại Hồ Chí Minh.

Đại tướng PHÙNG QUANG THANH
Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

———————

[1] Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập II (1954-1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 296.

[2] Hồ Chí Minh: Biên niên sự kiện và tư liệu quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 203.

[3] Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, Tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 223-225.

[4] Là phương án đánh B-52 tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng mà Bộ Tham mưu Quân chủng chuẩn bị, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng duyệt và được cấp trên phê chuẩn vào tháng 9-1972.

[5] Là hội nghị nhằm tổng kết những kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ở các đơn vị, bằng những luận cứ khoa học và trên cơ sở thực tiễn được đúc rút thành lý luận, sự tin tưởng vào bộ đội tên lửa, về khả năng bắn rơi tại chỗ máy bay B-52.

[6] Là cuốn sách hướng dẫn cách đánh B-52, có bìa màu đỏ, do Phòng Tác huấn tên lửa và Phòng Khoa học quân sự biên soạn…

[7] Hình thức phổ biến, truyền đạt kinh nghiệm chiến đấu ngay tại trận địa.

Về nơi siêu pháo đài bay B-52 phơi xác (xem clip)

QĐND Online – Trên thế giới không hiếm các hình thức bảo tàng, nhưng chỉ ở Việt Nam mới có Bảo tàng Chiến thắng B-52. Nằm trên phố Đội Cấn, quận Ba Đình (Hà Nội), bảo tàng là nơi lưu giữ những hiện vật từ cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn của miền Bắc nước ta trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972. Đó là đài ra đa P-35 phát hiện, thông báo sớm B-52 bay vào Hà Nội; là đài điều khiển tên lửa hạ gục chiếc B-52 đầu tiên trên bầu trời Thủ đô; là đống xác của các siêu pháo đài bay B-52 – “Niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ” bị quân, dân miền Bắc quật cổ…cùng nhiều hiện vật khác.

Bộ đội tên lửa đã tiêu diệt 29 máy bay B-52 trong 12 ngày đêm tháng 12-1972.

Hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”, Bảo tàng Chiến thắng B-52 đã tiến hành tu sửa, nâng cấp để phục vụ tốt nhất khách tham quan. Trong những ngày này, Bảo tàng thu hút đông đảo khách du lịch tới tham quan mỗi ngày. Trong đó phần lớn là các cựu chiến binh, thanh niên, học sinh. Khách tham đều có chung cảm xúc tự hào trước chiến công oanh liệt quả quân và dân Hà Nội trong 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972.

Trong những ngày cuối tháng 12 năm 1972, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới lo lắng hướng về Hà Nội- nơi sẽ trở thành “túi bom” hứng chịu các đợt rải thảm bằng B-52 của không quân Mỹ. Và cả thế giới đã kinh ngạc khi biết nhiều “siêu pháo đài bay” B-52 đã bị bắn rơi tại chỗ. Trong những ngày này, nhiều du khách nước ngoài đã tìm đến Bảo tàng Chiến thắng B-52 để được hiểu rõ hơn về chiến thắng của đất nước Việt Nam cách đây đúng 40 năm. Một du khách người Canada cho biết: “Nếu chỉ đọc sách và xem ti-vi sẽ không thể hình dung ra sự hủy diệt và sự tàn khốc của cuộc chiến. Tôi nghĩ người Việt Nam rất mạnh mẽ và có tình cảm chân thành. Thành thật mà nói tôi không hiểu nhiều về những gì đã xảy ra ở đây, nhưng những hiện vật này cho tôi cảm nhận về ý chí của người Việt Nam trong cuộc chiến năm xưa”.

Những mảnh xác máy bay B-52 được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng B-52.

Sử dụng hàng trăm lần chiếc B-52 rải hàng ngàn tấn bom xuống Thủ đô Hà Nội và nhiều vùng lân cận, song đế quốc Mỹ đã thất bại cay đắng. Quân và dân Hà Nội đã làm nên một trận Điện Biên Phủ trên không lừng lẫy.

Hoạt động của Bảng tàng Chiến thắng B-52 trong dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”:

Thực hiện: HOÀNG HÀ-THU HÀ
qdnd.vn

Quân khu 7: Khai mạc triển lãm ảnh “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”

QĐND Online – Sáng ngày 26-12, tại Bảo tàng LLVT miền Đông Nam Bộ, Cục chính trị Quân khu 7 khai mạc triển lãm ảnh 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.Triển lãm gồm 85 bức ảnh in trên 17 pa-nô, 10 tranh cổ động và 3 tranh sơn dầu thể hiện khí thế hào hùng của quân và dân ta trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Đồng thời, các bức ảnh còn thể hiện quá trình củng cố, xây dựng lực lượng của Bộ đội Phòng không – Không quân không ngừng lớn mạnh của quân đội ta.

Đông đảo cán bộ chiến sĩ, học sinh tham quan triển lãm

Dự kiến, triển lãm sẽ trưng bày tới hết ngày 10-1-2013 và sau đó sẽ trình diễn lưu động phục vụ bộ đội và nhân dân các tỉnh trên địa bàn Quân khu 7.

Tin, ảnh: TUYẾT KHOA
qdnd.vn

Trận “Điện Biên Phủ trên không” trong ký ức các cựu chuyên gia Liên Xô (Kỳ cuối)

QĐND – Có mặt tại Việt Nam với nhiệm vụ phó trưởng đoàn chuyên gia phòng không, phụ trách công tác chính trị trong đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, Thiếu tướng A-na-tô-li Pô-dơ-đê-ép (Anatoli Pozdeev) cũng như những đồng nghiệp của mình, không thể quên những năm tháng ở Việt Nam. Sâu nặng hơn, ông “không thể tha thứ” cho những kẻ đã gieo bom đạn lên mảnh đất yêu hòa bình Việt Nam. Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép chia sẻ: “Tôi không bao giờ có thể quên những làng quê bình dị, những khu sinh thái tươi đẹp đã bị bom đạn tàn phá. Không biết bao nhiêu triệu gia đình Việt Nam đã có người thân thiệt mạng, hy sinh trong cuộc chiến. Rồi những em nhỏ vô cùng đáng thương trong cảnh bom đạn, giết chóc ở miền Trung Việt Nam. Tôi là người chứng kiến những điều đó và không bao giờ có thể tha thứ, nhưng không phải là đối với nhân dân Mỹ mà là những thế lực đã điều lính Mỹ tới gây chiến tranh ở Việt Nam…”. Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép tâm sự: “Những người từng chứng kiến các cảnh tượng đó như chúng tôi đã không thể sống bình yên, dù đã 40 năm trôi qua”.

Những kỷ vật liên quan tới Việt Nam được Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép gìn giữ cẩn thận

“Tôi đã hiểu được vì sao Việt Nam thắng lợi khi chứng kiến những cụ già, phụ nữ nghèo khổ ở địa phương nhưng luôn sẵn sàng chắt chiu, dành dụm tất cả cho tiền tuyến. Cũng chính bởi những điều đó mà tôi phải nói lên lời cảm ơn đối với những người dân bình thường Việt Nam, đối với những chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Xin bày tỏ niềm khâm phục đối với nhân dân Việt Nam, những người đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, bảo vệ Tổ quốc mình. Tôi đã gặp Anh hùng phi công Phạm Tuân, người đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ B-52 trên không”. Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép luôn cảm thấy bồi hồi mỗi khi nhắc lại những kỷ niệm mà ông còn nhớ gắn với từng địa danh, từng con người ở mảnh đất hình chữ S. Ông vẫn giữ gìn cẩn thận những bức ảnh, những kỷ vật mang về từ Việt Nam thời ấy và có dịp lại mang ra cho mọi người cùng hồi tưởng…

Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép năm nay đã ngoài 80 tuổi. Ông về hưu đã lâu, nhưng không cho phép mình nghỉ ngơi mà vẫn tiếp tục tham gia công tác trong Hội Hữu nghị Xô-Việt, rồi sau này là Hội Hữu nghị Nga-Việt. Hiện ông là Phó chủ tịch Hội Hữu nghị Nga-Việt và hằng ngày ông vẫn đến văn phòng trụ sở Hội đặt tại Học viện Kinh tế và Pháp luật Mát-xcơ-va. Như ông tâm sự, ông “đến để được sống với một miền ký ức thật sâu đậm và đầy tính nhân văn”.

Những hình ảnh về một dân tộc anh hùng, về một cuộc đấu tranh không cân sức nhưng hết sức ngoan cường của quân và dân thủ đô Hà Nội trong trận “Điện Biên phủ trên không” năm 1972 cũng đã được những cựu chuyên gia Liên Xô ghi lại trong cuốn sách nhan đề “Chiến tranh Việt Nam là thế đó (1965-1973)”, xuất bản vào năm 2005. Dịp đó, mặc dù là kỷ niệm tròn 60 năm chiến thắng phát-xít Đức, nhưng những người cựu binh từng ở Việt Nam lại quyết định phát hành cuốn sách này để “những người trong cuộc” như họ có dịp viết ra, hay in lại những ký ức, những phân tích, đánh giá về một cuộc chiến và cũng là để tỏ lòng ngưỡng mộ về một dân tộc anh hùng. Cuốn sách tập hợp 29 bài viết về những trải nghiệm rất sâu sắc, rất sống động và bổ ích ở Việt Nam của các cựu chuyên gia. Những bài viết với những tựa đề khác nhau đã thể hiện được rất rõ những khía cạnh đáng nhớ của cuộc chiến đầy gian khổ, khốc liệt nhưng cũng rất oai hùng của dân tộc Việt Nam.

Đó là các bài viết “Những hồi ức về cuộc chiến tranh Việt Nam” của Thiếu tướng Bê-lốp; “Khẩu đội chiến đấu của chúng tôi” của Thiếu tướng Ca-na-ép; “Giai đoạn kết thúc của cuộc chiến tranh trên không” của Thượng tướng Khiu-pê-nhen, Chủ tịch Hội đồng Thống nhất Liên hiệp Cựu chiến binh của binh chủng Phòng không; “Đã có bao điều trải qua ở Việt Nam…” của Thiếu tướng Đem-sen-kô; “Thử lửa” của Thiếu tướng Pô-dơ-đê-ép; “300 ngày trên đất nước Việt Nam anh hùng” của Đại tá Sô-dơ-ra-nốp; “Cuộc chiến tranh Việt Nam qua sự đánh giá của người đã tham gia” của Đại tá Cô-na-cốp; “Những năm tháng không thể nào quên” của nữ quân nhân Rô-xli-a-cô-va; v.v.. Vào năm 2007, được sự đồng ý của các tác giả, cuốn sách đã được dịch ra tiếng Việt và năm 2008 đã ra mắt bạn đọc Việt Nam. Đây cũng là một cách thiết thực tỏ lòng tri ân đất nước và nhân dân Liên Xô đã gửi những người con thân yêu của mình sang giúp đỡ nhân dân Việt Nam chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược.

