Tag Archive | Hồ Chí Minh

Gương sáng Hồ Chí Minh còn mãi

(Chinhphu.vn) – Trong lịch sử nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta, nhân dân ta có được niềm tự hào xứng đáng là Tổ quốc Việt Nam đã sinh ra một con người vĩ đại, vừa là anh hùng giải phóng dân tộc, vừa là nhà văn hóa lớn có tầm vóc thời đại, được nhân loại tiến bộ thừa nhận, là Hồ Chí Minh, người mang ánh sáng soi đường cho mọi con người, mọi đất nước cùng phát triển đi tới Tự do, Bình đẳng và Hạnh phúc.

Con người tiến bộ vẫn tiếp tục khám phá và tìm về Hồ Chí Minh như tìm về lòng tốt của con người, tình bạn, lòng nhân ái.

GS. Sử học Hungari Zogiô Lôxangô đã đánh giá cao những cống hiến của Hồ Chí Minh: “Ngày nay, trong phong trào thế giới, không có nhân vật lịch sử nào có thể so sánh với Hồ Chí Minh. Đó là tầm vóc của một con người có phẩm giá, mà tên gọi gợi lên một lòng kính trọng bất di bất dịch của không những từ các bạn bè mà cả chính những đối thủ của Người. Đó là tầm vóc những hoạt động mà với tư cách là nhà cách mạng, nhà chính khách, Người được mọi người tôn kính khi còn sống cũng như khi đã qua đời, không những trên đất nước xứ sở của người mà cả trên toàn thế giới”.

Cho đến ngày nay, khi nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, trong hoàn cảnh thế giới có đổi thay, nhưng tư tưởng và cuộc đời hoạt động phong phú của Người vẫn là ánh sáng soi đường cho mọi người nắm chắc mục tiêu mà đi tới.

Bà Macxêla Lômbácđô, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu triết học và tư tưởng chính trị xã hội Mexico, khẳng định: “Rõ ràng là những sự kiện đang xảy ra hiện nay cho thấy thế giới bước sang thiên niên kỷ thứ III, sự đối đầu không chỉ là bằng vũ khí mà bằng cả sức mạnh tư tưởng. Cũng rõ ràng là con người tiến bộ vẫn tiếp tục khám phá và tìm về Hồ Chí Minh như tìm về lòng tốt của con người, tình bạn, lòng nhân ái. Một con người không nghĩ đến mình, giản dị, khiêm tốn, không tự giam mình trong tháp ngà, một con người của quần chúng, sống cho hạnh phúc của quần chúng”.

Trong khi trăn trở về một thế giới đang đứng trước thảm họa vật chất, con người và xã hội vận động theo quy luật đồng tiền, bị xô đẩy vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt tiêu diệt lẫn nhau để giành lấy lợi nhuận và giành lấy quyền bá chủ, khiến cho thế giới không thể ổn định, bình yên, nhà sử học người Mỹ G.Xtensơn nhận xét: “Trong khi một số đông người đã tha hóa, chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, bất chấp cả nhân phẩm, đạo đức, thì nhân loại lại phải tìm về tấm gương sáng chói nhân cách của Hồ Chí Minh, một tấm gương cho mọi thế hệ tiếp sau”.

Lãnh tụ Cuba Phiđen Caxtơrô đánh giá rằng: “Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc lớp người đặc biệt mà cái chết là mầm mống của sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất diệt”.

Ngày nay, nghĩ nhớ về Bác, là chúng ta nghĩ nhớ về một thời mà được sự dìu dắt của Bác và của Đảng, nhân dân ta đánh giặc ngoại xâm nhưng không ai bị đói, không ai không được học; trong khi trai tráng ra chiến trường, phụ nữ ở lại làng mạc, nhiều người đã trở thành Chủ tịch xã, Xã đội trưởng, Bí thư Đảng ủy; nhiều thanh niên ưu tú đã được Nhà nước gửi đi học nước ngoài ngay trong thời chiến để đến khi hòa bình vừa được lập lại, đã trở thành những chiến lược gia kinh tế, những kỹ sư, công trình sư có năng lực, kịp thời phát triển ngay những ngành công nghệ, kỹ thuật hiện đại như dầu khí, cơ khí, công nghệ thông tin và các ngành khoa học kỹ thuật khác, đủ nhân lực để bước vào thực hiện công cuộc Đổi mới  từ năm 1986.

Ngày nay, nghĩ nhớ về Bác là chúng ta phải nghiêm túc nhận rõ những thiếu sót của thế hệ chưa thực hiện được những gì Bác mong muốn, chưa làm được những gì Bác đã chỉ đường, chưa noi theo những gì Bác nêu gương.

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”, như Tố Hữu đã nói bằng một câu thơ quá đẹp.

Trần Thái Bình
baodientu.chinhphu.vn

Bài 1: Cô Tô (Quảng Ninh) nơi duy nhất được dựng tượng Bác khi Người còn sống

Huyện đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí chiến lược trong vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc…

Tượng đài Bác Hồ ở đảo Cô Tô

“Ôi Bác Hồ ơi nhớ Bác nhiều, nước non ơn Bác biết bao nhiêu/ Tháng năm ngày hạ mùa sen nở nhắc nhở cháu con những sớm chiều”. Nhiều năm trở lại đây, mỗi dịp hè về vùng đảo Cô Tô lại tấp nập khách ghé thăm. Khi đến với hòn đảo nằm ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc này, không ai không ghé thăm tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi đây là tượng đài đầu tiên và duy nhất được Bác Hồ đồng ý cho phép dựng lúc Người còn sống.

Huyện đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí chiến lược trong vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Ngày 9-5-1961, Bác đã tới thăm nhân dân các dân tộc trên đảo Cô Tô. Yêu kính Bác, người dân nơi đây đã xin dựng tượng Người để ngày ngày được ở bên Bác. Và đầu năm 1968, tượng đài Bác Hồ đã được nhà điêu khắc Nguyễn Văn Quế cùng các đồng nghiệp bắt tay vào thực hiện. Tượng được làm bằng chất liệu thạch cao, Lúc đầu, tượng Bác được dựng bán thân, tay phải giơ lên cao vẫy chào như hình ảnh Người đang tươi cười vẫy chào nhân dân khi tới thăm Cô Tô. Tượng cao 1,8m (cả bệ là 4 m). Công trình được khánh thành ngày 22-5-1968, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 78 của Bác. Tháng 6-1976 bức tượng bán thân được thay bằng bức tượng toàn thân với chất liệu bê tông cốt thép. Tượng có chiều cao 4,5m, cả bệ cao 9m nằm cách bờ biển 100m. Tượng đài Bác đứng uy nghiêm, lưng tựa vào núi, tay phải giơ cao vẫy chào, mặt nhìn hướng ra Biển Đông bao la như che chở cho đất và người nơi đây. Năm 1996, kỷ niệm ngày sinh lần thứ 106 của Bác, bức tượng Bác bằng bê tông đã được thay thế bằng chất liệu đá Granit. Giờ đây, tượng Hồ Chủ Tịch ở Cô Tô vẫn được đánh giá là tượng Bác đẹp nhất vùng Đông Bắc. Đến thăm Khu di tích lưu niệm Hồ Chủ Tịch trên đảo Cô Tô ngoài tượng đài Bác Hồ, du khách còn có thể tham quan nhiều địa danh ghi dấu chân Người như: Khu nhà lưu niệm – nơi Bác Hồ đã gặp gỡ cán bộ, nhân dân Cô Tô. Cánh đồng muối nơi Bác đến thăm. Bờ ruộng khoai nơi Bác đến xem bới khoai và dừng lại trò chuyện cùng bà con. Khu Di tích lưu niệm Bác Hồ trên đảo Cô Tô là một trong những di tích đặc biệt quan trọng đã được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp Bằng công nhận là di tích lịch sử số 985 QĐ/VH, ngày 7-5-1997.

Năm 2005, cán bộ chiến sĩ và nhân dân các dân tộc huyện Cô Tô đã xây dựng ngôi đền thờ Bác. Năm 2010, khu di tích Bác Hồ trên đảo Cô Tô đã được đầu tư tôn tạo, mở rộng với tổng diện tích được mở rộng từ 6.500m2 lên trên 62.500m2 gồm các hạng mục: Khu khuôn viên tượng đài và đền thờ Bác Hồ, ao cá Bác Hồ, hệ thống hồ điều hoà cùng nhiều hạng mục khác… Công trình có tổng kinh phí trên 39 tỷ đồng được trích từ ngân sách Trung ương, ngân sách của tỉnh Quảng Ninh, huyện Cô Tô và từ các nguồn huy động khác.

Ngày nay, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng luôn nhắc nhiều đến vấn đề chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Đảo Cô Tô nằm vững chắc nơi tiền tiêu trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Ngược dòng thời gian trở lại thời điểm những năm 1965, khi ấy, miền Bắc còn ngổn ngang trong công cuộc tái thiết đất nước, miền Nam vẫn đang trong những ngày gian khổ để giành độc lập hoàn toàn, nhưng với tầm nhìn xa trông rộng của một nhà lãnh đạo thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gác lại nhiều công việc để đến với bà con ở vùng Biển đảo Cô Tô. Phải chăng đó như một lời nhắc nhở cháu con hướng tầm nhìn ra Biển Đông để bảo vệ chủ quyền biên giới của Tổ quốc.

Ngày nay, những người con đất Việt khi đến với Cô Tô, đứng giữa bốn bề sóng nước mênh mông, có thể cảm nhận được chiều cao, bề rộng của các tượng đài không phải bằng những con số mà bằng tình yêu Tổ quốc và lòng tự hào dân tộc… Còn với những người sống trên đảo Cô Tô, khi ngắm nhìn tượng Bác, đồng bào và chiến sĩ nơi đây như được tiếp thêm sức mạnh để sống, học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sẵn sàng bảo vệ, giữ gìn từng tấc đất quê hương. Vì vậy có thể khẳng định, tượng đài Bác Hồ trên đảo Cô Tô có một vị trí rất đặc biệt trong hệ thống tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong và ngoài nước.

