Tag Archive | Quân sự

Nhiều ấn phẩm đặc sắc kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND Online-Hàng loạt các ấn phẩm đặc sắc mang giá trị lịch sử đã được phát hành trong dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Các ấn phẩm này đã một lần nữa khẳng định tầm vóc, giá trị lịch sử của chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, qua đó, góp phần giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng đối với quân và dân ta, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.

* Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã phát hành một bộ sách mới viết về “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” với các cuốn sách: “Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ trên địa bàn Hà Nội” của Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội; “Người lính với bầu trời Hà Nội” của Đại tá Nguyễn Đình Kiên; “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không-ký ức một thời” của Đại tá Nguyễn Phương Điện; “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không-sức mạnh của ý chí và trí tuệ Việt Nam” của Tổng cục Chính trị; “Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội” của Đoàn Hoài Trung; “Kỷ yếu hội thảo 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam; “Chiến thắng B52” Thành ủy Hà Nội và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam; “Xuyên mây” của Lê Thành Chơn, “25 máy bay B52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội” của Sư đoàn 361, “Suy ngẫm về trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh” và “Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris” của Võ Văn Sung; “Trăng tháng Chạp” của Thiếu tướng Vũ Anh Thố; “Rồng lửa Việt Nam”-Tập hồi ức của Ban liên lạc cựu chiến binh Bộ đội Tên lửa Việt Nam…

Bộ sách của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Ảnh: Thu Thủy.

Theo Đại tá, Tiến sĩ Phạm Bá Toàn, Giám đốc, Tổng biên tập NXB Quân đội nhân dân, tìm đọc những tác phẩm trong bộ sách, bạn đọc có thể liên hệ để thấy rõ tầm vóc, ý nghĩa của chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không, những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thắng lợi, kinh nghiệm quý báu để vận dụng, phát huy.

* Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật đã cho ra mắt độc giả bộ sách gồm 9 ấn phẩm phản ánh sinh động nhiều khía cạnh về chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” và Hội nghị Paris, về nghệ thuật quân sự, nghệ thuật ngoại giao Việt Nam. Bộ sách là tư liệu quý, đặc biệt đối với thế hệ trẻ muốn tìm hiểu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Các ấn phẩm gồm có: “Bác Hồ- Nguồn sức mạnh của Bộ đội phòng không”, “40 năm nhớ lại trận Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”, “40 năm Điện Biên Phủ trên không qua tư liệu ảnh”, “Trên những trận địa phòng không”, “Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn”, “Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris”, “Xuân Thủy- Nhà hoạt động chính trị, ngoại giao xuất sắc, nhà báo, nhà thơ lớn”, “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris”, “Nền hòa bình mong manh”, “Washington, Hà Nội và tiến trình của Hiệp định Paris”.

Trong đó, ấn phẩm “Bác Hồ-Nguồn sức mạnh của bộ đội phòng không” gồm 12 bài viết của các tướng lĩnh, sĩ quan Quân chủng Phòng không-Không quân, những người trực tiếp chứng kiến, làm nên các sự kiện và những cán bộ, chiến sĩ có may mắn được gặp Bác.

“40 năm nhớ lại trận “Hà Nội-Điện Biên phủ trên không” gồm hồi ký, bài viết của các cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân chủng Phòng không-Không quân và những người đã trực tiếp chiến đấu trong 12 ngày đêm lịch sử.

Bộ sách của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật. Ảnh: Thu Thủy.

“40 năm Điện Biên Phủ trên không qua tư liệu ảnh (1972 – 2012)” là tác phẩm giới thiệu gần 200 bức ảnh có chú thích để bạn đọc có được góc nhìn trực quan, xuyên suốt hơn về mức độ khốc liệt và chiến thắng hào hùng của dân tộc.

Những hồi ức chân thực, sinh động của Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không-Không quân, một trong những cán bộ chỉ huy lực lượng phòng không-không quân ngay từ những ngày đầu thành lập Quân chủng được ghi lại trong cuốn “Trên những trận địa phòng không”.

Các cuốn “Bộ sách Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn”, “Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris”, “Xuân Thủy-Nhà hoạt động chính trị, ngoại giao xuất sắc, nhà báo, nhà thơ lớn”, “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ-Kissinger tại Paris”, “Nền hòa bình mong manh-Washington, Hà Nội và tiến trình của Hiệp định Paris” đem lại cho độc giả cái nhìn sâu sắc, toàn diện về cuộc chiến trên bàn đàm phán của Việt Nam.

* Nhà xuất bản Trẻ đã phát hành cuốn sách “Đối mặt với B52”. Cuốn sách ghi lại những hồi ức về một giai đoạn lịch sử không quên của Hà Nội. “Đối mặt với B-52” được thực hiện với sự góp mặt của 116 nhân chứng. Cuốn sách hướng đến tái hiện chân thực một Hà Nội đã đối mặt với B-52 trong những ngày tháng lịch sử, có những đau thương mất mát, nhưng cũng có những cách thích ứng linh hoạt đến khó tin của người dân Thủ đô.

Cuốn sách “Đối mặt với B-52”. Ảnh: Thu Thủy.

Với 3 phần, cuốn sách đi theo mạch thời gian từ thời điểm miền Bắc chống chiến tranh phá hoại, dựng lại bối cảnh cuộc sống của người Hà Nội những năm 1966-1972 và quá trình Quân đội nhân dân Việt Nam nghiên cứu làm thế nào để hạ được “pháo đài bay” B-52. Tiếp theo là quãng thời gian 12 ngày đêm với cuộc chiến chống lực lượng máy bay hùng hậu của không quân Mỹ cũng như sự đối phó của những người Hà Nội còn ở lại Thủ đô. Chân dung một Hà Nội đối mặt với B-52, những đau thương mất mát, những cách thích ứng linh hoạt đến khó tin của người dân Hà Nội đã được tái hiện.

* Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin tổ chức sưu tầm tuyển chọn và biên soạn cuốn sách: “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không, bản hùng ca thế kỷ XX”.

Cuốn sách “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không, bản hùng ca thế kỷ XX”. Ảnh: Internet.

Cuốn sách gồm 3 phần chính. Phần I: Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không, chiến thắng của ý trí và trí tuệ Việt Nam, tập hợp các bài viết của các tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ về chiến thắng B-52. Phần II: Điện Biên Phủ trên không qua những trang hồi ký của các tướng lĩnh về cuộc chiến 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội. Phần III: Bên kia chiến tuyến, viết về sự đánh giá, nhìn nhận của đối phương về cuộc chiến này.

THU THỦY (tổng hợp)
qdnd.vn

Ngày 28-12-1972: Phi công Vũ Xuân Thiều xuất kích, lập công

Ngày này 40 năm trước

QĐND – Trước những chiến công của Quân chủng Phòng không-Không quân và của quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương miền Bắc, ngày 28-12-1972, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký Lệnh thưởng Huân chương Quân công và Huân chương Chiến công cho 22 đơn vị thuộc Quân đội và 2 đơn vị tự vệ thuộc Hà Nội, Hà Tây. Cùng ngày, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội điện khen ngợi các đơn vị Bộ đội Phòng không-Không quân, quân và dân Hà Nội đã lập công ngày 27-12-1972.

Phi công của không quân ta trao đổi kinh nghiệm đánh B-52. Ảnh tư liệu.

Ngày 28-12, Tổng thống Mỹ Ních-xơn gửi Công hàm tới Chính phủ nước ta đề nghị nối lại đàm phán Hội nghị Pa-ri. Chính phủ ta gửi Công hàm đồng ý hai bên gặp lại vào ngày 8-1-1973 với điều kiện Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc, trở lại nguyên trạng như trước ngày 18-12-1972.

Tuy vậy, ngày 28-12-1972, Mỹ vẫn huy động lực lượng không quân đánh phá ác liệt vào Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn và các mục tiêu trọng yếu ở miền Bắc. Ban ngày, Không quân Mỹ sử dụng hơn 100 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá các trận địa tên lửa, cơ sở kho tàng, cầu cảng, khu công nghiệp ở Hà Nội và các địa phương miền Bắc. Binh chủng Không quân lệnh cho Trung đoàn 927 xuất kích chặn đánh địch và bắn rơi 2 máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái.