Bài và ảnh: THU THANH (từ LB Nga)

Trận “Điện Biên Phủ trên không” trong ký ức các cựu chuyên gia Liên Xô (Kỳ 1)

Trận “Điện Biên Phủ trên không” trong ký ức các cựu chuyên gia Liên Xô (Kỳ 1)

QĐND – Nhắc tới chiến thắng oanh liệt của trận “Điện Biên Phủ trên không” trong 12 ngày đêm của quân và dân ta không thể không nhắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình của các chuyên gia quân sự Liên Xô trước đây. Vào những năm tháng bom đạn ác liệt ấy, nhờ sự truyền đạt và hướng dẫn tận tình của những người bạn tới từ nước Nga, quân và dân ta đã nhanh chóng làm chủ và sử dụng hiệu quả các vũ khí, khí tài trang bị cho lực lượng phòng không-không quân. Đã có hàng nghìn tướng lĩnh, sĩ quan, binh sĩ và hạ sĩ quan của Liên Xô tới làm việc tại Việt Nam vào thời kỳ ấy. Nay, khi chiến tranh đã lùi xa gần ngót nửa thập kỷ, những cựu chuyên gia này vẫn gặp nhau vào những dịp đặc biệt để cùng ôn lại những năm tháng “biết bao nghĩa tình” cùng sống, làm việc và chiến đấu với quân và dân Việt Nam.

Một cuộc gặp gỡ của các cựu chuyên gia quân sự Liên Xô từng làm việc tại Việt Nam

Các cựu chuyên gia Liên Xô ngày đó giờ đây đang cùng tham gia sinh hoạt tại “Tổ chức Xã hội liên khu vực của các cựu chiến binh tại Việt Nam”. Hằng năm, vào những dịp kỷ niệm chiến thắng lịch sử của quân và dân Việt Nam như ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), Ngày Quốc khánh (2-9) hay Ngày truyền thống của lực lượng không quân, hải quân Việt Nam, họ lại cùng nhau họp mặt. Mỗi lần gặp là họ cùng nhau ôn lại truyền thống hào hùng của nhân dân Việt Nam, đánh giá mối quan hệ hữu nghị hai nước Việt – Nga và cùng nhau thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp này bằng những việc làm thiết thực. Vì vậy, dù nhiều chục năm đã qua đi, ký ức về những năm tháng “không thể nào quên” ấy trong mỗi người dường như vẫn vẹn nguyên. Vào những ngày này, khi Việt Nam đang tưng bừng trong không khí kỷ niệm tròn 40 năm Chiến thắng lịch sử “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, các cựu chuyên gia Liên Xô lại gặp nhau và cùng sống lại những ký ức về chiến thắng lịch sử, vang dội thuở nào.

Tất cả họ không thể nào quên những hình ảnh tang thương ở Việt Nam khi Mỹ tiến hành chiến dịch bắn phá miền Bắc, với nhà cửa bị tàn phá, người dân vô tội bị giết hại. Tình hình lúc ấy hết sức cam go cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Và điều để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong mỗi người chính là ý chí bất khuất và tinh thần chiến đấu quả cảm của một dân tộc có truyền thống yêu nước, đã góp phần đem tới chiến thắng lẫy lừng của trận “Điện Biên Phủ trên không”.

Thượng tướng A-na-tô-li Khiu-pê-nhen là người giữ cương vị Trưởng Đoàn cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam giai đoạn cuối cùng và trong thời gian lâu nhất (12-1972/1-1975). Trước ông lần lượt có 5 vị tướng đã đảm nhiệm cương vị này từ năm 1965, khi không quân Mỹ bắt đầu tăng cường ném bom miền Bắc Việt Nam. Ông Khiu-pê-nhen nhận định: “Rất đúng khi gọi sự kiện tháng 12-1972 là trận Điện Biên Phủ trên không của Việt Nam. Mà Điện Biên Phủ của Việt Nam cũng giống như trận Xta-lin-grát của Liên Xô… Điện Biên Phủ của Việt Nam đã kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Điện Biên Phủ trên không đã buộc Đế quốc Mỹ phải rút hết về nước. Khi đó, cuộc đàm phán giữa Mỹ và Việt Nam ở Pa-ri về chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam đang hết sức căng thẳng. Phía Mỹ đã đưa ra những điều kiện mà Việt Nam không thể chấp nhận… Và thế là những trận dội bom xuống Hà Nội đã diễn ra với mưu đồ hủy diệt một đất nước, khuất phục một dân tộc. Nhưng chúng đã không thể đạt được mưu đồ. Bằng truyền thống lịch sử đánh thắng nhiều giặc ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã tiếp tục giành thắng lợi”.

Với ông Phi-líp-pốp (Philippov), một chuyên gia phòng không dày dạn kinh nghiệm đã cùng các chiến sĩ Việt Nam chiến đấu ở khu 4 thời kỳ 12 ngày đêm năm 1972, hình ảnh những người lính Cụ Hồ, những người dân Việt Nam trong chiến đấu đã để lại rất nhiều ấn tượng và sự cảm phục. Ông luôn nhắc đi nhắc lại câu “cảm ơn nhân dân Việt Nam” bởi chính thời gian có mặt ở Việt Nam đã cho ông nhiều trải nghiệm bổ ích. Ông kể: “Vào thời điểm khi tôi sang Việt Nam, các đồng chí Việt Nam đã nắm khá tốt các kỹ thuật quân sự. Trước một cuộc tấn công bằng đường không, các chiến sĩ quân đội Việt Nam luôn sẵn sàng trong tư thế giáng trả… Nhờ các đồng chí Việt Nam, chúng tôi đã rút ra được những kinh nghiệm về việc sử dụng các loại vũ khí để chống lại các phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ. Chính vì thế, chúng tôi cũng phải nói “cảm ơn các bạn Việt Nam”.

Ký ức về những ngày tháng chiến đấu anh dũng của quân và dân Việt Nam dưới bầu trời Hà Nội cũng in đậm trong tâm trí bác sĩ quân y Vích-to Ma-nhi-tren-cô (Victor Marnhitrenko). Ông kể: “Tôi vẫn nhớ rất rõ mọi chuyện trong những năm tháng ở Việt Nam. Ấn tượng sâu đậm về Việt Nam sẽ còn theo tôi đến hết cuộc đời. Đó là những hồi còi và hiệu lệnh báo động, rồi máy bay Mỹ liên tục giội bom… Tôi vẫn thường kể cho các đồng chí của mình về những ký ức của cuộc chiến tranh mà tôi đã có dịp chứng kiến. Nhân dân Việt Nam thật ngoan cường, họ đã chịu đựng không biết bao nhiêu hy sinh, gian lao, vất vả. Tôi tin thế hệ trẻ Việt Nam sau này lớn lên đều sẽ hiểu và trân trọng những hy sinh của những thế hệ cha ông đi trước”.

Bài và ảnh: THU THANH
(từ LB Nga)
qdnd.vn

Không chiến dũng mãnh, hạ cánh tuyệt vời

Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa (*)

QĐND – Tháng 12-1972, trước khí phách quật cường của quân và dân ta, đế quốc Mỹ phải sử dụng đến ván bài cuối cùng là dùng máy bay chiến lược B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng. B-52 là loại phương tiện tác chiến không quân tối tân, hiện đại nhất của Mỹ lúc bấy giờ, được mệnh danh là “siêu pháo đài bay”, có thể mang từ 18 đến 30 tấn bom. Với đội hình 3 chiếc, B-52 trở thành những giàn pháo đài bay có sức tàn phá khủng khiếp.

Phi đội trưởng Nguyễn Văn Nghĩa sau chiến công ngày 23-12-1972. Ảnh do nhân vật cung cấp

Ngày 23-12-1972, tôi được lệnh xuất kích chiến đấu cùng phi công Lê Văn Kiền. Trận không chiến diễn ra tại vùng trời phía Bắc của tỉnh Thanh Hóa. Với ý đồ tiêu diệt lực lượng không quân ta, hôm đó, không quân Mỹ có 24 máy bay F4 (chia làm 6 tốp), ta vẫn sử dụng biên đội 2 chiếc MiG-21. Trước đó, ngày 22-12, nhân dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, biên đội của các anh Nguyễn Đức Soát và Nguyễn Thanh Quý đánh một trận không thành công, nhưng may mắn Nguyễn Thanh Quý nhảy dù an toàn. Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Nhị giao nhiệm vụ trực tiếp cho tôi tham gia đánh trận ngày hôm sau (thời gian này, tôi đã được điều động sang Đại đội 11 để bay huấn luyện cho phi công trẻ mới về nước). 14 giờ ngày 23-12-1972, biên đội được lệnh vào cấp 1 và ngay lập tức nhận được lệnh “Ấp Bắc – Cờ Hồng” (mật mã mở máy – cất cánh). Chúng tôi tăng lực lấy độ cao ngay lên 8000m, hướng bay 200, sau đó 290, tốc độ 1.200km/h. Tôi hiểu tình huống rất khẩn cấp, trận chiến sẽ phức tạp vì ý đồ của Không quân Mỹ đã rõ ràng. Quả đúng như vậy, biên đội được thông báo “Quạ đen 6 tốp, bên phải 45 độ, cự ly 25km, độ cao 6000m”. Tôi nhắc số 2 giữ cự ly, bám chặt biên đội và chú ý quan sát. Trong chốc lát, tôi phát hiện bên phải có một tốp 4 chiếc F4, cự ly khoảng 20km, cùng lúc số 2 hô “ Bên trái 4 chiếc”. Tôi hiểu lực lượng địch đông gấp nhiều lần ta; phải đánh ra sao đây? Tôi quyết định chọn hướng đánh thẳng vào tốp bên phải và ra lệnh “Số 2 tấn công tốp bên trái!”. Trong tình thế gay go, địch vòng trong, vòng ngoài, chúng tôi vừa tránh đạn vừa lừa thế đánh, chọn một tình thế thật chắc chắn mới phóng tên lửa. Người bắt đầu vã mồ hôi, mặt phù lên vì liên tục phải chịu tải gia trọng lớn; máy bay có lúc bị chấn động bởi tên lửa đối phương. Tưởng chừng đã bất lực, nhưng liền sau đó tiếng chỉ huy của anh Nguyễn Hồng Nhị vang lên trong máy: “Kiên quyết tấn công. Đánh nhanh, rút nhanh”. Đó cũng là lúc tôi chiếm lĩnh được vị trí tấn công có lợi nhất. Đưa một chiếc F4 vào vòng ngắm, chớp thời cơ, tôi ấn nút phóng tên lửa. Máy bay “con ma” bốc cháy. Số 2 của tôi reo vang trong máy. “Cháy rồi !”. Tôi kéo máy bay lên cao và lật úp máy bay lại, phát hiện phía dưới, bên trái một chiếc F4 đang vòng phải, tôi nhanh chóng để tăng lực vòng gấp chiếm bán cầu phía sau chiếc F4, chỉnh điểm ngắm và phóng quả tên lửa còn lại ở cự ly 1000m, rồi giật mạnh cần lái để thoát ly gấp, không kịp quan sát điểm nổ. Liền sau đó, tôi gọi số 2 và nghe Lê Văn Kiền trả lời “Nghe tốt!”. Tôi vui mừng khôn xiết vì số 2 của tôi vẫn an toàn.

