Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Chủ nghĩa Lênin là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng.

(ĐCSVN) – Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Chúng ta kỷ niệm đồng chí Lênin, thương nhớ đồng chí Lênin thì càng phải học tập và thực hành chủ nghĩa Lênin.

Là người Việt Nam yêu nước đầu tiên – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở chủ nghĩa Lênin con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Lênin qua bản Luận cương đã chinh phục hoàn toàn Nguyễn Ái Quốc và từng bước Người đã đi đến kết luận: chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” Nguyễn Ái Quốc đã khăng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin.

(22.4.1870/22.4.2009)

Lênin là người kế tục sự nghiệp của C.Mác-Ph.Ăng ghen và đã đưa chủ nghĩa xã hội khoa học phát triển từ lý luận trở thành hiện thực, mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Tên tuổi của Lênin gắn liền với cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, một cuộc cách mạng đã mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người và con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới thật sự cách mạng trong các thuộc địa và đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và nô lệ.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của mình, Lênin đã tập trung toàn bộ tâm lực, trí lực cho sự nghiệp giải phóng loài người khỏi ách áp bức bóc lột. Bằng những tác phẩm nổi tiếng như: “Làm gì”, “Một bước tiến, hai bước lùi”, “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, “Thà ít mà tốt”…Có những tác phẩm Lênin đọc cho thư ký ghi trong những ngày nằm trên giường bệnh. Đó là những cống hiến vô cùng to lớn về lý luận của Lênin.

Bên cạnh việc khẳng định Lênin là người đã thực hiện và phát triển chủ nghĩa Mác, là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định Lênin là người thầy đã đào tạo ra những chiến sĩ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận cách mạng khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất.

Học tập và làm theo những lời dạy của Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải ra sức học tập nâng cao trình độ lý luận, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Dù vô tình hay cố ý, duy trì ba bệnh ấy tức là giúp cho kẻ địch và làm hại cho nhân dân, cho Chính phủ, cho Đảng. Lênin dạy chúng ta giản đơn và khiêm tốn, trong sạch và chính trực, phải thật thà tự phê bình và phê bình để đoàn kết chặt chẽ và tiến bộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta đã khẳng định: Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ./.

Trung Hiếu

cpv.org.vn

Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược của Đảng ta

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong cuộc sống thường ngày, phụ nữ Việt Nam có vị trí và vai trò to lớn. Nhận rõ vị trí, vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm tới việc bồi dưỡng và phát triển khả năng to lớn của phụ nữ. Ngay từ năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Nguyễn ái Quốc đã khẳng định: “Muốn thế giới cách mệnh thành công thì phải vận động đàn bà” và “An nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành công”.

Sau cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng là phải giải phóng phụ nữ. Người nói “Phụ nữ là phần nửa của xã hội, nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người”(2).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phụ nữ cả nước có nhiều phong trào động viên chị em hăng hái tham gia sản xuất, chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh cho chiến trường đánh thắng… Điển hình là phong trào “5 tốt” của phụ nữ miền Nam, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ miền Bắc. Ở miền Nam, nơi trực tiếp đương đầu với Mĩ – Nguỵ, nhiều chị em đã tích cực tham gia lực lượng vũ trang. Đến cuối năm 1961, toàn miền Nam có 28.000 nữ du kích. Trong lực lượng dân quân du kích ở miền Nam, có thời điểm nữ du kích chiếm 2/3 quân số. Ở mọi hình thức đấu tranh, chị em đều chiếm tỷ lệ cao. Chị em còn phát huy “sở trường” trong công tác binh vận; đấu tranh theo phương pháp hoà bình của “đội quân tóc dài”; trong công tác bảo vệ cơ sở, bảo vệ Đảng nhằm giữ gìn lực lượng, đưa phong trào cách mạng vượt qua những năm khó khăn ác liệt.

Trong khi đó, chị em phụ nữ miền Bắc, ngoài số trực tiếp tham gia quân đội và lực lượng vũ trang nói chung, đông đảo chị em tham gia phong trào “Ba đảm đang” nổi tiếng: đảm đang sản xuất và công tác, thực hành tiết kiệm, thay thế nam giới đi chiến đấu; đảm đang việc gia đình, khuyến khích chồng con, anh em ra chiến trường; đảm đang phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.

Tính đến cuối tháng 5/1965, đã có 1.700.000 phụ nữ ghi tên phấn đấu đạt danh hiệu phụ nữ “Ba đảm đang”. Đây thực sự là một phong trào to lớn, có ý nghĩa sâu sắc, thu hút đông đảo chị em đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Có thể nói, chưa có khi nào trong lịch sử dân tộc, phụ nữ nước ta lại thể hiện rõ vai trò, sức mạnh của mình như trong thời đại Hồ Chí Minh, làm rạng rỡ thêm truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” của phụ nữ Việt Nam.

Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, phụ nữ tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lao động sản xuất, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh. Tới giữa năm 1984, từ phong trào cách mạng của quần chúng, phụ nữ một đội ngũ cán bộ nữ đông đảo đã phát huy vai trò tích cực trên mọi lĩnh vực hoạt động. Đáng chú ý là lực lượng nữ cán bộ khoa học kỹ thuật tăng nhanh, chiếm tỷ lệ khá cao: 50% trong số cán bộ có trình độ trung cấp; 30% trong số cán bộ có trình độ đại học.

Song trên thực tế, ở không ít ngành, địa phương và ở cộng đồng, nhận thức về vị trí, vai trò của nữ giới vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tạo điều kiện cần và đủ để chị em được phát triển toàn diện. Vì vậy, ngày 7-6-1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Chỉ thị số 44-CT/TW “Về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ”. Cùng với việc đánh giá những thành tựu của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước; những việc đã làm được của các cấp, các ngành trong bồi dưỡng, phát huy khả năng của phụ nữ, Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng chỉ ra những hiện tượng đáng quan tâm như: tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý và lãnh đạo giảm sút, nhất là trong các cơ quan quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước; cán bộ nữ hiện đang giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở cấp tỉnh, thành và Trung ương phần nhiều lớn tuổi, nhưng diện cán bộ kế cận rất ít; tỷ lệ đảng viên nữ ở nhiều nơi cũng giảm. Nhiều xã ở một số tỉnh miền Nam, ở miền núi chưa có đảng viên nữ…

Trong phương hướng tăng cường cán bộ nữ, Chỉ thị nêu rõ: Vấn đề cán bộ nữ phải được đặt trong việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ nói chung của Đảng và Nhà nước ta. Phải tuyển chọn cán bộ nữ từ những người ưu tú trong công nhân, nông dân, trí thức xã hội chủ nghĩa, nhất là trong công nhân đã trải qua rèn luyện trong thực tế phong trào cách mạng của quần chúng. Phải quyết tâm và có kế hoạch cụ thể đào tạo, bồi dưỡng để chị em có đủ năng lực, phẩm chất trên cơ sở đề bạt một cách vững chắc…

Quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, theo dõi công tác bồi dưỡng, phát triển giới nữ để có định hướng và những chính sách, bước đi phù hợp. Ngày 12-7-1993, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 04-NQ/TW “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Nghị quyết khẳng định: “Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò và vị trí quan trọng. Giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển đất nước. Bồi dưỡng lực lượng phụ nữ, phát huy sức mạnh và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ nữ là nhiệm vụ thường xuyên, rất quan trọng của Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng”. “Trong những năm qua, các tầng lớp phụ nữ nước ta phát huy truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, đã đoàn kết, đổi mới, sáng tạo trong lao động, công tác, đạt nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội…”

Nghị quyết cũng chỉ rõ: “Trong khó khăn của đất nước, phụ nữ đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Một bộ phận đáng kể phụ nữ không có hoặc không đủ việc làm, thu nhập thấp. Nhiều chị em còn phải làm việc trong các điều kiện nặng nhọc, độc hại. Sức khoẻ phụ nữ nói chung giảm sút… Phụ nữ còn bị phân biệt đối xử dưới nhiều hình thức… Là nạn nhân của nhiều tệ nạn xã hội đang có chiều hướng phát triển như: mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, mê tín dị đoan… Những khó khăn trên đang ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phụ nữ, của thế hệ tương lai.”

Nghị quyết 04-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng đề ra 3 quan điểm và 6 công tác lớn nhằm tăng cường việc chăm lo, bồi dưỡng, vận động và phát triển phụ nữ trong tình hình mới.
Ngày 29-9-1993, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 28-CT/TW về thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị: “Đổi mới, tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Bản chỉ thị yêu cầu các cấp uỷ Đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng uỷ các khối Trung ương cần nắm vững những nhiệm vụ sau:

1. Làm cho toàn Đảng, toàn dân thấy rõ vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam, sự cần thiết đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ; quán triệt 3 quan điểm và 6 công tác lớn, quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị.

2. Thể chế hoá, cụ thể hoá Nghị quyết bằng các chủ trương, chính sách, pháp luật, chương trình của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; tổ chức thực hiện có kết quả thiết thực.

3. Chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể thực hiện từng việc phù hợp với điều kiện thực tế ở từng đơn vị, địa phương; có kiểm tra, đôn đốc, sơ kết và tổng kết.

Không đầy một năm sau, Ban Bí thư Trung ương Đảng lại có Chỉ thị số 37-CT/TW (ngày 16-5-1994) “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”, đặt ra việc: Tiếp tục nâng cao nhận thức, quan điểm của Đảng về vấn đề cán bộ nữ ; có quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ; nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp, các ngành; xây dựng chính sách, tạo điều kiện cho cán bộ nữ làm việc và khuyến khích tài năng nữ phát triển; đẩy mạnh công tác phát triển đảng trong phụ nữ.

Trong các văn kiện đại hội toàn quốc của Đảng, Đảng ta cũng nhiều lần đặt vấn đề phải thường xuyên quan tâm, bồi dưỡng và phát triển lực lượng phụ nữ trong các giai đoạn cách mạng. Và trên thực tế trong sự nghiệp đổi mới đất nước những năm vừa qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng phụ nữ Việt Nam đã không ngừng vươn lên trên các lĩnh vực lao động, sản xuất, đặc biệt là việc nâng cao dân trí, chiếm lĩnh đỉnh cao của khoa học-công nghệ. Theo số liệu mới được thống kê gần đây (báo Quốc tế, ra thứ năm hàng tuần từ 3/3/2005 – 9/3/2005), phụ nữ Việt Nam chiếm tỷ lệ : 61% những người có trình độ cao đẳng; 34% những người có trình độ tiến sĩ; 4% những người là tiến sĩ khoa học; 40% tham gia hoạt động khoa học-công nghệ; 6,3% là cán bộ của các cơ sở nghiên cứu; 10% là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước.

Như vậy, có thể thấy công tác bồi dưỡng, phát triển, vận động phụ nữ đã trở thành hệ thống có tính lý luận và thực tiễn, là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược của Đảng ta trong mọi thời kỳ cách mạng. Quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nói chung, Đảng ta luôn quan tâm tới sự phát triển của phụ nữ, không chỉ vì phụ nữ là một nửa của xã hội, mà còn là vì phụ nữ nước ta thực sự có vị trí và vai trò to lớn trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc. Đó là điều đã được Đảng ta khẳng định. Nhưng không phải lúc nào, giai đoạn nào cũng được các cấp uỷ, chính quyền điạ phương, đơn vị nhận thức một cách đầy đủ và thực hiện hiệu quả.

Để thực hiện tốt chiến lược phát triển “Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam”- như Đại hội Đảng lần thư VIII đề ra – theo chúng tôi, nhiệm vụ này cần được đặt trong chương trình công tác thường kỳ của cấp uỷ, chính quyền các cấp, các ngành, đơn vị với những chính sách, quy định cụ thể để công tác bồi dưỡng, phát triển, vận động phụ nữ thường xuyên đi vào cuộc sống. Và trong thời gian tới, cần:

– Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về giới để mọi người nhận thức ngày càng đúng đắn, sâu sắc về vị trí, vai trò, khả năng to lớn của người phu nữ trong xã hội, đi tới loại bỏ về căn bản những định kiến về giới, nhất là tư tưởng coi thường phụ nữ vẫn còn tồn tại ở các giai tầng xã hội. Đây là công việc phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, vì những nhận thức xưa cũ đã tồn tại lâu đời, không phải chỉ trong một thời gian chúng ta có thể dễ dàng thay đổi được.

– Vấn đề bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ phải được thể chế bằng những chính sách, việc làm cụ thể. Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ là sự bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì vậy phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội, để họ có điều kiện phát huy tài năng, trí tuệ và sức lực của mình cho sự phát triển xã hội.