Trong lần tới thăm Cô Tô, Bác Hồ đã căn dặn bà con trên đảo: “Thủ đô Hà Nội tuy xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết, cố gắng và tiến bộ”. Ngày nay, khoảng cách về địa lý giữa Thủ đô và vùng đảo Cô Tô đang dần được nối liền nhờ những chuyến tàu tấp nập suốt ngày đêm, nhờ điện thoại di động và cả internet. Và không phải ai cũng biết, Cô Tô là hòn đảo phủ sóng wifi đầu tiên của tỉnh Quảng Ninh và cả nước.

TS. ĐINH CÔNG VỸ
daidoanket.vn

Bài 2: Tượng Bác Hồ ở nước Nga

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Nga là mối quan hệ đặc biệt và sâu đậm. Nước Nga – quê hương của Cách mạng Tháng Mười – quê hương của lãnh tụ Lê Nin đã tác động to lớn đến tư tưởng của Bác Hồ và góp phần làm nên Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường
mang tên Người ở thủ đô Matxcơva – Liên bang Nga

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường mang tên Người tại Matxcơva là một công trình điêu khắc đẹp, giàu ý tưởng, ý nghĩa. Cuối năm 1969, sau khi Bác từ trần, khu Công viên Akademichexki rộng hơn 1 ha được đổi tên thành Quảng trường Hồ Chí Minh và một hòn đá đầu tiên được đặt tại vị trí để chuẩn bị cho việc dựng tượng. Quảng trường Hồ Chí Minh ở thủ đô nước Nga có vị trí đắc địa, giao điểm của đại lộ Đmitria Ulianôpva và đại lộ 60 năm Tháng Mười, xung quanh là những ngôi nhà cổ và nhà bằng gạch cao từ 8 đến 10 tầng, không che khuất tầm nhìn.

Nghệ sĩ điêu khắc Nhân dân Liên Xô (Liên bang Nga) Vladimir Efimovich Tsigal, người được vinh dự nhận giải thưởng Lênin và nhiều giải thưởng quốc gia, viện sĩ Viện Hàn lâm mỹ thuật Liên Xô (sinh năm 1917) được chọn là tác giả thể hiện tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau một thời gian, ông đã tạo ra bản phác thảo đầu tiên: Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tư thế đứng, tay đặt trên quyển sách, tượng trưng cho những tác phẩm của Mác và Lênin. Nhưng ông vẫn còn băn khoăn nhiều vì cảm thấy pho tượng hao hao giống như nhiều pho tượng danh nhân khác. Năm 1985, ông quyết định sang Việt Nam để tìm hiểu. Sau hành trình xuyên Việt, Vladimir Efimovich Tsigal đã tìm ra “đáp án”.

Năm 1990, đúng vào năm UNESCO vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hóa kiệt xuất thì tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường mang tên Người ở thủ đô Matxcơva – Liên bang Nga khánh thành. Tượng – nhưng thực ra là một bức phù điêu đồng lớn hình khối, cao 5m, nổi bật hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phù điêu được đặt trên bệ cũng bằng đồng khối có chiều dài 6m, dày nửa mét; diện tích khuôn viên là 676m2, có 3 chiếu nghỉ và 8 bậc thang rộng được khánh thành. Hàng chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” bằng tiếng Nga, khắc sâu vào mặt trước của tượng đài, cách vài ba trăm mét vẫn có thể đọc được. Trước nhà số 1/24 và số 2/22 của hai phố Đmitria Ulianôpva và phố Công đoàn đều có hai tấm bảng bằng đá khổ 1m x 1m20 ghi rõ “Quảng trường Hồ Chí Minh” và tóm tắt thân thế và sự nghiệp của Người.

Nhà điêu khắc tài danh Vladimir Efimovich Tsigal nói: “Tôi muốn bức phù điêu Hồ Chí Minh sẽ thu hút được sự chú ý và để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai từng một lần đứng trước tác phẩm này”. Quả vậy, bức phù điêu hình tròn biểu thị cho mặt trời – biểu thị một ngày mai tươi sáng. Giữa phù điêu, hình tượng Bác Hồ đang tươi cười, mắt trìu mến nhìn vào người xem. Bên dưới, hình tượng chàng trai Việt Nam ở thế chuẩn bị bật dậy, tượng trưng cho sức sống của một dân tộc. Phía sau là hình tượng cây tre Việt Nam – loài cây đã mang trong mình sức sống dẻo dai chống chọi với kẻ thù, với bão tố và giúp người Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày.

Và không chỉ bức phù điêu bằng đồng khổng lồ mang ý nghĩa sâu xa, mà cả bệ đá hoa cương mà bức phù điêu trụ trên đó cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa. Bệ đá gồm 8 bậc. Theo cách giải thích của nhà điêu khắc Vladimir Efimovich Tsigal: Con số 8 mang ý nghĩa tượng trưng, bởi tôi nhận thấy bông sen – loài hoa được người Việt Nam coi là biểu tượng của sự thanh tao, thường có 8 cánh.

Trong quá trình thực hiện, có một sự kiện kỳ lạ đã diễn ra. Nhà điêu khắc kể: Ông biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mơ ước được gặp V.I.Lênin. Khi ông đúc bức phù điêu Hồ Chí Minh trong một xưởng điêu khắc rất lớn ở Matxcơva thì cùng thời điểm đó, một nhà điêu khắc khác cũng đang đúc tượng V.I.Lênin. “Và đôi lúc tôi cảm thấy rất vui vì dường như mình đã góp phần tạo điều kiện để hai con người vĩ đại đó gặp gỡ nhau trong lĩnh vực điêu khắc”.

Đã thành một truyền thống, kể từ khi bức phù điêu Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quảng trường mang tên Người này khánh thành, thì nơi đây đã trở thành một địa chỉ cho các Đoàn đại biểu cấp cao từ trong nước sang thăm hữu nghị chính thức nước bạn đều đến thành kính đặt hoa trước tượng đài Hồ Chủ tịch. Và cũng thành thông lệ hàng năm, vào ngày 19-5 và ngày 2-9, đúng mười giờ sáng, cán bộ Đại Sứ quán, đại biểu Cộng đồng người Việt làm ăn và sinh sống ở Matxcơva và những người bạn Nga làm lễ dâng hoa trước tượng Người. Nhiều đôi nam nữ người Việt khi tổ chức đám cưới cũng mang hoa đến đặt trước tượng Bác và Đài Liệt sĩ vô danh tại điện Kremli như là một sự biết ơn và một nếp sống văn hóa.

Vũ Đình Thành
daidoanket.vn

Bài 3: Tượng đài Bác Hồ ở Pháp

Từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, Việt Nam bị Pháp đô hộ. Từ hai chiến tuyến, sau này, mối quan hệ của hai quốc gia được cải thiện và tốt đẹp lên. Các di tích trên nước Pháp gắn với những tháng năm hoạt động của Hồ Chủ tịch được người Pháp gìn giữ, tôn tạo. Tại Bảo tàng Lịch sử Sống thuộc thành phố Montreuil, tượng đài Hồ Chủ tịch cũng đã được dựng năm 2005.

Tượng Hồ Chủ tịch tại bảo tàng sống Montreuil

Ngày 19-5-2005, chính quyền thành phố Montreuil (Pháp) đã dựng tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở “Không gian Hồ Chí Minh” nằm trong Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil. Vị trí đặt tượng Bác Hồ là khu vực mà khách tham quan khi tới công viên đều dễ dàng nhận thấy.

Tượng Hồ Chủ tịch dựa theo mẫu của nhà điêu khắc nổi tiếng Trần Văn Lắm. Đây cũng là pho tượng Hồ Chủ tịch duy nhất đặt trên nước Pháp. Khuôn viên đặt tượng đài bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh được bố trí rất hài hoà với nhiều cây xanh, những khóm tre, trúc, tạo nên một không gian bình dị nhưng mang đậm nét văn hóa Việt Nam.

“Không gian Hồ Chí Minh” nằm bên trái tầng 1 của Bảo tàng Lịch sử Sống, du khách dễ dàng nhận thấy ngay khi bước vào cửa. Đây là nơi lưu giữ những hình ảnh, hiện vật quý về cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng Người ở Pháp: Cánh cửa bằng gỗ và tấm biển căn nhà số 9 – ngõ Compoint (nơi Bác ở từ tháng 7-1921 – 6-1923), chiếc bồn lavabo Bác dùng trước đây… Rồi có cả những hình ảnh, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác như: tấm thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, những tấm thẻ hành nghề, ảnh, bài báo, những bức thư mà Bác viết cho các đảng viên Đảng Cộng sản Pháp…

Ngoài ra còn có nhiều tài liệu, sách báo, tranh ảnh giới thiệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh… Tất cả các hiện vật, tư liệu quý giá ấy luôn được nâng niu, gìn giữ với sự trân trọng của các bạn Pháp.

Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil là bảo tàng ca ngợi các vĩ nhân đã để lại những dấu ấn lịch sử sâu đậm, tác động và có sức ảnh hưởng to lớn đến thế giới. Việc dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bảo tàng sống Montreuil vì thế mang một thông điệp rõ ràng về sự nhìn nhận đánh giá, tôn vinh Hồ Chủ tịch một cách đúng đắn, xứng với tầm vóc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất mà UNESCO đã tôn vinh năm 1990.