Tôi lệnh cho số 2 thoát ly về sân bay Đa Phúc. Gần về đến sân bay Đa Phúc thì được thông báo tất cả các sân bay đều bị máy bay Mỹ phong tỏa và đánh phá đường băng. Lượng dầu của máy bay cạn dần. Sở chỉ huy ra lệnh cho chúng tôi bay về khu vực Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc, giữ độ cao 4000m để nhảy dù, bảo toàn tính mạng, nhưng tôi quyết định không nhảy dù và điều khiển máy bay bay về sân bay Đa Phúc, quyết tâm phải hạ cánh bằng được, cho dù phải hạ ở đường lăn, hoặc kéo dắt máy bay đi sơ tán. Tôi nghĩ lực lượng phi công của ta còn ít, nếu tôi nhảy dù, ít nhất phải 3 đến 4 tháng sau mới bay lại được. Hạ cánh, cho dù máy bay bị hỏng, tôi vẫn có thể lên máy bay khác tiếp tục chiến đấu. Với suy nghĩ đó, tôi quyết định phải hạ cánh bằng bất cứ giá nào. Và tôi đã hạ cánh thành công xuống đường lăn sân bay trong trạng thái đất đá văng tứ tung do bom đạn từ máy bay Mỹ đánh phá đường băng trước đó. Khi tiếp đất xuống đường lăn, nhiều máy bay Mỹ vẫn tiếp tục khống chế, chúng dùng súng Miligan 20mm bắn vào máy bay của tôi, nhưng rất may là tôi vẫn đưa máy bay vào ụ sơ tán an toàn.

Chiếc máy bay F4 tôi bắn rơi ngày 23-12-1972 là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” bị Không quân ta bắn hạ. Với những thành tích trong chiến đấu, tôi đã được tặng thưởng 6 Huy hiệu của Bác Hồ, 6 Huân chương Chiến công các loại.

PHAN TÙNG SƠN (ghi)
qdnd.vn

————————————–

(*) Anh hùng LLVT nhân dân, nguyên Phi đội trưởng tiêm kích MiG 21; nguyên Phó sư đoàn trưởng Chính trị Sư đoàn không quân 370; nguyên Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam.

Hội nghị “quyết thắng B52”

Trước thềm kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, với mong muốn được hiểu sâu hơn về chiến công thầm lặng của bộ đội ra-đa, chúng tôi đã tìm gặp Đại tá Trần Liên – nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Binh chủng Ra-đa, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 291 – tại nhà riêng của ông trên phố Nguyễn Ngọc Vũ, Hà Nội.

Đại tá Trần Liên nhớ lại: “Tháng 11-1972, theo Nghị quyết của Đảng ủy Binh chủng Ra-đa, các trung đoàn đồng loạt mở hội nghị tập trung thảo luận, xây dựng quyết tâm chống nhiễu nhằm phát hiện chính xác máy bay B-52 trên màn hiện sóng, anh em thường gọi đấy là các “hội nghị quyết thắng B52” nhằm quyết tâm đánh thắng ngay từ trận đầu, ngày đầu, không để bị bất ngờ, nhất là khi địch sử dụng B-52 đánh vào Hà Nội”.

Hồi đó, Trung đoàn ra đa 291 làm nhiệm vụ cơ động ở chiến trường Khu 4. Thể hiện quyết tâm này, lãnh đạo, chỉ huy Trung đoàn đã trực tiếp xuống kiểm tra, đôn đốc đơn vị chuẩn bị chiến đấu, lên máy cùng đài trưởng và trắc thủ theo dõi cường độ nhiễu, xử trí phát hiện tín hiệu B52 để tìm ra quy luật hoạt động của chúng. Tinh thần quyết thắng B-52 còn thể hiện bằng những hành động chiến đấu dũng cảm, bám máy, bám trận địa ngay cả khi B-52 rải thảm gần Đại đội 45 đóng ở Đồi Si (Nghệ An). Quyết tâm “vạch nhiễu tìm thù”, các chiến sĩ ra-đa đã phát huy mọi tính năng kỹ chiến thuật của đài mình, lập phương án chống tên lửa tự dẫn, đưa đơn vị trinh sát về phía trước và điều chỉnh lại đội hình ra đa; thực hiện chiến thuật “lấy xa bù gần, hai bên sườn bổ trợ chính diện” để bao vây phát hiện địch từ nhiều phía trong đội hình nhiễu dày đặc.

Đại tá Trần Liên.

Tuy nhiên, để phát hiện được B-52 trong điều kiện đơn vị cơ động và địch tăng cường đánh phá ác liệt, Trung đoàn 291 vừa phải đào hầm, lắp bạt, vừa sẵn sàng chiến đấu cao. Đêm 22-11-1972, hai tiểu đoàn hỏa lực của Trung đoàn tên lửa 263 bố trí ở Nghệ An được Đại đội ra-đa 45 cung cấp phân tử nhìn vòng đã bắn rơi 2 chiếc B-52. Thành tích này đã kịp thời động viên tinh thần cảnh giác bám máy, bám đài của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 291.

Ngày 15-12-1972, Binh chủng Ra-đa được giao nhiệm vụ phát hiện địch từ xa phục vụ cho các binh chủng hỏa lực bắn rơi tại chỗ máy bay địch. Toàn Binh chủng chuyển vào chiến đấu cấp I. Ngày 18-12-1972, cường độ hoạt động của máy bay địch trên địa bàn Khu 4 bỗng giảm đi đột ngột. Các đơn vị Ra-đa nhận lệnh phải tổ chức trực ban chặt chẽ, có kế hoạch mở máy tăng cường kịp thời để đề phòng máy bay B-52. 18 giờ 15 phút, nhận được tin báo các đài ra-đa đang mở máy đều bị nhiễu tích cực và cường độ tăng rất nhanh, Binh chủng lệnh cho các trung đoàn tăng cường trắc thủ giỏi, phiên ban giỏi vào vị trí chiến đấu, thủ trưởng các trung đoàn phải trực tiếp có mặt ở sở chỉ huy. 19 giờ 10 phút, Đại đội 16 và Đại đội 45 bố trí ở Nghệ An đã phát hiện được nhiễu và các tốp B-52 từ Thái Lan bay vào vùng trời miền Bắc. Lập tức Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân ra lệnh cho các lực lượng hỏa lực chuẩn bị đánh B-52, bảo vệ Hà Nội. 19 giờ 20 phút, 2 chiếc Mig -21 cất cánh từ sân bay Hòa Lạc. Tuy không hạ gục được B-52 nhưng sự xuất hiện của những chiếc Mig can trường đã làm đội hình máy bay địch rối loạn, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội phòng không diệt địch.

19 giờ 44 phút, Tiểu đoàn 78, Trung đoàn 257 đã phóng quả đạn đầu tiên vào tốp máy bay B-52. Tiếp đó, Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 261 đã phóng 2 quả đạn tên lửa vào tốp B-52 đang bay từ Tam Đảo vào đánh Đông Anh, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc B-52 đầu tiên trong chiến dịch 12 ngày đêm.

“Khẳng định B-52 đánh vào Hà Nội, thông báo sớm để các đơn vị chủ động tiêu diệt địch, công đầu thuộc về kíp chiến đấu của Đại đội ra đa 45, Trung đoàn 291 bởi chúng tôi đã có kinh nghiệm phát hiện B-52 hoạt động ở phía nam Khu 4 từ năm 1969, đã từng tham gia dẫn đường cho máy bay ta bắn trúng B-52 trong trận 20-11-1971, đồng thời trực tiếp bảo đảm ra-đa cho Trung đoàn Tên lửa 236 bắn rơi B-52 trong trận ngày 22-11-1972. Từ kinh nghiệm chống nhiễu phát hiện B-52 đánh khu vực Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng, Đại đội trưởng Đinh Hữu Thuần, Đài trưởng Nghiêm Đình Tích cùng các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích đã nhanh chóng phát hiện và thao tác quy trình chống nhiễu B-52 một cách chuẩn xác. Những đêm tiếp theo của chiến dịch, dẫu phải thức thâu đêm chúng tôi vẫn luôn tỉnh táo, bám sát màn hiện sóng, lọc trong những dải nhiễu vô cùng dầy đặc của địch để nhận diện được 151/165 lần tốp B-52”, Đại tá Trần Liên kể lại, giọng hào hứng.

Bài và ảnh: QUỲNH VÂN
qdnd.vn

Cẩm nang bìa đỏ – “bảo bối” diệt B-52 của bộ đội PK-KQ

QĐND Online – Trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, 34 máy bay B-52 của Mỹ đã bị quân, dân miền Bắc bắn hạ. Để có được kỳ tích ấy, Bộ đội PK-KQ có một “bảo bối”, cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” dạy cách đánh B-52…

Gặp Trung tướng Vũ Xuân Vinh, nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng PK-KQ, người trực tiếp tổ chức chỉ đạo biên soạn cuốn sách và đưa các cán bộ huấn luyện cách đánh B-52 xuống từng tiểu đoàn tên lửa phòng không tập huấn cách đánh B-52 cho bộ đội, tôi hiểu thêm nhiều điều về cuốn “Cẩm nang bìa đỏ”.

Trung tướng Vũ Xuân Vinh.