– Có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao dân trí, trình độ chính trị, chuyên môn cho phụ nữ nói chung, nhất là đối với phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa, dân tộc ít người, điều kiện mọi mặt còn nhiều khó khăn; quan tâm tới lực lượng cán bộ nữ trẻ có năng lực, đạo đức và khả năng quản lý để đào tạo họ trở thành cán bộ lãnh đạo ở các cấp; có nhiều loại hình lớp bồi dưỡng, tập huấn giúp phụ nữ ngày càng hiểu rõ hơn đường lối, quan điểm của Đảng vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam để họ tự tin, không ỷ lại, trông chờ, vươn lên trong cuộc sống.

– Quan tâm tới bồi dưỡng, phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ là trách nhiệm của toàn Đảng, cấp uỷ, chính quyền các cấp, nhưng trước hết và trực tiếp là Hội liên hiệp phụ nữ các cấp. Hội vừa là cơ quan tham mưu của Đảng, chính quyền về công tác phụ nữ, vừa là đại diện, cầu nối giữa quần chúng phụ nữ với Đảng, vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện việc bồi dưỡng, giáo dục và tổ chức các phong trào cách mạng do phụ nữ thực hiện. Vì vậy Hội liên hiệp phụ nữ các cấp giữ một vai trò rất quan trọng trong thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, “vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam”./.

Lê Ngọc Toàn
Tạp chí Tư tưởng – văn hoá

cpv.org.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: “Mười hai điều đó chớ quên điều nào”

Bác Hồ đã nhiều lần nêu lên vấn đề “tư cách người cách mạng”. Sớm nhất bằng văn bản là những trang đầu trong Đường Kách mệnh, năm 1926-1927, cho tất cả những người tham gia cách mạng Việt Nam.

Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc ở chương III, mục A, Bác đã nêu lên 12 điều tư cách, không phải với một người, một ngành, mà cho một “Đảng chân chính cách mạng”.

Điều đầu tiên cũng là tư cách trên hết của một đảng chân chính cách mạng là “phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” chứ không phải là “một tổ chức để làm quan phát tài”. Ý trong điều này của Bác thì hiện nay ta đã hoàn thành việc 1 (giải phóng dân tộc). Còn việc 2 Đảng ta đang nỗ lực tiến hành (Tổ quốc, đồng bào sung sướng).

Điều thứ 2, Bác nêu lên là: “Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”. Cách mạng theo Bác là “đổi cũ ra mới, đổi xấu ra tốt”. Cái cũ mà tốt nên giữ và phát huy. Cái mới mà xấu thì không nên bắt chước mà phải “cách” đi. Lý luận cách mạng mới ở đây là lý luận cách mạng của Việt Nam, của riêng Đảng cách mạng Việt Nam. Đảng cách mạng chân chính không, không thể sao chép, rập khuôn theo một thứ lý luận, chủ nghĩa nào một cách nguyên xi, bản gốc. Không hiểu biết lý luận cách mạng ấy-sẽ bị người ta bịp bợm, lừa đảo và tất nhiên “Đảng chân chính cách mạng” sẽ bị thua, thất bại. Đây là một “tư cách” báo động cho Đảng nào cứ “ăn mòn quá khứ”, tư duy cũ kỹ, bảo thủ, giáo điều…

Điều 3, 7, 12 là những nội dung Bác đề cập tới là “Đặt ra chỉ thị luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương”, “phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát”, “phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình”, đề phòng “hóa ra lời nói suông” và “hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”. “Khéo dùng những cách thức”, là Bác nhằm ý “chủ trương 1, biện pháp 100”, chứ không nên nay “tăng cường”, mai “nâng cao”… mà không có cách làm cụ thể, tỉ mỉ, chu đáo, hiệu quả thì “chỉ thị” dễ “qua cầu gió bay” .

Bác thường dặn cán bộ, đảng viên rằng: “Mục đích của Đảng không gì khác là phục vụ quần chúng”, cán bộ, đảng viên, viên chức từ Trung ương đến cấp xã, phường, trong các đoàn thể… đều là “đầy tớ nhân dân”, “công bộc của dân”. Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được Bác giải thích trong các điều 4, 5, 6 rằng: “Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị (của Đảng), “mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng”, “mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng”. Đây là một răn dạy luôn “thời sự” đối với “Đảng chân chính cách mạng”. Thực tiễn của nhiều phong trào cách mạng, nhiều Đảng là khi thành công, giành được quyền lực, thì cán bộ, đảng viên đã không ít người “coi khinh quần chúng”, “hống hách” đe nẹt, dọa nạt những người mà trước đó, khi còn “trong bóng tối của phong trào” đã cưu mang đùm bọc họ, thậm chí đem cả mạng sống của mình, của gia đình mình để bảo vệ họ.

Điều 9, 10 của Tư cách đảng chân chính cách mạng được đề cập tới vấn đề tổ chức, cán bộ. Thế nào là những thành viên của Đảng chân chính cách mạng? Câu trả lời của Bác là “Đảng phải lựa chọn những người rất trung thành và rất hăng hái…”, đồng thời “phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài”.

“Hủ” danh từ Hán Việt này có nghĩa là “mục nát, già suy, cũ kỹ, hư nát, bại hoại, đần độn”. “Hủ hóa” là hóa ra hủ bại, là hóa ra tất cả những định nghĩa của “hủ”.

Vấn đề là rất rõ. Trong một gia đình chân chính-chưa nói tới chân chính cách mạng, mà lại sinh ra những người con “mục nát (trong đạo đức, lối sống), già suy (trong nhận thức, quan niệm…), cũ kỹ (ôm khư khư cái bảo thủ) hủ nát, bại hoại, đần độn…” thì thật “nguy tai, đại nguy tai”. Đảng chân chính cách mạng mà còn có những phần tử mang những căn bệnh của “hủ hóa” thì chắc là cũng “bại hoại”.

Để phòng bệnh hủ hóa này, Bác đã nói rõ trong hai điều 8 và 11. Trong điều 8, Bác nói rất rõ rằng: “Đảng không giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”. Điều 11, Bác lại nhắc “Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm, từ trên xuống dưới”.
Hai điều cuối cùng lại “nằm” trong những điều kiện sống còn của Đảng chân chính cách mạng. Nếu được ví Đảng chân chính cách mạng như một cơ thể sống, thì khuyết điểm của Đảng, của đảng viên, cán bộ có thể coi như bệnh tật. Có bệnh nhẹ, sơ sơ chỉ cần rèn luyện, uống thuốc nam, xoa bóp… là khỏi. Có những bệnh nặng “tứ chứng nan y”, nếu không phòng bệnh, giữ gìn “ăn uống”, “sinh hoạt cá nhân” dễ mắc những thứ bệnh mà cho dù có Hoa Đà, Lãn Ông sống lại cũng phải “bó tay”.

Bác đã có dịp khuyên răn đảng viên ta rằng “Chớ có dán 2 chữ cộng sản lên trán…”. Nhân dân, quần chúng trông vào đảng viên, cán bộ, viên chức là trông vào hành động phục vụ nhân dân, trông vào thái độ ý thức làm đầy tớ nhân dân; trông vào những lợi ích mà họ mang đến cho dân… chứ họ đâu khờ dại mà trông vào cái “mã” bên ngoài, trông vào “lời nói như mật ngọt đổ vào tai họ để “mị dân”, “trốn tránh”, che đậy…

Bác đã hạ bút viết hai câu lục bát cuối bài Tư cách của Đảng chân chính cách mạng như sau:

Muốn cho Đảng được vững bền
Mười hai điều đó chớ quên điều nào!

BTS (Theo QĐND)

cpv.org.vn

Những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một di sản vô giá, đó là tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về đạo đức. Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về đạo đức. Người để lại rất nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết chuyên về đạo đức. Ngay trong tác phẩm lý luận đầu tiên Người viết để huấn luyện những người yêu nước Việt Nam trẻ tuổi, cuốn Đường Kách mệnh, vấn đề đầu tiên Người đề cập là tư cách người cách mệnh. Tác phẩm sau cùng bàn sâu về vấn đề đạo đức được Người viết nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng (3-2-1969), đăng trên báo Nhân dân là bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong Di chúc thiêng liêng, khi nói về Đảng, Bác cũng căn dặn Đảng phải rất coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây, mà Người đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cơ bản và toàn diện về đạo đức, bao gồm: vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức; những phẩm chất đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới; yêu cầu rèn luyện đạo đức với mỗi người cách mạng.

1. Về vị trí, vai trò của đạo đức trong xã hội và trong đời sống của mỗi người

– Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ: với mình, với người và với việc. Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” .

– Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” .

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách. Người viết : “có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa” .

– Với yêu cầu đó, Hồ Chí Minh nêu ra năm điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

+ Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.
+ Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.
+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.
+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.
+ Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

– Đối với Đảng, tổ chức tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của V. I. Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại.

– Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện. Người nêu yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả ba mối quan hệ của con người: đối với mình, đối với người, đối với việc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Trong bản Di chúc bất hủ, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” .

2. Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh

a. Trung với nước, hiếu với dân

Trung, hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương Đông, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới.

– Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước, làm cho đất nước “sánh vai với cường quốc năm châu”. Nước là của dân, dân là chủ đất nước, trung với nước là trung với dân, vì lợi ích của nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”…

– Hiếu với dân nghĩa là cán bộ đảng, cán bộ nhà nước “vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của dân”.

– Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng. Người dạy, đối với mỗi cán bộ đảng viên, phải “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, và hơn nữa, phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân”.

– Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung với nước, hiếu với dân thể hiện quan điểm của Người về mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi cá nhân với cộng đồng, đất nước.

b. Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình

Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Yêu thương con người thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội.

– Tình yêu thương con người thể hiện trước hết là tình thương yêu với đại đa số nhân dân, những người lao động bình thường trong xã hội, những người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột. Yêu thương con người phải làm mọi việc để phát huy sức mạnh của mỗi người, đoàn kết để phấn đấu cho đạt được mục tiêu “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

– Thương yêu con người phải tin vào con người. Với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc; với người thì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng con người lên, kể cả với những người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm.

– Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn. Vì vậy, phải thực hiện phê bình, tự phê bình chân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến bộ.

– Yêu thương con người phải biết và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người.
Đối với những người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: học tập chủ nghĩa Mác – Lênin để thương yêu nhau hơn. Người viết: “Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được”

c. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh, là mối quan hệ “với tự mình”.

– Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương và Người giải thích cặn kẽ, cụ thể nội dung từng khái niệm.

+ Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta”.

+ Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức…”.

Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, trong công tác.
+ Liêm là trong sạch, là “luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”; “không tham địa vị, không tham tiền tài…, không tham tâng bốc mình…”.

+ Chính là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được, “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”.

Liêm, chính là phẩm chất của người cán bộ khi thi hành công vụ.

– Chí công là rất mực công bằng, công tâm; vô tư là không được có lòng riêng, thiên tư, thiên vị “tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán”, đem lòng chí công, vô tư đối với người, với việc. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Muốn “chí công, vô tư” phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân.

Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người “giữ cán cân công lý”, không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật.

– Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công, vô tư. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công, vô tư. Ngược lại, đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính.

d. Tinh thần quốc tế trong sáng

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là “người Việt Nam nhất” đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế.
Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thể hiện trong các điểm sau:

– Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột.

– Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”.

– Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội.

– Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…

3. Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới

Hồ Chí Minh nêu lên những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới trong xã hội và chính Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình, giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng thực hiện. Đó là:

a. Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức

– Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm.

– Nói đi đôi với làm trước hết là sự nêu gương tốt. Sự làm gương của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với nhân viên… là rất quan trọng. Người yêu cầu, cha mẹ làm gương cho các con, anh chị làm gương cho em, ông bà làm gương cho con cháu, lãnh đạo làm gương cho cán bộ, nhân viên…

– Đảng viên phải làm gương trước quần chúng. Người nói: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” .

b. Xây đi đôi với chống

– Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới, đó là “chủ nghĩa cá nhân”. Xây đi đôi với chống là muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chống chủ nghĩa cá nhân.

– Xây dựng đạo đức mới trước hết phải được tiến hành bằng giáo dục, từ gia đình đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội. Những phẩm chất chung nhất phải được cụ thể hoá sát hợp với các tầng lớp, đối tượng. Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá các phẩm chất đạo đức cơ bản đối với từng giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi và nhóm xã hội. Trong giáo dục, vấn đề quan trọng là phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh của mọi người, để mọi người nhận thức được và tự giác thực hiện.

– Trong đấu tranh chống lại cái tiêu cực, lạc hậu trước hết phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải phát hiện sớm, phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn.

– Để xây và chống cần phát huy vai trò của dư luận xã hội, tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi, biểu dương cái tốt, phê phán cái xấu. Người đã phát động cuộc thi đua “ba xây, ba chống”, viết sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục về đạo đức, lối sống.

c. Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời

– Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người viết: “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” .

– Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời. Người dạy: “ Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” .

