Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Đạo đức Hồ Chí Minh toả sáng trong thơ ca

Đạo đức là một bộ phận của thế giới quan chi phối toàn bộ nhận thức và hành động của con người. Đạo đức theo nghĩa chung nhất là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với toàn xã hội. Đạo đức với những chuẩn mực giá trị đúng đắn là một bộ phận quan trọng của nền tảng tinh thần xã hội. Những chuẩn mực đạo đức được bồi dưỡng hình thành trong mỗi công dân sẽ tạo nên chất lượng mới của nguồn nhân lực.

Học tập theo gương Bác

Đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Bác Hồ đã viết: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giải mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của người cộng sản, đòi hỏi sự thống nhất giữa động cơ và hiệu quả, giữa lời nói và việc làm, từ đời sống chung đến đời sống riêng. Dân tộc ta, nhân dân ta vô cùng tự hào về lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại. Người đã để lại kho tàng di sản văn hóa đạo đức vô giá.

Chính vì lẽ đó, trong văn học, nói chung và thơ ca nói riêng, không ít những nhà thơ đã ca ngợi đạo đức Hồ Chí Minh thông qua ngôn ngữ văn học. Những bài thơ ca ngợi Bác Hồ dễ đi sâu vào lòng người, tình người, làm rung động trái tim thương nhớ, kính yêu lãnh tụ.

Trong bài thơ “ Sáng Tháng Năm”, Tố Hữu viết:

Người là Cha, là Bác, là Anh
Trái tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”

Đã nói lên tấm lòng thương yêu nhân dân mênh mông, vô bờ bến của Bác Hồ; diễn đạt một cách thâm trầm vai trò bao bọc, chở che với trách nhiệm to lớn của Bác Hồ đối với dân tộc. Cũng với ý tứ đó, trong bài “Bác ơi”, có những câu:

“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già”

Ở bài “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ, nhà thơ diễn đạt sự chăm chút, ân cần của vị lãnh tụ tối cao đối với người chiến sĩ:

Anh đội viên thức dậy
Thấy trời khuya lắm rồi
Mà sao Bác vẫn ngồi
Đêm nay Bác không ngủ”.

Bác Hồ không ngủ vì cảm thương chiến sĩ ngày mai sẽ ra trận, cần có một giấc ngủ ngon để lấy sức mà đánh giặc. Tình thương yêu của Bác đã làm cho anh đội viên du kích phải rưng rưng nước mắt, cảm động vô cùng. Tấm lòng của Bác như người cha đối với con, tình thương nồng ấm, chứa đựng một đức độ bao dung nhân hậu, hiếm có trong những người lãnh tụ cách mạng xưa nay. Và anh đội viên du kích nằm ngủ mà cứ rưng rưng trong lòng, thương cảm vị cha già thân yêu:

Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm”.

Nhà thơ Vũ Quần Phương đã diễn đạt về đạo đức sáng ngời của Bác:

Suốt một đời Bác đã nghĩ về ta
Nói về Đảng cũng vì dân mà nói
Nước còn giặc, dân còn khi lạnh đói
Ôi lòng Người đo sao hết mông mênh
Bác đắng lòng trong mỗi miếng cơm ǎn”.

Và nhà thơ đã nói với mọi người về tình cảm lớn lao cảm động của Bác Hồ đối với dân, với nước:

Ôi tim Bác sao mà mênh mông thế!
Gương trong ngần cho muôn thuở cùng soi”.

Trong suốt cuộc đời vì nước, vì dân, Hồ Chủ tịch luôn nêu tấm gương mẫu mực về đạo đức thực hành của người cộng sản. Gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh đã quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng, có ảnh hưởng sâu sắc đến suy nghĩ và hành động của quảng đại quần chúng nhân dân yêu nước, từ đó đưa đến những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Và rất nhiều bài thơ ca ngợi đạo đức của Bác Hồ. Có những nhà thơ được hạnh phúc với thời gian sống gần gũi với Bác Hồ nên cảm nhận được tình cảm, đạo đức lớn lao của Bác. Và nhà thơ đã tổng kết một câu rất hay, coi như là lời tâm nguyện trong suốt cuộc đời học tập theo đạo đức của Bác:

“Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”.

Theo ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Tâm Trang (st)

Hành trình 102 năm, ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

Bác Hồ Cảng SaigonNgày này, cách đây vừa tròn 102 năm, vào ngày 05/6/1911 tại Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn – Gia Định (Nay là thành phố Hồ Chí Minh) người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khi đó mới vừa tròn 21 tuổi đã lên chiếc tàu mang tên Amiral La Touche De Tréville, ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Cuộc hành trình của Người đã qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia trên thế giới, đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết cách mạng tiên phong của thời đại.

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất, nhà tan, các thế hệ người dân Việt Nam lúc bấy giờ đều mong muốn đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Nguyễn Tất Thành sớm thấu hiểu tình cảnh nước mất, nhà tan và nỗi thống khổ của nhân dân, Người quyết định phải tìm ra con đường đúng đắn, nhằm đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược để cứu nước, cứu dân. Khi rời Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm một con đường mới cho cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ nung nấu một ý chí với quyết tâm cháy bỏng đó là: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Nguyễn Ái Quốc đã đi qua gần 30 nước ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và Người đã rút ra kết luận là chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc địa. Cũng từ đây, Người đã tìm đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp cuối năm 1920 và xác định con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc đúng đắn: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức, bóc lột và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Thời gian từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và “Đường Kách Mệnh”, đặc biệt là việc xuất bản tờ Báo Thanh niên ra ngày 21/6/1925, Người đã chuẩn bị về đường lối chính trị để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cũng trong thời gian này, Người đã tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ với việc Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ và gửi đi học ở Liên Xô … Khi điều kiện thành lập Đảng đã chín muồi, ngày 03/02/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản thành lập một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bước ngoặc vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị, về con đường cứu nước, cứu dân, thống nhất đất nước, thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, thoát khỏi bần cùng, đói nghèo và lạc hậu.

Mùa Xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba nước ngoài, rời xa Tổ quốc, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công; ngày 02/9/1945, Người đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập; khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; minh chứng cho sự lãnh đạo tài tình, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập rèn luyện.  

Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chi Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, ngày 07/5/1954. Thắng lợi của Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Giai đoạn từ năm 1954 – 1975, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai cuộc chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đối với cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai nguỵ Sài Gòn, giành nhiều thắng lợi vẻ vang. Đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”“Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hoá chiến tranh” ở miền Nam Việt Nam và các cuộc tập kích bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ vào miền Bắc. Với cuộc Tổng tiến công và  nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, kết thúc 30 năm đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, chấm dứt chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, giang sơn thu về một mối, hai miền Nam – Bắc sum họp một nhà, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một trong những trang sử chói lọi nhất của lịch sử dân tộc và có tính chất thời đại sâu sắc, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử nước ta – Kỷ nguyên của một nước Việt Nam độc lập, thống nhất.

Từ 1975 đến nay, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; tiếp tục phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hệ thống quan điểm về lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối đổi mới, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới được bổ sung và phát triển ngày càng hoàn thiện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua hơn 25 thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa quan trọng. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện. Đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân ta ngày càng được cải thiện, nâng cao. Hệ thống chính trị và khối Đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố, mở rộng và giữ vững.

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước; phát huy truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước vẻ vang của dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta ra sức khắc phục hậu qủa nặng nề do chiến tranh để lại, cùng nhau chung sức chung lòng xây dựng đất nước; đưa đất nước sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển. Chính từ những quan điểm, nhận thức đúng đắn, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; mà Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã quyết định thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, mà bắt đầu từ đổi mới tư duy, đã đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn thách thức, những trì trệ do cơ chế quan liêu bao cấp để lại. Đường lối, sáng tạo tuyệt vời đó của Đảng ta đặt nền tảng cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại chưa từng có cho dân tộc Việt Nam.

Với dân tộc Việt Nam ngày nay, sống trong thời đại hoà bình, thời đại Hồ Chí Minh, chưa bao giờ lịch sử dân tộc Việt Nam lại có những bước tiến thần kỳ, một thời đại mà cả dân tộc Việt Nam vững tin tiến bước dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng; Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống kẻ thù chung để giành lại độc lập tự do cho dân tộc, đem lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân, xoá đi kiếp sống nô lệ lầm than; từ một nước chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nhưng lại thiếu lương thực để nuôi sống con người, đã vươn lên trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ nhất trên thế giới.

Hơn 80 năm qua, hoạt động của Đảng ta đã làm cho đất nước, con người Việt Nam thay đổi hoàn toàn, từ một xã hội lầm than, vươn lên một xã hội tươi sáng; Đó là đạo đức cao cả của Đảng và cũng là ước mơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là làm sao cho nhân dân Việt Nam ta “ai ai cũng có cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, được học hành…” chính vì thế mà trong hơn 80 năm qua một chặng đường dài lịch sử đầy thử thách, gian khổ và hy sinh, Đảng ta luôn là người tổ chức và lãnh đạo duy nhất mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đảng tin dân, biết dựa vào dân; dân tin Đảng và kiên quyết đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đến nay, toàn dân tộc Việt Nam luôn hãnh diện vì có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân tiếp tục sự nghiệp đổi mới của đất nước; ngày nay vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng lên, đây là một cơ hội để đất nước Việt Nam vững tin tiến bước trong thời kỳ hội nhập Quốc tế và cũng là một kỳ vọng của nhân dân vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng mãi mãi là niềm tin hy vọng, tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại mãi mãi là ngọn cờ đưa đường, chỉ lối cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, anh dũng tiến lên đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đi vào cuộc sống, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Từ chuyến đi lịch sử của 102 năm về trước, Bác Hồ đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam rực rỡ cho đến ngày nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của nhân loại, Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.

Tự hào về Đảng quang vinh, về Bác Hồ vĩ đại, mỗi người dân Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước càng thấy rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của mình tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng trong sạch vững mạnh, xây dựng và phát huy sức mạnh khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; trước mắt cần tích cực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng vào cuộc sống.

Theo http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình(Phần 1) Hoàn cảnh, xuất thân và quá trình trở thành Thủ lĩnh vùng Mèo Đồng Văn

Đại đoàn kết dân tộc là trụ cột quan trọng bậc nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời là phương châm chiến lược của cách mạng Việt Nam. Có vô vàn những câu chuyện, sự kiện, văn bản… về sự quan tâm, tình cảm Bác dành cho đồng bào dân tộc thiểu số và vùng dân tộc miền núi, chiến khu Cách mạng Cao Bắc Lạng, Hà Tuyên Thái; về những nhân sỹ, trí thức, người tài năng, nổi tiếng theo Bác về với Cách mạng. Trong đó chuyện cha con Vua Mèo Vương Chí Sình là câu chuyện dài nhiều tình tiết ly kỳ, hấp dẫn nhất, đã làm tốn bao giấy mực.

a1. vuameo
Vua Mèo Vương Chính Đức.

 Tác giả loạt phóng sự tư liệu lịch sử này thấy mình có trách nhiệm phải chia sẻ, công bố những tư liệu đã cố gắng tìm hiểu, ghi chép, đối chiếu qua các văn bản, tài liệu lịch sử, cá nhân có liên quan với các sự kiện… mà hầu hết lần đầu tiên được công bố đối với bạn đọc. Tác giả mong muốn góp phần làm sáng tỏ sự thật điều mà lịch sử, xã hội và bạn đọc luôn trông đợi…

Nói tới khái niệm ”vùng Mèo” phải được hiểu không chỉ có 4 huyện núi đá Hà Giang, mà còn bao gồm một phần đất phía Nam tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc giáp Việt Nam. Sau cuộc khởi nghĩa chống nhà Thanh thất bại, quân binh Mèo rút lui về miền Nam Vân Nam Trung Quốc lập Thủ phủ Khai Hoa (hoa nở – tiếng mèo: Pas Tơv kha). Nhà Thanh tiếp tục truy đuổi chiếm phủ Khai Hoa rồi đổi tên thành Khai Hoá (khai mở văn minh). Nghĩa quân rút về Đường Thượng (nay thuộc huyện Yên Minh – Hà Giang) tôn Sùng Chứ Đa làm thủ lĩnh.

Sùng Chứ Đa tự xưng là Thuận thiên Chủ, chia xã hội Mèo thành 4 cấp: Thiên chủ, nguyên soái, đầu binh và trưởng thôn. Xoá hết chế độ dòng họ Mèo do người cầm quyền dòng họ là thủ lĩnh, Sùng tập trung quyền lực vào cá nhân. Do vậy không được lòng thủ lĩnh các dòng họ khác. Họ bàn nhau lật đổ Sùng, giao cho họ Đào đang sống ở Phó Cáo thực hiện.

Họ Đào là họ của vợ Sùng nên dễ tiếp cận với lãnh chúa hơn. Họ Đào thuê hiệp thợ đang xây dinh thự cho Sùng và đã giết được Sùng vào mồng 2 Tết năm 1827.

a2. vua meo
Vương Chí Sình và con trai.

Đương thời Sùng Chứ Đa sử dụng một thanh niên trai trẻ thông minh là Vàng N´jiên N´tor (Vàng Zền Tơ) làm Đổng lý văn phòng. Khi Sùng bị hạ sát, Zền Tơ chạy sang Pa Pú thuộc huyện Ma Lập Pha, Vân Nam Trung Quốc lánh nạn. Tại đây, Tơ được nhà họ Lý thương tình gả con gái cho. Khi tình hình đã êm ắng, họ chuyển về đất Sà Phìn – nơi lối rẽ Xà Phìn đi Lũng Cú. Họ có 2 con trai là Vàng Pá Tro và Vàng Giống Lồng (nhiều sách viết là Vàng Dúng Lùng – vì nghe âm tiếng Mông rất khó, tôi phải nhờ cụ Sơn đọc từng nguyên âm, phụ âm để ghi, cụ Sơn có tên Mèo là Vàng Giống Sính). Viết và đọc theo chữ và âm Hán Vàng Giống Lồng là Vương Chính Đức – sinh năm 1865 tại Pá Tró (tức con gấu) Sà Phìn.

Lúc ông Zền Tơ mất, Đức mới 12-13 tuổi. Nhà Đức nghèo xơ xác. Ngày ngày Đức đi lang thang gặp đám ma, đám cưới thì xin vào thổi khèn, múa võ để kiếm cơm. Bộ quần áo lanh bố mẹ may cho rách te tua, Đức lấy đá đột thành lỗ rồi dùng dây rừng túm lại che chỗ rách. Tới khi rách quá Đức mới chịu về nhà để mẹ vá cho, rồi lại biến đi. Để buộc chân Đức quy gia, bà Lý mang sính lễ sang bản Lũng Hòa, Sà Phìn hỏi con gái nhà họ Sùng làm vợ Đức. Song chứng nào tật nấy, ngay cả khi đã có con, gia đình cũng không ngăn được máu giang hồ của Đức. Đức có tài thổi khèn, múa võ rất giỏi, nên đi đâu cũng được yêu mến chào đón (chả thế mà ông có tới 3 bà vợ).

Khi quân Cờ đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc rút đi năm 1885 chỉ còn 3 nhóm tàn quân ở lại: Lương Tam Kỳ giữ đất Tả Châu Định Hoá,Tuyên Quang. Hoàng Sùng Anh chiếm giữ Bảo Thắng, Bảo Nhai, Bảo Sen, Lào Cai, Yên Bái. Hà Quốc Trường chiếm đất Hà Giang.

Khi quân Pháp tấn công lên vùng dân tộc nhằm mở rộng bộ máy cai trị, chúng gặp phải sự kháng cự quyết liệt của lực lượng các thủ lĩnh Mèo, Thái, Tày.

Một trong số đó là thủ lĩnh mèo Vừ Phái Lồng – chiếm cứ một dải đất rộng lớn từ Nam Vân Nam Trung Quốc sang vùng núi đá Hà Giang. Sau khi đánh bại chúa Bảo Lạc lấy lại vùng đất của người Mèo, ông đã cho mở đường đi Mông Tự -Vân Nam, đường Bách Xác Quảng Tây xuống Cao Bằng, Hà Giang lưu thông buôn bán. Dân Mèo khi ấy thừa thãi hàng hoá, làm ăn phát đạt, no đủ.

a3. vuameo
Gia đình Vua Mèo Vương Chính Đức.

a4. vuameo
Bờ tường vững chãi bao quanh nhà Vua Mèo.

Khi biết tin quân Pháp sẽ trở lại đánh lên Hà Giang, Hà Quốc Trường lo sợ cho mời Vừ Phái Lồng đến để bàn phối hợp đánh Pháp. Sau khi đánh bật quân Pháp khỏi vùng Mèo, Hà Quốc Trường đã phản bội giết chết Vừ.

Do chủ quan, tin vào sự thành thực của Trường, Vừ cưỡi la chỉ có 2 hộ vệ đủng đỉnh từ Linh Cảm bên kia sông Nho Quế đến gặp Trường. Vừa xuống la trước cửa thành Đồng Văn, ông bị lính của Trường chém chết.

Sau khi Vừ chết, Trường cho tàn quân Cờ đen mà đa phần là dân đầu trộm đuôi cướp, lục lâm thảo khấu tràn xuống vùng Mèo bắt bớ, cướp của, chém giết, hãm hiếp, cướp trẻ con mang sang Trung Quốc bán lấy tiền uống rượu, áp đặt chế độ hà khắc, đàn áp và phá bỏ các tập tục truyền thống của người Mèo.