Nhận định sớm muộn, Mỹ sẽ sử dụng B-52 đánh ra Hà Nội, nên Bộ Quốc phòng đã sớm chỉ đạo Quân chủng PK-KQ nghiên cứu cách đánh B-52. Theo đó, năm 1966 một bộ phận cán bộ PK-KQ đã cơ động vào Khu IV để tìm hiểu quy luật hoạt động, từ đó xác định cách đánh B-52. Trải qua nhiều trận đánh ác liệt, kinh nghiệm đánh B-52 dần hình thành. Nhằm tổng hợp và phổ biến cách đánh B-52 đến toàn lực lượng PK-KQ, yêu cầu đặt ra là phải xuất bản một cuốn tài liệu dạy cách tiêu diệt “pháo đài bay”. Theo chỉ thị của cấp trên, đồng chí Lê Văn Tri, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ giao nhiệm vụ cho Bộ Tham mưu Quân chủng: “Phải tổ chức một bộ phận nghiên cứu, biên soạn tài liệu đánh B-52 càng sớm càng tốt”. Lúc đó, đồng chí Vũ Xuân Vinh (sau này là Trung tướng) đang là Phó tham mưu trưởng phụ trách về nghiên cứu và huấn luyện tên lửa phòng không. Ông tâm sự: “Quả thực, tôi rất lo lắng vì B-52 là một trong ba phương tiện tấn công chiến lược của Mỹ. Theo lệnh của đồng chí Lê Văn Tri, tôi tổ chức một bộ phận nghiên cứu gồm những cán bộ đầu ngành của Bộ Tham mưu Quân chủng và tranh thủ ý kiến của đoàn chuyên gia Liên Xô sang giúp Việt Nam cũng như ý kiến của các nhà khoa học của Viện Khoa học Kỹ thuật Quân sự Bộ Quốc Phòng, của Cục tác chiến, Tổng Cục II…Những ai có thể tranh thủ ý kiến và có trình độ chúng tôi đều mời đến tham gia biên soạn cuốn sách”

Ngoài những tài liệu quý tổng kết từ thực tiễn các trận đánh B-52 của bộ đội ta, cuốn sách còn dựa vào tài liệu của Bộ Quốc phòng, tài liệu của đoàn chuyên gia Liên Xô và đặc biệt là tài liệu thu được của địch, tài liệu khai thác được từ tù binh Mỹ. Bên cạnh đó, tài liệu nghiên cứu các thiết bị điện tử từ máy bay địch bị ta bắn rơi cũng đóng góp không nhỏ trong quá trình biên soạn cuốn sách. Những tài liệu này vừa mang tính khoa học, vừa mang tính thực tiễn cao. Đây là sự tổng kết những công trình nghiên cứu và kinh nghiệm xương máu về cách đánh B-52 của cả tập thể, những người còn sống và cả những người đã hy sinh.

Trong quá trình biên soạn cuốn sách, ban biên soạn đã gặp không ít khó khăn. Những ngày đầu ban biên soạn còn vô cùng bỡ ngỡ. Nhưng chính sự bỡ ngỡ ấy đã trở thành động lực để mọi người đi sâu và đam mê tìm tòi, nghiên cứu, từ đó phát huy cao độ tính sáng tạo của mình. Dưới sự quan tâm sát sao và tạo điều kiện của cấp trên, ban biên soạn đã làm việc không kể ngày đêm để cho ra đời cuốn sách. Trong quá trình biên soạn, nhiều ý kiến trái chiều; nhiều cuộc hội thảo “nảy lửa” đã diễn ra. Nhưng cuối cùng, bằng tinh thần đoàn kết và quyết tâm cao độ, cả tập thể đã tìm ra những phương pháp tối ưu nhất.

“Bắt tay vào công việc từ tháng 4-1972, đến tháng 10-1972 thì cuốn sách được chính thức thông qua tại “Hội nghị Diên Hồng” của Quân chủng PK-KQ. Nhưng phải đến chiến thắng đêm cuối tháng 11-1972 của Tiểu đoàn 43 và Tiểu đoàn 44 (Trung đoàn 263) bắn rơi hai máy bay B-52 của Mỹ thì cuốn sách mới được Đại tướng Võ Nguyên Giáp phê chuẩn. Chiến thắng đó là câu trả lời thuyết phục nhất về hiệu quả thực tiễn của cuốn sách. Đây cũng là lần đầu tiên Mỹ phải công nhận Việt Nam bắn rơi “siêu pháo đài bay” B-52. Cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” được nhiều người coi như “bảo bối” của bộ đội PK-KQ để diệt B-52”. Trung tướng Vũ Xuân Vinh kể lại.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi cuốn sách “Cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa” là cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” và coi nó như một trong những nhân tố góp phần làm nên Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Đây là cuốn sách được đúc kết từ xương máu của bộ đội trong những trận đánh ác liệt; là nhiệt huyết của tập thể những nhà khoa học, của cán bộ, chiến sĩ và cả sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Cho đến bây giờ, cuốn sách vẫn mang những ý nghĩa lớn cả về giá trị lịch sử và giá trị thực tiễn.

Bài, ảnh: NGUYỄN HƯƠNG BƯỞI
qdnd.vn

Đường đến phương pháp “Vượt nửa góc”

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257, Sư đoàn Phòng không 361 đã mưu trí, dũng cảm bắn rơi tại chỗ chiếc B-52 thứ 2 và cũng là chiếc đầu tiên bắn bằng phương pháp “vượt nửa góc” Phóng viên Báo Quân đội nhân dân vừa phỏng vấn ông Đinh Thế Văn, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 – người trực tiếp chỉ huy trận đánh. Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn.

Kíp chiến đấu bắn rơi B-52 đầu tiên bằng phương pháp “vượt nửa góc”‘, từ phải sang: Đỗ Đình Tân (Trắc thủ phương vị); Đinh Thế Văn (Tiểu đoàn trưởng); Nguyễn Văn Đức (Sĩ quan điều khiển); Lưu Văn Mộc (Trắc thủ góc tà); Phạm Hồng Hà (trắc thủ cự ly). Ảnh do đồng chí Đinh Thế Văn cung cấp

Phóng viên (PV): Tiểu đoàn ông chủ động hay tình cờ bắn rơi chiếc máy bay B-52 thứ hai, nhưng là chiếc đầu tiên theo phương pháp “vượt nửa góc”?

Ông Đinh Thế Văn: Chủ động chứ. Chiếc máy bay đó rơi tại chỗ ở xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây vào lúc 4 giờ 39 phút ngày 19-12. Để bắn được B-52 bằng phương pháp “vượt nửa góc” tiểu đoàn chúng tôi không những phải vượt qua những ngày học tập, nghiên cứu, huấn luyện ứng dụng cực kỳ gian khổ, mà còn có cả xương máu của đồng đội trong gần 7 năm Quân chủng PK-KQ tìm cách đánh để đối đầu với B-52.

PV: Ông giải thích tính ưu việt của phương pháp“vượt nửa góc” với phương pháp “3 điểm” mà Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 261, Sư đoàn Phòng không 361 đã ứng dụng bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vào đêm hôm trước?

Ông Đinh Thế Văn: Khi còn bám mục tiêu (B-52) thì giữa quả tên lửa của ta và mục tiêu là một góc. Đến điểm góc bằng không là tên lửa đã bắn được B-52. “Vượt nửa góc” nghĩa là quả tên lửa của ta điều khiển lên sao cho phải luôn luôn đón trước nửa góc với mục tiêu. Khi đến điểm bằng không là tên lửa tự động bắn mục tiêu. Như vậy cách đánh này xác suất đạt cao, vừa tiết kiệm đạn, vừa bắn rơi được B-52 tại chỗ.

PV: Còn phương pháp bắn “3 điểm”?

Ông Đinh Thế Văn: Ba điểm là ấn nút bắn mục tiêu, khi đài ra-đa, tên lửa và mục tiêu (nhiễu máy bay B-52) trên một đường thẳng. Cách đánh này không phát sóng “vạch nhiễu tìm B-52” tránh được tên lửa (sơ-rai) của địch bắn trở lại trận địa, nhưng không phát huy được tên lửa bắn tự động và thường phải bắn một lúc nhiều tên lửa.

PV: Cái khó của phương pháp “vượt nửa góc” là gì?

Ông Đinh Thế Văn: Để bắn B-52 bằng phương pháp “vượt nửa góc” đòi hỏi lòng dũng cảm, trí thông minh và bản lĩnh của cả kíp chiến đấu rất cao. Trước hết là không sợ địch, dũng cảm mở máy ra-đa liên tục để lùng sục, vạch trong dải nhiễu tìm đúng vị trí B-52. Nếu xử trí không nhanh, cắt sóng không kịp sẽ bị sơ-rai của địch bắn phóng vào trận địa. Nghĩa là toàn kíp chiến đấu gồm tiểu đoàn trưởng, sĩ quan điều khiển, 3 trắc thủ phải hiệp đồng chặt chẽ, phải nhuần nhuyễn trong thao tác để sao cho trong vòng 60 giây đã hoàn thành một trận đánh.

PV: Phương pháp “vượt nửa góc” sau trận đánh thành công của Tiểu đoàn có được ứng dụng rộng rãi trong chiến dịch không?

Ông Đinh Thế Văn: Ngay sau thắng lợi của Tiểu đoàn 77, các tiểu đoàn khác đã ứng dụng phương pháp “vượt nửa góc” bắn rơi nhiều B-52.

PV: Xin cảm ơn ông!

HUY THIÊM (thực hiện)
qdnd.vn

“Kỳ tích” dẫn đường

QĐND – Đại tá Nguyễn Văn Chuyên, nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, quê ở Bình Định. Ông nhập ngũ năm 1949, được đào tạo về kỹ thuật hàng không tại Trung Quốc và Liên Xô (trước đây). Về nước, từ năm 1965 đến 1972, ông đã dẫn đường cho máy bay tiêm kích chiến đấu 110 trận, góp phần bắn rơi hàng chục máy bay của Mỹ. Nay ông nghỉ hưu tại phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội. Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, Đại tá Nguyễn Văn Chuyên đã tâm sự với chúng tôi về những kỷ niệm xưa.

Bí mật, bất ngờ

“Tôi dẫn đường hiện sóng ra-đa được 4 tháng thì Bộ tư lệnh Quân chủng điều về làm Trợ lý Dẫn đường tại Sở chỉ huy ở Sân bay Bạch Mai (K18). Trận dẫn đường đầu tiên của tôi vào ngày 20-9-1965. Tin tình báo cho biết, máy bay địch đánh phá sân bay Kép (huyện Lạng Giang, Bắc Giang). Ban đầu có ý kiến là biên đội 4 máy bay MiG-17 gồm: Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Nhật Chiêu, Nguyễn Ngọc Độ và đồng chí Trì cất cánh từ Sân bay Nội Bài, qua Hiệp Hòa và Yên Thế rồi tiến công máy bay địch ở Lạng Giang. Tôi đề nghị đường bay trực diện ấy đúng hướng địch cảnh giới, nên để tạo yếu tố bất ngờ thì bay từ Nội Bài lên Bắc Kạn, vòng về Thái Nguyên, sang phía nam Lạng Sơn rồi đánh xuống Lạng Giang. Sở chỉ huy đồng ý, địch có 4 chiếc F-4, ta có 4 MiG-17, địch vượt trội ta về tốc độ. Nhưng nhờ có yếu tố bất ngờ, anh Nguyễn Nhật Chiêu đã bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-4, 3 chiếc F-4 còn lại bỏ chạy ra biển liền bị 3 chiếc MiG-17 của ta đuổi theo bắn bị thương 2 chiếc nữa. Đây là trận đầu tiên MiG-17 (không quân Mỹ coi là cổ lỗ sĩ) đã bắn rơi F-4 của Mỹ.

