Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Thư ngỏ gửi ông Anbe Xarô, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa (25-7-1922)

Thưa ngài,

Chúng tôi hoàn toàn hiểu rõ rằng, đối với dân bản xứ ở thuộc địa nói chung và đối với dân An Nam nói riêng, lòng thương yêu của Ngài thật là bao la rộng rãi.

Dưới quyền cai trị của Ngài, dân An Nam đã được hưởng phồn vinh thật sự và hạnh phúc thật sự, hạnh phúc được thấy nhan nhản khắp trong nước, những ty rượu và ty thuốc phiện, những thứ đó song song với những sự bắn giết hàng loạt, nhà tù, nền dân chủ và tất cả bộ máy tinh vi của nền vǎn minh hiện đại, đã làm cho người An Nam tiến bộ nhất châu á và sung sướng nhất trần đời.

Hành động nhân ái ấy đủ để chúng tôi không cần nhắc lại tất cả những hành động khác như: bắt lính và bắt mua công trái, đàn áp đẫm máu, truất ngôi và đầy biệt xứ một ông vua, xâm phạm và làm ô uế những nơi linh thiêng, v.v..

Thật đúng như câu thơ chữ Hán đã tả: Gió âu yếm thổi chiều quạt phẩy, mưa nghĩa nhân đón vết xe lǎn (26) . Được nắm quyền tối cao cai quản các thuộc địa, danh vọng của Ngài càng cao bao nhiêu thì sự quan tâm đặc biệt của Ngài đối với những người Đông Dương càng tǎng lên bấy nhiêu. Ngài đã cho thiết lập ngay ở Pari một cơ quan đặc trách để theo dõi những người bản xứ cư trú trên đất Pháp, đặc biệt là theo dõi những người Đông Dương, như một tờ báo thuộc địa đã nói rõ.

Nhưng chỉ “theo dõi” không thôi thì thấy hình như chưa xứng với tấm lòng thương yêu của Ngài như bậc cha mẹ, nên Ngài còn muốn gia ơn hơn nữa. Vì vậy mà gần đây, Ngài đã ban cho mỗi người An Nam – người An Nam yêu quý, như ngài thường nói – nhiều người “hầu cận” đặc biệt. Tuy những người này còn ấu trĩ trong nghệ thuật của Séclốc Hôm (1) , nhưng họ cũng đã tỏ ra rất tận tụy và rất đáng yêu. Chúng tôi chỉ còn biết khen ngợi họ và ca tụng người cầm đầu họ là Ngài.

Chúng tôi thành thật lấy làm cảm động được Ngài dành cho vinh dự đó, và chúng tôi có lẽ sẽ tiếp nhận vinh dự đó với tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất, nếu vinh dự ấy đối với chúng tôi xét ra không phải là có hơi thừa, và không gây ra những sự ghen tị và suy bì.

Trong lúc Nghị viện đang tìm cách tiết kiệm chi tiêu, hạn chế số nhân viên các cơ quan hành chính; trong lúc ngân sách bị thâm hụt nhiều, nông nghiệp và công nghiệp thiếu nhân công; trong lúc phải hạn chế tiền lương của người lao động và trong lúc việc phục hồi dân số đòi hỏi phải sử dụng mọi nǎng lực vào việc sản xuất, – trong lúc như thế, chúng tôi lại cứ tiếp nhận những đặc ân riêng cho cá nhân mình, gây ra lãng phí sức lực của những người công dân bị đày vào cảnh vô công rồi nghề như những người “hầu cận” nói trên, và gây ra sự tiêu phí tiền bạc mà giai cấp vô sản đã đổ mồ hôi sôi nước mắt mới kiếm ra được, – thì quả là không yêu nước tý nào.

Vì vậy, tuy rằng vẫn là kẻ đội ơn Ngài, chúng tôi cũng trân trọng xin Ngài miễn cho cái đặc ân ấy, đối với chúng tôi thì nó quý hoá thật, nhưng đối với nước nhà thì lại là quá lãng phí.

Nếu Ngài nhất thiết cần biết hằng ngày chúng tôi làm gì thì rất dễ thôi: cứ mỗi buổi sáng chúng tôi sẽ phát hành một bản tin về sự đi lại của chúng tôi và Ngài chỉ việc đọc là biết.

Vả lại, thời khoá biểu của chúng tôi rất giản đơn và hầu như cố định.

Sáng: Từ 8 đến 12 giờ ở xưởng máy.

Chiều: ở phòng báo chí (dĩ nhiên là báo của phái tả), hoặc ở thư viện.

Tối: ở nhà riêng, hoặc dự những buổi nói chuyện bổ ích.

Chủ nhật và ngày lễ: Thǎm nhà bảo tàng hay những nơi bổ ích khác.

Chỉ có thế thôi!

Hy vọng rằng cách này vừa tiện, vừa hợp lý có thể làm Ngài hài lòng được, chúng tôi xin kính gửi Ngài, v.v..

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 25-7-1922.
cpv.org.vn

Khai hoá giết người (1-8-1922)

Cũng trên mục diễn đàn này, gần đây chúng tôi đã nêu lên một loạt những vụ giết người mà thủ phạm là những kẻ đi “khai hóa” của chúng ta, nhưng vẫn không bị trừng phạt. Than ôi! quyển sổ đoạn trường ấy cứ mỗi ngày một dài thêm, thật là đau xót.

Lại mới đây thôi, một người An Nam, trạc 50 tuổi, làm công cho sở xe lửa Nam Kỳ đã 25 năm nay, bị một viên chức người da trắng giết. Sự việc như sau:

Anh Lê Văn Tài điều khiển bốn người An Nam khác làm việc dưới quyền mình. Phận sự của họ là đóng cầu mỗi khi có xe lửa đi qua và mở cầu cho tầu bè qua lại. Theo lệnh đã quy định thì phải đóng cầu 10 phút trước khi xe lửa đi qua.

Ngày 2 tháng 4, hồi 16 giờ 30, một người trong bọn họ mới đóng cầu và hạ tín hiệu xuống, vừa lúc một chiếc thuyền máy công đi đến, trên thuyền chở một viên chức xưởng đóng tàu của hải quân đi săn về. Chiếc thuyền máy kéo còi lên. Nhân viên người bản xứ liền ra đứng giữa cầu, phất cờ đỏ báo cho những người trên thuyền máy biết rằng xe lửa sắp chạy qua và do đó cầu đã đóng rồi. Và sau đây là câu chuyện đã xảy ra: Chiếc thuyền máy ghé sát vào trụ cầu. Người viên chức Pháp liền nhảy lên bờ và hầm hầm tiến về phía người An Nam. Anh này khôn ngoan, chạy trốn về phía nhà ông Tài là “xếp” của mình. Người viên chức kia đuổi theo, lấy đá ném anh ta. Nghe có tiếng ồn ào, Tài liền chạy ra đón vị đại diện của nền văn minh, viên này mắng ngay: “Đồ súc vật, tại sao mày

không mở ra ?”. Vốn không biết tiếng Pháp, Tài chỉ còn biết trả lời bằng cách trỏ vào cái tín hiệu đỏ. Cử chỉ đơn giản ấy làm cho ông cộng tác viên của Ngài Lông nổi xung lên. Không phân phải trái gì, ông ta nhảy xổ vào Tài và sau khi đã “khiền” cho một trận, còn đẩy anh vào một đống than hồng ở gần đó.

Người An Nam gác cầu ấy bị bỏng một cách rùng rợn, được chở đến nhà thương, và sau sáu hôm cực kỳ đau đớn anh đã chết tại nhà thương.