Không chịu nổi sự o ép, các thủ lĩnh Mèo tập hợp lại thành lập Đảng ”Hươu Nai” dưới sự lãnh đạo của Vàng Dí Tủa. Nghĩa quân rút vào rừng sâu, dựa vào thế núi non hiểm trở chống lại Hà Quốc Trường. Vương Chính Đức là một trong những thủ lĩnh dòng họ của nghĩa quân đó. Ông là thủ lĩnh giỏi khèn, giỏi võ, can trường, thông minh được nghĩa quân tin cậy, thán phục. Ở trong rừng sâu thiếu thốn, đói khát nên có một lần Vàng Dí Tủa đang đêm ghé qua nhà thăm vợ con.

Thấy chồng ốm yếu, vợ Tủa mời thầy thuốc đến thăm bệnh. Do ăn nhiều thứ củ, quả, lá rừng nên Tủa mắc đường tiêu hoá, chướng bụng. Sau khi tẩy độc, thầy thuốc dặn ông giữ gìn kiêng khem nghiêm nghặt, ăn uống từ từ từng tí một. Lúc đó đang mùa ngô chín (từ cụ Sơn dùng), thương chồng, vợ Tủa luộc ngô và đồ mèn mén để ông ăn và mang vào rừng. Do quá đói ông đã ăn quá no, nên đứt ruột mà chết.

Sau cái chết của Vàng Dí Tủa, Vương Chính Đức được suy tôn lên làm thủ lĩnh. Lên cầm quyền, thủ lĩnh họ vương khôi phục lại thiết chế dòng họ truyền thống của xã hội Mèo, dựa vào sự cố kết các dòng họ trong sự thống nhất chặt chẽ. Ông củng cố lực lượng, không chịu thế bị động trong rừng sâu. Một mặt ông chuẩn bị tấn công, đồng thời chỉ thị, truyền lệnh cho các dòng họ Mèo rằng: Khi nghĩa quân nổ súng, các gia đình Mèo có quân Trường ở, hãy vùng dậy dùng mọi vũ khí, dụng cụ, tìm mọi cách giết chúng. Khi nghĩa quân nổ súng tiến vào Linh Cảm bên kia sông Nho Quế, chỉ trong vài đêm quân của Trường bị sát hại nhanh chóng bằng tên độc, súng kíp, cắt cổ… Các toán quân đầu đuôi, sau trước không ứng cứu được cho nhau.

Hà Quốc Trường cùng vợ con chạy thục mạng về Quảng Tây bên kia biên giới (có tài liệu nói là Trường bị giết chết). Chấm dứt mộng xưng hùng xưng bá, mưu toan chiếm dải đất từ châu Vân Sơn, Vân Nam Trung Quốc kéo dài tới các huyện núi đá Hà Giang. Ngoài ra, ông Vương còn có công bang giao, gắn kết với người Mèo ở Trung Quốc, tích trữ lương thảo, súng đạn tính kế lâu dài. Cuộc chiến vũ trang đánh Pháp của người Mèo hai bên biên giới Việt – Trung từ 1909 – 1913 là một mimh chứng cho tầm nhìn chiến lược của ông.

(Còn nữa)

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Đoàn đại biểu Đại hội cháu ngoan Bác Hồ tỉnh Thái Nguyên báo công dâng Bác

Sáng ngày 20/6/2013, tại Quảng trường Ba Đình, 100 đại biểu cháu ngoan Bác Hồ xuất sắc tiêu biểu cho hơn 14 vạn thiếu nhi tỉnh Thái Nguyên đã vinh dự tổ chức báo công kính dâng lên Bác những thành tích cao, những bông hoa đẹp đã đạt được trong học tập và rèn luyện.

Trong học tập, thiếu nhi tỉnh Thái Nguyên đã cùng nhau thi đua “Vượt khó học tốt”, “Học đều, học đủ, học chăm”… Trong năm qua, tỉnh có 97.376 em đạt danh hiệu Học sinh giỏi và 135.470 em đạt danh hiệu Cháu ngoan Bác Hồ.

Trong rèn luyện đạo đức, giao tiếp ứng xử và ý thức kỷ luật, các em thiếu nhi biết vâng lời người lớn, lễ phép với ông bà cha mẹ, thầy cô, sống trung thực trong học tập và đời sống hàng ngày. Trong lao động và bảo vệ môi trường, các em tích cực tham gia các phong trào “Trồng cây gây quỹ Đội”, “Vì màu xanh quê hương”, tham gia lao động phụ giúp gia đình theo khả năng của mình…

Ngoài ra, các em còn thực hiện tốt hoạt động xã hội. Trong 2 năm vừa qua đã kịp thời động viên thăm hỏi giúp đỡ gia đình chính sách, người có công với cách mạng, gia đình thương binh, liệt sỹ, tích cực tham gia phòng chống tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự an toàn giao thông. Từ các phong trào này, các em đã rèn luyện để trở thành con ngoan trò giỏi, đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ.

thai-nguyen-bc-aĐoàn đại biểu kính dâng vòng hoa và vào Lăng viếng Bác

Trước anh linh của Bác, 100 thiếu nhi tỉnh Thái Nguyên đã hứa với Bác: Sẽ tiếp tục học tập rèn đức luyện tài, phát huy trí thông minh, lòng dũng cảm, đoàn kết phấn đấu để đạt được nhiều thành tích xuất sắc hơn nữa góp phần tô thắm trang sử vẻ vang của Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, xứng đáng với truyền thống quê hương cách mạng, góp phần xây dựng quê hương Thái Nguyên ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Kết thúc buổi Lễ, Đoàn đại biểu đã kính dâng vòng hoa và vào Lăng viếng Bác.

Vân Phương

Nguồn: bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Sắc lệnh số 195-SL ngày 01 tháng 6 năm 1948 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, đế quốc xâm lược, giữa lúc cuộc kháng chiến vào giai đoạn khó khăn và quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được ý nghĩa quan trọng và to lớn của thi đua ái quốc. Để phong trào thi đua đạt được kết quả tốt, Người đã quan tâm tới việc xây dựng và tổ chức bộ máy, công tác chỉ đạo và đào tạo cán bộ cho phong trào, chính vì vậy, ngày 01/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 195 thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc. Sau đó, nhân kỷ niệm 1.000 Ngày Kháng chiến toàn quốc, ngày 11/6/1948, nhằm phát huy cao độ tinh thần yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi và chính thức phát động cuộc vận động thi đua ái quốc với mục đích: Diệt giặc đói; diệt giặc dốt; diệt giặc ngoại xâm với cách làm là dựa vào lực lượng và tinh thần của dân để đạt kết quả: Dân tộc độc lập – dân quyền tự do – dân sinh hạnh phúc.

Đã 65 năm trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử của Sắc lệnh và Lời kêu gọi thi đua ái quốc vẫn còn nguyên giá trị sâu sắc cho đến tận ngày nay và mãi về sau. Đó là động lực mạnh mẽ để cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sỹ và nhân dân cả nước nỗ lực phấn đấu, hăng hái thi đua, đoàn kết đồng lòng xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, phát triển, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, sánh vai với bạn bè quốc tế như Bác kính yêu vẫn hằng mong muốn.

Nhân kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2013), chúng ta cùng đọc lại toàn văn Sắc lệnh này.

Bai tong hop 2.1Sac lenh 1
Sắc lệnh số 195-SL ngày 01/6/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa v/v thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc Trung ương (TTLTQG III, P. Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 07, tờ 39).
Ảnh internet

Bai tong hop 2. 2ban hieu trieu quoc dan
Bản Hiệu triệu quốc dân thi đua ái quốc ngày 19/6/1948 của Ban Vận động thi đua ái quốc. (TTLTQG III, P. Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 130, tờ 52). Ảnh internet

Sắc lệnh được đánh trên nền giấy màu nâu, khổ 27cm x 17cm, cuối Sắc lệnh có chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 07, tờ 39.

Nội dung Sắc lệnh gồm 6 Điều, quy định thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc từ Trung ương đến khu, tỉnh, huyện, xã và thành phần của Ban Vận động, đồng thời cũng quy định nhiệm vụ của Ban vận động thi đua ái quốc các cấp.

SẮC LỆNH

CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 195 NGÀY 1 THÁNG 6 NĂM 1948
———————-

CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Chiểu theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ,

Sau khi Ban Thường trực Quốc hội đã thoả thuận,

RA SẮC LỆNH:

Điều 1

Nay thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc Trung ương. Ban này gồm có các đại biểu Chính phủ, Quốc hội và các đoàn thể nhân dân.

Điều 2

Các đại biểu nói trên do Sắc lệnh chỉ định.

Điều 3

Tại các liên khu, tỉnh, huyện và xã đều đặt Ban Vận động thi đua ái quốc.

Mỗi ban gồm có từ 3 đến 5 người trong đó có đại diện Uỷ ban Kháng chiến Hành chính, các đoàn thể nhân dân và nhân sĩ.

Tuy vậy, các Ban Vận động thi đua ái quốc cấp huyện và cấp xã, số người có thể ít hơn.

Điều 4

Các đại biểu trong các ban từ liên khu đến xã do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính cấp mình chỉ định.

Điều 5

Các Ban Vận động thi đua ái quốc các cấp có nhiệm vụ:

1- Vận động, đôn đốc, thu thập và phổ biến kinh nghiệm về việc thi đua.

2- Các Uỷ ban Kháng chiến Hành chính liên khu, tỉnh, huyện, xã đạt kế hoạch thi đua ái quốc cho địa phương mình. Nhưng có thể uỷ quyền ấy cho các Ban Vận động thi đua ái quốc cấp mình.

Điều 6

Các vị Bộ trưởng chiểu Sắc lệnh thi hành.

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

Huyền Trang (st)

Một số bức thư, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề thi đua yêu nước, trải qua những thăng trầm của lịch sử, thực tiễn cách mạng đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người khởi xướng và kiến tạo thành công phong trào thi đua yêu nước Việt Nam. Người đã từng nói: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”, chính quan điểm, tư tưởng tiến bộ đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi hành động cách mạng của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sỹ và nhân dân cả nước hăng hái, phấn đấu thi đua lao động, học tập và cống hiến trong công cuộc phát triển đất nước. Trải qua hơn sáu thập kỷ kể từ ngày Người viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” (11-6-1948) cho đến khi đi vào cõi vĩnh hằng, Người đã có rất nhiều bức thư, bài nói, bài viết đề cập đến thi đua yêu nước. Nhân kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2013), chúng ta cùng đọc lại một số bài nói, bài viết của Người.

1. Lời kêu gọi thi đua yêu nước (Viết khoảng ngày 1-5-1948. Bản gốc lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh) – (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxbctqg, Xb lần thứ ba, tập 5, tr513).

Bai tong hop 1. Loi keu goi thi dua yeu nuoc

Lời kêu gọi thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1948.  

(TTLTQG III, P. Phủ Thủ tướng,Hồ sơ 130, tờ 01). Ảnh internet

Cùng toàn thể đồng bào yêu quý,

Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai.

Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta, thì chúng ta phải đi mau.

Vì vậy, sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất.

Như thế thì:

Kháng chiến nhất định thắng lợi,

Kiến quốc nhất định thành công,

Hồ Chí Minh

2. Lời kêu gọi thi đua ái quốc (Viết ngày 11-6-1948, Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6, số 968, ngày 24-6-1948) –  (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxbctqg, Xb lần thứ ba, tập 5, tr556).

Mục đích thi đua ái quốc là:

Diệt giặc đói,

Diệt giặc dốt,

Diệt giặc ngoại xâm.

Cách làm là dựa vào:

Lực lượng của dân,

Tinh thần của dân, để gây:

Hạnh phúc cho dân.

Vì vậy bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau :

Làm cho mau,

Làm cho tốt,

Làm cho nhiều.

Mỗi người dân Việt Nam , bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá. Thực hiện khẩu hiệu:

Toàn dân kháng chiến,

Toàn diện kháng chiến.

Trong cuộc thi đua ái quốc, chúng ta:

Vừa kháng chiến,

Vừa kiến quốc.

Kết quả đầu tiên của thi đua ái quốc sẽ là:

Toàn dân đủ ăn đủ mặc,

Toàn dân biết đọc, biết viết,

Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới, để diệt ngoại xâm,

Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn.

Thế là chúng ta thực hiện:

Dân tộc độc lập,

Dân quyền tự do,

Dân sinh hạnh phúc,

Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra.

Để đi đến kết quả tốt đẹp đó, tôi xin:

Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc,

Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn,

Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp,

Đồng bào công nông thi đua sản xuất,

Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh,

Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân,

Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng.

Nói tóm lại, ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc. Phong trào sôi nổi.

Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi.

Hỡi toàn thể đồng bào,

Hỡi toàn thể chiến sĩ,

Tiến lên!

HỒ CHÍ MINH

          3. Thư gửi Hội nghị thi đua ái quốc (Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh) – (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxbctqg, Xb lần thứ ba, tập 6, tr134).

Gửi Hội nghị Thi đua ái quốc,

Các vị đại biểu,

Tôi gửi lời thân ái chúc Hội nghị có kết quả tốt. Sau đây là vài ý kiến của tôi đối với phong trào thi đua ái quốc, để giúp cho các đại biểu thảo luận:

Phong trào khá cao và rộng, bộ đội, đoàn thể, cơ quan và nhân dân hăng hái. Nhiều đơn vị đã có kết quả khá. Nhưng:

– Tổ chức và lãnh đạo còn kém, không phát triển được hết sáng kiến và năng lực của quần chúng.

– Cơ quan lãnh đạo các cấp, các ngành, các đoàn thể, các địa phương thiếu sự phối hợp với nhau, thiếu sự tổng kết kinh nghiệm và trao đổi kinh nghiệm.

Vậy tôi rất mong Hội nghị tìm cách sửa chữa những khuyết điểm ấy, và mỗi một cán bộ, mỗi một đồng bào, mỗi một ngành đều ra sức thiết thực thi đua với tinh thần chuẩn bị tổng phản công. Như vậy, thì thi đua nhất định thành công.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 6 năm 1949

Hồ CHí MINH

4. Lời kêu gọi thi đua chuẩn bị tổng phản công (Báo Sự thật, số 116, ngày 1-8-1949) – (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxbctqg, Xb lần thứ ba, tập 6, tr167).

Mấy lâu nay, vì bận việc kháng chiến, tôi ít có dịp nói chuyện với đồng bào và chiến sĩ. Vậy hôm nay, lời đầu tiên là tôi thân ái hỏi thăm:

Các vị phụ lão,

Các vị thân sĩ,

Các anh em cán bộ chính trị, hành chính và chuyên môn,

Đồng bào trong nước, ngoài nước, và trong vùng tạm bị chiếm,

Các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi thân ái hỏi thăm:

Toàn thể tướng sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích,

Các anh chị em công nhân ở các xưởng máy quốc phòng.

Hôm nay là ngày phát động Thi đua ái quốc tiếp theo kỳ trước, cho nên tôi chỉ nói chuyện thi đua.

Từ ngày Cách mạng Tháng Tám, thế giới đã ngạc nhiên và kính phục dân tộc ta vì ba điều:

Điều thứ nhất là ta đã cách mạng thành công, đã phá tan xiềng xích thực dân, đã đánh đổ chế độ phong kiến, đã lập nền dân chủ cộng hoà.

Điều thứ hai là ta chẳng những có sức kháng chiến mà lại chắc chắn kháng chiến thắng lợi.

Điều thứ ba là ta vừa kháng chiến vừa thi đua ái quốc.

Ta bắt đầu thi đua từ tháng 6 năm ngoái. Cuộc thi đua nhằm ba mục đích: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Mặc dầu thiếu phương tiện, thiếu kinh nghiệm và bị giặc Pháp tìm mọi cách để phá hoại, ta vẫn lượm được nhiều kết quả tốt sau một năm thi đua.

– Vì đồng bào ra sức thi đua tăng gia sản xuất, cho nên dân ta dù có chật vật ít nhiều, nhưng vẫn tránh khỏi nạn đói. Trong thời kỳ chiến tranh các nước còn chật vật hơn ta.

– Vì đồng bào hăng hái ủng hộ, và các chiến sĩ bình dân học vụ tận tuỵ, mà đã mấy tỉnh như Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Thái Bình đã diệt xong giặc dốt. Các tỉnh khác thì đang ra sức theo cho kịp các tỉnh trên. Đó là một thành tích vẻ vang, nếu chúng ta nhớ rằng dưới chế độ thực dân, năm 1941 chỉ có non nửa triệu trẻ con ta được đi học.

– Nhờ toàn dân ra sức ủng hộ, và bộ đội cùng dân quân du kích ta dũng cảm và nhờ anh chị em công nhân ta ra sức chế tạo vũ khí, mà từ Nam đến Bắc ta đã thắng nhiều trận vẻ vang. Chính bọn thực dân cũng phải nhận rằng quân đội ta rất tiến bộ và quân đội Pháp không thể nào thắng được ta.

– Ngoài ba việc chính ấy, đồng bào ta còn thi đua nhiều mặt khác và thành tích cũng không kém vẻ vang. Đây tôi chỉ nhắc vài thí dụ:

Các đoàn thể và cá nhân thì thi đua đỡ đầu bộ đội và dân quân. Như tỉnh Hà Tĩnh đã quyên giúp hàng mấy chục triệu.