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên.

Đón đầu bán cầu trước

Năm 1966, Mỹ cho máy bay F-105 mang bom ra đánh phá miền Bắc và thường xuyên có máy bay tiêm kích yểm hộ. Khi ta phát hiện thì MiG-17 không đuổi kịp vì tốc độ lớn nhất của F-105 đạt 1.800km/giờ (gấp 1,5 lần MiG-17). Trước khó khăn đó, tôi đề xuất phương pháp dẫn đường mới là dẫn MiG-17 tiếp cận F-105 ở bán cầu trước với góc vào 120 độ. Phương pháp này khi học ở nước ngoài bạn không cho phép, mà chỉ được tiếp cận máy bay địch ở bán cầu sau. Lúc ấy có đồng nghiệp của tôi cũng không đồng ý vì tiếp cận bán cầu trước dễ bị ra-đa của địch phát hiện. Tôi đã chứng minh ra-đa trên máy bay F-105 có góc độ phát hiện mục tiêu 60 độ và cự ly 60km về phía trước, phương pháp dẫn đường của tôi nằm ngoài cánh sóng ra-đa. Ngày 12-8-1967, tại Sở chỉ huy Trung đoàn 923 (Gia Lâm) tôi dẫn đường cho biên đội MiG-17 gồm các đồng chí: Tào, Hùng, Xuân và Vân bay lên gặp một tốp 16 chiếc F-105 mang bom. Với góc tiếp cận 120 độ, đón đầu ở bán cầu trước, biên đội đã bắn rơi 1 chiếc F-105, rồi trở về sân bay an toàn, 15 chiếc F-105 còn lại vội vứt bom bừa bãi quay ra, không vào được mục tiêu. Sau trận này phương pháp dẫn đường của tôi được quân chủng cho phổ biến rộng rãi.

Chọn đoạn bay bằng, tiếp cận khi bay vòng

Năm 1966, không quân ta có 3 lần cất cánh đánh máy bay gây nhiễu điện tử RB-66, nhưng không thành công và lần thứ ba một chiếc MiG-21 của ta bị F-4 đi yểm trợ bắn rơi. Do đó Tư lệnh Quân chủng quyết định không dùng không quân đánh máy bay RB-66.

Sang năm 1967, đế quốc Mỹ cho RB-66 vào gần Hà Nội hơn để gây nhiễu. Đặc biệt trong tháng 10 và 11-1967, máy bay RB-66 gây nhiễu rất nặng, ảnh hưởng không nhỏ đến sức chiến đấu của bộ đội tên lửa và pháo phòng không của ta. Trước tình hình đó, Tư lệnh Quân chủng Nguyễn Văn Tiên giao cho tôi nghiên cứu phương án dẫn đường cho MiG-21 đánh máy bay gây nhiễu RB-66, trong điều kiện có F-4 yểm hộ trực tiếp và yểm hộ khu vực. Sau một tuần chuẩn bị, phương án đề xuất của tôi có 3 điểm đổi mới:

Thứ nhất: Giữ bí mật giai đoạn đầu để địch không kịp đối phó. Muốn vậy phải bay thấp tránh ra-đa đối phương ở ngoài biển phát hiện và không bay gần khu vực có tiêm kích địch làm nhiệm vụ yểm trợ.

Thứ hai: Kéo F-4 ra xa RB-66 khi ta tiếp cận. Thời điểm này chỉ xảy ra khi RB-66 bay vòng.

Thứ ba: Tính toán thật chính xác thời cơ cất cánh của ta chỉ được sai số dưới 30 giây.

Cái khó của phương pháp này là phải tìm ra đoạn bay bằng để gây nhiễu của RB-66. Quân báo cho biết, đoạn bay bằng của RB-66 từ 80 đến 85km (lệch 10km). Tôi xem và đo đạc hơn 100 sơ đồ bay của RB-66 hoạt động thì thấy đoạn bay bằng của RB-66 là 82km. Từ đó tôi tính ra thời cơ cất cánh của MiG-21. Tiếp cận máy bay địch khi đang bay vòng cũng rất khó, không quân thế giới chưa nước nào làm. Mỹ cũng xác định như vậy nên chỉ cho F-4 yểm trợ ngăn chặn máy bay ta khi RB-66 bay thẳng, bay bằng.

Bằng phương pháp chọn đoạn địch bay bằng để ta cất cánh, lợi dụng địch bay vòng để ta tiếp cận, sáng ngày 19-11-1967, tổ dẫn đường có tôi cùng hai đồng chí Hưng và Hùng ở Trung đoàn Không quân 921 dẫn biên đội MiG-21 do hai đồng chí Đĩnh và Kính lái đã bắn rơi 1 chiếc RB-66 đầu tiên ở khu vực Vụ Bản. Ngay chiều hôm ấy, máy bay địch đã phải lùi ra xa, cách Hà Nội từ 200 đến 250km. Cường độ nhiễu giảm, tên lửa và pháo phòng không ta hoạt động bình thường như trước.

Dẫn đường với góc tiếp cận lớn

Năm 1969, sau khi tuyên bố ngừng ném bom vô điều kiện miền Bắc Việt Nam, Mỹ tăng cường trinh sát bằng máy bay không người lái vào Hà Nội, Hải Phòng. Máy bay không người lái bay ở độ cao 300m bị ta bắn rơi một chiếc. Mỹ liền thay đổi thủ đoạn là dùng C-130 phóng máy bay không người lái từ biển vào cửa Ba Lạt (Thái Bình) tới Hà Nội, Hải Phòng ở độ cao 200m, có khi chỉ 150m. Sự thay đổi này khiến các trạm ra-đa cảnh giới của ta rất khó phát hiện, không quân, tên lửa và pháo cao xạ cũng gặp khó khăn khi đón đánh. Đang làm nhiệm vụ tìm cách dẫn đường đánh B-52 tại Sở chỉ huy B3 (Nghệ An) thì tôi được gọi ra Hà Nội để nghiên cứu cách đánh máy bay không người lái bay cực thấp (bay ở độ cao dưới 200m). Sau hội nghị quân sự dân chủ của quân chủng, tôi suy nghĩ rất nhiều về các ý kiến tham gia rồi đề nghị: Phải sử dụng ra-đa dẫn đường phát hiện thấp thì mới đánh được và đề nghị đưa Đại đội ra-đa dẫn đường 47 ra gần cửa Ba Lạt để đón bắt không người lái từ ngoài biển. Đối với MiG-21 thì phải dẫn đường góc tiếp cận lớn như MiG-17. Vì dẫn đường có góc tiếp cận lớn sẽ dễ phát hiện mục tiêu nhỏ và bay thấp, hơn là dẫn đường bám đuôi phóng tên lửa như dẫn đánh máy bay cường kích. Phương án của tôi được Tư lệnh Quân chủng thông qua và Trưởng ban Dẫn đường cử tôi xuống Thái Bình để cùng Đại đội ra-đa 47 nghiên cứu, xây dựng trận địa. Chúng tôi nhất trí đặt Trạm ra-đa gần cửa Ba Lạt. Từ đây có thể phát hiện mục tiêu bay thấp từ biển vào rồi bám theo chúng bay về Hà Nội hay Hải Phòng. Triển khai xong trận địa, tôi về Sở chỉ huy trực ban dẫn đường theo phương án. Chiều ngày 24-6-1969, ra-đa phát hiện mục tiêu, tôi dẫn biên đội MiG-21 của hai phi công Thái và Cương bắn rơi chiếc máy bay không người lái đầu tiên tại Thái Bình. Hai ngày sau (26-6) chúng tôi lại dẫn biên đội MiG-17, với hai phi công Lộc và Cống cất cánh từ Sân bay Kiến An bắn rơi 1 máy bay không người lái ở khu vực Hải Phòng. Ngày 1-7-1969, biên đội MiG-21 của hai phi công Minh và Cung bắn rơi 1 máy bay không người lái ở Thường Tín (Hà Tây)… Gần 2 tháng (từ 24-6 đến 23-8-1969, không quân ta đã bắn rơi 5 chiếc máy bay không người lái bay cực thấp. Chúng ta đã làm phá sản hoàn toàn âm mưu dùng máy bay không người lái cực thấp để quấy rối Hà Nội và Hải Phòng.

Bí mật, bay thấp, kéo cao

Nhiệm vụ đánh B-52 được không quân ta âm thầm nghiên cứu, chuẩn bị từ năm 1968. Ngày 4-10-1971, phi công Đinh Tôn đã bí mật đưa máy bay vào Sân bay Đồng Hới (Quảng Bình). Khi bay lên chiến đấu, Đinh Tôn tiếp cận được B-52 thì đã quá gần, không thể đánh đối đầu. Ngày 20-11-1971, từ Sân bay Nội Bài, 2 chiếc MiG-21 do phi công Vũ Đình Rạng và Hoàng Biểu lái, tắt toàn bộ thông tin liên lạc để giữ bí mật, bay thấp để tránh ra-đa địch phát hiện rồi hạ cánh xuống Sân bay Vinh và Sân bay Anh Sơn (Nghệ An) đợi sẵn. Lúc 19 giờ 30 phút, một tốp B-52 từ căn cứ quân sự ở Thái Lan bay vào, Hoàng Biểu cất cánh từ Sân bay Vinh lên đánh nhưng bị lộ, B-52 vòng trở lại Thái Lan, chúng tôi được lệnh dẫn đường cho Hoàng Biểu giữ nguyên độ cao 6000m bay thẳng ra Sân bay Nội Bài (Hà Nội). Hành động nghi binh này khiến địch tưởng ta không có MiG lên chiến đấu nữa, nên chúng liền cho B-52 quay lại đánh phá mục tiêu theo kế hoạch. Chúng tôi đã dẫn đường cho Vũ Đình Rạng cất cánh từ Sân bay Anh Sơn, bay thấp theo sườn Tây núi Đại Huệ rồi dọc theo đỉnh Trường Sơn theo hướng Đông Nam 160 độ, vượt qua đèo Keo Nưa, khi tốp B-52 đang bay về phía Tây Hà Tĩnh. Khi thời cơ chuyển hướng đến, tôi báo cho Vũ Đình Rạng sửa đường bay hướng 250 độ, sang Lào, ngược chiều với tốp B-52 đang vượt qua sông Mê Công. Khi 3 chiếc B-52 vượt qua nửa nước Lào thì Rạng được thả thùng dầu phụ, kéo lên lấy độ cao. Lát sau, Rạng mới mở ra-đa trên máy bay, bật công tắc ống nói: “Phát hiện B-52, cự ly 11km. Xin phép công kích”. Trên ra-đa MiG-21 vùng phóng đã xuất hiện, Rạng nhẩm đếm 1, 2, 3, 4, 5 nghĩa là cự ly chỉ cách gần 1,5km, anh bóp cò. Quả tên lửa lao lên phía trước, chớp lửa lóe lên, một chiếc B-52 bị thương, lết về tới Thái Lan thì hạ cánh bắt buộc, hư hỏng hoàn toàn.