Trong những năm tháng hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc (tên dùng khi đó của Hồ Chủ tịch), đã để lại những dấu ấn, những sự kiện vang dội. Ngày nay, nước Pháp đã gìn giữ những gì liên quan đến Hồ Chí Minh như một báu vật vô giá. Đó là di tích nhà số 9, ngõ Compoint, quận 17 (Paris). Bác đã ở đây khoảng 2 năm (từ 1921-1923). Tại đây, Người tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” và được bầu làm ủy viên thường trực của Hội. Người đã khởi thảo Tuyên ngôn, Điều lệ và Lời kêu gọi. Đây là một tổ chức yêu nước và cách mạng có tổ chức và quy mô đầu tiên hoạt động hợp pháp ở Paris.

Người thành lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), cơ quan ngôn luận của Hội, vừa là người sáng lập kiêm chủ bút, biên tập và phát hành báo. Nhờ công lao của Nguyễn Ái Quốc, tờ báo đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin ở các nước thuộc địa. Trong thời gian này, Người còn viết nhiều bài báo có tác động lớn, đả kích thực dân Pháp xâm lược và bóc lột nhân dân các nước thuộc địa của Pháp.

Tại nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã kết giao với nhiều trí thức, nghệ sĩ nổi tiếng của Pháp và thế giới như: diễn viên Charles Chaplin, nhà văn Hăng-ri Bác-buýt, họa sĩ Picátxô…

Nước Pháp cũng là nơi Nguyễn Ái Quốc viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” nổi tiếng, gây chấn động nước Pháp và cả chính quyền Pháp tại Việt Nam. Cũng tại nước Pháp này, Nguyễn Ái Quốc đã viết vở kịch “Con rồng tre” giễu cợt ông vua Khải Định bù nhìn…

Ngày 14-3-1923, Nguyễn Ái Quốc dời nhà số 9, ngõ ComPoint, dọn đến số nhà 3 phố Mácsơ Đê Patơriacsơ, quận 5, Paris. Đây chính là nơi đặt trụ sở “Hội liên hiệp thuộc địa” và là tòa soạn báo Le Paria… Năm 1983, Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đã gắn biển di tích. Cho đến năm 1986, chủ sở hữu ngôi nhà phá bỏ nhà cũ để xây nhà mới 9 tầng. Những kỷ niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính quyền thành phố Montreuil đưa về trưng bày và dựng thành “Không gian Hồ Chí Minh” trong Bảo tàng Montreuil. Năm 2001, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và chính quyền thành phố Paris đã gắn lại biển di tích tại ngôi nhà số 9.

Trên nước Pháp cũng chứng kiến sự trở lại của Bác khi Người ở cương vị Chủ tịch nước. Đó là năm 1946, Người là thượng khách của nước Pháp. Cũng trong dịp này, phái đoàn ngoại giao Việt Nam sang đàm phán tại hội nghị Phông ten nơ blô. Tình hình khi đó rất căng thẳng, bằng tài ngoại giao và tranh thủ sự giúp đỡ của Việt kiều, nhân dân Pháp, Hồ Chủ tịch đã bày tỏ ước nguyện yêu chuộng hòa bình của nhân dân Việt Nam và quyết tâm đánh Pháp nếu tiếp tục bị xâm lược. Sau đó, Người và đại diện Pháp ký Tạm ước 14-9. Và cũng tại thủ đô Paris ngày 1-7-1946, hoạ sĩ Vũ Cao Đàm (Việt kiều) đến chào Hồ Chủ tịch, xin phép được vẽ và nặn tượng Người. Cùng ngày hôm đó, một số văn nghệ sĩ Pháp tên tuổi như Richard Bloch, Aragon, Triolet, Moussinac, Borne, Masson cũng đến diện kiến Người. Pho tượng sau đó được đúc đồng và tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh năm 1998.

Phiên bản bức tượng Hồ Chủ tịch của nhà điêu khắc Trần Văn Lắm có chiều cao 1,1m, đặt trên bệ cao 3m, sau đó cũng được chọn để dựng tượng Bác tại Mông Cổ.

NGUYỄN LONG
daidoanket.vn

Bài 4: Tượng Bác Hồ ở Cuba

Việt Nam – Cuba có mối quan hệ đặc biệt. Mối quan hệ tốt đẹp giàu truyền thống cách mạng đó như được nhân thêm khi tại trung tâm Thủ đô La Habana của Cuba, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng lên trang trọng.

Tượng đài Hồ Chủ tịch ở Thủ đô La Habana Cuba.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt ở vườn hoa trung tâm Thủ đô La Habana. Tượng đài Bác được dựng bán thân như chúng ta vẫn thường thấy ở các hội trường cơ quan của Đảng và Chính phủ Việt Nam: Tượng Bác mặc áo ka ki có hai túi ngực. Mỗi khi có sự kiện gắn với quan hệ hai nước Việt Nam – Cuba thì nơi đây đều được chọn là địa chỉ của các đoàn tới thăm viếng.

Thuở đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ từng bôn ba sang châu Mỹ. Cho đến nay, cũng chưa thấy tài liệu nào công bố Bác Hồ đã từng đến Cuba. Nhưng trái tim người chiến sĩ cộng sản quốc tế yêu nước Nguyễn Ái Quốc luôn chan chứa tình yêu thương đồng loại. Bác từng viết: “Vàng, đen, trắng, đỏ đều là anh em” khi nói về tình hữu nghị và bình đẳng quốc tế.

Tại Nhà Di tích H67 ở Khu di tích Phủ Chủ tịch đến nay còn trưng bày một chiếc khay nhỏ làm bằng đồng trên bàn làm việc của Bác. Chiếc khay được đặt cạnh những cuốn sách, những tờ báo Bác Hồ đang xem trước lúc đi xa… Chiếc khay này là kỷ vật của nhà báo nước ngoài cuối cùng đã phỏng vấn Hồ Chủ tịch. Đó là nữ nhà báo Cuba Mácta Rôhát Rôđrigết – phóng viên, Chủ nhiệm báo Granma – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cuba biếu Bác Hồ nhân dịp chị sang thăm Việt Nam, được Bác Hồ tiếp và trả lời phỏng vấn ngày 14-7-1969. Và câu nói: “Việt Nam và Cuba là hai người anh em ở hai nửa địa cầu. Khi Cuba ngủ thì Việt Nam thức để canh gác và khi Việt Nam ngủ thì Cuba thức để bảo vệ” là câu nói của Bác với nhà báo Mácta Rôhát Rôđrigết. Bài phỏng vấn Hồ Chủ tịch của nhà báo Mácta Rôhát Rôđrigết đã được đăng trên báo Granma ngày 29-7-1969 với tiêu đề: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi” bằng tiếng Tây Ban Nha. Bài phỏng vấn sau đó được in lại bằng tiếng Pháp ngày 3-8-1969. Ngày 27-9-1969, báo Nhân dân đã đăng bản dịch bài trả lời phỏng vấn này.

Còn đối với Cuba, Việt Nam là một biểu tượng cách mạng để bạn noi theo. Chủ tịch Cuba Fidel Castro – linh hồn của cách mạng Cuba luôn coi dành cho Việt Nam những tình cảm đặc biệt. Từ tháng 1-1959 đến tháng 12-2007, lãnh tụ Fidel Castro đã sang thăm Việt Nam 3 lần, đặc biệt in đậm là chuyến thăm Quảng Trị năm 1973. Đây là vị nguyên thủ đầu tiên và duy nhất trên thế giới đến thăm vùng giải phóng Quảng Trị của Việt Nam khi chiến tranh còn đang ác liệt. Với vai trò “chủ nhà” trong chuyến thăm này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cùng đi với Chủ tịch Fidel Castro. Trong chuyến đi, với dáng vóc to lớn, oai phong, Chủ tịch Fidel đội mũ lưỡi trai, mặc bộ quân phục màu xanh ôliu, đi giày cao cổ đã để lại hình ảnh gần gũi với bộ đội, nhân dân Việt Nam. Tại Đồng Hới, chứng kiến cảnh tang thương của chiến tranh, Chủ tịch Fidel Castro đã chỉ đạo cho ngài đại sứ Cuba kế hoạch ủng hộ Việt Nam một bệnh viện. Một tháng sau, Bệnh viện Việt Nam – Cuba tại Đồng Hới được khởi công xây dựng. Khi thăm sư đoàn Vinh Quang, Chủ tịch Fidel Castro đã phất cao lá cờ truyền thống của sư đoàn và nói: “Các đồng chí hãy mang lá cờ bách chiến bách thắng này cắm tại Sài Gòn”. Vào tháng 4 năm 1975 lịch sử, lá cờ của sư đoàn Vinh Quang đã tung bay trên nóc dinh Độc Lập. Cũng trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, để ủng hộ Việt Nam, Đài Tiếng nói Cuba hằng ngày dành 6 giờ phát tiếng Anh để nhân dân Mỹ hiểu rõ cuộc chiến tranh phi nghĩa do Mỹ gây ra ở Việt Nam.

Chất keo kết dính mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Cuba ngoài nét tương đồng về lịch sử đấu tranh giành độc lập, về lý tưởng, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ nghĩa quốc tế, còn là sự tin cậy, đồng cảm, là tình nghĩa thuỷ chung giữa những người cùng cảnh ngộ. Ngày nay, ngoài những món hàng truyền thống như gạo, than đá, cà phê, giày dép, nay Việt Nam còn xuất khẩu sang Cuba máy tính, linh kiện máy tính, đồ điện gia dụng, bóng đèn tiết kiệm điện và nhiều hàng hoá khác. Chưa kể đến các dự án hợp tác trong ngành dầu khí, du lịch.