Các cụ, các bà thì thi đua tham gia Hội mẹ chiến sĩ.

Nhân dân thì thi đua mua công phiếu kháng chiến, thi đua góp đảm phụ kháng chiến và nộp thuế. Riêng chị em phụ nữ cũng thi đua góp phần đảm phụ kháng chiến, dù được Chính phủ miễn góp.

Các đồng bào điền chủ thì thi đua giảm địa tô, có người giảm đến 50 phần 100, và thi đua quyên ruộng, có người quyên từ năm sáu trăm đến hơn 2000 mẫu.

Các cụ phụ lão và chị em phụ nữ thì thi đua tổ chức đội du kích.

Các cháu thanh niên thì thi đua tòng quân.

Cán bộ trong các cơ quan thì thi đua sửa đổi cách làm việc cho hợp lý hơn.

Các cháu nhi đồng thì thi đua học tập và giúp mọi công việc. Có nhiều cháu đã gửi tiền nhờ tôi góp vào quỹ kháng chiến.

Kiều bào ở nước ngoài và đồng bào trong vùng tạm bị chiếm cũng đều tuỳ hoàn cảnh mà thi đua.

Nói tóm lại: Mọi người đều thi đua, mọi việc đều có thi đua, và đều có thành tích. Nhân dịp này tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn và khen ngợi đồng bào và chiến sĩ.

Vì nhiều thành tích cho nên chúng ta càng thấy rõ nhiều khuyết điểm. Tôi nêu ra đây những khuyết điểm chính để chúng ta cùng nhau sửa chữa:

Còn nhiều nơi nhân dân, mà trước hết là cán bộ, chưa hiểu thật rõ ràng ý nghĩa của phong trào Thi đua ái quốc. Do đó mà có những khuyết điểm như sau:

– Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những công việc làm hàng ngày. Thật ra, công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua. Thí dụ: Từ trước đến giờ ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch sẽ, cho hợp vệ sinh, cho khỏi đau ốm.

Xưa nay ta vẫn làm ruộng. Nay ta thi đua làm cho đất ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn.

Mọi việc đều thi đua như vậy.

– Tưởng lầm rằng thi đua chỉ nhất thời. Thật ra thi đua là phải trường kỳ. Ta phải thi đua để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Nhiều nơi đặt những kế hoạch thi đua không sát với hoàn cảnh, không sát với địa phương.

Nơi thì đặt kế hoạch to quá, rồi làm không nổi.

Nơi thì ban đầu làm quá ồ ạt, đến nỗi ít lâu thì đuối sức đi, không tiếp tục thi đua được.

Nơi thì mỗi một đoàn thể, mỗi một ngành đều có một kế hoạch riêng mà các kế hoạch thì không ăn khớp với nhau. Thành thử “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Nhân dân thì bù đầu, không đủ sức mà theo cả các kế hoạch và không biết nên theo kế hoạch nào.

Nhiều nơi có kinh nghiệm, hoặc kinh nghiệm thành công hoặc kinh nghiệm thất bại, nhưng không biết trao đổi cho nơi khác, để tránh cái dở, học cái hay của nhau.

Nơi thì các ban vận động thi đua chỉ biết làm theo chỉ thị cấp trên. Trung ương gửi chỉ thị thế nào, khu cứ nguyên văn gửi xuống tỉnh, tỉnh cứ nguyên văn gửi xuống huyện, huyện cứ như thế gửi xuống xã. Chứ không biết điều tra kỹ lưỡng, áp dụng thiết thực.

Đó là những khuyết điểm chính mà chúng ta phải sửa chữa và quyết sửa chữa được. Điều cần thiết nhất, là phải giải thích kỹ càng cho mỗi một người dân hiểu rõ rằng: Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và ích lợi cho làng, cho nước, cho dân tộc thế nào. Mỗi người dân đều hiểu rõ thì tất cả mọi khó khăn đều giải quyết được, tất cả mọi khuyết điểm đều sửa chữa được.

Hiện nay, kháng chiến đã đến thời kỳ đẩy mạnh cuộc cầm cự, chuẩn bị tổng phản công, thì phong trào Thi đua ái quốc cũng phải nhằm vào mục đích ấy. Vì vậy, chương trình thi đua trong giai đoạn này vẫn là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Nhưng tiến lên một bước mạnh hơn.

Về văn hoá, những nơi đã diệt xong nạn mù chữ thì phải thi đua học thêm nữa.

Những nơi khác thì phải thi đua diệt cho xong nạn mù chữ.

Các nhà văn nghệ thì thi đua sáng tác. Các nhà chuyên môn thì thi đua phát minh.

Về kinh tế, thì thi đua làm cho dân và quân đủ ăn, đủ mặc, đủ dùng, để đánh giặc.

Về quân sự, Vệ quốc quân và dân quân du kích thì thi đua rèn luyện cán bộ, chấn chỉnh quân đội. Các công xưởng thì thi đua chế tạo vũ khí cho nhiều, cho mau, cho tốt.

Ngoài ra, tất cả mọi việc ích lợi cho dân sinh quốc kế, quan hệ với kháng chiến kiến quốc, ta đều phải thi đua. Thi đua phải là toàn dân, toàn diện.

Trong các việc thi đua ái quốc, cần phải nêu rõ tinh thần cần, kiệm, liêm, chính.

Khẩu hiệu Thi đua ái quốc, hiện nay là: Tất cả để chiến thắng. Chiến thắng giặc thực dân. Chiến thắng giặc dốt. Chiến thắng giặc đói. Chiến thắng mọi tính xấu trong mình ta.

Tôi chắc rằng với kinh nghiệm thi đua năm vừa qua, với lòng hăng hái của đồng bào và chiến sĩ, với hồng phúc của Tổ quốc, Thi đua ái quốc nhất định thành công to, cũng như trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi to.

Mong toàn thể đồng bào và chiến sĩ cố gắng lên!

Đồng bào và chiến sĩ lại phải nhớ rằng: Trong mùa Xuân vừa qua giặc Pháp bị ta đánh bại nhiều trận. Âm mưu chúng dùng bọn bù nhìn để lừa gạt đồng bào ta cũng thất bại. Cho nên Thu Đông này, chúng ra sức thu góp lực lượng, mở những cuộc tấn công mạo hiểm và bất thình lình; chúng mong dùng quân sự để giải quyết nguy cơ của chúng. Chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trước. Tôi thường nói: Càng gần thắng lợi thì càng nhiều khó khăn. Tôi mong toàn thể đồng bào và chiến sĩ hăng hái thi đua vượt qua mọi sự khó khăn, để mà tranh lấy thắng lợi.

Nước ta sẽ độc lập và thống nhất thật sự.

Dân ta sẽ no ấm và giàu mạnh thật sự.

Chào thân ái và quyết thắng

HỒ CHÍ MINH

5. Lời kêu gọi đồng bào tăng gia sản xuất (Báo Cứu quốc, số 1488, ngày 6-3-1950) – (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxbctqg, Xb lần thứ ba, tập 6, tr324).

Cùng đồng bào toàn quốc,

Năm nay là năm chuyển mạnh sang tổng phản công, bộ đội và nhân dân sẽ cần nhiều lúa thóc, hoa màu, thịt cá, bông vải.

Năm nay cũng là năm mà giặc đánh thua cố phá hoại tài sản mùa màng của ta nhiều hơn.

Vậy trong lúc ở mặt trận, bộ đội và dân quân hăng hái đánh giặc để chuyển mạnh sang tổng phản công, đồng bào ở hậu phương có nhiệm vụ:

1. Thi đua tăng gia sản xuất; chăn nuôi thêm súc vật, giồng thêm nhiều thóc lúa, hoa màu, bông, rau. Trai, gái, già, trẻ, mỗi người đều phải cố gắng, người đã tăng gia sản xuất sẽ tăng gia sản xuất nhiều hơn, người chưa tăng gia sản xuất sẽ phải tăng gia sản xuất. Chúng ta quyết thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân canh tác, bốn mùa canh tác.

2. Thi đua tiết kiệm, tránh xa xỉ, phí phạm, để dành lương thực cho bộ đội hoặc cho những lúc túng thiếu.

Làm hai việc trên là góp sức vào công việc chuyển mạnh sang tổng phản công.

Tôi mong đồng bào cố gắng.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 1 tháng 3 năm 1950
HỒ CHÍ MINH

 

          6. Thi đua ái quốc, hiện tại và tương lai vẻ vang của nước ta (Báo Nhân Dân, số 15, ngày 5-7-1951) –  (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxbctqg, Xb lần thứ ba, tập 7, tr108)

Thi đua ái quốc nhằm ba mục đích chính: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Tức là làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ, làm cho Tổ quốc độc lập, tự do.

Muốn đạt mục đích ấy, người người phải thi đua, ngành ngành phải thi đua. Ai làm việc gì, nghề gì cũng thi đua làm cho nhanh, cho tốt, cho nhiều. Chiến sĩ thì thi đua diệt giặc lập công, đồng bào thì thi đua tăng gia sản xuất.

Sau một thời kỳ tìm tòi và chuẩn bị, và mặc dầu gặp nhiều khó khăn, thi đua ái quốc của ta đã có kết quả đầu tiên. Kết quả tuy còn nhỏ, nhưng nó như con én báo hiệu mùa xuân. Nó là cái đà cho kết quả to lớn sau này.

Về bộ đội, thi đua đã đem lại những trận thắng lợi ở Biên giới, ở Trung du, ở Bình Trị Thiên, ở Liên khu III, v.v..

Về nông nghiệp, thi đua đã làm cho đồng bào ta tránh khỏi nạn đói. Ta đã có những chiến sĩ nông nghiệp kiểu mẫu.

Về công nghiệp, thì trong đợt thi đua để chúc thọ Hồ Chủ tịch, mừng Mặt trận Liên – Việt và Đảng Lao động Việt Nam (đợt đầu của phong trào thi đua sản xuất, lập công, đề cao chiến sĩ), anh chị em công nhân đã đạt được nhiều thành tích. Những thành tích đó, xem qua có vẻ khô khan, nhưng xem kỹ thì rất thú vị. Như một cái vườn mênh mông, tươi tốt, mới có một vài nụ hoa chớm nở, song chắc rồi đây vườn sẽ khai hoa kết quả đầy cả góc trời.

Trong 19 xí nghiệp, năng suất chung đã tăng từ 11,35% đến 80%. Riêng từng ban, thì có ban tăng đến 260%. Tính từng người, thì có người tăng đến 290%.

Theo lời anh chị em công nhân, sở dĩ được như vậy là:

– Nhờ có kế hoạch thiết thực và có kiểm điểm hằng ngày, phê bình và bổ khuyết kịp thời.

– Vì cố gắng, biết xếp đặt công việc ngăn nắp, chịu khó tìm tòi, có sáng kiến.

Những điều đó, cố gắng làm thì được, chứ đâu phải như chuyện “đội đá vá trời”. Dưới đây, xin kể vài thí dụ:

Anh Nguyễn Khắc Chỉnh, biết xếp lại nồi hơi, công việc đã dễ dàng hơn, mỗi ngày lại tiết kiệm được 200 cân than.

Anh Hồ Bá Cương, dùng cào sắt thay cào gỗ, mỗi ngày tiết kiệm được 15 cân vôi.

Anh Đỗ Văn Trị, thợ rèn, biết cách sắp đặt, công việc cả ban khi trước phải làm 32 giờ, nay chỉ cần 12 giờ.

Chị Hạnh, thợ giấy, biết hợp lý hoá việc xeo giấy, trước kia 5 động tác, nay chỉ cần 3, trước kia một ngày được 700 tờ, nay được 1.594 tờ.

Xưởng dệt Độc lập, ban mắc, trước kia một ngày được 216 thước, nay được 318 thước.

Ban cắt xưởng quân nhu, nhờ tính toán kỹ lưỡng, dôi được bốn phần trăm vải cho bộ đội.

Nói tóm lại: Vì sự cố gắng của các nam nữ chiến sĩ lao động, mà tiết kiệm được vật liệu, tiết kiệm được thời giờ, đỡ được khó nhọc, đồng thời sản xuất được nhiều lương thực, nhiều súng ống, nhiều vải, nhiều giấy cho bộ đội và nhân dân. Đó chẳng phải là hiện tại và tương lai tốt đẹp ư?

Nếu mọi người đều cố gắng thi đua, thì công việc tiêu diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm sẽ mau đến ngày hoàn toàn thắng lợi.

Trong phong trào thi đua này, anh em công chức, giáo viên, học sinh các nơi như Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Cạn, v.v., đều hăng hái tham gia việc sửa đường, đào kênh và đã có thành tích khá. Thế là trí thức lao động hoá. Đó là một điều đáng khen ngợi và nên khuyến khích cho phát triển thêm.

Trong thành công, ta vẫn thấy còn khuyết điểm. Những khuyết điểm chính là:

Hướng dẫn thiếu thống nhất.

Chương trình còn nhiều nơi chưa sát.

Kế hoạch thiếu chu đáo, tỉ mỉ.

Biết làm nhanh, nhưng chưa biết làm tốt.

Thi đua nơi thì thiếu bền bỉ, nơi thì làm quá sức, nơi thì chưa tự động.

Đó là vì tư tưởng thi đua chưa thấm nhuần, thấu suốt mọi người, vì cán bộ giải thích kém.

Chúng ta phải sửa chữa ngay những khuyết điểm ấy, để đẩy phong trào thi đua lên cao hơn nữa, rộng khắp hơn nữa, và đạt những kết quả to lớn và tốt đẹp hơn nữa.

C.B.

7. Thư gửi thanh niên về thi đua ái quốc (Báo Nhân Dân, số 22, ngày 23-8-1951) – (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxbctqg, Xb lần thứ ba, tập 7, tr145)

Thân ái gửi các cháu thanh niên cả nước,

Từ hôm 19-5 đến nay, Bác liên tiếp nhận được thư của các cháu.

Những thư ấy, hoặc là của từng nhóm như bộ đội, nhà máy, trường học, cơ quan…, hoặc là riêng của từng cháu.

Nếu trả lời riêng cho mỗi nhóm, mỗi cháu, như ý muốn của Bác, mà cũng là ý muốn của các cháu, thì Bác phải có hàng trăm thư ký giúp, và hàng chục tạ giấy! Vì chính sách tiết kiệm nên Bác trả lời các cháu bằng một thư chung này.

Trong thư, các cháu đều báo cáo thành tích thi đua ái quốc. Bác rất vui lòng vì, hoặc nhiều hoặc ít, cháu nào cũng có thành tích. Thí dụ:

Cháu Nguyễn Thị Thành, xưởng X.P. (Công đoàn Lê Hồng Phong), tăng năng suất 330 phần trăm.

Cháu Nguyễn Thị Giao Tiên, xưởng X.B. (Công đoàn Bông Lau), tăng năng suất hơn 200 phần trăm.

Cháu Nguyễn Hữu Bắc, Trung đoàn X., được bầu làm chiến sĩ anh hùng (24 tuổi, bị thương bốn lần, được khen thưởng 6 lần).

Còn nhiều, nhiều cháu có thành tích khác, Bác không thể kể hết. Lại có những thành tích chung, như các cháu học sinh các trường đã thi đua tham gia việc sửa đường, công trái, bình dân học vụ; hoặc như các cháu thanh niên xung phong hăng hái giúp việc các chiến dịch, vận tải, sửa đường, v.v.. Nói tóm lại, các cháu đã thi đua khá. Đó là ưu điểm đáng khen.

Song nói chung, các cháu vẫn còn nhiều khuyết điểm trong thi đua. Để sửa chữa những khuyết điểm ấy, để tranh lấy những thành tích to lớn, Bác giúp các cháu vài ý kiến sau đây:

1. Thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững. Nghĩa là phải nâng cao lòng nồng nàn yêu nước và giác ngộ chính trị của mọi người. Yêu nước thì phải thi đua, thi đua tức là yêu nước.

2. Phải có kế hoạch tỉ mỉ. Kế hoạch ấy phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu biết thấu, vui vẻ làm. Nghĩa là phải sao cho mỗi nhóm, mỗi người tự giác tự động.

3. Nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực. Khi đặt kế hoạch phải tuyệt đối tránh sự sơ suất “đại khái”, quá cao, phiền phức, miễn cưỡng.

4. Thi đua không nên thiên về một phía. Phải điều hoà 3 nhiệm vụ với nhau: Tăng gia sản xuất, công việc hằng ngày và học tập (chính trị, văn hoá, tình hình trong nước và thế giới).

5. Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng. Trước khi thi đua phải chuẩn bị đầy đủ (giải thích, cổ động, xét kỹ kế hoạch mỗi nhóm, mỗi người). Trong lúc thi đua, phải thiết thực đôn đốc, giúp đỡ, sửa đổi. Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi.

6. Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm. Và đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi. Vì vậy, thật thà tự phê bình và thân ái phê bình là một lực lượng để đẩy mạnh thi đua.

7. Thi đua phải lâu dài  rộng khắp, không phải chỉ trong một thời gian nào (những ngày kỷ niệm là những đợt để lấy đà và để kiểm thảo, chứ không phải qua những ngày ấy rồi lại nghỉ thi đua), không phải chỉ riêng ngành nào, nhóm người nào. Vì vậy, trong thi đua, chúng ta phải đồng thời bồi bổ lực lượng và tinh thần của quần chúng.