Đêm 28-12, Mỹ huy động 60 lần chiếc máy bay B-52, 50 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống cùng 6 lần chiếc máy bay F-111 đánh phá các mục tiêu ở Hà Nội, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Việt Trì, các trận địa tên lửa. Máy bay của Hải quân Mỹ tiếp tục đánh phá Hải Phòng. Lúc 21 giờ 41 phút đêm 28-12, phi công Vũ Xuân Thiều lái máy bay Mig-21 cất cánh từ Thanh Hóa, tiêu diệt 1 máy bay B-52 và đã anh dũng hy sinh. Kết quả ngày và đêm 28-12, ta bắn rơi 4 máy bay Mỹ, trong đó có 2 máy bay B-52.

XUÂN GIANG (tổng hợp)
qdnd.vn

Ngày 26-12-1972: Trận then chốt quyết định, 8 chiếc B-52 bị tiêu diệt

Nhật ký Chiến thắng B-52

QĐND Online – 13 giờ ngày 26-12-1972, địch sử dụng 56 lần chiếc máy bay cường kích các loại ném bom dữ dội vào các khu vực trận địa tên lửa và trạm biến thế Đông Anh. Tiểu đoàn 72 (Trung đoàn tên lửa 285) đã bắn rơi 1 máy bay F-4.

Đêm 26-12, địch tăng cường máy bay gây nhiễu EB-66 và máy gây nhiễu ngoài hạm. Ở hướng Hải Phòng, các tốp máy bay cường kích của hải quân Mỹ hoạt động liên tục từ 18 giờ 12 phút đến 20 giờ 35 phút để “dọn đường” cho B-52 vào đánh. Từ 21 giờ 10 phút đến 21 giờ 48 phút, chúng cho thêm nhiều tốp F-4 vào thả nhiễu tiêu cực dày đặc từ Tây Bắc xuống Tây Nam Hà Nội, cách Hà Nội 40 đến 50km, nhằm tạo mục tiêu giả. Bởi vậy, tất cả màn hiện sóng ra-đa trinh sát tình báo, ra-đa dẫn đường của không quân và ra-đa nhìn vòng của tên lửa, pháo phòng không hầu như trắng xóa. Tuy nhiên, với kinh nghiệm có được qua các trận đánh trước đó, bộ đội ta đã phát hiện được các tốp B-52 trên cả 2 hướng Đông Nam và Tây Nam Hà Nội; phân biệt được dải nhiễu của B-52 với nhiễu của các máy bay chiến thuật, nhiễu tiêu cực và nhiễu ngoài đội hình.

Đêm 26-12-1972, bộ đội tên lửa tiếp tục bắn rơi 6 chiếc B-52, trong tổng số 8 chiếc bị tiêu diệt. Ảnh tư liệu

Từ 22 giờ 5 phút đêm 26-12, địch sử dụng 105 lần chiếc B-52 và 110 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống, đánh ồ ạt, liên tục, đồng thời từ nhiều hướng vào nhiều mục tiêu trên cả 3 khu vực Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Đây là trận đánh lớn nhất và là trận then chốt trong cuộc tập kích đường không chiến lược của địch.

Tại Hà Nội, địch sử dụng 66 lần chiếc B-52 cùng một lúc đột nhập vào 3 hướng Tây Bắc, Tây Nam và Đông Bắc, rải bom xuống các khu vực nhà máy pin, kho và ga Văn Điển, khu vực kho xăng dầu Đức Giang, ga Đông Anh, kho Giáp Bát, khu vực Bạch Mai, sân bay Nội Bài, Cổ Loa, Uy Nỗ và khu công nghiệp Thượng Đình. Cuộc chiến đấu giữa tên lửa, pháo phòng không ta với máy bay B-52 mỗi lúc một ác liệt.

21 giờ 35 phút, từ trận địa Thượng Thụy (Gia Lâm, Hà Nội), Tiểu đoàn 78 (Trung đoàn 257) đã phóng 2 quả đạn. Đạn có điều khiển, nổ tốt, khiến 1 chiếc B-52 bị trúng đạn, bốc cháy, rơi xuống Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội. Quân, dân Hà Nội vô cùng phấn khởi trước thắng lợi đầu tiên trong đêm 26.

Tiếp đó, từ 22 giờ 30 phút đến 22 giờ 47 phút, bộ đội tên lửa Hà Nội liên tiếp bắn rơi 4 chiếc B-52 nữa. Chiến công này lần lượt thuộc về các đơn vị: Tiểu đoàn 86 (Trung đoàn 274), Tiểu đoàn 76 (Trung đoàn 257), Tiểu đoàn 93 (Trung đoàn 261) và Tiểu đoàn 79 (Trung đoàn 257).

Khu phố Khâm Thiên sau trận bom rải thảm đêm 26-12-1972. Ảnh tư liệu

Đêm 26, một tốp B-52 đã ném bom rải thảm khu phố Khâm Thiên. Vệt bom trùm gần hết chiều dài khu phố, làm 287 người chết và 290 người bị thương. Bom địch cũng phá sập gần 2.000 ngôi nhà, đền chùa, trường học, trạm xá.

Cũng trong đêm 26 rạng sáng ngày 27-12, pháo 100mm của Trung đoàn 256 (Quân khu Việt Bắc) lại lập công bắn rơi một chiếc B-52. Tại Hải Phòng, Tiểu đoàn tên lửa 81 (Trung đoàn tên lửa 238, Sư đoàn phòng không 363) cũng bắn rơi một B-52. Pháo 100mm của Đại đội 174 (Trung đoàn pháo phòng không 252) cũng góp công khi bắn rơi một B-52 vào lúc 22 giờ 24 phút.

Trận chiến đấu đêm ngày 26 rạng sáng 27-12-1972 diễn ra hơn một giờ. Lực lượng phòng không ba thứ quân của Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên đã đánh một trận tiêu diệt lớn, bắn rơi 8 máy bay B-52, riêng Hà Nội bắn rơi 5 chiếc, có 4 chiếc rơi tại chỗ. Đây là trận Mỹ bị tổn thất B-52 nhiều nhất trong 9 ngày của Chiến dịch. Trận đánh có tính chất quyết định đã làm suy sụp tinh thần và ý chí của Nhà trắng, Lầu năm góc và bọn giặc lái. Đây được coi là trận đánh mang tính then chốt của Chiến dịch.

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

——————————

Ngày 25-12-1972: Ta rút kinh nghiệm, điều chỉnh đội hình chiến đấu
Đêm 24-12-1972: “Rụng” thêm một B-52, địch tạm dừng tập kích
Đêm 23-12-1972: Thua đau, B-52 giãn xa Hà Nội, Hải Phòng
Đêm 22-12-1972: Bộ đội Tên lửa Hải Phòng diệt 2 siêu pháo đài bay
Đêm 21-12-1972: 3 phút, bắn rơi tại chỗ 3 máy bay B-52
Đêm 20-12-1972: Thắng lợi giòn giã, 7 máy bay B-52 bị quật cổ
Đêm 19-12-1972: 2 siêu pháo đài bay B-52 đền nợ máu
Đêm 18-12-1972: B-52 tan xác khi vừa mò vào Hà Nội

Tưởng nhớ tới nạn nhận trong chiến dịch 12 ngày đêm

QĐND – Sáng 26-12, tại Đài tưởng niệm Khâm Thiên (phố Khâm Thiên-Hà Nội), chứng tích lịch sử của 12 ngày đêm Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, thành phố Hà Nội đã long trọng tổ chức Lễ dâng hương tưởng niệm đồng bào, chiến sĩ Thủ đô bị không quân Mỹ sát hại. Tới dự Lễ dâng hương có đồng chí: Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Nguyễn Thị Kim Ngân, Bí thư Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ; cùng đông đảo lãnh đạo và nhân dân thủ đô Hà Nội.