Người viên chức kia vẫn được vô sự không có gì phải lo lắng cả. Trong lúc ở Mácxây, người ta triển lãm cảnh phồn thịnh giả tạo (27) của xứ Đông Dương thì ở An Nam đang có những người bị chết đói. ở bên này, người ta ca tụng lòng trung thành, còn ở bên kia, người ta đang giết người! Như vậy nghĩa là thế nào hỡi Đấng chí tôn Khải Định và Cụ lớn Xarô ?

NGUYỄN A.Q.

T.B.- Trong khi tính mệnh của một người An Nam bị xem như thân con chó, không đáng giá một đồng trinh, thì Ngài Tổng thanh tra Rêna, bị sướt có một chút da ở cánh tay mà được lĩnh 120.000 phrăng tiền bồi thường. Ôi, bình đẳng! Bình đẳng quý hoá thay!

Báo Le Paria, số 5, ngày 1-8-1922.
cpv.org.vn

—————————

(27) Hội chợ triển lãm thuộc địa Mácxây: Nǎm 1922, tại thành phố Mácxây (miền Nam nước Pháp), Chính phủ Pháp mở Hội chợ triển lãm thuộc địa, trưng bày các sản vật mang từ các thuộc địa của Pháp sang, để nói lên sự giàu có của thuộc địa và công lao khai hoá của người Pháp, đồng thời kêu gọi tư bản Pháp bỏ vốn kinh doanh và khai thác ở các thuộc địa. Tr.95.

Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp (1-8-1922)

Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Bạo lực đó, đem ra đối xử với trẻ em và phụ nữ, lại càng bỉ ổi hơn nữa.

Thật là một sự mỉa mai đau đớn khi ta thấy rằng vǎn minh dưới nhiều hình thức khác nhau, như tự do, công lý, v.v. – được tượng trưng bằng hình ảnh một người đàn bà dịu hiền và được một hạng người nổi tiếng là hào hoa phong nhã ra sức điểm tô – lại đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người đàn bà bằng xương bằng thịt và xúc phạm một cách vô liêm sỉ tới phong hoá, trinh tiết và đời sống của họ.

Thói dâm bạo ở thuộc địa là một hiện tượng phổ biến và tàn ác không thể nào tưởng tượng được. ở đây chúng tôi chỉ tạm nêu ra một vài sự việc mà những người vô tư đã chứng kiến và kể lại những điều tai nghe mắt thấy, để chị em phụ nữ phương Tây hiểu rõ giá trị của cái gọi là “sứ mạng khai hoá” mà bọn tư bản đã giành lấy độc quyền thi hành, đồng thời hiểu rõ nỗi đau khổ của chị em phụ nữ ở thuộc địa.

Một người ở thuộc địa kể lại rằng: “Khi bọn lính kéo đến, dân chúng chạy trốn cả, chỉ còn lại hai cụ già và hai phụ nữ, một thiếu nữ còn tân và một phụ nữ đang cho đứa con mới đẻ bú, tay dắt một em gái nhỏ lên tám. Bọn lính đòi tiền, rượu mạnh và thuốc phiện.

Không ai hiểu chúng nói gì, thế là chúng nổi giận lấy báng súng nện một cụ già ngất đi, rồi còn một cụ thì trong mấy giờ liền, hai tên trong bọn lính, khi kéo đến đã say bí tỉ, đem thiêu trong một đống củi cành khô làm trò vui với nhau. Trong khi đó, thì những tên khác hiếp hai phụ nữ và em gái nhỏ, chán rồi, chúng giết chết em bé. Lúc đó, người mẹ bồng đứa con kia trốn được, rồi từ trong một cái bụi cây cách đấy độ 100 mét, trông thấy người chị em mình đang bị hành hạ. Duyên cớ làm sao, chị chẳng biết, chị chỉ thấy người thiếu nữ bị đặt ngửa trên mặt đất, tay chân bị trói chặt, miệng bị bịt lại, còn một tên lính thì lấy lưỡi lê cứ từ từ, từng nhát một, chọc vào bụng chị, rồi lại chầm chậm rút ra. Sau đó, chúng chặt ngón tay người thiếu nữ đã chết để cướp lấy chiếc nhẫn và chặt cổ để cướp lấy chiếc vòng.

“Trên mảnh đất bằng phẳng trước kia là ruộng muối, ba cái xác chết nằm đó: em bé bị lột truồng, thiếu nữ bị mổ bụng, cánh tay trái cứng đờ giơ lên trời vô tình, bàn tay nắm chặt. Còn xác ông cụ già thì ghê gớm làm sao, cũng trần truồng như thế, nhưng vì bị thiêu cháy nên không nhận ra hình thù được nữa, mỡ chảy lênh láng đã đọng lại và da bụng thì bị phồng lên, chín vàng, óng ánh như da con lợn quay vậy”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 5, ngày 1-8-1922.
cpv.org.vn

“Sở thích đặc biệt” (1-8-1922)

Từ khi đến Pari, Khải Định, Hoàng đế nước An Nam đã thành mục tiêu bao vây theo như thường lệ của một số bà buôn son bán phấn. Họ đã dâng lên Ngài Ngự nhiều bức thư nồng nàn tình tứ và nhiều tấm ảnh khêu gợi. Nhưng Khải Định vốn là bậc hiền triết, Ngài Ngự bèn truyền đem tất cả thư và ảnh ấy vứt vào sọt rác, và ai hỏi, Ngài Ngự cũng đều từ chối không trả lời gì hết.

Ông Anbe Xarô đã trả lời một mỹ nhân hỏi về việc đó như sau:

– Ấy, Hoàng thượng Ngài có những sở thích rất đặc biệt.

Bà này rất đỗi ngạc nhiên và muốn hỏi cặn kẽ thêm, nhưng ông Bộ trưởng Bộ Thuộc địa đã đánh trống lảng:

– Hoàng thượng Ngài chỉ thích đọc sách thôi.

Bà ta lại hỏi:

– Thế hiện giờ Hoàng thượng đang đọc gì?

Ông Anbe Xarô trả lời:

– Platông.

(Nghe Lỏm)

Bảo rằng Hoàng đế Khải Định là bậc hiền triết, điều đó ta không nghi ngờ gì cả. Nhưng hiền triết thì cũng không phải là không cần lễ độ, và chúng tôi mạn phép kính tâu Hoàng thượng rằng cử chỉ của Ngài dù uy nghi đến đâu chăng nữa nhưng vẫn hoàn toàn thiếu lịch sự. Riêng chỉ nghĩ rằng những bà lịch sự kia, vì ham chuộng những cái của vua chúa mà bị khinh miệt một cách phũ phàng như thế ắt không khỏi sẽ trút tất cả mối căm thù ghê gớm của các bà vào những đề tài về Hoàng thượng, là người ta cũng đủ run lên rồi. Quan lớn Bộ trưởng vốn có tài ăn nói. Ông lại rất am hiểu chữ nghĩa của nước ông. Vậy mà câu ông trả lời mỹ nhân lại rất mập mờ. Ông dùng chữ “sở thích đặc biệt”, thật ra là muốn nói gì nhỉ? Có phải ngẫu nhiên mà, mặc dầu vừa mới chân ướt chân ráo tới cái thành phố ánh sáng này, Đức Hoàng thượng rất ư thông thái và đầy tâm hồn nghệ sĩ đã làm quen được ngay với một nghệ sĩ nổi tiếng và một thi sĩ lừng danh rồi chăng? Đặt câu hỏi như thế, chính là đã trả lời rồi đó. Sau khi mỹ nhân muốn hỏi cặn kẽ thêm, và sau khi quan lớn Bộ trưởng đánh trống lảng, thì cái câu nói mập mờ rất hùng biện kia vẫn còn tiếp tục thêm rằng: tuy trong chữ Théétète (1) có chữ Thé (như Víchto Huygô từng nói), chúng ta vẫn không tin rằng Hoàng thượng lại hạ cố đến những tác phẩm của người thầy học của Arixtốt, vì Hoàng thượng vẫn luôn luôn phải có người thông ngôn mới hiểu được tiếng Pháp (và cả tiếng Hy Lạp nữa) kia mà. Cho nên khi ông Bộ trưởng nói rằng Hoàng thượng hiện đang đọc Platông là ông chưa nói hết cái chữ mà ông định nói: Chắc là ông định nói chữ Platô…ních (2)đấy mà.