– Tự rèn luyện có vai trò rất quan trọng. Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong mọi mối quan hệ của mình.

Theo Tài liệu học tập trong cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh – Tấm gương sáng ngời về đạo đức từ những ngày đầu hoạt động cách mạng tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam

(ĐCSVN) – Bác Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890, lúc bé tên là Nguyễn Sinh Cung đến khi bắt đầu hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc.

Vào cuối thế kỷ XIX, nước ta bị chủ nghĩa thực dân Pháp thống trị. Không cam chịu nô lệ, nhiều nhà yêu nước nổi tiếng như: Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám, Lương Văn Can…đứng lên cứu nước, nhưng đều bị thất bại. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của họ nhưng không thể đi theo con đường cải lương như cụ Phan Chu Trinh dựa vào Nhật để đánh đổ Pháp, chẳng khác nào “đưa hổ đi cửa trước, rước beo đi cửa sau”.

Trong cơn bế tắc giữa lúc tình hình đen tối không có đường ra, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành lúc đó mới có 21 tuổi đã có tinh thần yêu nước, yêu dân, kiên quyết rời bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Nguyễn Tất Thành đã len lỏi trong quần chúng cần lao, trong giới thợ thuyền, những người nông dân nghèo khổ, các nông thôn hẻo lánh ở New-York, Luân Đôn, Anh, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan…để tìm hiểu, tham gia vận động và tổ chức các phong trào cách mạng. Song, lúc đó Người chưa thể có điều kiện đầy đủ để bắt gặp Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Ở châu Âu, Chủ nghĩa Mác ra đời năm 1847-1911. Đã hơn 60 năm nhưng trên thế giới chưa có cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào giành được thắng lợi. Những nơi mà Nguyễn Ái Quốc đặt chân đến để tìm hiểu và nghiên cứu cũng chưa có Đảng Cộng sản và trước năm 1919, Quốc tế Cộng sản chưa ra đời. Người nghiên cứu những cuộc cách mạng tư sản đã giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển nhất. Đó là cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp tháng 7-1789. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này, nhưng không thể theo con đường cách mạng của họ được. Bởi vì như Người đã nói “Kách mệnh Mỹ cũng như cách mệnh Pháp nghĩa là Kách mệnh tư bản, Kách mệnh không đến nơi, tiếng là Cộng hoà, là dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nhân, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”.

Năm 1917, Người trở lại Pháp tham gia phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đến tháng 11 năm 1917, diễn ra một sự kiện rung chuyển toàn thế giới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử xã hội loài người. Đó là cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi vĩ đại, mở đầu một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1920, tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đọc văn kiện Luận Cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa . Người nói: “Bản Luận Cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi sáng tỏ biết bao! Tôi cảm động đến phát khóc lên! Ngồi một mình trong phòng mà tôi nói to lên như nói trước quần chúng đồng bào: “Hỡi đồng bào bị đoạ đày, đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. “Tôi chỉ có sự ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành. Mỗi ngày đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.

Đến giữa năm 1923, Người rời nước Pháp sang Liên Xô, trực tiếp tìm hiểu và hoạt động tại quê hương Lênin. Tại đây, Người có điều kiện thuận lợi để tiếp thủ đầy đủ Chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm hiểu kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, quan sát trực tiếp nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới ra đời và tham gia hoạt động của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba). Nhờ đó, nhận biết của Người về lý luận và thực tiễn nói chung, kinh nghiệm của cách mạng Tháng Mười Nga sâu sắc hơn đã giải đáp đúng đắn vấn đề mà Người rất quan tâm. Đó là con đường giải phóng dân tộc bị áp bức, độc lập và tiến lên chủ nghĩa xã hội, góp phần định hướng con đường cứu nước, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trong tương lai của dân tộc Việt Nam, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh của dân tộc Việt Nam.

Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đứng hẳn về con đường cách mạng Tháng Mười, đứng hẳn về Chủ nghĩa Mác – Lênin, đứng hẳn về Quốc tế Cộng sản. Như Người đã ghi lại trong cuốn sách Đường Kách mệnh: “Trong thế giới bây giờ chỉ có Kách mệnh Nga là thành công và công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật sự. Kách mệnh Nga đã đến được với tư bản, địa chủ, rồi lại gia sức cho công nông các nước và các dân tộc bị áp bức, các thuộc địa làm kách mệnh để lật đổ tất cả đế quốc và tư bản chủ nghĩa thế giới”.

Lập trường của Người đứng hẳn về Chủ nghĩa Mác – Lênin được ghi rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, Kách mệnh nhất là Chủ nghĩa Mác – Lênin”.

Với lập trường yêu nước đúng đắn của Người đã vạch ra chân lý sáng ngời cho dân tộc Việt Nam: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường Kách mệnh xã hội chủ nghĩa”. Người còn chỉ rõ: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức”.

Sau gần 15 năm tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, đến năm 1924, Người rời nước Nga Xô viết trở về phương Đông, Quảng Châu gần tổ quốc Việt Nam để truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp Chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam, đã dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2 năm 1930.

Đảng ta đứng đầu là Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại đã sớm giải quyết đúng đắn con đường cứu nước giải phóng dân tộc, đưa cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đây dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ Tịch đã động viên toàn dân, toàn quân tham gia chiến đấu giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa cả nước ta được hoàn toàn độc lập, thống nhất và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đến thắng lợi rực rỡ ngày nay.
Như vậy trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh, tấm gương sáng ngời đã được thực hiện như thế nào?

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện ở sự kết tinh truyền thống yêu nước của chủ nghĩa yêu nước, yêu dân, quyết tâm tìm bằng được con đường cứu nước, cứu dân, kiên quyết phấn đấu đem lại cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Trong quá trình đó, Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng cả đức và tài, trong đó lấy đức làm gốc. Đạo đức của Hồ Chí Minh thể hiện ở cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng phục vụ nhân dân ta, dân tộc ta.

Tấm gương đạo đức của Hồ Chí minh còn được thể hiện: Luôn luôn đứng vững trên lập trường tư tưởng của Chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng.

Tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh được tiếp tục phát triển và không ngừng nâng cao cho đến khi Người qua đời, là tấm gương sáng của Tổ quốc ta, dân tộc ta./.

Trần Đình Quảng

cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác giáo dục lý luận chính trị

(ĐCSVN)- Là người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian cho công tác giáo dục lý luận chính trị, nâng cao trình độ lý luận, nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên.

Ngay từ năm 1925, khi thành lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Người đã xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu, trực tiếp lên lớp truyền đạt những vấn đề cơ bản về lý luận, tổ chức 10 lớp huấn luyện cho hơn 200 cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Những bài giảng của Người sau này được biên tập và in thành cuốn sách “Đường Kách Mệnh”. “Đường Kách Mệnh” là tác phẩm lý luận chính trị, là cẩm nang, sách gối đầu giường của lớp cán bộ đầu tiên của Đảng. Những thanh niên yêu nước được Người đào tạo đã vượt qua muôn vàn thử thách, hy sinh, gian khổ, hoà mình vào phong trào cách mạng, vận động quần chúng đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam để hình thành nên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và của cách mạng Việt Nam, Người vẫn thường xuyên có những bài viết, bài nói, chỉ dẫn công tác giáo dục lý luận chính trị. Vào cuối những năm 1960, bệnh tật, sức khoẻ không cho phép Người làm việc nhiều. Người đã chỉ thị cho lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương phối hợp với Thành uỷ Hà Nội, mở những lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới kết nạp thuộc khối công nghiệp và nông nghiệp để từ đó rút kinh nghiệm và nhân rộng trong cả nước.

Tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị,

Tìm hiểu tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác GDLLCT là vấn đề lớn, song bước đầu nghiên cứu các bài nói, bài viết của Người về công tác giáo dục lý luận, có thể rút ra một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò to lớn của lý luận, từ đó Người yêu cầu đảng viên và cán bộ phải thường xuyên học tập lý luận chính trị để nâng cao nhận thức giác ngộ cách mạng. Theo Hồ Chí Minh: Lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước .

“Đối với công việc kháng chiến kiến quốc, lý luận là rất quan trọng không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm”. Trong thư gửi Quốc tế cộng sản, trong những năm đầu thành lập Đảng, Người nhận xét: Nhận thức về lý luận của các đồng chí An Nam rất thấp. Các đồng chí của chúng tôi rất dũng cảm và hăng hái, công tác rất tận tụy nhưng vì thiếu kiến thức lý luận, buộc các đồng chí phải mò mẫm từng bước, luôn vấp ngã. Từ đó, Hồ Chí Minh cho rằng: Phải tổ chức giáo dục lý luận cho đảng viên, cán bộ để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Người cho rằng: Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng, học tập là trách nhiệm và nghĩa vụ của cán bộ, đảng viên. Bởi vì theo Bác có học lý luận Mác – Lê-nin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị mới làm được tốt công tác Đảng giao phó.

Thứ hai: Về mục đích của việc học tập lý luận chính trị Người cho rằng:

a. Học để sửa chữa tư tưởng: Hăng hái theo cách mạng, điều đó rất hay nhưng tư tưởng chưa thật đúng là tư tưởng cách mạng, vì thế cần phải học tập để sửa chữa cho đúng. Tư tưởng đúng, mới khỏi sai lạc và làm tròn nhiệm vụ cách mạng được.

b. Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng. Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tuỵ với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng, đưa cách mạng thắng lợi hoàn toàn.

c. Học để tin tưởng:
Tin tưởng vào đoàn thể
Tin tưởng vào nhân dân
Tin tưởng vào tương lai của dân tộc
Tin tương vào tương lai cách mạng.

Có tin tưởng thì lúc ra thực hành mới vững chắc,hăng hái lúc gặp khó khăn mới cương quyết hi sinh.

d. Học để hành: “Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”1. Học để làm việc, làm người làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại.

Thứ ba: Về phương châm giáo dục và học tập lý luận chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Lý luận phải liên hệ với thực tế, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn trở thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông.

Thứ tư: Về phương thức giáo dục, huấn luyện đảng viên, cán bộ

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Huấn luyện là phải thiết thực chu đáo, chớ tham nhiều. Việc cốt yếu là phải làm cho người học hiểu vấn đề. Phải khắc phục sửa chữa ngay việc giáo dục lý luận chính trị và huấn luyện hiện nay là tham làm nhiều mà không chu đáo. “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa” , rõ nhất là lớp quá đông, mở quá nhiều lớp. Theo Hồ Chí Minh: Đông quá thì dạy và học ít kết quả. Do đó Người yêu cầu phải hợp lý hoá. Nghĩa là mở lớp nào cho ra lớp ấy, lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận đừng mở rộng lung tung…

Ngoài ra Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến các vấn đề khác trong quá trình dạy và học lý luận chính trị như tư liệu học tập, cách thức tổ chức học tập, phương thức dạy và học lý luận chính trị. Cuối cùng Người yêu cầu đảng viên, cán bộ đi học lý luận chính trị cần có thái độ nghiêm túc và phương pháp học tập sáng tạo chủ động tìm tòi suy nghĩ, có như vậy việc học mới có kết quả cao.

Thực hiện và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo công tác này, có nhiều tìm tòi, đổi mới, cải tiến nội dung hình thức phương pháp cả giảng dạy lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên. Vì vậy, công tác giáo dục lý luận trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của đảng viên, cán bộ và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, thực hiện đường lối đổi mới với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

TS. Vũ Ngọc Am (CTV)

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng (Từ tác phẩm Đường Kách Mệnh đến bản Di chúc cuối cùng)

(ĐCSVN) – Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh[1] đến bản Di chúc cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng.

Vấn đề đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính lôgic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tầm quan trọng của đạo đức bao giờ cũng được Người đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư cách của người cách mạng. Trong trang đầu cuốn Đường Kách Mệnh – Người đã ghi 23 nét tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với đời, với việc. Đó là những chuẩn mực: “Tự mình phải:

Cần kiệm.
Hòa mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cận thận mà không nhút nhát.
Hay hỏi.
Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.
Hy sinh.
Ít lòng ham muốn về vật chất.
Bí mật.
Đối với người phải:
Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.
Làm việc phải:
Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể”[2].

Trên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới, vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, năm 1947, nhưng cụ thể hơn[3], gồm 5 điểm: một, Mình đối với mình; hai, Đối với đồng chí mình phải thế nào?; ba, Đối với công việc phải thế nào?; bốn, Đối với nhân dân; và năm, Đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng một cách rất lôgic và có cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích. Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đề ra trước hết cho mình thực hiện, sau đó mới để giáo dục người khác, có thể nêu ra một số chuẩn mực cơ bản về đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người, như sau:

1/ Nếu bài học về đạo đức cách mạng đầu tiên trong cuốn Đường Kách Mệnh, Người chỉ đề ra những nguyên lý chung thể hiện mối quan hệ giữa ba khía cạnh, phản ánh mối quan hệ đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà người cách mạng cần quán triệt trước tiên, đồng thời nêu cao việc tu dưỡng đạo đức cách mạng; thì ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề ra những nguyên tắc về hành vi đạo đức cách mạng đối với người có chức, có quyền trong Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, Người đề nghị: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, kiệm, liêm, chính” để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.