Huy Văn
daidoanket.vn

Bài 5: Tượng Bác Hồ ở Madagascar

Với quan hệ ngoại giao thân thiết, năm 2003, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng lên trang nghiêm giữa quảng trường mang tên Người tại Thủ đô Antananarivô của Madagascar.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Madagasca

Madagascar – quốc gia ở châu Phi này trước đây cũng từng là thuộc địa của Pháp như Việt Nam. Thế nên tình bạn giữa lãnh tụ cách mạng Madagascar Jean Ralaimongo và Bác Hồ thêm phần đặc biệt của những người chiến sĩ cách mạng trong những năm tháng hoạt động tại Pháp

Bức tượng Bác Hồ ở Madagascar bằng đồng đặt trên bệ đá hoa cương, với tổng chiều cao 3,4m. Bên dưới có tấm biển đồng khắc câu nói nổi tiếng của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tượng được nhà điêu khắc Lê Đình Bảo thiết kế năm 2001. Cùng với tượng đài Lênin, tượng đài Bác Hồ và tượng đài lãnh tụ Jean Ralaimongo trở thành biểu tượng cách mạng của Madagascar.

Làm phụ bếp trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville năm 1911, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đi qua các cảng châu Phi. Hình ảnh người dân nô lệ quốc đảo Madagascar làm việc dưới đòn roi của những tên thực dân Pháp đã khiến người thanh niên Việt Nam rơi nước mắt khi anh nghĩ đến số phận những người dân mất nước nơi quê hương mình. Từ hình ảnh người nô lệ Madagascar, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ra chân lý: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai loại người: loại người bóc lột và người bị bóc lột”.

Khi hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã cùng các bạn châu Phi, trong đó có hai bạn người Madagascar là Jean Ralaimongo và Samuel Stephanie tích cực tổ chức và tham gia lãnh đạo Hội liên hiệp thuộc địa, tập hợp những người dân thuộc địa của Pháp (cuối tháng 11-1921). Nhóm ra báo Le Paria (Người cùng khổ) để mở rộng tuyên truyền đến các thuộc địa (tháng 4-1922). Ngay số đầu phát hành, báo Le Paria đã khẳng định: Báo “ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Madagascar, ở Đông Dương, ở quần đảo Ăngti và Guyan”. Rồi trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản tại Paris năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo hành động man rợ của đội quân viễn chinh Pháp ở Madagascar năm 1895. Người nhắc lại cuộc tàn sát đẫm máu mà thực dân Pháp đã gây ra cho nhân dân Madagascar: “Chúng đã thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, tàn sát một lúc 5.000 người của bộ lạc Sacavala trên bờ biển phía Tây của Madagascar”. Trong buổi trò chuyện với nhà thơ Xôviết Osip Emilyevich Mandelstam, Nguyễn Ái Quốc cũng nhắc lại “những người anh em Madagascar”.

Sau khi công trình tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng tại Thủ đô Antananarivô, nơi đây đã trở thành điểm tổ chức các sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở Madagasca.

Mạnh Thắng
daidoanket.vn

Bài cuối: Tượng Bác Hồ ở một số nước châu Á

LTS: Tại các bài báo trước, chúng tôi đã nêu những tượng đài Bác tiêu biểu ở một số quốc gia thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Kết thúc loạt bài này, chúng tôi xin đề cập tượng đài về Bác ở một số nước châu Á – nơi cùng máu đỏ, da vàng, cùng nét tương đồng văn hoá với Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng
đoàn đại biểu dự lễ khánh thành tượng
Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Công viên Asean (Philippin)

Trung Quốc là quốc gia láng giềng và từ xưa đến nay luôn có mối quan hệ đặc biệt với Việt Nam. Thời gian Bác Hồ hoạt động ở Trung Quốc khá dài. Di tích Nhà số 248 và 250 (trước là nhà số 13a và 13b) đường Văn Minh ngày nay còn lưu giữ nhiều hiện vật thời kỳ Bác tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước trong thời gian từ đầu 1926 đến tháng 4-1927. Một di tích quan trọng khác nữa gắn với sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác được Trung Quốc gìn giữ là Khách sạn Nam Dương ở Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây). Bác Hồ đã ở đây từ cuối năm 1943 đến tháng 9-1944, sau khi ra khỏi nhà tù Quốc dân Đảng. Tại đây, Người đã triển khai nhiều hoạt động cách mạng Việt Nam, như mở lớp học đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam, tham gia một số hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, tham dự Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (3-1944). Hiện nay, khách sạn đã dành cả tầng 1 và 2 phòng trên tầng 2 để trưng bày tái hiện về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Liễu Châu và một số mốc chính trong quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Tống Khánh Linh… Căn phòng Người đã ở và làm việc được trưng bày như nguyên gốc.

Sinh thời, Hồ Chủ tịch và Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru đã đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam – Ấn Độ, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp, nuôi dưỡng và ngày càng đơm hoa kết trái. Ngày nay, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt tại công viên nằm giữa giao điểm đường Hồ Chí Minh và đường Jawaharlal Nehru, ở thành phố Cancútta. Và tại Thủ đô Niu Đêli có một đại lộ mang tên Hồ Chí Minh.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Ấn Độ

Thái Lan cũng là một trong những quốc châu Á mà Bác Hồ dừng chân hoạt động nhiều năm. Hiện nay, di tích Nhà Hợp tác tại bản Mạy, huyện Mương, tỉnh Nakhonphanom vẫn còn lưu giữ những hiện vật về thời kỳ hoạt động của Bác từ tháng 7-1928. Nhà Hợp tác ở bản Mạy là trạm liên lạc, đưa đón những người Việt Nam yêu nước. Tháng 1-2004, Thủ tướng hai nước Việt Nam – Thái Lan và các đại biểu dự Hội nghị liên Chính phủ Việt – Thái đã khai trương Làng Hữu nghị Việt – Thái ở bản Mạy, trong đó hạt nhân là di tích Nhà Hợp tác, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở và làm việc. Tại đây có tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cao 1,1cm do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam trao tặng ngày 12-10-2011.

Tại Philippin có một công viên mang tên ASEAN. Ngày 27-10-2011, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến đặt vòng hoa tại tượng đài Anh hùng dân tộc Jose Rizal và dự lễ khánh thành tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại công viên ASEAN. Việt Nam và Philippin đã thành lập Hội Hữu nghị Quốc tế giáo dục văn hóa Jose Rizal – Hồ Chí Minh. Đây là sáng kiến của Đại sứ quán Việt Nam tại Philippin và Đại học Bách khoa Laguna nhằm đưa phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ra nước ngoài và nhằm góp phần tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Philipin. Mục đích của hội là để giáo dục và thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay và mai sau bằng trí tuệ kiệt xuất, ý chí kiên cường thể hiện lòng yêu đất nước, nhân dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Jose Rizal – hai vị anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại của Việt Nam và Philipin. Tại Philippin, có 4 tượng đài Hồ Chủ tịch được đặt cạnh tượng anh hùng dân tộc Philippin Jose Rizal.

Trong tương lai, khi đất nước ta ngày một phát triển, quan hệ với các nước ngày một rộng khắp, và nhất là tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một lan toả thì chắc chắn tượng đài Bác ở nhiều quốc gia khác sẽ nhiều thêm. Đó cũng là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam chúng ta.

Huy Văn
daidoanket.vn

Những kỷ niệm tháng sáu trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng oanh liệt và phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh có biết bao nhiêu sự kiện quan trọng là bấy nhiêu ngày được ghi trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Tháng 6 là tháng có nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Kỷ niệm 97 năm ngày Văn Ba – Bác Hồ ra đi tìm được cứu nước (5/6/1911- 5/6-2008); 85 năm ngày Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp, bắt đầu cuộc hành trình trở về Tổ quốc để lãnh đạo công cuộc giải phóng đất nước (13/6/1923 – 13/6/2008); 83 năm ngày báo Thanh niên, tờ báo do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên và cũng là Ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2008); 60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2008). Xâu chuỗi lại, chúng ta thấy cả 4 ngày kỷ niệm trong tháng 6 đều thấy liên quan đến sự kiện xảy ra cách đây đúng 100 năm- sự kiện Nguyễn Tất Thành tham gia phong trào chống thuế của nông dân Trung kỳ năm 1908. Liên tưởng như thế bởi vì theo lô gích, sự kiện sau chính là kết quả tất yếu của sự kiện trước.

Trong thời gian sống cùng cha ở Huế, Nguyễn Tất Thành đã tham gia biểu tình của nông dân 6 huyện Thừa Thiên Huế đòi giảm sưu, giảm thuế, do bị mất mùa liên tiếp trong 3 năm. Đây là một hoạt động yêu nước đầu tiên của Nguyễn Tất Thành. Anh đã chứng kiến thực dân Pháp thẳng tay đàn áp những người nông dân hiền lành. Hàng vạn người tay không tham gia biểu tình chỉ với một yêu sách nhỏ là đòi giảm thuế. Họ đi tay không, không có khí giới. Họ chỉ yêu cầu giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là “đồng bào”. Nhưng bọn thực dân Pháp dùng khủng bố đại quy mô để trả lời họ. Chúng giết hơn một nghìn người cầm đầu và những người bị nghi là có dính dáng đến việc đó. Nhà tù chật ních người… Hầu hết những phần tử trí thức yêu nước đều bị bắt bỏ tù. Nhiều học giả nổi tiếng được nhân dân kính mến, cũng bị chém đầu. Thực dân Pháp gọi phong trào ấy là “án đồng bào cắt tóc” vì nông dân dùng hai tiếng “đồng bào” để gọi nhau.

Sự kiện nông dân Trung Kỳ nổi dậy năm 1908, mà Nguyễn Tất Thành được tận mắt chứng kiến và tham gia, đã để lại trong anh dấu ấn không thể phai mờ. Nguyễn Ái Quốc viết lại sự kiện này trong bài báo đầu tiên nhan đề: Vấn đề dân bản xứ, đăng trên báo L’ Humanité (Báo Nhân đạo – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp), ngày 2-8-1919. Trong bài, khi tố cáo, lên án chính sách cai trị, những thủ đoạn đàn áp, cướp bóc của thực dân Pháp ở Đông Dương và sự phản kháng của nhân dân An Nam, Nguyễn Ái Quốc đã dẫn ra vụ nổi dậy của nông dân Trung Kỳ năm 1908: “Buộc phải bị kiềm chế bởi sức mạnh, nhân dân An Nam, mà lịch sử chân chính đã khởi đầu từ hơn 3000 năm, từng lúc từng lúc như có những đợt cồn cào chống đối, biểu hiện bằng những mưu toan nổi dậy rộng khắp, hoặc bằng hành động của những con người tuyệt vọng, như những cuộc biểu tình ôn hoà năm 1908… Đó là những cuộc phản kháng vô hiệu mà mỗi lần đều đem lại những trận đàn áp đẫm máu”.