Amicus Plato, sed magis amica veritass1)

Và chúng tôi xin trả lời:

“Ông bạn Platông ơi, Hoàng thượng chỉ thích xem thôi”.

NG.A.Q.

Báo Le Paria, số 5, ngày 1-8-1922.
cpv.org.vn

—————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

Thư gửi Khải Định (9-8-1922)

Kính gửi: Hoàng thượng Khải Định An Nam Hoàng đế
Vĩnh biệt V.V.C.

Ngài đã đến – hay nói cho đúng hơn là người ta đã đưa Ngài đến, coi như một món hàng thuộc địa và có thể trưng bày ở Hội chợ. Người ta định đem Ngài bày ít nhất là vài ba tháng trong tủ kính xinh xẻo, nhưng mỏng manh và có thể bị huỷ hoại. Thế mà Ngài lại ra đi, hay nói cho đúng hơn, là người ta đã buộc Ngài phải cuốn gói ra đi. Được ǎn ở sang trọng tại phố Uđinô, được ru êm ấm trong tay của điện hạ Xarô – ông Hoàng An Nam và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa- như trên tay một người cha, thế mà Ngài vẫn kêu là còn rét. Nếu tất cả đồng bào của Ngài – những người đã từng dấn thân trong bùn lầy, sương tuyết và dưới làn mưa đạn trên chiến trường ở nước Pháp, những người đã và đang bị đày đoạ dưới tiết trời rét như cắt da cắt thịt, đã và đang bị đe doạ bởi những kẻ mà họ tấn công, – nếu tất cả những người đó đều nói như Ngài đã vội ch…uồn ngay, chớ chẳng chịu liều mạng – cố nhiên là liều cái mạng không đế vương bằng, nhưng dẫu sao cũng quý báu – thì Ngài có thể lấy đâu ra được để tỏ cái lòng trung quân dễ kiếm và lòng trung thành rẻ rúng để làm vừa ý cái ông chủ của Ngài, như Ngài đã từng tỏ ra ở Nôgiǎng hay ở những nơi khác?

Ngoài vấn đề tình cảm ra, và ngoài mấy con ngựa cái ở trường đua Lôngsǎng cùng những vẻ đẹp cổ đại ở nhà hát Ôpera ra thì Ngài đã thấy gì trong suốt thời gian “tham quan” của Ngài ở cái nước Pháp lạc thú này?

Ngài có thấy được nguyện vọng thiết tha mong muốn công lý, tự do và lao động của quần chúng rộng rãi của dân tộc Pháp này không? Ngài có thấy được tình cảm cao cả yêu chuộng hoà bình và hữu nghị đang làm rung động trái tim của quần chúng đó, – số quần chúng mà, qua những cuộc cách mạng giải phóng, giờ đây đã giải phóng mình khỏi ách của bọn vua chúa, để trở thành kẻ tự mình làm chủ mình đó không?

Qua những lời tán tụng hèn hạ trong những bài diễn vǎn của mấy nhà đương cục và trong những bài báo được trợ cấp tiền của mấy tờ báo “lương thiện” ra, Ngài còn có nghe thấy gì nữa không? Ngài có được nghe người ta nói đến Paxtơ hay Vônte, Víchto Huygô hay Annatôn Phrǎngxơ không? Ngài có được nghe người ta nói đến bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền không? Ngài có được nghe người ta kể lại lịch sử của cuộc cách mạng bất diệt không?

Sau những xúc động mạnh mẽ khi xem những đại bác, xe tǎng hoà bình diễu qua, thì trong cái đầu chít khǎn của Ngài đã vội chớm nở nỗi nhớ nhà, thế là Ngài vội vã cuốn gói ra đi! Ngày mai đây, Ngài sẽ xuống tàu, và Ngài sẽ lại trông thấy những biển cả ven theo đất nước của người Ai Cập và người ấn Độ. Hoà lẫn với tiếng sóng gầm vang, những tiếng thét dữ dội của nhân dân bị áp bức ở các nước này, cũng như của nhân dân nước Ngài, sẽ xé tan bầu không khí yên tĩnh bên tai Ngài. Và nếu như Ngài có đôi chút óc tưởng tượng, Ngài sẽ thấy rằng ý chí của nhân dân – một ý chí đã được hun đúc trong nghèo đói và khổ cực – một ý chí còn mạnh hơn và dẻo dai hơn sóng cả, cuối cùng sẽ khoét hổng dần và đánh bật cái tảng đá bề ngoài có vẻ vững chắc là sự áp bức và bóc lột kia đi. Có thể Ngài sẽ tự nhủ rằng cái mà Ngài trông thấy đấy là một chút của nước Pháp đó.

Vĩnh biệt… người đồng hương! Một khi mà những đợt sóng biển vô tình đã lấp kín vết đi của con tàu Ngài ngồi thì nước Pháp sẽ quên Ngài, cũng như Ngài sẽ không còn nhớ chút gì về những người Pháp nữa.

Để giữ kỷ niệm của một nền vǎn minh hiện đại và lớn lao, Ngài mang theo về cung điện của Ngài một chiếc dương cầm, vài cái nhẫn và cả mấy chiếc bật lửa mà Ngài đã đổi được bằng chút ít uy tín mà Ngài để mất mát đi trong trái tim nhân dân của Ngài. Và khi Ngài lại trở về sống giữa đám phi tần và nội thị của Ngài, giữa những sọt giấy lộn và tẩu thuốc phiện của Ngài, thì một vài tên ký lục già sẽ thêu dệt thay Ngài và hộ Ngài để gửi cho nước Pháp mà Ngài không hề hiểu biết một vài câu nịnh hót hay một vài vần thơ lủng củng, dưới đó, những ngón tay đầy nhẫn của Ngài sẽ cầm bút ký cái chữ ký của một vị đế vương là nghệ sĩ và vǎn nhân (!).

Thế là cái ý nguyện bình sinh lớn của Ngài đã được thoả mãn. Và như vậy là hạnh phúc và ấm no của nhân dân An Nam cũng sẽ được xây dựng và củng cố rồi đấy!