Còn nhiều kỳ tích khác về dẫn đường, nhưng qua trận này không quân ta có một kinh nghiệm quý để vận dụng đánh bại pháo đài bay B-52 Mỹ trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Trong 12 ngày đêm lịch sử này, tôi trực tiếp dẫn đường cho không quân ta bắn rơi 1 máy bay F-4, gián tiếp dẫn đường cho phi công Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều bắn rơi 2 chiếc máy bay B-52 của Mỹ.

TÔ KIỀU THẨM (ghi)
qdnd.vn

“Sao vuông” lập công trên mọi mặt trận

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của cuộc chiến tranh nhân dân chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc. Trong chiến thắng đó, những đóng góp của lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) có ý nghĩa rất quan trọng. Trên mọi mặt trận, từ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, lao động sản xuất, bảo đảm giao thông, làm nhiệm vụ hậu bị… vị trí, vai trò chiến lược và khả năng to lớn của lực lượng DQTV được thể hiện rõ nét.

Chỉ bằng súng bộ binh nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, lực lượng DQTV đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái. Trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, lực lượng bắn máy bay của DQTV miền Bắc đã triển khai 356 trận địa. Đặc biệt, biết trước mưu đồ của địch từ tháng 6-1972, thành phố Hà Nội đã thành lập 8 đại đội tự vệ tập trung. Mỗi khu phố trong nội thành tổ chức một đại đội DQTV pháo phòng không 100mm (hoàn toàn thoát ly sản xuất) để tăng cường hỏa lực bắn máy bay địch. Mỗi huyện ở ngoại thành tổ chức một đại đội bộ binh tập trung, trang bị đủ súng đạn, làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu trên địa bàn huyện… Hệ thống trận địa bắn máy bay bay thấp của DQTV trên địa bàn Hà Nội được tổ chức thành 62 trận địa trực chiến, bố trí sát mục tiêu bảo vệ. Những cơ quan, xí nghiệp, trong nội thành còn có từ 70 tự vệ trở lên tổ chức các đơn vị chiến đấu trang bị súng máy cao xạ cơ động đánh địch nhưng không hoàn toàn thoát ly sản xuất. Các cơ quan xí nghiệp có dưới 70 tự vệ được trang bị súng bộ binh làm nhiệm vụ chiến đấu tại chỗ và là lực lượng xung kích trong khắc phục hậu quả bom, đạn địch. ở ngoại thành, dân quân, du kích mỗi thôn xã đều chia thành ba bộ phận gồm: Chiến đấu cơ động được trang bị súng máy cao xạ; chiến đấu tại chỗ được trang bị súng bộ binh và phục vụ chiến đấu… Không chỉ sử dụng súng bộ binh, các đơn vị DQTV đã sử dụng pháo cao xạ từ 14,5mm, 12, 7mm đến 37mm…

Lực lượng tự vệ và công nhân đường sắt (Hà Nội) sửa chữa, khôi phục đường tàu bị bom Mỹ phá hủy. Ảnh tư liệu

Tuy vũ khí trang bị thô sơ, lực lượng không nhiều nhưng do được tổ chức chặt chẽ, bố trí hợp lý, đồng thời làm tốt công tác phòng không nhân dân nên lực lượng DQTV đã cùng với quân và dân miền Bắc hình thành một thế trận phòng không rộng khắp nhiều tầng, nhiều lớp, tạo lưới lửa dày đặc, có thể đánh địch từ nhiều hướng, nhiều tầm cao khác nhau, làm hạn chế ưu thế tính năng, tác dụng của các loại vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh hiện đại của không quân Mỹ, vô hiệu hóa nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt của chúng. Nhiều trận đánh xuất sắc đã được các đơn vị DQTV thực hiện, điển hình là cụm súng máy 14, 5mm của tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động (Hà Nội) phối hợp với các lực lượng bắn rơi tại chỗ một máy bay F -111A bằng 21 viên đạn; Trung đội dân quân xã Hợp Hòa (Hòa Bình) đã bắt sống 2 tên giặc lái Mỹ là tên thiếu tá William Winson và đại úy Robert David Raybanger, bắn cháy một máy bay trực thăng; Dân quân xã Xuân Sơn, huyện An Thụy (Hải Phòng) phối hợp với bộ đội pháo cao xạ bắn rơi tại chỗ một máy bay A -6… Sau 12 ngày đêm của chiến dịch, quân và dân ta đã chiến đấu dũng cảm, bắn rơi 81 máy bay địch, trong đó có 34 B -52 và 5 F -111. Số máy bay địch bị lực lượng phòng không nhân dân mà nòng cốt là DQTV bắn rơi là 22 chiếc, trong đó có một chiếc B -52 và 4 chiếc F -111… Có thể nói đây là chiến công hết sức oanh liệt của DQTV Việt Nam, góp phần đánh bại mưu đồ đen tối, thủ đoạn thâm độc, hành động tàn bạo của kẻ thù.

Do trước đó chưa có chiếc B -52 nào bị bắn rơi tại chỗ nên khi bước vào cuộc không kích tháng 12-1972, bọn giặc lái Mỹ còn chủ quan, huyênh hoang rằng: “Bay vào Hà Nội chỉ như cuộc dạo chơi trong đêm phương Đông, ở độ cao 10.000m, đối phương không thể với tới, các bạn chỉ cần ấn nút rồi trở về căn cứ an toàn, sạch sẽ”. Nhưng rồi sau này chính những giặc lái Mỹ đã thú nhận rằng họ rất lo lắng, hoảng sợ khi phải thực hiện các chuyến bay leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam. Đặc biệt để đánh phá trúng mục tiêu, máy bay Mỹ phải bay thấp. Nhưng khi bay thấp lại vấp phải lưới lửa phòng không của lực lượng DQTV Việt Nam, vì thế chúng rất lo sợ. Cũng chính các phi công Mỹ phải than vãng rằng: Mỗi viên đạn súng trường, cũng có tác dụng như một nhát búa tạ” giáng vào máy bay của chúng… Như vậy, có thể thấy lưới lửa phòng không tầng thấp mà lực lượng DQTV tạo ra đã góp phần quan trọng hạn chế đáng kể sự phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam. Cùng với chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, lực lượng dân quân tự vệ đã bắt sống hầu hết số phi công nhảy dù xuống miền Bắc.

DQTV các địa phương miền Bắc còn tích cực làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, chủ động tiếp đạn, cứu thương, cấp dưỡng, đóng góp hàng triệu ngày công xây dựng, củng cố trận địa, sân bay bị địch ném bom và làm đường cơ động chi viện kịp thời cho các đơn vị bộ đội chủ lực, nhất là các đơn vị phòng không. Tự vệ các công ty cầu đường bám trụ trên các trục tuyến giao thông, phối hợp với các lực lượng giải tỏa các chướng ngại, tháo gỡ, xử lý hàng chục nghìn quả bom các loại để giải phóng mặt đường, bảo đảm giao thông thông suốt trong mọi tình huống….

Lực lượng DQTV đã có những đóng góp to lớn trong công tác phòng không nhân dân. Đặc biệt để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bom đạn địch gây ra cho nhân dân, lực lượng DQTV đã vận động và tổ chức cho hàng chục vạn người sơ tán khỏi các thành phố, thị xã, đào hàng chục vạn hố cá nhân, hàng nghìn hầm tập thể… Tuy đã trở thành chiến trường nóng bỏng, song cùng với quân và dân miền Bắc, lực lượng DQTV vẫn hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam, sức người, sức của chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn được vận chuyển theo kế hoạch.

Công tác giữ gìn trật tự trị an trong điều kiện đất nước có chiến tranh cũng là một nhiệm vụ rất quan trọng. Nhận thức rõ điều đó, lực lượng DQTV đã tích cực phối hợp cùng lực lượng công an triển khai nhiều biện pháp hữu hiệu giữ vững an ninh trật tự tại cơ sở. Có DQTV phối hợp, giúp đỡ, lực lượng công an đã phát hiện kịp thời, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, nhất là bọn phản động, biệt kích, thám báo, gián điệp…

Những chiến công mà các chiến sĩ “sao vuông” lập được trên các mặt trận đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của quân và dân cả nước trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 – một trang sử hào hùng, mốc son chói lọi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.

PHÙNG KIM LÂN
qdnd.vn

Những người chia lửa

Hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Hải Phòng ban ngày đã vắng, đêm lại càng vắng vì lạnh. Tháng 12, sắp đến ngày Noel, nội thành vàng vàng ánh điện. Gió đông lay lắt chao đèn đường, nhiều lúc điện tắt phụt, tối om. Từ đầu năm 1972, Cửa Cấm bị thủy lôi Mỹ phong tỏa, thi thoảng mới có tàu nhỏ được hoa tiêu dẫn vào, dò dẫm từ đảo Long Châu tới đèn Nam Triệu cũng mất cả ngày. Còi báo động chốc chốc lại rú lên trên nóc Nhà hát Thành phố. Con phố đổ xuống Phà Bính ngày thường đông là thế, những ngày này vắng hẳn. Có ai đó muốn sang bên Thủy Nguyên, phải chờ khi có xe của bộ đội xuống phà, mới tất tả dắt xe đạp băng theo xuống bến. Bộ đội ai cũng có mũ sắt, còn dân thì có mũ rơm. Những công nhân bến phà còn mặc cả áo rơm, đan kiểu gi-lê, trông mới đầu ngồ ngộ, rồi cũng thấy quen.

Nhiều trận bom Mỹ giội vào Khu An Dương từ giữa năm, hay những trái bom bi nổ chậm bất thần nổ ở trong phố, khiến dân chúng phải đi sơ tán về mãi vùng quê tận An Lão, Kiến Thụy…

Trên đường ra Quán Toan hay về An Hải chỉ thấy xe bộ đội, những chiếc xe dài ngoẵng chở đạn tên lửa giắt đầy lá, cuốn bụi lầm từ Ruồn về.

Tới ngày 18-12 thì Hải Phòng vắng hẳn, lệnh sơ tán triệt để đã được ban hành, thành phố bây giờ là chiến địa. Trên các tầng nhà cao hay tháp nước, thấp thoáng những khẩu đội cao xạ trực chiến. Hải Phòng phập phồng, căng thẳng chờ máy bay Mỹ tới.

Lắp ráp đạn tên lửa chuẩn bị chiến đấu với B.52. Ảnh tư liệu.