Người coi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người mới, đồng thời là chuẩn mực cơ bản của nền đạo đức mới của dân tộc ta. Đây là phẩm chất được Người đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Phẩm chất này gắn liền với họat động hàng ngày của mỗi con người và có quan hệ mật thiết với tư tưởng trung với nước, hiếu với dân. Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người có tinh thần chí công vô tư là người ham làm những việc ích nước, lợi dân, không ham địa vị, công danh, phú quý, không nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Người cho rằng những cán bộ, đảng viên có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách, hơn nữa yêu cầu họ phải thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với người, với việc và với chính mình.

Người từng nói: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” [4]. Có thể thấy rằng từ các khái niệm đạo đức cũ như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, Người đã đưa vào đây nội dung đạo đức mới bằng cách giải thích nó theo quan niệm mới, với một nội dung hoàn toàn khác, rất cách mạng, phản ánh các mối quan hệ một cách rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu.

2/ Từ nội dung hẹp của các phạm trù đạo đức cũ, Người mở rộng, đưa vào đây một nội dung rất mới, tiến bộ, cách mạng, vượt qua những hạn chế của tư tưởng đạo đức truyền thống và nâng lên thành tư tưởng đạo đức mới, mà tiêu biểu nhất là các khái niệm: trung, hiếu, nhân, nghĩa… “Từ trung với vua thành trung với nước; từ hiếu với cha mẹ mình thành hiếu với dân; từ nhân chỉ là nhân ái thành nhân dân, từ cần cho riêng mình thành cần cho cả xã hội; từ kiệm cho riêng mình thành tiết kiệm chung phục vụ cho đất nước; từ liêm nghĩa là liêm khiết, không tham nhũng, nghĩa là chỉ giữ cho bản thân mình trong sạch, Người mở rộng thành vấn đề liêm khiết mang tính xã hội; từ chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn, Người chuyển sang vấn đề thiện, ác; làm việc chính, là người thiện; làm việc tà là người ác”[5]. Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”[6]. Trung vơí nước, hiếu với dân được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, nước ở đây là nước của dân, dân là chủ nhân của đất nước. Người cho rằng bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Xuất phát từ quan niệm như vậy, nên “hiếu” trong tư tưởng của Người chính là “Hiếu với dân”. Hiếu với dân không chỉ là xem người dân như đối tượng dạy dỗ, ban ơn mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng. Ở người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân.

3/ Nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Người cho đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với ngươì khác. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.

4/ Người đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cá nhân và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại tạo ra trong quan niệm về đạo đức cách mạng sự hài hòa về các mối quan hệ lợi ích. Theo Người, tinh thần quốc tế trong sáng thực chất là chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người cho rằng nếu tinh thần yêu nước không chân chính, tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn tới tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, hẹp hòi, sô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc. Từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Cần nhấn mạnh là tuy có những cách định nghiã khác nhau về nội hàm các khái niệm đạo đức cách mạng, nhưng nhìn chung ở Người đều có sự nhất quán về tinh thần cách mạng và phương pháp tư duy. Từ các khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, đến cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; từ trung, hiếu, đến thiện, ác… bao giờ Người cũng có cách giải thích riêng về những chuẩn mực đạo đức phù hợp dễ hiểu, dễ chấp nhận với từng đối tượng, với mọi tầng lớp nhân dân: trí thức, quân đội, công an, công nhân, nông dân, phụ nữ, phụ lão, các cháu thiếu niên và nhi đồng… Đề cao đạo đức mới, Người đã thể hiện một tầm nhìn xa trông rộng về nhân cách con người. Những phẩm chất mà Người nêu ra là nhằm hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái cao cả, đồng thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện thoái hóa, biến chất có thể xảy ra, đặc biệt là chống khuynh hướng lạm dụng quyền lực để tham nhũng, lãng phí. Ngay cả trước khi qua đời, việc đầu tiên được đề cập đến trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân là nói về Đảng, việc đầu tiên khi đề cập đến Đảng là đạo đức, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[7].

Tóm lại, từ bài viết đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh đến bản Di chúc cuối cùng, dù ở những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng đều có sức thuyết phục rất cao, có sức sống mạnh mẽ và có giá trị lâu bền. Bởi đó là sự thống nhất giữa lời nói, tư tưởng và hành động. Người đặt vấn đề đạo đức cách mạng từ lĩnh vực lý luận sang lĩnh vực thực tiễn, đưa đạo đức cách mạng vào chính sự nghiệp cách mạng, coi đó là một trong những nguyên tắc hoạt động cách mạng, phản ảnh các quan hệ mới về lợi ích tạo ra nền tảng vững chắc của chính quyền cách mạng nói chung và người cách mạng nói riêng./.
Tùng Khánh


[1] Đường Kách Mệnh, xuất bản năm 1927 – đây là một tác phẩm lý luận và chính trị vô cùng quan trọng, gồm những đề cương bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng cho các lớp huấn luyện chính trị được tổ chức bí mật ở Quảng Châu, Trung Quốc từ đầu năm 1925 nhằm đào tạo cán bộ cách mạng nước ta, chuẩn bị về tư tưởng, đường lối và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng mác xít của giai cấp công nhân Việt Nam.
[2] Nguyễn Ái Quốc. Đường Cách Mệnh. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr..22-23.
[3] Xem thêm: Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 54-55.
[4] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Sđd, tr. 251.
[5] Thành Duy, Văn hóa đạo đức: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004, tr. 35.
[6] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 480.
[7] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 12, Sđd, tr. 510.

cpv.org.vn

Đường Kách mệnh – ngọn đuốc soi đường của cách mạng Việt Nam

Kỷ niệm 85 năm tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1927-2012)

Tác phẩm Đường Kách mệnh xuất bản năm 1927.

(TCTG) – Trong cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã soạn thảo nhiều văn kiện lịch sử quan trọng, nhưng có thể khẳng định rằng Đường Kách mệnh là một trong số các tác phẩm, mà những ý tưởng hàm chứa trong đó, không chỉ được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, độc đáo, sáng tạo mà còn có sức sống mãnh liệt, có sức lay động sâu xa trái tim hàng triệu triệu người.

Sinh ra và lớn lên khi phong trào đấu tranh yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu thời đó, dường như vẫn “đang ở trong đêm tối mà không có đường ra”, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dù khâm phục ý chí và tấm gương cứu nước của các vị tiền bối cách mạng, song khác họ, Người đã chọn hành trình “tìm đường đi cho dân tộc” bằng một cuộc khảo nghiệm đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của nhiều quốc gia, qua nhiều châu lục. Sau gần 10 năm (1911-1920) bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản. Khi đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản, với một khát khao cháy bỏng về độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, Hồ Chí Minh đã tin tưởng chắc chắn rằng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An nam”[1].

Chọn Quảng Châu, Trung Quốc là điểm dừng chân để hoạt động cách mạng, tại đây, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở lớp Huấn luyện chính trị, ra báo Thanh niên, truyền giảng cho đội ngũ cán bộ cốt cán, đầu tiên của Việt Nam những nội dung cơ bản của học thuyết Mác – Lênin, để chuẩn bị cho sự ra đời một chính Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Đường Kách mệnh tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã giảng tại lớp Huấn luyện chính trị trong những năm 1925-1927, do Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông ấn hành và bí mật được chuyển về trong nước theo nhiều ngả đường khác nhau (1927-1930). Trong bối cảnh Việt Nam đang khủng hoảng trầm trọng về đường lối cách mạng, về phương pháp cách mạng và đặc biệt hơn là sự khủng hoảng về tổ chức cách mạng, hơn nữa, trong khi phong trào cách mạng của các dân tộc thuộc địa phát triển, hướng theo khẩu hiệu của Lênin vĩ đại: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”, và ở Việt Nam với chính sách đàn áp hà khắc của thực dân Pháp: dư luận bị bưng bít thông tin, nhân dân bị đầu độc bởi văn hoá thực dân, thì những nội dung quan trọng của Đường Kách mệnh góp phần trang bị cho nhân dân tư tưởng mới của thời đại, đưa thế giới hội nhập với Việt Nam và đưa cách mạng Việt Nam hoà nhập cùng dòng chảy chung của cách mạng thế giới, càng trở nên có ý nghĩa lớn lao.

Cuốn Đường Kách mệnh do lão đồng chí Nguyễn Văn Hoan, nguyên Viện trưởng Viện công tố phúc thẩm Hà Nội sưu tầm được và tặng cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam ngày 26/7/1959 (ông Đặng Xuân Thiều Vụ trưởng Vụ bảo tồn – Bảo tàng đã ký nhận trong hồ sơ). Cũng theo “Hồi ký của đồng chí Nguyễn Lương Bằng”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.182, cuốn sách này do chính ông đem về Việt Nam vào khoảng mùa thu năm 1927, và phát cho nhiều đồng chí của ta đang hoạt động ở khắp nơi, trong đó có mấy đồng chí tỉnh Hải Dương- quê hương của đồng chí.

2. Đường Kách mệnh hàm chứa những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, trong đó học thuyết Mác – Lênin được Người đưa vào Việt Nam theo cách của riêng mình thật giản dị, dễ hiểu, làm cho lý luận Mác – Lênin đến với Việt Nam như hạt giống tốt gặp mảnh đất mầu mỡ đã được chuẩn bị sẵn sàng. Đúng như Người đã viết: “Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh? Cách mệnh?! Cách mệnh !!!”[2].

Đường Kách mệnh đề cập trước tiên vấn đề Tư cách người cách mạng: Trong mục này, thông qua 23 điều răn, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Người cách mạng phải rèn luyện đạo đức cách mạng. Đảng Cộng sản – Bộ tham mưu tối cao của dân tộc chỉ kiên cường và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình khi được trang bị lý luận cách mạng tiên tiến, và bao gồm những con người có trí tuệ, có đạo đức cách mạng và trung kiên nhất. Đánh giá cao vai trò, vị trí của đạo đức, coi đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng, liên quan đến sự thành bại của cách mạng, với một quan niệm mới, Hồ Chí Minh đã đưa vào nội dung đạo đức cách mạng bao hàm những vấn đề cơ bản về nhân sinh quan, thế giới quan cách mạng, về ý thức và phương pháp tư tưởng của giai cấp công nhân.

Hồ Chí Minh đã coi việc giáo dục đạo đức cách mạng là một trong những nguyên tắc cơ bản, nhằm xây dựng những con người cách mạng chân chính, tiến tới xây dựng một Đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam. Đây cũng là một bài học quan trọng hàng đầu đối với tổ chức tiền thân của Đảng – Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, vì số đông lớp cán bộ khi đó, thuộc thành phần tiểu tư sản trí thức. Có đạo đức cách mạng, những thanh niên tiểu tư sản trí thức đó, mới tiếp thu được tinh thần và bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin, mới tự nguyện phấn đấu, quyết tâm hy sinh suốt đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Có thể nói, việc lấy tiêu chuẩn đạo đức làm một trong hai tiêu chuẩn (đức và tài) của người cán bộ cách mạng, người đảng viên cộng sản, ngay từ khi chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sáng tạo độc đáo, mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Đường Kách mệnh xác định rõ mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, khẳng định con đường cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Đó là quan điểm cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin về con đường cách mạng Việt Nam, con đường: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Tác phẩm nêu rõ cách mạng Việt Nam phải làm thành hai giai đoạn trên một nền tảng chung: Cách mạng dân tộc (quốc gia) và cách mạng xã hội chủ nghĩa (quốc tế). Mục đích của cuộc cách mạng thứ nhất là giải phóng dân tộc. Mục đích, đối tượng, tên gọi, lực lượng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam được chỉ ra rất cụ thể, đó là: “Bọn cường quyền này bắt dân tộc kia làm nô lệ như Pháp với An Nam. Đến khi dân nô lệ ấy chịu không nổi nữa, tỉnh ngộ lên, đoàn kết lại, biết rằng thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi; ấy là dân tộc cách mệnh”[3]. Cùng với việc chỉ ra tên gọi của các cuộc cách mệnh (Tư bản cách mệnh, Dân tộc cách mệnh, Giai cấp cách mệnh), Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trước hết chúng ta phải tập trung vào nhiệm vụ “dân tộc cách mệnh” để “giành lấy quyền tự do bình đẳng của dân nước mình” và khẳng định: Cuộc cách mạng thứ nhất (dân tộc cách mệnh) chuẩn bị những tiền đề cho cuộc cách mạng thứ hai (thế giới cách mệnh) về chính trị, tổ chức, kinh tế, văn hoá.