Phát biểu tại lễ tưởng niệm, đồng chí Phạm Quang Nghị nhấn mạnh, 12 ngày đêm ấy, mặc dù Đế quốc Mỹ đã điên cuồng tiến hành cuộc tập kích chiến lược bằng siêu pháo đài bay B-52, nhưng chúng đã không thể đè bẹp được ý chí quật cường, tinh thần yêu nước, bất khuất của quân và dân Hà Nội, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Trong 12 ngày đêm chiến đấu quả cảm, quân và dân Thủ đô đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 siêu pháo đài bay B-52, lập nên chiến công vĩ đại. Ý chí tinh thần quyết thắng của quân và dân Hà Nội thực sự là pháo đài thép, được thế giới tôn vinh là thành phố của lương tri và phẩm giá con người.

ĐỒNG SƠN
qdnd.vn

Trao giải cuộc thi tìm hiểu “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND Online – Tối 25-12, Quân chủng PK-KQ và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã tổ chức Lễ trao giải cuộc thi tìm hiểu “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Các đồng chí: Trung tướng Đào Duy Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Võ Văn Tuấn, Phó Tổng tham mưu trưởng; Dương Văn An, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, Phó chủ nhiệm thường trực Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam, đã tới dự buổi lễ.

Trung tướng Đào Duy Minh trao giải cho các cá nhân.

Cuộc thi được phát động từ ngày 8-10-2012 và chỉ sau hơn 2 tháng phát động, các Tỉnh Đoàn, Thành Đoàn, Đoàn trực thuộc đã thu được 3.760.942 bài tham dự cuộc thi. Qua vòng chấm sơ khảo cấp tỉnh, các đơn vị đã gửi 1.752 bài về tham dự vòng chung khảo cuộc thi cấp Trung ương. Ban tổ chức đã trao giải đặc biệt cho đồng chí Trần Ngọc Trung, Học viện Phòng không – Không quân; 2 giải nhất thuộc về nhóm Sao Vàng (Học viện An ninh nhân dân – Bộ Công an) và Quận đoàn Hoàng Mai (Hà Nội).

Giải nhất tập thể thuộc về Ban Thanh niên Quân đội; Thành Đoàn Hà Nội giành giải nhì và 5 giải ba lần lượt thuộc về Tỉnh Đoàn Tuyên Quang, Đoàn Thanh niên Khối các cơ quan Trung ương, Thành Đoàn Cần Thơ, Tỉnh Đoàn Thái Bình và Tỉnh Đoàn Hà Tĩnh; cùng 5 giải khuyến khích, gồm: Tỉnh đoàn Bình Định, Tỉnh đoàn Quảng Ninh, Tỉnh đoàn KomTum, Tỉnh đoàn Hưng Yên và Tỉnh đoàn An Giang.

Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Dương Văn An, trao giải cho các tập thể, cá nhân đạt giải.

Ngay sau Lễ trao giải đã diễn ra chương trình Dạ hội thanh niên “Âm vang Điện Biên Phủ trên không” kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Tin, ảnh: TUẤN LINH
qdnd.vn

Triển lãm “Điện Biên Phủ trên không qua các tư liệu trong nước và nước ngoài”

QĐND Online – Ngày 26-12, tại Thư viện Quốc gia Việt Nam đã diễn ra triển lãm “Điện Biên Phủ trên không qua các tư liệu trong nước và nước ngoài”. Với hơn 600 tư liệu sách, báo, bài trích, tranh, ảnh, triển lãm cung cấp cho người xem nhiều tư liệu quý để hiểu sâu sắc, toàn diện hơn chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.

Triển lãm thu hút đông đảo người xem.

Các tư liệu của triển lãm được trình bày theo 6 nội dung. “Lịch sử bộ đội Phòng không-Không quân Việt Nam” gồm các tư liệu viết về lịch sử hình thành, phát triển và những chiến công hào hùng của bộ đội Phòng không-Không quân Việt Nam. “Lịch sử Hà Nội 12 ngày đêm” gồm các tư liệu viết về diễn biến cuộc chiến 12 ngày đêm của quân và dân Hà Nội dưới mưa bom B-52. “Điện Biên Phủ trên không-Tầm cao trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam” tập hợp những tư liệu viết về Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở miền Bắc và sự bội ước của Mỹ; Mỹ đưa máy bay chiến lược B-52 ném xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên; các tư liệu về nghệ thuật quân sự tài tình của quân đội Việt Nam hạ gục pháo đài B-52; tư liệu nói về sức mạnh của lòng yêu nước, bản lĩnh Việt Nam; tư liệu hình ảnh về tội ác của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến đấu 12 ngày đêm; ý nghĩa và giá trị lịch sử, bài học kinh nghiệm của chiến thắng Điện Biên Phủ trên không…

“Hà Nội 12 ngày đêm qua báo-tạp chí” gồm một số bài báo, tạp chí viết về Hà Nội trong 12 ngày đêm dưới mưa bom B-52 đăng tải trên các báo, tạp chí lúc bấy giờ và sau này. “Hà Nội 12 ngày đêm qua con mắt của người nước ngoài” bao gồm những tư liệu của người nước ngoài viết về Việt Nam và “Hồi ký của các tướng lĩnh Việt Nam” tập hợp lại những hồi ức của các tướng lĩnh Việt Nam về cuộc kháng chiến chống Mỹ hào hùng của dân tộc.

Ngoài ra, triển lãm còn giới thiệu một số tài liệu và luận án tiến sĩ viết về Điện Biên Phủ trên không, về cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Triển lãm sẽ diễn ra đến hết ngày 31-12.

BĂNG CHÂU
qdnd.vn

Nhớ một thời đạn bom – thêm một lần cảm tạ

QĐND – Tri ân những người từng giúp đỡ mình đã trở thành lẽ sống, cũng là nét văn hóa đặc trưng của người Việt cả ngàn đời nay. Vẫn biết rằng, tri ân bao nhiêu cũng không đủ dù người giúp không đòi hỏi, nhưng người Việt vẫn, đã và đang tiếp tục làm. Trong số những bạn bè quốc tế mà chúng ta luôn biết ơn, có hàng nghìn cựu chuyên gia và cố vấn quân sự – những người con ưu tú của các dân tộc và quân đội Xô-viết đã từng được cử sang “chia lửa” với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, góp phần quan trọng làm nên chiến thắng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, nhất là trong Chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ Hà Nội cách đây đúng 40 năm.

Thượng tướng A. Khiu-pê-nen kể chuyện Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Được tới Mát-xcơ-va tham dự các hoạt động kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, 68 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam và 23 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, do Đại sứ quán Việt Nam và Hội người Việt Nam tại LB Nga tổ chức, lại một lần nữa tôi được “mắt thấy tai nghe” và cảm nhận những tình cảm ấm áp mà người Việt dành cho các cựu chuyên gia Xô-viết nói riêng và dân tộc Nga nói chung. Cũng lại thêm một lần tôi được chứng kiến sự chân tình và trong sáng mà các cựu chuyên gia, cố vấn quân sự Xô-viết dành cho Quân đội ta, dân tộc ta.

Trong giá rét bất thường của mùa đông nước Nga, hơn 100 cựu chuyên gia, cố vấn quân sự Nga đã từng công tác tại Việt Nam, nay tuổi đã cao, sức đã yếu, có người đi một mình, có người được người thân tháp tùng, cũng lại có người phải chống nạng… nhưng tất cả họ đều háo hức đến dự cuộc gặp mặt – vốn đã trở thành truyền thống, để chào mừng 40 năm chiến thắng của nhân dân Việt Nam, chào mừng QĐND Việt Nam. Sự đón tiếp chu đáo và nồng hậu của Đại sứ Phạm Xuân Sơn, đội ngũ cán bộ, nhân viên sứ quán và Tùy viên Quốc phòng Vũ Văn Xim cùng các sĩ quan, học viên quân sự Việt Nam đang công tác, học tập tại Nga cũng như cộng đồng người Việt tại Nga dường như đã khiến cho cái lạnh của mùa đông xứ Bạch Dương “vơi” đi rất nhiều . Và, qua những lời phát biểu, những câu chuyện dành cho nhau và dành cho thế hệ hôm nay, ký ức về cuộc chiến đấu và chiến thắng của nhân dân ta, quân đội ta với sự trợ giúp chân tình của đội ngũ chuyên gia-cố vấn quân sự Xô-viết trước đây, cứ dần hiện về, như những nét vẽ tuyệt đẹp, tô thắm hơn bức tranh tình cảm Việt-Nga, Nga-Việt.