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Journal du Peuple, ngày 9-8-1922.
cpv.org.vn

Yêu thương con người – nét đẹp vĩnh hằng trong chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, khi xuống tầu Đô đốc La-tút-xơ Tơ-rê-vin làm phụ bếp để ra nước ngoài tìm đường cứu dân, cứu nước, ngoài chút kiến thức học được ở nhà trường và đôi bàn tay sẵn sàng làm đủ nghề “miễn là lương thiện” để sống và hoạt động. Hành trang của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ là lòng yêu nước và yêu thương con người sâu sắc. Hành trang giản dị ấy, nhưng lại là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, được bổ sung bằng mồ hôi và máu của những phu Cửa Rào, phu đồn điền cao su Lộc Ninh, của hàng loạt những sĩ phu đã bỏ mình vì nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp đầu thế kỷ; truyền thống ấy có lời hát ru của bà, có làn điệu ngọt ngào, da diết của dân ca xứ Nghệ… Tất cả sâu lắng trong lòng Anh, được chính Anh bổ sung, nâng cao và hoàn thiện suốt đời, trở thành lòng nhân ái bao la Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và đặc biệt là nhận thức từ thực tiễn đấu tranh của các dân tộc, có dịp so sánh những người Pháp ở Pháp với những tên thực dân Pháp ở Đông Dương, hoà mình vào cuộc sống của những người lao khổ ở khu Hắc Lem, thành phố Niu oóc… Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận quan trọng: Trên đời này có hai hạng người: Người thiện và người ác, hai thứ việc: Việc chính và việc tà. Trải qua quá trình 10 năm tìm tòi, khảo nghiệm, năm 1920 khi bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở đây con đường giải phóng dân tộc, tìm thấy cái cẩm nang để giải phóng triệt để con người. Đó là độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bởi theo Người, tình yêu thương con người không thể chung chung, trìu tượng, mà thiết thực, cụ thể, trước hết giành cho người mất nước, người cùng khổ, chính vì vậy, Người giành cả cuộc đời Người để lo giải phóng cho dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công. Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân; những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, là vì mục đích đó” .

Với Hồ Chí Minh, tình yêu thương con người là không biên giới. Trước hết, Người lo cho dân tộc của Người và sau đó, Người lo cho tất cả những kiếp người trên hành tinh còn bị đoạ đầy, đau khổ, bởi vì: “Họ là thân thích ruột già, công nông thế giới đều là anh em”.

Tư tưởng yêu thương con người được Hồ Chí Minh nêu lên và vận động mọi người cùng thực hiện suốt cả cuộc đời. Cho tới trước lúc đi xa, trong lời Di chúc, khi để lại: “Muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”, và “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Người vẫn ân cần nhắc nhở toàn Đảng phải tiếp tục chăm lo cho con người. Trước hết là những người đã hy sinh một phần xương máu cho công cuộc kháng chiến, là cha mẹ vợ con thương binh, liệt sỹ, là bà con nông dân, là thanh niên, phụ nữ… lo cho hiện tại, lo đào tạo cho tương lai; Ngay cả “với những nạn nhân của chế độ cũ như: trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… thì nhà nước phải vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”.

Tình yêu thương con người của Bác Hồ là rất cụ thể, từ việc to như lo giải phóng cho con người, khuyến khích: “Phần tốt ở mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị mất dần đi”, đến việc chăm lo từng con người cụ thể, không chỉ: Lụa tặng cụ già, sữa tặng bà mẹ sinh ba, mà là từng bát cơm, manh áo, từ chỗ ở, việc làm để an cư, lạc nghiệp đến tương cà mắm muối hàng ngày cho nhân dân. Bác lo cho cả dân tộc và chăm lo cho từng chiến sỹ bảo vệ, phục vụ quanh Người. Theo Bác: Yêu thương con người là phải tôn trọng, quý trọng con người. Bác đánh giá cao vai trò của nhân dân: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Bác tôn trọng từ các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao công quét rác, bởi theo Bác, từ Chủ tịch nước tới người lao động bình thường, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều được coi trọng, đều vẻ vang như nhau. Theo Bác, yêu thương con người là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Năm 1968, khi làm việc với cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương về việc xuất bản sách “Người tốt, việc tốt”, nhằm tuyên truyền sâu rộng những gương điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất, trong ứng xử giữa những con người, Bác Hồ đã nhắc nhở: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được”.

Yêu thương con người vận dụng vào trong Đảng, trong tổ chức là phải “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại: Vào dịp tháng 5 các năm 1966, 1968, 1969, Bác đều cho mang bản Di chúc đã viết năm 1965 ra để bổ sung, sửa chữa. Năm 1966, bên cạnh câu đã đánh máy từ năm 1965: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”, Bác ghi thêm vào cùng dòng câu: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Chỉ một dòng này thôi, cho thấy sự trăn trở của Người về việc không ngừng rèn luyện đạo đức cho mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bản tự tay đánh máy năm 1965, Bác gạch chân 5 chữ: Tự phê bình và phê bình. Song dường như việc nhấn mạnh, kể cả đặt chữ tự phê bình lên trước phê bình chưa làm Người yên tâm, nên năm 1966 Người bổ sung thêm câu: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Đây chính là đòi hỏi xác định động cơ, hay nói chính xác hơn là cái Tâm của người phê bình. Bởi khi phê bình nhau, cần đúng lúc đúng chỗ đã khó, song mục đích phê bình để giúp đỡ nhau tiến bộ mới quan trọng hơn, cái vũ khí phê bình ấy phải trở thành văn hoá phê bình, chứ không phải là cớ để sát phạt, bới móc nhau.

Yêu thương con người là một trong bốn chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh. Các nhà đạo đức học, các nhà khoa học nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thuận như vậy. Trong 4 chuẩn mực ấy (Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng) không chuẩn mực nào có thể xem nhẹ, vì cả 4 chuẩn mực ấy là tiêu chí để đánh giá con người mới, con người mang dấu ấn đạo đức Hồ Chí Minh.

Nhớ về Người, ôn lại những lời Người dạy về đạo đức, đặc biệt soi vào tấm gương đạo đức của Người, vị lãnh tụ suốt đời tôn trọng nguyên tắc: “Nói thì phải làm”, mỗi người chúng ta càng thêm nhớ Bác, càng cố gắng thiết thực làm theo lời Bác dạy. Mọi người, mọi nhà, mọi cấp, mọi ngành ai ai cũng khuyến khích cho sự nẩy nở phần thiện vốn có ở mỗi con người và chung tay đẩy lùi phần ác cũng luôn rình rập quanh ta – đó chính là thực hiện chuẩn mực yêu thương con người – nét đẹp vĩnh hằng của đạo đức Hồ Chí Minh.

Theo phuly.edu.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Di chúc của Bác là 1 trong 30 bảo vật quốc gia

Bản di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là 1 trong 30 hiện vật, nhóm hiện vật vừa được công nhận là bảo vật quốc gia.

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định công nhận bảo vật quốc gia (đợt 1) cho 30 hiện vật, nhóm hiện vật. Bản di chúc, bản thảo “Nhật ký trong tù”, cuốn “Đường kách mệnh”, bản thảo viết tay “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, bản thảo “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (văn bản Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam sáng ngày 17/7/1966)…là 5 trong số 30 bảo vật quốc gia.

Danh sách 30 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận bảo vật quốc gia, gồm:

1. Trống đồng Ngọc Lũ (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

2. Trống đồng Hoàng Hạ (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

3. Thạp đồng Đào Thịnh (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

4. Tượng đồng hai người cõng nhau thổi khèn (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

5. Cây đèn đồng hình người quỳ (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

6. Trống đồng Cảnh Thịnh (thời Tây Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

7. Ấn đồng “Môn Hạ Sảnh ấn” (thời Trần, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

8. Bình gốm hoa lam vẽ Thiên Nga (thời Lê sơ, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

9. Cuốn “Đường Kách mệnh” (tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

10. Tác phẩm “Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) (tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

11. Bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (bản viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

12. Bản thảo “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (văn bản Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên đài Tiếng nói Việt Nam sáng ngày 17/7/1966, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh).

13. Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (văn bản gốc Bác Hồ viết từ ngày 10/5/1965 – 19/5/1969, hiện lưu giữ tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).

Bản di chúc của Bác Hồ có dòng ghi chú “Tuyệt đối bí mật”

14. Tượng Phật Đồng Dương (Văn hóa Chăm Pa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).

15. Tượng Nữ Thần Devi (Hương Quế) (Văn hóa Chăm Pa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).

16. Tượng Thần Vishnu (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).

17. Tượng Phật Lợi Mỹ (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).

18. Tượng Thần Surya (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).

19. Tượng Bồ tát Tara (Văn hóa Chăm Pa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm, thành phố Đà Nẵng).

20. Đài thờ Mỹ Sơn E1 (Văn hóa Chăm Pa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm, thành phố Đà Nẵng).