Một cuộc biểu tình ôn hòa, với những đề nghị thỉnh cầu tối thiểu nhất, lại bị đàn áp dã man. Sau này, trong nhiều bài viết và báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đều dùng những chữ “ôn hòa”, “thỉnh cầu tối thiểu” để viết về tính chất, mức độ cuộc nổi dây của nông dân Trung Kỳ. Sự kiện tham gia vào phong trào chống thuế của nông dân 6 huyện tỉnh Thừa Thiên Huế đã đánh dấu một mốc quan trọng trong cuộc đời của Nguyễn Tất Thành. Cùng với hàng loạt phong trào yêu nước của nhân dân bị thất bại, sự kiện nông dân biểu tình đòi giảm sưu cao, thuế nặng đã tác động đến suy nghĩ của anh. Anh đã thấy sức mạnh của quần chúng nhân dân. Hành động của dân chúng đã vượt ra khỏi khả năng lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước tiến bộ, như sau này anh nhận định: “Quần chúng căn bản là có tinh thần nổi dậy, nhưng còn rất dốt nát. Họ muốn giải phóng, nhưng họ chưa biết cách nào để đạt được mục đích ấy”. Làm thế nào để các cuộc khởi nghĩa của đông đảo các tầng lớp nhân dân không bị đàn áp, bị chết chóc, tù đầy. Đó là câu hỏi đã làm cho Nguyễn Tất Thành trăn trở, suy nghĩ. Đây cũng là sự kiện tác động trực tiếp nhất đến Nguyễn Tất Thành để anh càng nung nấu quyết tâm đi ra nước ngoài xem người ta làm như thế nào, sau đó trở về giúp đồng bào mình. Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành, với tên mới Văn Ba, xuống làm phụ bếp trên chiếc tàu buôn của Pháp Đô đốc Latúsơ Tơrêvin, bắt đầu cuộc hành trình đi tìm chân lý. Cuộc lên đường này đã đánh dấu một quyết định táo bạo, nhưng hết sức đúng đắn của anh thanh niên yêu nước Ngưyễn Tất Thành, người sớm có chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào.

Rời Tổ quốc, hành trang theo Người là tấm lòng yêu nước, thương dân, quyết tìm cách cứu dân tộc khỏi bị nô lệ, lầm than. Lênh đênh bốn biển, từ Pháp sang Mỹ, sang Anh rồi lại trở lại Pháp. Làm đủ mọi nghề để kiếm sống, để thâm nhập đời sống của giai cấp công nhân, hòa mình trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc. Tại Pari, thủ đô của nước Pháp, trung tâm chính trị, văn hóa của châu Âu, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp, hoạt động trong Ủy ban vận động ủng hộ Cách mạng Tháng Mười của Đảng Xã hội Pháp. Cũng tại Pari, vào một ngày tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã được đọc Luận cương của V.I Lênin về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Luận cương của V.I. Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Sau này khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: ” Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Đến với Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với Luân cương của V.I Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã dứt khoát lựa chọn con đường, và cùng với những người cách mạng chân chính của nước Pháp, Nguyễn Ái quốc đã đã bỏ phiếu tán thành việc Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế thứ ba-Quốc tế Cộng sản, và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thành Người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Những hoạt động xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc được Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đánh giá cao. Trung ương Đảng Cộng sản Pháp cử Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản. Điều này phù hợp với nguyện vọng cháy bỏng của Nguyễn Ái Quốc là muốn đến nước Nga, trung tâm của phong trào cách mạng thế giới để học tập kinh nghiệm lý luận và thực tiễn, chuẩn bị cho hành trình trở về tổ quốc. Và ngày 13-6-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rời nước Pháp, để đến Mátxcơva, nước Nga. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên có mặt trên đất nước Lênin, nơi nhân dân Liên Xô đã được tự do và đang xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, bình đẳng. Trên đất nước Lênin, quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Người đã học tập được kinh nghiệm xây dựng Đảng, và từng bước hoàn thiện việc khai phá con đường cứu nước.

Từ nước Nga Xô viết, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục vạch ra lộ trình của con đường cứu nước, Người trở về Quảng Châu, Trung Quốc, trung tâm của phong trào cách mạng châu Á, từng bước thực hiện tâm nguyện của mình: “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”. Tại Quảng Châu, Trung Quốc, từng bước thực hiện kế hoạch đã được vạch ra, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho sự ra đời một Đảng Mác xít ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã mở Lớp huấn luyện chính trị để chuẩn bị đào tạo đội ngũ cán bộ, chuẩn bị cho sự ra đời một chính Đảng. Cùng với việc đào tạo đội ngũ cán bộ, Nguyễn Ái Quốc chủ trương xuất bản báo chí làm phương tiện tuyên truyền. Và ngày 21-6-1925, Báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo ra số đầu tiên. Báo Thanh niên là tờ báo đầu tiên trong lịch sử báo chí vô sản nước ta góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam vào đầu năm 1930.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã từng bước lãnh đạo công cuộc giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cách mạng Tháng tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chính quyền non trẻ vừa ra đời, chưa có thời gian củng cố, thì lại phải đối phó với muôn vàn khó khăn: nạn đói nạn dốt, thù trong giặc ngoài. Và cả dân tộc Việt Nam lại phải bước vào cuộc trường chinh kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau Chiến thắng Việt Bắc Thu Đông năm 1947, để động viên mọi lực lượng phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27-3-1948, Ban Thường vụ Trung ương đã ra Chỉ thị Phát động phong trào thi đua ái quốc. Chỉ thị vạch rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến thiết chóng thành công”.

Nhân dịp kỉ niêm 1000 ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước nhằm động viên toàn dân tập trung sức lực cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Như vậy một sự kiện lịch sử nữa được Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định vào tháng 6-1948. Điểm qua một số mốc kỷ niệm trong tháng 6, chúng ta thấy một sự chỉ đạo nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là việc phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, đánh giá cao vai trò của đông đảo nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Người đã nhìn thấy điều này từ khi tham gia phòng trào chống thuế năm 1908: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917″. Sau này Người viết: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta, thì chúng ta phải đi mau”. Đi mau bằng cách tham gia vào các phòng trào thi đua yêu nước. Sức mạnh của quần chúng, truyền thống yêu nước, ý thức tự lực, tự cường của dân tộc phải được tập hợp, tổ chức và động viên vào vào sự nghiệp cách mạng. Bởi vì “Tinh thần yêu nước cũng như thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất dấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”. Cùng với những văn kiện đã đi vào lịch sử như Bản Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến(1946), Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát đi ngày 11-6-1948, đã đi vào lòng người như lời hịch cứu nước, bởi mục đích của thi đua là để: “Diệt giặc đói khổ, diệt giặc dốt nát, diệt giặc ngoại xâm”, làm cho “Dân tộc độc lập. Dân quyền tự do. Dân sinh hạnh phúc”. Để đạt được mục đích đó không có con đường nào khác là: “Dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân. Để gây hạnh phúc cho dân”.

Khơi dậy truyền thống yêu nước của dân tộc ta từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tạo nên sự gắn kết tự nhiên giữa yêu nước và thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Thi đua là yêu nước, vì yêu nước phải thi đua. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã có hàng trăm phong trào thi đua của các ngành, các cấp, các giới được phát động và động viên được toàn dân tham gia. Thi đua yêu nước đã đã góp phần làm nên những kỳ tích của nhân dân ta trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, trong công cuộc kiến thiết nước nhà. Ngày nay thi đua yêu nước vẫn sẽ là nội lực quan trọng giúp nhân dân ta giữ vững nền độc lập nước nhà, đưa nước ta ra khỏi cảnh đói nghèo, kém phát triển. Mục đích của thi đua là để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, như Nghị quyết của Đảng ta đã đặt ra.

Trong tình hình mới, điều kiện mới, phong trào thi đua yêu nước cần phải được tổ chức thường xuyên, có phát động, có kiểm tra, tổng kết, đúc rút kinh nghiêm, phổ biến sáng kiến, để động viên khen thưởng kịp thời; khen thưởng đúng người, đúng việc. Tránh phô trương, hình thức khi phát động gây lãng phí tốn kém không cần thiết.

Phong trào thi đua yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và phát động 60 năm về trước đã góp phần quan trọng đánh thắng giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc thành công. Ngày nay, rất cần nhưng phong trào thi đua trong toàn quốc, trong từng ngành, từng giới, tạo nên nội lực đẩy mạnh công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, xóa đói giảm nghèo, đưa nước ta ra khỏi những nước kém phát triển, vững bước sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ hàng mong muốn.

Nhớ lại những sự kiện tháng 6 trong cuộc đời hoạt động của Bác Hồ kính yêu, hiểu được ý nghĩa lớn lao sâu sắc của mỗi sự kiện đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, để tiếp tục đi theo con đường của Người, đó chính là một cách thiết thực nhất để góp phần thực hiện cuộc vận động: Học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh./.