Đó là mấy điểm chính. Nếu các cháu làm đúng như vậy, thì chắc các cháu sẽ có thành tích to hơn, nhiều hơn nữa.

Bác mong các cháu nghiên cứu kỹ những điểm đó, rồi báo cáo kết quả cho Bác biết.

Về thanh niên nông dân, phải đặc biệt cố gắng trong vụ mùa thắng lợi. Riêng về thanh niên trong bộ đội, Bác mong các tiểu đoàn, trung đoàn và đại đoàn trực tiếp gửi cho Bác những danh sách các chiến sĩ được bầu làm anh hùng thanh niên (trong 30 tuổi, tên tuổi và công trạng).

Bác hôn các cháu, chúc các cháu vui vẻ thi đua và lượm được nhiều thành tích vẻ vang.

Ngày 1 tháng 8 năm 1951
BÁC HỒ

8. Bài nói tại Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc (Nói ngày 1-5-1952. Báo Nhân Dân, số 57, ngày 8-5-1952) – (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxbctqg, Xb lần thứ ba, tập 7 tr402)

MỤC ĐÍCH THI ĐUA

Do thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm mà Liên Xô đang xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Do thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm mà các nước dân chủ nhân dân Đông Âu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Trung Quốc xây dựng chủ nghĩa dân chủ mới.

Nhân dân ta thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm để cải thiện đời sống tinh thần và vật chất của quân và dân, cung cấp đầy đủ cho kháng chiến, chuẩn bị chuyển sang tổng phản công. Quân đội ta thi đua diệt giặc lập công để tiêu diệt nhiều sinh lực địch, chuẩn bị chuyển sang tổng phản công, để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, hoàn thành dân chủ mới, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

TÌNH HÌNH THI ĐUA MẤY NĂM VỪA QUA

Thi đua khởi đầu từ 1948.

– Bộ đội: Thi đua khá, đều khắp, nhất là sau những cuộc chỉnh huấn. Kết quả rõ trong những trận thắng lợi liên tiếp trước mặt và sau lưng địch.

– Công nghệ: Tinh thần, kỷ luật, tổ chức khá, sáng kiến nhiều, năng suất cao. Nhưng không đều, thiếu thường xuyên, liên tiếp. Ngành vận tải tiến chậm. Các xưởng tư thi đua kém.

– Nông nghiệp : Thi đua trong vụ mùa thắng lợi khá. Đã biết thi đua từng đợt, làm tập thể. Một vài nơi đã biết đặt kế hoạch từng gia đình, từng thôn xóm. Nhưng chưa đều, chưa khắp, thiếu liên tiếp.

– Lao động trí óc: Cán bộ chuyên môn thi đua khá. Nhưng còn phải cố gắng nhiều hơn nữa. Thi đua diệt giặc dốt khá. Nhưng nói chung thì ngành văn hoá giáo dục tiến chậm.

– Các cơ quan: Có chương trình, phương hướng, cố gắng. Nhưng chưa đều, chưa có nề nếp, thiếu liên tiếp.

– Thanh niên: Đã xung phong trong bộ đội, dân công và công nghệ (thí dụ những đội thanh niên xung phong lao động). Nhưng ở nông thôn, thanh niên chưa làm nổi bật vai trò xung phong.

– Về mặt lãnh đạo: Quân đội, công đoàn, nông hội khá. Nhưng còn phải cố gắng nhiều nữa. Hội phụ nữ và Đoàn thanh niên chưa đi thật sát với quần chúng.

Nói tóm lại: Thi đua các ngành đều có tiến bộ hoặc ít hoặc nhiều. Nhưng ngoài bộ đội, thì khuyết điểm chung là thiếu liên tiếp, rộng khắp và chưa biết gắn liền với học tập chính trị.

Từ nay, phải phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm. Những ngành thi đua đã khá thì phải cố gắng thêm. Những ngành còn kém thì phải cố gắng theo cho kịp phong trào.

NỘI DUNG THI ĐUA

Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm thì:

– Tăng năng suất: làm mau, làm tốt, làm nhiều.

– Ra sức tiết kiệm: nguyên liệu, vật liệu, sức lao động, thì giờ.

Tiết kiệm để giúp tăng gia. Tăng gia để thực hiện tiết kiệm. Một thí dụ: Nguyễn Đăng Đại làm giây mìn, một tháng tiết kiệm được 50 lít xăng, 14 kilô cánh kiến, 140 thước vải, một số nhân công, mà năng suất vẫn cao hơn, chất lượng vẫn tốt hơn trước.

Thi đua diệt giặc lập công thì:

– Luyện tập giỏi,

– Diệt nhiều địch,

– Khắc phục khó khăn, chấp hành mệnh lệnh, làm tròn nhiệm vụ.

Có người tưởng lầm bộ đội chỉ có nhiệm vụ diệt giặc lập công, không trực tiếp tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Nói thế không đúng. Bộ đội đánh thắng trận, quý trọng chiến lợi phẩm, thế là tăng gia sản xuất. Bộ đội quý trọng của công, quý trọng quân trang quân dụng, thế là tiết kiệm. Còn bộ đội ở hậu phương, các ngành quân nhu, quân giới, quân y, vận tải, v.v., càng phải thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Trong việc sử dụng dân công, càng phải tiết kiệm để đồng bào hậu phương đủ lực lượng và ngày giờ đặng thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm.

CÁCH THI ĐUA

– Trong bộ đội thì phát huy quân sự dân chủ.

– Các ngành thì nâng cao kỹ thuật.

– Gom góp sáng kiến. Rút kinh nghiệm, tổng kết kinh nghiệm, trao đổi và phổ biến kinh nghiệm.

Sáng kiến và kinh nghiệm là của quý chung cho cả dân tộc. Chúng ta phải ra sức làm cho nó dồi dào thêm và lan rộng mãi. Đầu thì lan khắp một đơn vị, một nhà máy, một làng, v.v.. Dần dần lan khắp cả quân đội, cả ngành công nghệ, cả nước. Sáng kiến và kinh nghiệm cũng như những con suối nhỏ chảy vào sông to, những sông to chảy vào bể cả. Không biết quý trọng sáng kiến và phổ biến kinh nghiệm tức là lãng phí của dân tộc.

Việc phổ biến sáng kiến và kinh nghiệm là phận sự của quân đội, cả đoàn thanh niên, công đoàn và nông hội. Chính quyền cũng phải săn sóc giúp đỡ việc này.

Các báo chí và văn nghệ: phải điều tra tuyên truyền, khen ngợi những ưu điểm và phê bình những khuyết điểm trong việc phổ biến sáng kiến và kinh nghiệm. Đó là một nhiệm vụ vẻ vang của báo chí và văn nghệ thiết thực góp phần vào phong trào thi đua ái quốc.

MỨC THI ĐUA

Mức thi đua phải tiến dần dần và tiến mãi mãi.

Những người và những nhóm hiện nay đã đạt được mức cao, thì phải làm cho chất lượng tốt hơn nữa và phải gắng tiến lên nữa. Giúp đỡ những người và những nhóm còn kém theo cho kịp mức cao hiện nay.

Trí khôn, sáng kiến, học hỏi, tiến bộ và tinh thần hy sinh của người ta không có hạn, nó cứ tiến mãi. Cho nên mức thi đua cũng không có hạn, nó cũng tiến lên mãi.

Ai thi đua với ai ? Thi đua giữa người này với người khác, đơn vị này với đơn vị khác, điều đó ai cũng hiểu. Một điều nên nhắc là: ngành này có thể và nên thi đua với những ngành khác. Thí dụ: một đơn vị nông thôn có thể thi đua với một đơn vị bộ đội và một đơn vị công nghệ. Xã A và nhà máy B ký giao ước với bộ đội C, sẽ tăng gia và tiết kiệm bao nhiêu. Bộ đội C ký giao ước diệt nhiều giặc, cướp nhiều súng. Thế là công nông binh thi đua với nhau, cùng nhau tiến bộ.

Ý NGHĨA THI ĐUA

 Thi đua là đoàn kết: Trong phong trào thi đua, chúng ta thấy đủ các dân tộc: Kinh, Thổ, Mán, Mường, v.v., đủ các tín ngưỡng, lương có, giáo có, đủ các tầng lớp binh, công, nông, sĩ, đủ các hạng người già, trẻ, gái, trai, tất cả đều nhằm vào một mục đích chung: tăng gia sản xuất và diệt giặc lập công.

Trước kia anh em trí thức thì xa lao động chân tay. Công nông binh thì ai chỉ lo việc ấy. Giữa các hạng người, các tầng lớp, cảm tình chưa được thân mật. Nay phong trào thi đua đã làm phát triển tinh thần đoàn kết giữa tất cả các tầng lớp nhân dân. Thí dụ: muốn bộ đội đủ ăn mặc, đủ vũ khí, đánh mạnh, thắng nhiều, thì trí thức thi đua phát minh sáng chế, nông dân thi đua làm nhiều lúa nhiều bông, công nhân thi đua sản xuất nhiều súng đạn. Trong lúc thi đua diệt giặc lập công, thì bộ đội luôn luôn nhớ đến đồng bào và khuyến khích lẫn nhau: diệt sạch giặc đi, để đồng bào được làm ăn yên ổn.

Thế là thi đua tăng cường đoàn kết, mà đoàn kết đẩy mạnh thi đua. Đoàn kết ấy là đoàn kết thật sự và rất chặt chẽ.

Tôi muốn nhắc vài chuyện nho nhỏ, nhưng có ý nghĩa rất to: Bà cụ Năm (Cao Bằng), 83 tuổi, xung phong sửa đường. Cán bộ khuyên bà cụ nghỉ, thì bà cụ nói: “Càng già càng phải giúp kháng chiến. Sửa đường để bộ đội đi cho mau, giết cho nhiều giặc, thắng cho nhiều trận …”. Cháu Nguyễn Thị Giao Tiên (ngành quân dược) khuyến khích chị em: “Chúng ta phải thi đua chuẩn bị thuốc men cho mau và cho cẩn thận, để anh em bộ đội yên tâm đánh giặc …”. Đó là những lời mộc mạc do lòng tương thân tương ái, do tinh thần đoàn kết từ đáy lòng thốt ra. Đó là những đoạn văn chương mới mẻ và tươi sáng do phong trào thi đua và cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta nảy nở ra.

– Thi đua là yêu nước: Thi đua là một cách yêu nước thiết thực và tích cực. Các chiến sĩ thi đua đều tăng năng suất từ gấp rưỡi trở lên. Nếu ta cứ tính đổ đồng mỗi chiến sĩ đều tăng năng suất gấp đôi, nếu tất cả những người lao động nước ta – bộ đội, công, nông, lao động trí óc – đều thi đua và đều tăng năng suất gấp đôi, thì kết quả sẽ thế nào ?

Kết quả là lực lượng của ta về mọi mặt đều tăng gấp đôi. Ta sẽ diệt giặc gấp đôi, thắng lợi gấp đôi. Kết quả là kháng chiến sẽ thắng lợi gấp đôi, kiến quốc sẽ thành công gấp đôi. Kết quả là dân giàu nước mạnh.

Cho nên chúng ta nói: thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất.

– Thi đua là tinh thần quốc tế: Nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn khác cho chúng ta nhiều kinh nghiệm thi đua. Chúng ta học nhiều kinh nghiệm thi đua ở các nước bạn, và ta sẽ cố gắng thi đua với các nước bạn để cùng các nước bạn tiến bộ. Đó là tinh thần quốc tế.

Nhân dân và báo chí các nước bạn vui mừng khi họ nghe những thành tích của phong trào thi đua của ta. Cũng như ta vui mừng khi nghe những thắng lợi trong phong trào thi đua của các nước bạn. Đó là tinh thần quốc tế.

Tinh thần quốc tế chân chính ấy tỏ rõ trong những lời nói và việc làm của các chiến sĩ thi đua. Một thí dụ: Một nhóm chiến sĩ trồng bông Trung Quốc đến thăm các chiến sĩ thợ dệt ở một nhà máy vải, rồi họ vui vẻ nói: “Chúng tôi ra sức thi đua trồng cho nhiều bông, các đồng chí thi đua dệt cho nhiều vải. Rồi chúng ta tha hồ cung cấp cho đồng bào Trung Quốc, và tha hồ giúp cho anh em Triều Tiên và Việt Nam tự lực cánh sinh”.

Lại như trong số chiến sĩ thi đua của ta, có những chiến sĩ Hoa kiều. Như đồng chí Voòng Dùng Hính là một lão chiến sĩ gương mẫu, luôn luôn hăng hái thi đua; hăng hái ủng hộ kháng chiến. Đó là tinh thần quốc tế.

Thi đua chẳng những bồi dưỡng tinh thần đoàn kết và tinh thần yêu nước của dân tộc ta, mà lại làm cho nhân dân ta đoàn kết với nhân dân lao động thế giới.

– Thi đua là góp sức giữ gìn hoà bình và dân chủ thế giới. ở các nước đế quốc, không bao giờ có và không thể có phong trào thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Vì nhân dân lao động các nước ấy không dại gì mà làm lợi cho những giai cấp bóc lột họ, áp bức họ. Không thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm mà các nước ấy đã có hàng triệu người bị thất nghiệp. Một nước tự xưng giàu có nhất thế giới như Mỹ, đã có hơn 12 triệu công nhân thất nghiệp. Nếu thi đua thì nhân dân lao động ở các nước ấy sẽ thất nghiệp nhiều hơn nữa.

– Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm chỉ có ở Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và các nước dân chủ mới khác. Thi đua diệt giặc lập công chỉ có trong các quân đội cách mạng. Vì ở nước ta và các nước bạn ta, vì trong quân đội cách mạng, nhân dân và quân đội thi đua là lợi ích cho mình, cho cả dân tộc mình. Do thi đua mà phe hoà bình và dân chủ kinh tế ngày càng thịnh vượng, lực lượng ngày càng to lớn, làm cho phe đế quốc gây chiến do Mỹ cầm đầu phải nhụt lại.

Quân và dân ta thi đua để đẩy mạnh kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Ta tiêu diệt lực lượng đế quốc Pháp và Mỹ, tức là ta thiết thực góp phần vào công cuộc giữ gìn hoà bình và dân chủ thế giới. Đó chính là tinh thần quốc tế của thi đua.

– Thi đua cải tạo con người : Lao động sáng tạo xã hội. Thi đua thì cải tạo con người.

Ngoài những ý nghĩa nói ở trên, càng hăng hái thi đua thì người chiến sĩ càng phải ra sức tìm tòi, học hỏi, cầu tiến bộ. Do sáng kiến và kinh nghiệm trong thi đua mà lao động chân tay nâng cao trình độ kỹ thuật của mình. Do thi đua mà lao động trí óc gần gũi, giúp đỡ, cộng tác và học hỏi những người lao động chân tay, và trở nên những người trí thức hoàn toàn. Thế là phong trào thi đua đã làm cho công nông binh trí thức hoá, và trí thức thì lao động hoá.

Những chiến sĩ thi đua ắt phải là những người giàu tinh thần trách nhiệm. Thường có những người hay kể công lao, hay mặc cả với kháng chiến, với dân tộc. Họ hay suy nghĩ: “Ta đã làm được việc này việc nọ, nhưng kháng chiến và dân tộc đã bù đắp cho ta thế nào ?”. Chiến sĩ thi đua thì không kể công, không mặc cả với kháng chiến, với dân tộc. Họ luôn luôn tự hỏi: “Ta đã tăng năng suất được bao nhiêu, đã làm lợi cho kháng chiến, cho dân tộc như thế nào?”. Chiến sĩ thi đua lại có tinh thần vượt mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Cho nên có thể nói: chiến sĩ thi đua là những người mới, những người luôn luôn cố gắng thực hành cần kiệm liêm chính, là những người tôi trung của nhân dân, con hiếu của Tổ quốc.

Để phát triển phong trào thi đua, chúng ta phải chống bệnh quan liêu, chống nạn tham ô, lãng phí. Vì bệnh quan liêu sẽ ngăn trở phong trào thi đua, làm nó chậm tiến, và nạn tham ô, lãng phí sẽ làm giảm bớt những kết quả của phong trào thi đua.

KẾT LUẬN

Phong trào thi đua là một trong những thắng lợi lớn của nhân dân ta trong mấy năm kháng chiến này. Nó sẽ làm đà cho những thắng lợi to hơn nữa, vẻ vang hơn nữa về quân sự, chính trị, kinh tế, v.v..

Vì vậy, nhiệm vụ của Chính phủ, của Mặt trận và các đoàn thể trong Mặt trận là phải đẩy mạnh phong trào thi đua lên cao hơn nữa và rộng khắp hơn nữa. Hiện nay, ta mới có hàng vạn chiến sĩ thi đua, từ nay chúng ta phải có hàng triệu chiến sĩ thi đua.

Nhiệm vụ của các chiến sĩ thi đua là phải cố gắng mãi, tiến bộ mãi. Phải khiêm tốn và gần gũi quần chúng, phải làm gương mẫu cho quần chúng. Phải học tập chính trị, phải gắn liền tinh thần thi đua với tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế. Tuyệt đối chớ tự kiêu tự mãn, chớ xa rời quần chúng. Phải luôn luôn nhớ rằng: thành tích là thành tích tập thể, anh hùng là anh hùng tập thể, chứ không phải là thành tích và anh hùng cá nhân. Đó là vinh dự chung của dân tộc, chứ không phải là vinh dự riêng của cá nhân.