Đối tượng của “dân tộc cách mệnh” là đánh đổ chính quyền thuộc địa của Pháp. Chủ thể là toàn dân tộc, lấy quần chúng công nông làm nền tảng, vì công nông là những người bị tư bản áp bức “cho nên công nông là người chủ cách mệnh”, còn “học trò, nhà buôn nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”[4]. Làm rõ vấn đề lực lượng cách mạng và mối liên minh chiến lược giữa công nhân – nông dân và bầu bạn của họ trong khi thực hiện nhiệm vụ “dân tộc cách mệnh”, Đường Kách mệnh đã tập hợp được tất cả những người Việt Nam yêu nước vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Điều này đã được lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 82 năm qua chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

Đường Kách mệnh nhấn mạnh vai trò quan trọng hàng đầu của Đảng – nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và việc lựa chọn mô hình nhà nước trong tương lai: Trên cơ sở nhận thức sâu sắc bản chất của thời đại mới, về nhiệm vụ và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, về vai trò của những nhân tố đảm bảo cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo quỹ đạo của cách mạng vô sản đi đến thắng lợi cuối cùng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt… Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[5] . Cùng với những định hướng cụ thể về mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, lực lượng và tổ chức tiền phong lãnh đạo cuộc cách mạng, Đường Kách mệnh cũng đồng thời nêu rõ vấn đề mô hình nhà nước trong tương lai khi cách mạng thành công, theo tinh thần: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”[6].

Đường Kách mệnh khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga với một phương pháp cách mạng mới: Đó là, để tiến hành một cuộc cách mạng mà khi chính quyền được thành lập là của dân chúng số nhiều, Hồ Chí Minh đã hướng về một cuộc cách mệnh “đến nơi”, đó là, cách mạng Nga cũng dạy chúng ta rằng: “Muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất”[7]. Như vậy, cùng với việc nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa yêu cầu giải phóng dân tộc và giải phóng con người là nhu cầu của thời đại và nắm bắt được tinh thần của học thuyết Mác – Lênin để giải quyết một cách triệt để nhu cầu ấy, Hồ Chí Minh đã đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, để giải phóng dân tộc và giải phóng con người bằng một cuộc cách mạng vô sản và bước phát triển tiếp theo là xây dựng CNXH.

Nhận thức chính trị này đã đưa Hồ Chí Minh đến với định hướng cơ bản về con đường giải phóng dân tộc Việt Nam theo quỹ đạo cách mạng vô sản và thiết lập một thể chế quyền lực thuộc về nhân dân theo mô hình nhà nước Xô – Viết. Đó chính là con đường: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa. Như vậy, khác với cuộc cách mạng vô sản ở các nước chính quốc: giai cấp công nhân giải phóng mình, đi tới (giúp đỡ) giải phóng các dân tộc bị áp bức và sau đó là giải phóng nhân loại, theo Hồ Chí Minh, khi tiến hành Dân tộc cách mệnh để giành lại độc lập cho Tổ quốc và tự do cho nhân dân, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa đã giải quyết được một phần của nhiệm vụ giải phóng giai cấp, tạo cơ sở để đi tới giải phóng giai cấp hoàn toàn.

Không dừng lại ở đó, Đường Kách mệnh còn đồng thời chỉ ra phương pháp cách mạng: vận động quần chúng, tổ chức đấu tranh cách mạng, cách thức xây dựng các tổ chức quần chúng, v.v.. và thông qua đó tuyên truyền, giảng giải lý luận chủ nghĩa cho dân hiểu, để mọi người đồng chí, đồng đích, đồng lòng. Thông qua việc nêu rõ vai trò và cách thức tổ chức Công hội, Dân cày và Hợp tác xã, Đường Kách mệnh nhấn mạnh rằng: muốn tập hợp lực lượng của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và đi lên CNXH, nhất định và không thể không tổ chức, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng đó. Quần chúng tạo nên nguồn sức mạnh của Đảng và nếu không tập hợp, huy động được nguồn sức mạnh vô địch đó, Đảng sẽ không thể lãnh đạo cách mạng đi đến thành công được và điều này đã được tiến trình cách mạng Việt Nam chứng minh một cách sinh động.

Đường Kách mệnh xác định cách mạng Việt Nam nằm trong dòng chảy của cách mạng thế giới: Theo đó, thông qua việc trình bày lịch sử Đệ nhất quốc tế, Đệ nhị quốc tế, Đệ tam quốc tế (Quốc tế cộng sản), phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa Đệ nhất quốc tế, Đệ nhị quốc tế với Đệ tam quốc tế; thực hiện khẩu hiệu của Đệ tam quốc tế: “Vô sản giai cấp và các dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại!”, yêu cầu các Đảng cộng sản “phải hết sức giúp dân thuộc địa làm cách mạng” và đặt riêng một Ban chuyên nghiên cứu và giúp đỡ cho cách mạng bên Á Đông (Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản), Đường kách mệnh giáo dục cho các chiến sĩ cách mạng Việt Nam về chủ nghĩa quốc tế vô sản, và kết luận: “Xem những việc ấy thì đủ biết rằng An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”[8]. Chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, vấn đề đoàn kết dân tộc, giai cấp và quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, Hồ Chí Minh mở rộng tầm tư tưởng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam bằng quan điểm chủ nghĩa yêu nước chân chính không thể tách rời chủ nghĩa quốc tế vô sản và khẳng định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của nhân dân An Nam cả”[9]. Ngoài ra, Đường Kách mệnh cũng giới thiệu về lịch sử, tổ chức của: Phụ nữ quốc tế, Công nhân quốc tế, Cộng sản thanh niên quốc tế, Quốc tế giúp đỡ (tổ chức Giúp đỡ của công nhân quốc tế), Quốc tế cứu tế đỏ, đồng thời khẳng định đó là nơi quy tụ, tập hợp và phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng của Quốc tế cộng sản.

3. Với một số trang không nhiều được trình bày trong 15 đầu mục lớn (cuốn sách hiện lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, dày 100 trang, số trang được đánh theo từng phần, không đánh số liên tục và sau đó được Nxb. Sự Thật nay là Nxb. Chính trị Quốc gia in trong Tuyển tập Hồ Chí Minh 5/1980, tái bản 4/1982, dày 146 trang, khổ nhỏ và sau đó in trong Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản năm 1995- tập 2, bộ 12 tập; tập 2- bộ 15 tập, xuất bản năm 2010-2011), Đường Kách mệnh thực sự là văn kiện nền tảng lý luận đầu tiên, là cơ sở cho sự ra đời của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.

85 năm đã trôi qua, những nội dung cơ bản mà Đường Kách mệnh đề cập đến như: Cách mạng, con đường cách mạng, lực lượng cách mạng, Đảng Cộng sản, và các tổ chức quần chúng của Quốc tế cộng sản, của Đảng Cộng sản, về phương pháp cách mạng, về đoàn kết, v.v.. đóng vai trò quan trọng như cuốn Làm gì của V.I. Lê-nin, vẫn luôn là chiếc cẩm nang, là bó đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi qua những năm đấu tranh giành chính quyền, qua hai cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong những năm cả nước cùng đi lên CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, đặc biệt là trong 25 năm chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, vì một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Được viết rất ngắn gọn, nhưng cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu, sau 85 năm,Đường Kách mệnh vẫn còn nguyên giá trị thời sự lớn lao. Không thể phủ nhận rằng, để có một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh đang ngày một phát triển, hội nhập cùng bạn bè quốc tế như hôm nay, cách mạng Việt Nam đã phải trải qua nhiều khúc ngoặt, nhưng vẫn giành được thắng lợi, vẫn kiên định con đường đã lựa chọn: Độc lập dân tộc và CNXH, ấy là vì, chúng ta có Đường Kách mệnh của Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối.

Trong cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã soạn thảo nhiều văn kiện lịch sử quan trọng, nhưng có thể khẳng định rằng Đường Kách mệnh là một trong số các tác phẩm, mà những ý tưởng hàm chứa trong đó, không chỉ được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, độc đáo, sáng tạo mà còn có sức sống mãnh liệt, có sức lay động sâu xa trái tim hàng triệu triệu người. Không chỉ đem đến cho những người cách mạng Việt Nam trong những năm 20-30 của thế kỷ XX những vấn đề cốt lõi của học thuyết Mác – Lênin – ánh sáng tư tưởng của thời đại, 85 năm sau, dù thế giới đã nhiều đổi thay, thì những nội dung Đường Kách mệnh nêu ra, vẫn mang hơi thở của dân tộc và thời đại. Đó là con đường phát triển của nhân loại; là độc lập dân tộc và CNXH; là xây dựng một chính Đảng trong sạch vững mạnh về cả chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cho hệ thống lý luận của học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết: Dù thế giới có đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh thì sống mãi, vì vậy, hiểu đúng, nắm vững và vận dụng sáng tạo những gì Hồ Chí Minh đã từng viết cách đây 85 năm, cũng chính là nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác – Lênin trên mọi phương diện và không đi chệch mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Tuy nhiên, do đặc điểm và xu thế của thời đại ngày nay, từ những gì Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Đường Kách mệnh, thì mỗi nước đều phải có con đường riêng để hướng tới một mục đích chung, làm đúng thì thắng lợi, làm sai thì thất bại. Nhưng để kiên định mục tiêu và “làm cho đến nơi” trong bối cảnh vừa có thuận lợi vừa có thách thức khôn lường, trong khi quán triệt nguyên tắc phải giữ vững độc lập về lãnh thổ, độc lập về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng, thì càng phải nhận thức một cách sâu sắc hơn tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Vì vậy, để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” – xứng đáng với vai trò tiền phong và đưa sự nghiệp đổi mới của chúng ta đi đến thắng lợi hoàn toàn thì một trong những nhiệm vụ cấp bách là phải thực hiện thắng lợi Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay” được thông qua ở Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI vừa qua ./.

TS. Văn Thị Thanh Mai

——————–

Chú thích:

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t. 2, tr 280
[2]Hồ Chí Minh, Sđ d, t.2, tr. 262
[3] Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr 265
[4] Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr 266
[5] Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr 267, 268
[6] Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr. 270
[7]Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr. 280
[8] Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr. 287
[9] Hồ Chí Minh, Sđd , t.2, tr.301

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Đảng ta

Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” là hai tác phẩm vô giá tiếp tục dẫn đường chỉ lối cho công tác lý luận và "thực hành lý luận" của Đảng ta. Ảnh tư liệu

(TCTG) – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Người để lại.

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng ta luôn đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về lý luận chính trị là nhiệm vụ hàng đầu. Đây cũng chính là vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta luôn quan tâm ngay từ khi phấn đấu thành lập Đảng cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta sau này. Người đã có rất nhiều bài viết, bài nói và những tác phẩm riêng về xây dựng Đảng nói chung, về công tác giáo dục lý luận chính trị nói riêng. Trong các tài liệu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày rất rõ, rất toàn diện và cụ thể về vấn đề này, từ giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin đến vấn đề xây dựng Đảng mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; từ nội dung và nhiệm vụ học lý luận chính trị đến vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị.

1. “Đường Kách mệnh” – tác phẩm lý luận đầu tiên, cũng là tác phẩm lớn về giáo dục lý luận chính trị của Đảng ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin sau khi đã nghiên cứu nhiều học thuyết, tìm hiểu nhiều tôn giáo trên thế giới. Người đã tự nhận mình là học trò của Đức Khổng Tử, của Chúa Giê su, của Các Mác, Tôn Dật Tiên…Cùng với việc tiếp thu những tinh hoa của các học thuyết ấy, Người còn tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn qua việc nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới. Người nhận xét: Cuộc cách mạng Mỹ 1776 cũng như cuộc cách mạng Pháp 1789 đều là những cuộc “cách mạng không đến nơi… Cách mệnh An Nam nên nhớ điều ấy”(1) và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tinh hoa của lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới để định ra con đường cách mạng Việt Nam. Khi gặp ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, ánh sáng của chủ nghĩa Mác -Lênin, Người vui mừng khôn tả xiết. Người nói: Chủ nghĩa Lê-nin đối với cách mạng Việt Nam như người đi đường đang đói mà có cơm ăn, đang khát mà có nước uống. Người quyết định phải đến nước Nga, đến với Lê-nin. Tháng 6/1923, bất chấp muôn ngàn thử thách và hiểm nguy, Nguyễn Ái Quốc đã đến Tổ quốc của Cách mạng Tháng Mười.