Các cựu chuyên gia – cố vấn quân sự họp mặt tại Mát-xcơ-va kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Tôi bỗng có cảm giác nghẹn ngào và chợt nhận ra khái niệm khoảng cách bỗng trở thành vô nghĩa khi chứng kiến họ, những chuyên gia – cố vấn quân sự Nga, dân tộc Nga và rộng hơn là những người Xô-viết vui mừng gặp lại nhau, gặp lại những người anh em Việt. Tình cảm ấy đã làm tôi nhớ tới bầu không khí ấm áp của những cuộc gặp hằng năm vào các ngày lễ của Việt Nam, trên đất Việt Nam, với những thầy cô, những người bạn, những chuyên gia – cố vấn quân sự đã từng giúp đỡ đất nước ta, do lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng hoặc những cơ quan, đoàn thể, thậm chí cả những cá nhân ở Việt Nam tổ chức. Những cuộc gặp mà tôi đã từng được tham dự trong suốt những năm tháng đã qua, cũng như cuộc gặp này, có lẽ sẽ đi theo tôi mãi suốt cuộc đời.

Dù là có hàng chục, hàng trăm thậm chí là hàng nghìn cuộc gặp như thế, thì chúng vẫn đều có một đặc điểm chung. Ấy là trong khi người Việt luôn bày tỏ lời cảm ơn, ca ngợi các chuyên gia – cố vấn quân sự Xô-viết, thì hầu như không ai trong số các chuyên gia – cố vấn kể công hoặc nhận các chiến công ở Việt Nam thuộc về mình. Với đức tính khiêm tốn, họ chỉ kể những kỷ niệm sâu sắc về các cuộc gặp, làm việc với các nhà lãnh đạo Việt Nam, cùng sống và chiến đấu bên cạnh bộ đội và những người dân Việt Nam trong thời gian họ có mặt tại Việt Nam. Họ coi những chiến công ấy thuộc về QĐND Việt Nam.

Trong cuộc gặp tại Mát-xcơ-va vừa rồi, khi kể chuyện chiến thắng của Việt Nam cách đây 40 năm, Thượng tướng A-na-tô-li Khiu-pê-nen, nguyên trưởng đoàn chuyên gia – cố vấn quân sự Xô-viết tại Việt Nam từ năm 1972 đến 1975, dường như chỉ nói về sự tàn bạo của quân đội Mỹ, đồng thời hết lời ca ngợi sự thông minh, sáng tạo của lãnh đạo, chỉ huy cũng như đội ngũ sĩ quan, chiến sĩ QĐND Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ông tự hào rằng, vũ khí tối tân khi ấy của Liên Xô đã được trao đúng cho những người biết sử dụng và sử dụng một cách sáng tạo trong một cuộc chiến tranh nhân dân độc đáo vì độc lập dân tộc ở Việt Nam. Ông coi vũ khí tối tân là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là yếu tố con người sử dụng loại vũ khí ấy. Ông so Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của Việt Nam với Chiến thắng Xta-lin-grát (Stalingrad) của Liên Xô trước đây, bởi hai chiến thắng này đều mở ra bước ngoặt của hai cuộc chiến tranh, dẫn tới thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và dẫn tới chiến thắng của nhân dân Xô-viết trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại trước đây. Ông cũng thể hiện sự hãnh diện của mình vì đã được sống, chiến đấu với những người anh em Việt Nam trong giai đoạn ác liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, tại diễn đàn này ông bày tỏ niềm tin sâu sắc rằng, với những gì ông được chứng kiến và hiểu biết về nhân dân và QĐND Việt Nam thì không một thế lực nào có thể giành được chiến thắng khi tiến hành chiến tranh với Việt Nam trên đất nước Việt Nam.

Không chỉ Thượng tướng A.Khiu-pê-nen mà cả ông Cô-le-xníc Nhi-cô-lai Nhi-cô-lai-e-vích, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Nga từng công tác tại Việt Nam; ông Vla-đi-mia Bui-a-nốp, Chủ tịch Hội hữu nghị Nga – Việt, hoặc các cựu chuyên gia Ép-ghê-ni Nô-ven-cô, Vla-đi-mia Pê-tơ-rô-vích, Nhi-cô-lai Giơ-va-nốp, Vla-đi-mia Ti-sen-cô và rất nhiều cựu chuyên gia – cố vấn quân sự Xô-viết khác đã lần lượt được thể hiện sự khâm phục của mình đối với nhân dân và QĐND Việt Nam. Họ luôn ghi nhận “sự không quên” mà các thế hệ lãnh đạo đất nước, Bộ Quốc phòng hay các tổ chức, đoàn thể của Việt Nam trân trọng dành cho sự giúp đỡ của nhân dân và quân đội Xô-viết trước đây đối với Việt Nam. Họ vui mừng vì được chứng kiến sự phát triển đến kinh ngạc của Việt Nam ngày nay sau mỗi lần thăm lại chiến trường “chia lửa” xưa. Họ coi việc họ được đóng góp tuổi thanh xuân của mình cho nhân dân Việt Nam chỉ là những viên gạch nhỏ xây đắp tình hữu nghị, quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai dân tộc ngày nay.

Nhân dân Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác mãi mãi biết ơn Liên Xô và LB Nga, trong đó có các cựu cố vấn và chuyên gia – những người với tinh thần của chủ nghĩa quốc tế trong sáng đã không tiếc tuổi xuân, không sợ hy sinh gian khổ, đã chiến đấu và không ít trong số họ đã hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam như của chính dân tộc mình. Việt Nam mãi luôn trân trọng những sự hy sinh và giúp đỡ đó, mỗi một lần nhớ tới, sẽ thêm một lần cảm tạ.

Bài và ảnh: KIM TÔN
qdnd.vn

Sự ủng hộ tinh thần lớn lao đối với Việt Nam trong chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”

Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam diễn ra rầm rộ ở nhiều nước trên thế giới. Nguồn: Internet

QĐND – Một trong những nhân tố góp phần giúp cho quân và dân Việt Nam làm nên kỳ tích “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972, đập tan nỗ lực quân sự cuối cùng của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam chính là sự động viên, cổ vũ về mặt chính trị tinh thần của nhiều bạn bè trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.

Suốt 12 ngày đêm cuối năm 1972, dưới mưa bom, lửa đạn và chịu nhiều tổn thất, hy sinh trong đối chọi với máy bay B-52, nhân dân Việt Nam đã nhận được rất nhiều bức điện, lời động viên khích lệ tinh thần chân thành từ nhiều nguyên thủ quốc gia, của các cơ quan, đoàn thể, tổ chức và chính khách tiến bộ khắp các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của Vụ Tổng hợp, Bộ Ngoại giao Việt Nam, Việt Nam đã nhận được tuyên bố ủng hộ cấp chính phủ của 4 nước; tuyên bố ủng hộ cấp bộ ngoại giao của 10 nước; phát ngôn của chính phủ của 3 nước; tuyên bố của quốc hội và mặt trận yêu nước của 2 nước; thông tấn xã 5 nước ra tuyên bố; nguyên thủ, thủ tướng, phó thủ tướng của 30 quốc gia trên thế giới ra tuyên bố; 13 bộ trưởng bộ ngoại giao và một số bộ khác của các nước ra tuyên bố; khối các nước không liên kết cũng ra tuyên bố phản đối mạnh mẽ cuộc ném bom của Mỹ…

Việt Nam không chỉ nhận được những lời đồng tình, ủng hộ, động viên chân thành của các nước bạn bè trong phe xã hội chủ nghĩa mà còn nhận được rất nhiều lời động viên, khích lệ từ phía Chính phủ và nhân dân những nước đồng minh của Mỹ, kể cả các chính khách và nhân dân tiến bộ Mỹ.