Năm nay, Chính phủ và đoàn thể đã đặt kế hoạch tăng gia sản xuất và tiết kiệm, về quân sự thì có kế hoạch chỉnh huấn và tác chiến.

Chính phủ, đoàn thể, toàn thể quân và dân ta, nhất là các chiến sĩ thi đua, phải quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để thực hiện cho bằng được kế hoạch ấy. Chúng ta phải cố gắng để trong Đại hội chiến sĩ năm sau, chúng ta sẽ có những thành tích to lớn và vẻ vang hơn nữa và nhiều anh hùng chiến đấu, nhiều anh hùng lao động hơn nữa. Thế là:

Người người thi đua,

Ngành ngành thi đua,

Ta nhất định thắng,

Địch nhất định thua.

9. Điện gửi Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua Nam Bộ (Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh) – (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxbctqg, Xb lần thứ ba, tập 8, tr525).

“Nhân dịp các chiến sĩ thi đua Nam Bộ họp Đại hội liên hoan, tôi thân ái chúc các đại biểu vui vẻ, mạnh khỏe, và làm việc có kết quả tốt.

Sau đây là vài ý kiến tóm tắt để giúp Đại hội nghiên cứu:

 Mục đích thi đua của mọi người, mọi ngành và mọi cơ quan là: Sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiết kiệm sức người, sức của, nâng cao mức sản xuất – để cải thiện đời sống của bộ đội, của nhân dân và của cán bộ; để đẩy mạnh công việc kháng chiến, kiến quốc.

– Cách thức thi đua – Kế hoạch phải thiết thực. Tổ chức phải hẳn hoi. Lãnh đạo phải chặt chẽ. Phân công phải rõ ràng. Mọi việc phải dân chủ. Thi đua phải bền bỉ.

– Quần chúng thi đua – Thi đua phải là một phong trào quần chúng rộng rãi. Các chiến sĩ phải là người kiểu mẫu, là những đầu tàu để giúp đỡ và lôi kéo những người khác cùng thi đua, cùng tiến lên. Hàng vạn người đều tăng gia sản xuất 10%, thì kết quả chung sẽ to hơn vài trăm chiến sĩ vượt mức 1.000%.

– Kinh nghiệm thi đua – Các cơ quan lãnh đạo phải thiết thực giúp đỡ và bồi dưỡng các chiến sĩ. Phải phổ biến những kinh nghiệm và sáng kiến hay. Phải thiết thực giúp đỡ đôn đốc những người hậu tiến theo kịp những chiến sĩ tiên tiến.

– Đánh thông tư tưởng – Muốn thi đua trở nên một phong trào sâu rộng, mọi người đều hăng hái tham gia, thì cần đánh thông tư tưởng của mọi người. Phải làm cho mọi người đều hiểu rõ thi đua là ích nước lợi nhà, thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua.

Đại hội nên chọn lọc kỹ lưỡng, bầu cử dân chủ những chiến sĩ và những đơn vị xuất sắc nhất trong các ngành, trình lên Chính phủ, Chính phủ sẽ khen thưởng.

Chúc Đại hội thành công.

                                Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 6 năm 1954

HỒ CHÍ MINH

       10. Nói chuyện tại Đại hội chiến sĩ thi đua nông nghiệp toàn quốc lần thứ III (Nói ngày 23-5-1958, Báo Nhân Dân, số 1534, ngày 25-5-1958) – (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxbctqg, Xb lần thứ ba, tập 11, tr414).

Dưới ách đế quốc và phong kiến, cuộc sống của nông dân chân lấm tay bùn, đầu tắt mặt tối, mà đói vẫn hoàn đói, khổ vẫn hoàn khổ. Nay nông dân lao động đã được chia ruộng đất, đã làm chủ nông thôn, đời sống đã được cải thiện, nhưng chưa đủ. Thế thì phải làm thế nào?

Phải tổ chức nhau lại. Có tổ chức để tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, thì của cải chúng ta ngày càng nhiều, đời sống càng được cải thiện. Phải tổ chức để thi đua, thi đua để tăng gia sản xuất và phải biết tiết kiệm, sản xuất mà không tiết kiệm thì như gió vào nhà trống.

Muốn sản xuất tốt, phải chú ý đến: nhất nước, nhì phân, tam cần và tứ là cải tiến kỹ thuật. Trước hết chú ý đến nước là đúng, vì xứ ta hầu như năm nào cũng bị hạn, bị lụt, vì vậy chúng ta phải bắt buộc nước phục vụ nông nghiệp. Việc này chúng ta đã làm có kết quả hơn lúc còn đế quốc phong kiến, nhưng chưa đủ. Muốn chống hạn có kết quả, phải học kinh nghiệm của anh em Trung Quốc. Từ tháng 10 năm ngoái đến tháng 9 năm nay, Trung Quốc dự định phát triển thuỷ nông cho 6 triệu mẫu tây mà mới đến tháng 3 năm 1958, đã làm được 18 triệu mẫu tây. Tỉnh Hà Nam có đến 87 phần trăm đất núi, ít sông, ít mưa, luôn luôn bị hạn hán mất mùa. Trước ngày giải phóng, đến mùa hè nhân dân ăn cả vỏ cây, rễ cỏ, chết đói hàng vạn, cho nên có câu ca dao:

Núi trọc như đầu bình vôi

Sông không có nước, nước hiếm hoi như vàng,

Hàng năm hạn hán tai hoang

Người người đói rách, làng làng xác xơ.

Hà Nam lại có nhiều khó khăn: thiếu sức người, thiếu kinh nghiệm, thiếu lương ăn. Nhân dân quen chờ trời Phật. Lại còn khó khăn phải đưa nước ngược lên núi.

Đề ra kế hoạch biến đổi tình hình đói khổ này, các cấp bộ Đảng từ tỉnh đến xã đã ra sức tuyên truyền giáo dục nhân dân tin tưởng sức người thắng được trời. Các cán bộ triệt để tin tưởng vào trí khôn và lực lượng của nông dân. Các cấp lãnh đạo lại thường xuyên điều tra nghiên cứu, đúc kết và phổ biến kinh nghiệm. Nhân dân khi đã hiểu rõ và được tổ chức lại, đều ra sức thi đua thực hiện vượt mức kế hoạch.

Về kỹ thuật, chú trọng tiểu thuỷ nông trước, tiến dần đến trung thuỷ nông và đại thuỷ nông. Mọi người góp sức, góp của, góp kinh nghiệm… quyết thực hiện cho kỳ được “chứa nước mưa, trữ nước sông, moi nước dưới đất lên” và “trồng cây trên núi, vỡ ruộng bậc thang, cải biến chất đất”. Nhân dân lại quyết “kéo dài ngày làm việc” bằng cách không lãng phí thì giờ, tranh thủ làm sớm về chậm, làm cả lúc mưa, nắng, rét. Ngày Tết, không phí ngày ăn chơi, nhân dân thực hiện “chúng ta ra ngoài đồng để vừa làm ruộng, vừa chúc Tết nhau cho Tết vui hơn”. Kết quả là một mẫu tây từ chỗ thu 7 tạ rưỡi (1949) lên hơn 14 tạ thóc, tổng thu hoạch từ 2 triệu 30 vạn tấn (1949) lên 5 triệu 5 vạn tấn. Kế hoạch dự định cho thuỷ nông là 61 triệu đồng, sau Chính phủ chỉ xuất 19 triệu, còn bao nhiêu đều do nhân dân tự lực góp sức, góp của. Từ tháng 10 năm 1957 đến tháng 1 năm 1958, nhân dân Hà Nam làm được 34 vạn mẫu tây, vượt kế hoạch năm 1957 đến 4 lần.

Được như thế là do đâu? Do nông dân hăng hái và có tổ chức, do cán bộ lãnh đạo tốt.

Ơn Đảng như mẹ như cha,

Mở mang thuỷ lợi, nhà nhà ấm no.

Ấm no không đợi trời cho,

Người làm ra nước, sức to hơn trời.

Công nhân nông trường quốc doanh Trung Quốc đã quyết không xin thêm tiền và vỡ hoang từ 5 triệu đến 6 triệu rưởi mẫu tây, trong khi kế hoạch của Chính phủ là 2 triệu rưởi mẫu tây. Anh em nông binh đi vỡ vùng đại sa mạc toàn cát sỏi, đã lập được 44 nông trường trồng trọt, 16 khu chăn nuôi và 99 công xưởng. Anh em phục viên quyết biến vùng Bắc Đại Hoàng ở Hắc Long Giang nhiều rừng và đất lầy thành kho thóc lớn của Tổ quốc. Các đồng chí nông binh, phục viên Trung Quốc đã không xin Chính phủ cho thêm máy, thêm tiền và đã bắt buộc rừng rậm, đất lầy, bãi cát thành những vùng giàu có.

Đất ruộng ta không xấu. Năng suất 1 mẫu tây từ 13 tạ thóc đã lên bình quân 18 tạ. Có thửa đột xuất đến 62 tạ. Bình quân 1 mẫu tây của xã Hiệp An là 32 tạ. Có kinh nghiệm của anh em Trung Quốc, có kinh nghiệm của bản thân ta, nhất định chúng ta làm được. Gốc của thắng lợi là tổ chức, trước hết là tổ đổi công cho tốt rồi tiến dần lên hợp tác xã nông nghiệp.

Phải phát triển tốt phong trào đổi công và hợp tác; phải thi đua tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước. Các đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động phải vào tổ đổi công và hợp tác xã, phải là gương mẫu để làm tròn nhiệm vụ của đảng viên và đoàn viên.

Có tổ đổi công và hợp tác xã sẽ nâng cao sản xuất, thì nay có một bát cơm, một cái áo, mai sẽ có hai bát cơm, hai cái áo, như thế là góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nông dân ta đông người nhất, kinh tế nông nghiệp quan trọng nhất; nông dân ta đã anh hùng trong cách mạng, trong kháng chiến, trong cải cách ruộng đất, thì trong cuộc cách mạng biến đổi nông nghiệp từ thấp lên cao này, nông dân ta cũng phải là anh hùng.

Chúng ta phải học kinh nghiệm anh em Trung Quốc, thi đua với anh em Trung Quốc, theo kịp anh em Trung Quốc, tiến kịp anh em Liên Xô. Đã hứa thì phải làm, làm thì nhất định phải được. Nông dân ta phải thật sự tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước. Thêm một tấn thóc là thêm một lực lượng trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà, cho nên nói: Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua.

Cuối cùng, chúc các chiến sĩ vui vẻ, khoẻ mạnh, thực hiện tốt những điều đã hứa hẹn hôm nay, đưa phong trào đổi công và hợp tác xã lên bước tiến mới, lên chủ nghĩa xã hội trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

11. Lời chào mừng Đại hội Anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ II (Đọc ngày 7-7-1958. Báo Nhân Dân, số 1578, ngày 8-7-1958) – (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxbctqg, Xb lần thứ ba, tập 11, tr494)

Thưa các đồng chí,

Tôi thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ nhiệt liệt chào mừng các anh hùng và chiến sĩ và thân ái gửi lời hỏi thăm những chiến sĩ và những anh chị em lao động chân tay và trí óc các ngành và các nơi đang hăng hái tham gia thi đua yêu nước.

– Ở Đại hội lần thứ nhất có bảy anh hùng, trong đó có bốn Anh hùng quân đội, và 150 Chiến sĩ thi đua. Đại hội lần này, chúng ta có 26 Anh hùng lao động và 69 Anh hùng quân đội và 446 chiến sĩ thay mặt cho hơn 42.700 Chiến sĩ thi đua.

Thế là rất tốt. Con số đó chứng tỏ sự tiến bộ không ngừng của nhân dân ta, quân đội ta, chế độ ta.

– Ở Đại hội này, chúng ta có anh hùng và chiến sĩ lao động chân tay và trí óc đủ các ngành và các dân tộc anh em.

Thế là rất tốt. Nó chứng tỏ sự đoàn kết chặt chẽ và sự cố gắng toàn diện của nhân dân lao động ta.

– Ở Đại hội này, trong số 26 Anh hùng lao động, có 5 phụ nữ.

Thế là rất tốt. Nó chứng tỏ sự cố gắng và tiến bộ của phụ nữ ta và chứng tỏ dưới chế độ ta, nam nữ thật sự bình quyền.

– Ở Đại hội này có 6 Anh hùng và nhiều chiến sĩ là đồng bào miền Nam tập kết.

Thế là rất tốt. Nó chứng tỏ rằng đồng bào và cán bộ miền Nam tập kết ở đây đang ra sức góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp thống nhất nước nhà. Điều này sẽ có ảnh hưởng rất tốt đến đồng bào ta ở miền Nam.

– Trong hàng ngũ vẻ vang các Chiến sĩ thi đua, có nhiều đồng chí bộ đội phục viên, thương binh và gia đình liệt sĩ.

Thế là rất tốt. Nó chứng tỏ rằng anh em thương binh và bộ đội phục viên đã tiếp tục và phát triển truyền thống anh dũng trong thời kỳ kháng chiến vào trong công cuộc xây dựng hoà bình và các gia đình liệt sĩ cũng cố gắng để góp phần vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Ở Đại hội này lại có một Anh hùng và nhiều chiến sĩ là người dân các nước anh em lao động ở nước ta.

Thế là rất tốt. Nó chứng tỏ tinh thần quốc tế cao cả của giai cấp lao động.

*

*      *

Dưới chế độ tư bản, thực dân và phong kiến quyết không thể có phong trào thi đua yêu nước, vì giai cấp lao động không dại gì mà ra sức thi đua làm giàu thêm cho bọn chủ để rồi lại bị chúng áp bức bóc lột thêm.

Chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ mà nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua.

Phong trào thi đua yêu nước ở ta ngày càng phát triển vì nhân dân ta đã làm chủ nước nhà, vì nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một thành viên trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, vì ta được sự giúp đỡ vô tư của các nước anh em, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc.

Về thi đua yêu nước, trong khuôn khổ và khả năng của chúng ta, chúng ta phải học tập phong trào thi đua của Trung Quốc, cố gắng tiến kịp Trung Quốc, rồi cố gắng tiến kịp Liên Xô.

Hiện nay, ở Liên Xô hầu hết việc làm công nghiệp và nông nghiệp đều làm bằng máy. ở Trung Quốc thì vừa phát triển máy móc, vừa tận dụng sức người. Vì vậy, tôi muốn nêu lên vài kinh nghiệm thi đua ở Trung Quốc để chúng ta nghiên cứu, học tập.

ở Trung Quốc, tất cả các ngành kinh tế và văn hoá đều đang hăng hái thi đua và đã thực hiện khẩu hiệu “nhiều, nhanh, tốt, rẻ”. Kế hoạch sản xuất công nghiệp do Chính phủ giao xuống, công nhân đều hoàn thành gấp rưỡi, gấp đôi, mà không xin thêm máy, thêm tiền, thêm người. Nhiều xí nghiệp còn giảm bớt số người chuyển sang xí nghiệp mới.

Trong phong trào thi đua, nhiều chiến sĩ đã cải tiến kỹ thuật và tăng năng suất đến mức xưa nay chưa từng có.

Có những tiến bộ nhảy vọt đó, một mặt là vì mọi người lao động đều tư tưởng thông suốt, hăng hái thi đua; một mặt là vì sựlãnh đạo thiết thực và toàn diện.

Ở xí nghiệp thì các cán bộ lãnh đạo của chi bộ, của đoàn thanh niên, của công đoàn và giám đốc đều trực tiếp tham gia sản xuất. ở nông thôn thì các đồng chí đó phải tự tay làm ruộng thí nghiệm và trực tiếp tham gia lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp. Như vậy, cán bộ vừa lãnh đạo chính trị, vừa lãnh đạo sản xuất một cách chặt chẽ. Cán bộ và quần chúng hoà thành một khối cho nên mọi vấn đề đều giải quyết tốt và nhanh.

Đó là tóm tắt những kinh nghiệm quý báu mà chúng ta cần học tập và áp dụng.

*

*      *

Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã là những người tiên phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc trên lợi ích riêng của cá nhân. Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không phải nửa tâm nửa ý. Họ không sợ khó nhọc, ra sức vượt mọi khó khăn để hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho họ, chứ họ không suy bì hơn thiệt của cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ. Họ không giấu nghề, không dìm những anh em chung quanh mình, họ giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ. Họ không tự kiêu, tự mãn, tự tư tự lợi.

Đó là những đức tính cách mạng mà chúng ta cần phải học tập các anh hùng, chiến sĩ thi đua.

Các anh hùng, chiến sĩ thi đua thì cần nhận rõ rằng: Thành tích là thành tích chung của tập thể. Tách rời tập thể thì dù tài giỏi mấy, một cá nhân cũng không làm được gì. Cho nên càng có thành tích, thì càng phải cố gắng, càng phải khiêm tốn. Tuyệt đối chớ tự mãn, tự túc. Vì vậy, các anh hùng, chiến sĩ cần phải luôn luôn cố gắng và khiêm tốn.