Sau hơn một năm học tập và nghiên cứu tại Liên Xô, được chứng kiến công cuộc xây dựng CNXH, xây dựng cuộc sống hạnh phúc của nhân dân Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc càng mong sớm được trở về Tổ quốc. Người tin tưởng vào tương lai không xa trên đất nước thân yêu của mình cũng sẽ diễn ra sự nghiệp xây dựng CNXH. Tháng 3/1924, khi trả lời phỏng vấn phóng viên báo “Unita” của Đảng Cộng sản Ý tại Matxcơva – Giôvanni Giécmanéttô, Nguyễn Ái Quốc nói: Tôi sẽ trở về tổ quốc để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm… “Chúng tôi hiểu rõ là chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề và tương lai của các dân tộc tùy thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần hy sinh của chúng tôi”(3).

Nguyễn Ái Quốc xác định công việc đầu tiên phải làm là thành lập tổ chức của những người cộng sản, huấn luyện và đào tạo họ trở thành những chiến sỹ tiên phong cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc khẳng định giáo dục chủ nghĩa Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để những người cách mạng Việt Nam, trước hết là những người cộng sản, người lãnh đạo luôn là những người đi trước, dám hy sinh, xả thân vì sự nghiệp đó. Người còn chỉ rõ việc giáo dục chủ nghĩa Lê-nin là nguyên tắc đảm bảo cho Đảng có phương hướng, có nền tảng vững chắc và chỉ có theo chủ nghĩa Lê-nin mới đảm bảo cho Đảng trở thành người lãnh đạo đúng đắn và duy nhất của cách mạng Việt Nam.

Toàn bộ nội dung cuốn “Đường Kách mệnh” của Người là nhằm tổ chức và xây dựng Đảng ta theo tinh thần đó. Ngay trang đầu tiên của cuốn sách Nguyễn Ái Quốc đã trích câu nói nổi tiếng của Lê-nin trong tác phẩm “Làm gì”, rằng: “Không có lý luận cách mạng, thì không có cách mạng vận động…Chỉ có theo lý luận cách mạng tiên phong Đảng cách mạng mới làm nổi nhiệm vụ cách mạng tiên phong”. Người còn chỉ rõ: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam…Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(4).

Là tác phẩm lý luận nhưng hành văn của “Đường Kách mệnh” rất đơn giản và dễ hiểu. Nguyễn Ái Quốc viết: “Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người sẽ chê rằng văn chương cụt quằn. Vâng! Đây nói việc gì cũng rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như hai lần hai là bốn, không tô vẽ, trang hoàng gì cả…Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh! Cách mệnh!!! Nguyễn Ái Quốc đã “Việt Nam hóa” lý luận Mác – Lênin một cách thật tài tình. Những vấn đề lý luận quan trọng Người mong muốn những người Việt Nam thấm nhuần được tóm tắt trong hai từ “Cách mệnh”. Hai từ này được giảng giải bằng những lời giản dị rất dễ hiểu, dễ nhớ. Người viết: Muốn làm cách mạng thì phải biết:

– Làm cho quần chúng giác ngộ.
– Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.
– Làm cách mệnh phải bày sách lược cho dân.
– Muốn làm cách mệnh phải tập trung sức. Và muốn tập trung sức phải có đảng cách mệnh.

Với hai từ “Cách mệnh” Nguyễn Ái Quốc lại giảng giải: Cách mệnh là gì? Cách mệnh có mấy thứ? Vì sao mà sinh ra tư bản cách mệnh? Vì sao mà sinh ra dân tộc cách mệnh? Vì sao mà sinh ra giai cấp cách mệnh? Cách mệnh khó hay dễ? Cách mệnh trước hết phải có cái gì?. Đó là những vấn đề lý luận hết sức cần thiết để những người cách mạng Việt Nam lúc đó mở rộng hiểu biết về thế giới. Nguyễn Ái Quốc đã giảng giải những vấn đề đó trên quan điểm Mác – Lênin và cho rằng đó là nền tảng tư tưởng mà một chính đảng không thể thiếu. Bằng cách đó, chủ nghĩa Mác – Lênin đã đến với cách mạng và nhân dân Việt Nam, như hạt giống tốt gặp mảnh đất mầu mỡ đã được chuẩn bị sẵn sàng, đã tạo ra bước ngoặt lịch sử cho cách mạng Việt Nam.

Trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới, Người chỉ rõ cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc và có hai giai đoạn: cách mạng giải phóng dân tộc sau đó là cách mạng vô sản. Hai giai đoạn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. “Đường Kách mệnh” cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. Lực lượng để tiến hành cuộc cách mạng ấy là toàn dân tộc, trong đó lực lượng chủ yếu là công nhân, nông dân.

Với những nhiệm vụ cách mạng được nêu lên trong “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc cũng đã chỉ rõ nguyên tắc chiến lược trong việc xác định đường lối cách mạng, đó là phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin. Đảng phải xây dựng cho mình một hệ thống lý luận riêng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn thì lý luận đó mới trở thành người dẫn đường, lý luận đó mới là lý luận chân chính. Sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Từ trong học thuyết dạt dào sức sống của chủ nghĩa Lê-nin, chúng tôi khơi nguồn sức mạnh để giành thắng lợi cho sự nghiệp thiêng liêng là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, để giành thắng lợi cho CNXH” (5).

Đánh giá ý nghĩa tác phẩm “Đường Kách mệnh”, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Đường Kách mệnh” chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới”(6).

2. “Sửa đổi lối làm việc”- một tác phẩm lớn về giáo dục thực hành lý luận chính trị theo quan điểm Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Song Người cũng luôn nhấn mạnh rằng học Mác – Lênin là phải học tinh thần Mác – Lênin, học phương pháp Mác – Lênin để xử trí mọi việc. Người nói với cán bộ huấn luyện: “Các chú dạy cho cán bộ đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không? Theo Bác hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lê-nin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”(7). Trong nhiều tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thực hành lý luận Mác – Lênin, thì tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là một điển hình tiêu biểu.

Tiếp theo cuốn “Đường Kách mệnh”, ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nêu rõ phải giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ và nhân dân ta. Người viết: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”; “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Vì vậy, ở tác phẩm này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khuyết điểm mà nhiều cán bộ còn mắc phải, như: kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông. Người cũng chỉ ra nguyên nhân của những khuyết điểm đó đều là do nhận thức chưa rõ vai trò của lý luận. Người nêu những người kém lý luận là những người lười học tập, lười nghiên cứu lý luận hoặc là do yêu cầu của nhiệm vụ có bước phát triển nhanh, mới, nên trình độ lý luận chưa theo kịp, dẫn đến kết quả làm việc thất bại. Người viết: “Vì kém lý luận nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”.

Về chứng bệnh khinh lý luận, Người phân tích đó thường là khuyết điểm của những người cho rằng mình có kinh nghiệm và không biết phải kết hợp kinh nghiệm ấy với lý luận để giải quyết công việc. Người viết: “Có những cán bộ, những đảng viên cũ, làm được việc, có kinh nghiệm…Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh khinh lý luận. Họ quên rằng: nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều…Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ. Những anh em đó cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”. Nhưng cũng theo Người: “Lý luận cốt là để áp dụng vào thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông”.

Một nội dung rất lớn và quan trọng của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là việc giáo dục tư cách đạo đức cách mạng để người đảng viên có thể biến lý luận thành hành động cụ thể. Người kết luận: “Chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”. Bởi vậy, trong toàn bộ 6 phần của nội dung cuốn sách là: Phê bình và sửa chữa; Mấy điều kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo; Chống thói ba hoa, thì phần “Tư cách và đạo đức cách mạng” có vị trí đặc biệt quan trọng và có độ dài nhất trong tác phẩm.

Vấn đề đạo đức cách mạng cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên như một nguyên tắc “sống còn” trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam ở tác phẩm “Đường Kách mệnh” năm 1927. Và đây là nội dung giáo dục đầu tiên trong các lớp huấn luyện cán bộ của Đảng ta lúc đó. “Trung với nước, hiếu với dân”, phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng mới được nêu lên rất rõ trong tác phẩm này. Có phẩm chất ấy người cán bộ đảng viên có thể sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. “Vị công vong tư. Không hiếu danh. Không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Ít lòng ham muốn vật chất. Giữ vững chủ nghĩa. Biết hy sinh”…Tư cách đạo đức đó lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển sâu sắc thêm, cụ thể hơn trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” trong điều kiện mới, khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền.

Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên phải thực hiện một cách nghiêm túc mối quan hệ giữa lời nói và việc làm và nêu cụ thể nhiệm vụ của mỗi cán bộ đảng viên phải làm gì và làm như thế nào để thực hành lý luận. Những nhiệm vụ đó được Người trình bày cụ thể trong các phần: về phận sự của đảng viên và cán bộ; về tư cách và bổn phận của đảng viên; về vấn đề vì sao đảng viên phải rèn luyện tính Đảng. Điều cốt lõi để thực hiện những nhiệm vụ đó là phải trọng lợi ích của Đảng hơn lợi ích của cá nhân. Người viết: “Vô luận thế nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng”. Trái lại những đảng viên và cán bộ nào “ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại,v.v..Đó đều là trái với lợi ích của Đảng”. Cũng trong tác phẩm này, những vấn đề về đạo đức cách mạng một lần nữa được Người phân tích, giảng giải. Theo đó, nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm là những nội dung cơ bản của tư cách đạo đức cách mạng. Tư cách đạo đức ấy là cơ sở, là cốt lõi để thực hành lý luận. Người chỉ rõ: Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải tính chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các chứng bệnh nguy hiểm.

Đọc lại “Tư cách và đạo đức cách mạng” trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta càng hiểu thêm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Chúng ta cũng càng hiểu thêm mong muốn của Bác đối với sự phấn đấu tu dưỡng của mỗi người, để có đủ đức và tài đưa chủ trương, đường lối và nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

3. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh phải “Sửa đổi lối làm việc” về phong cách và phương pháp lãnh đạo nhằm thực hành lý luận

Nói về “Cách lãnh đạo” trong “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên cách để cán bộ, đảng viên có thể tập hợp, tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách của Chính phủ. Đây là những bài học vô cùng quý báu để tránh được tình trạng: chủ trương, chính sách ban hành thì nhiều nhưng không thực hiện được, hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn.

Nêu vấn đề phải lãnh đạo đúng, Người viết: Lãnh đạo đúng nghĩa là: 1- Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng…2- Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…3- Phải tổ chức kiểm soát. Ba nội dung lãnh đạo đó quan hệ mật thiết vơi nhau và đều gắn bó, dựa vào nhân dân, thực hành sự kết hợp đánh giá từ trên xuống với từ dưới lên để đánh giá được đúng đắn, hoàn thiện hơn. Để xây dựng được cách lãnh đạo như thế, Người nêu vấn đề phải chọn người lãnh đạo: “Chọn người và thay người lãnh đạo là vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo…Những người mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc, phải thay đi; Những người cậy mình là “công thần cách mạng” rồi đâm ra ngang tàng, không giữ kỷ luật thì cần phải mời họ xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ kỷ luật của Đảng và Chính phủ; Một hạng người thứ ba cũng không thể ở vị trí lãnh đạo, đó là hạng người nói suông. Đó là những người chỉ “biết nói và nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Nếu để những người như thế ở vị trí lãnh đạo, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là sẽ chỉ làm hại uy tín của Đảng, không thể tập hợp, lãnh đạo được quần chúng nhân dân.

Vì vậy, học tập và làm theo tư tưởng, phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh, trước hết là phải phát hiện ra hạng người như thế và điều quan trọng là phải kiên quyết loại những người đó ra khỏi vị trí lãnh đạo, bởi vì họ quá xa lạ với phong cách và phương pháp lãnh đạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong “Sửa đổi lối làm việc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: muốn lý luận được thực hành thì phải có lối làm việc thiết thực, hiệu quả. Người đòi hỏi mỗi cán bộ phụ trách phải thực hiện cho được lối làm việc này. Phải khắc phục bệnh quan liêu “hữu danh vô thực”, tránh lối “làm cho qua chuyện, làm lấy rồi”, chỉ ham làm chủ tịch này, uỷ viên nọ, chứ không làm công tác thực tế. Để lãnh đạo thiết thực, Người nêu lên hai cách lãnh đạo: Một là, liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng. Hai là, liên hợp người lãnh đạo với quần chúng. Như thế là một cách lãnh đạo thiết thực. Người cũng cho đó là một cách vừa lãnh đạo vừa học tập và chỉ rõ: “Bất kỳ người lãnh đạo nào, nếu không học nổi những việc thiết thực, những người thiết thực và những bộ phận thiết thực của cấp dưới, để rút kinh nghiệm, thì nhất định không biết chỉ đạo chung cho tất cả các bộ phận”.

Thiết thực là phong cách lãnh đạo nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là bài học sâu sắc, là kinh nghiệm quý giá mà Người để lại trong “Sửa đổi lối làm việc” và trong thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Lãnh đạo thiết thực là cách tốt nhất để tập hợp, tổ chức và động viên nhân dân đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Suốt đời quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị Người để lại. Tư tưởng của Người, những lời tâm huyết của Người về vấn đề này đã, đang và mãi mãi soi sáng sự nghiệp xây dựng Đảng ta, Đảng của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam trên hành trình hướng tới tương lai./.