Ngày 27-12-1972, đồng chí Rô-lăng-lơ-roa, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp phát biểu: Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp sẽ làm hết sức mình cùng với các tổ chức dân chủ, hòa bình ở Pháp tăng cường hơn nữa sự ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam về mọi mặt tinh thần và vật chất. Hội nghị lần thứ 9 Trung ương Đảng Cộng sản Nhật Bản ngày 26-12-1972 cũng ra lời kêu gọi nhân dân thế giới hãy “phát huy mọi sức mạnh có thể có, để giúp đỡ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm thực hiện hòa bình và quyền tự quyết dân tộc”. Ngày 6-1-1973, Liên minh toàn quốc hành động vì hòa bình Mỹ ra lời kêu gọi: Nhân dân Mỹ phải hành động kiên quyết, nhằm buộc chính quyền Ních-xơn phải chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác. Trước đó, ngày 21-12-1972, 17 nghị sĩ Mỹ đã chất vấn Tổng thống “rằng nếu ngài không thể hoặc không muốn đưa chúng tôi ra khỏi Việt Nam thì Quốc hội sẽ phải thi hành nghĩa vụ của mình để làm việc đó…”.

Ngày 28-12-1972, Liên đoàn Công đoàn thế giới tuyên bố đòi Mỹ chấm dứt ngay các cuộc ném bom và ký ngay không chậm trễ bản hiệp định giữa Mỹ và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 20-10-1972, kêu gọi lao động và công đoàn các nước đẩy mạnh vận động đòi Ních-xơn chấp nhận những điều khoản đã thỏa thuận. Bức điện ngày 22-12-1972 của Liên đoàn các nhà khoa học thế giới gửi tới Tổng thống Ních-xơn yêu cầu “chấm dứt tức khắc những cuộc tiến công phản phúc và vô liêm sỉ này và sớm ký bản hiệp định đã thỏa thuận trước cuộc tuyển cử Tổng thống Mỹ…”. Sau này, nhớ lại những ngày cuối năm 1972, chính H. Kít-xinh-giơ cũng phải thừa nhận rằng nước Mỹ đã nhanh chóng bị chìm ngập trong làn sóng thịnh nộ đang dâng lên trước cuộc ném bom…

Chính những lời tuyên bố, phát ngôn lên án Mỹ mạnh mẽ, kiên quyết và quyết liệt của bạn bè quốc tế đã góp phần cảnh cáo, răn đe, kiềm chế bản tính hung hăng, hiếu chiến của chính quyền Mỹ; khiến cho Mỹ hết sức lúng túng, bị động, bị cô lập và chịu áp lực lớn từ nhiều phía cả trong nước lẫn trên bình diện quốc tế, buộc phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào đàm phán một cách thực chất, cam kết rút khỏi Việt Nam.

Như vậy, quân và dân Việt Nam đã kiên cường chiến đấu với bom, đạn, máy bay B-52 Mỹ với niềm tin chiến thắng và sự hậu thuẫn, ủng hộ to lớn không chỉ về vật chất mà cao hơn cả là về chính trị tinh thần của bạn bè trên thế giới. Chính tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh cộng với sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn đó đã làm nên thắng lợi vĩ đại có một không hai trong lịch sử không quân thế giới thế kỷ XX.

Trung tá Nguyễn Văn Quyền
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
qdnd.vn

Món đồ 40 năm và câu chuyện về lòng vị tha

QĐND – Tính ra đã 40 năm, ông Nguyễn Xuân Thao giữ bên mình những đồ vật ấy: Chiếc áo khoác ba lỗ màu xanh đã ngả màu cùng tấm bản đồ bị mối xông thủng lỗ chỗ. Một nửa đời người chầm chậm trôi qua, những món đồ của một viên phi công Mỹ bỏ lại nơi Bệnh viện huyện Vĩnh Tường năm nào, giờ đã trở thành một phần trong cuộc đời của người bác sĩ già. Bởi lẽ, chúng nhắc ông nhớ tới câu chuyện về lòng vị tha trong một thời máu lửa mà hào hùng của dân tộc.

Ông Thao với chiếc áo của phi công Mỹ.

Ký ức

Sinh ra và lớn lên ở vùng đất của máu và lửa Quảng Trị, trong ký ức của ông Thao, hình ảnh những năm tháng chiến tranh ác liệt chưa bao giờ phai nhạt. Hơn 20 tuổi, ông rời xa quê hương ra Hà Nội quyết tâm theo học ngành y, với mơ ước trở thành bác sĩ để có thể tận tay cứu chữa cho đồng bào gặp nạn. Có lẽ, ông Thao cũng chẳng bao giờ ngờ được mình lại tự tay cấp cứu cho những phi công Mỹ – những người đã lái máy bay B-52 ném bom tàn phá Hà Nội.

Đêm 28-12-1972, một chiếc máy bay B-52 của Mỹ rơi ngay bến đò Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ba phi công Mỹ nhảy dù thoát chết và bị dân quân bắt được. Thời kỳ đó, ông Thao làm Phó giám đốc Bệnh viện huyện Vĩnh Tường. Ông kể: “Khoảng 10 giờ hơn ngày 28, bệnh viện được tin báo rằng giặc lái rơi. Nghe tới đó thì tôi phấn khởi lắm. Từ trước tới giờ, tôi mới nghe tin ta bắn B-52 nhưng rơi nhiều nơi khác, kỳ này lại nghe bắn rơi ngay tại chỗ mới biết quân ta quả thật tài tình, dũng cảm”. Những ký ức ùa về trong tâm trí người bác sĩ già như những cơn gió ấm áp xua tan cái lạnh giá của mùa đông. Dù đã 40 năm trôi qua, nhưng mỗi lần nhắc lại quá khứ, ánh mắt ông vẫn luôn sáng lên niềm tự hào.

Khoảng 11 giờ, Bệnh viện huyện Vĩnh Tường đột nhiên phải tiếp nhận những bệnh nhân “đặc biệt”. “Trong những trường hợp như vậy, bệnh nhân thường được chuyển lên tuyến trên. Không thể ngờ tới, hai phi công của địch lại được chuyển đến chỗ tôi. Người thứ ba thì bị giải về huyện ngay gần bệnh viện. Có lẽ lịch sử đã sắp đặt để tôi phải đối diện với những con người ấy”, ông Thao trầm ngâm kể lại.

Câu chuyện về lòng vị tha

Đêm đó, ông Thao là vị bác sĩ trực tiếp khám và chỉ đạo chữa trị cho những phi công Mỹ. “Lúc những người này xuất hiện, tôi tự nhiên nảy sinh mâu thuẫn. Mặc dù bản thân là thầy thuốc, có trách nhiệm phải cứu người, nhưng lòng tôi vẫn vô cùng tức giận. Tôi đã nghĩ sao mình có thể chữa trị cho chính những kẻ đã gây nên tội ác với đồng bào mình, với máu thịt mình được. Nhưng dường như, lòng vị tha và nhân ái chính là bản năng của người Việt Nam. Tôi đã dẹp bỏ suy nghĩ “địch, ta”, xác định rằng đấy là bệnh nhân và mình phải có bổn phận cứu chữa cho họ”, ông tâm sự.