Theo Phạm Thị Lai

baotanghochiminh.vn

Học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ để mỗi người, mỗi tổ chức tốt hơn, trong sáng hơn (*)

Tại Hội nghị sơ kết một năm triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu kết luận quan trọng, chỉ đạo công tác triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW trong thời gian tới. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Chúng ta đều biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời rất oanh liệt, đầy gian khổ, hy sinh, vô cùng phong phú và cao đẹp. Người không chỉ là nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà chiến lược tài ba, mà còn là nhà hoạt động thực tiễn kiệt xuất. Người đã để lại cho chúng ta một gia tài đồ sộ, một di sản hết sức quý báu. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh và thời đại Hồ Chí Minh. Thời đại Hồ Chí Minh là gia tài vô cùng đồ sộ, là thực tiễn đang hiển hiện trước mắt chúng ta.

Trách nhiệm của chúng ta và các thế hệ mai sau là phải mãi mãi giữ gìn, bảo vệ, kế thừa và phát huy một cách tốt đẹp nhất những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người và bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta ngày càng tươi đẹp, để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển. Vì vậy, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất cần thiết, không chỉ là yêu cầu của cách mạng, mà còn là tình cảm, nguyện vọng của nhân dân ta, của Đảng ta và mọi người Việt Nam yêu nước.

Ngay từ khi Người còn sinh thời, đã có rất nhiều phong trào thi đua học tập, làm theo Bác. Sau khi Bác qua đời, chúng ta có một khẩu hiệu hành động, một phong trào rất sâu rộng: “Sống, chiến đấu, lao động, học tập và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Nơi nào cũng có phong trào làm theo lời Bác, thanh niên làm theo lời Bác, phụ nữ làm theo lời Bác…

Trong những năm gần đây, Bộ Chính trị tiếp tục khởi xướng, phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã thực hiện từ đầu năm 2007 tới nay, đã đạt được những kết quả rất quan trọng, góp phần vào việc xây dựng con người, xây dựng tổ chức trong cả hệ thống chính trị, bảo đảm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, cũng như góp phần để sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung đạt được những thành tựu như ngày nay.

Đến Đại hội XI của Đảng, căn cứ vào tình hình thực tiễn, Đại hội đã quyết định chúng ta chuyển sang học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác một cách thường xuyên, có chiều sâu hơn (không gọi là cuộc vận động nữa), trên cơ sở những kinh nghiệm của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và nhiều cuộc vận động khác nữa.

Thực hiện Nghị quyết của Đại hội, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW, yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nội hàm của việc học tập bao gồm cả ba vấn đề: Tư tưởng đạo đức, tấm gương đạo đức và phong cách của Bác. Đồng thời yêu cầu việc học tập, làm theo Bác phải trở thành việc làm thường xuyên, lâu dài, thiết thực, đi vào chiều sâu của cuộc sống thực tế đối với mỗi con người, mỗi tổ chức.

Tuy nhiên, việc chuyển từ cuộc vận động sang việc làm thường xuyên thì cũng có cái khó; không như lúc đang thực hiện cuộc vận động, có thể đây đó sẽ có sự lơ là. Khi ra Chỉ thị, Bộ Chính trị đã tính, không có cuộc vận động, nhưng vẫn phải bảo đảm làm tốt. Dù không lập ban chỉ đạo, nhưng Bộ Chính trị vẫn có cơ quan thường trực giúp cho Ban Bí thư chỉ đạo; ở các địa phương, bộ, ngành cũng thế. Ở Trung ương là Ban Tuyên giáo Trung ương; thành lập Bộ phận giúp việc để giúp cho Ban Bí thư, cho cơ quan thường trực; xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện rất cụ thể, bài bản.

Hôm nay, nhân kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Bác và cũng là sơ kết một năm thực hiện Chỉ thị 03, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị sơ kết nhằm kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở, trao đổi kinh nghiệm về thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, với tinh thần là đã có chỉ thị, nghị quyết thì phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, không buông lơi. Trước khi tổ chức Hội nghị, đã có nhiều đoàn của Ban Bí thư Trung ương đi kiểm tra. Đã có những cuộc giao ban khu vực, đã nghe ý kiến của các đồng chí, như trong báo cáo đã nêu. Biết rằng các đồng chí rất bận, nhất là các đồng chí vừa họp Hội nghị Trung ương 9 ngày, hôm nay ở lại để họp thêm; chúng ta đang có nhiều việc phải làm, nhưng không thể không có cuộc họp này. Cuộc họp rất cần thiết, dù bận, nhưng đây cũng là một việc bận cần thiết, nhất là khi chúng ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, đang chuẩn bị bước vào giai đoạn tiến hành tự phê bình, phê bình; những nội dung rất gắn bó với nhau. Nhân dịp các đồng chí về họp Trung ương, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị này để cho tiết kiệm, các đồng chí đỡ phải đi lại và cũng là tạo không khí để chúng ta kỷ niệm Ngày sinh của Bác một cách thiết thực.

Trên thực tế, tôi thấy các đồng chí đã rất coi trọng Hội nghị này. Nhiều đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư tham dự. Hầu hết các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, các đồng chí Ủy viên Trung ương và các thành phần được triệu tập tham dự đông đủ. Các đồng chí đã chuẩn bị các báo cáo, tham luận phát biểu tại hội trường hôm nay và nhiều tài liệu khác nữa. Hoan nghênh Ban Tuyên giáo Trung ương, với tư cách là cơ quan thường trực giúp Ban Bí thư chỉ đạo, theo dõi việc triển khai Chỉ thị của Bộ Chính trị và các cơ quan hữu quan đã chuẩn bị tốt báo cáo và các công việc cần thiết để chúng ta tổ chức Hội nghị hôm nay. Rất hoan nghênh, cảm ơn các đồng chí về dự đông đủ, có ý kiến đóng góp phong phú, sinh động, nhiều kinh nghiệm hay, sáng tạo, dù là mới bước đầu.

Qua báo cáo và ý kiến của các đồng chí, chúng ta nhận thấy, trong năm qua, mặc dù thời gian còn ngắn, chúng ta bận rất nhiều việc (bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, kiện toàn các tổ chức, bộ máy, cơ quan nhà nước; tập trung vào công tác kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững độc lập chủ quyền, lãnh thổ quốc gia; đẩy mạnh công tác đối ngoại và nhiều công việc khác), toàn những việc lớn và khó. Các đồng chí ở địa phương cũng rất vất vả. Nhưng chúng ta đã cố gắng thực hiện Chỉ thị 03. Đã xây dựng được chương trình, kế hoạch thực hiện, biên soạn, in ấn, phát hành tài liệu, kiện toàn bộ máy làm việc, kể cả cơ quan thường trực và bộ phận giúp việc, quy chế làm việc. Rất nhiều cơ quan, địa phương đã tổ chức tốt, đã có những sáng kiến và cho chúng ta thêm những kinh nghiệm bước đầu.

Nhìn một cách tổng quát, kết quả thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW đã thể hiện khá rõ cả trong nhận thức và hành động. Về nhận thức, nhiều cấp ủy, lãnh đạo cơ quan chính quyền, đoàn thể các cấp, các ngành đã quán triệt ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị mà trọng tâm là đẩy mạnh làm theo. Về hành động, các nội dung học tập và làm theo Bác đã dần được đưa vào sinh hoạt định kỳ của chi bộ, cơ quan, đơn vị, gắn với nhiệm vụ chính trị, gắn với chức trách, nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên, nằm trong các chương trình, kế hoạch, phong trào thi đua đang thực hiện ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Có những chuyển biến tích cực trong việc rèn luyện đạo đức, giữ gìn lối sống của cán bộ, đảng viên và trong thái độ ứng xử của cán bộ, công chức với nhân dân. Có những cố gắng tập trung vào giải quyết dứt điểm một số công việc nổi cộm ở địa phương, cơ quan, đơn vị, kể cả trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống, đem lại kết quả bước đầu. Như vậy, có thể nói, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tuy thời gian còn ngắn, nhưng đã đạt được những kết quả bước đầu, và quan trọng là cho thêm những kinh nghiệm. Tôi xin thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhiệt liệt hoan nghênh, biểu dương và cảm ơn tất cả các đồng chí, các tổ chức đảng ở Trung ương, địa phương đã tích cực, cố gắng thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị.

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Chỉ thị 03 cũng còn những hạn chế, tồn tại. Việc triển khai nhìn chung còn chậm. Một số cơ quan, ban, ngành, đoàn thể Trung ương chưa hoàn thành đúng tiến độ các nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch của Ban Bí thư. Trong tổ chức thực hiện, nhiều việc còn lúng túng, nhất là trong các hoạt động cụ thể ở địa phương và cơ sở. Nhìn chung, việc triển khai thực hiện Chỉ thị chưa tạo được sự hồ hởi, phấn khởi, lôi cuốn đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tích cực, tự giác tham gia. Nguyên nhân là do chúng ta chưa nhận thức được thật sâu sắc, thật đầy đủ những nội dung cơ bản, giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Ở một số nơi, việc học tập và làm theo gương Bác mới chỉ dừng lại ở các hoạt động mang tính hình thức, chưa có các nội dung thiết thực, thiếu sức thuyết phục. Ở đây có vấn đề về đánh giá kết quả, khó có thể đo đếm ngay những chuyển biến tư tưởng, tình cảm, ý thức của con người. Việc học tập và làm theo Bác phải tác động thấm sâu, lâu dần chuyển biến thành hành động. Đây là cả quá trình bồi đắp dần dần. Chúng ta cần thống nhất với nhau một số nhận thức để thực hiện tốt hơn Chỉ thị của Bộ Chính trị.

Về nhiệm vụ sắp tới, đề nghị các cấp, các ngành, địa phương cần tiếp tục triển khai thực hiện các nội dung theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Kế hoạch của Ban Bí thư, như trong báo cáo đã nêu rõ. Các đồng chí ở các địa phương cũng đã nêu những phương hướng và có những kiến nghị, chúng tôi xin ghi nhận và bổ sung, để chúng ta tiếp tục làm tốt hơn việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ. Tôi xin nói rõ thêm về 3 vấn đề: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm những nội dung gì? Học tập và làm theo như thế nào? Vai trò của các cấp ủy, tổ chức đảng, các điều kiện để tiếp tục thực hiện tốt hơn Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị?