———-

Chú thích
(1), (2) (4). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995, t.2, tr.274, 280, 268.
(3). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.1, tr.482.
(5). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd t.7,tr.519,520.
(6).Trường Chinh, Lời giới thiệu cuốn sách “Đường Kách mệnh”, Nxb.Sự Thật, H,1982, tr.17.
(7). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.12, tr.554.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ông lão 85 tuổi mê sưu tầm ảnh Bác Hồ

Ông Trần Phùng bên bộ sưu tập ảnh về Bác, bộ tài sản quý giá với ông.

(Dân trí) – Đã nhiều năm qua, các tấm ảnh về Bác mà cụ ông Trần Phùng (85 tuổi, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế) sưu tầm là tài sản quý giá nhất mà ông muốn cất giữ lại cho con cháu.

Sinh ra trong gia đình nghèo thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, từ nhỏ ông Phùng đã được nghe bố mẹ kể về con đường hoạt động cách mạng của Bác Hồ. Lớn lên đi học, cậu bé Phùng càng ý thức hơn về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với dân tộc. Chính điều này đã thôi thúc ông quyết tâm tham gia hoạt động cách mạng.

Khi còn học ở Truờng Quốc Học, ông hăng hái tham gia phong trào thanh niên chống thực dân Pháp. Năm 1948 ông lên đường nhập ngũ vào chiến đấu tại chiến trường Quân khu 4. Về sau ông được chuyển ra công tác tại Tổng cục Hậu cần, lo việc tiếp tế lương thực, súng đạn cho tiền tuyến.

Cũng trong thời gian này, ông bắt đầu sưu tầm những tư liệu, ảnh về Bác Hồ. Đáng tiếc, trong một lần tham gia chiến đấu những tư liệu đó bị thất lạc. Đến nay ông chỉ còn lưu giữ được một số bức ảnh mà ông cho rằng có ý nghĩa trong việc giáo dục người thân, con cháu về tấm gương của Bác.

Động cơ để ông sưu tầm ảnh Bác đơn giản chỉ xuất phát từ lòng kính trọng và sự yêu mến đối với Bác, một nhân cách cao cả về đạo đức cũng như lối sống giản dị, tính khiêm nhường đáng để thế hệ sau học hỏi. “Hễ thấy đâu có ảnh Bác là tôi sưu tầm, hoặc xin lại từ những người bạn cùng chiến đấu, cũng có thể là cắt lại từ các tờ tạp chí… Nhưng phần nhiều tôi mua lại từ một số người” – ông Phùng cho biết.

Với cá nhân ông, mỗi bức ảnh đều có ý nghĩa riêng của nó. Trong những bức ảnh đó, bức ảnh chụp cảnh Bác Hồ bắt tay Bác Tôn một cách thân mật làm ông ấn tượng nhất. Ngoài ra, có tấm chụp cảnh Bác đang trò chuyện với các cơ quan, đơn vị nơi Bác đến thăm và các tấm chụp cảnh Bác nói chuyện thân mật với các vị phụ lão, phụ nữ, thiếu nhi, bộ đội, nông dân… Đặc biệt, có một số tấm ảnh chụp cảnh sinh hoạt của Bác như đang ngồi trên bàn làm việc, cho cá ăn, chăm sóc cây cối, đang hút thuốc…

Một số bức ảnh ấn tượng nhất được ông Phùng đóng khung và treo ở vị trí trang trọng trong nhà.

Những bức ảnh sưu tầm về Bác qua các thời kỳ được ông lưu giữ một cách khá cẩn thận, đóng khung và treo ở vị trí trang trọng nhất trong nhà. Dù năm nay ông Phùng đã 85 tuổi nhưng vẫn hết sức minh mẫn khi nhớ lại ngày ông được gặp và nói chuyện cùng Bác. Ông xem đó là động lực giúp ông phấn đấu và sống tốt như hôm nay. Đồng thời là tấm gương cao cả cho các thế hệ sau học tập.

Nhìn lên khung ảnh, ông Phùng nhớ lại ngày ông vinh dự được gặp Bác Hồ. “Hồi ấy, tôi đang tham gia chiến đấu tại chiến trường Quân khu 4, nghe tin Bác vào thăm ai nấy đều mừng rỡ. Bản thân tôi cũng hồi hộp không kém vì được tận mắt ngắm dung nhan của Bác mà bấy lâu tôi ấp ủ. Buổi trò chuyện được tổ chức ở ngay giữa sân dưới sự chứng kiến của đông đảo cán bộ, chiến sĩ”.

Nhấp chén nước trà, ông Phùng kể tiếp: “Hôm đó Bác Hồ kể rất nhiều chuyện về quá trình hoạt động, con đường phát triển của cách mạng trong những năm tiếp theo. Bác không quên động viên anh em phát huy tinh thần yêu nước, niềm tin vào chiến đấu nhất định sẽ giành được thắng lợi. Bác hỏi thăm về đời sống của chiến sĩ có khó khăn gì không, cũng không quên dặn cán bộ phải quan tâm đến đời sống của chiến sĩ…”

Tấm ảnh chụp Bác đang ngồi nghỉ hút thuốc rất giản dị mà ông Phùng còn giữ được.

“Đến khi về Bác không quên dặn toàn thể cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu phải đảm bảo sức khoẻ mới có thể tiếp tục chiến đấu. Kẻ thù dù mạnh đến đâu nhưng nếu có niềm tin, sự đoàn kết một lòng thì nhất định sẽ giành được thắng lợi lớn. Những lời động viên chân thành của Bác đã giúp chúng tôi có thêm động lực để chiến đấu” – ông Phùng tâm sự.

Được biết ông Phùng còn là người trực tiếp chứng kiến lễ trao ấn, kiếm năm 1945 của vua Bảo Đại cho chính quyền cách mạng, chấm dứt sự tồn tại của triều đại phong kiến kéo dài hàng ngàn năm và mở ra một thời đại mới cho dân tộc.

Trải qua 36 năm tham gia hoạt động cách mạng, qua 2 cuộc kháng chiến, ông Phùng vinh dự nhận được nhiều Bằng khen, Giấy khen do Đảng, Nhà nước trao tặng. Do tuổi cao, năm 1984 ông được nhà nước cho nghỉ hưu trở về quê hương cùng vợ nuôi dạy con cái.

Đã đến tuổi 85 nhưng ông Phùng vẫn giữ được vẻ minh mẫn và một tinh thần yêu nước, yêu Bác Hồ nồng nàn.

Với những đóng góp đối với cách mạng, ông được nhà nước trao Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông là người có lối sống giản dị mang bản chất của người lính, người ông mẫu mực đối với con cháu, một tấm gương cho nhiều thế hệ trẻ chúng tôi trân trọng noi theo./.

Theo Dantri.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

42 năm người Kor ở Trà Bồng mang họ Bác Hồ

Báo tin tức – Vào đúng dịp kỷ niệm 121 năm ngày sinh Bác Hồ và tiến tới ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016, chúng tôi có dịp trở lại vùng đất quế Trà Bồng – nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi vào ngày 28/8/1959, cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên của đồng bào các dân tộc Trà Bồng giành thắng lợi, đánh một đòn chí mạng vào chính quyền tay sai Mỹ không chỉ riêng ở Quảng Ngãi mà cả miền Nam Việt Nam. Đặc biệt, cũng tại mảnh đất này cách đây gần 42 năm, tại buổi lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh do Huyện ủy Trà Bồng tổ chức, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào dân tộc Kor đã đề đạt nguyện vọng lên Trung ương được mang họ của Bác Hồ. Và từ đó đến nay người Kor Trà Bồng đều được mang họ Bác Hồ.

Già làng Hồ Chí Khánh trước bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ảnh: Đinh Hương- TTXVN

Đầu tháng 9/1969, người Kor Trà Bồng (Quảng Ngãi) đau buồn đón nhận tin Bác Hồ về cõi vĩnh hằng. Nước mắt ướt đẫm trên những khuôn mặt dạn dày sương gió, từng chịu đựng đắng cay gian khổ suốt bao nhiêu năm đấu tranh với kẻ thù để gìn giữ lời thề “Suốt đời theo Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng”, đã từng vang lên trong đại hội Gò Rô chống Mỹ (tháng 7/1958), và tiếp ngân vang trong cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi tháng 8/1959.

Già làng Hồ Chí Khánh, lão thành cách mạng xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng kể lại: Sáng ngày 9/9/1969, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Kor vượt núi, băng sông về chiến khu Trà Lãnh (nay thuộc huyện Tây Trà) dự lễ truy điệu Hồ Chủ tịch do Huyện ủy huyện Trà Bồng tổ chức, lắng nghe Di chúc của Người và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bức tượng Hồ Chủ tịch tạc từ thân cây quế được trang trọng đặt lên bàn thờ để mọi tấm lòng hướng về Người trong niềm đau thương xúc động. Tại buổi lễ này, các già làng người Kor đã đề đạt nguyện vọng của đồng bào “muốn mang họ Bác Hồ” thể hiện tấm lòng trung thành với Đảng, ghi nhớ công ơn và làm theo lời dạy của Cụ Hồ. Khi nhận được kiến nghị này, đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng đã điện trả lời, đại ý: Trung ương Đảng không chủ trương việc đồng bào mang họ Bác, nhưng đây là nguyện vọng của dân, tấm lòng của dân, nên Trung ương đồng ý. Từ đó đến nay, đã 42 năm người Kor vinh dự và tự hào được mang họ Bác Hồ – Người cha của 54 dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam.

Vùng đất quế Trà Bồng năm xưa, nay là 2 huyện Trà Bồng và Tây Trà, đang chuyển mình từng ngày trong sự nghiệp đổi mới, xóa bỏ lạc hậu, đói nghèo, xây dựng quê hương giàu đẹp. Điện lưới quốc gia, trường học, trạm y tế, đường giao thông bê tông đã về tận các bản làng. Vùng căn cứ địa cách mạng trên núi Cà Đam – cao hơn 1.000 m so với mực nước biển đã kiêu hãnh trong 2 cuộc kháng chiến, giờ đây đang được khảo sát, quy hoạch chi tiết để xây dựng thành khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái.

Và trên mảnh đất ấy, lời thề suốt đời theo Đảng, theo Bác Hồ vẫn ngan ngát trong hương quế Trà Bồng. Già làng Hồ Chí Khánh – một trong những cán bộ lão thành của huyện Trà Bồng hiện ở thôn 2, xã Trà Thủy tự hào: Là con cháu của Bác Hồ, đồng bào dân tộc Kor Trà Bồng rất tự hào với truyền thống cách mạng của quê hương. Trong những năm gần đây, người Kor một lần nữa được tiếp thêm sức mạnh mới thông qua Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là cuộc vận động lớn của Đảng, do đó mọi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện Trà Bồng đã có sự chuyển biến tích cực về nhận thức tư tưởng, ý thức rèn luyện đạo đức, lối sống; tinh thần tự phê bình và phê bình, ý thức, trách nhiệm của đảng viên đối với Đảng được nâng cao. Và ngày 22/5 tới, ngày toàn dân tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, là con cháu Bác Hồ, già cùng các con cháu là cử tri ở các bản làng sẽ hăng hái tham gia bầu cử để bầu ra những đại biểu tiêu biểu nhất của Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Nguyễn Đăng Lâm

baotintuc.vn

Truyền hình Thông tấn

Năm 69 (*)

TT – Khi nhớ lại năm 1969, tâm trí tôi luôn thấy hiện lên một màn mưa trắng trời, một triền sông ngầu đỏ, mênh mông cuộn xiết, nặng nề lao chảy như sắp cuốn phăng đi cả đôi bờ.

Một mùa thu cùng một Hà Nội chưa từng thấy bao giờ trước đó và không bao giờ còn thấy lại nữa, mà bốn chục năm qua rồi không phai mờ trong ký ức.

Các cháu thiếu nhi Hà Nội vào viếng Bác Hồ tại hội trường Ba Đình
Ảnh: HỮU CẤY

1. Mùa thu gian nan, triền miên mưa bão. Năm nào cũng thế, nhưng chừng như càng vào sâu trong cuộc chiến thì lũ sông Hồng càng năm càng lớn thêm lên. Trước rằm tháng bảy đã rất nguy cấp, sau rằm còn nguy cấp hơn. Đến giữa tháng 8 thì thanh niên nam nữ cả phố tôi tất tật không trừ ai được tổng huy động đi hộ đê. Thật ra là toàn bộ thành phố. Đàn ông trai tráng trên mặt đê. Phụ nữ tham gia vận chuyển đất đá lên đê.