21. Đài thờ Trà Kiệu (Văn hóa Chăm Pa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm, thành phố Đà Nẵng).

22. Tượng Phật A Di Đà (thời Lý, hiện lưu giữ tại chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh).

23. Tượng Phật nghìn mắt nghìn tay (thời Lê Trung Hưng, hiện lưu giữ tại chùa Bút Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).

24. Bộ Cửu vị thần công (thời Nguyễn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế).

25. Bộ Cửu đỉnh (thời Nguyễn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế)

26. Pháo cao xạ 37mm (súng phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Phòng không – Không quân).

27. Máy bay Míc 21 F96, số hiệu 5121 (máy bay chiến đấu của Không quân nhân dân Việt Nam trong trận “Điện Biên Phủ trên không”, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam).

28. Sổ trực ban “Chiến dịch Hồ Chí Minh” (sổ trực ban chép tay tình hình chiến sự Chiến dịch Hồ Chí Minh từ ngày 25/4 – 1/5/1975, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Quân khu 7).

29. Xe tăng T54B, số hiệu 843 (tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam).

30. Xe tăng T59, số hiệu 390 (tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến vào Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30/4/1975, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Tăng thiết giáp).

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch UBND các cấp nơi có bảo vật quốc gia, Thủ trưởng Bộ, ngành, người đứng đầu tổ chức được giao quản lý bảo vật quốc gia trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý đối với bảo vật quốc gia theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa./.

Theo Chinhphu.vn
vov.vn

Vũ Xuân Chiêm – Vị tướng của Trường Sơn huyền thoại

QĐND – Tôi không có may mắn được sống, chiến đấu và học tập công tác dưới quyền Trung tướng Vũ Xuân Chiêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Đoàn 559; Đại biểu Quốc hội khóa IV, khóa V, khóa VI; Cán bộ lão thành cách mạng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Mới chỉ được gặp một đôi lần, còn phần nhiều tôi biết về Trung tướng Vũ Xuân Chiêm qua sử sách, các phương tiện truyền thông và lời kể của các cựu chiến binh với những câu chuyện đậm chất huyền thoại về Bộ đội Trường Sơn, về Đoàn 559… Dẫu vậy khi hay tin Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (bí danh Vũ Xuân Chi) – một vị tướng tài ba, một người con ưu tú của dân tộc về cõi vĩnh hằng, chúng tôi không khỏi bàng hoàng, xúc động, nuối tiếc khôn nguôi.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm, sinh tháng 2 năm 1923 tại thôn An Mỹ, xã Trực Đông (nay là xã Trung Đông), huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, từ quê hương giàu truyền thống cách mạng, năm lên 8 tuổi, Vũ Xuân Chiêm đã lên Hà Nội làm thợ. Sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, thấu hiểu cảnh lầm than, cùng cực của người công nhân do bị chế độ thực dân đế quốc áp bức bóc lột, năm 1936, khi chưa tròn 14 tuổi, Vũ Xuân Chiêm đã tham gia cách mạng với nhiệm vụ vận chuyển công văn tài liệu. Năm 1938, Vũ Xuân Chiêm tham gia vào Thanh niên Phản đế, tập hợp thanh niên đứng lên chống lại chế độ thực dân ở Hà Nội, đòi quyền lợi cho người công nhân dưới chế độ thực dân, phong kiến… Với những đóng góp xuất sắc cho cách mạng, năm 1940, Vũ Xuân Chiêm được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 12 năm 1940, Vũ Xuân Chiêm bị địch bắt. Dù không tìm được tài liệu trên người, nhưng địch vẫn kết án ông 15 năm khổ sai, biệt xứ giam tại nhà tù Sơn La rồi đày ra Côn Đảo. Kẻ thù tra tấn rất dã man nhằm uy hiếp tinh thần, lấy lời khai. Chết đi sống lại nhiều lần vì những đòn tra tấn của bọn cai ngục nhưng Vũ Xuân Chi (bí danh trong tù của ông) vẫn giữ vững khí tiết người cộng sản. Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 9-1945, Vũ Xuân Chiêm được ra tù và tiếp tục hoạt động cách mạng. Vũ Xuân Chiêm được đồng chí Hồ Tùng Mậu đưa về Huế tham gia Ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn Trung Bộ, Ủy viên Quân sự khu C. Tháng 1-1947, Vũ Xuân Chiêm là Tỉnh ủy viên tỉnh Thừa Thiên, Phó bí thư Thành ủy Huế.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (thứ 2 từ trái sang) cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Song Hào và Thượng tướng Hoàng Văn Thái bàn kế hoạch giải phóng miền Nam năm 1975.
Ảnh tư liệu

Tháng 3 năm 1950, Vũ Xuân Chiêm được cử đi học Trường Nguyễn Ái Quốc. Cùng năm đó vào tháng 7, Vũ Xuân Chiêm được cử vào Quân đội và được giao phụ trách công tác chính trị – hậu cần cho các chiến dịch lớn. Trong ký ức của mình Trung tướng Vũ Xuân Chiêm không bao giờ quên kỷ niệm lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Trong Chiến dịch Biên giới, ngày 28-7-1950, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy chiến dịch do Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Bí thư, Tư lệnh chiến dịch. Đầu tháng 8-1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổ chức đoàn cán bộ trực tiếp đi nghiên cứu địa hình thị xã Cao Bằng – một mục tiêu trọng yếu phải giải phóng. Sau cuộc thị sát, Đại tướng Võ Nguyên Giáp họp Đảng ủy Mặt trận mở rộng lấy ý kiến dân chủ. Bác Hồ đến Sở chỉ huy chiến dịch, nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo chủ trương của Đảng ủy Mặt trận. Trong giờ giải lao, Bác Hồ hỏi Vũ Xuân Chiêm: “Chú làm công việc gì?”. Vũ Xuân Chiêm đáp: “Báo cáo Bác! Cháu làm công tác chính trị ạ!”. Bác Hồ tiếp: “Đó là việc tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện chủ trương, đường lối cách mạng. Công việc đó quan trọng lắm, nhưng phải có cặp tai thính, đôi mắt tinh tường mới làm tốt được. Chú hiểu chứ?”. Thấy Vũ Xuân Chiêm chưa rõ ý, Bác Hồ vui vẻ nói: “Bác kể chú nghe một chuyện nhé. Một lần Bác ở chỗ làm việc về nhà, chú bảo vệ đón, Bác khẽ gật, đưa tay lên miệng nói: “Cho Bác chút nước…”. Chú bảo vệ quay vào rồi ra ngay, đưa thuốc và lửa cho Bác. Thấy vậy mấy chú đứng gần cười ồ rồi nói: “Bác khát hỏi nước sao lại đưa lửa”. Bác nhận thuốc, đưa mọi người cùng hút và khuyên anh em không nên trách chú ấy, rồi hỏi: “Tại Bác nói không rõ hay tại chú ấy nghe nhầm, nhưng tại ai thì cũng có bài học là cán bộ nói cho dân nghe phải rõ ràng, dứt khoát và cũng chớ làm như chú bảo vệ: Dân xin nước, cán bộ lại cho lửa”. Rồi Bác cười hỏi Vũ Xuân Chiêm: “Chuyện chỉ có thế, chú thấy cái tai, con mắt, cách nói khi làm công tác tuyên truyền với quần chúng quan trọng thế nào chứ?”. Bài học về công tác chính trị mà Bác Hồ dạy trong lần gặp gỡ đầu tiên ấy được Vũ Xuân Chiêm ghi nhớ và làm theo đến hết đời.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm từng giữ nhiều trọng trách. Tháng 10 năm 1951 đến tháng 7 năm 1963, ông là Cục phó rồi Cục trưởng Cục Chính trị Tổng cục Hậu cần. Tháng 8 năm 1963 đến tháng 2 năm 1965, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Trong giai đoạn khó khăn nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (tháng 3 năm 1965 đến tháng 5 năm 1970), với cương vị là Phó chính ủy rồi Chính ủy Bộ tư lệnh Đoàn 559, đồng chí đã tham gia lãnh đạo, chỉ huy góp phần làm nên con đường huyền thoại Hồ Chí Minh lịch sử. Tháng 6 năm 1970, Vũ Xuân Chiêm được điều động trở lại làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Là cán bộ chủ chốt của ngành Hậu cần Quân đội đồng chí Vũ Xuân Chiêm đã cùng với tập thể cấp ủy, chỉ huy Tổng cục Hậu cần lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức đảm bảo kịp thời cả về con người và vũ khí trang bị hậu cần – kỹ thuật cho chiến trường miền Nam, cùng quân và dân cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sau giải phóng miền Nam, đồng chí được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Bí thư Đảng ủy Tổng cục. Tháng 9 năm 1976, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đồng chí đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là một người lãnh đạo, chỉ huy uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Đồng chí đã cùng với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng vận dụng sáng tạo đường lối chính trị, quân sự của Đảng và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng LLVT cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đồng chí là người cán bộ tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, với mọi nhiệm vụ được giao, sâu sát, khiếm tốn, giản dị và luôn phát huy bản chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Tháng 10 năm 1987, Trung tướng Vũ Xuân Chiêm được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu.