Những chiến sĩ tên lửa của đoàn Nam Triệu hay đoàn Hạ Long biết rõ những đường bay của không quân Mỹ vào thành phố này. Chúng vào ăn cướp rất nhanh và cũng bay ra rất nhanh.

Cấp chỉ huy bộ đội phòng không Hải Phòng đã quán triệt cho chiến sĩ của mình đặc điểm tác chiến ở vùng cửa biển, rằng thời gian địch xuất hiện rất ngắn, nếu không cảnh giác sẽ lỡ thời cơ chiến đấu. Đã có những bài học, khi phát hiện địch, báo động vào cấp 1 không kịp, thì bọn A6, F8U đã kịp ném bom, bay ra.

Bảng tiêu đồ 9×9 trên xe P-12 của Tiểu đoàn hỏa lực 72 còn lưu dấu chì xanh về đường bay của không quân Mỹ. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt luôn nhắc nhở anh em trắc thủ, địch thường bay vào, lấy cửa Nam Triệu làm điểm kiểm tra và đột nhập Hải Phòng từ phía chính Đông. Hướng thứ hai, lấy cửa sông Văn Úc làm điểm kiểm tra tập hợp đội hình vào đánh Hải Phòng từ phía Tây Nam. Các tốp B-52 vào Hải Phòng từ trước đến nay đều sử dụng cả hai đường bay này.

Buổi trưa, chiến sĩ nuôi quân ở bếp tiểu đoàn vào phố về phàn nàn, thịt bán tem phiếu ở cửa hàng đã ít, nhưng rau cũng khó mua, chợ không có người bán. Chiến tranh tác động đến từng chi tiết của đời sống. Hậu cần tiểu đoàn sốt ruột, làm sao cho bộ đội có đủ rau, đủ thịt duy trì bữa ăn bình thường. Quản lý bếp ăn nhanh nhẹn chạy lên xin tiểu đoàn cho xe tải về huyện mua bí và su hào dự phòng chiến đấu dài ngày… Nhưng một lúc sau, anh chạy về bếp tiu nghỉu, không nói không rằng, vơ hết giấy tờ, sổ sách, quần áo cơm vào ba lô rồi thì thào như buôn bạc giả “Cơ động! Cơ động!”.

Tin tiểu đoàn phải cơ động trận địa lan nhanh. Bếp trưởng bảo: Xin người hỗ trợ hậu cần chứ? Hôm trước cũng thế, chắc lại rút ra quanh quẩn ngoại thành chứ gì? Cái gì cần thì mang, không chết mệt, bỏ lại ít đồ không dùng, về lấy sau. Chính trị viên phó xuống phổ biến: Mang đi tất cả, cơ động xa, chuẩn bị nấu ăn trên đường vài ngày. Cử một tổ đi trước chuẩn bị… cơm nước theo kiểu dã ngoại!

Rồi mọi người cũng biết, cùng với tiểu đoàn 71, Tiểu đoàn 72 lên chi viện “chia lửa” cho Hà Nội. Xe bánh lốp chạy trước, xe bánh xích bao giờ cũng chậm nên đành chạy sau. Dân quân và bà con tiễn bộ đội ra tận đường cái lớn. Ngồi trong ca-bin, sĩ quan điều khiển Dựng ngoái lại nhìn những ngọn dừa, khóm tre mờ dần, lòng anh thắt lại. Sê và con ở lại, không biết thế nào. Cu Dưỡng thì mới hơn một tuổi. Từ ngày 22-12, bọn B-52 đã đánh vào Hải Phòng, nhà lại gần trận địa, bọn A6, F-111 nó “xăm xoi” trận địa tên lửa dữ lắm, may mà có bà ngoại…

Kíp trắc thủ của Tiểu đoàn 72 bắn rơi máy bay tại Hà Nội đêm 27-12. Ảnh tư liệu.

Ngồi ở thùng xe, các trắc thủ Chiêu, Tuyền và Khoa thì có vẻ háo hức. Họ chưa có gia đình, lên trên ấy, cứ địa bàn lạ là vui rồi. Mới có mấy ngày, hơn chục “thằng” B-52 rơi quanh Hà Nội, trên ấy các tiểu đoàn đang đánh tốt, thời cơ cho 72 lại càng nhiều. Khoa làm động tác “vê tay quay” rõ dẻo, biết đâu cơ hội cho kíp 2 lại là Hà Nội.

Nói thì nhanh, nhưng cũng gần hai ngày đêm, Tiểu đoàn 72 mới vào tới Yên Phong (Hà Bắc). Trận địa Đại Chu, nghe thì quen, không ngờ nó ở sâu thế. Ven đường cấp huyện, rẽ qua làng, vào cánh đồng gần cây số nữa.

Những chiếc xe đại xa đỏ quạch bụi đường lùi vào công sự, cắt moóc, chạy ra làng sơ tán. Đạn nạp vào bệ phóng nghe rõ tiếng xích cuộn rào rào. Tiếng búa đóng cọc mát chí chát. Dân quân Yên Phong vào đông, hỗ trợ căng cáp, kéo dây điện thoại cho đài 1, cho xe thông tin tiếp sức nằm ở rìa làng. Trắc thủ kháo nhau, nhiều “em” xinh lắm, con gái Quan họ đấy nhá! Làm sao có những ngày thong thả nữa nhỉ?\

Tuyền nghĩ thầm, tưởng lên Hà Nội thì hay hơn, giữa đồng không mông quạnh thế này, ở Minh Kha còn thích hơn. Nhưng rồi các trắc thủ kíp 2 cũng chẳng còn thời gian mà so bì. Sáng nay chỉnh tham số, chỉnh phương vị chuẩn, huấn luyện cách đánh B-52 gấp gáp. Trưởng xe UNK giao máy sớm, suốt đêm qua các kỹ thuật viên hì hục kiểm tra cáp, “làm tham số”, may sao cơ động hai ngày đường, máy vẫn ngon, đồng bộ các đài, bệ, không có gì phải lo. Điều bất ngờ nhất họ vừa được biết: Kíp 2 vào trực.

Đã suốt mấy tháng qua, kíp 1 bao giờ cũng là “át chủ bài” của Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt. Thực ra tiểu đoàn trưởng nào cũng muốn cho mình có cả kíp 1 và kíp 2 đều tay trong xạ kích. Nhưng khi đối mặt với bọn B-52, người chỉ huy ai cũng muốn “đánh phải chắc thắng”, nên coi trọng kíp đánh tốt, cũng là lẽ thường. Dư luận trong tiểu đoàn xì xào, mấy cậu kíp 2 “đen-ta run” sai số lớn. Chiêu, Tuyền, Khoa biết họ nói về mình. Thực ra trong huấn luyện và chiến đấu với “bọn F”, “bọn A” (máy bay F111 và A6 của Mỹ) vào Hải Phòng, trắc thủ của đoàn Nam Triệu đều rất khá. Không những chuyển trạng thái nhanh mà còn bám bắt mục tiêu trên hiện sóng khá tốt. Phải thừa nhận kíp 1 của 72 cũng giỏi. Trong thành tích bắn rơi tới 35 máy bay của Tiểu đoàn 72, từ ngày nhận khí tài lần đầu đến nay, phần lớn chiến công thuộc về kíp 1. Nhưng đánh bọn B-52 thì… hãy chờ xem!

Buổi đoàn cán bộ Sư đoàn Phòng không Hà Nội đến “nhận quân” và động viên Tiểu đoàn 72 cũng diễn ra chóng vánh. Các chỉ huy nhìn anh em từ xa về, trận địa còn ngổn ngang nên cũng thông cảm.

Bữa ăn trưa hôm ấy ở Tiểu đoàn 72 không thể nói là ngon miệng, dẫu khá nhiều rau và thịt, vì ai cũng hồi hộp với những suy nghĩ mông lung không biết quả đạn mình phóng ra có hạ được B-52 không. Thành thử ai cũng ăn quáng quàng rồi tranh thủ “làm một giấc”. Giấc ngủ giữa trận địa Đại Chu, với các chiến sĩ tên lửa thật quý giá vì đã vạ vật trên xe mất hai ngày trời. Nhưng chỉ được một lúc họ đã phải bật dậy vì tiếng còi báo động hú lên xé tan bầu không khí tĩnh lặng buổi trưa. Lúc đó khoảng hơn 13 giờ.

Trên xe điều khiển, tiêu đồ 5×5 cặp bút chì vào kẽ tay theo hút tốp mục tiêu vào hướng X, cự ly ngắn dần. Lệnh “phát sóng” “sục sạo”, rồi “đồng bộ”… phóng!.. Xe rung lên nhè nhẹ cùng tiếng nổ xé từ ngoài bệ đạn. Cháy rồi! Chỉ trong khoảnh khắc mục tiêu mất dạng trên màn hình trước mặt các trắc thủ. Tiếng hô reo mừng từ bên ngoài lọt cả vào xe. Cả xe chiến đấu hừng hực khí thế chuyển hướng ăng-ten, nhưng lệnh về cấp 2 nhanh chóng truyền về. Nhanh quá! Kíp trắc thủ ai nấy đều hể hả xuống xe. Ngoài kia, trời tháng Chạp vẫn hun hút gió lạnh. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt mừng lắm, nhìn đồng hồ 13 giờ 36 phút, như thế là vừa triển khai, nhưng khí tài kỹ thuật tốt. Chuẩn, chuẩn! Anh nói ra mồm với Nguyễn Văn Dựng. Thoáng 1 chút chau mày, anh nghĩ gì? Dựng nhìn anh bối rối, không dám hỏi. Ừ! Có thể anh lo mấy xe đạn chưa về, chở từ Ruồn lên đây phải hai ngày, mà chưa có tin gì. Ngoài kia trận địa chỉ còn 2 trái đạn. Đúng ra lúc này đã phải nạp đạn bổ sung rồi.

* * *

Đúng là tuổi trẻ vô tư, niềm phấn khích bắn rơi máy bay F4 khiến các trắc thủ, pháo thủ của Tiểu đoàn 72 xôn xao khắp từ bếp ăn đến cả khi về nhà bạt. Họ đã chia lửa cho Hà Nội từ ngày đầu tiên lên đây. Nhưng niềm khát khao hạ gục B-52 vẫn đau đáu trong lòng các anh. Dựng về, kéo mấy trắc thủ ra nói nhỏ: Trên phê bình tiểu đoàn ta. Sao? Mọi người thắc mắc, gương mặt ai nấy ỉu xìu. Dựng nói giọng nghiêm trọng, bắn rơi bọn F4, trên không khuyến khích, dành đạn đánh B-52. Các đơn vị ở Hà Nội đang khan đạn. Này anh em nhớ nhé, bây giờ không có kiểu bắn bồi, bắn nhồi hai ba đạn nữa đâu nhá!