Sau khi khám cho hai viên phi công Mỹ tại bệnh viện, ông Thao phát hiện người nằm trên băng-ca đã bị thương ở chân, nhiều khả năng là gãy chân. Người còn lại khá trẻ, mặt luôn cúi gằm, ngồi ngay tại cửa phòng bệnh nhưng không có vết thương nào. Đột nhiên trong huyện báo: “Yêu cầu bác sĩ đến kiểm tra phi công bị ướt trong huyện để có biện pháp cấp cứu luôn”. Nghĩ đến thời tiết giá lạnh, ông Thao tức tốc cầm áo quần bệnh nhân rồi đạp xe đến đó. Viên phi công trong huyện bị ướt, cởi trần, mặc quần soóc. Anh ta không bị thương nặng, chỉ là va đập khiến một bên vai đau nhức. Anh ta ngồi cúi đầu, quay mặt vào trong. Ông Thao chỉ có thể thấy tấm lưng rất lớn đang run rẩy. “Vì quần áo bệnh nhân cầm trên tay lại khá hẹp, người to lớn như vậy không thể mặc vừa, nên tôi đã khoác chiếc áo lên lưng viên phi công Mỹ rồi tức tốc đạp về bệnh viện kiếm chiếc chăn để mang lại. Lúc đó tôi chỉ có một suy nghĩ là cứu giúp bệnh nhân”, người bác sĩ già kể.

Món đồ “niên đại” 40 năm

Về lại bệnh viện, sau khi tìm thấy chiếc chăn, ông Thao bắt mạch, đo huyết áp lại lần cuối để truyền dịch cho bệnh nhân trên băng-ca. Bỗng ông nhận được tin báo phải rời bệnh nhân đi ngay, không được chậm trễ. Chiếc ô tô đã chờ sẵn mang theo ba phi công Mỹ phóng vút đi ngay trong đêm hôm đó. Quay trở về phòng bệnh, ông phát hiện chiếc áo khoác ba lỗ màu xanh cùng tấm bản đồ của một trong ba phi công Mỹ để lại. Người bác sĩ đã giữ những món đồ ấy với suy nghĩ giản đơn là “bảo quản đồ vật của bệnh nhân”. Nhưng theo thời gian, chúng cũng dần trở nên gắn bó với ông Thao.

Có lẽ, chúng đã trở thành một phần của ký ức về những năm tháng chiến tranh ác liệt, hoặc giả, chúng là “nhân chứng” trong một câu chuyện về lòng vị tha của người Việt Nam. Tháng năm qua đi, những dấu tích một thời bom đạn cũng dần phai mờ theo quy luật của thời gian, nhưng những ký ức về cái đêm mùa đông năm đó vẫn luôn in sâu trong tâm trí ông. Trong suốt 40 năm, mỗi lần cầm trên tay chiếc áo, hình ảnh tấm lưng to bản run rẩy cùng khuôn mặt cúi gằm của những viên phi công Mỹ lại hiện ra trong tâm trí ông Thao.

Từ bấy đên nay, ông Thao chưa bao giờ giặt chiếc áo của viên phi công Mỹ. Thảng có hôm nắng to thì mang ra phơi, xong lại gấp gọn gàng bỏ vào cặp. Ông cũng từng nghĩ tìm cách trả lại món đồ cho chủ nhân của nó, chỉ là để nhắc nhở cho họ – những người từng lái máy bay tàn phá Việt Nam, một câu chuyện về lòng vị tha. “Tôi mong muốn, việc trao trả sẽ là một dấu ấn nhắc nhở, để không chỉ viên phi công khi đó mà tất cả người Mỹ đều biết rằng, thời kỳ họ đem máy bay sang đây bắn phá, gây tội ác, khi họ rơi xuống đất, vẫn được người dân, người thầy thuốc ta nhân đạo cứu giúp”, ông Thao chân thành bày tỏ.

Bài và ảnh: NGỌC THƯ
qdnd.vn

Không quên quá khứ, sống cho nên người (Bài 3)

Ký ức nhân chứng 40 năm Ngày Khâm Thiên bị B-52 đánh bom

QĐND – “Dọc các con ngõ đều đụng xác người chết. Căn nhà số 47 phố Khâm Thiên, mọi người tìm thấy trong hầm thi thể hai mẹ con. Lúc đưa ra, người mẹ vẫn ôm siết đứa con vài tháng tuổi, hai mái đầu chụm vào nhau. Người mẹ chết rồi nhưng gương mặt, ánh mắt vẫn toát lên vẻ lo âu cho con trẻ. Tôi và những người có mặt trước cửa hầm không cầm được nước mắt. Chúng ta đang đứng ngay trên miệng căn hầm ngày xưa đó”. Nói rồi, anh Trần Đình Long cùng chúng tôi thắp hương, nghiêng mình trước Đài tưởng niệm Khâm Thiên, nơi có tượng người mẹ bế con trên tay.

Anh Trần Đình Long (sinh ra và lớn lên tại số nhà 48 ngõ Lệnh Cư, phố Khâm Thiên) hồi tưởng: “Gia đình tôi ngày đó có 6 người đều không sơ tán. Mẹ vừa sinh em bé nên cả nhà quyết định ở lại. Lúc đó tôi 11 tuổi. Tối 26-12-1972, còi báo động vang lên, mọi người chui nhanh xuống hầm. Do hiếu kỳ, nên tôi chạy ra ngoài nghe còi báo động. Bố chạy ra, lôi tôi vào hầm. Chưa đầy một phút sau, tiếng nổ liên hồi vang lên. Nhà tôi tưởng chừng sập đến nơi. Tiếng bom nổ kèm theo bùn đất, bê tông, mái ngói, gỗ, ống nước kẽm tung lên khỏi mặt đất, phát ra những âm thanh ghê rợn. Vừa dứt bom, tôi chạy ra khỏi hầm, men ra đằng sau nhà. Thật khủng khiếp, một quả bom rơi đúng hồ Chùa (hồ nằm cạnh chùa, nên người dân gọi là hồ Chùa), tạo thành một hố sâu thẳm như hố tử thần, miệng hồ bị bom giội toác ra. May sao quả bom rơi xuống hồ, nếu không cả nhà tôi và dân ngõ Lệnh Cư khó lòng sống sót.

Bác Trần Đức Vinh thường xuyên đến Đài tưởng niệm Khâm Thiên để thắp hương tưởng nhớ những người đã khuất.

Đêm đó, không ai chợp được mắt, cứ lo máy bay địch quay lại. Gần sáng, tiếng kêu khóc thảm thiết. Tôi đi ra ngoài, thấy bộ đội công binh tập trung rất đông ở một ngôi nhà. Nghe kể, đêm qua, bom rơi trúng căn nhà nhưng chưa nổ, nên gọi bộ đội đến xử lý. Sau đó mọi người được giải thích, do nhà máy kem gần đấy bị trúng bom, nên bình ô-xy bay lên, rơi trúng nhà dân, chứ không phải bom. Trời tối, trải qua trận bom kinh hoàng, nên mọi người tưởng là bom. Nếu là bom, thì “đi” cả khu rồi”.

Cùng ra thắp hương ở Bia căm thù, có bác Trần Đức Vinh (sinh năm 1953, nhà trong ngõ Lệnh Cư). Chứng kiến “vụ ném bom thế kỷ” tại Khâm Thiên, trải qua 40 năm, những gì xảy ra buổi tối 26-12-1972 vẫn còn ám ảnh trong trí nhớ bác. “19 giờ tối ngày 26-12-1972, chúng tôi (dân phòng) được thông báo, máy bay B-52 chuẩn bị đánh Hà Nội nên phải chuẩn bị sẵn sàng ứng phó mọi tình huống. Còi báo động rú liên tục. Chúng tôi vội xuống hầm. Gần 23 giờ, chỉ nghe thấy những tiếng “hịch, hịch”, mặt đất rung chuyển, đất dưới chân như muốn sụt xuống. Hai mẹ con tôi ngồi trong hầm chỉ biết ôm đầu, bịt tai. Khói bom ken đặc trong hầm, hai mẹ con ho sặc sụa. Ngớt tiếng đạn phòng không, chúng tôi vội lên khỏi hầm, nháo nhác gọi tên người thân, hàng xóm xem ai còn, ai mất. Tiếng gào khóc khiến tôi sởn gai ốc, lạnh sống lưng. Nghĩ lại, vẫn thấy gai người.