Thứ nhất, là về nội dung, học gì? Theo tôi, có rất nhiều điều cần học, nên học, phải học. Bởi vì Bác Hồ là tấm gương sáng về mọi mặt. Cả cuộc đời Bác là biểu tượng cao đẹp về ý chí cách mạng kiên cường; tinh thần độc lập tự chủ; lòng yêu nước, thương dân tha thiết; trí tuệ anh minh, mẫn tiệp, có tầm nhìn xa rộng, sâu sắc; có đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; có tác phong, phong cách khiêm tốn, giản dị; có tấm lòng nhân hậu, tình cảm chan chứa yêu thương con người; là một mẫu mực tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ, cách viết, cách nói, cách làm việc, được cả thế giới ca ngợi, ngưỡng mộ. Cuộc sống của Người vô cùng cao đẹp. Đây là kết tinh những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, với tinh hoa văn hóa thế giới.

Học Bác, là phải giữ gìn phẩm chất chính trị, kiên định lý tưởng cách mạng, con đường cách mạng, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; tinh thần lạc quan tin tưởng, phẩm chất kiên cường bất khuất “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Vào lúc này, chúng ta học Bác, càng phải kiên định, tin tưởng vào mục tiêu, lý tưởng thể hiện ở Cương lĩnh, đường lối của Đảng.

Học Bác là học về đạo đức cách mạng trong sáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, học về tư cách người cách mạng, đặc biệt là đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân – kẻ thù ở trong mỗi con người, đấu tranh với cái ác, nâng cái thiện lên để giảm cái ác đi… Bác phê phán những cái xấu, quan liêu, xa dân… Bác dạy đối với mình, với người phải thế nào; đối với Đảng, với dân phải thế nào; đối với địch thế nào…

Học Bác là học phong cách, lối sống giản dị, khiêm tốn, thanh bạch, gần dân, không quan liêu, quan cách, từ ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc, xuống với dân thì thế nào… Bác dạy từ cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, phụ nữ, đến các cụ phụ lão, các cháu thiếu nhi,… rất cụ thể, rõ ràng, sâu sắc lắm. Mỗi người hãy thấm vào máu mình để thực hiện. Học tập, làm theo Bác thì có rất nhiều việc để học, học ngay trong cách học, trong thái độ đối với việc học, trong cách nói, cách viết, cách làm, cách ăn, ở, đối nhân xử thế, cách ngoại giao của Bác… Trên cơ sở cái chung, phải xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, sát hợp cho từng cơ quan, đơn vị, lĩnh vực, tránh hình thức, nói phải đi đôi với làm. Cần phải học đi, học lại những điều Bác nói, Bác viết, Bác làm. Học tập và làm theo tấm gương của Bác, cần gắn với việc thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng, Quy định về những điều đảng viên không được làm, thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, phải bắt đầu từ những việc rất cụ thể, từ đó tạo chuyển biến tích cực trên thực tế.

Thứ hai, học Bác như thế nào? Học Bác là học suốt đời, học hằng ngày, thiết thực, thiết thân. Học Bác là việc làm tự giác của mỗi người, mỗi tổ chức, không ai có thể làm thay được. Nói đi đôi với làm, học để làm theo, làm theo rồi lại học, lại bổ sung, thường xuyên liên tục, không phải một lần là xong. Mỗi chúng ta ngồi đây phải thấm thía, hiểu sâu sắc điều này để về chỉ đạo thực hiện.

Học Bác bằng nhiều hình thức, phong phú, sinh động: Học qua sách báo, ở trường, lớp; qua thực tiễn công việc, trường đời; qua sinh hoạt chi bộ đảng, đoàn thể, ở cơ quan, trong gia đình; tự phê bình và phê bình; qua mạn đàm, trao đổi kinh nghiệm; qua phong trào thi đua người tốt, việc tốt, nêu gương những điển hình tiên tiến, phê phán những việc làm xấu, tiêu cực… Học Bác qua các hình thức sinh hoạt tập thể, như: Chào cờ đầu tuần, tham quan du lịch về nguồn, di tích lịch sử, đăng ký chương trình công tác, qua sự giám sát, góp ý của nhân dân, của báo chí, công luận… Rất nhiều hình thức, nhiều con đường. Cái chính là chúng ta có muốn học Bác thật không, lòng chúng ta có trong sáng không?

Thứ ba, để bảo đảm việc thực hiện Chỉ thị 03 ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả hơn, cần có nhiều điều kiện, trong đó pháp luật là quan trọng, nhưng đạo đức nhân văn cũng rất quan trọng, nhiều khi còn bền vững hơn. Bên cạnh pháp trị, còn có đức trị. Vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn là rất quan trọng. Cần nhận thức sâu sắc hơn nữa ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy mạnh lên một bước việc thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị thông qua các chương trình kế hoạch hành động cụ thể; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc; qua các phong trào thi đua thiết thực, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các tấm gương người tốt, việc tốt, dùng cái tốt để dẹp cái xấu. Vai trò của Bộ phận giúp việc ở đây cũng rất quan trọng, vì cấp ủy còn rất nhiều việc, nên bộ phận giúp việc phải rất chủ động.

Mong rằng sau Hội nghị này, chúng ta có thêm những nhận thức mới và quyết tâm mới, thực hiện tốt hơn nữa Chỉ thị 03, nền nếp hơn, thường xuyên hơn và hiệu quả cao hơn. Cùng với Nghị quyết Trung ương 4 và các nghị quyết khác của Đảng, tạo một bước chuyển biến rõ rệt trong việc học tập và làm theo tấm gương của Bác để mỗi người, mỗi tổ chức chúng ta tốt hơn, trong sáng hơn.

qdnd.vn

Những kỷ niệm về Bác

QĐND Online – “Được làm cận vệ của Bác là một niềm vinh hạnh lớn không phải ai cũng có được. Được gần Bác, tôi cùng các anh em khác đã có những kỷ niệm không thể nào quên. Sự giản dị và thanh bạch của Bác là tấm gương để cho thế hệ chúng tôi và thế hệ mai sau noi theo”.

Bác Tăng Văn Soát, người vinh dự được làm cận vệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong gần 6 năm liền, đã xúc động chia sẻ với chúng tôi như vậy, khi ông cùng đoàn cán bộ phục vụ và bảo vệ Bác Hồ năm xưa thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 122 năm ngày sinh của Bác.

Nhập ngũ năm 1948. Năm 1953, ông được tuyển vào học lớp Công an Trung ương. Năm 1954, ông được chọn sang Cục Cảnh vệ. Sau quá trình rèn luyện, nhiều năm liền được nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua, năm 1962, ông may mắn được chọn vào đội bảo vệ Hồ Chủ tịch. Đối với ông, đó là niềm vinh dự và tự hào lớn.

Đã bước qua tuổi 80, nhưng người cận vệ năm xưa vẫn nhớ như in cảm xúc ngày được chính thức nhận vào đội cận vệ của Bác. Hôm đó, đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác nói với ông: “Trưa nay ăn cơm xong chú đi với anh”. Trong lòng băn khoăn không biết mình sẽ đi đâu. Đúng 11 giờ 30 phút, sau bữa cơm trưa, ông theo đồng chí Vũ Kỳ qua nhà sàn của Bác. Sau khi nghe đồng chí Vũ Kỳ báo cáo: “Thưa Bác, hôm nay cháu đưa chú Soát sang xin Bác làm cận vệ”. Bác gật đầu đồng ý. Ông Soát mắt rưng rưng nhớ lại: “Lúc đó, tôi xúc động đến nỗi không thốt nên lời”.

Ông còn nhớ những ngày đầu tiên làm nhiệm vụ, Bác luôn căn dặn: “Khi được giao nhiệm vụ, chú được phép hỏi lại nếu chú nghe chưa rõ”. Ông nói: “Trong suốt quá trình được gần Bác, tôi thấm nhuần lời dặn dò đó của Bác. Làm việc gì cũng phải hiểu rõ nhiệm vụ thì mới hoàn thành tốt được”.

Bác Tăng Văn Soát đang chia sẻ những kỷ niệm về Bác

Cũng từng được phục vụ trong các buổi tiếp khách của Bác, cô Nguyễn Thị Đạc, cũng chia sẻ cho chúng tôi kỷ niệm về những lần may mắn được nói chuyện với Bác Hồ.

Cô không thể nào quên lần đầu tiên được gặp Bác.

Vừa nhìn thấy cô, Bác hỏi, “Cháu tên gì?”

“Dạ thưa Bác, cháu tên Đạc”, cô hồi hộp đáp lại.

Bác hỏi tiếp, “Thế bố cháu có phải nhà Nho không?”.

Chưa kịp trả lời thì Bác nói tiếp, “Có phải tên cháu trong bài thơ này không?”. Nói xong Bác từ từ đọc:

“Mộc đạc vang lừng trong bốn cõi

Âm thanh chuyển động khắp nơi nơi”

Nghe Bác đọc xong hai câu thơ trên, cô reo lên: “Thưa Bác, đúng rồi ạ, đúng rồi ạ”.

“Tự nhiên mọi sự hồi hộp tan biến, thay vào đó là cảm giác gần gũi như nói chuyện với người thân vậy”, cô Đạc nhớ lại.

Cô chia sẻ thêm, ngày cô vào phục vụ ở đây là lúc cô mới tròn 18 tuổi, vẫn còn nhiều bỡ ngỡ. Những ngày đầu tiên làm việc, Bác luôn luôn tận tình chỉ bảo cho cô cũng như những người phục vụ ở đây.