Từ buổi đầu tham gia cách mạng đến khi về cõi vĩnh hằng Trung tướng Vũ Xuân Chiêm luôn giữ trọn danh hiệu cao quý của người cộng sản, một lòng một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng. Từ ngoài trận địa, trong nhà tù, cũng như trong công tác, học tập, sinh hoạt đồng chí luôn thể hiện rõ đức hy sinh, lòng dũng cảm, sống liêm khiết, giản dị, trung thực, đoàn kết, thân mật, gần gũi cán bộ, chiến sĩ và đồng bào, đồng chí… Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Đoàn 559 – một người có nhiều năm gắn bó với Trung tướng Vũ Xuân Chiêm đã nói: “Tôi đã từng công tác với nhiều đồng chí, ở nhiều cương vị khác nhau, nhưng ở đồng chí Chiêm có những nét đặc biệt quý hiếm của một chính ủy. Anh luôn chăm lo xây dựng đơn vị, thể hiện tinh thần đoàn kết chân thật trong Đảng ủy, Bộ tư lệnh; tiêu biểu tinh thần ủng hộ sự đổi mới, sáng tạo; tiêu biểu ý chí thống nhất tư tưởng nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy hiệp đồng. Trong những năm tháng gian nguy ác liệt, anh vẫn lạc quan kiên định niềm tin tất thắng… Với Vũ Xuân Chiêm, tôi quý nhất một con người trung thực, thủy chung, giản dị, tiêu biểu nhân cách vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”. Quá trình hoạt động của Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là tấm gương sáng để chúng ta học tập, noi theo.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm không còn nữa, song những tình cảm thân thương, quý mến và công lao cống hiến của đồng chí vẫn còn mãi trong niềm thương tiếc của chúng ta và những người thân yêu của đồng chí.

PHÙNG KIM LÂN
qdnd.vn

Không thể ngụy biện “tự do ngôn luận” để xuyên tạc, chống phá Nhà nước

Tùy điều kiện chính trị, xã hội từng quốc gia mà có các quy định quản lý khác nhau về thông tin trên internet, song nguyên tắc chung là không chấp nhận việc thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cao hơn là xâm phạm an ninh quốc gia.

Như đã thông tin, ngày 12/9, Văn phòng Chính phủ có văn bản thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, xử lý việc một số trang thông tin điện tử (blog, mạng xã hội) đăng tải thông tin có nội dung vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật nhằm bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội. Đây là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo điều tra, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Ngay sau khi Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến chỉ đạo nói trên của Thủ tướng, ngày 13/9, trên một số trang mạng xã hội, blog lại xuất hiện các thông tin ngụy biện rằng, viết, bình luận trên internet là quyền tự do thông tin, việc siết chặt quản lý internet là vi phạm “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”…

Đây là cách giải thích mang tính quy chụp, hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Ở Việt Nam hay nhiều quốc gia trên thế giới, việc thông tin trên internet đều phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc cụ thể, trong đó dù ở nước đang phát triển hay các nước phát triển, các thông tin đăng tải lên internet phải đảm bảo tính khách quan, chính xác. Các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ cá nhân, tổ chức đều là phạm pháp và người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước luật pháp.

Tại các nước phát triển, nơi được cho là mảnh đất của tự do ngôn luận, tự do báo chí, chính quyền các nước này cũng đặt ra các điều khoản cụ thể quản lý thông tin trên internet và nhiều cá nhân, tổ chức vi phạm đã bị xử lý. Cảnh sát Italia từng bắt giữ một blogger 59 tuổi Roberto Mancini và xử phạt tới 16.900 USD do người này lên mạng đưa các thông tin xuyên tạc, vu khống người khác. Tại Pháp, Christopher cũng từng lên bolg đưa những bài viết có nội dung chỉ trích thị trưởng thành phố Puteaux mà nội dung mang tính xuyên tạc, bịa đặt. Christopher đã bị cảnh sát địa phương bắt giữ và xử lý. Tòa án Ai Cập kết án 3 năm tù giam đối với blogger Suleiman, 22 tuổi. Suleiman bị cáo buộc đã có hành vi phỉ báng đạo Hồi, đồng thời y còn bị phạt thêm 1 năm tù do có hành vi viết bài phỉ báng Tổng thống trên mạng internet. Còn tại Mỹ, chuyện blogger viết bài xuyên tạc trên mạng và bị kiện, xử lý trước tòa cũng không hiếm như việc blog đăng ảnh của diễn viên nổi tiếng Jennifer Aniston mà không được phép. Ông James Buss, giáo viên Trường Trung học Milwaukee bị bắt vì đã vào blog của các nhà chính trị bang Wisconsin với lời bình mang biệt danh “Người quan sát” (Observer), kích động vụ một thiếu niên xả súng ở Trường Trung học Columbine làm 12 học sinh và một giáo viên thiệt mạng hồi tháng 4/1999.

Ở Liên bang Nga, ngày 30/7 vừa qua, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký ban hành luật sửa đổi về internet của Nga. Luật này quy định hoạt động của các website chứa những thông tin bị coi là nguy hiểm đều bị nghiêm cấm. Đồng thời, Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng ký ban hành luật chống vu khống. Người nào có hành vi vu khống, kể cả việc lên mạng internet vu khống, sẽ bị xử phạt nhiều mức, trong đó có cải tạo và phạt tiền lên đến 5 triệu rúp. Nga cũng như nhiều nước tư bản khác quy định rõ việc lợi dụng internet để xâm hại chính quyền, an ninh quốc gia và những hành vi này sẽ bị phạt nặng.