Các anh hùng và chiến sĩ thi đua cần phải luôn luôn dắt dìu, giúp đỡ những người chung quanh mình cùng tiến bộ. Mọi người đều phải cố gắng tiến kịp các anh hùng, chiến sĩ; anh hùng, chiến sĩ thì cần tiến mãi không ngừng. Như vậy, thì Đại hội lần sau chúng ta sẽ có hàng trăm anh hùng, hàng chục vạn chiến sĩ. Như vậy thì kế hoạch Nhà nước năm nay cũng như kế hoạch 3 năm chắc chắn sẽ hoàn thành và hoàn thành vượt mức. Như vậy, đời sống của nhân dân ta chắc chắn sẽ cải thiện hơn nữa. Như vậy, chúng ta sẽ vững bước tiến dần lên chủ nghĩa xã hội và nhất định thắng lợi trong sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Nguồn: bqllang.gov.vn
Huyền Trang (st)

Bác Hồ và Đảng ta với công tác thiếu niên nhi đồng

Ngay từ ngày thành lập, Đảng ta đã rất quan tâm đến công tác thiếu niên nhi đồng. Tại Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ nhất (10/1930) và lần thứ hai (3/1931), Đảng đã có những quyết định quan trọng về công tác thanh niên, về tổ chức Đồng Tử Quân, thiếu niên cách mạng và giao cho Đoàn thanh niên phụ trách thiếu nhi.

Từ đó, nơi nào có chi bộ Đảng và tổ chức Đoàn thanh niên thì nơi đó tổ chức và phong trào đội thiếu nhi phát triển và hoạt động một cách tích cực. Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1931 trên quê hương Bác Hồ kính yêu đã có nhiều đội Đồng Tử Quân tham gia đấu tranh thành lập chính quyền Xô Viết. Theo số liệu lưu trữ, trong chính quyền Xô Viết Nghệ Tĩnh có 513 đội viên thiếu niên do các chi bộ Đoàn hoặc tự vệ hướng dẫn hoạt động. Không chỉ có vậy, khắp nơi trên đất nước ta, các Đội thiếu nhi Canh đế, Đội thiếu nhi Xích vệ cũng đã tham gia hoạt động cách mạng. Sôi nổi nhất là thiếu nhi vùng Tứ Trưng, Thượng Trủng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phú; đội Đồng Tử Quân tỉnh Thái Bình (mang tên “Trẻ chăn trâu”), nhất là ở huyện Tiền Hải đã theo người lớn đi đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng; Đội thiếu niên Dục Tài gồm con em công nhân, công chức, nhà buôn là người Việt Nam ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, đã không quản ngại gian khổ, cùng với thiếu nhi cả nước nhận nhiệm vụ làm giao thông liên lạc, canh gác, bảo vệ các cuộc họp của Đảng, khi cần theo cha mẹ, anh chị đi đấu tranh…

bac-ho-thieu-nhi-aBác Hồ chung vui với các cháu trong ngày Quốc tế Thiếu nhi 01/6/1969

Năm 1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Cùng với những công việc đại sự, Người còn chú ý ngay đến phong trào thiếu nhi, Bác vừa giáo dục các em theo tinh thần cách mạng, vừa coi các em là một lực lượng cách mạng. Ý Đảng – lòng Bác đã gặp nhau ở một điểm, đó chính là tinh thần của Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 8 (5/1941): … tổ chức ra các đoàn thể cứu quốc như “Nhi đồng cứu vong Đoàn” là đoàn thể cứu quốc của trẻ em và giao cho Đoàn Thanh niên phụ trách. Trên quan điểm đó, ngày 15/5/1941, tại thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, Đội TNTP, Hội Nhi đồng cứu vong được thành lập với 5 đội viên đầu tiên đó là: Nông Văn Dền với bí danh Kim Đồng; Nông Văn Thàn, tức Cao Sơn; Lý Văn Tịnh, tức Thanh Minh; Lý Thị Ni, tức Thủy Tiên và Lý Thị Xậu, tức Thanh Thủy. Nông Văn Dền (tức Kim Đồng) được bầu làm đội trưởng đầu tiên. Các thành viên của Đội đã làm lễ tuyên thệ suốt đời trung thành với Đảng, tuyệt đối giữ bí mật cho dù phải hy sinh đến tính mạng cũng không phản bội lại nhân dân, phản bội lại cách mạng.

Tháng 02 năm 1948, dù đang bận trăm công ngàn việc, nhưng Bác Hồ kính yêu vẫn luôn theo sát phong trào thiếu nhi. Người đã có thư để định hướng công tác cần làm cho tuổi nhỏ. Công tác Trần Quốc Toản. Bác căn dặn: “Các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản… Trước thì giúp những nhà chiến sĩ, nhà thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người. Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy. Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ… Các cháu nên hiểu rắng: giúp đỡ đồng bào tức là tham gia kháng chiến… luyện tập tinh thần siêng năng và bác ái để sau này trở thành công dân tốt…”. Đối với cán bộ phụ trách thiếu nhi, Người định hướng một cách cụ thể: “Với trẻ, dạy trẻ, cần làm cho các em biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Tuy nhiên phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên… không nên làm cho các em “già sớm”. Hơn thế, người phụ trách thiếu nhi cần phải liên lạc mật thiết với cha mẹ và thầy giáo của thiếu nhi. Người nói thật chí tình, chí lý: “Ngày nay chúng là thiếu nhi. Ít năm sau, chúng sẽ là công dân, cán bộ. Vì vậy, Chính phủ, các đoàn thể, và tất cả đồng bào đều có trách nhiệm giúp sức vào việc giáo dục thiếu nhi”. “Giáo dục thiếu nhi là một khoa học” nên người phụ trách phải cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc. Những định hướng đó của Người cho đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị. Chúng tôi, thế hệ thiếu nhi ngày ấy sẽ không sao quên được lời Bác dạy năm nào: “Các cháu phải ghét, ghét cay đắng bọn thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ, bọn Việt gian, bọn bù nhìn. Vì chúng nó mà ta khổ. Các cháu phải yêu, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động. Các cháu phải gắng, gắng giúp đỡ thương binh và gia đình chiến sĩ, gắng học hành. Các cháu phải đoàn kết, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam với nhau và đoàn kết với nhi đồng thế giới…”. Và hành trang vào đời, hành trang cùng chúng tôi vượt qua mọi gian nan thử thách để chiến đấu và chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược chính là những lời căn dặn đó của Người.

Cho đến bây giờ, chắc hẳn còn nhiều bạn thiếu nhi, nhiều anh chị phụ trách, nhiều thầy giáo, cô giáo, có thể còn chưa biết xuất xứ của 5 điều Bác Hồ dạy thiếu nhi. Riêng chúng tôi, không sao quên được lần kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội TNTP – ngày 15/5/1961. Ngày ấy chúng tôi được anh chị phụ trách đọc cho nghe thư của Bác gửi thiếu niên, nhi đồng toàn quốc. Trong thư, Bác nhắc đến sự hy sinh của anh Kim Đồng, Lê Văn Tám và nhiều bạn khác. Đặc biệt, Bác Hồ nhắc đến nỗi nhớ của Người với thiếu nhi miền Nam anh hùng đang bị Mỹ – Diệm áp bức đày đọa. Bác căn dặn: “Các cháu cũng tham gia đấu tranh bằng cách thực hiện mấy điều sau đây: Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; Học tập tốt, lao động tốt; Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt; Giữ gìn vệ sinh thật tốt; Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. Mười năm trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bác Hồ và Bác Tôn có gửi cho thiếu nhi miền Nam một bức thư với tình yêu thương và lòng tin tưởng: “Bắc Nam sẽ sum họp một nhà/ Bác cháu ta họp mặt, trẻ già vui chung/ Nhớ thương các cháu vô cùng/ Mong sao mỗi cháu là một anh hùng thiếu nhi”.

Phát huy tinh thần và ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã và đang rất coi trọng công tác thiếu nhi. Bởi Đảng, Nhà nước ta và mọi người không bao giờ quên lời nhắc nhở của Người trước lúc đi xa: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân (…) Trước hết, các gia đình phải làm thật tốt công việc ấy. Các Đảng ủy đường phố… Ủy ban Thiếu niên, nhi đồng, Đoàn Thanh niên, ngành giáo dục và các ngành các đoàn thể khác cần phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc, giáo dục các cháu ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ”.

Nguyễn Thị Thọ
Theo Báo Thành phố Hồ Chí Minh
Kim Yến (st)

Nguồn: bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Những lần được gặp Bác trong nghề báo của tôi

Tôi nhớ ngày 8/3/1947, khi mới lên Việt Bắc, tôi tham gia làm tờ báo tay đầu tiên của cơ quan phụ nữ.

Sau khi làm tờ báo tay đầu tiên, chúng tôi gửi ngay sang để Bác Hồ xem. Bác khen báo đẹp, chúng tôi thấy tự tin hơn. Sau này, tôi vẫn nhớ lời nhận xét của Bác:

– Báo tay các cô đẹp đấy nhưng nó chỉ như bông hoa. Các cô phải làm sao cho thành bắp ngô, củ sắn.

Thực hiện lời Bác, các chị Ban Phụ vận mở chiến dịch trồng dâu nuôi tằm. Chúng tôi đến một xã nghiên cứu cách chặt hom dâu, cách trồng dâu rồi phổ biến trên tờ tin của Phụ nữ Trung ương.

Sau khi xem tờ báo tay của chúng tôi, Bác nói:

– Phụ nữ nên ra một tạp chí riêng.

Ý Bác rất hợp với nguyện vọng của chúng tôi.

Một buổi tối đầu thu năm 1947. Niềm vui bất ngờ. Dưới ánh đuốc, chúng tôi nhìn thấy Bác Hồ. Bác mặc bộ quần áo nâu, ống quần xắn gọn, đi chân đất bước lên cầu thang. Tất cả reo lên:

– Bác đến! Bác đến!

Trên đường đi họp, Bác ghé thăm cơ quan Hội Phụ nữ. Một điều bất ngờ nữa: Dưới ánh sáng của bếp lửa, Bác rút trong chiếc ủng ra mấy nắm rau xanh:

– Đây là giống cải xoong Bác trồng gần nhà. Các cô nên trồng thứ rau này. Rau dễ trồng, mọc nhanh mà lại bổ máu, rất tốt cho các cô đang nuôi cháu nhỏ.

Ngay ngày hôm sau, chúng tôi đã cấy nắm rau Bác Hồ cho trên đám đất có dòng suối nhỏ chảy qua. Rau lan ra rất nhanh. Lúc cơ quan dời đi, “đôi ủng rau” của Bác đã trở thành một vạt rau lớn để lại cho đồng bào.

Tuy cùng ở chiến khu Việt Bắc nhưng 4 năm sau tôi mới được gặp lại Bác trong Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất. Lúc ấy, tôi đang làm phóng viên báo Quân đội thuộc Cục Tuyên huấn quân đội. Bác đến thăm Đại hội. Bác vẫn gầy nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Trong danh sách Chiến sĩ thi đua có chị Nguyễn Thị Chiên. Chị Chiên rưng rưng nước mắt khi nhận cây súng ngắn Bác trao cho chị làm phần thưởng. Cả Đại hội xúc động nghe anh La Văn Cầu báo cáo đã chặt tay mình đang bị thương để tiếp tục chiến đấu…

Sau hòa bình, tôi chuyển về làm phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam. Ngày 8/3/1961, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ 3, tôi lại may mắn được gặp Bác Hồ. Tôi được phân công vào Phủ Chủ tịch chụp ảnh, đưa tin, viết bài về cuộc gặp gỡ giữa Bác Hồ với các đại biểu trong và ngoài nước. Đại biểu tỉnh nào cũng muốn chụp ảnh chung với Bác. Bác ưu tiên cho những đại biểu miền núi và quốc tế. Tôi cuống quýt lấy danh sách đại biểu để trình Bác. Trong lúc vội vàng, tôi viết: “Các đại biểu dân tộc… Cao Bằng”. Bác gọi tôi, cười thân mật:

– Cô phóng viên Nguyệt Tú ra đây. Cháu viết dân tộc Cao Bằng thì Bác biết là dân tộc gì?

Bị Bác hỏi bất ngờ, tôi hoảng quá, mặt nóng ran, vội vàng nhận khuyết điểm. Tôi rất xúc động khi được chụp ảnh Bác đứng với đoàn đại biểu từng tỉnh. Hồi ấy, tôi mới học chụp ảnh. Tôi luống cuống, một tay vẫn cầm bó hoa đại hội tặng, còn một tay bấm máy ảnh lia lịa. Bác cười:

– Hẵng bỏ hoa xuống không thì che mất ống kính.

Nói xong, Bác gọi tất cả phóng viên nhiếp ảnh cùng một số đại biểu quây quần lại bên Bác chụp ảnh.

Riêng tôi vẫn mong được chụp ảnh chân dung Bác. Một mình tôi đứng tần ngần mãi giữa vườn cây. Tiễn đoàn đại biểu cuối cùng, Bác quay gót bước lên mấy bậc tam cấp trước Phủ Chủ tịch. Tôi vội giơ chiếc máy ảnh Pratica lên. Nhưng chưa kịp bấm, Bác đã bước nhanh lên thềm. Nhìn thấy tôi đang loay hoay với chiếc máy ảnh, Bác hiểu ý liền quay lại mỉm cười, kịp trong vài giây cho phóng viên bấm một kiểu ảnh. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác, cũng vừa đến, vui vẻ bảo tôi:

– Thế là Bác ủng hộ phóng viên nữ rồi đấy!

Buổi chiều, Bác Hồ tiếp đoàn phụ nữ Quốc tế. Có cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng dự.

Chị Phan Thị An, Trưởng đoàn phụ nữ Việt Nam, giới thiệu:

– Thưa Bác, chị đại biểu phụ nữ Hungary xin tặng Bác một tượng đá phụ nữ Hungari.

Bác cầm tượng đá, nói vui:

– Tượng phụ nữ Hungary đẹp đấy nhưng phụ nữ Hungary đẹp hơn nhiều. Câu nói dí dỏm bất ngờ của Bác làm mọi người càng thấy Bác thật gần gũi, thân mật.

Năm 1962, Bác Hồ sang Mát-xcơ-va dự Đại hội lần thứ hai của Đảng Cộng sản Liên Xô, anh Nguyễn Chí Thanh đi cùng với Bác. Lần đầu tiên cũng là lần duy nhất tôi được ăn cơm với Bác. Anh Nguyễn Chí Thanh, anh Vũ Kỳ và tôi quây quần quanh Bác bên bàn ăn. Bác vừa ăn vừa nói chuyện rất vui.

Trong chiến tranh chống Mỹ, khi đang làm phóng viên Báo Phụ nữ, tôi được tham gia cuộc họp của Bác tiễn Đoàn Văn công quân đội vào Nam. Tuy làm phóng viên nhiều năm và gặp Bác nhiều lần nhưng lần nào Bác cũng làm tôi bất ngờ. Bác cầm chiếc đĩa to đựng những bông hồng nhung đỏ tươi, hương thơm thoang thoảng. Bác tặng mỗi nữ diễn viên một bông hồng. Có cô nhanh nhảu muốn xin Bác hai bông. Bác cười vui:

– Bác chỉ cho mỗi cô một bông thôi.

Các cô diễn viên ai cũng rất bất ngờ, cảm động. Sau này, tôi rất xúc động khi nghe tin trong Đoàn Văn công đi B lần ấy, mấy cô đã hy sinh.

Nhà văn NGUYỆT TÚ
Theo phunuvietnam.com.vn
Phương Thúy (st)

Bài hát hay nhất về đề tài Bác Hồ với tuổi thơ

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” là một trong những bài hát thiếu nhi hay nhất viết về đề tài Bác Hồ với tuổi thơ. Bài hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” của nhạc sĩ Phong Nhã là tình cảm kính yêu của thiếu nhi Việt Nam với Chủ tịch Hồ Chí Minh được tác giả khắc sâu vào trong giai điệu và lời ca chân thành, tha thiết, với hình ảnh Hồ Chủ tịch bình dị và gần gũi.

Phong Nhã tên thật là Nguyễn Văn Tường, sinh năm 1924. Ông đã có nhiều tác phẩm viết về thiếu niên nhi đồng như “Cùng nhau ta đi lên”, “Kim Đồng”, “Nhanh bước nhanh nhi đồng”, “Đi ta đi lên”… nhưng “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” được đánh giá là bài hay nhất viết về Bác Hồ và thiếu nhi của ông.

bai-hat-tuoi-thoAi yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” (Ảnh tư liệu)

Thời điểm khi sáng tác ca khúc này, Phong Nhã có nhiệm vụ đưa Đội Thiếu niên Tiền phong Nguyễn Thái Học đi đón và tiễn Bác nhân dịp Bác đến Quảng trường Ba Đình đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Lúc đó là đầu Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi Phong Nhã mới 21 tuổi, là thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu, cán bộ phụ trách thiếu nhi.

Trong không khí hân hoan, phấn khởi của các em nhi đồng khi được gặp Bác, Phong Nhã đã bị tác động mạnh mẽ, khơi gợi niềm cảm hứng sáng tác. Ông tâm sự: “Thấy đàn cháu đứng reo lên Hồ Chí Minh muôn năm, Bác nhoài người ra vẫy tay bằng cả hai tay, thân thiết như người ông thân yêu của đàn cháu. Giây phút ấy tôi cảm động lắm vì Bác là Chủ tịch nước, một lãnh tụ cách mạng lớn mà đối với các cháu thân mật thương yêu đến như vậy, tôi không thể tưởng tượng được… Từ đó tôi thấy cần phải có một bài hát về Bác”.