Tới ngày Quốc khánh mực nước đã xuống nhiều nhưng chúng tôi vẫn dốc sức tiếp tục tôn cao và đắp dày thêm đoạn đê xung yếu. Đến tảng sáng mồng bốn, đang ngủ thì tôi bị lay dậy để lên xe về nhà…

2. Lúc đó khoảng bảy giờ sáng, xe chúng tôi đang trên cầu Long Biên. Cả hai chiều của cây cầu độc đạo qua sông Hồng đều đông nghịt, chen chúc người và xe, chuyển động chầm chậm từng bước chân, từng vòng bánh. Không tiếng còi xe hơi, không tiếng chuông xe đạp, không một tiếng nói tiếng cười, không cả những tiếng chân bước mặc dù dòng người vẫn đang không ngừng chuyển động.

Mặt ướt nước mưa và đang mắt nhắm mắt mở nhưng chỉ trong chốc lát tôi đã nhận ra mọi người, tất cả, hàng ngàn con người, trên suốt dọc chiều dài gần hai cây số của cây cầu ngang qua luồng nước xiết đều đang vừa đi vừa khóc, đúng hơn là lặng khóc, khóc không thành tiếng.

Bởi vì im ắng vô cùng. Người đi bộ dọc hai bên lan can cầu, đi tay không hoặc đang gồng gánh, người đang đạp xe, người đang dắt xe, những người đang đứng trên các thùng xe tải, người ngồi trong các xe chở khách. Những anh bộ đội. Những người dân phố. Những người dân quê. Bước đi và khóc, trong mưa.

Tám đứa chúng tôi trên thùng xe và cả anh tài xế trong cabin đều là những kẻ từ trên trời rơi xuống. Cả tuần liền bám trụ đê, lội bùn đội đất, ngơi tay là lăn ra ngủ, chúng tôi bị mưa lũ cô lập với thế gian. Vậy nhưng chỉ giây lát thôi, nhìn nỗi thương đau nhất loạt cùng lúc của cả một dòng người đông nghịt đang nghẹn ngào bước đi trong mưa, chúng tôi hiểu ngay ra sự thể.

“Bác Hồ…”. Một ai đó trong chúng tôi thảng thốt thì thào, ngập ngừng. Không dám chắc chắn điều mình nghĩ, nhưng chúng tôi đều đã cảm nhận chắc chắn điều đó. Bởi vì đối với chúng tôi, ngay cả trong thời kỳ rất nhiều đau thương ấy thì một nỗi đau lớn lao, nặng nề, sâu thẳm và muôn người như một đến nhường ấy chỉ có thể là do một duyên cớ duy nhất ở trên đời mà thôi.

Đúng lúc đó, một đầu tàu xe lửa không kéo theo toa, một mình chạy không tải qua cầu, từ Hà Nội sang Gia Lâm, khi ngang qua chỗ chúng tôi đã bất thần rúc còi. Có thể nói đầu tàu ấy cất tiếng than. Không phải về sau mường tượng lại mà tôi nói thế, mà thật sự là như thế, đấy là tiếng kêu, như của con người. Lập tức, một chiếc tàu kéo neo đậu đâu đó ở mạn Phà Đen cũng cất lên tiếng còi. Rồi từ phía ga Gia Lâm, nhiều đầu xe lửa khác đồng loạt cất tiếng. Những tiếng còi tàu đớn đau khản đặc vang vọng trong màn mưa.

Phía dưới, bên chiếc xe chở chúng tôi, một phụ nữ đang dắt xe đạp bỗng bật khóc thành tiếng. Cả ngàn người không thể cầm lòng đã không cầm được nước mắt. Tiếng nức nở truyền dọc đoàn người, lan đi trên cầu, ngang qua triền sông…

3. Năm tháng trôi qua, giờ đây nhìn về thời điểm ấy, qua những bức ảnh và thước phim tư liệu, người ta thường thấy một Hà Nội nước mắt. Nhưng những ai từng thật sự trải qua những ngày đó khi nhớ lại đều sẽ nhớ đến một Hà Nội trầm lắng, cương nghị. Cả một thành phố cắn chặt răng lại chịu đựng để trụ vững, vượt qua nỗi đau tột cùng.

Hồ Chủ tịch qua đời, mất mát lớn lao đó đã khiến toàn dân sát cánh bên nhau hơn bao giờ hết, biến nỗi đau thương thành sức mạnh. Nghe những lời đó, ngày nay người ta có thể thấy là văn vẻ và đại ngôn. Song với những ai đã sống trong lòng Hà Nội vào mùa thu năm 1969 thì khi nghe nhắc lại những lời tưởng như là khẩu hiệu ấy sẽ nhìn thấy lại rõ ràng tâm trạng, ý chí, nghị lực, bản lĩnh của chính bản thân mình, gia đình mình, bạn bè, hàng xóm của mình ngày đó.

Với những người ở lứa tuổi chúng tôi, sinh ra trong những năm 1950, 1951, 1952, nhập ngũ từ khoảng năm 1968 trở về sau, nếu được hỏi năm nào là năm ác liệt nhất trong đời bộ đội đều nói là năm 1972, tuy nhiên gian khổ nhất, nguy nan nhất thì hầu hết xác định là năm 1969, 1970. Đấy là thời sau Mậu Thân, mà cũng nhiều người gọi là “thời kỳ đầu sau ngày Bác mất “.

Làm thế nào, nhờ vào đâu nhỉ mà đồng đội mình và chính bản thân mình có thể chịu đựng được, trụ vững được trong những ngày tháng vượt quá xa sức chịu đựng của con người như vậy để rồi vượt qua, gồng mình gượng dậy, vươn dậy; để rồi cuối cùng tiến được tới ngày toàn thắng?

Tháng 9-1969, ngày tập trung tân binh của khu đội Ba Đình lẽ ra là mồng bảy, đã phải lùi tới ngày 15. Một là vì nguyện vọng của anh em chúng tôi muốn được lưu lại Hà Nội trong tuần quốc tang để được xếp hàng cùng mọi người vào hội trường Ba Đình viếng Bác, hai là vì số lượng thanh niên tình nguyện nhập ngũ nhiều lên vô kể trong những ngày ấy. Tình nguyện một cách quyết liệt, mong mỏi được lên đường ngay, không chấp nhận nán chờ đến đợt sau. Tất nhiên không riêng khu Ba Đình, không riêng Hà Nội mà cả nước, địa phương nào cũng thế.

Đợt tân binh mùa thu năm ấy, được gọi là đợt 969, đoàn 969, là một đợt mà trong đó rất nhiều người là con trai cuối cùng hoặc là con trai độc nhất của các bà mẹ, nghĩa là những người vốn không thuộc vào diện được gọi tòng quân nhưng vẫn nhất định dứt áo ra đi lên đường chiến đấu.

Trong tiểu đoàn tân binh chúng tôi hồi đó có cả một số bạn học đã có giấy gọi vào đại học trong nước và cả nước ngoài. Có người đã trên tàu liên vận tới biên giới Việt – Trung rồi, nghe tin Bác mất thì xuống tàu, quay trở về Hà Nội nhập ngũ…

4. Ngày 30-4-1975, khắp cả nước đâu đâu cũng vang dậy bài ca Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Khi đó đang ở Sài Gòn, lần đầu tiên nghe thấy bài hát ấy, trước mắt những lính 969 chúng tôi, tất nhiên, một cách không thể nào khác được, hiện lên cảnh tượng Hà Nội mùa thu năm 1969. Mà với riêng tôi thì cụ thể là khoảnh khắc đó, trên cầu Long Biên, ngang qua giữa sông Hồng sóng xô cuồn cuộn, khoảnh khắc thoạt tiên và bất thần, choáng váng biết tin Hồ Chủ tịch đã qua đời.

Biết tin Bác mất nhưng không phải là do nghe thông báo qua đài phát thanh, mà là nhìn thấy tin đó ở thần sắc và tâm khảm của tất cả mọi người, cảm thấy tin đó từ trong không gian đất trời.

BẢO NINH (nhà văn)

(*) Trích đăng từ báo Văn Nghệ Trẻ.

_________________________

Chúng tôi khóc trong rừng miền Đông

40 năm rồi mà ký ức về những ngày tháng “đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa” vẫn làm trái tim 82 tuổi của nhà văn Sơn Tùng run lên vì xúc động. Ông kể với Tuổi Trẻ về một lễ tang đặc biệt nhất trong cuộc đời mình – lễ tang Bác Hồ trong chiến khu miền Đông Nam bộ tháng 9-1969.

Chúng tôi đóng quân tại trảng Tà Nốt, thượng nguồn sông Vàm Cỏ, sát Tân Biên, Tây Ninh. Ngày ấy tôi là người phụ trách kiêm phóng viên của báo Thanh Niên Giải Phóng. Lãnh đạo cơ quan có anh Đoàn Hồng Đoàn – bí thư trung ương Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng, anh Lê Thiết – phó chủ tịch Hội LHTN Giải phóng (chủ tịch là anh Trần Bạch Đằng lúc đó đang vào nội thành), anh Phan Minh Tánh, anh Mười Thu, nhân viên văn phòng có Hai Trung, Út Nhì, Năm Nhanh, Hồ Hữu Nhật, trạm xá có bác sĩ Bích Nga, phóng viên có Phạm Hậu, Tâm Tâm (Tiền Phong)…

Tôi nhớ từng người như vậy vì chúng tôi đã ngồi quanh chiếc đài để nghe tin tức chiến sự và các hoạt động mừng ngày 2-9. Tối hôm đó, chúng tôi còn tổ chức mừng Quốc khánh bằng một “bữa tiệc” với lạc rang, rượu đế và nước trà. Không có ly chén, chỉ có hai chén, một rót rượu, một rót trà, chúng tôi quay vòng, chuyền tay nhau. Và chờ đợi.

Nhưng suốt cả ngày rồi đến đêm, chiếc đài vẫn nói và Bác vẫn không xuất hiện. Anh em tôi ngồi trong những căn nhà – hầm bán âm bán dương để tránh pháo bầy và bom B52, không khí nặng nề. Hôm sau dường như cũng không chịu nổi, anh Thép Mới ở bên báo Giải Phóng cũng chạy sang, bần thần: “Sơn Phong (bút danh của tôi thời ở chiến khu) ạ, tao vừa sang nhờ bên kỹ thuật điện ra Bắc hỏi sao không thấy Bác, anh em băn khoăn lắm”. Chúng tôi lại chờ đợi. Chúng tôi không ngủ suốt đêm đó.

5g hôm sau, ngày 4-9-1969, giọng nghẹn ngào của phát thanh viên Tuyết Mai từ Đài Tiếng nói VN, vừa mới nghe được nửa câu đầu: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ nước VNDCCH…” cả căn hầm đã bật khóc, tiếng khóc nghẹn ngào rồi òa lên nức nở. Cả cơ quan khóc ròng.

Tôi nhớ người đầu tiên chạy đến ôm lấy tôi nấc lên từng đợt là giáo sư Lê Thiết – người bạn thân thiết của luật sư Nguyễn Hữu Thọ và KTS Huỳnh Tấn Phát – bỏ thành lên chiến khu, ngày đêm mong ước hòa bình được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Ông nghẹn giọng: “Tùng ơi, thế là không khi nào mình còn được gặp Bác Hồ nữa rồi”.

Cả cơ quan u ám. Cơm đã dọn ra nhưng không ai ăn, bữa sáng, rồi bữa trưa, bữa tối cũng vậy. Chỉ những ai có việc phải đi công tác thì đi, vừa đi vừa khóc.

Chúng tôi quyết định tổ chức lễ truy điệu Bác Hồ ngay trong rừng. Bàn thờ Bác được kết băng hoa, chị em đi về hằng ngày luôn thay hoa mới. Chúng tôi đeo những chiếc băng tang nửa đỏ nửa đen. Sáng ra, đều đặn những bát cơm được đặt lên bàn thờ – như ở nhà chúng tôi cúng cha mẹ mình.

Tôi nhớ nhất trong những ngày ấy, có một tờ báo từ Sài Gòn đưa lên có bài của giáo sư Lý Chánh Trung viết về Bác. Trên tờ Đối Diện, từ giữa Sài Gòn, ông viết về Bác Hồ cực kỳ trân trọng và cảm động. Có những câu tôi thuộc lòng đến tận hôm nay.

Cũng chính từ lúc đó, tôi bắt đầu ghi chép những chi tiết về tang lễ và tình cảm của đồng bào, đồng chí với Bác để viết tập Nhớ nguồn: trí thức, sinh viên nội thành, chiến khu, đồng bào trong ấp chiến lược… nhớ Bác, anh em trinh sát ở Tháp Mười còn để tang Bác trong mùa nước nổi không một tấc đất nào nhoi nổi trên mặt nước.

VIỆT HOÀI ghi

tuoitre.vn