Như vậy, tùy điều kiện chính trị, xã hội từng quốc gia mà có các quy định quản lý khác nhau về thông tin trên internet, song nguyên tắc chung là không chấp nhận việc thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cao hơn là xâm phạm an ninh quốc gia. Có ý kiến cho rằng blog là nhật ký nên họ có quyền tự do viết bất kỳ những gì họ muốn. Tuy nhiên, blog chỉ coi là nhật ký cá nhân nếu được đặt chế độ riêng tư (chỉ có chủ nhân blog đó đọc được). Còn khi viết blog công khai trên mạng, thì người viết phải chịu trách nhiệm về nội dung đưa lên. Hiện, một số blog bằng nhiều cách đã “câu” sự tò mò của người đọc, khiến lượng độc giả khá lớn, không thua kém trang báo điện tử.

Từ những viện dẫn trên, việc Nhà nước ta đưa ra các quy định quản lý thông tin trên internet cũng như xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm là phù hợp thực tiễn chung. Do đó, không thể chụp mũ thông tin trên blog, mạng xã hội là “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”. Ngày 23-8-2001, Chính phủ có Nghị định số 55, quy định quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet. Nghị định này nghiêm cấm: “Lợi dụng internet để chống lại nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây rối loạn an ninh, trật tự; vi phạm đạo đức, thuần phong, mỹ tục và các vi phạm pháp luật khác”

Đăng Trường
cand.com.vn

Một số vấn đề đáng chú ý trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch

Để góp phần làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, chúng ta cần vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn của chúng.

Tiếp tục đọc →

Bài trả lời cho ai hỏi: Diễn biến hòa bình là gì, tại sao phải chống? (*)

Phòng, chống diễn biến hòa bình

oOo

LTS:  “Diễn biến hòa bình” là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành với những nước XHCN nói chung và với Việt Nam nói riêng. Đối với nước ta, cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng và cần được tiến hành thường xuyên, kiên trì, bền bỉ. Những năm qua chúng ta đã đấu tranh có hiệu quả với chiến lược “diễn biến hòa bình”, phát hiện, ngăn chặn, đập tan nhiều âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch.

 Để góp phần giúp người dân tiếp tục nâng cao nhận thức, đề cao tinh thần cảnh giác, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm của kẻ địch, bắt đầu từ tháng 9 năm 2009, trên Trang Quốc phòng-An ninh ra ngày thứ Tư hằng tuần, báo Quân đội nhân dân mở chuyên mục: “PHÒNG, CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”. Dưới dạng hỏi – đáp, đưa tin, bài viết về từng sự việc, câu chuyện cụ thể… với độ dài từ 500 đến 600 từ, chuyên mục sẽ đi sâu giải thích, phân tích giúp bạn đọc hiểu rõ hơn bản chất của chiến lược nguy hiểm này, những điều chỉnh mới, chuyển hướng trong hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; các chủ trương, biện pháp phòng, chống của ta…

Để chuyên mục ngày càng nâng cao chất lượng, gây được ấn tượng, tạo được hiệu ứng xã hội, chúng tôi rất mong nhận ý kiến đóng góp và sự cộng tác nhiệt tình của bạn đọc, đặc biệt là các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, lãnh đạo, quản lý, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, địa phương… Tin, bài, thư góp ý xin gửi về: Phòng biên tập Quốc phòng – An ninh, Báo Quân đội nhân dân, số 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội; Email: ; ĐTQS: 554160, ĐTBĐ: (04) 37474257.

Chiến lược diễn biến hòa bình là gì?

Hỏi: Trong sinh hoạt chúng tôi thường xuyên được quán triệt cần đề cao cảnh giác trước chiến lược “diễn biến hòa bình”, thế nhưng bản chất của “diễn biến hòa bình” là gì, nó ra đời từ khi nào thì lại chưa hiểu rõ? Đề nghị quý báo giúp chúng tôi việc này.

LÊ VĂN QUỐC

(Hòm thư 3NB – 5631 Tuyên Quang)

Trả lời: “Diễn biến hòa bình” (DBHB) là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, được thực hiện dưới một phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Đối tượng của chiến lược DBHB là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa (TBCN). Bản chất của chiến lược DBHB là chống CNXH, chống độc lập dân tộc. Nội dung cơ bản của chiến lược DBHB là phá hoại các nước XHCN về các mặt chính trị, tư tưởng-văn hóa, kinh tế, xã hội… Phương thức và thủ đoạn của chiến lược DBHB chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hóa chế độ chính trị theo con đường phát triển TBCN hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng bạo loạn lật đổ. DBHB thường được tiến hành bằng tổng hợp nhiều biện pháp buộc đối phương trong cùng một lúc phải đối phó với nhiều thế lực, nhiều hoạt động chống đối, thúc đẩy cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội thành khủng hoảng chính trị, tạo ra tình thế bạo loạn lật đổ chế độ.

Những ý tưởng ban đầu về DBHB do các nhà hoạch định chiến lược phương Tây soạn thảo từ cuối những năm 40 thế kỷ 20, sau được tiếp tục bổ sung. Vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, ý tưởng DBHB được nâng lên và hoàn chỉnh thành chiến lược DBHB. Trong điều  kiện mới về so sánh tương quan lực lượng trên thế giới, chiến lược DBHB được tiến hành chủ yếu bằng các thủ đoạn phi quân sự, nhằm “chuyển hóa hòa bình” các nước XHCN theo TBCN. Đặc biệt sau biến động ở Liên Xô và một số nước XHCN ở Đông Âu, phương Tây đã công khai tuyên bố chuyển hướng chiến lược từ “kiềm chế”  sang chiến lược “mở rộng” với hai nội dung cơ bản là: “dân chủ hóa về chính trị” và “tự do hóa về kinh tế”. Vấn đề “nhân quyền”, “dân chủ” và “tôn giáo”… được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng coi đó là vũ khí lợi hại để chống phá.

Quốc An
qdnd.vn

——————————-

(*) Tiêu đề do Vkyno đặt

Những nhà “cải cách”- họ là “chí sĩ” hay những kẻ “chọc gậy bánh xe” ?

Họ tự xưng, hoặc được các thế lực thù địch bên ngoài tung hô, cổ xúy là những nhà “cải cách”, những “chí sĩ” vì “dân chủ”. Nhưng, những luận điệu, việc làm cụ thể của họ, dù có được cố tình thay đổi bằng cách này hay cách khác tinh vi hơn, cũng không che đậy được mưu đồ “chọc gậy bánh xe”, hòng gây mất ổn định đất nước, xóa bỏ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN ở Việt Nam.

altThời gian vừa qua,lợi dụng việc Đảng ta tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, một số người, tự xưng là những nhà “cải cách”, những “chí sĩ” đấu tranh vì nền “dân chủ mới” đã đua nhau tung lên mạng Internet nhiều bài “góp ý”, “huyết tâm thư” để đóng góp cho Đảng. Trong các “huyết tâm thư” này, người đọc có cảm giác, Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng chuyên quyền, độc đoán, sai lầm về quan điểm, đường lối, không đủ năng lực lãnh đạo, điều hành đất nước; đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ruỗng nát, tham ô, tham nhũng. Và, dưới chế độ XHCN, đất nước, người dân Việt Nam đang trong cảnh lầm than, đời sống cơ cực, quyền “tự do”, “dân chủ” không được đảm bảo. Không những thế, họ còn lớn tiếng đòi tiến hành “cải cách” triệt để theo hướng: xóa Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, xóa bỏ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN…; xây dựng một xã hội, mà họ gọi là xã hội “dân chủ mới” ở Việt Nam. Hòa cùng với những người này, cách Việt Nam nửa vòng trái đất, một số vị là nghị sĩ của Mỹ và một số nước Tây Âu cũng lớn tiếng phê phán Chính phủ Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến”, “đàn áp tôn giáo”…; đòi đưa Việt Nam vào danh sách các nước “cần quan tâm đặc biệt”…