Có lần Bác gọi cô đến và nói: “Hôm nay Bác tiếp khách, cháu ra vườn hái mỗi loại hoa một cánh hoa, rồi bỏ vào chén úp. Khi có khách thì rót nước chè vào những chiếc chén đó”. Ngày hôm đó, một vị khách vừa nhấp một ngụm trà, suy nghĩ một lát và nói: “Trà của Bác có mùi hoa bưởi”. Một người khác phản đối: “Không, trà có mùi hoa nhài”. Cứ như thế, mỗi người lần lượt đem ra ý kiến riêng của mình. Điều đó đã tạo ra không khí vui vẻ, thoải mái cho những vị khách trong buổi tiếp khách hôm đó.

Các buổi chiếu phim vào tối Chủ Nhật hàng tuần, Bác thường gọi các cháu sang xem. “Đã hơn 40 năm trôi qua, nhưng những hình ảnh về Bác vẫn còn in đậm trong trái tim tôi và chắc chắn trong tim người dân Việt Nam, những người may mắn dù chỉ là một lần được gặp Bác. Những kỷ niệm về Bác như còn mới đây thôi. Chúng tôi hy vọng rằng, những câu chuyện này sẽ giúp thế hệ trẻ ngày hôm nay hiểu thêm về Bác”, cô Đạc chia sẻ.

Bài, ảnh: Trần Hoài – Mai Hương
qdnd.vn

“Nơi huyền thoại bắt đầu”

GiadinhNet – “Nơi huyền thoại bắt đầu” là bộ phim phóng sự tài liệu đậm chất sử thi về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Nam trong đó dãy Trường Sơn là một nguồn mạch mang tính biểu tượng.

Phim được phát sóng từ ngày 31/3 trên kênh VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam vào lúc 21h30 các ngày thứ 4, thứ 6, thứ 7 trong tuần.

Dãy Trường Sơn không chỉ là huyền thoại về con đường vận chuyển quân sự 559, mà còn là minh chứng sống động cho khát vọng mãnh liệt, ý chí thống nhất, sự hợp nhất không thể chia tách của dân tộc từ thuở các Vua Hùng dựng nước. Càng trải qua thử thách nghiệt ngã, khát vọng ấy ngày càng định hình rõ ràng hơn trong tâm thức của các thế hệ người Việt, đúng như lời của chủ tịch Hồ Chí Minh – “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi!”.

Đậm đặc trong suốt 15 tập phim là những ký ức lịch sử được ghi lại bằng hình ảnh, bằng lời kể của người trong cuộc, lời bình của những người có trách nhiệm sau cuộc chiến, bằng những chất liệu sống, muôn màu, vượt qua thời gian. Những chất liệu sống động đó sẽ đưa khán giả đến với dòng suy tư rõ ràng và sâu lắng xung quanh những sự thật lịch sử đã vượt quá sức tưởng tượng của con người, lung linh như huyền thoại.

Bộ phim lấy hình ảnh Trường Sơn để minh chứng và gợi ra một ý niệm tưởng chừng như bất tận ở cả hai chiều không gian và thời gian. Đó là ý niệm về chiều dài lịch sử dữ dội của một dân tộc trải qua nhiều thế hệ, những đời người nối tiếp nhau. Đó là độ bền bỉ chịu đựng của một dân tộc để vượt qua một cuộc chiến dài nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới. Đó là sự đặc tả độ hùng vĩ của những chiến tích trải dài trên từng mỏm đá, bến sông, bờ lau ngọn cỏ, dọc suốt những cuộc Trường Chinh giữ nước, từ Nam Quan đến Cà Mau.

Với tên gọi “Từ Âu Lạc đến Đại Nam”, tập 1 của bộ phim lược qua dòng lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam như một dòng chảy gian nan nghiệt ngã để định hình những yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc của người Việt. Tập phim như lời dẫn cho câu chuyện dài xung quanh cuộc chiến khốc liệt nhất của lịch sử thế kỷ 20 giữa dân tộc Việt Nam với các thế lực cường quyền hung hãn nhất. Từ các đế chế phong kiến Trung Hoa, đến hệ thống thực dân đế quốc sau này, qua cuộc đọ sức ấy, cuối cùng đều nghiệm ra rằng: cường quyền khổng thể nuốt chửng được khát vọng độc lập tự do của người Việt…

T.Hà
giadinh.net.vn

Mời quý vị đón xem trọn bộ 15 tập:

Nơi huyền thoại bắt đầu

Bốn phương lồng lộng Thủ đô gió ngàn

Kỷ niệm 122 năm Sinh nhật Bác và 65 năm Ngày Bác Hồ về An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên)

Đường vào ATK Định Hoá hôm nay xanh mướt mát, ATK Định Hóa hôm nay đã trở thành Di tích Quốc gia Đặc biệt. 65 năm đã trôi qua, vẫn còn nguyên nơi đây những tên bản, tên núi, tên sông lịch sử, gắn liền với các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của cách mạng Việt Nam.

Bác Hồ tại Điềm Mặc (Định Hóa, Thái Nguyên) vào mùa hè 1947

Việc chọn Việt Bắc làm căn cứ địa cách mạng đã được Bác Hồ với tầm nhìn chiến lược, từ rất sớm đã tính đến. Tháng 10-1946, trước khả năng cuộc kháng chiến sẽ bùng nổ, Bác cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Trần Đăng Ninh lên Việt Bắc để chuẩn bị căn cứ địa. Ít ngày sau, kháng chiến bùng nổ, các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội lần lượt rời Thủ đô Hà Nội di chuyển về Việt Bắc.

Ngày 20-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh có mặt tại ATK Định Hóa (Thái Nguyên). Cũng từ tháng 5 năm ấy, những cơ quan trọng yếu của Đảng, Nhà nước, Chính phủ theo kế hoạch đã lần lượt đến đứng chân ở mảnh đất này. Nơi ở và làm việc của Bác được đặt tại khu rừng Khau Tý (thôn Điềm Mặc, xã Thanh Định, huyện Định Hóa). Nhưng để đảm bảo bí mật, trong những ngày ở ATK Định Hóa, Bác Hồ thường qua lại mấy xã liền kề, như Phú Đình, Định Biên, Thanh Định… Từ đây, có đường sang Sơn Dương, lên Chợ Đồn, ra Phú Lương, xuống Đại Từ.

Vậy là ATK Định Hóa trở thành nơi đặt đại bản doanh của Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận Liên Việt (nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng… cũng là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các nhà cách mạng cao nhất như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Quốc Việt, Tôn Đức Thắng, Văn Tiến Dũng… ở và làm việc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ và hào hùng.

Tại ATK Định Hóa, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng Tư lệnh đã ra nhiều quyết định quan trọng trong việc mở các chiến dịch lớn như chiến dịch Thu Đông năm 1947, chiến dịch Biên Giới năm 1950, chiến dịch Tây Bắc, chiến dịch đường 18, Hà Nam Ninh, chiến dịch Hòa Bình. Đặc biệt là tại ATK, Bác Hồ và Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Nhà tưởng niệm Bác Hồ tại ATK Định Hóa

Cũng tại đây còn diễn ra nhiều sự kiện quan trọng khác như Hội nghị tuyên dương các anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất; Lễ phong hàm cấp tướng đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và 10 tướng lĩnh khác.

Một tháng sau khi đặt chân đến ATK Định Hóa, Bác Hồ đã ra Lời kêu gọi nhân kỷ niệm nửa năm kháng chiến toàn quốc. Trong Lời kêu gọi, Bác đã khẳng định: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta nhất định thắng lợi. Vì đó là cuộc kháng chiến chính nghĩa, vì đồng bào ta đoàn kết một lòng, vì tướng sĩ ta dũng cảm, vì chiến lược của ta đúng đắn, vì ta có nhiều bầu bạn.

Về mặt quân sự, theo chỉ đạo của Bác, các lực lượng vũ trang như bộ đội chủ lực, dân quân du kích từng bước được hình thành và phát triển mạnh trong phạm vi toàn quốc. Từ ATK Định Hóa, nhiều mệnh lệnh của cách mạng được chuyển đi các chiến trường trong cả nước, chỉ đạo các bước đi của đội quân Tây Tiến, cách đánh địch ở đường 5, chiến trường Bình Trị Thiên, chỉ đạo cuộc chiến tranh du kích ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Về mặt đối ngoại, Đài Tiếng nói Việt Nam đóng tại ATK đã nhiều lần phát đi các bức điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm phê phán lập trường ngoan cố của chính quyền thực dân Pháp, khẳng định thái độ thiện chí của ta trong việc giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Lán Khuôn Tát – nơi Bác Hồ làm việc ở ATK Định Hóa

Cũng trong những ngày ở ATK Định Hóa, với phương châm “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, từng bước cải thiện đời sống của nhân dân. Do vậy, ATK Định Hóa ngày ấy thực sự là Thủ đô kháng chiến, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của cả nước, nơi nuôi dưỡng chí bền gan chiến đấu của dân tộc.

Từ ATK Định Hóa đến chiến dịch Điện Biên Phủ là một hành trình cách mạng gian khổ và nhất định thắng lợi. Điều đáng nói là trong những năm kháng chiến đầy gian khổ hy sinh ấy, nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã hết lòng bảo vệ cách mạng, bảo vệ Bác Hồ. ATK Định Hóa trở thành quê hương của cách mạng Việt Nam.

Trong những ngày tháng 5 lịch sử này, để ca ngợi công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng thời phát huy những giá trị, ý nghĩa to lớn của ATK Định Hóa trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức các hoạt động kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ về ATK Định Hóa lãnh đạo cuộc kháng chiến (20-5-1947 – 20-5-2012) và đón nhận Bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt: Khu di tích lịch sử ATK Định Hóa. Đây là một sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng của tỉnh Thái Nguyên thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ con cháu quyết tâm vững bước đi theo con đường mà Bác Hồ đã chọn, xây dựng quê hương Thái Nguyên ngày càng giàu mạnh và phồn vinh.

T. Vĩnh
daidoanket.vn