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” đã ra đời từ ý tưởng đó. Tình cảm kính yêu dành cho Bác Hồ đã thôi thúc cảm hứng sáng tác của Phong Nhã, để rồi ông chỉ mất có một ngày để hoàn thiện tác phẩm: “Trong buổi sinh hoạt đội, anh phụ trách đố các em là: Ai yêu Bác Hồ nhất? Các em nói rằng nhi đồng yêu Bác Hồ nhất rồi cùng nhau hô: Bác Hồ yêu thiếu nhi nhất và thiếu nhi yêu Bác Hồ nhất… Tôi nảy ra ý tứ và cứ thế phát triển”.

Ca từ trong sáng, giản dị nhưng toát lên hình ảnh vị Chủ tịch kính yêu như một người ông, người cha thân thương, gần gũi đến lạ thường. Giai điệu bài hát như theo mãi tuổi thơ mỗi người từng nghe, từng hát, để rồi sau này lớn lên, họ lại hát cho thế hệ sau của mình nghe, truyền lòng kính yêu đối với Bác cho con cái họ, để Bác mãi tồn tại trong lòng mỗi người dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác.

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” nằm trong chùm tác phẩm được trao tặng “Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật” của nhạc sĩ Phong Nhã./.

Mỹ Ngọc/VOV – Trung tâm tin
Theo http://vov.vn
Thu Hiền (st)

Các câu chuyện về Bác Hồ với thiếu niên nhi đồng

1. Đến thăm trường thiếu nhi miền Nam.

Nghe tin Bác đến thăm trường thiếu nhi miền Nam, các cô chú phụ trách trường tíu tít chuẩn bị, trang hoàng hội trường đón Bác.

Khi Bác đến, tất cả mọi người ùa ra đón Bác và đưa Bác đến hội trường đã được chuẩn bị cờ, hoa lộng lẫy. Nhưng Bác đề nghị dẫn Bác đến nhà bếp và phòng ngủ xem các cháu có được ăn no, ngủ ấm và chăm sóc chu đáo không. Sau đó Bác lấy ra một gói kẹo lớn chia đều cho các cháu. Đang nhìn các cháu ăn kẹo, Bác chợt nhận ra có 1 cháu đang đứng ở góc phòng, nét mặt buồn xo. Bác gọi lại hỏi:

– Cháu tên là gì? Vì sao lại đứng ở đây?

– Cháu tên là Tộ. Vì cháu phạm lỗi, tay bẩn không rửa nên các cô chú phạt, không cho nhận kẹo của Bác.

Bác cười bảo bạn Tộ đi rửa tay rồi chia kẹo cho Tộ, sau đó Bác dạy:

– Từ nay, cháu phải luôn giữ gìn đôi tay cho sạch nhé. Bàn tay con người rất đáng quý.

Bạn Tộ rất cảm động trước sự chăm sóc ân cần của Bác. Từ đấy, bạn luôn giữ đôi tay sạch sẽ và rửa tay sạch trước khi ăn.

2. Thiếu nhi Tiệp Khắc với Bác Hồ.

Trong một lần đến thăm nước Tiệp Khắc, Bác Hồ được tiếp một đoàn thiếu nhi Tiệp Khắc đến thăm Bác. Cháu nào cũng muốn đứng cạnh Bác nên đã chen chúc, tranh giành nhau rất dữ. Để ổn định trật tự, Bác đã nẩy ra sáng kiến hỏi các cháu:

– Các cháu thấy Bác gầy hay mập?

Các cháu trả lời:

– Bác gầy lắm ạ.

Bác lại hỏi:

– Vậy các cháu có muốn Bác gầy không?

Các cháu đồng thanh trả lời:

– Không ạ

Bác nói tiếp:

– Vậy các cháu đừng chen nhau hôn Bác nữa. Hãy cử 1 đại biểu đến hôn Bác thôi.

Sau câu nói của Bác, tất cả đều trật tự và cử bạn đội trưởng thay mặt tất cả đến hôn Bác. Bác ôm hôn bạn đội trưởng và cảm ơn các bạn thiếu nhi Tiệp Khắc. Còn các chú bảo vệ thì lại cảm ơn Bác vì Bác đã có sáng kiến duy trì được trật tự mà vẫn giữ được tình cảm yêu quý của thiếu nhi Tiệp Khắc với Bác Hồ.

3. Bể cá vàng dành cho các cháu.

Các bạn đều biết ngôi nhà sàn của Bác ở Phủ Chủ tịch rất đơn sơ nhưng khi thiết kế, Bác đã đề nghị các đồng chí xây cho Bác một hàng ghế ximăng bao quanh để các cháu thiếu nhi đến thăm Bác có chỗ ngồi. Thấy các cháu có chỗ ngồi nhưng lại không có gì để chơi, Bác lại đề nghị kiếm 1 bể cá để nuôi cá vàng cho các cháu đến thăm Bác có cá để xem. Thấy các cháu xúm xít xem cá trong bể, Bác rất vui. Hàng ngày, sau giờ làm việc, Bác thường cho cá vàng ăn. Bác để dành những mẩu bánh mì ăn sáng làm thức ăn nuôi cá. Được Bác chăm sóc, mấy con cá vàng trong bể ngày một lớn và phát triển thành cả một đàn cá. Mùa đông trời lạnh, Bác nhờ mấy chú làm một chiếc nắp đậy bể để bảo đảm độ ấm cho cá.
Mỗi lần đến thăm nhà sàn của Bác, khách thường thích thú ngắm bể cá, nhất là khách thiếu nhi.

4. Hãy để các cháu được làm chủ.

Trong năm 1961, có 1 sự kiện đáng nhớ của các cháu thiếu nhi. Bác Hồ cho 2000 cháu lần lượt đến vui chơi trong Phủ Chủ tịch. Bác dành phòng khách long trọng nhất trong Phủ Chủ tịch làm nơi cho các cháu triển lãm tranh ảnh của mình. Bác cho trang trí vườn hoa và mắc âm thanh tốt nhất cho các cháu ca hát, liên hoan văn nghệ. Các cháu đến Phủ Chủ tịch rất thích, được ca hát nhảy múa, nằm lăn ra bãi cỏ xanh mượt mát rượi.

5. Bác Hồ rất thương trẻ con.

Có lần đang ngủ đến gần sáng, lạnh quá Bác thức dậy. Gió vun vút đập vào cửa kính. Chợt Bác nghe thấy có tiếng trẻ em rao hàng dưới đường, Bác mở cửa ngó xuống nhìn em bé, nhìn mãi cho đến khi em bé đi khuất mới từ từ khép của lại.

Một lần khác, Bác cùng xem phim với cán bộ đồng bào sau Đại hội Chiến sĩ thi đua năm 1952. Buổi chiếu phim tan, mọi người lục đục kéo nhau đứng dậy ra về, Bác vội đứng lên đưa tay ra lệnh trật tự và nói to:

– Xin hãy để các cháu bé ra trước kẻo lộn xộn các cháu sẽ lạc đấy.
Thế là những người lớn lại ngồi xuống chờ các cháu nhỏ ra hết mới đứng lên về.
Có lần Bác bảo đồng chí phục vụ Bác mang cháu nhỏ 5 tuổi đến chơi với Bác.

Đồng chí phục vụ dẫn con đến, lúc ấy Bác bận nên đã bảo đồng chí cho cháu ngồi chơi ăn kẹo. Khi Bác trở vào vẫn thấy 2 cha con ngồi chờ và không dám lấy kẹo ăn. Bác tỏ vẻ không bằng lòng, phê bình đồng chí:

– Ở nhà, cháu là con của cô chú, nhưng đến đây, cháu là khách của Bác. Chú phải có nhiệm vụ giúp Bác đãi khách chứ, ai lại để cháu bé ngồi chơi suông hay sao?

6. Quả táo Bác Hồ.

Năm 1946, Bác sang Pháp để đàm phán với Chính phủ Pháp về những vấn đề có liên quan đến vận mệnh đất nước. Thị trưởng thành phố Pari mở tiệc long trọng thiết đãi Bác Hồ. Khi ra về, Người lấy trên bàn một quả táo bỏ vào túi. Mọi người ngạc nhiên, tò mò trước cử chỉ ấy của Bác.

Ra đến cửa, Bác nhìn thấy rất đông bà con Việt Kiều và người Pháp đứng đón mừng Bác. Trông thấy một bà mẹ bế trên tay một cháu bé, Bác tiến lại gần, giơ tay bế cháu bé. Lúc ấy, Bác rút trong túi ra quả táo đưa cho cháu bé. Mẹ cháu bé và những người cùng đi rất cảm động trước tấm lòng yêu trẻ của Bác Hồ.

 

7. Bác Hồ với thiếu nhi Việt Nam

Mở đầu lá thư gởi cho nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu năm 1951, Bác Hồ kính yêu đã bộc lộ cảm xúc của mình:

“Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh, nhớ thương nhi đồng” (1)

 Không chỉ yêu thương thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ còn khẳng định vai trò quan trọng của thiếu nhi đối với tương lai mai sau của đất nước và xác định trách nhiệm chăm sóc giáo dục các em không phải của riêng ngành nào, tổ chức nào mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Bác đã viết: “Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ… Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt” (2). Tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới muốn tồn tại và phát triển bền vững, đều phải quan tâm bảo vệ chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng. Xác định được vai trò quan trọng của lực lượng hậu bị, Bác Hồ thường nhắc nhở các cấp, các ngành, đoàn thể phải làm tốt công tác chăm sóc và giáo dục thiếu nhi.

Với những người trực tiếp tham gia công tác thiếu nhi, Bác Hồ đã hướng dẫn cách giáo dục thiếu niên nhi đồng, trong thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc vào ngày 25-8-1950, Bác đã viết: “Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ hoạt bát, tự nhiên, tự động trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả… (3).

Trẻ em cần có tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, thích gần gũi và biết yêu thiên nhiên, yêu loài vật; các em phải biết kính yêu và tôn trọng mọi người thân quanh mình như cha mẹ, ông bà, bà con chòm xóm và biết yêu Tổ quốc; biết nhận ra và có thái độ yêu ghét đúng đắn với những hiện tượng tốt, xấu quanh mình… Cụ thể hơn, nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội thiếu niên Tiền Phong 5-1961, Bác gửi đến lá thư và thiếu nhi cả nước đã đón nhận 5 lời dạy thiêng liêng của Người, xem như đó là mục tiêu để phấn đấu, là tiêu chuẩn để đánh giá đội viên tiêu biểu của Đội như:

Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào

Học tập tốt, lao động tốt

Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt

Giữ gìn vệ sinh

Thật thà dũng cảm

Cũng ngay trong lá thư này, Bác ân cần nhắc nhở thiếu niên nhi đồng: “Mai sau các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (4).

Hết lòng thương yêu và ân cần dạy bảo thiếu nhi, Bác Hồ rất tin tưởng xác định trách nhiệm trọng đại của thiếu nhi đối với tương lai đất nước. Trong thư gửi học sinh vào tháng 9-1945, Bác đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (5).

Ngày nay, thiếu niên nhi đồng nước ta đã và đang được Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và toàn xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đã được thể hiện bằng luật định. Nhân Ngày Quốc tế thiếu nhi, thiếu nhi nước ta một lần nữa ôn lại lời dạy của Bác Hồ kính yêu trong những câu thơ mà Bác đã gởi cho các em vào tết trung thu năm 1952 thay cho lời kết của bài viết này.

 Mong các cháu cố gắng

Thi đua học và hành

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Tùy theo sức của mình…

Các cháu hãy xứng đáng

Cháu Bác Hồ Chí Minh. (6)

 

8. Những bức thư của Bác Hồ gửi các cháu thiếu nhi nhân ngày 1-6

Bác Hồ là người luôn quan tâm, chăm sóc giáo dục thiếu niên nhi đồng. Những lời dạy và bài viết của Người dành cho lứa tuổi thiếu nhi được xem như là một trong những di sản vô giá của dân tộc và của thế hệ trẻ nước ta. Đó cũng chính là những quan điểm, phương hướng mà Đảng, Nhà nước và các cấp có thẩm quyền đã, đang và sẽ lấy đó làm phương châm để giáo dục và rèn luyện thế hệ măng non của đất nước

Còn nhớ, tháng 7-1926, Bác đã có ý định gửi một số gương mặt thiếu nhi tiêu biểu của nước ta sang đào tạo ở Liên Xô (cũ). Trong một bức thư gửi Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin, Người đã quan tâm đến một vấn đề rất nhỏ, Người hỏi các bạn Liên Xô rằng “Đến tháng nào thì ở Mátxcơva bắt đầu rét ?”. Chỉ vì lý do là thiếu nhi nước ta đã quen với khí hậu khô nóng. Quả thật, tấm lòng đó của Bác đối với tuổi thơ đã gây những xúc động đặc biệt cho mọi người.

Những năm tháng trước Cách mạng Tháng Tám 1945, trong hoàn cảnh “vận nước gian nan”, Người đã đau lòng trước cảnh “Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng/ Học hành, giáo dục đã không/ Nhà nghèo lại phải làm công, cày bừa/ Sức còn yếu, tuổi còn thơ/ Mà đã khó nhọc cũng như người già/ Có khi lìa mẹ, lìa cha/ Đi ăn ở với người ta bên ngoài...”. Và mong muốn lớn của Bác lúc bấy giờ là “Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây/ Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng” … Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Người cũng có rất nhiều bài viết, ý kiến dưới rất nhiều hình thức đề cập đến tuổi thơ Việt Nam.

Trên báo Sự Thật, số 134 ra ngày 1-6-1950 đã đăng bức thư gửi thiếu  nhi  toàn  quốc  nhân  ngày 1-6. Bức thư với lời lẽ âu yếm, giản dị, dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc đã thể hiện được sự quan tâm, thương yêu hết mực của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta đối với tuổi thơ. Mở đầu bức thư, Người viết : “Các cháu yêu quý! Ngày 1- 6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới. Đáng lẽ tất cả các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như trẻ con ở Liên Xô…”. Và Người đã vạch rõ: “Song ở các nước tư bản, cha mẹ là người lao động bị bóc lột, thì trẻ con cũng bị bóc lột, phải chịu cực khổ”. Người còn nêu ra những dẫn chứng cụ thể: “Ví dụ: Mỹ là một nước nhiều tiền bạc nhất, có những nhà đại phú, ngồi mát ăn bát vàng. Nhưng con nhà lao động thì lên 5, lên 6 tuổi đã phải đi làm thuê, làm mướn. Ở nước Việt Nam ta thì, vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người, cướp của. Vì vậy, người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến”. Đặc biệt, chúng ta vô cùng cảm động trước tình cảm, lời hứa và trách nhiệm của Người dành cho thiếu nhi: “Bác thương các cháu lắm. Bác hứa với các cháu rằng: đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công, thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cùng cố gắng làm cho các cháu cùng được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng…”.

Một năm sau, vào ngày 29-5-1951, trên báo Cứu Quốc số 1828, Bác lại có “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân Ngày Quốc tế Thiếu nhi”. Cũng lời lẽ trìu mến, đầm ấm, thiết tha như năm nào, Bác đã gửi lời thân ái đến toàn thể nhi đồng cả nước. Bác nhắc đến ngày 1-5, Ngày của những người lao động thế giới tỏ tình đoàn kết, đấu tranh. Còn ngày 1-6 “là Ngày của các cháu nhi đồng trong thế giới tỏ tình đoàn kết và sức đấu tranh của mình…”. Hình thức đấu tranh của các cháu nhi đồng mà Người đưa ra rất cụ thể, thiết thực. Đó là, các cháu cần phải “Thi đua học tập, thi đua tăng gia sản xuất; thi đua giúp đỡ các gia đình thương binh, tử sĩ. Thế là các cháu đấu tranh”. Bác còn có lời khuyên nhủ chí tình: “Các cháu phải đoàn kết, thương yêu nhau” và là đoàn kết, thương yêu giữa nhi đồng trong nước với nhau, cũng như bạn bè thiếu nhi trên thế giới. Bác gọi “Đó là tinh thần quốc tế”. Mà đã có tinh thần quốc tế thì khi lớn lên, thế giới sẽ không có áp bức, không có chiến tranh, không có xung đột mà chỉ có tình thân ái, giúp đỡ, giữ gìn và hưởng thụ hạnh phúc, hòa bình và dân chủ. Chao ôi, tình của Bác thật dạt dào cao cả, ý của Bác thì vô cùng sâu sắc, nhìn xa, thấy rộng. Cho đến bây giờ, những lời căn dặn, khuyên nhủ, dạy bảo của Bác năm nào cho đến bây giờ vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi và giá trị thiết thực của nó.

Năm 1952, Bác không có thư cho Ngày Quốc tế Thiếu nhi, nhưng lại có thư Trung thu gửi các cháu thiếu nhi. Vẫn tình cảm vô cùng dạt dào nồng thắm ấm tình người, Bác thổ lộ tâm tình: “Ai yêu các nhi đồng/ Bằng Bác Hồ Chí Minh“; Bác căn dặn các cháu : “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tùy theo sức của mình“, để mãi mãi xứng đáng “Cháu Bác Hồ Chí Minh”. Năm 1953, trên báo Nhân Dân số 115, từ ngày 1 đến 5-6-1953, Bác gửi đăng bức “Thư gửi nhi đồng trong nước và ngoài nước nhân ngày 1-6”. Lần này, Bác lại thể hiện tình thân ái, ân cần, trìu mến và thân thương nhất không chỉ đối với các cháu nhi đồng trong nước mà cả với “nhi đồng các nước bạn và nhi đồng thế giới”. Bác còn đặc biệt “gửi lời khen ngợi các cháu trong vùng bị tạm chiếm đã hăng hái tham gia kháng chiến”.