alt

Lễ hội Đền Hùng

Đối với người dân Việt Nam, luận điệu trong những bài viết, “huyết tâm thư” của những nhà “cải cách” trên thật xa lạ, thể hiện sự ấu trĩ về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, bộc lộ rõ thái độ thù địch, “chọc gậy bánh xe”, hòng ngăn cản công cuộc đổi mới của Việt Nam, phá hoại cách mạng Việt Nam – điều mà bấy lâu nay các thế lực thù địch không làm được và sẽ không thể làm được. Hẳn mọi người đều nhớ, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo diễn ra trong bối cảnh (những năm thập niên 80, đầu thập niên 90, thế kỷ XX) “ngàn cân treo sợi tóc”. Bên trong nước, khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, lạm phát với tốc độ phi mã, đời sống nhân dân muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Bên ngoài, chủ nghĩa đế quốc gia tăng bao vây, cấm vận, cô lập đất nước ta. Tiếp đó là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, khiến đất nước “chất đầy khó khăn”, tưởng chừng không trụ đứng nổi. Trong tình thế hiểm nguy đó, trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh cách mạng, phân tích một cách khoa học xu thế vận động phát triển của thời đại, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, Đảng ta đã sáng suốt lựa chọn, đề ra đường lối đổi mới toàn diện, với những chủ trương, chính sách phù hợp, lãnh đạo đất nước vượt qua “phong ba, bão táp”, tiếp tục tiến bước vững chắc trên con đường XHCN đã chọn. Trong lĩnh vực kinh tế, Đảng đã lãnh đạo đất nước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xử lý hài hòa quan hệ giữa nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường với giữ vững nguyên tắc và bản chất của CNXH; nhờ đó, đã giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, động viên được mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH, tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng, bình đẳng và làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn: từ một nước kém phát triển vươn lên trở thành một nước đang phát triển; từ một nước phải nhập khẩu gạo vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới; tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 7,2%/năm; GDP bình quân đầu người từ mức trên dưới 100 USD/người/năm, đến nay đã đạt 1.200 USD/người/năm… Về đối ngoại, Đảng đã đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”, vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đường lối đối ngoại đó là sự kế thừa, phát triển quan điểm hòa hiếu của dân tộc, tư tưởng “Đại đoàn kết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, thể hiện bản chất cách mạng của Đảng ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Nhờ đó, nước ta không ngừng mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập ngày càng sâu, rộng với khu vực và thế giới. Đến nay, nước ta có quan hệ đối ngoại với hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và nhiều tổ chức quốc tế khác; đặc biệt, được bạn bè quốc tế tín nhiệm bầu làm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiều trọng trách quốc tế khác. Trong các cương vị, trọng trách đó, nước ta đã có nhiều đề xuất, sáng kiến tích cực, được bạn bè đánh giá cao, coi là những đóng góp quan trọng cho hòa bình, ổn định và sự phát triển của khu vực và thế giới. Cùng với đó, các hoạt động quốc phòng-an ninh, đối ngoại đã góp phần phá vỡ thế bao vây, cô lập, tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện quốc tế có lợi, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao uy tín và vị thế của đất nước ở khu vực và trên trường quốc tế; đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch… Những thành tựu đạt được trong 25 năm đổi mới vừa qua là minh chứng sống động nhất khẳng định những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, sắc diện đất nước ngày càng được đổi mới “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời Bác Hồ dạy. Những thành tựu đó cũng được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, xếp Việt Nam vào danh sách “những nước hòa bình nhất thế giới”, “những nước đầu tư có triển vọng”; là tấm gương cho các nước đang phát triển trong xóa đói, giảm nghèo và đến nay đã thực hiện được nhiều Mục tiêu thiên niên kỷ (MDG) của Liên hợp quốc.

altTuy nhiên, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình hoàn toàn mới, nhiều nội dung phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm, nên cùng với những thành tựu đạt được, nước ta cũng khó tránh khỏi những vấp váp, những khiếm khuyết; đó là thực tế khách quan mà nước nào cũng gặp phải trong quá trình phát triển. Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ cho toàn Đảng, toàn dân những khiếm khuyết đó, kể cả những khuyết điểm do sai lầm, hữu khuynh, duy ý chí trong lãnh đạo, chỉ đạo, trong xây dựng Đảng. Đảng ta cũng chỉ rõ, một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tham ô, tham nhũng không chỉ đang làm giảm uy tín mà còn là nguy cơ của Đảng. Đại hội XI vừa qua đã biểu thị quyết tâm của Đảng thực hiện các giải pháp đồng bộ, quyết liệt để khắc phục những khuyết điểm, đặc biệt là trong xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa Hồng vừa Chuyên” để Đảng ta thực sự “là đạo đức là văn minh”.

Hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách, khó khăn, vững bước trên con đường đi lên CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự là một đảng bản lĩnh, trí tuệ, xứng đáng là ngọn cờ tiền phong, người lãnh đạo, người “đầy tớ trung thành” của đất nước và nhân dân Việt Nam. Nhân dịp diễn ra Đại hội lần thứ XI của Đảng ta, hàng trăm Đảng Cộng sản của các nước, các tổ chức và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đã bày tỏ sự cảm phục những thành công mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong công cuộc đổi mới; coi Việt Nam là tấm gương, hình mẫu sinh động để khẳng định: Đảng Cộng sản có đủ khả năng lãnh đạo đất nước mạnh giầu; CNXH là một thành tố không thể thiếu cho sự phát triển của nhân loại. Họ cũng bày tỏ tin tưởng rằng, với tài trí thông minh, thái độ cầu thị, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất định lãnh đạo đất nước đi tới thành công.

Vậy mà, những nhà “cải cách” cố tình khoét sâu những khiếm khuyết, những mặt còn bất cập, hạn chế để phủ nhận, rũ bỏ sạch những thành quả cách mạng mà Đảng, nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu bằng biết bao mồ hôi, xương máu mới có được. Những việc làm đó là không có lương tri, phi đạo lý, hoàn toàn xa lạ, không thể chấp nhận được Mưu đồ và thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng xóa bỏ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN ở Việt Nam là hoàn toàn trái ngược với ý chí và nguyện vọng của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Mưu đồ và thủ đoạn đó của chúng dù có được “tàng hình” tinh vi đến đâu cũng nhất định sẽ bị nhân dân lật tẩy và bị làm cho thất bại.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra mục tiêu tổng quát của 5 năm tới là “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị-xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”1. Để phấn đấu hoàn thành mục tiêu chiến lược mà Đảng đã đề ra, hơn lúc nào hết, Đảng, Nhà nước, nhân dân đang rất cần những người con ưu tú, như giáo sư Ngô Bảo Châu, hàng nghìn, hàng vạn doanh nhân trẻ “Đất Việt” – những người đang ngày đêm mang tri thức, nhiệt huyết để tham gia xây dựng đất nước mạnh giầu; xây dựng sự đồng thuận trong toàn xã hội, nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, nguy cơ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thực hiện thắng lợi những chủ trương, chính sách, mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra. Bài học thành công của cách mạng Việt Nam, nhất là trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua, đã khẳng định là: kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, giữ vững kỷ cương, phép nước, pháp chế XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; nhưng kiên quyết xử lý thích đáng những kẻ vi phạm pháp luật, cố tình “chọc gậy bánh xe”, đi ngược lại ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phá hoại an ninh quốc gia, phá rối an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước… Đó vẫn là bài học có giá trị thực tiễn trong thời gian tới.

MINH ĐỨC
tapchiqptd.vn

_________

1- Báo Quân đội nhân dân, ngày 20-1-2011, tr. 3