Trời tảng sáng, cảnh tượng dần rõ nét. Hoang tàn. Đổ nát. Chết chóc. Bom san phẳng cả khu phố. Đứng giữa phố cũng nhìn thấy ngã tư Ô Chợ Dừa. Sợ máy bay ném bom nữa, tôi đưa mẹ đi sơ tán ở Ba La – Bông Đỏ. Từ ngõ Lệnh Cư ra đến đầu ngõ chợ Khâm Thiên, xác người la liệt. Quan tài chưa có, người chết được phủ bằng những tấm chiếu rách te tua. Đưa bà cụ đi sơ tán xong, tôi đạp xe quay về Khâm Thiên, thấy một vài cỗ quan tài đóng vội.

Thanh niên được huy động, đào bới bằng tất cả những gì còn lại, từ cuốc, xẻng cho đến đòn gánh, thanh sắt, củi, thậm chí bằng tay. Cứu người trong hầm là ưu tiên số 1 nhưng đa phần những người vô tội đều đã chết. Đa phần hầm tăng xê đều đầy nước, người chết đã trương lên, phải lấy đòn gánh, buộc vào hai cánh tay, dùng sức của 5, 6 thanh niên mới kéo lên được. Giờ nghĩ lại vẫn thấy sợ, không hiểu sao hồi đấy chúng tôi có thể vượt qua được những cảnh tượng kinh hoàng đó…”.

Ngày ngày, đi qua Đài tưởng niệm Khâm Thiên, anh Trần Đình Long, bác Trần Đức Vinh và người dân phố Khâm Thiên đều nghiêng mình cúi đầu. Bác Long tâm sự: “Tôi vẫn thường xuyên nhắc con cháu trong nhà, nếu không bận việc thì ra đài tưởng niệm thắp nén hương, dọn dẹp vệ sinh. Phải ghi nhớ những mất mát, hy sinh trong quá khứ, để sống sao cho nên người, có ích cho xã hội. Đó là điều thế hệ trẻ hôm nay nên trân trọng và gìn giữ”.

Bài và ảnh: HỒNG ANH và ĐÌNH HÙNG
qdnd.vn

Nỗi ám ảnh (Bài 1)
Sinh linh bé bỏng (Bài 2)

Sinh linh bé bỏng (Bài 2)

Ký ức nhân chứng 40 năm ngày Khâm Thiên bị B-52 đánh bom

QĐND – …Cái chết của rất nhiều sinh linh bé nhỏ đã được ghi lại bằng phim ảnh trong hệ thống lưu trữ của Hà Nội. Một trong những bằng chứng đau lòng nhất là đoạn phim được thực hiện ngay sau trận ném bom phố Khâm Thiên.

Đoạn phim đặc tả sự tàn phá khủng khiếp của đợt không kích. Phố Khâm Thiên chỉ còn sót lại vài ngôi nhà. Nhà cửa bị nghiền nát. Khi máy quay đang tố cáo sự tàn phá, mắt người xem chợt dừng lại trước một cảnh tượng thảm khốc.

Nhô ra dưới đống gạch đổ là phần thân trên của một em bé. Một bé trai chừng chín, mười tuổi bị đống đổ nát đè bẹp cả cơ thể bất động.

Bàn tay của em nhỏ vươn ra…

Đôi tay cậu mở rộng ra, có vẻ như đang ôm vật gì đó vào thời điểm trước khi chết. Khi máy quay tiếp tục lướt qua, người ta đã biết được cậu bé đang cố làm gì vào thời khắc cuối cùng trong cuộc đời ngắn ngủi ấy. Trên mặt đất, cách đôi tay cậu bé chừng nửa mét là một chiếc lồng chim bị giập nát. Trong khi các khối bê tông đổ xuống đã giết chết cậu bé, thì hai con chim yến nhỏ vẫn còn sống trong khoảng lồng còn lại.

Nỗ lực cuối cùng của cậu bé là một hành động của yêu thương-cố sức cứu sống hai chú chim yến nhỏ (Chân trần chí thép, tác giả James G. Zumwalt, NXB Tổng hợp TP HCM, 2011).

May mắn hơn, cậu bé Trần Dũng, ở ngõ Lệnh Cư, phố Khâm Thiên, sinh ngày 9-12-1972 vẫn được ở bên gia đình sau trận bom B-52 rải thảm đó.

Nhớ lại thời điểm con trai được hơn tuần tuổi, ông Trần Đình Thược cho chúng tôi hay: “Lần đầu nghe tiếng bom nổ, Dũng co rúm lại, khóc váng lên. Đấy là hai bác đã lấy bông nhét chặt vào tai Dũng rồi. Sau đó vài bữa thì Dũng quen dần với tiếng bom”.

Thậm chí ở trong hầm, bé trai đỏ hỏn vẫn cố rít vài giọt sữa ngọt ngào của mẹ. Ngày đó khó khăn trăm bề, quần áo sơ sinh không có, gia đình phải lấy chăn, màn, quần áo cũ lót thành tã, quấn vào giữ ấm cho Dũng. Dành dụm, chắt bóp, nhờ vả, ông Trần Đình Thược mới mua được ít sữa bò về cho con ăn.

Em bé bị bê tông, gạch đè chết sau trận bom

Chiến tranh quả là ác mộng, ông Trần Đình Thược thắp một nén nhang cho vợ, rồi kể tiếp chuyện: “Mẹ thằng Dũng khi sinh con chẳng có gì ăn, nhịn đói đi đẻ. Khai hoa nở nhụy xong, bác gái như cây chuối già xơ đét lại. Thương vợ sức yếu, tôi quyết định không đi sơ tán. Cứ mỗi khi loa phóng thanh báo động có máy bay, cả nhà 6 người lại xuống ngay hầm trú ẩn lòng đầy lo lắng. Ngày 26-12-1972, tôi vẫn làm lạ vì bữa đó cu Dũng không khóc gì cả. Có đòi ăn thì cũng chỉ ọ ọe cựa mình. Đêm tối, tiếng bom nổ như ngày tận thế. Dũng vẫn nằm yên trong lòng mẹ. Hai vợ chồng nhìn nhau, nhìn các con, ứa nước mắt… May sao, nhà tôi không bị trúng bom nhưng bước chân lên cửa hầm, nhìn ra bên ngoài, tôi bắt gặp vô số ánh mắt điên dại. Chỉ kịp dặn vợ con cẩn thận, tôi cầm lấy xẻng, chạy bổ sang nhà hàng xóm đào bới, cứu người. Đến tận bây giờ, tôi không thể nào quên ánh mắt mờ đục, tê dại của ông Nguyễn Văn Tùng, người cùng phố, khi mất đi người con trai, con dâu sau trận bom khủng khiếp đó…”.

… Khi ông Tùng (Nguyễn Văn Tùng-PV) vừa được kéo ra, đã có mặt ba người con trai ở đấy. Họ bảo rằng không thấy vợ chồng Giang ở đâu. Ông Tùng nhìn về phía căn hầm nơi Giang cùng vợ đã chui vào. Ông kinh hãi khi thấy nó đã bị phá hủy hoàn toàn.

“Có tới hai hố bom, một hố ngay trên nóc hầm. Tôi cùng ba người con tìm kiếm dấu vết của những người trú ẩn trong hầm đó. Nhưng chả tìm được gì”.

Ông Tùng và các con tiếp tục tìm kiếm xung quanh và phát hiện ra một điều khủng khiếp. “Tôi bắt gặp một thi thể nằm cách căn hầm mà Giang đã nấp chừng một trăm thước”, ông Tùng kể. “Dù khuôn mặt người chết đã bị phá nát nhưng qua vóc dáng và chiếc đồng hồ trên tay, tôi có thể nhận ra con mình”.