Ngày 7-5-1954, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta. Đất nước còn bộn bề khó khăn và công việc, Bác và Trung ương vẫn chưa về tiếp quản thủ đô, nhưng Bác vẫn không quên gửi bức thư ngắn cho các cháu nhi đồng toàn quốc nhân ngày 1-6. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Bác vẫn căn dặn các cháu phải ngoan ngoãn, chú ý rèn luyện cả về nhân cách và thể lực để trở thành công dân có sức khoẻ và tiến bộ. Năm 1955, nhân ngày 1- 6, Bác liên tiếp có hai bài viết, một gửi cho các cháu và cán bộ các trường miền Nam (Theo tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh); một đăng trên báo Nhân Dân số 445, ra ngày 1-6-1955. Lần này, Bác lại vẫn nhắc đến vấn đề đoàn kết. Và trong hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ, Bác nhấn mạnh rằng: “Trước hết, các cháu phải thương yêu giúp đỡ nhau, phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết giữa các cháu lớn và các cháu bé… giữa các cháu vùng này với các cháu vùng khác… giữa các cháu và các cô, các chú cán bộ”. Bác nhắc các cháu thiếu nhi các trường miền Nam phải “yêu lao động, giữ kỷ luật. Chớ tự do phóng túng, phải tự lực cánh sinh… thi đua học tập, thi đua trong mọi việc…”. Không những thế, Bác còn căn dặn các cô, các chú cán bộ “phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình” để chăm nom, bồi dưỡng các cháu – những người chủ tương lai của nước nhà”. Bác nhấn mạnh rằng: “Ngày 1-6 nhắc nhủ người lớn (trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo, Đoàn thanh niên) nhiệm vụ của mình đối với nhi đồng”, “Yêu quí các em” là phải lấy “tinh thần dân chủ mới mà giáo dục các em “5 điều yêu”: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu quí của công”, và nuôi dạy các em phát triển sức khỏe, trí óc, “thành trẻ em có “4 tính tốt”: hoạt bát, mạnh dạn, chất phác, thật thà”… và có “tư cách của con người mới: Không sợ khó, không sợ khổ, bạo dạn, bền gan”. Bác nhấn mạnh rằng: “8, 9 năm qua, chúng ta kiên quyết kháng chiến; hiện nay chúng ta kiên quyết đấu tranh cho hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước – cũng nhằm mục đích xây dựng cho con cháu chúng ta một đời sống sung sướng, vui tươi, thái bình, hạnh phúc. Đồng thời chúng ta phải khéo giáo dục để mai sau nhi đồng trở thành công dân có tài, có đức”, xứng đáng là người chủ của nước nhà.

Ba tháng trước lúc Người đi xa, cũng nhân dịp ngày 1-6, Bác đã có lời căn dặn toàn Đảng, toàn dân cần “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng” (báo Nhân Dân, số 5526, ngày 1-6-1969). Bác khẳng định: “Nói chung trẻ con ta rất tốt”, Bác nhắc đến các cháu thiếu nhi ở hai miền Nam, Bắc thi đua làm nghìn việc tốt như thế nào, thành tích ra sao. Tuy nhiên, “vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn”. Nói thế là Bác muốn nhắc đến vai trò và trách nhiệm của người lớn đối với các em. Người luôn cho rằng: “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ…”. Bác kêu gọi mọi người: “Vì tương lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”. Chuẩn bị cho ngày đi gặp các cụ Các Mác, Lênin, trong Di chúc của mình, Người lại nói: “…Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Ôi, lời Bác, tình Bác đã, đang và sẽ là hành trang cho bao thế hệ trẻ bước vào đời và đang vĩnh hằng cùng năm tháng…

Nguồn: Báo Đồng Nai
Hoàng Giai tuyển của nhiều tác giả -NXB Thanh niên, 1999.
Theo http://phuly.edu.vn
Thu Hiền (st)

Khắc sâu và làm theo những lời dạy của Bác về xây dựng Đảng

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng “đạo đức, văn minh” lãnh đạo dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ vừa có tính cấp bách, vừa có tính thường xuyên, lâu dài của một Đảng cầm quyền. Người luôn căn dặn: Vai trò lãnh đạo của Đảng không tự nhiên mà có, không phải cứ tự nhận mà được. Đó là kết quả của một quá trình vận động của lịch sử, được thực tế chứng minh là hoàn toàn hợp quy luật. Đảng sẽ không thể làm tròn nhiệm vụ, không thể đóng vai trò lãnh đạo được nữa, nếu Đảng bị suy yếu. Người khẳng định: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân(1). Vì vậy, việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn không chỉ là công việc thường xuyên của bản thân Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giành, giữ chính quyền, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược mà trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế càng đặt ra một cách quyết liệt, triệt để hơn.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên liệu về sự vận động của bản thân Đảng trong quá trình biển đổi, phát triển của tình hình cách mạng và chỉ rõ tất yếu khách quan của công tác phải xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong tác phẩm phẩm Sửa đổi lối làm việc năm 1947, Người đã chỉ ra một số cán bộ đảng viên trở nên thoái hoá biến chất, vì thế nguy cơ xa dần, mất dần quần chúng đã đến rất gần, xuất hiện căn bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chuyên quyền… Đồng thời, Người cũng chỉ rõ nguyên nhân và biện pháp để khắc phục những căn bệnh nói trên.

Năm 1950, tại Việt Bắc, trong Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong, Người nói: “… Tự phê bình và phê bình phải thật thà vạch khuyết điểm. Có lỗi mà không vạch ra không khác gì người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc… Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cao cấp phải làm gương trước…”(2). Cũng tại đây, thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thức trắng đêm trăn trở, suy nghĩ và đành hạ bút bác đơn xin ân xá khỏi án tử hình của tử tù Trần Dụ Châu – người mà hơn một năm trước, Bác đã ký quyết định phong quân hàm sĩ quan cao cấp quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng chỉ hơn một năm sau, con người này đã suy thoái đạo đức, làm ảnh hưởng đến thanh danh và uy tín của Đảng, của quân đội. Quyết định của Người để làm gương và củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tập hợp sức mạnh của cả nước vào cuộc kháng chiến, không để “một con sâu” như Trần Dụ Châu làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và cán bộ, đảng viên.

Năm 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bước vào giai đoạn gay go, quyết liệt, nhân nói chuyện tại buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ dân, chính, đảng các cơ quan Trung ương Người nói: “Nếu Đảng đã thập toàn thập mỹ thì tại sao lại phải chỉnh? Là vì có số đông đảng viên gương mẫu, tận tâm tận lực phục vụ cách mạng, nhân dân, giai cấp, nhưng còn một số, không phải là ít, không làm đúng chính sách của Đảng, của chính phủ, không đi đúng đường lối của nhân dân, còn yếu… Những đảng viên ấy chưa thực sự đứng đắn cho nên phải chỉnh”.

Những lời dạy của Bác về xây dựng Đảng và tấm gương đạo đức sáng ngời của Người có sức lan toả sâu rộng, cảm hoá lòng người mạnh mẽ, là động lực tinh thần giúp cán bộ đảng viên khắc phục mọi khó khăn, đoàn kết một lòng, tập hợp mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ, đưa cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa và sức mình là chính đến thắng lợi hoàn toàn bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tại các kỳ Đại hội, Hội nghị, các buổi nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu nhiệm vụ tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng để lại cho dân tộc Việt Nam, Người căn dặn “còn non, còn nước còn người. Chiến thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”, trong đó, Người đặc biệt bày tỏ mong muốn, sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta giành được thắng lợi hoàn toàn, thì “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi(3). Khắc sâu lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta chung sức đồng lòng, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối vào năm 1975.

Đại hội VI của Đảng – mốc son đánh dấu khởi xướng đường lối đổi mới: Đổi mới tư duy trong mọi lĩnh vực hoạt động của Đảng và Nhà nước là việc cấp bách, đồng thời là việc thường xuyên, lâu dài, trong đó đặc biệt coi trọng “đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác” (4). Bốn vấn đề này, các đại hội sau đã bổ sung khía cạnh này hay khía cạnh khác, nhưng nhìn chung đều nói lên bản thân Đảng ta – với tư cách là đảng cầm quyền – phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn!

Sự nghiệp đổi mới của dân tộc ta bước đầu đạt được những kết quả nhất định – cơ sở “sức đề kháng” để Đảng và dân tộc Việt Nam chống lại mọi ảnh hưởng bất lợi, cản trở con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Trước sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta vững vàng trên con đường đi lên CNXH, tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 không chỉ đưa ra những nội dung quan trọng về: Mô hình xã hội XHCN ở Việt Nam; chính thức đưa vào Văn kiện “Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động”… mà còn chỉ rõ: “Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo” (5). Đảng tự đổi mới, tự chỉnh đốn không phải chỉ tiến hành một lần, trong một thời gian ngắn là đủ. Vì vậy, Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn… đây là một quy luật phát triển của Đảng”(6). Đại hội VII của Đảng đòi hỏi phải “khai trừ khỏi Đảng những đảng viên thoái hoá, biến chất về chính trị và đạo đức, gây chia rẽ, bè phái, tham ô, hối lộ, ức hiếp quần chúng. Đưa ra khỏi Đảng bằng những hình thức thích hợp những đảng viên không tha thiết với Đảng, giảm sút ý chí chiến đấu”.

Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng cũng đã chỉ ra bốn nguy cơ của cách mạng Việt Nam:“Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chỉ đạo thực hiện; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác; âm mưu và hành động diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch”(7). Bốn nguy cơ này đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, đang trở thành những thách thức hiển hiện trong thực tế và ngày càng trở nên bức thiết đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và Đảng lãnh đạo nói riêng!

Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác xây dựng đảng chỉ rõ: “Vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Vậy chạy ai? Ai chạy? Đó là câu hỏi và là một vấn đề nhức nhối trong Đảng! Công tác chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và các tiêu cực khác trong toàn xã hội và trong nội bộ Đảng chưa đạt được hiệu quả cần thiết! Trước tình trạng đó, những lời dạy của Bác năm xưa về công tác xây dựng Đảng vẫn còn nguyên giá trị, luôn được Đảng ta đặt lên hàng đầu và được tiến hành đổi mới trên cả 3 mặt: Tư tưởng, chính trị và tổ chức! Đại hội IX của Đảng khẳng định: Phải coi xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ then chốt, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Đảng ta, là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tại Đại hội X, Đảng ta chỉ rõ: Tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với nhân dân. Cùng với thực hiện nghị quyết Đại hội X, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 06-CT/TƯ ngày 07 tháng 11 năm 2006 về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Kết quả sau hơn 20 năm tiến hành đổi mới, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; sức mạnh về mọi mặt được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao… là thước đo năng lực, uy tín và hiệu quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội XI của Đảng khẳng định: Thực tiễn phong phú và những thành tựu đạt được qua 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn phù hợp quy luật khách quan và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Song, bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục… Đại hội XI của Đảng chỉ ra “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng”(8). Từ “một bộ phận” đã lan ra “một bộ phận không nhỏ” như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” chỉ rõ: Tình trạng ấy không chỉ ở “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên mà “trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”(9). Không chỉ nói thẳng, nói đúng, nói trúng sự thật, chỉ ra hạn chế, yếu kém, Nghị quyết TƯ 4 còn đưa ra mục tiêu, phương châm, đặc biệt là một số giải pháp để khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong quá trình lãnh đạo của Đảng “nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”.

Thực hiện Chỉ thị 03CT/TƯ của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) thể hiện quyết tâm của Đảng xây dựng một đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, tiếp bước truyền thống vẻ vang lãnh đạo hơn 83 năm qua vào thực tiễn công cuộc đổi mới và hội nhạp quốc tế hôm nay. Đảng đã lãnh đạo dân tộc đánh thắng giặc ngoại xâm, đẩy lùi giặc dốt và đói nghèo, nhất định sẽ đẩy lùi được những tiêu cực mà Bác Hồ gọi là giặc “nội xâm”, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, cùng dân tộc Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như sinh thời Bác Hồ hằng mong.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập,  t.12, Nxb CTQG, H.2002, tr.557-558. (2)t.6, tr.110. (3) Sđd, t.12, tr.503. (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Sđd, tr.124. (5)Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb CTQG, H.1991, tr.21. (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H.1998, tr.47. (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.53, tr.198. (8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, H.2011, tr.173. (9) Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCHTW ĐCSVN (khoá XI),Nxb CTQG, H.2012, tr.27-28.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

Nguồn: bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Người Đội trưởng mẫu mực

Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, bố là giáo viên cấp 2, anh trai hiện đang là giảng viên của Học viện Chính trị. Tháng 2 năm 1993, Bùi Thái Hiệp vinh dự được tuyển chọn từ những thanh niên ưu tú của huyện Giao Thủy, Nam Định vào công tác tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay sau khi hoàn thành tốt nhiệm vụ, anh đăng ký dự thi và đã trúng tuyển vào Trường Sỹ quan Lục Quân 1.

bui-thai-hiepaĐại úy Bùi Thái Hiệp

Qua 5 năm học tập, khổ luyện trong môi trường Lục quân đã hun đúc cho anh bản lĩnh, nghị lực, sự tự tin để làm hành trang cho quá trình công tác sau này. Năm 2001, Bùi Thái Hiệp tốt nghiệp với tấm bằng loại Khá, đồng thời được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Niềm vui như được nhân đôi khi anh được điều động về công tác tại đơn vị Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Về đơn vị anh được bổ nhiệm giữ chức vụ Phân đội trưởng, Đội Cảnh vệ đặc biệt, nhiệm vụ chính là đón tiếp, hướng dẫn đồng bào và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác, bảo vệ nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bảo vệ tham quan trước và sau Lăng. Nhận thức được niềm vinh dự càng cao thì trách nhiệm càng lớn, anh luôn giáo dục cho bộ đội nâng cao ý thức trách nhiệm, mỗi ca, mỗi kíp trực là mỗi lần làm lễ viếng Bác cho nên thái độ phải trang nghiêm, đón tiếp đồng bào phải ân cần chu đáo, niềm nở bên cạnh đó phải luôn nâng cao cảnh giác bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Trong công việc, anh thường xuyên nhắc nhở bộ đội phải cụ thể, lễ tiết tác phong, xưng hô chào hỏi phải nghiêm cách, chuẩn mực; mang mặc đúng lễ tiết tác phong, trang phục chỉnh tề cũng là để thể hiện thái độ tôn trọng đối với khách. Do vậy, anh thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở bộ đội trong mọi công việc đến từng việc làm cụ thể. Với suy nghĩ mộc mạc “lấy đơn vị là nhà” nên phần lớn thời gian anh đều dành cho đơn vị, tuy gia đình chỉ cách đơn vị vài cây số, những tuần không trực anh vẫn thường xuyên có mặt ở đơn vị để nắm bắt và động viên bộ đội.

Tháng 9 năm 2009, anh được bổ nhiệm giữ chức Phó đội trưởng. Anh cho biết: “Mỗi việc làm và hành động của cán bộ đều có tác động tới nhận thức và hành động của chiến sỹ cho nên bản thân cán bộ trước hết phải gương mẫu trong lời nói và việc làm”. Năng nổ, nhiệt tình trong công việc nhưng anh cũng rất quan tâm chăm lo đời sống cho bộ đội. Anh chia sẻ: Theo quy định của đơn vị đối với những chiến sỹ quê ở Hà Tĩnh, Nghệ An được đi tranh thủ 05 ngày. Tuy nhiên bộ đội đến ngày thứ tư đã lên đơn vị, nắm bắt được lý do vì nếu để hôm sau đi sẽ không có xe trở về đơn vị kịp thời gian, vì vậy anh đã mạnh dạn trình bày và được cấp trên nhất trí tạo điều kiện giải quyết thời gian trả phép lùi đến 07giờ sáng ngày hôm sau, sự việc này được bộ đội rất phấn khởi.

Với kết quả và thành tích đã đạt được, tháng 2 năm 2011, Đại úy Bùi Thái Hiệp được cấp trên tin tưởng bổ nhiệm giữ chức Đội trưởng, Phó Bí thư Chi bộ Đội cảnh vệ đặc biệt. Trên cương vị công tác mới, hàng tháng anh cùng tập thể Chi bộ thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu cao ý thức phê bình, tự phê của từng đảng viên, chân thành giúp đỡ nhau sửa chữa những khiếm khuyết, học tập cái hay, cái tốt để cùng tiến bộ. Anh thường xuyên giáo dục cho cán bộ, chiến sỹ về ý thức cảnh giác cách mạng, giữ mối đoàn kết nội bộ, phát huy tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên, thực hiện nói đi đôi với làm.

Anh tâm niệm: Để có được sự yêu mến của đồng chí, đồng đội phải luôn trau dồi về phẩm chất, đạo đức, tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, gương mẫu trong cách sống và cách ứng xử. Nhờ đó, anh luôn nhận được sự tin tưởng của cấp trên, được cán bộ chiến sỹ mến phục.

Ghi nhận những thành tích của Đại úy Bùi Thái Hiệp, năm 2012 anh được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, là một trong những cá nhân tiêu biểu trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh./.

 Nghiêm Đức Khởi

Nguồn: bqllang.gov.vn
Vkyno (st)