Trở về nhà bạt, nằm xuống, trắc thủ góc phương vị Tuyền trăn trở lắm. Hôm qua anh tranh luận với mấy người, biết rõ hơn, trận địa này cùng với “thằng” 71 cũng từ Hải Phòng lên, có nhiệm vụ đánh bên sườn các đường bay vào Hà Nội. Đánh theo phương pháp P hay phương pháp T thì cũng phải “vê” tay quay giữ cho thao tác ổn định. B-52 cơ động hướng không nhiều, nhưng sai một ly đi một dặm.

Còn Nguyễn Văn Chiêu, trắc thủ góc tà thì khẽ nhắm đôi mắt, tay múa nhẹ như “lên đồng”. Nhưng không phải múa, anh đang hình dung ra khi “thằng B” vào đến cự ly bị phát hiện thì dẻ sóng góc tà của anh phải hạ xuống ra sao, đều đều, chắc chắn thế nào. Rồi khi chuyển về bám tự động, bàn tay mở ra sao để ấn tay quay “ngọt” nhất…

Cũng là sinh viên vào bộ đội tên lửa như Chiêu và Tuyền, Khoa hình dung và nắm được các phương pháp bám sát, lái đạn. Bắn khi nhìn thấy mục tiêu và bắn khi không nhìn thấy mục tiêu, đều là phương pháp bắn có cơ sở khoa học. Có điều là nhiễu B-52 nặng quá, trắng đục màn hình… thời cơ quan trọng lắm. Khoa hiểu sĩ quan điều khiển Dựng, người chỉ huy của anh cũng trăn trở không kém. Trên Hà Nội, các tiểu đoàn bắn theo dải nhiễu khá tốt…

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chắt không giấu anh em lời nhắc nhở của cấp trên, về việc các anh đã “cao hứng” bắn rơi tốp F4. Nói xong anh thấy lòng nhẹ hơn. Cấp trên có lý, là cấp chỉ huy hướng đánh trả, chỉ huy chiến dịch tổng hợp, chỉ huy lực lượng chiến dịch, họ có nỗi lo lớn. Còn cấp tiểu đoàn như anh là cấp chỉ huy xạ kích, phải lo bắn cho trúng. Trên giao cho anh quản lý hướng chủ yếu là NN.

Bắn theo phương pháp nào là hợp lý? Chỉ câu hỏi vậy thôi mà anh phải nhiều đêm mất ngủ. Khi phát hiện chính xác dải nhiễu, đánh theo phương pháp 3Đ, liệu có chắc ăn. Còn bắn theo phương pháp T, các trắc thủ của anh có bám sát tốt? Dẫu là kíp 2 tham gia trực trận này, anh hiểu rõ từng người, họ vốn là các sinh viên kiến thức về hình học không gian. Dựng, sĩ quan điều khiển vốn là sinh viên, Dựng và anh đã nhiều lần “đồ giải”, đưa ra các tình huống B-52 vào. Theo các phương pháp mà cấp trên dày công tập huấn, các anh chú trọng phân tích tính chất mục tiêu, tốc độ và đường bay cụ thể.

Trên hướng NN các anh được phân công chặn địch, nó sẽ vào tới đâu? Đâu sẽ là cự ly “nó” chuyển góc bay? Nếu là cự ly A, nếu là cự ly B… các giả định được đưa ra. Nguyễn Văn Chắt tin ở anh em. Địch đánh vào Hải Phòng, thời gian xuất hiện ngắn mà anh em còn bình tĩnh bám sát. Ở trên này, thời gian B-52 xuất hiện chắc chắn dài hơn, các tốp hộ tống cũng vậy. Động thái của các tốp hộ tống, cự ly giãn cách… Phải làm chủ cự ly phóng. Chắt trao đổi cùng anh em khá kỹ. Cự ly, cự ly! Các trắc thủ của Chắt tuy chỉ là hạ sĩ quan, chưa qua trường bài bản, nhưng qua luận giải, Chắt biết cái đầu của họ đã mang cách nghĩ phân tích già dặn hơn chức trách. Cách nghĩ của cấp chỉ huy bắn.

Trong chiến đấu, có những “binh sĩ” hiểu ý định của chỉ huy, hành động ăn ý, thì đó là niềm vui, là phúc chứ không bao giờ là họa.

Trận đánh của Tiểu đoàn 72, đối mặt với B-52 trên bầu trời Hà Nội vào đêm hôm sau 27-12. Lúc 23 giờ 1 phút, sau khi tiểu đoàn vào cấp 1, lệnh trên giao cho Tiểu đoàn 71 và 72 tiêu diệt tốp B-52 lao vào đánh phá Hà Nội.

Nhìn lên bảng tiêu đồ, Chắt thấy phương vị 190 có 3 tốp B-52 đang vào gần. Tiểu đoàn 72 được lệnh diệt tốp 491. Anh suy tính rất lung. Lúc đầu anh xác định sẽ đánh theo phương pháp 3Đ, nhưng Chắt hiểu ý định của trên khi giao cho tiểu đoàn anh chặn hướng chính, nếu bắn ở xa theo phương pháp 3Đ không chắc, Lập tức Chắt quyết định để mục tiêu vào cự ly, theo anh là “đắc địa” nhất, lệnh phát sóng.

Lại nói Dựng, lúc này anh lập tức quay ăng-ten về giẻ quạt 180-21 độ. Quả nhiên tại phương vị 190, trên nền nhiễu đục, Dựng cảm nhận mỗi lúc một rõ có dấu hiệu mục tiêu ở cự ly X km. Không còn nghi ngờ.

Lệnh bắn theo phương pháp T. Lần lượt trắc thủ phương vị, góc tà bật về chế độ bám sát T. Sau đó một khắc, trắc thủ cự ly cũng quyết đoán bật về TĐ.

– Tiêu diệt tốp 491, cự ly B2!

– Phóng!

Một tiếng “cạch” rất lạnh, trái đạn lao lên lừng lững, kéo theo vệt lửa màu cam ngùn ngụt. Ngay sau đó, trái thứ hai cũng phụt lên bám theo, cả trận địa mù mịt khói cam và mùi thuốc đạn. Họ đã bắn bồi trái nữa.

Tất cả các cặp mắt trong xe điều khiển ngắm theo tín hiệu đạn “bắt cửa sóng” bay lên theo quỹ đạo, rất nhanh đạn lao vào mục tiêu gần dần, gần dần rồi nhòe sáng… Chiêu nhìn trên màn hình góc tà, mục tiêu hạ thấp độ cao gấp gáp.

Rơi rồi! Rơi rồi!

Máy bay rơi trên đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội) do Tiểu đoàn 72 bắn hạ. Ảnh tư liệu.

Sĩ quan điều khiển Dựng thở nhẹ một cái thật khoan khoái. Cửa xe UNK bật mở, tiếng hô từ bên ngoài vang động. B52 cháy rồi! Lúc đó là 23 giờ 03 phút đêm 27 tháng Chạp. Chiếc máy bay B52 do Tiểu đoàn 72 bắn rơi tại chỗ. Ta bắt được phi công ngay tại Hà Nội. Hai trái đạn phóng lên tại trận Đại Chu đêm ấy, có ai ngờ là hai trái đạn cuối cùng kết thúc đợt đánh chặn Không quân Mỹ lao vào suốt 12 ngày đêm khét lẹt.

* * *

Sau 40 năm, lời khen ngợi của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp với trận đánh của Tiểu đoàn 72 vẫn còn vang vọng: “Chiến công đặc biệt xuất sắc”. Xuất sắc vì bắn rơi tại chỗ. Các cơ quan chức năng đều xác nhận, chiếc máy bay vẫn còn nguyên hàng chục quả bom. Nếu tốp B-52 đó nó kịp ném ra, nếu… thì Hà Nội bị thêm một vệt bom đau thương biết ngần nào.

Cung lửa bên sườn Hà Nội đã phát huy uy lực của một trận địa lợi hại, chặn đứng các tốp B-52 đánh vào từ phía Đông Nam.

Chúng tôi đã về thăm quê của sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng. Anh quê ở xã Việt Ngọc, Tân Yên, Bắc Giang, là sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp, nhập ngũ năm 1966. Dựng về Tiểu đoàn 72 năm 1968, nơi có kinh nghiệm đánh máy bay trinh sát bay thấp nổi tiếng toàn quân chủng.

Bí thư chi đoàn xã Kiền Bái, Thủy Nguyên, Hải Phòng là cô Nguyễn Thị Sê, hoa khôi của vùng khi ấy. Trai tài, gái sắc gặp nhau, Dựng-Sê nên duyên vợ chồng. Đứa con đầu của họ sinh năm 1971. Họ có với nhau tới 4 mặt con.

Sau chiến tranh, Dựng được trên cử đi học chỉ huy phòng không ở Liên Xô. Trở về nước, dần dần Dựng được giao chức tiểu đoàn trưởng hỏa lực. Nhưng không may, năm 1986 căn bệnh trọng đã cướp đi cuộc sống của anh.

Gái Hải Phòng về làm dâu miền bán sơn địa Bắc Giang, Sê tần tảo nuôi 4 con thơ dại. Nhưng nghiệt ngã thay, chứng bệnh suy tim cấp chẳng bao lâu lại nhằm vào Sê. Năm 1992, Sê đã đi theo chồng.

Những đồng đội phòng không miền Kinh bắc suốt những năm tháng sau này, luôn quan tâm về tinh thần và chút ít vật chất cho những đứa con của người sĩ quan điều khiển tên lửa hào hoa, can trường ấy.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chắt nay vẫn còn. Ba trắc thủ đã vào tuổi lục tuần. Nguyễn Văn Chiêu hiện là chủ một gia đình tương đối đông đúc và đầm ấm tại ngõ 43, phố Trung Kính (Hà Nội). Sau khi rời quân ngũ, Nguyễn Văn Chiêu học tiếp đại học và về công tác tại Tổng cục Kỹ thuật vào năm 1979. Năm 1986, anh chuyển ngành về Bộ Công nghiệp nhẹ và làm việc tại Nhà máy Cơ khí Quang Trung.

Nguyễn Văn Tuyền thì sau khi xuất ngũ tiếp tục học và trở thành giáo viên. Anh tham gia giảng dạy tại Đại học Thương mại, đến năm 2002 thì chuyển về Đại học Bách khoa, nơi anh đã từ biệt giảng đường đi chiến đấu. Nguyễn Văn Tuyền từng giữ cương vị Trưởng khoa Mác – Lê-nin của đại học có tiếng này.

Trắc thủ phương vị Trương Đăng Khoa hiện công tác tại Tỉnh ủy Thái Bình. Mỗi người đều có một cuộc sống riêng với những bận rộn về gia đình và xã hội. Họ có chung niềm tự hào bình dị, được chia lửa cùng Hà Nội những ngày gian lao ấy.

TRẦN DANH BẢNG
qdnd.vn