“Chúng tôi mang thi thể nó về nhà, liệm vào trong quan tài do chính quyền cấp và sau đó đưa đi an táng”.

hi thể người con dâu của ông-cũng như phần lớn những người trú ẩn trong căn hầm đó-đến nay vẫn chưa được tìm thấy; sức nổ của hai quả bom đã nghiền nát và thổi bay xương thịt họ. Người ta nói rằng có tới hai mươi bảy người trong căn hầm vào thời điểm nó bị trúng bom.

Điều đau đớn hơn nữa đối với ông Tùng là người con dâu đã có thai sáu tháng, sắp sinh đứa cháu đầu tiên cho ông (Chân trần chí thép).

Gấp lại cuốn sách “Chân trần chí thép”, anh Trần Dũng tâm sự: “Lớn lên, đọc sách báo tôi biết có hàng chục trẻ em đã chết sau trận bom đêm 26-12-1972 giội xuống Khâm Thiên. Tôi là đứa trẻ thực sự may mắn”.

Ngồi bên, ông Thược vít người Dũng xuống, xoa đầu con, bảo: “Dại mồm, ngày đó vợ con có mệnh hệ gì, chắc tôi không sống nổi”.

Bài và ảnh: HỒNG ANH và ĐÌNH DÙNG
qdnd.vn

Nỗi ám ảnh (Bài 1)

Bài 3: Không quên quá khứ, sống cho nên người

Nỗi ám ảnh (Bài 1)

Ký ức nhân chứng sau 40 năm Khâm Thiên bị B-52 đánh bom

QĐND – Khâm Thiên, 22 giờ 15 phút ngày 26-12-1972, còi báo động nổi lên, loa phóng thanh thông báo: Máy bay địch còn cách Hà Nội…

22 giờ 25 phút, ông Lê Đình Thịnh (số nhà 12 ngõ Hồ Cây Sữa, trong ngõ Chợ Khâm Thiên) nắm tay con rể tương lai Lê Văn Quang: “Ở lại, bố bảo mẹ kiếm chút gì nhắm rượu”.

Gần 23 giờ, căn hầm chữ A nhà ông Thịnh dính liền hai quả bom.

Khâm Thiên phút chốc tan hoang.

Thời điểm đó, hầm nhà ông Thịnh có 7 người trú ẩn, sau khi hứng chịu sức công phá khủng khiếp của hai quả bom nổ cách hầm 2m, thì 2 người chết tại chỗ. Đó là vợ ông Thịnh – bà Mai Thị Lý và con gái Lê Thị Liễu.

Bác Lê Văn Quang nhớ lại: “Khi quả bom đầu tiên phát nổ, hầm sập xuống, phía trên là sức nặng của hàng tấn gạch, ngói, bê tông đè lên. Mọi người trong hầm đều nghĩ: Chết”.

Quả bom thứ hai nổ ngay sau đó vài giây, gần vị trí quả bom thứ nhất nổ, thổi bay lớp gạch, bê tông vùi trên căn hầm.

Bác Lê Thị Sành (bên trái) vẫn gặp những cơn ác mộng về trận bom hủy diệt năm 1972

Người nhà ông Thịnh dùng tay, gậy, chạy đua với thời gian, đào bới điên cuồng. Bác Lê Thị Sành, vợ cựu chiến binh Lê Văn Quang hồi tưởng: “Ập vào mắt tôi là cảnh nhà cửa tan hoang, xác người nằm la liệt. Bố tôi cùng chiếc xe đạp được tìm thấy cách nhà 20m. Ông mất mà không vẹn xác. Khoảng hai tháng sau, chúng tôi phát hiện ra điều kinh khủng, chân ông nằm dưới một khối bê tông, cách nhà một quãng xa”.

Toàn bộ 6 khối phố ở Khâm Thiên hầu như bị xóa sạch trong đêm 26-12-1972. Bom Mỹ đã giết chết 287 người, trong đó có 40 cụ già, 55 em nhỏ; 290 người bị thương. Nhiều gia đình không ai sống sót.

Ngồi bên vợ, bác Lê Văn Quang tiếp lời: “Thật may hôm đó bố mẹ vợ tương lai giữ lại, chứ tôi chỉ ra đến đầu ngõ Chợ Khâm Thiên (để về nhà ở số 26 ngõ Văn Hương), là cầm chắc chết. Gia đình hai bên tổ chức ăn hỏi vào tháng 11-1972, dự định qua Noel tổ chức lễ cưới cho bọn tôi. Nào ngờ bom trút xuống vào buổi tối định mệnh. Người chết, nhà cửa không còn, hạt bí, gạo nếp chuẩn bị cho đám cưới cũng tung tóe, vương vãi khắp nơi…”.

Mọi người tiếp tục hì hục, cuống cuồng đào bới. Đến 3 giờ sáng 27-12, thì nghe thấy tiếng rên yếu ớt vọng từ dưới đống đổ nát trong nhà. Bác Lê Thị Sành nhảy vào giữa đống gạch, áp tai nghe ngóng, gào lên: “Bà nội còn sống”. Khi bom nổ, bà Hoàng Thị Còm (khi đó 88 tuổi) vẫn đang nhai trầu, lẩn ngay xuống tấm phản. Căn nhà đổ ập xuống, tấm phản dưới sức công phá của bom thù, vỡ làm đôi, nhưng lại vô tình thành “hầm chữ A” cứu sống bà Còm.

Rạng sáng 27-12, bà Hoàng Thị Còm được con cháu trong nhà đặt lên tấm cửa, khiêng ra ngoài đường. Đúng lúc xe Chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội đi kiểm tra tình hình đến. Đồng chí Chủ tịch Trần Duy Hưng kêu lái xe:

– Đưa cụ đi cấp cứu ngay (đến Bệnh viện Việt Nam – Cu-ba)!

Ba năm sau, cụ Hoàng Thị Còm về với tổ tiên do bệnh nặng. Cụ từng nói: Bà đã lớn tuổi, có chết cũng không sao. Hầm là để dành cho “lá xanh”. Bà có tấm phản che chở rồi, nếu địch rải bom thì lánh ngay dưới phản. Quả thật, tối 26-12-1972, như có phép màu, tấm phản vỡ đôi, bao bọc lấy thân già.

Chuyện thật như đùa, ba hôm sau, trong lúc đào bới vườn nhà, gia đình bác Lê Thị Sành phát hiện hai con lợn… vẫn còn sống. “Có chắc ba ngày sau lợn vẫn còn sống không bác?”. “Chắc chắn. Người lo cứu người. Ai hơi đâu để ý đến gà, lợn”.

…Cầm bức ảnh bố mẹ trên tay, bác Lê Thị Sành ngấn lệ: “Bố mẹ tôi không còn bức ảnh nào nữa, còn mỗi tấm hình này thôi. Điềm báo trước thì phải. Tết Nguyên đán 1972, ông bà bảo các con đi Công viên Thống Nhất chụp ảnh. Mải chơi chẳng đứa nào nghe, ông bà đi bộ ra công viên chụp ảnh kỷ niệm. 40 năm rồi còn gì! Anh chị hỏi sao không sơ tán? Đi làm sao được. Ông cụ cùng tôi khi đó làm ở Xí nghiệp Xe đạp Thống Nhất. Em gái Lê Thị Liễu công tác ở Công ty may Thăng Long. Mẹ ở tổ phục vụ ngay đầu ngõ chợ Khâm Thiên. Đi làm ca ba, chạy xuống hầm trú ẩn là chuyện bình thường”.

Trong câu chuyện, vợ chồng bác Lê Văn Quang, Lê Thị Sành bùi ngùi cho hay: “Nhà hàng xóm thật bất hạnh. Chết 10 người, sống duy nhất cô con dâu. Sau này người con dâu đi đâu cũng không ai hay biết”.

Tiễn chúng tôi ra về, bác Lê Thị Sành ngước mắt buồn nhìn cuốn lịch trên tường, lẩm nhẩm như người mất hồn: “40 năm rồi, bao giờ thoát được nỗi ám ảnh này…”.

Bài và ảnh: HỒNG ANH VÀ ĐÌNH HÙNG
qdnd.vn

(Bài 2: Sinh linh bé bỏng)